Xem Nhiều 12/2022 #️ Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dinh Dưỡng Và Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Trường Mầm Non / 2023 # Top 19 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dinh Dưỡng Và Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Trường Mầm Non / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dinh Dưỡng Và Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Trường Mầm Non / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG MẦM NON”

khẩu phần thực đơn, các món ăn thường xuyên được thay đổi để trẻ ăn ngon miệng, tăng sự tiêu hoá, hấp thu giúp trẻ phát triển tốt giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng. Từ những quan điểm trên và qua thực tế tìm hiểu thực trạng chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trường mầm non Na Mao cho thấy trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân viên còn nhiều hạn chế trong công tác chế biến món ăn, chọn mua thực phẩm, thực hiện công tác vệ sinh trong khi chế biến, việc bảo quản thực phẩm, vệ sinh dụng cụ sử dụng ăn uống cần phải có biện pháp, hình thức tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ nhằm nâng cao chất lượng cho đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng. Từ những lý do trên tôi đã chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non”. II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: Bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở giáo dục, không để xảy ra ngộ độc thực phẩm và các bệnh lây truyền qua thực phẩm. Bảo vệ và nâng cao sức khỏe thông qua việc “Giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm” cho học sinh tại trường mầm non. Nhằm tìm ra giải pháp tốt nhất để làm tốt công tác giáo dục vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm. Hạn chế tuyệt đối tình trạng ngộ độc thực phẩm trong trường mầm non. Nâng cao nhận thức về giáo dục dinh dưỡng an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Quản lý chỉ đạo việc hợp đồng mua thực phẩm, cơ sở cung cấp thực phẩm đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm một cách thường xuyên được đảm bảo ký kết có tính pháp lý trước pháp luật của nhà cung cấp thực phẩm. Cách chế biến thực phẩm an toàn và việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường Mầm non. III. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: Đề cập đến một số cơ sở khoa học của công tác giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm tại các bếp ăn bán trú. Đánh giá thực trạng về công tác giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm ở trường mầm non Na Mao. Đề xuất một số biện pháp để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm ở trường mầm non Na Mao. IV. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Nghiên cứu “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục dinh

dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm” trong trường mầm non. Nghiên cứu một số biện pháp bồi dưỡng nghiệp vụ về “Vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm”cho nhân viên nuôi dưỡng ở trường mầm non Na Mao. PHẦN NỘI DUNG I . ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi Nhà trường luôn được sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo địa phương cũng như của ngành về cơ sở vật chất và chuyên môn. Đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, có kinh nghiệm quản lý, đội ngũ giáo viên yêu nghề mến trẻ có trách nhiệm được phụ huynh tin tưởng và quý mến. Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, có bếp ăn đảm bảo đủ tiêu chuẩn. Nhà bếp có giáo viên được đi tập huấn các chuyên đề về dinh dưỡng và tham gia học lớp sơ cấp về chế biến các món ăn cho trẻ dưới 6 tuổi. Nguồn thực phẩm sẵn có tại địa phương rất phong phú, đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hợp lý cho trẻ theo từng lứa tuổi. Được ký hợp đồng thực phẩm cam kết đảm bảo an toàn cho trẻ. 2. Khó khăn : Nhận thức của phụ huynh chưa đồng đều nên có một số hạn chế về các hoạt động chăm sóc trẻ. Mức đóng góp còn thấp do đó khó khăn trong việc xây dựng thực đơn và tính khẩu phần ăn hợp lý cho trẻ. Một số giáo viên làm công tác cô nuôi chưa được đi học lớp chế biến thực phẩm. Chưa có biên chế cô nuôi nên phải luân chuyển giáo viên trên lớp xuống vì vậy không có cô nuôi cố định nên khó trong việc tính khẩu phần cũng như kinh nghiệm trong chế biến các món ăn cho trẻ. II. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Quy mô trường lớp Trường mầm non Na Mao đã được xây dựng tập trung về một khu trung tâm. Số trẻ ăn bán trú tại trường là 100%. Nhà trường đã được công nhận là trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1. Trường có 6 nhóm lớp trong

đó 5 lớp mẫu giáo và 1 lớp nhà trẻ tổng số học sinh toàn trường đầu năm học là 149 trẻ trong đó học sinh mẫu giáo là 133 cháu còn 16 cháu lớp nhà trẻ. 2. Cơ sở trang thiết bị Cơ sở vất chất của nhà trường đảm bảo đủ điều kiện để chăm sóc giáo dục trẻ. Toàn trường có 6 phòng học trong đó có 5 phòng bán kiên cố, 1 phòng mượn của phòng chức năng khác. Có 5 công trình vệ sinh đảm bảo tiêu chuẩn. Có bếp ăn 1 chiều đảm bảo đúng tiêu chuẩn, có đủ đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho việc nấu ăn, chế biến thực phẩm cho trẻ. 3. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên: Cán bộ giáo viên trong trường là 18 đồng chí trong đó : Ban giám hiệu gồm 3 đồng chí đạt trình độ đại học Kế toán gồm 1 đồng chí trình độ cao đẳng Y tế học đường 1 đồng chí trình độ trung cấp Giáo viên đứng lớp là 11 đồng chí trong đó có 6 đồng chí là trình độ đại học, 2 đồng chí là trình độ cao đẳng còn lại là trình độ trung cấp (Hiện đang theo học ở các lớp học đại học tại chức) Cô nuôi gồm 2 đồng chí trình độ trung cấp ( Có một đồng chí có bằng trung cấp nấu ăn) 4. Chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng trẻ Trong những năm qua trường đã thực hiện tốt các chuyên đề vệ sinh dinh dưỡng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng hàng năm, trường làm tốt công tác tuyên truyền kiến thức nuôi dạy con theo khoa học cho các bậc phụ huynh dưới nhiều hình thức như thông qua các buổi họp phụ huynh, qua các hội thi, tuyên truyền qua các giờ đón trả trẻ. Phối kết hợp với hội phụ nữ để tuyên truyền với các nội dung như tổ chức bữa ăn hợp lý cho trẻ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, cách phòng chống một số loại bệnh cho trẻ… Nhà trường đã tổ chức tốt việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ, như tổ chức cân, đo theo dõi bằng biểu đồ tăng trưởng để kịp thời phát hiện ra số trẻ bị suy dinh dưỡng. Phối hợp với trạm y tế xã để khám sức khoẻ định kỳ cho các cháu để phát hiện bệnh và điều trị kịp thời. Thực hiện tốt vệ sinh phòng bệnh cho trẻ, đảm bảo tốt giấc ngủ cho trẻ.

Tóm lại việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ ăn bán trú tại trường mầm non Na Mao đã được thực hiện từ nhiều năm nay. Công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm của nhà trường cũng như công tác chăm sóc giáo dục trẻ trong những năm qua đã đạt được kết quả tương đối tốt nhưng bản thân tôi vẫn còn chưa thực sự yên tâm. Bản thân tôi đã tự điều tra về thực trạng về tình hình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non Na Mao như sau: Qua theo dõi cân đo lên biểu đồ tăng trưởng đầu năm học kết quả cho thấy như sau: Cân nặng Độ tuổi

NT

16

MG

133 117 88

14

Tổng 149 131 87,9 18

12,5 0

0

14

12

0

0

12,1 0

0

87,5 2

12,5 0

0

119 89,5 14

10,5 0

0

133 89,3 16

10,7 0

0

Qua kết quả khảo sát thực trạng trên của nhà trường, bản thân tôi rất trăn trở làm thế nào để nâng cao về chất lượng vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm trong nhà trường, từ đó tôi đưa ra một số biện pháp khắc phục nhằm giải quyết những vấn đề trên. 5. Tồn tại. * Cơ sở vật chất, thiết bị: Nhà trường hiện nay có bếp một chiều, hệ thống bếp ga đã cũ đồ dùng dụng cụ còn hạn chế. Chưa có phòng ăn riêng, trẻ phải ăn tại nhóm lớp. * Quy trình chế biến: Khu chế biến còn chật hẹp nên việc chế biến theo các khu chưa đảm bảo. Giáo viên nuôi được học qua lớp đào tạo nấu ăn còn ít. Tập huấn về chuyên đề vệ sinh, dinh dưỡng thường xuyên trong các năm học còn ít.

III. MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC DINH DƯỠNG VÀ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG TRƯỜNG MẦM NON. 1. Tăng cường công tác quản lý chỉ đạo và thực hiện nghiêm túc việc giáo dục vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm cho trẻ mầm non. Xây dựng kế hoạnh chỉ đạo tốt các hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Làm tốt công tác phân công phân nhiệm, thực hiện có hiệu quả việc nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ đề ra các chỉ tiêu cần đạt về số lượng, chất lượng, nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Vào đầu tháng năm học (tháng 9) nhà trường tổ chức họp Ban lãnh đạo nhà trường và Ban đại diện cha mẹ trẻ thống nhất về chế độ ăn uống, xây dựng thực đơn. Sau đó mời các nhà cung cấp thực phẩm (Rau, thịt, gạo, trứng, sữa..) về ký hợp đồng. Nguồn thực phẩm cung cấp phải đủ về số lượng, đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, giá cả hợp lý theo thị trường địa phương. Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm, các công văn hướng dẫn nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào tạo và của ngành học Mầm non về các hoạt động nuôi dưỡng và chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục trẻ Đưa nội dung vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm vào chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non, cụ thể lồng ghép vào lĩnh vực phát triển thể chất, tăng cường giám sát công tác vệ sinh nói chung và vệ sinh an toàn thực phẩm nói riêng. Chuẩn bị các điều kiện về cơ sở vật chất đồ dùng, thiết bị cho việc tổ chức nuôi dưỡng và chăm sóc giáo dục trẻ Về chất lượng giáo dục: Chỉ đạo các lớp thực hiện đúng quy chế nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ. Thực hiện tốt các chuyên đề, đổi mới phương pháp giảng dạy tích hợp nội dung giáo dục dinh dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm vào các giờ học, các hoạt động khác trong ngày. Một số hình ảnh trong giờ hoạt động có chủ đích Trẻ đang phân thực phẩm thành 4 nhóm Làm tốt công tác tuyên truyền tới các bậc phụ huynh về cách giáo dục dinh dưỡng cho trẻ trong các bữa ăn, cách lựa chọn thực phẩm an toàn đảm bảo chất lượng. Thực hiện tốt các biện pháp phòng nhiễm bẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, vệ sinh nơi chế biến. Nhà bếp luôn luôn sạch sẽ, không để bụi bẩn, có đủ dụng cụ cho nhà bếp chế biến và đồ dùng ăn uống cho trẻ. Ngoài ra trong nhà bếp có bảng tuyên truyền 10

nguyên tắc vàng về vệ sinh an toàn thực phẩm cho mọi người thực hiện. Phân công cụ thể ở các khâu: Chế biến theo thực đơn, theo số lượng trẻ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng và hợp vệ sinh. Đối với nhân viên: 100% nhân viên nấu ăn và y tế học đường được khám sức khỏe định kỳ vào đầu năm học do trung tâm y tế huyện tổ chức. Trong quá trình chế biến thức ăn cho trẻ đầu tóc, quần áo phải gọn gàng, móng tay luôn cắt ngắn và sạch sẽ, tuyệt đối không được bốc thức ăn khi

Hành tây 1 củ nhỏ: Thịt xay 200g: Trứng gà 1 quả: Bột mỳ và bột chiên xù: Dầu rán Với món ăn này trẻ rất thích ăn và cũng đảm bảo đủ năng lượng cho trẻ hoạt động bởi trong món ăn này có đầy đủ 4 thực phẩm cung cấp sinh năng lượng cho trẻ. Bên cạnh đó phân công giáo viên có tay nghề vững kèm giúp đỡ giáo viên còn hạn chế về chuyên môn, những cô nuôi giỏi kèm những cô nuôi còn chưa có kinh nghiệm để thực hiện tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ. Với chức năng là một hiệu phó quản lý công tác chăm sóc nuôi dưỡng bán trú trong nhà trường tôi tham mưu với ban giám hiệu đưa nội dung tuyên truyền các tài liệu về vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm lồng ghép trong các cuộc họp, trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ, đối với các cháu suy dinh dưỡng nhà trường phối hợp với các phụ huynh tăng cường nguồn dinh dưỡng trong các bữa ăn hàng ngày của trẻ để trẻ phát triển tốt.

– Tập tự phục vụ trong sinh hoạt hàng ngày tại trường: Tự cất, dọn đồ dùng ăn uống sau khi ăn, lấy gối lên giường đi ngủ. – Tập luyện thói quen tốt về vệ sinh cá nhân, đi vệ sinh đúng nơi qui định. Giữ gìn vệ sinh môi trường như không khạc nhổ nơi công cộng, vứt rác đúng nơi qui định Ví dụ 2: Khi tổ chức hoạt động góc qua trò chơi “Cửa hàng rau quả” khi mua hàng các cháu phải biết chọn thực phẩm tươi ngon, thực phẩm không bị rập nát. Còn qua trò chơi “Nấu ăn” các cháu biết rửa tay và vệ sinh đồ dùng, rửa sạch thực phẩm trước khi chế biến, phải biết ăn chín uống sôi. Với trò chơi học tập: “Xếp nhanh theo nhóm” thì cần phải chuẩn bị những lô tô về các loại thực phẩm (đủ 4 nhóm dinh dưỡng) và trò chơi”Thi xem ai nhanh” yêu cầu trẻ lấy đúng và xếp nhanh phân loại nhóm dinh dưỡng theo yêu cầu của cô giáo.

Qua các trò chơi giúp trẻ nhận biết và nhớ lâu các nhóm thực phẩm trẻ biết nhóm nào lên ăn nhiều và nhóm nào ăn hạn chế. Tổ chức bồi dưỡng kiến thức, cập nhập thông tin về vệ sinh dinh dưỡng an toàn thực phẩm thường xuyên cho đội ngũ cấp dưỡng, giáo viên mầm non. Đặc biệt là tập luyện bồi dưỡng và chỉ đạo thực hiện tốt các công tác nâng cao chất lượng giáo dục và vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh nhóm lớp, cá nhân và vệ sinh môi trường. 3. Xây dựng và thực hiện nghiêm túc nội qui trong công tác giáo dục dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm: Mỗi cán bộ giáo viên nhân viên trong nhà trường phải thực hiện nghiêm túc các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, thường xuyên tổ chức, tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức vệ sinh an toàn thực phẩm trong cộng đồng. Cụ thể bảng nội quy nhà bếp chúng tôi treo ở trước cửa nhà bếp để tất cả giáo viên, nhân viên nhà bếp thực hiện và đồng thời tuyên truyền tới toàn thể phụ huynh học sinh biết được và thực hiện theo đúng nội quy đã đề ra. Kết hợp với trung tâm y tế huyện kiểm tra khám sức khoẻ định kỳ cho cô nuôi xem có đủ tiêu chuẩn về sức khoẻ, không mắc các bệnh truyền nhiễm đáp ứng được công việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.

Xây dựng kế hoạnh phòng ngừa, tránh ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền nhiễm qua thực phẩm trong nhà trường. Bảo đảm đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm trong nhà trường. Đặc biệt chú ý các nội dung sau: Về điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo về vị trí: Thiết kế bố trí cấu trúc đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm Về điều kiện thiết bị, dụng cụ: Tất cả các thiết bị dụng cụ nấu nướng, chế biến, sử dụng, bảo quản, chứa đựng phải đảm bảo tiêu chuẩn quy định. Về điều kiện con người: Đảm bảo mỗi nhân viên nuôi dưỡng hàng năm được khám sức khỏe định kỳ , học tập kiến thức và thực hành tốt chế độ vệ sinh cá nhân. Hàng tuần hàng tháng họp lấy ý kiến đóng góp của giáo viên và mọi người xung quanh để đúc kết kinh nghiệm cho những lần chế biến sau. Kiểm soát chặt chẽ nguồn cung cấp thực phẩm: Nguồn gốc, thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, khâu chế biến nấu nướng, khâu bảo quản vận chuyển. Phối hợp với chính quyền địa phương kiểm soát các cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, cấm các loại hàng rong bán quà xung quanh trường học khi không đủ điều kiện vệ sinh theo quy định. Đào tạo bồi dưỡng kiến thức, thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm cho cán bộ – giáo viên – nhân viên và học sinh. Đưa nội dung giáo dục vệ sinh dinh dưỡng và an toàn thực phẩm vào các hoạt động hàng ngày cho trẻ tại nhà trường. Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường mầm non.

4. Xây dựng thực đơn dinh dưỡng cho trẻ phù hợp với thực tế nhà trường và địa phương Chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ là một công trình lớn lao đòi hỏi các cô giáo, cô nuôi phải có thời gian, vốn hiểu biết về dinh dưỡng và tâm sinh lý trẻ. Để trẻ phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ thì cần phải có những bữa ăn ngon miệng đầy đủ dinh dưỡng. Một bữa ăn đầy đủ dinh dưỡng phải đủ 3 nguyên tắc sau:

* Nguyên tắc 1: Thức ăn phải có đủ 4 nhóm chất: Bột đường, chất đạm, chất béo, chất xơ. Chất bột đường có trong thức ăn chế biến từ gạo như: Bột, cháo, cơm, mỳ…. chất này cung cấp năng lượng cho trẻ và giúp chuyển hoá chất trong cơ thể. Chất đạm có trong thịt, cá, tôm, cua các loại đậu … giúp xây dựng cơ bắp, tạo kháng thể. Chất béo có trong mỡ, dầu, bơ … dự trữ, cung cấp cho bé năng lượng và các vitamin. Chất xơ có trong các loại rau củ, trái cây, giúp cơ thể bé chuyển hoá chất và tăng cường chất đề kháng cung cấp vitamin, khoáng chất. * Nguyên tắc 2: Nước nhu cầu nước của trẻ chiếm từ 10 – 15% trọng lượng cơ thể. Một trẻ em nặng 10kg thì trung bình cần 1-1,5lít nước/1 ngày. Mùa nóng trẻ cần lượng nước nhiều hơn mùa lạnh. Nếu cha mẹ cho trẻ ăn thức ăn quá đặm hoặc không cho trẻ uống đủ nước thì sự tiêu hoá và hấp thụ của trẻ sẽ kém. Nguyễn tắc 3: Thực phẩm an toàn Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong quá trình lựa chọn và chế biến thức ăn cho trẻ. Thịt, cá, rau, trái cây phải tươi sống đảm bảo không có thuốc sâu hay hoá chất, các thực phẩm đã chế biến sẵn phải lựa chọn những thương hiệu có uy tín về chất lượng và an toàn thực phẩm, có nhãn mác xuất sứ, có ngày tháng sản xuất và hạn sử dụng đầy đủ. Đối với thức ăn đã nấu chín phải cho trẻ sẻ dụng ngay, nếu chưa dùng ngay thì phải đậy kín. Đối với thực phẩm thịt, cá, rau, trái cây không nên cắt nhỏ ngâm trong nước vì sẽ làm mất đi một số vitamin, đối với các loại củ nên rửa nhẹ nhàng sau khi đã gọt sạch vỏ để giảm thiểu việc mất vitamin do các vitamin nằm ngay dưới lớp vỏ . Để có một khẩu phần ăn cân đối cho trẻ, tôi đã chỉ đạo giáo viên nuôi phối hợp nhiều loại thực phẩm với nhau trong ngày ở tỷ lệ thích hợp và đảm bảo đủ năng lượng theo lứa tuổi. Nhằm đảm bảo đầy đủ nhu cầu về năng lượng và các chất dinh dưỡng. Nhóm lương thực, nhóm giàu chất đạm, nhóm thức ăn giàu chất béo, nhóm thức ăn giàu vitamin và khoáng chất, do đó chúng tôi lên kế hoạch thay đổi thực đơn hàng ngày chọn cho trẻ ăn những món ăn đa dạng và thay đổi từng ngày, từng bữa để hấp dẫn trẻ. Chính vì để đảm bảo đủ 4 nhóm thức ăn cho bữa ăn hàng ngày của trẻ tôi cùng tổ nuôi dưỡng đã phối hợp, xây dựng bảng thực đơn cho trẻ tại trường Mầm non Na Mao như sau.

TỔNG HỢP THỰC ĐƠN CHUẨN MÙA HÈ Thời Bữa chính trưa gian

Súp thập cẩm

Thịt tôm rim

chính

Mướp xào thịt

Bữa xế

Sữa đậu nành

Canh bầu nấu tôm Thịt, đậu sốt cà chua Rau muống xào thịt Thứ 3 Canh phụ, trứng thịt cà chua

đậu Mỳ thịt rau Dưa hấu

Thịt bò kho dứa

Sữa vinamilk

Đậu đũa xào thịt bò

Cháo thập cẩm

Canh cua, rau đay, mùng tơi,mướp

Cá càchua- Bầu xào thịt

Chuối tiêu

Canh dưa nấu cá gà

Thịt

Giá đỗ, dứa xào thịt

Chè bí đỏ, đỗ Sữa đậu nành Canh rau ngót nấu thịt, xanh

lạc TỔNG HỢP THỰC ĐƠN CHUẨN MÙA ĐÔNG

đậu

Bữa chính chiều sốt

nấu

rau

Bữa xế

Trứng

cuốn

thịt

Súp thập cẩm

Đu đủ

đậu

hấp Su su, cà rốt xào thịt Canh rau cải nấu ngao

Thịt bò xào sốt cà chua Củ cải, cà rốt xào thịt

Bánh rán

Canh bí đỏ nấu xương Thứ 4 Sữa vinamilk

Cá sốt cà chua Súp lơ, cà rốt xào thịt

Cháo nấu thịt rau

Chuối

Xôi ruốc

Sữa đậu nành

Giá đỗ, cà rốt xào thịt Canh cải cúc nấu tôm

5. Chỉ đạo nghiêm túc quy trình chế biến thực phẩm, kiểm thực 3 bước, lưu mẫu thức ăn. Đối với quá trình chế biến thức ăn nhân viên nhà bếp phải thực hiện theo đúng quy trình từ khi tiếp nhận thực phẩm đến khi sơ chế, chế biến thành thực phẩm chín. Trước khi chế biến thực phẩm sống nhân viên nhà bếp phải cọ rửa dụng cụ: Dao, thớt sạch sẽ tránh để nhiễm khuẩn, rêu mốc trên dao thớt Thức ăn chín phải đảm bảo đủ thời gian và nhiệt độ, không để thực phẩm sống tiếp xúc với thực phẩm chín. Dụng cụ cho trẻ ăn uống như: Bát, thìa, ly… đều được tráng bằng nước sôi trước khi cho trẻ sử dụng. Toàn bộ nhân viên cấp dưỡng đều nắm rõ kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm về cách xử lý thực phẩm từ khâu chọn nguyên liệu thực phẩm đến chế biến và bảo quản thực phẩm vì vệ sinh an toàn thực phẩm vô cùng quan trọng trong bếp ăn tập thể. Thực hiện tốt biện pháp phòng tránh ngộ độc bằng cách hàng ngày nhân viên y tế kiểm tra các thực phẩm của đối tác trước khi ký nhận bằng phương pháp ghi sổ kiểm thực 3 bước cụ thể như sau: Bước 1: Trước khi nhập thực phẩm

STT

1

7h30′ Bột canh

1 gói

2

Nước mắm

0,5 lít

3

Dầu thực vật

1 lít

4

Đường kính

3,5kg

5

Gạo tẻ

10,0kg Bà

Gạo nếp

6

7

6,8kg

7h40′ Cải cúc

8

Cà rốt

9

Hành lá

10

Giá đậu xanh

11

Gừng

12

8h00′ Thịt lợn thăn

13

Thịt gà

14

Mỡ lợn sống

15

Tôm đồng

16

Sữa đậu nành

1.5kg

Chữ ký của người kiểm thực

Chữ ký của đại diện cơ sở

Bước 2: Trước khi chế biến

STT

Bột canh

1 gói

2

Nước mắm

0,5 lít

3

Dầu thực vật

1 lít

4

Đường kính

3,5kg

Gạo tẻ

1

5

8h00′

8h00′

Gạo nếp

6

7

Cải cúc

8h10′

Thịt lợn thăn

13

Thịt gà

14

Mỡ lợn sống

15

Tôm đồng

16

7h50′

8

12

1.5kg

Sữa đậu nành 14.0kg Ông Đoàn Văn Quyêt Xã Yên

Lãng Chữ ký của người kiểm thực

Chữ ký của đại diện cơ sở

Bước 3: Trước khi ăn Stt Ngày giờ

1

140

Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Trong Trường Mầm Non / 2023

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: “MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC TRONG TRƯỜNG MẦM NON”

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1

1. Lý do khách quan Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, là nền tảng đầu tiên của ngành Giáo dục và Đào tạo. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường Tiểu học được tốt. Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích. Vì vậy, Trường mầm non có nhiệm vụ giáo dục trẻ có được những thói quen học tập, sinh hoạt hàng ngày. Muốn thực hiện được điều đó, trước hết người quản lý chỉ đạo chuyên môn phải nhận thức đúng về nhiệm vụ, yêu cầu của ngành học, đồng thời nắm vững các chỉ tiêu, kế hoạch của ngành học giao. 2. Lý do chủ quan Ngày nay, với yêu cầu ngày càng cao của xã hội, hệ thống trường lớp mầm non được mở rộng về quy mô và số lượng học sinh tăng nhanh. Trong khi đó thực trạng đội ngũ giáo viên hiện nay còn nhiều bất cập về chất lượng giảng dạy. Một số giáo viên khi lên lớp còn có những hạn chế nhất là chưa phát huy được tính tích cực sáng tạo ở trẻ. Tổng số giáo viên đi học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đạt trình độ trên chuẩn còn nhiều. Giáo viên vừa đi học, vừa đi làm nên ảnh đến chất lượng giáo dục và hiệu quả công tác. Năng lực chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề của giáo viên không đồng

2

đều. Nhiều giáo viên mới ra trường trình độ tay nghề còn non nên cũng ảnh hưởng đến việc nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong nhà trường. Với trách nhiệm lớn lao của một người cán bộ quản lý, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm thế nào để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ được tốt. Đây là nhiệm vụ quan trọng và cần phải có sự nỗ lực phấn đấu, quyết tâm cao. Cần phải chú trọng công tác chuyên môn, làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, công tác nâng cao chất lượng giáo dục trẻ nhằm duy trì và phát triển chất lượng giáo dục trong nhà trường ngày càng đi lên đáp ứng với yêu cầu sự nghiệp giáo dục mầm non. Chính vì vậy tôi đã chon đề tài Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục trong trường mầm non. 3. Mục đích nghiên cứu – Làm rõ thực trạng của trường để rút ra bài học kinh nghiệm

– Có những biện pháp phù hợp để nâng cao chất lượng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng với những yêu cầu đổi mới của xã hội.

II. ĐỐI TƯỢNG, CƠ SỞ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU a. Đối tượng: Giáo viên, học sinh Trường Mẫu giáo Bình Minh – Huyện Krông Ana – Tỉnh Đăk Lăk b. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo viên, học sinh. – Phương pháp quan sát, điều tra các hoạt động của giáo viên. c. Giới hạn đề tài

3

Đối tượng và nội dung của công tác chỉ đạo bồi dưỡng, nâng cao chất lượng chuyên môn rất đa dạng và phong phú. ở đây tôi trình bày một số biện pháp quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục cho giáo viên ở trường Mẫu giáo Bình Minh

III. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Thực trạng Thực hiện nhiệm vụ năm học 2009 – 2010 của bậc học mầm non. Trường MG Bình Minh quyết tâm phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia. Vì vậy, ngoài việc mua sắm trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi phục vụ chăm sóc, giáo dục trẻ. Cần phải có nhiều biện pháp tích cực để nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ. Song việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ có những thuận lợi và khó khăn sau: * Thuận lợi: – Trường có đội ngũ giáo viên trẻ, khỏe, nhiệt tình, tận tụy, yêu thương các cháu. Tích cực tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực sư phạm cho bản thân. – Cơ sở vật chất trang thiết bị, đồ dùng dạy học có sự tăng trưởng, đáp ứng yêu cầu giáo dục mầm non trong giai đoạn hiện nay. – Ban đại diện cha mẹ học sinh quan tâm, chăm lo đến việc học tập của các cháu, tích cực tham gia vào các hoạt động của nhà trường. – Tỷ lệ huy động trẻ đạt kế hoạch 100%. Cụ thể: Trong năm học 2009-2010 Trường MG Bình Minh có 101 cháu/ 04 lớp. Tất cả các lớp đều thực hiện chương trình MN mới của Bộ GD&ĐT. * Khó khăn:

4

– Đội ngũ giáo viên mới ra trường, trình độ không đồng đều, chưa có kinh nghiệm trong giảng dạy.

– Đa số giáo viên đều đang đi học để nâng cao trình độ chuyên môn nên ảnh hưởng đến chất lượng công tác. – Là năm học đầu tiên nhà trường thực hiện thí điểm chương trình GDMN mới nên còn gặp nhiều khó khăn trong công tác dạy và học – 100% học sinh là người đồng bào DTTS nên việc tiếp cận chương trình GDMN mới còn hạn chế. Trước tình hình thực trạng của nhà trường, tôi trăn trở suy nghĩ tìm ra một số biện pháp chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ như sau: 2. Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục trong trường MG Bình Minh a. Biện pháp 1: Xây dựng kế hoạch chuyên môn – Dựa vào kế hoạch nhiệm vụ năm học của ngành, Hiệu trưởng để xây dựng kế hoạch chuyên môn cụ thể, sát với tình hình của trường. – Xây dựng kế hoạch năm học, kế hoạch học kỳ, kế hoạch tháng, kế hoạch tuần, xây dựng chế độ sinh hoạt, chương trình dạy cho các khối lớp phù hợp. Chỉ đạo GVCN các khối lá, chồi , mầm xây dựng kế hoạch hoạt động cho các lớp phù hợp với tình hình thực tế của địa phương và phải phù hợp với trình độ nhận thức của trẻ, kế hoạch được nhà trường phê duyệt mới thực hiện. Hàng tháng giáo viên báo cáo kế hoạch, lịch dạy của lớp cho nhà trường. Qua đó Ban giám hiệu dễ theo dõi, kiểm tra và có biện pháp chỉ đạo tốt hơn.

5

– Dựa vào chất lượng của vùng và chất lượng giáo dục của các lớp, nhà trường giao chỉ tiêu chất lượng cho các khối cụ thể: + Khối lá: TB trở lên: 97%. Trong đó Khá-Giỏi: 70% + Khối chồi: TB trở lên: 96%. Trong đó Khá-Giỏi: 65% + Khối mầm: TB trở lên: 95%. Trong đó Khá-Giỏi: 60% Đối với trẻ 5 tuổi, cuối năm bàn giao chất lượng đạt TB 97% trở lên. Trong đó các môn phải đạt khá – giỏi theo quy định trên thì lớp đó mới được lớp tiên tiến. Chất lượng giao khoán gắn với chỉ tiêu thi đua của lớp, của mỗi cá nhân vào cuối năm. Với biện pháp này các giáo viên đều phải trăn trở, tìm tòi nhiều biện pháp trong việc giáo dục trẻ, trong kế hoạch, phương pháp ôn luyện kiến thức cho trẻ thêm vào các thời điểm trong ngày để đạt được chỉ tiêu đề ra. b. Biện pháp 2: Thành lập tổ chuyên môn và xây dựng kế hoạch nghiên cứu. * Thành lập tổ chuyên môn Tổ chuyên môn trong trường tôi hiện tại gồm có 3 đồng chí ( đ/c Nam, đ/c Tươi, đ/c H’Bluin Ktla) đại diện cho các khối (lá, chồi, mầm) và là lực lượng nòng

cốt, vì vậy cần chọn giáo viên có trình độ đạt chuẩn, có phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín đối với đồng nghiệp, có năng lực sư phạm tốt để chỉ đạo phân công cho giáo viên. Xây dựng kế hoạch hoạt động từng tháng, tuần, ngày. Hàng tháng sinh hoạt 01 lần tạo nề nếp trong sinh hoạt, có đánh giá kết quả và kế hoạch tiếp nối. * Xây dựng kế hoạch nghiên cứu

6

7

vườn trường và đặt câu hỏi: trong vườn trường có những con gà gì? (gà mái- gà trống- gà con..vv). Ngoài ra còn có những con vật gì sống trong gia đình nữa? Chúng ta cần chú trọng trẻ Học như thế nào hơn là Học cái gì; cần coi trọng quá trình hoạt động hơn là kết quả hoạt động; học một cách tích cực qua tìm hiểu, trải nghiệm; học thông qua sự hợp tác giữa trẻ với người lớn và giữa trẻ với trẻ. c. Biện pháp 3: Chỉ đạo tích cực việc thực hiện: “Dạy thật – Học thật – Kết quả thật”

8

9

10

huyện, cấp tỉnh. Qua Hội thi đã rút ra được nhiều kinh nghiệm về nâng cao chất lượng giáo dục và là dịp để giáo viên, các cháu thể hiện những tài năng của mình và có sự học hỏi lẫn nhau; năng lực sư phạm được nâng lên rõ rệt. * Việc chỉ đạo lớp điểm cũng là một trong những việc làm rất quan trọng vì đây là đòn bẩy phong trào, là cơ sở để nâng cao năng lực chuyên môn và chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Từ đó để nhân điển hình ra diện rộng về chất lượng giáo dục trong toàn trường. Trong năm học 2009-2010 nhà trường đã chỉ đạo 2 lớp điểm (lớp lá cô Nam, cô H’ Mít Êban và lớp chồi cô Ngân, cô H’ Le). Với các lớp chỉ đạo điểm nhà trường đã có kế hoạch chỉ đạo ngay từ đầu năm học, chỉ đạo về công

tác tăng cường về CSVC, đồ dùng trang thiết bị dạy học, đồ chơi, chỉ đạo trang trí lớp tạo môi trường giáo dục. Chỉ đạo việc thực hiện tổ chức các hoạt động, xây dựng bộ hồ sơ, giáo án tốt (cô Phương Nam, cô Tươi). Qua chỉ đạo điểm, giáo viên đã học tập thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn. Chất lượng giáo dục trẻ được nâng lên. * Đánh giá chất lượng giáo dục, khảo sát chất lượng: đánh giá đúng, thực chất kết quả giáo dục của trẻ, đánh giá 2 lần trong năm học (Lần 1 vào tháng 10, lần 2 vào tháng 3) cụ thể: trẻ Kết quả

Số

tham gia TT Khối

Thường xuyên

Thỉnh thoảng

Chưa có

Lần 1

Lần 1

Lần Lần Lần 1

Lân2

1

SL % SL %

2

SL %

Lần 2

Lần 2

SL % SL % SL %

11

1

26

26

8

30,8 20 77 16 61,5 6

2

Chồi 50

50

15 30

35 70 25 50

15 30 10 20

3

Mầm 25

25

6

16 64 12 48

9

24

23 2

36 7

7,7

28

Qua đánh giá kết quả của giáo viên, cán bộ quản lý phải có sự kiểm tra, xác suất, thực chất kết quả. Từ đó có biện pháp chỉ đạo tích cực, bổ sung những thiếu sót, kịp thời chấn chỉnh, bồi dưỡng cho giáo viên, năng lực đánh giá, bộ công cụ đánh giá, phát hiện những cháu có kiến thức còn hạn chế để bồi dưỡng, ôn luyện thêm. Vì vậy, so với lần 1, lần 2 chất lượng đã tăng lên rõ rệt. * Phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học, đồ chơi: Đối với trẻ, đồ chơi là công cụ quan trọng không thể thiếu được. Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, đối với việc học mà chơi, chơi mà học giúp cho trẻ nắm được những kiến thức cơ bản, ôn luyện củng cố kiến thúc cho trẻ qua hoạt động vui chơi. Mỗi giáo viên là một cộng tác viên tham gia với BGH, các bậc cha mẹ học sinh để mua sắm và tận dụng các nguyên vật liệu đã qua sử dụng để sáng tạo ra những đồ dùng nhằm phục vụ cho các hoạt động như: lon bia, chai nước, hộp sữa Yốmt, xốp, lịch cũ… Đặc biệt là tranh cô và trẻ cùng sáng tạo thì tiết dạy sẽ sinh động hơn và được trẻ yêu thích hơn như: tranh ảnh, mô hình, con vật… Vì vậy, việc phát động phong trào tự làm đồ dùng, đồ chơi là một việc làm thường xuyên, một năm mỗi giáo viên làm 1- 2 đồ dùng có chất lượng tham gia dự thi đồ dùng, đồ chơi cấp trường. Do đó, số lượng đồ chơi, đồ dùng đã được tăng lên. e. Biện pháp 6: Tăng cường công tác kiểm tra nội bộ trường học Kiểm tra là một việc làm thường xuyên, kiểm tra bằng nhiều hình thức, kiểm tra toàn diện, chuyên đề, kiểm tra theo định kỳ, kiểm tra đột xuất. Từ đầu năm đến

12

thời điểm hiện tại nhà trường đã kiểm tra toàn diện được 70% giáo viên; kiểm tra chuyên đề mỗi giáo viên kiểm tra 2 lần/năm. Việc kiểm tra đột xuất một số nội dung: Kiểm tra việc thực hiện chương trình, hồ sơ, giáo án, thực hiện chế độ sinh hoạt, việc đánh giá chất lượng. Kiểm tra kỹ năng của trẻ như vở tập tô, bé làm quen với toán, tạo hình… Ví dụ: Trong đợt kiểm tra đột xuất tôi phát hiện 1 số vở tạo hình, vở LQVT có những đề tài đã học rồi nhưng không thực hiện trong vở, hỏi ra mới biết các cháu đó nghỉ học hôm thực hiện đề tài này. Tôi đã chỉ đạo GV tổ chức cho các chaú được học bù vào thời gian hoạt động góc, mọi lúc mọi nơi. Qua kiểm tra, đã uốn nắn một số sai lệch của giáo viên trong công tác giáo dục. Từ đó có biện pháp chỉ đạo cụ thể giúp cho giáo viên ôn luyện kiến thức, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giúp cho trẻ có chất lượng giáo dục tốt hơn. g. Biện pháp 7: Phối kết hợp với gia đình, cộng đồng để giáo dục trẻ Đối với trẻ mầm non việc thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học, chăm sóc, nuôi dạy các cháu góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. Bởi vậy trường tổ chức phối kết hợp với phụ huynh qua các cuộc họp phụ huynh toàn trường, qua hội phụ nữ thôn buôn, đoàn thanh niên, qua các góc tuyên truyền những điều cha mẹ cần biết nhằm giúp cho phụ huynh nắm được một số kiến thức giáo dục, rèn luyện cho trẻ có thói quen, hành vi văn minh trong giao tiếp, biết yêu thương quý trọng cô giáo, bố mẹ, người lớn. Có thói quen nề nếp trong học tập, trong các hoạt động, từ đó chất lượng giáo dục được tăng lên, trẻ nắm vững các kiến thức, kỹ năng, trả lời nhanh, mạnh dạn, tự tin.

13

14

15

giáo dục góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường mầm non, xứng đáng với lời dạy của Bác Hồ: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. IV. ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 1. Đề xuất

16

MỤC LỤC

– Lý do chọn đề tài

Trang 2

– Đối tượng, cơ sở và phương pháp nghiên cứu

Trang 3

– Nội dung và kết quả nghiên cứu

Trang 3

– Đề xuất và kiến nghị

Trang 10

17

– Kết luận

Trang 10

– Nhận xét của hội đồng chấm cấp trường

Trang 12

Trang 13

– Tài liệu tham khảo

Trang 14

18

TÀI LIỆU THAM KHẢO TRONG QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

1. Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ II của Vụ Giáo dục Mầm non 2. Tài liệu tập huấn triển khai chương trình GDMN của Bộ Giáo dục và Đào tạo 3. Bộ sách hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình GDMN 3 lứa tuổi của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam 4. Tài liệu Đại học tại chức của trường ĐHSP thành phố Hồ Chí minh. 5. Thực trạng tại đơn vị

19

20

Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỷ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non / 2023

ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC KỶ NĂNG SỐNG CHO TRẺ TRONG TRƯỜNG MẦM NON I. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết, kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vi lành mạnh cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày, kỹ năng sống bắt nguồn từ cuộc sống, nhưng không phải chỉ là những kỹ năng để sống mà là công cụ để một người đạt đến thành công trong cuộc sống cá nhân, công việc và cuộc sống xã hội và cách mỗi người sử dụng công cụ ấy sẽ tạo ra sự khác biệt. Kỹ năng sống, hiểu theo cách cụ thể hơn là công cụ để tối ưu hóa tính khí của mỗi người, giúp cho họ làm chủ bản thân, biết điều tiết các nhu cầu và nguyện vọng của chính mình và hoạch định con đường đi riêng để đạt đến thành công. Mọi người lớn đều bắt đầu từ những đứa trẻ. Và mọi đứa trẻ đều lớn lên thông qua các trải nghiệm và thích nghi. Khi chúng ta còn nhỏ, chúng ta được trải nghiệm cuộc sống một cách đầy đủ và phóng khoáng, những cú ngã chảy máu, những nồi cơm cháy khét, những trò chơi trận giả… là thứ giúp chúng ta lớn lên, dễ thích nghi, dễ hợp tác và dễ điều chỉnh bản thân. Đối với trẻ Mầm non, chúng ta muốn con trẻ lớn lên trở thành những con người tốt, sống có sức khỏe, bản lĩnh, có đủ phẩm chất và năng lực làm việc, trước hết chúng ta phải nhìn nhận lại bản thân mình trước khi dạy trẻ: bản thân chúng ta cần gì? thiếu gì? dựa vào cái gì để thành công? … thì hãy dựa vào đó mà dạy cho những đứa trẻ của chúng ta những điều y như thế. Việc xây dựng kỹ năng sống cho trẻ không gì hơn là tạo cho trẻ có cơ hội để trẻ được trải nghiệm, khám phá, thích nghi và hướng dẫn cho trẻ cách tự thể hiện mình. Có như thế thì chúng ta mới có thể có những người lao động chủ động, tích cực, hòa đồng và đầy đặc biệt như chúng ta hằng mong đợi. 1

Xuất phát từ những vấn đề trên nên bản thân tôi là cán bộ quản lý, tôi suy nghĩ rằng việc dạy kỷ năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng nên tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng GD kỷ năng sống cho trẻ trong trường mầm non” làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2013-2014. 2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Toàn thể giáo viên đứng lớp và học sinh trong độ tuổi Mầm non thuộc đơn vị tôi công tác. Công tác giáo dục kỷ năng sống cho trẻ trong trường Mầm non hiện nay và một số giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ trong trường mầm non. 3. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở thực trạng kỷ năng sống của trẻ trong độ tuổi Mầm non hiện nay ảnh hưởng lớn đến việc phát triển toàn diện của trẻ sau này, chăm sóc cho đứa trẻ trở thành con người có ích cho xã hội, bản thân tôi đã tìm tòi và đề ra các giải pháp dạy kỷ năng sống cho trẻ mầm non nhằm tạo được sự chuyển biến tích cực về các mặt phát triển của trẻ ở đơn vị tôi công tác nói riêng và góp phần phát triển thế hệ trẻ lứa tuổi mầm non nói chung trở thành con người vừa có đạo đức vừa có trí tuệ, sức khỏe để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước. 4. Giả thiết nghiên cứu: Nhận thức được những vấn đề bồi dưỡng, giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ một cách toàn diện là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy trong thời gian tới đơn vị trường Mầm non chúng tôi sẽ có những cách làm mới, nâng cao hiệu quả việc thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non, là việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng trong nhà trường được tốt hơn. Nếu thực sự được sự quan tâm và cộng đồng chia sẻ, hợp tác thì công tác giáo dục kỷ năng sống cho trẻ trong độ tuổi mầm non sẻ trở thành một nhiệm vụ rất cần thiết và cấp bách trong việc giáo dục thế hệ trẻ nói chung và trẻ trong độ tuổi mầm non nói riêng. 2

5. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp điều tra, nghiên cứu. – Phương pháp luyện tập, thực hành. – Phương pháp kiểm tra, đánh giá. – Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp. – Phương pháp tổng kết và rút kinh nghiệm 6. Dự báo những đóng góp của đề tài Giáo dục kỷ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non nhằm góp phần hình thành nhân cách của trẻ, đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước phát triển một cách toàn diện. Công tác giáo dục kỷ năng sống cho trẻ Mầm non là quá trình tác động đến đứa trẻ, tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, khám phá và từ đó rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân, góp phần hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Làm tốt được công tác nâng cao chất lượng giáo dục kỷ năng sống cho trẻ trong trường mầm non thì tôi chắc chắn rằng trong thời gian tới các cấp trong ngành giáo dục sẽ rất quan tâm đến công tác giáo dục kỷ năng sống cho trẻ, đưa công tác giáo dục kỷ năng sống vào một môn học chính khóa. Góp phần đào tạo thế hệ trẻ trở thành thế hệ vàng son, trở thành những con người đủ các phẩm chất về thể chất, đạo đức, tinh thần và trí tuệ, tạo thành một thế hệ hùng hậu cho Tổ quốc. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Cơ sở khoa học: 1.1. Cơ sở lý luận: Đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệ cao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang là một thách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và ngành giáo dục phải có một chiến lược phát triển nhân tài. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục Mầm non có một vị trí đặc biệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài

3

cho đất nước. Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đến chất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo. Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàn diện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thành nên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiết cho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt. Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt”. Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích. Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả. Giáo dục kỹ năng sống có tác dụng nâng cao nhận thức, trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho trẻ. Vì vậy, giáo dục kỹ năng sống là một hình thức can thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngăn ngừa những hành vi lệch lạc của trẻ em, đặc biệt là trểm dướ 6 tuổi. Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 2003), đó là kỹ năng mang tính tâm lí xã hội, là các khả năng thích ứng và là hành vi tích cực cho phép các cá nhân giải quyết có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sống cần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Nó giúp cho mọi người thể hiện kiến thức, thái độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ có hại cho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình, chẳng hạn, biết đặt mục tiêu cho cuộc sống, thể hiện sự kiên định trước những cám dỗ không có lợi cho sức khỏe … Những năm gần đây, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, những can thiệp dựa trên giáo dục kỹ năng sống giúp cho việc thay đổi hành vi đạt hiệu quả cao hơn so với các phương pháp tiếp cận chỉ cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức. Ở Việt Nam, những năm gần đây, việc giáo dục kỹ năng sống ngày càng được nhân rộng cả về phạm vi địa lý cả về nội dung chương trình và bước đầu đã có những kết quả đáng ghi nhận.

4

Vì vậy, trường mầm non có nhiệm vụ giáo dục trẻ có được những thói quen học tập, sinh hoạt hàng ngày. Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ MN nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trong cuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm. Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại. Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằm giúp trẻ có thể chuyển kiến thức, thái độ, cảm nhận thành những khả năng thực thụ, giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trong cuộc sống. Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng : Kỹ năng giao tiếp ứng xử, kỹ năng vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ năng hợp tác chia sẻ….. Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống của người lớn. Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống cho phù hợp. 1.2. Cơ sở thực tiễn: Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kỹ năng cuộc sống (Bao gồm rất nhiều kỹ năng) và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng này thì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp có hiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả năng giao tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách ứng xử phù hợp và biết tự cách giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rất quan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kỹ năng sống cho trẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi Mầm non vô cùng cần thiết và quan trọng hàng đầu. Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực hành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng đến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho 5

trẻ. Luôn bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp, biết chia sẽ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trong nhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào, thích cái gì và điạ chỉ nhà mình ở đâu. Nhận biết các ưu khuyết điểm của bản thân. Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cánh lắng nghe mọi người và đối đáp. Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơi công cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ,…)…. Chúng ta chỉ dạy trẻ: Nên hay Không nên, những hành vi này sẽ được tích lũy trong quá trình hướng dẫn của giáo viên. 2. Thực trạng đơn vị: 2.1. Thuận lợi: Là trường Mầm non nằm ở địa bàn tương đối thuận lợi cho trẻ đi lại và đảm bảo các điều kiện cho trẻ được học tập, vui chơi, trải nghiệm… Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ theo quy định cho các độ tuổi. Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, luôn năng nổ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có nhiều kỷ năng tốt để hướng dẫn trẻ trong quá trình học tập. Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trình Giáo dục Mầm non. Phụ huynh có hiểu biết về Giáo dục Mầm non và rất quan tâm đến công tác chăm sóc và giáo dục trẻ của nhà trường. 2.2. Khó khăn: Số lớp, số học sinh tương đối đông, vượt chỉ tiêu biên chế số trẻ/lớp đối với các độ tuổi. 6

Học sinh đa số được nuông chiều quá mức nên ảnh hưởng rất lớn đến công tác giáo dục các kỷ năng sống cho trẻ. Đội ngũ giáo viên trẻ đông, số mới ra trường nhiều nên vốn kinh nghiệm để dạy trẻ còn nhiều hạn chế. Một số phụ huynh quá nôn nóng về việc dạy chữ, dạy tính toán cho trẻ mà quan mất việc dạy các kỹ năng cho trẻ nên một số trẻ rất ương bướng và khó bảo. 2.3. Khảo sát thực trạng chất lượng trước khi thực hiện đề tài: Để việc nghiên cứu đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm học tôi có làm một cuộc khảo sát nhằm đánh giá vốn kỷ năng sống hiện tại của trẻ trước khi thực hiện đề tài và mức độ kiến thức dạy kỷ năng sống cho trẻ của giáo viên. Bảng 1. Kết quả khảo sát học sinh về vốn kỷ năng sống (Số học sinh được khảo sát 382 trẻ)

Nội dung khảo sát

Kết quả Số lượng

Tỷ lệ (%)

221/382

57,8

Kỷ năng giao tiếp, lễ phép

256/382

67,0

Kỷ năng vệ sinh cá nhân và tự lập

198/382

51,8

Kỷ năng thích khám phá học hỏi

162/382

42,4

Trẻ có ý thức hợp tác, chia sẻ165/382

Trẻ mạnh dạn, tự tin

Bảng 2. Kết quả khảo sát đội ngũ giáo viên về kiến thức dạy kỷ năng sống cho trẻ trước khi thực hiện đề tài: (Số giáo viên được khảo sát 32 người) Nội dung khảo sát Nắm một cách vững vàng các kỷ năng sống cơ

Kết quả Số lượng

Tỷ lệ (%)

28/32

87,5

13/32

40,6

bản đối với trẻ mầm non Biết tổ chức các hoạt động lồng ghép giáo dục kỷ năng sống 7

Mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp trước đám đông

26/32

81,2

Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy số trẻ đến trường mầm non chưa thật sự tự tin, trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, các kỷ năng về giao tiếp, kỷ năng hợp tác chia se, kỷ năng tự lập còn rất nhiều hạn chế. Đội ngũ giáo viên số giáo viên nhiều tuổi thì chậm trong việc đổi mới phương páp giáo dục trẻ, số giáo viên trẻ thì còn thiếu kinh nghiệm, chưa mạnh dạn, chưa dám đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ về kỷ năng sống. Đứng trước tình hình thực trạng của đơn vị tôi. Làm thế nào để nâng cao được chất lượng giáo dục kỷ năng sống cho trẻ, đây là một bài toán hết sức khó khăn cho tôi. Bên cạnh đó điều kiện nhà trường chưa thể đáp ứng được các yêu cầu về chuẩn hóa đội ngũ và cơ sở vật chất để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ trong điều kiện hiện nay. Để góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện Nghị quyết Trung ương VIII (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Tôi đã mạnh dạn đề xuất một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng kỷ năng sống cho trẻ trong trường mầm non. 3. Giải pháp thực hiện: 3.1. Tích cực nghiên cứu, tự học, tự bồi dưỡng: Người giáo viên trước hết phải là nhà giáo dục, có tác động tích cực đến học sinh thông qua bản thân nhân cách của mình. Bản thân nhân cách của người giáo viên có vai trò như một năng lực tổng hợp. Bên cạnh đó người giáo viên cần có những năng lực nghề nghiệp mới. Kết hợp với những năng lực truyền thống như: năng lực phát hiện và nhận biết đầy đủ, chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, những nhu cầu được giáo dục của từng học sinh. Đối với giáo viên mầm non đây là năng lực đặc biệt quan trọng vì sự phát triển về các mặt của trẻ ở lứa tuổi mầm non diễn ra rất nhanh, nhưng lại không đồng đều; năng lực đưa ra được những nội dung và biện pháp giáo dục đúng 8

đắn, kịp thời, phù hợp với nhu cầu của người học và yêu cầu của mục tiêu giáo dục, năng lực nhìn nhận sự thay đổi trong nhận thức, kỹ năng thái độ và tình cảm của học sinh. Năng lực đánh giá giúp nhìn nhận tính đúng đắn của chẩn đoán và đáp ứng, quan hệ đồng nghiệp, quan hệ với phụ huynh học sinh và nhất là quan hệ với học sinh, năng lực tiến hành dạy học và giáo dục. Căn cứ vào mục đích và nội dung giáo dục và dạy học đã được quy định, nhưng lại phù hợp với đặc điểm của đối tượng, năng lực tạo nên những điều kiện thuận lợi cho giáo dục trong nhà trường và từ cuộc sống bên ngoài nhà trường. Cán bộ quản lý trước hết phải là tấm gương tiêu biểu về quá trình bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Quan trọng nhất là phải luôn khẳng định trình độ năng lực chuyên môn của mình trong tập thể sư phạm nhà trường. Trong thực tế, chỉ có tự học mới có thể có điều kiện giúp chúng ta học tập được thường xuyên và suốt đời. Tự học là một cách tự bồi dưỡng, tự làm giàu kiến thức cho mình vừa đơn giản, tiết kiệm vừa hiệu quả. Bản thân tôi đã rất trăn trở tìm tòi, sưu tầm các loại tài liệu hướng dẫn dạy kỷ năng sống cho trẻ Mầm non để nghiên cứu. Hàng ngày tranh thủ thời gian rảnh rỗi là tìm tòi sách vở để nghiên cứu, lên mạng internet để học hỏi những cách giáo dục kỷ năng sống cho trẻ ở lứa tuổi mầm non. 3.2. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao nhận thức về kỷ năng sống: Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thường xuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của Ban giám hiệu nhà trường. Đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên mang tính đặc thù về đối tượng, phương tiện, thời gian và sản phẩm lao động. Lao động sư phạm của người giáo viên hết sức phức tạp, tinh tế, đầy khó khăn và là một sứ mạng hết sức nặng nề là đào tạo thế hệ tương lai cho đất nước. Vì vậy đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải thường xuyên học tập, rèn luyện, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Nhu cầu này là nhu cầu cơ bản của mỗi người giáo viên. Xác định được việc muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỷ năng sống cho học sinh thì trước tiên giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dung dạy trẻ, để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỷ 9

năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thể thiếu. Đầu năm học tôi đã thành lập tổ chuyên môn, chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ trong năm học và kế hoạch hàng tháng. Chỉ đạo tổ chuyên môn sinh hoạt theo định kỳ đều đặn, hàng tháng có kế hoạch nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, được Ban giám hiệu nhà trường duyệt trước khi triển khai sinh hoạt; qua đó giúp giáo viên hiểu được rằng chương trình học chính khoá thường cho trẻ tiếp xúc từ từ với các kiến thức văn hoá trong suốt năm học, còn thực tế trẻ sẽ học tốt nhất khi có được cách tiếp cận một cách cân bằng, biết cách phát triển các kỹ năng nhận thức, cảm xúc và xã hội. Vì thế, khi trẻ tiếp thu được những kỹ năng giao tiếp xã hội và các hành vi ứng xử cơ bản trong nhóm bạn, thì trẻ sẽ nhanh chóng sẵn sàng và có khả năng tập trung vào việc học văn hoá một cách tốt nhất. Đối với tâm sinh lý trẻ em dưới sáu tuổi thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học vào thời gian đầu của năm học là chính là những kỹ năng sống như: sự hợp tác, tự kiểm soát, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giao tiếp. Việc xác định được các kỹ năng cơ bản phù hợp với lứa tuổi sẽ giúp giáo viên lựa chọn đúng những nội dung trọng tâm để dạy trẻ . Tôi đã cụ thể hóa nội dung giáo dục kỷ năng sống cho trẻ Mầm non gồm có các nội dung: + Kỷ năng về ăn uống: Đối với trẻ Mầm non trước khi trẻ học cách tự phục vụ thì trẻ đang còn rất vụng về, khi cho trẻ ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáo thấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn để tránh rơi vãi, nhưng giáo viên phải xác định rằng đó là cách trẻ học làm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn, lúc đầu có thể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ cho mình trong ăn uống. Biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, ngồi ngay ngắn, ăn hết suất, biết cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa … 10

11

Trẻ biết hợp tác cùng nhau trong khi chơi

+ Kỹ năng thích tò mò, ham học hỏi, khả năng thấu hiểu: Đây là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này là sự khát khao được học, được tìm hiểu, thích khám phá, tìm tòi, trẻ thích được trải nghiệm để có thể phát hiện ra nhiều điều mới lạ ở xung quanh trẻ. Giáo viên cần sử dụng nhiều tư liệu và ý tưởng khác nhau để khêu gợi tính tò mò tự nhiên của trẻ. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, các câu chuyện hoặc các hoạt động và tư liệu mang tính chất khác lạ thường khêu gợi trí não nhiều hơn là những thứ có thể đoán trước được. + Kỹ năng giao tiếp: Đây là một kỹ năng cơ bản và khá quan trọng đối với trẻ. Kỷ năng này có vị trí chính yếu so với tất cả các kỹ năng khác như đọc, viết, làm toán và nghiên cứu khoa học. Giáo viên cần phải dạy trẻ biết thể hiện bản thân và diễn đạt ý tưởng của mình cho người khác hiểu, trẻ cần cảm nhận được vị trí, kiến thức của mình trong thế giới xung quanh. Nếu trẻ cảm thấy thoải mái khi nói về một ý tưởng hay chính kiến nào đó, trẻ sẽ trở nên dễ dàng học và sẽ sẵn sàng tiếp nhận những suy nghĩ mới. Đây chính là yếu tố cần thiết để giúp trẻ sẵn sàng học mọi thứ. + Dạy trẻ biết nói lời cảm ơn, xin lỗi: Ngay từ khi còn bé, nếu trẻ hiểu được nên dùng những lời cảm ơn và xin lỗi trong hoàn cảnh phù hợp thì sẽ rất 12

có lợi cho việc hình thành nhân cách của trẻ sau này. Cho nên là giáo viên cần phải biết dạy cho trẻ sử dụng các lời nói đó vào những hoàn cảnh cụ thể. Ví dụ khi có người lớn cho quà trẻ phải biết nhận bằng hai tay và nói lời “cảm ơn”, hoặc khi không may lỡ làm bạn ngã thì phải biết dùng lời “xin lỗi” đối với bạn. 3.3. Hướng dẫn giáo viên thực hiện dạy trẻ các kỷ năng sống cơ bản mọi lúc, mọi nơi: Muốn dạy trẻ biết dược các kỷ năng sốn cơ bản, trước hết người lớn phải gương mẫu, yêu thương, tôn trọng, đối xử công bằng với trẻ và đảm bảo an toàn cho trẻ. Tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ được vui chơi. Giáo viên cần tạo các tình huống chơi trong chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ. Vì đối với trẻ chơi trò chơi có một vai trò rất quan trọng trong việc rèn kỷ năng sống. Trẻ lớn lên, học hành và khám phá thông qua trò chơi, các hành động chơi đòi hỏi trẻ phải suy nghĩ, giải quyết các vấn đề, thực hành các ý tưởng. Ví dụ: Giáo viên có thể giới thiệu với trẻ về chữ cái và các con số thông qua các trò chơi đóng vai, các trò chơi xây dựng, các trãi nghiệm văn học và âm nhạc…. Giáo viên cần tranh thủ đọc sách cho trẻ nghe trong mọi tình huống như những giờ hoạt động góc ở một nhóm nhỏ, trong dạo chơi ngoài trời, hoặc đọc sách trẻ nghe trong giờ trưa đối với những trẻ khó ngủ. Tăng cường kể cho trẻ nghe các câu chuyện cổ tích qua đó rèn luyện đạo đức cho trẻ, giúp trẻ hoàn thiện mình, biết đọc sách, dạy trẻ yêu thương bạn bè, yêu thương con người. Tạo hứng thú cho trẻ nhỏ qua các truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả năng thấu hiểu ở trẻ. Ví dụ: Khi kể chuyện “Ba cô gái” giáo viên đặt những câu hỏi gợi mở như: “Nếu là con khi nghe tin mẹ bị ốm, thì con sẽ làm gì?”, gợi mở tính tò mò thay đổi đoạn kết của truyện có hậu hơn, trẻ có thể đặt tên khác cho câu chuyện v.v….

13

Dạy trẻ kỷ năng phát biểu trước đám đông

3.5. Hướng dẫn giáo dục kỷ năng sống cho trẻ tại gia đình: Có thể thấy, trẻ thường dễ dàng kết bạn khi chơi theo đôi bạn trong môi trường của riêng chúng hơn là chơi trong một nhóm bạn tại trường. Cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc và xã hội bằng cách tạo ra các mối liên kết bạn bè tại gia đình. Cha mẹ hãy hỏi trẻ muốn mời ai về nhà chơi? Mối quan hệ này được trẻ duy trì khi đến trường, khi có được mối liên kết với một trẻ nào đó trong lớp, các mối quan hệ khác sẽ hình thành tiếp theo một cách dễ dàng hơn. Tuyên truyền để cha mẹ trẻ có niềm tin với sự hướng dẫn của giáo viên và năng khiếu tò mò bẩm sinh của trẻ, trẻ có thể lĩnh hội kinh nghiệm nhằm giải quyết các vấn đề quan trọng, đọc, làm toán, thử nghiệm một số kỹ năng khoa học khi chơi với nhau. Cha mẹ trẻ cần phối hợp với giáo viên một cách chặt chẽ và hợp lý bằng việc tham gia tình nguyện vào quá trình giáo dục trong nhà trừơng. Cha mẹ nên tham gia vào các buổi trao đổi với giáo viên, tham gia các buổi họp của nhà trường và dự một số giờ học, dự các hoạt động ngoại khoá; chỉ bằng cách đó thôi cha mẹ đã giúp trẻ hiểu rằng học là phải học cả đời. Cần giáo dục để trẻ cảm thấy thoải mái tự tin trong mọi tình huống của cuộc sống. Nếu cha mẹ muốn giáo dục trẻ biết tự giữ kỷ luật, trước hết cần đánh thức sự tự ý thức của trẻ, cố gắng khơi gợi để trẻ luôn nghĩ về bản thân mình một cách tích cực và đừng bao giờ phá vở suy nghĩ tích cực về bản thân trẻ. Trong gia đình, việc dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống rất cần thiết. Để trẻ có được những kỹ xảo, thói quen sử dụng đồ dùng một cách chính xác và thuần thục và khéo léo, không chỉ đòi hỏi trẻ phải thường xuyên luyện tập, mà còn phải đáp ứng được những nhu cầu của trẻ, đó là cung cấp cho trẻ những mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng, đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những người xung quanh trẻ. 3.6. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, vui chơi tập thể: Nội dung phong trào thi đua” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, trong đó có nội dung: Nhà trường cần tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của 17

học sinh. Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

Trẻ tham gia thể hiện chương trình văn nghệ lớp 5 tuổi chào năm học mới

20

Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non / 2023

Một số biện pháp giúp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sốngcho Trẻ trong trường mầm nonI. ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài:Như chúng ta đã biết, kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vilành mạnh cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày,kỹ năng sống bắt nguồn từ cuộc sống, nhưng không phải chỉ là những kỹ năng đểsống mà là công cụ để một người đạt đến thành công trong cuộc sống cá nhân,công việc và cuộc sống xã hội và cách mỗi người sử dụng công cụ ấy sẽ tạo ra sựkhác biệt.Có ai đã nói ” Gieo hành vi, gặt được thói quen “Ở lứa tuổi mầm non hànhvi nhận thức của trẻ giống như tờ giấy trắng. Khi gieo lên đó những mầm nhâncách nào thì nó sẽ hình thành thói quen đó cho trẻ sau này, muốn trẻ hình thànhđược thói quen tích cực thì phải thông qua hoạt động trải nghiệm và thích nghi.Ngày nay cuộc số tấp nập hơn cha mẹ mải lo kiếm thật nhiều tiên mà họ đã quênmất đến việc chăm sóc và dạy con cái. Họ thuê giúp việc chăm sóc con họ và yêucầu giúp việc bón cơm , tăm rửa mặc quần áo….. mặc dù những công việc đó conhọ có thể tự làm được. Chính vì vậy mà khi gặp khó khăn con họ sẽ không tự giảiquyết được vấn đề.Đối với trẻ Mầm non, chúng ta muốn con trẻ lớn lên trở thành những conngười tốt, sống có sức khỏe, bản lĩnh, có đủ phẩm chất và năng lực làm việc, trước

hết chúng ta phải nhìn nhận lại bản thân mình trước khi dạy trẻ: bản thân chúng ta

1

cần gì? thiếu gì? dựa vào cái gì để thành công? … thì hãy dựa vào đó mà dạy chonhững đứa trẻ của chúng ta những điều y như thế.Việc xây dựng kỹ năng sống cho trẻ không gì hơn là tạo cho trẻ có cơ hội đểtrẻ được trải nghiệm, khám phá, thích nghi và hướng dẫn cho trẻ cách tự thể hiệnmình. Có như thế thì chúng ta mới có thể có những đứa trẻ tự chủ động, tích cực,hòa đồng và đầy đặc biệt như chúng ta hằng mong đợi.Xuất phát từ những vấn đề trên nên bản thân tôi là cán bộ quản lý, tôi suynghĩ rằng việc dạy kỷ năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc làmrất cần thiết và cực kỳ quan trọng nên tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp chỉđạo nâng cao chất lượng GD kỹ năng sống cho trẻ mầm non trong trường mẫugiáo số 5″ làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2015-2016.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Toàn thể giáo viên 10 lớp và 580 học sinh trong độ tuổi đang học tại trườngmẫu giáo số 5Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường Mầm non hiện nay vàmột số giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng giáo dụckỹ năng sống cho trẻtrong trường mẫu giáo số 5.3. Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở thực trạng kỹ năng sống của trẻ trong độ tuổi Mầm non hiện nayảnh hưởng lớn đến việc phát triển toàn diện của trẻ sau này, chăm sóc cho đứa trẻtrở thành con người có ích cho xã hội, bản thân tôi đã tìm tòi và đề ra các giải phápdạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm tạo được sự chuyển biến tích cực về cácmặt phát triển của trẻ ở trường mẫu giáo số 5 nói riêng và góp phần phát triển thế2

hệ trẻ lứa tuổi mầm non nói chung trở thành con người vừa có đạo đức vừa có trítuệ, sức khỏe để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.4. Giả thiết nghiên cứu:Nhận thức được những vấn đề bồi dưỡng, giáo dục kỹ năng sống cho trẻMầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ một cáchtoàn diện là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy trong thời gian tới trường mẫu giáosố 5 chúng tôi sẽ có những cách làm mới, nâng cao hiệu quả việc thực hiện giáodục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non, là việc làm cần thiết để nâng cao chấtlượng trong nhà trường được tốt hơn.

Nếu thực sự được sự quan tâm và cộng đồng chia sẻ, hợp tác thì công tácgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong độ tuổi mầm non sẻ trở thành một nhiệm vụrất cần thiết và cấp bách trong việc giáo dục thế hệ trẻ nói chung và trẻ trong độtuổi mầm non nói riêng.5. Phương pháp nghiên cứu– Phương pháp điều tra, nghiên cứu.– Phương pháp luyện tập, thực hành.– Phương pháp kiểm tra, đánh giá.– Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp.– Phương pháp tổng kết và rút kinh nghiệm6. Dự báo những đóng góp của đề tàiGiáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non nhằm góp phần hình thànhnhân cách của trẻ, đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước phát triển mộtcách toàn diện.3

Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non là quá trình tác động đếnđứa trẻ, tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, khám phá và từđó rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân, góp phần hình thành nhân cáchcon người mới xã hội chủ nghĩa.Làm tốt được công tác nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻtrong trường mầm non thì tôi chắc chắn rằng trong thời gian tới các cấp trongngành giáo dục đã đang và sẽ rất quan tâm đến công tác giáo dục kỹ năng sống chotrẻ, đưa công tác giáo dục kỷ năng sống vào một môn học chính khóa. Góp phầnđào tạo thế hệ trẻ trở thành thế hệ vàng son, trở thành những con người đủ cácphẩm chất về thể chất, đạo đức, tinh thần và trí tuệ, tạo thành một thế hệ hùng hậucho Tổ quốc.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ1. Cơ sở khoa học:1.1. Cơ sở lý luận:Đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệcao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang là mộtthách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và ngành giáo dục phải có một chiến lượcphát triển nhân tài. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục Mầm non có một vị trí đặcbiệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đếnchất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo.

4

Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàndiện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thànhnên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiếtcho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho mộtnền giáo dục tốt”. Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccác cháu, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích.Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn,khỏe mạnh và hiệu quả. Giáo dục kỹ năng sống có tác dụng nâng cao nhận thức,trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho trẻ. Vì vậy, giáo dục kỹnăng sống là một hình thức can thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngănngừa những hành vi lệch lạc của trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi. Kỹ năng sống làcách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả.Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 2003), đó là kỹ năng mang tính tâm lí xãhội, là các khả năng thích ứng và là hành vi tích cực cho phép các cá nhân giảiquyết có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sốngcần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Nó giúp cho mọi người thể hiện kiếnthức, thái độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ có hạicho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình, chẳng hạn, biết đặt mục tiêu chocuộc sống, thể hiện sự kiên định trước những cám dỗ không có lợi cho sức khỏe …Những năm gần đây, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, những canthiệp dựa trên giáo dục kỹ năng sống giúp cho việc thay đổi hành vi đạt hiệu quảcao hơn so với các phương pháp tiếp cận chỉ cung cấp thông tin, nâng cao nhận5

thức. Ở Việt Nam, những năm gần đây, việc giáo dục kỹ năng sống ngày càngđược nhân rộng về nội dung chương trình và bước đầu đã có những kết quả đángghi nhận.Vì vậy, trường mầm non có nhiệm vụ giáo dục trẻ có được những thói quenhọc tập, sinh hoạt hàng ngày.Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ MN nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trongcuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm.Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xãhội hiện đại. Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằmgiúp trẻ có thể chuyển kiến thức, thái độ, cảm nhận thành những khả năng thựcthụ, giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trongcuộc sốngGiáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, mẫu giáo, đó là những hoạt độngtích cực, hướng vào những hoạt động cá nhân hoặc một nhóm trẻ với mục đíchgiúp trẻ có thể ứng phó hiệu quả với các tình huống, thách thức trong cuộc sốnghàng ngày. Định hướng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ làm chủ bảnthân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nângcao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộcsống. theo một số nghiên cứu cho thấy, các kỹ năng sống khác nhau theo địa lý,thời gian…ví dụ như trẻ em vùng biển thì có một số kỹ năng sống khác với trẻ emvùng núi, kỹ năng sống của trẻ em thành phố khác với kỹ năng sống trẻ em nôngthôn, kỹ năng sống của trẻ em ngày xưa khác với kỹ năng sống trẻ em bây giờ…Tuy nhiên có thể thấy rất rõ ràng là kỹ năng sống luôn gắn bó với các giá trị. Các6

Về nhận thức: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ có một nền tảng kiếnthức, ham mê hiểu biết, khám phá, xây dựng cho trẻ niềm ham mêm học tập suốtđời.Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ có bước đệm chuẩn bị sẵn sàng cho giaiđoạn tiểu học: việc giáo dục kỹ năng sống từ sớm giúp trẻ có khả năng thích nghivới sự thay đổi môi trường sống, khả năng hòa nhập nhanh, giúp trẻ tự tin bướcvào lớp 1.Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng : Kỹ năng giao tiếp ứng xử,kỹ năng vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ năng hợp tác chiasẻ…..Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống củangười lớn. Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trongcuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết nhữngkhó khăn trong cuộc sống cho phù hợp.1.2. Cơ sở thực tiễn:Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kỹnăng cuộc sống (Bao gồm rất nhiều kỹ năng) và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng nàythì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp cóhiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâmlý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàngngày.Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả nănggiao tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách8

ứng xử phù hợp và biết tự cách giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rấtquan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kỹ năng sống chotrẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi Mầm non vô cùng cần thiết và quan trọnghàng đầu.Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thựchành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọngđến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho trẻ.Luôn bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đếnngười khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Khó khăn cho trẻ trongviệc có tình huống bất ngờ xảy ra.Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giaotiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp,biết chia sẽ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trongnhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giớithiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào,thích cái gì và điạ chỉ nhà mình ở đâu. Nhận biết các ưu khuyết điểm của bản thân.Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cánh lắng nghe mọi người và đốiđáp. Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơicông cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ,…)Chúng ta chỉ dạy trẻ: Nên hay Không nên, những hành vi này sẽ được tíchlũy trong quá trình hướng dẫn của giáo viên.2. Thực trạng:2.1. Thuận lợi:9

Là trường Mầm non nằm ở địa phường Ngọc Hà tương đối thuận lợi cho trẻđi lại và đảm bảo các điều kiện cho trẻ được học tập, vui chơi, trải nghiệm…Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ theo quy địnhcho các độ tuổi.Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, luôn năng nổ,nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có nhiều kỹ năng tốt để hướng dẫn trẻ trong quá trìnhhọc tập.Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trìnhGiáo dục Mầm non.Phụ huynh có hiểu biết về Giáo dục Mầm non và rất quan tâm đến công tácchăm sóc và giáo dục trẻ của nhà trường.2.2. Khó khăn:Số học sinh tương đối đông, vượt chỉ tiêu biên chế số trẻ/lớp đối với các độtuổi.Học sinh đa số được phụ huynh nuông chiều quá mức nên ảnh hưởng rất lớnđến công tác giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ.Đội ngũ giáo viên trẻ đông, số mới ra trường nhiều nên vốn kinh nghiệm đểdạy trẻ còn nhiều hạn chế.Một số phụ huynh chỉ quan tâm đến việc học văn hoá của con mà không quantâm đến việc dạy các kỹ năng sống cho trẻ nên một số trẻ rất ương bướng và khó bảo.2.3. Khảo sát thực trạng chất lượng trước khi thực hiện đề tài:

10

Để việc nghiên cứu đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm học tôi có làm một cuộckhảo sát nhằm đánh giá vốn kỹ năng sống hiện tại của trẻ trước khi thực hiện đề tàivà mức độ kiến thức dạy kỷ năng sống cho trẻ của giáo viên.Bảng 1. Kết quả khảo sát học sinh về vốn kỹ năng sống (Số học sinhđược khảo sát 580 trẻ)Kết quả

Nội dung khảo sát

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trẻ mạnh dạn, tự tin

266/580

45,5%

Trẻ có ý thức hợp tác, chia sẻ

267/580

46%

Kỹ năng giao tiếp, lễ phép

365/580

61,3%

Kỹ năng vệ sinh cá nhân và tự lập

205/580

35,5%

Kỹ năng thích khám phá học hỏi

250 /580

43,1%

Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy số trẻ đến trường mầm non chưa thật sự tựtin, trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, các kỹ năng về giao tiếp, kỹ năng hợp tácchia sẻ, kỹ năng tự lập ( Kỹ năng tự phục vụ còn hạn chế rất nhiều)Bảng 2. Kết quả khảo sát đội ngũ giáo viên về kiến thức dạy kỷ năng sốngcho trẻ trước khi thực hiện đề tài: (Số giáo viên được khảo sát 33 người)Kết quả

Nội dung khảo sát

Số lượng

Nắm một cách vững vàng các kỹ năng sống 25/33

cơ bản đối với trẻ mầm nonBiết tổ chức các hoạt động lồng ghép giáo 13/33

39,3%

dục kỷ năng sốngMạnh dạn, tự tin trong giao tiếp trước đám đông

27/33

81,8%

Đội ngũ giáo viên : Số giáo viên nhiều tuổi thì công tác dạy không nhiều vàcòn hạn chế trong việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ, số giáo viên trẻ thì còn11

thiếu kinh nghiệm, chưa mạnh dạn, chưa dám đề xuất các giải pháp để nâng caochất lượng giáo dục trẻ về kỹ năng sống.Đứng trước tình hình thực trạng của đơn vị tôi. Tôi luôn suy nghĩ làm thếnào để nâng cao được chất lượng giáo dục kỹ năng sống( Đặc biệt là kỹ năng tựphục vụ cho trẻ. Chính vì vậy Tôi đã mạnh dạn đề xuất ” Một số biện pháp chỉ đạonâng cao chất lượng kỹ năng sống cho trẻ trong trường mẫu giáo số 5″.3. Giải pháp thực hiện:Sau khi được đồng chí Đinh Thị Bích Thủy phó trưởng phòng sở giáo dụcmầm non thành phố Hà Nội bồi dưỡng chuyên môn về nội dung hướng dẫn trẻ kỹnăng tập làm một số công việc tự phục vụ trong đó có 31 kỹ năng cơ bản cần cótrong trường mầm non. Chỉ đạo các nhà trường lồng ghép các kỹ năng tự phục vụvào các hoạt động trong ngày cho trẻ mầm non.3.1: Chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm họcHọp tổ giáo viên nêu nhiêm vụ trong tâm của sở giáo dục trong năm học2015- 2016 trong đó nhấn mạnh đến việc đưa 31 kỹ năng dạy trẻ tập làm một sốcông việc tự phục vụ cho trẻ mầm non và chú ý yếu tố cá nhân của đứa trẻ .3.2. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao nhận thức về kỹ năng sống:Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thườngxuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của Ban giám hiệu nhà trường.Xác định được việc muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống chohọc sinh thì trước tiên giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dungdạy trẻ, để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ

12

năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thểthiếu. Chính vì vậy mà chúng tôi đặc bồi dưỡng cho giáo viên như sau:+ Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ kỹnăng sống trong trường mầm non.+ Bồi dưỡng về lý thuyết: Qua khảo sát học sinh về các kỹ năng sông. Tôinhận thấy trẻ của trường mình một số kỹ năng còn hạn chế . Vì vậy tôi đã tậpchung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ còn yếu đểgiáo viên có kiến thức dạy trẻ.Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế nào là dạy kỹ năng sống. Kỹ năng sốnglà dạy cho trẻ những kỹ năng gì? Dạy kỹ năng sống là dạy trẻ vào thời điểm nào làhiệu quả nhất.Đặc biệt nhấn mạnh đến nhưng kỹ năng:Kỹ năng lao động tự phục vuKỹ năng hợp tác, chia sẻKỹ năng giao tiếp lễ giáoKhả năng thích tìm tòi khám phá và học hỏiKỹ năng mạnh dạn tự tinTôi đã cụ thể hóa nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non gồm cócác nội dung sau để bồi dưỡng cho đội ngỹ giáo viên+ Kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cầnchú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Ngày từ khi đến lớp giáo viênnên khuyến khích động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp .Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mốiquan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin13

trong mọi tình huống ở mọi nơi, mọi lúc. Nếu trẻ không mạnh dạn tự tin thì sẽ rấtkhó khăn trong việc giao tiếp sau này.+ Kỹ năng lao đông tự phục vụ: Đối với trẻ Mầm non trước khi trẻ học cáchtự phục vụ thì trẻ đang còn rất vụng về, khi cho trẻ ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáothấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn để tránh rơi vãi,hoặc lầ khi đến lớp bố mẹkhông để cho con cất giầy dép, cở bớt áo khoác, cất ba lô mà lại làm giúp cho con.Vì thế giáo viên phải xác định rằng phaỉ dạy cho trẻ có kỹ năng. Đó là cách trẻ họclàm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn,tự mặc quần áo, ……. lúc đầu cóthể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ chomình trong ăn uống. Biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uốngmột cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gâytiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, ngồi ngay ngắn, ănhết suất, biết cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa..+ Kỷ năng vệ sinh cá nhân: Giúp cho giáo viên dạy trẻ có thể tự súc miệng,đánh răng và rửa mặt. Dạy trẻ cách rửa tay trước mỗi bữa ăn và nhận biết khi nàothì quần áo của mình bị bẩn cần phải giặt. Đối với các bé gái, việc chải chuốt làmđiệu cũng rất quan trọng. Giáo viên phải biết để dạy trẻ thói quen tóc tai luôn gọngàng và chọn trang phục phù hợp với từng hoàn cảnh, hoặc biết giúp người lớn dọndẹp, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.+ Kỹ năng sống hợp tác: Giúp cho giáo viên hiểu kỹ năng hợp tác chia sẻ làmột kỹ năng không kém phần quan trong. Khi day trẻ kỹ năng hợp tác giúp trẻhiểu có những công việc một mình sẽ không thể làm được.VD Cùng bê một chiếc

14

Bài 3: Ngôi sao bình yênBài 4: Bàn tay yêu thươngBài 5: Giải quyết bất hoàCHỦ ĐỀ 2: GIÁ TRỊ TÔN TRỌNGBài 6: Gương soi tôn trọngBài 7: Tôn trọng sự khác biệtBài 8: Thể hiện sự tôn trọngBài 9: Kỹ năng thể hiện sự tôn trọng khi nghe điện thoạiBài 10: Lắng nghe chân thànhCHỦ ĐỀ 3: GIÁ TRỊ YÊU THƯƠNGBài 11: Miếng bọt biển yêu thươngBài 12: Những trái tim yêu thươngBài 13: Kỹ năng thể hiện tình yêu thươngBài 14: Kỹ năng ứng xử khi bị lạcBài 15: Kỹ năng ứng xử khi người lạ đến đón trẻBài 16: Phòng tránh bị ốm do thời tiết.Bài 17: An toàn giao thôngBài 18: Thiệp yêu thươngCHỦ ĐỀ 4: GIÁ TRỊ TRÁCH NHIỆMBàiI 19: Hoàn thành nhiệm vụBài 20: Kỹ năng giúp mẹ gấp quần áoBài 21: Kỹ năng bảo quản đồ vật17

Bài 22: Lời hứa và trách nhiệm thực hiện lời hứaBài 23: Ứng xử lịch sự nơi công cộngCHỦ ĐỀ 5: GIÁ TRỊ HẠNH PHÚCBài 24: Hạnh phúc đến từ sự bình yên và yêu thươngBài 25: Kỹ năng cảm thông, chia sẻ với người khácBài 26: Kỹ năng tự nhận thứcCHỦ ĐỀ 6: GIÁ TRỊ HỢP TÁCBài 27: Hợp tácBài 28: Hợp tác là hiểu được giá trị của mìnhBài 29: Mình có thể giúp bạn khôngBài 30: Kỹ năng tạp dựng sự hợp tác

CHỦ ĐÈ 7: GIÁ TRỊ TRUNG THỰCBài 31: Người trung thựcBài 32: Giá trị trung thựcBài 33: Kỹ năng thể hiện sự trung thựcCHỦ ĐỀ 8: GIÁ TRỊ KHIÊM TỐNBài 34: Người khiêm tốnBài 35: Biểu hiện của sự khiêm tốnBài 36: Kỹ năng rèn luyện sự khiêm tốnBài 37: Tác hại của không kiêm tốnCHỦ ĐỀ 9: GIÁ TRỊ KHOAN DUNG18

Bài 38: Người khoan dungBài 39: Chấp nhận sự khác biệt của người khácCHỦ ĐỀ 10: GIÁ TRỊ GIẢN DỊBài 40: Gía trị giản dịBài 41: Tiết kiệmBài 42: Tiết kiệm điệnBài 43: Tiết kiệm nướcCHỦ ĐỀ 11: GIÁ TRỊ ĐOÀN KẾTBài 44: Giá trị đoàn kếtBài 45: Kỹ năng thể hiện sự đoàn kếtBài 46: Rèn luyện tinh thần đoàn kếtBài 47: Tác hại của không đoàn kết

Thực hành 31: Hướng dẫn trẻ kỹ năng tập làm một số công việc tự phục vụ1. Đi cầu thang

17.Cách gấp khăn lại

2. Cách đóng mở cửa

18.Cách rót nước

3. Cởi giầy và đi giầy, cất dép

19.Cách sử dụng thìa

4. Cất ba lô

20.Chải tóc

5. Cách đứng lên và ngồi xuống ghế

21.Cách sử dụng đũa

6. Cách bê ghế

22.Khóa kéo

7. Cách rửa tay

23.Cách cắt móng tay

8. Cách xúc miệng nước mũi

24.Cách quét rác trên sàn19

9. Cách lấy nước uống

25.Cách lau chùi nước

10.Cách xử lý khi ho

26.Đóng mở đai da

11.Cách xử lý hỉ mũi

27.Chuẩn bị đồ ăn nhẹ

12.Cách mặc áo, cởi áo (móc quần áo)

28.Cách mời trà và rửa cốc

13.Cách mặc áo, cởi áo (gấp áo)

29.Cách cắt dưa chuột

14.Cách cài khuy áo

30.Vắt khăn ướt

15.Cách cầm dao, kéo, đĩa

31.Đánh giầy

16.Cách sử dụng kéo

Hình ảnh: Đĩa dạy kỹ năng tự phục vụHướng dẫn giáo viên tự thiết kế các bộ học cụ.

20

Cho giáo viên tập thực hành các thao tác để dạy trẻ giống như trong đĩa(Các giáo viên tự quan sát lẫn nhau và cùng sửa chữa cho nhau để toàn bộ giáoviên phải theo tác thật chính xác)Thông qua các hình thức bồi dưỡng này để giúp cho giáo viên nhận thứcđúng đắn về : Yêu cầu- Nội dung – Hình thức cũng như phương pháp giáo dục trẻkĩ năng sống để áp dụng vào dạy trẻ kĩ năng sống hàng ngày đạt hiệu quả cao.3.3. Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua cáchoạt động trong ngày cụ thể như :Thông qua giờ đón và trả trẻ : Giúp cho giáo viên nhận thấy rằng việc dậykỹ năng chủ yếu ở hoạt động này là kỹ năng tự phục vu và kỹ năng giáo dục lễgiáo : Cất gầy dép, ba lô, chào cô, chào bố mẹ.Ngoài ra giáo viên trò chuyện hoặckể cho trẻ nghe các câu chuyện thông quá đó giáo dục và khắc sâu các kĩ năngsống cho trẻ : Ví dụ : Cô hỏi trẻ : kĩ năng ứng sử : Hôm qua nghỉ ở nhà con làmgì ? Ở nhà chơi như thế nào là an toàn nhất ? Khi đi thăm người ốm cùng bố mẹcon phải như thế nào ….Thông qua họat động học: Hướng dẫn giáo viện lựa chon những bài thơ câuchuyện có mang tính giáo dục kỹ năng sống như : Tích Chu, ba cô gái , bác gấuđen và 2 chú Thỏ, Nhổ củ cải,,VD: Giáo dục trẻ kỹ năng hợp tác thông qua câuchuyện ” Nhổ củ cải” Một mình ông lão thì không thể nhổ được củ cải khổng lồmà phải cần sự hợp tác của các thành viên trong gia đình thì mới nhổ được.Thông qua hoạt động ngoài trời và tham quan dã ngoại: Thông qua hoạtđộng này chỉ đạo giáo viên bằng các đối tượng trẻ được quan sát, cô tận dụng các21

cơ hội để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ . Ví dụ : Khi cho trẻ thăm quan khu di tíchlịch sử Chùa một cột, Lăng Bác, Hồ B52, Đình Hữu tiệp, Bảo tàng B52 .. Qua cáchoạt động này giúp giáo viên cung cấp cho trẻ biết tri ân các anh hùng liệt sĩ,không vứt rác thải các nơi công cộng, không ngắt lá bẻ cành cây các khu vui chơi ,khu di tích …( Một số hình ảnh)

Hình ảnh: Trẻ đang thăm quan dã ngoại tại khu bảo tàng B -52

Hình ảnh: Trẻ tham quan dã ngoại khu chùa Một Cột

22

Hình ảnh: Trẻ tham quan dã ngoại công viên Bách ThảoThông qua hoạt động ăn chủ yếu sử dụng : Kỹ năng tự phục vụ bằng cáchtập cho trẻ những việc vừa sức như: Sắp bàn ăn, xếp ghế, lau bàn, tự thay quần áo,gấp quần áo,. Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cáchsử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọngàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, biết tự dọn, cất đúng chỗ,biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn. không làm ảnh hưởng đến ngườixung quanh, biết giúp cô những công việc vừa sức. …. Đây là một trong những kỹnăng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này. Giáo viên cần hiểu rõ tâm lýcủa trẻ cũng như sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để hình thành nơi trẻ kỹ năngsống. Chỉ đạo giáo viên rèn cho trẻ khả năng tự phục, nhất là tự phục vụ trong ănuống bằng cách: Tập cho trẻ cùng cô sắp bàn ăn, sắp chén muỗng, sắp khăn lautay, khăn lau miệng. Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn và nhỡ tập cho cháu tự lấy đồ ăntheo khả năng và sở thích của mình, với sự chỉ dẫn của Cô. Đồng thời tập cho trẻcách sử dụng khăn lau miệng khi ăn như thế nào cho đẹp, đúng. Ăn xong cất Bátthìa ở vị trí nào, để như thế nào cho đúng, gọn gàng và tiện lợi nhất. Song song với23

việc tập cho trẻ khả năng tự phục vụ trong bữa ăn là tập cho trẻ tự vệ sinh cá nhânnhư rửa tay đúng quy trình, lau mặt đúng kỹ năng, biết thay quần áo, gấp quầnáo…, biết sử dụng đồ dùng ăn uống cách đúng mức.

Hình ảnh: Trẻ tự ăn cơm

Hình ảnh: Trẻ tự rửa tay bằng xà phòng.

24

25

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Dinh Dưỡng Và Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Ở Trường Mầm Non / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!