Xem Nhiều 1/2023 #️ Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 # Top 2 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra. Bồi dưỡng hứng thú học tập là một việc làm thiết thực và có tác động mạnh mẽ đến quá trình học tập của học sinh bởi vì “Không thể làm tốt việc nếu mà ta không có hứng thú với việc đó”. Đối với học sinh Tiểu học cũng vậy, các em không thể học tốt nếu không có hứng thú với việc tiếp thu bài trên lớp cũng như chuẩn bị bài ở nhà. Ngay từ những buổi học đầu tiên, hãy gieo vào tâm hồn các em những niềm say mê đối với việc kiếm tìm những cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Đó là chìa khoá quan trọng giúp các em mở cánh cửa đam mê với tri thức – nguồn tài nguyên vô giá của nhân loại. 3. Giải pháp, biện pháp: Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Những giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm tổng kết các phương pháp, kĩ năng thu được từ thực tiễn giảng dạy. Mặt khác nhằm trao đổi với các giáo viên dạy Âm nhạc về việc vận dụng các phương pháp vào trong giảng dạy giúp học sinh nhận ra được những giá trị to lớn của Âm nhạc, từ đó làm cho học sinh ham mê hứng thú học tập, làm cho quá trình học tập của các em trở nên tự giác, tạo nên niềm vui trong sáng và bổ ích, bồi dưỡng cho các em tinh thần học tập, mạnh dạn trước tập thể, tạo được hưng phấn các em có thể học tốt các môn học khác. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp  1. Gây hứng thú cho học sinh ngay từ phần mở đầu bài học. Ngay từ bước chân của giáo viên vào lớp, với thái độ vui vẻ thân mật đối với học sinh đã tạo nên không khí hào hứng chung của cả lớp để chuẩn bị bước vào bài học mới, sự hứng thú học tập chỉ thực sự bắt đầu với phần giới thiệu gây hấp dẫn đối với học sinh. Muốn cho học sinh yêu thích, hứng thú với môn Âm nhạc thì ngay từ đầu tiết học, tôi tạo cho học sinh sự hứng thú, niềm vui. Tôi thường tạo tình huống để thu hút học sinh khi bước vào tiết học bằng một nụ cười, một câu nói nhẹ nhàng, hay một lời khen. (Ví dụ như: các em hôm nay trông thật xinh, thật vui hoặc là hôm nay lớp mình trực nhật sạch sẽ đấy…). Hoặc sau khi ổn định lớp, tôi thường cho học sinh chơi những trò chơi nhỏ như: “Gà thức – gà ngủ” để luyện thanh. Ví dụ 1: Tôi hướng dẫn cả lớp đứng dậy cùng thực hiện. Lớp trưởng hô: Trời tối Cả lớp ấp hai tay vào má và đồng thanh nói: “Gà đi ngủ” Lớp trưởng hô: Trời sáng Cả lớp đặt hai tay lên miệng và giả tiếng gà gáy: Ò…ó…o..o…o… Thực hiện 2 – 3 lần. Như vậy là HS vừa thực hiện hoạt động luyện thanh khởi động giọng nhưng rất vui, nhẹ nhàng và tạo được sự sảng khoái để bước vào tiết học. Ví dụ 2: . Để bước vào tiết học “Học hát bài Dàn đồng ca mùa hạ” (tiết 30) tôi bước vào lớp trên tay cầm một chú ve nhỏ và hỏi: Các em biết cô đang cầm trên tay con vật gì không nào? (Có thể có rất nhiều câu trả lời đúng thậm chí sai nhưng sẽ tạo được không khí vui tươi, rộn ràng, gây được sự tò mò, suy nghĩ và sự tập trung ở học sinh), hấp dẫn hơn khi tôi giới thiệu thêm: Đây chính là một chú ve, những bạn nào biết âm thanh của chú ve này kêu như thế nào? chú là biểu của mùa nào trong năm?…..rất nhiều cánh tay giơ lên muốn được trả lời. Sau đó giáo viên giới thiệu về bài học hôm nay chúng ta sẽ học bài hát ca ngợi về giọng hát của những chú ve – dàn nhạc đặc biệt của mùa hè. Đó là bài hát Dàn đồng ca mùa hạ – Sáng tác nhạc Nguyễn Minh Châu, dựa trên lời của nhà thơ Nguyễn Minh Nguyên. Như thế các em sẽ trở nên vui và hào hứng để chuẩn bị bước vào bài học mới.   2. Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh Để kích thích tính tự giác tích cực, độc lập và tạo hứng thú cho học sinh thì GV cần phải biết lựa chọn những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với môn học và đối tượng học sinh trong lớp. Đối với lớp 5 trường tôi đang công tác, thì đối tượng học sinh tương đối đồng đều về chất lượng. Có nhiều em có năng khiếu hát, múa và Tập đọc nhạc rất tốt. Vì vậy tôi thường chọn hình thức tổ chức dạy học theo nhóm – tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò hợp tác, trách nhiệm giữa cá nhân và tập thể, đồng thời rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: biết lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, ngoài ra, học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và ngược lại. Tôi thường xuyên cho HS hoạt động theo nhóm trong các tiết dạy, nhất là các tiết ôn tập bài hát và Tập đọc nhạc. Ví dụ: Tiết 20: Ôn tập bài hát Hát mừng. Ở HĐ 2: Tập biểu diễn Học sinh xung phong biểu diễn những động tác tự chuẩn bị . Xung phong biểu diễn theo nhóm 3. Tổ chức nhiều hình thức học tập Ngoài việc khai thác sự hứng thú trong nội dung dạy học, chúng tôi Lê Phương Nga cho rằng: “Hứng thú của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em”. Vì vậy, tôi thường áp dụng những hình thức dạy học sau, tôi thấy học sinh rất say mê hứng thú khi học Âm nhạc: Tổ chức trò chơi học tập Trò chơi âm nhạc là một hoạt động thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy âm nhạc theo chương trình bậc Tiểu học. Trò chơi âm nhạc nhằm giúp giáo viên thay đổi các hình thức hoạt động trong tiết dạy và giúp HS thư giãn, hứng thú theo tinh thần chơi mà học âm nhạc. Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Tùy vào từng nội dung bài học. Tôi thường cho HS chơi những trò chơi sau: * Tiết học bài mới, hoạt động hát kết hợp gõ đệm theo nhịp 3, tôi hướng dẫn từng cặp 2 HS quay mặt vào nhau, miệng đếm 1-2-3 nhịp nhàng kết hợp với gõ đệm theo phách của nhịp ¾ như sau: – Phách 1 (mạnh): Từng HS tự vỗ 2 tay mình 1 tiếng. – Phách 2 (nhẹ): Vỗ tay phải HS này vào tay trái HS kia. – Phách 3 (nhẹ): Vỗ tay trái HS này vào tay phải HS kia. Hoặc HD hát đối đáp là cách hát chia ra “phần xướng” (hát 1 người) và “phần xô” (hát tập thể); Hoặc cách hát chia một nhóm hát “phần hỏi” và một nhóm hát “phần đáp”. Hoặc hướng dẫn HS hát nối tiếp: chia lớp thành 2 nhóm hát nối tiếp nhau từng câu hát: Ví dụ: + Nhóm A hát câu 1: Cùng nhau cầm tay đi đến thăm các thầy các cô + Nhóm B hát câu 2: Lời hát rộn rã bao bé em bước trên đường phố + Nhóm A hát câu 3: Ngàn hoa nở tươi khoe sắc hương dưới ánh… + Nhóm B hát câu 4: Náo nức tiếng cười, say sưa yêu đời……. Với các hoạt động trên, HS rất hào hứng, bởi các em được làm việc theo nhóm, có sự hợp tác của các bạn, những em HS không có năng khiếu cũng cảm thấy tự tin nắm được kiến thức, những em có năng khiếu thì khẳng định được mình. Ví dụ: Tiết 23:Ôn tập bài hát: Tre ngà bên Lăng Bác HS xem tranh và nêu: Bài Tre ngà bên Lăng Bác (Nhạc và lời: Hàn Ngọc Bích) Ví dụ: Tiết 25 có nội dung Tập đọc nhạc số 7: Em tập lái ô tô Sau khi học xong nội dung Tập đọc nhạc, tôi cho các em chơi trò chơi “Đèn xanh – đèn đỏ”. Tôi cho các em đứng dậy và HD trò chơi: Khi GV hô: Đèn xanh – thì hai tay quay nhanh, GV hô “Đèn vàng” – hai tay quay chậm lại, Gv hô “Đèn đỏ” – hay tay dừng lại. Sau đó GV thử tài HS bằng cách miệng hô “Đèn đỏ” nhưng tay GV vẫn quay nhanh, nếu em nào làm sai thì yêu cầu hát hoặc biểu diễn theo nhóm (hay cá nhân) một bài hát tự chọn đã học. Sau đó yêu cầu HS nhắc lại cách đi như thế nào là đúng Luật giao thông… Hoặc sau khi học sinh hát đúng giai điệu của bài hát, tôi hướng dẫn HS chơi trò chơi: “Hát thay lời ca bằng chữ cái”. Tôi làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. Khi GV đưa tay theo kí hiệu, HS hát giai điệu với các chữ cái theo kí hiệu GV hướng dẫn trước lớp Ví dụ: Bài hát: Con chim hay hót. Câu 1, GV đưa tay kí hiệu chữ A, HS hát “A” theo giai điệu của câu 1. “À à, à à a à á a” Câu 2, Gv đưa tay kí hiệu chữ U, HS hát “U”theo giai điệu của câu 2.“U ú u uù ụ ù u u ù u”. GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát. Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm tra việc ghi nhớ giai điệu của HS Trò chơi “Ai nhanh tai hơn” cũng giúp HS mau thuộc lời ca, phát triển tai nghe một cách nhanh nhất. Ví dụ: Sau khi học xong bài hát, tôi sử dụng nhạc cụ, đàn giai điệu một câu nhạc bất kì, yêu cầu HS nghe và hát lại câu có giai điệu vừa nghe. Việc kết hợp tổ chức một trò chơi trong giờ học hát, vừa giúp học sinh nắm kiến thức chắc hơn, sâu hơn, nhanh hơn, vừa tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú cho HS học môn Âm nhạc cũng như học các môn học khác. Tổ chức hoạt động học theo nhóm   Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả mà vẫn tạo được không khí thi đua hào hứng sôi nổi trong học tập. Học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm để học sinh có cơ hội trao đổi bàn bạc. Có nhiều hình thức tổ chức học tập như: cá nhân, tổ, nhóm, dãy… Tuy nhiên tùy theo từng mục tiêu HS cần đạt được mà tôi lựa chọn, phối hợp một cách hợp lý các hình thức học tập. Tôi thường cho học sinh làm việc nhóm khi câu hỏi đặt ra khá rộng và khó, cần sự góp ý của nhiều người thì làm việc nhóm mới thật cần thiết và đạt hiệu quả Tạo kịch tính trong giờ học Các tiết học cứ diễn ra bình thường theo những bước đã định sẵn sẽ tạo cho HS sự nhàm chán, không có hứng thú, HS sẽ biết bược tiếp theo sẽ làm gì.Thay vì giảng dạy theo trình tự bình thường, đối với một số tiết học có nội dung kể chuyện Âm nhạc, tôi thường tổ chức cho HS đóng vai thành một vở kịch với những hình ảnh, tình huống sống động, khiến HS quên cả giờ ra chơi. Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh biết cách ứng xử các tình huống trong cuộc sống. Qua quá trình giảng dạy, tôi được biết: Phương pháp dạy HS đóng vai có rất nhiều ưu điểm và một trong những ưu điểm sau mang lại nhiều kiến thức cho HS : – Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ trong môi trường an toàn trước khi thực hành trong thực tiễn. – Gây hứng thú và chú ý cho học sinh – Tạo điều kiện để HS được sáng tạo. – Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo chuẩn mực hành vi đạo đức – Thấy được hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. Đối với phương pháp này, tôi thực hiện như sau : + Chia nhóm, giao tình huống đóng vai cho từng nhóm và quy định rõ thời gian chuẩn bị. + Các nhóm lên trình bày. Sau khi HS trình bày, tôi phỏng vấn học sinh đóng vai: – Vì sao em lại ứng xử như vậy ? – Cảm xúc, thái độ của em khi thực hiện cách ứng xử ? Khi nhận được cách ứng xử ( đúng hoặc sai ) Cuối cùng tôi kết luận về cách ứng xử cần thiết trong tình huống. Với phương pháp dạy này cần lưu ý: + Tùy vào từng nội dung của tiết dạy (Dạy Kể chuyện Âm nhạc với câu chuyện có nhiều lời thoại như tiết 28: Kể chuyện âm nhạc: Khúc nhạc dưới trăng với những lời thoại của người cha, người con và nhạc sĩ Bét – tô – ven + Tình huống nên để mở, không cho trước “ kịch bản”, lời thoại + Phải dành thời gian phù hợp cho các nhóm chuẩn bị đóng vai + Phải hướng dẫn HS hiểu rõ nhân vật của mình trong khi đóng vai để không bị lạc đề. + Khích lệ cả những học sinh nhút nhát tham gia + Chuẩn bị một vài đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn khi HS đóng vai Thay đổi không gian học tập Thay đổi không gian học tập cũng tạo được sự hứng thú cho HS và cũng góp phần đến thành công của tiết dạy. Đối với lứa tuổi hiếu động như HS lớp 5. Thay đổi không gian học tập cũng là một hứng thú đối với các em. Chính vì vậy, đối với một số tiết học tôi tổ chức cho HS học tập ở một vài không gian khác nhau như: Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, có không gian biểu diễn, chơi các trò chơi nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Âm nhạc, nhiều bài hát gắn liền với địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng. Ví dụ: Tiết 23 Ôn tập 2 bài hát: Hát mừng, Tre ngà bên lăng Bác Tôi thay đổi không gian lớp học bằng cách cho HS ra sân xếp thành vòng tròn vừa hát vừa biểu diễn, sau khi biểu diễn 2 bài hát, tôi thường lồng ghép một số câu hỏi hoặc trò chơi để liên hệ giáo dục tình cảm thái độ của HS về kiến thức địa phương, hay ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh trường lớp ….. Hoặc với những tiết Tập biểu diễn bài hát. Khi bắt đầu tiết học, tôi cho HS sắp xếp bàn ghế theo hình chữ U, cách sắp xếp bàn ghế này tạo cho lớp học có không gian biểu diễn đồng thời tất cả HS được quan sát các bạn biểu diễn cũng như thúc đẩy quá trình học tập sáng tạo, ý thức tự giác, niềm đam mê học tập, háo hức được cùng các bạn tham gia biểu diễn. 4. Phát huy hiệu quả của ĐDDH Muốn gây hứng thú cho HS, theo tôi việc sử dụng ĐDDH là rất quan trọng, Tuy nhiên đồ dùng cần phải đáp ứng được tính thẩm mĩ không tùy tiện cẩu thả, phong phú đa dạng và phải phù hợp với nội dung bài học. Mỗi tiết dạy có sự đặc trưng riêng về cách tổ chức lớp và có những sáng tạo riêng của từng giáo viên. Đặc biệt đối với môn Âm nhạc lớp 5, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy là hết sức cần thiết vì giáo viên không thể thao thao bất tuyệt với lý lẻ suôn hay chỉ hát “chay” từ ngày này qua ngày khác sẽ khiến học sinh nhàm chán và thiếu phấn khởi trong học tập. Vì đây là môn năng khiếu cần có sự bồi đắp và vun dưỡng từ giáo viên để tạo cơ hội cho những học sinh có năng khiếu bộc lộ mình, các em học HS không có năng khiếu cũng sẽ hiểu bài một cách chủ động hơn. Trong tất cả các tiết dạy, tôi chuẩn bị đầy đủ các đồ dụng dạy – học sẵn có để hỗ trợ việc dạy và học Âm nhạc như: Thanh phách, song loan, đàn Organ, băng đĩa, tranh phóng to các bài TĐN của lớp 5. Hoặc những nhạc cụ do các em tự chế như: chai nước nhựa, thanh tre nhỏ, những chiếc đũa… tất cả các đồ dùng dạy – học trên sẽ mang lại một tiết học sôi nổi đầy hào hứng. Tuy nhiên, nếu GV không biết phối hợp hoặc sử dụng những ĐDDH không thành thạo thì cũng không mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy. Việc sử dụng thành thạo đàn Organ cũng là một yếu tố quan trọng. Cách bỏ hợp âm, dạo nhạc cũng sẽ thu hút HS hào hứng học hát và hát đúng giai điệu, vì vậy tôi thường xuyên học tập, sáng tạo, đổi mới cách đệm phù hợp với sắc thái của từng bài hát, sao cho tất cả các đối tượng HS đều biết hát đúng giai điệu hoặc ít nhất là hát theo giai điệu của bài hát. Sử dụng đàn Piano và Organ trong các tiết dạy Âm nhạc Cùng với đ

Skkn Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

MỤC LỤC

Tên mục

Trang

I. Phần mở đầu………………………………………………………………………………………..1 I.1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………………………………1 I.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài……………………………………………………………….2 I.3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………………………………..2 I.4. Phạm vi nghiên cứu……………………………………………………………………………..2 I.5. Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………2 II. Phần nội dung…………………………………………………………………………………….2 II.1. Cơ sở lý luận……………………………………………………………………………………..2 II.2. Thực trạng…………………………………………………………………………………………3 II.3. Giải pháp, biện pháp…………………………………………………………………………..5 II.4. Kết quả……………………………………………………………………………………………16 III. Phần kết luận, kiến nghị…………………………………………………………………..16 III.1. Kết luận…………………………………………………………………………………………16 III.2. Kiến nghị……………………………………………………………………………………….17 Tài liệu tham khảo ………………………………………………………………………………….19 Trường Tiểu học Krông Ana

1

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Trường Tiểu học Krông Ana

2

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm qua, từ khi nước ta bước sang thế kỷ XXI, sự nghiệp giáo dục được quan tâm hơn bao giờ hết, môn Âm nhạc cũng được chú trọng hơn vì những lợi ích trong việc phát triển hài hoà, toàn diện về nhân cách của học sinh. Qua môn học này học sinh có thể thấy được: Âm nhạc là một liều thuốc tinh thần, là hưng phấn trong học tập và thông qua môn học, học sinh cảm nhận được phần nào sự hấp dẫn của thế giới Âm nhạc. Ngoài ra, môn Âm nhạc sẽ cùng các môn học khác phát triển năng lực tư duy, trí tuệ sáng tạo và cung cấp cho các em một trình độ văn hoá Âm nhạc, góp phần đào tạo những người lao động phát triển, toàn diện về Đức – Trí – Thể – Mỹ (theo nghị quyết TW II của Đảng về mục tiêu giáo dục) Mặc dù môn Âm nhạc không đào tạo các em trở thành những ca sĩ, nghệ sĩ chuyên nghiệp mà chủ yếu giáo dục văn hóa Âm nhạc, làm cho các em yêu thích nghệ thuật, biết cảm thụ và nhận biết âm nhạc một cách sâu sắc. Hình thành ở học sinh một tâm hồn trong sáng, một thị hiếu âm nhạc lành mạnh, tư duy sắc sảo, tính sáng tạo, giàu tình cảm và hoạt bát hơn, phát triển tối đa những phẩm chất tốt đẹp của lứa tuổi học trò. Mặt khác, thông qua môn học nhằm phát hiện, bồi dưỡng những mầm non nghệ thuật tương lai cho đất nước. Là môn học mang tính nghệ thuật cao, nuôi dưỡng cho các em lòng đam mê học tập, luôn tự tìm tòi, sáng tạo, khám phá để nắm kiến thức áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Đó là những giá trị to lớn, những kết quả đạt được khi học Âm nhạc. Tuy nhiên, trên thực tế – tôi thấy phần đa học sinh lớp 5 vẫn rụt rè nhút nhát chưa có hứng thú, chưa yêu thích khi đến tiết học Âm nhạc. Có thể do nhiều nguyên nhân nhưng nguyên nhân chính là: Đa số các bậc CMHS đều hướng con mình học tập các môn học kiến thức khác như Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh… nên các em có tâm lý không chú trọng đến môn Âm nhạc, lơ là khi đến tiết Âm nhạc. Một số em không có năng khiếu hát, múa dẫn đến không cảm thụ được Âm nhạc, nhiều HS không nắm được kiến thức Âm nhạc ban đầu nên các em cảm thấy chán nản không muốn học hoặc do hoàn cảnh gia đình một số em còn khó khăn không có thời gian học tập, bố mẹ chia tay nên tâm lý của các em mất đi sự hồn nhiên và là lứa tuổi đang thay đổi về suy nghĩ và cơ thể nên nhiều em e ngại không tự tin, không thích thú với việc biểu diễn trước tập thể ….. tất cả điều đó làm cho các em không yêu thích môn học, không cảm thấy hào hứng khi học Âm nhạc.

Trường Tiểu học Krông Ana

3

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Vậy làm thế nào để gây được sự hứng thú, sự yêu thích, lòng đam mê cho các em học sinh lớp 5 khi đến tiết học Âm nhạc ? Đây là nhiệm vụ rất cần thiết và đòi hỏi người giáo viên phải biết chọn lọc, đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh và làm thế nào để học sinh được học theo phương châm học vui – vui học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn Âm nhạc, đạt thành tích cao trong các cuộc thi nghệ thuật các cấp. Qua nhiều năm giảng dạy môn Âm nhạc tiểu học, nắm bắt được tâm lý lứa tuổi của học sinh tiểu học, đặc biệt là Hs Lớp 5, thực hiện đổi mới các phương pháp dạy – học, trao đổi với đồng nghiệp, tôi mạnh dạn trình bày “Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5″ với mong muốn tất cả các em học sinh Lớp 5 có hứng thú, niềm đam mê thực sự để khám phá kho tàng kiến thức rộng lớn của môn học mang tính nghệ thuật này. 2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài Mục tiêu Áp dụng một số biện pháp trong các hoạt động dạy học và các hoạt động ngoại khóa để học sinh Tiểu học có hứng thú, niềm đam mê, yêu thích học môn Âm nhạc. Nhiệm vụ Áp dụng các biện pháp đó vào các tiết dạy nhằm tạo được tâm lí thoải mái, hào hứng, nâng cao ý thức học tập mỗi khi đến tiết Âm nhạc, đồng thời kích thích tiềm năng nghệ thuật, kĩ năng sáng tạo, phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc, góp phần học tốt các môn học khác. 3. Đối tượng nghiên cứu Biện pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú cho học sinh lớp 5 trong các tiết học Âm nhạc. 4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu HS Lớp 5 – Trường TH Krông Ana. Năm học 2014 – 2015 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý luận Phương pháp nghiên cứu thực tiễn Phương pháp so sánh Trường Tiểu học Krông Ana

4

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Phương pháp khảo nghiệm Phương pháp điều tra II. PHẦN NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận Như đã nói ở trên: Môn Âm nhạc Tiểu học không nhằm đào tạo HS trở thành những ca sĩ nhạc sĩ, những nhà hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp, mà chủ yếu là giáo dục văn hóa Âm nhạc, làm cho HS yêu thích và say mê hứng thú học tập môn Âm nhạc nói riêng và các môn học khác nói chung. Hứng thú trong học tập có thể làm nâng cao chất lượng giáo dục, nuôi dưỡng ở HS lòng ham muốn chính đáng trong việc không ngừng vươn tới những đỉnh cao của việc nắm kiến thức, luôn tìm tòi học tập cái mới và áp dụng vào thực tiễn. Những biện pháp tạo hứng thú trong bài viết này xuất phát từ 3 luận điểm cơ bản. Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng, hai là: Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của GV là làm sao cho học sinh thích học, ba là: Dạy học ở tiểu học phải làm cho HS cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống. Với ba luận điểm này, tôi quan niệm rằng thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học. Còn nếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho HS, chưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả. Học sinh chỉ tự giác, tích cực học tập khi thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS. 2.Thực trạng 2.1

Thuận lợi- khó khăn

Thuận lợi: – HS đã được tiếp xúc với Âm nhạc ngay từ khi còn nhỏ và trên nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Trường Tiểu học Krông Ana

5

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

– Đa số học sinh yêu thích môn học, có tâm lý thoải mái khi bước vào các tiết học Âm nhạc. Khó khăn: – Một số em HS còn lười học, có tâm lý lơ là không chú tâm đến môn học. – Khả năng tiếp thu bài của học sinh không đồng đều. 2.2 Thành công- hạn chế Thành công: – Vận dụng được nhiều phương pháp giảng dạy, áp dụng với các đối tượng HS. – HS đã có ý thức tự giác hơn khi học tiết Âm nhạc, hăng say phát biểu. – HS chịu khó tìm tòi, sáng tạo hơn, tiếp thu bài nhanh hơn, nắm tốt các kiến thức Âm nhạc của chương trình. Hạn chế: – Cơ sở vật chất còn hạn chế nên việc sử dụng ĐDDH, phương pháp dạy học trực quan còn chưa được thường xuyên. 2.3 Mặt mạnh- mặt yếu Mặt mạnh: – Phát huy tối đa ĐDDH sẵn có. – Tạo được môi trường học tập công bằng, thân thiện, hứng thú. Mặt yếu – Một số em có hoàn cảnh gia đình khó khăn, ý thức vượt khó chưa cao. – Một số gia đình hướng con em vào các môn học như Toán, Tiếng Việt, vì vậy còn xem nhẹ bộ môn Âm nhạc. – Đồ dùng dạy – học cho bộ môn chưa đầy đủ.

Trường Tiểu học Krông Ana

6

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

2.4 Các nguyên nhân, các yếu tố tác động… * Nguyên nhân của thành công – Được sự quan tâm của các cấp Lãnh đạo và Nhà trường đã tạo điều kiện tương đối đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học môn Âm nhạc như đàn Organ, một số nhạc cụ gõ đệm. – Đa số học sinh ngoan, yêu thích học môn Âm nhạc – Có sự giúp đỡ nhiệt tình của các đồng nghiệp trong việc góp ý về phương pháp, hình thức tổ chức dạy học giúp học sinh tiến bộ. – Bản thân luôn nghiên cứu tham khảo tài liệu, tìm tòi sáng tạo và học hỏi kinh nghiệm để lựa chọn, đưa ra những phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm nâng cao kiến thức về dân ca cũng như phương pháp dạy hát dân ca. * Nguyên nhân của hạn chế CSVC của môn Âm nhạc tuy có nhưng chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu cần thiết để dạy Âm nhạc, không gian lớp học còn chật hẹp chua đáp ứng được khi tổ chức hoạt động biểu diễn các bài hát. Thiếu tài liệu, tư liệu về dạy các nội dung Âm nhạc thường thức, giới thiệu các nhạc cụ dân tộc, nhạc cụ phương tây, tranh ảnh các câu chuyện Âm nhạc trường Tiểu học (chủ yếu là giáo viên tự sưu tầm và tự làm phục vụ quá trình giảng dạy nên chất lượng chưa được đảm bảo). Nhận thức của một số học sinh còn xem môn học âm nhạc là một môn phụ, các em chỉ quan tâm đến môn học mà các em đã định hướng cho nghề nghiệp tương lai sau này nên một số học sinh chưa thực sự hứng thú với môn học, tạo nên sự khô khan cứng nhắc trong môn học. Đặc biệt ở học sinh lớp 5, đây là lứa tuổi có nhiều thay đổi về đặc điểm tâm sinh lý, các em bắt đầu có sự e ngại, chất giọng cũng có sự thay đổi, sự hồn nhiên của các em đã có sự giảm sút. Một số em đã tỏ ra không thích hay còn e ngại khi trình bày một bài hát trước tập thể lớp… 2.5

Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trang mà đề tài đã đặt ra.

Có thể hiểu rằng hứng thú học tập là thái độ yêu thích đặc biệt của học sinh đối với việc học, được thể hiện qua nhiều mức độ như: sự chú ý, tập trung, sự ham Trường Tiểu học Krông Ana

7

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Mục tiêu của giải pháp, biện pháp

Những giải pháp, biện pháp được nêu trong đề tài nhằm tổng kết các phương pháp, kĩ năng thu được từ thực tiễn giảng dạy. Mặt khác nhằm trao đổi với các giáo viên dạy Âm nhạc về việc vận dụng các phương pháp vào trong giảng dạy giúp học Trường Tiểu học Krông Ana

8

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

9

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

10

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

ra cho các em cảm giác thua bạn, tiết học sẽ trở nên nhẹ nhàng, các em sẽ hứng thú, sẵn sàng để tiếp tục bước vào nội dung học tiếp theo.

Học sinh xung phong biểu diễn những động tác tự chuẩn bị .

Trường Tiểu học Krông Ana

11

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Xung phong biểu diễn theo nhóm 3. Tổ chức nhiều hình thức học tập Ngoài việc khai thác sự hứng thú trong nội dung dạy học, chúng tôi Lê Phương Nga cho rằng: “Hứng thú của học sinh còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em”. Vì vậy, tôi thường áp dụng những hình thức dạy học sau, tôi thấy học sinh rất say mê hứng thú khi học Âm nhạc: Tổ chức trò chơi học tập Trò chơi âm nhạc là một hoạt động thực hiện yêu cầu đổi mới phương pháp dạy âm nhạc theo chương trình bậc Tiểu học. Trò chơi âm nhạc nhằm giúp giáo viên thay đổi các hình thức hoạt động trong tiết dạy và giúp HS thư giãn, hứng thú theo tinh thần chơi mà học âm nhạc. Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em. Tùy vào từng nội dung bài học. Tôi thường cho HS chơi những trò chơi sau: * Tiết học bài mới, hoạt động hát kết hợp gõ đệm theo nhịp 3, tôi hướng dẫn từng cặp 2 HS quay mặt vào nhau, miệng đếm 1-2-3 nhịp nhàng kết hợp với gõ đệm theo phách của nhịp ¾ như sau: – Phách 1 (mạnh): Từng HS tự vỗ 2 tay mình 1 tiếng. – Phách 2 (nhẹ): Vỗ tay phải HS này vào tay trái HS kia. – Phách 3 (nhẹ): Vỗ tay trái HS này vào tay phải HS kia. Hoặc HD hát đối đáp là cách hát chia ra “phần xướng” (hát 1 người) và “phần xô” (hát tập thể); Hoặc cách hát chia một nhóm hát “phần hỏi” và một nhóm hát “phần đáp”. Hoặc hướng dẫn HS hát nối tiếp: chia lớp thành 2 nhóm hát nối tiếp nhau từng câu hát: Ví dụ: + Nhóm A hát câu 1: Cùng nhau cầm tay đi đến thăm các thầy các cô + Nhóm B hát câu 2: Lời hát rộn rã bao bé em bước trên đường phố + Nhóm A hát câu 3: Ngàn hoa nở tươi khoe sắc hương dưới ánh… + Nhóm B hát câu 4: Náo nức tiếng cười, say sưa yêu đời……. Trường Tiểu học Krông Ana

12

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Với các hoạt động trên, HS rất hào hứng, bởi các em được làm việc theo nhóm, có sự hợp tác của các bạn, những em HS không có năng khiếu cũng cảm thấy tự tin nắm được kiến thức, những em có năng khiếu thì khẳng định được mình. * Tiết Ôn tập bài hát: Để tạo hứng thú và sự bất ngờ cho HS, trước khi giới thiệu bài tôi cho HS chơi trò chơi: “Xem tranh đoán bài hát”: Tôi treo tranh minh họa cho bài hát và cho HS thi đua đoán tên bài hát, tác giả. Sau khi HS đoán đúng tên bài hát và tác giả tôi mới giới thiệu vào bài mới. Hoặc trò chơi: “Ghép tranh đoán bài hát”: tôi chuẩn bị bức tranh nội dung miêu tả bài hát rồi cắt ra nhiều mảnh rồi cho HS thi đua cá nhân hoặc theo nhóm ghép bức tranh lại nhanh và chính xác nhất. Ghép xong yêu cầu HS đoán tên bài hát và tác giả của bài hát. Ví dụ: Tiết 23:Ôn tập bài hát: Tre ngà bên Lăng Bác

13

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

(hay cá nhân) một bài hát tự chọn đã học. Sau đó yêu cầu HS nhắc lại cách đi như thế nào là đúng Luật giao thông… Hoặc sau khi học sinh hát đúng giai điệu của bài hát, tôi hướng dẫn HS chơi trò chơi: “Hát thay lời ca bằng chữ cái”. Tôi làm kí hiệu tay theo các chữ cái A, U, I. Khi GV đưa tay theo kí hiệu, HS hát giai điệu với các chữ cái theo kí hiệu GV hướng dẫn trước lớp Ví dụ: Bài hát: Con chim hay hót. Câu 1, GV đưa tay kí hiệu chữ A, HS hát “A” theo giai điệu của câu 1. “À à, à à a à á a” Câu 2, Gv đưa tay kí hiệu chữ U, HS hát “U”theo giai điệu của câu 2.”U ú u uù ụ ù u u ù u”. GV tiếp tục thay đổi các kí hiệu khác cho đến hết bài hát. Trò chơi này giúp các em thay đổi không khí học tập, đồng thời để kiểm tra việc ghi nhớ giai điệu của HS Trò chơi “Ai nhanh tai hơn” cũng giúp HS mau thuộc lời ca, phát triển tai nghe một cách nhanh nhất. Ví dụ: Sau khi học xong bài hát, tôi sử dụng nhạc cụ, đàn giai điệu một câu nhạc bất kì, yêu cầu HS nghe và hát lại câu có giai điệu vừa nghe. Việc kết hợp tổ chức một trò chơi trong giờ học hát, vừa giúp học sinh nắm kiến thức chắc hơn, sâu hơn, nhanh hơn, vừa tạo ra không khí sôi nổi, hứng thú cho HS học môn Âm nhạc cũng như học các môn học khác. Tổ chức hoạt động học theo nhóm Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập một cách có hiệu quả mà vẫn tạo được không khí thi đua hào hứng sôi nổi trong học tập. Học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm để học sinh có cơ hội trao đổi bàn bạc. Có nhiều hình thức tổ chức học tập như: cá nhân, tổ, nhóm, dãy… Tuy nhiên tùy theo từng mục tiêu HS cần đạt được mà tôi lựa chọn, phối hợp một cách hợp lý các hình thức học tập. Tôi thường cho học sinh làm việc nhóm khi câu hỏi đặt ra khá rộng và khó, cần sự góp ý của nhiều người thì làm việc nhóm mới thật cần thiết và đạt hiệu quả

Trường Tiểu học Krông Ana

14

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

15

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

+ Các nhóm lên trình bày. Sau khi HS trình bày, tôi phỏng vấn học sinh đóng – Vì sao em lại ứng xử như vậy ?

16

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Thay đổi không gian học tập cũng tạo được sự hứng thú cho HS và cũng góp phần đến thành công của tiết dạy. Đối với lứa tuổi hiếu động như HS lớp 5. Thay đổi không gian học tập cũng là một hứng thú đối với các em. Chính vì vậy, đối với một số tiết học tôi tổ chức cho HS học tập ở một vài không gian khác nhau như: Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, có không gian biểu diễn, chơi các trò chơi… nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Âm nhạc, nhiều bài hát gắn liền với địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng. Ví dụ: Tiết 23 Ôn tập 2 bài hát: Hát mừng, Tre ngà bên lăng Bác Tôi thay đổi không gian lớp học bằng cách cho HS ra sân xếp thành vòng tròn vừa hát vừa biểu diễn, sau khi biểu diễn 2 bài hát, tôi thường lồng ghép một số câu hỏi hoặc trò chơi để liên hệ giáo dục tình cảm thái độ của HS về kiến thức địa phương, hay ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh trường lớp ….. Hoặc với những tiết Tập biểu diễn bài hát. Khi bắt đầu tiết học, tôi cho HS sắp xếp bàn ghế theo hình chữ U, cách sắp xếp bàn ghế này tạo cho lớp học có không gian biểu diễn đồng thời tất cả HS được quan sát các bạn biểu diễn cũng như thúc đẩy quá trình học tập sáng tạo, ý thức tự giác, niềm đam mê học tập, háo hức được cùng các bạn tham gia biểu diễn. 4. Phát huy hiệu quả của ĐDDH Muốn gây hứng thú cho HS, theo tôi việc sử dụng ĐDDH là rất quan trọng, Tuy nhiên đồ dùng cần phải đáp ứng được tính thẩm mĩ không tùy tiện cẩu thả, phong phú đa dạng và phải phù hợp với nội dung bài học. Mỗi tiết dạy có sự đặc trưng riêng về cách tổ chức lớp và có những sáng tạo riêng của từng giáo viên. Đặc biệt đối với môn Âm nhạc lớp 5, việc sử dụng đồ dùng dạy học trong tiết dạy là hết sức cần thiết vì giáo viên không thể thao thao bất tuyệt với lý lẻ suôn hay chỉ hát “chay” từ ngày này qua ngày khác sẽ khiến học sinh nhàm chán và thiếu phấn khởi trong học tập. Vì đây là môn năng khiếu cần có sự bồi đắp và vun dưỡng từ giáo viên để tạo cơ hội cho những học sinh có năng khiếu bộc lộ mình, các em học HS không có năng khiếu cũng sẽ hiểu bài một cách chủ động hơn. Trong tất cả các tiết dạy, tôi chuẩn bị đầy đủ các đồ dụng dạy – học sẵn Trường Tiểu học Krông Ana

17

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

có để hỗ trợ việc dạy và học Âm nhạc như: Thanh phách, song loan, đàn Organ, băng đĩa, tranh phóng to các bài TĐN của lớp 5. Hoặc những nhạc cụ do các em tự chế như: chai nước nhựa, thanh tre nhỏ, những chiếc đũa… tất cả các đồ dùng dạy học trên sẽ mang lại một tiết học sôi nổi đầy hào hứng. Tuy nhiên, nếu GV không biết phối hợp hoặc sử dụng những ĐDDH không thành thạo thì cũng không mang lại hiệu quả cao cho tiết dạy. Việc sử dụng thành thạo đàn Organ cũng là một yếu tố quan trọng. Cách bỏ hợp âm, dạo nhạc cũng sẽ thu hút HS hào hứng học hát và hát đúng giai điệu, vì vậy tôi thường xuyên học tập, sáng tạo, đổi mới cách đệm phù hợp với sắc thái của từng bài hát, sao cho tất cả các đối tượng HS đều biết hát đúng giai điệu hoặc ít nhất là hát theo giai điệu của bài hát.

Sử dụng đàn Piano và Organ trong các tiết dạy Âm nhạc

Cùng với đàn Piano và Organ, thì thanh phách và song loan cũng là những nhạc cụ không thể thiếu trong môn Âm nhạc. Vì đây là những nhạc cụ giúp HS nắm chắc tiết tấu của bài hát và các bài TĐN một cạch nhẹ nhàng dễ hiểu. Đối với từng bài học tôi cho các em sử dụng các nhạc cụ cho phù hợp. Ví dụ: Đối với bài hát nhịp 3 như bài Tre ngà bên lăng Bác, tôi cho các em dùng tay để vỗ theo phách HS sẽ dễ nhớ hơn, vì đây là cách gõ đệm khó, khi dùng nhạc cụ sẽ gây ồn ào các em khó hình dung ra phách của nhịp 3. Nhưng đối với bài hát Con chim hay hót thì nhạc cụ gõ làm cho các em sôi nổi hào húng khi gõ đẹm theo nhịp….. Trường Tiểu học Krông Ana

18

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

Ngoài các đồ dùng dạy học kể trên, thì giáo án điện tử cũng là một phương tiện hỗ trợ đắc lực cho giáo viên. Qua thực tế giảng dạy. tôi nhận thấy hầu hết các em HS Tiểu học nói chung, các em lớp 5 nói riêng rất thích được học những tiết học bằng máy chiếu bởi vì cùng một lúc các em được nghe âm thanh, hình ảnh, màu sắc sinh động. HS hứng thú học tập và dễ dàng tiếp thu bài nhờ những hình ảnh, âm thanh, những tư liệu giúp HS khắc sâu kiến thức, kích thích nguồn cảm hứng học tập, vì vậy, tôi tăng cường thực hiện một số tiết day bằng GAĐT. Khi giảng dạy, tôi kết hợp hài hòa giữa màn hình với lời giảng và giữa màn hình với ghi bảng sao cho linh hoạt uyển chuyển giúp cho tiết dạy được sinh động hơn, HS học tập hứng thú hơn, hạn chế cách dạy khô khan Tuy nhiên, đối với các tiết dạy bằng GAĐT, GV phải thật sự có ý thức học hỏi, khai thác và sử dụng có chọn lọc những tư liệu quý trên Internet. Đừng quá tham lam tư liệu, có bao nhiêu cũng đưa vào bài giảng, làm cho bài giảng dễ bị loãng nhàm chán không thu hút được sự hào hứng của tiết dạy. 5. Đổi mới quan niệm và cách thức kiểm tra, đánh giá Một trong những nguyên nhân khiến học sinh không thích học là do cách đánh giá bằng lời và cho điểm của chúng ta không thỏa đáng. Theo chúng tôi Lê Phương Nga: “Phải đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của học sinh tiểu học theo một chiến lược dạy học lạc quan – đó là nhấn mạnh vào mặt thành công của học sinh”. Áp dụng Thông tư 30 vào công tác giảng dạy và đánh giá học sinh. Để tạo hứng thú cho học sinh, trong các tiết dạy tôi thường xuyên động viên, khích lệ những kết quả của các em: Nhận xét bằng lời trực tiếp khi giảng dạy, nhận xét vòa vở của học sinh, nhận xét trong sổ theo dõi hàng tháng, cuối kì và cuối năm học. Khi nhận xét tôi luôn chú trọng vào mặt thành công của các em, tôn trọng những sáng tạo của HS, dù rất nhỏ, đồng thời, tập cho mình có một cách nhìn: Học sinh tiểu học em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng. Chỉ có em này ngoan, giỏi, cố gắng nhiều hơn, em kia ngoan, giỏi, cố gắng ít hơn mà thôi. Vì vậy đòi hỏi phải thật nghiêm khắc và đặt ra yêu cầu cao với bản thân mình có nghĩa là không cho phép chúng ta khắt khe trong đánh giá và chặt chẽ khi nhận xét HS. Khi HS đạt được thành công trong học tập sẽ tạo ra hứng thú và niềm say mê học tập, niềm tự hào về thành công, cảm giác xúc động khi thành công mới là nguồn gốc thật sự của ham muốn học hỏi. 3.3 Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp Để thực hiện tốt các vấn đề đã được đề cập trong nội dung sáng kiến, cần có những điều kiện sau đây:

Trường Tiểu học Krông Ana

19

Đỗ Thị Thu Hà

Một số biện pháp tạo hứng thú học môn Âm nhạc cho học sinh Lớp 5

20

Đỗ Thị Thu Hà

Skkn Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Và Phát Huy Tính Tích Cực Cho Học Sinh Trong Học Tập Môn Khoa Học Lớp 4

Trang 1. Mở đầu …………………………………………………………………………………………….. 2 1.1. Lí do chọn đề tài …………………………………………………………………………… 2 1.2. Mục đích nghiên cứu ………………………………………………………………………. 2 1.3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………………………………………… 2 1.4. Phương pháp nghiên cứu …………………………………………………………………. 3 2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm…………………………………………………………… 3 2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm …………………………………………….. 3 2.2. Thực trạng vấn đề …………………………………………………………………………… 3 2.3. Các biện pháp thực hiện ………………………………………………………………….. 4 2.4. Hiệu quả của sáng kiến …………………………………………………………………… 18 3. Kết luận, kiến nghị …………………………………………………………………………… 19 3.1. Kết luận ……………………………………………………………………………………….. 19 3.2. Kiến nghị ………………………………………………………………………………………. 20 Tài liệu tham khảo ………………………………………………………………………………. 21 1. MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài Ở Tiểu học, giúp các em có những hiểu biết về thế giới xung quanh, những hiện tượng khoa học, những vấn đề về thiên nhiên là mục tiêu quan trọng. Môn Khoa học cung cấp cho các em những kiến thức đó. Đó là môn học tích hợp những kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, năng lực đạo đức của con người. Việc dạy môn Khoa học không chỉ nhằm tích luỹ kiến thức đơn thuần mà còn nhằm dạy cho học sinh tập làm quen với cách tư duy chặt chẽ mang tính khoa học, hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết để thích ứng với thực tế cuộc sống và tiếp tục học tập sau này. Chính vì vậy, Khoa học là môn học quan trọng trong nhà trường. Bên cạnh đó, quá trình hội nhập của Việt Nam, các nước trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi nền giáo dục nước nhà phải có những đổi mới trong mục tiêu và nội dung dạy học. Sự đổi mới này đòi hỏi phải có những đổi mới về phương pháp dạy học. Theo định hướng đó, phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tích tực, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học. Không những thế, học sinh chỉ học tập đạt kết quả tốt khi yêu thích môn học đồng thời các em cũng tìm được cảm hứng từ môn học đó. Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hình thức tổ chức hoạt động là một việc làm không phải dễ và cũng không phải ngày một ngày hai mà làm được. Nó đòi hỏi một sự đầu tư lâu dài, một quá trình rèn luyện không ngừng của người giáo viên. Mỗi một sự cố gắng dù rất nhỏ trong nhận thức của giáo viên về đổi mới phương pháp, hình thức dạy học đều là động lực tạo hứng thú học tập cho các em học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Với những lý do nêu trên, để tạo hứng thú và phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập môn Khoa học đang là một đòi hỏi cấp bách cần giải quyết. Vì vậy, tôi đã đúc kết cho mình một số kinh nghiệm khi giảng dạy môn học này. Chính vì thế tôi chọn đề tài: “Một số biện pháp tạo hứng thú và phát huy tính tích cực cho học sinh trong học tập môn Khoa học lớp 4.” 1.2. Mục đích nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu của sáng kiến nhằm: – Tìm hiểu các nguyên nhân vì sao học sinh chưa hứng thú, chưa tích cực học môn Khoa học. – Tìm ra các giải pháp nhằm giúp học sinh có hứng thú để các em tích cực hơn trong quá trình học tập môn học nói trên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của phương châm giáo dục toàn diện cho học sinh. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Học sinh lớp 4A và lớp 4B – Trường Tiểu học Hermann Gmeiner 1.4. Phương pháp nghiên cứu: Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau: – Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Sự hứng thú và tính tích cực học tập của học sinh. – Phương pháp điều tra: Khảo sát đánh giá thực trạng tính tích cực học tập của học sinh. – Phương pháp quan sát – Phương pháp thống kê – Phương pháp phân tích tổng hợp 2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2. 1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủ yếu là cảm tính. Đồng thời lứa tuổi này còn mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên, ngộ nghĩnh và hiếu động. Các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn “vừa chơi, vừa học”. Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanh nhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đã nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi “Chóng nhớ, mau quên”. Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, ôn tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú và say mê với nội dung cần ghi nhớ, chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ và nhớ lâu hơn. Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể. Các em không những nhận thức tốt các vấn đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng. Ở trường Tiểu học việc xây dựng chương trình học tập cho học sinh được chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Nếu như ở các lớp 1, 2, 3 việc nắm bắt kiến thức của học sinh còn ở mức sơ giản thì chương trình của lớp 4, 5 đã mở rộng hơn rất nhiều. Kiến thức về tự nhiên, xã hội được mở rộng hơn, thể hiện rõ ở môn Khoa học. Với chương trình lớp 4 môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như: vật lý, sinh học, hoá học và một số kiến thức của môn sức khoẻ cũ cũng được tích hợp vào môn học này. Do đó các nội dung kiến thức của môn học này mang tính trừu tượng, yêu cầu học sinh phải ghi nhớ. Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giai đoạn: Giai đoạn lớp 1, 2, 3 và giai đoạn lớp 4, 5. Mặt khác, lớp 4 cũng là lớp học bắt đầu của việc tách môn học “Tự nhiên – Xã hội” thành các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểu kiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên. Vì vậy để “tạo hứng thú và phát huy tính tích cực” cho học sinh khi học môn Khoa học ở lớp 4 là hết sức cần thiết. 2.2. Thực trạng vấn đề Qua một số tiết dạy những ngày đầu năm học, tôi nhận thấy một tồn tại trong việc học môn Khoa học của học sinh lớp 4A là các em ngại học, không hào hứng. Chính vì ngại, không hứng thú nên tính tích cực học tập của các em còn rất yếu, thể hiện qua một số dấu hiệu sau: + Học sinh ít giơ tay phát biểu ý kiến của mình về các vấn đề giáo viên nêu ra (chỉ có khoảng 10% số học sinh cả lớp tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài trong mỗi tiết học). + Nếu được hỏi, học sinh chủ yếu lệ thuộc vào sách giáo khoa, ít tư duy. + Không thắc mắc hay đòi hỏi giáo viên phải giải thích cặn kẽ những vấn đề mà mình chưa hiểu rõ. + Không khí của lớp rất buồn tẻ, trầm lắng hoặc ít sôi nổi khi học sinh không thực hiện được yêu cầu của giáo viên. + Học sinh không có thói quen sưu tầm tư liệu phục vụ bài học; nếu có thì số lượng tranh rất ít, chất lượng sưu tầm chưa đúng yêu cầu bài học. Những thực tế nói trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân mà tôi cho là cơ bản nhất là: chúng ta (bao gồm tôi và các đồng nghiệp) từ trước đến nay chưa tạo được hứng thú hay nói cách khác là chưa làm sao để cho các em học sinh thích thú khi học các tiết Khoa học. Do đó các em cũng chưa phát huy được tính tích cực khi học môn học này, vì vậy mà kết quả học tập là chưa cao. Vào đầu năm học tôi đã tiến hành điều tra các tiết học Khoa học tại lớp 4A (25 học sinh) tôi thu được kết quả như sau: Tổng số học sinh Hứng thú, tích cực với tiết học Thờ ơ với tiết học 25 Số lượng Tỉ lệ Số lượng Tỉ lệ 4 16% 21 84% Từ kết quả thu được cho thấy tình trạng học sinh lười học, ngại học thật đáng lo, tỉ lệ học sinh ham thích và chủ động học tập còn quá thấp, tỉ lệ học sinh không hứng thú với môn học quá nhiều (trên 80%). Từ thực trạng nói trên, tôi thấy cần phải thay đổi thói quen học tập của học sinh đối với môn học Khoa học. Qua quá trình giảng dạy, tôi đã rút ra được một vài biện pháp giúp học sinh có niềm yêu thích và tích cực học môn Khoa học hơn, tôi xin mạnh dạn trình bày một số biện pháp như sau: 2.3. Các biện pháp thực hiện Biện pháp 1: Khuyến khích học sinh sưu tầm tư liệu và đồ dùng học tập phục vụ bài học. Sách giáo khoa hiện nay đóng vai trò quan trọng trong phần cung cấp kiến thức cho học sinh. Tuy nhiên, ở một số bài học, tư liệu sưu tầm lại đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong việc giúp học sinh chủ động, phát hiện, chiếm lĩnh kiến thức bài học, chứ không phải tiếp nhận kiến thức một cách thụ động. Một tiết học đạt hiệu quả tùy thuộc vào sự chuẩn bị của giáo viên và học sinh trước buổi học đó. Vì vậy, giáo viên luôn khuyến khích học sinh chuẩn bị bài cho ngày hôm sau từ việc xem trước bài cho đến việc chuẩn bị các đồ dùng cần thiết cho bài học sẽ giúp các em có ý thức hơn trong việc học của mình. Cách làm này rất phù hợp với quá trình nhận thức của học sinh, giúp các em hứng thú học tập đồng thời bước đầu hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học, chuẩn bị cho các em tiếp tục học lên các lớp trên. * Ví dụ bài 7: Tại sao cần ăn phối hợp nhiều loại thức ăn? Học sinh sưu tầm các đồ chơi bằng nhựa như: gà, cá, tôm, cua,… Mục đích của việc sưu tầm là giúp các em phân loại nhóm thức ăn cần ăn đủ, ăn có mức độ, ăn ít và ăn hạn chế. Đồng thời đó cũng là dụng cụ để các em tham gia trò chơi học tập theo nhóm. * Ví dụ bài 54: Nhiệt cần cho sự sống. Học sinh sưu tầm ảnh về các loài động vật, thực vật. Học sinh làm việc theo nhóm với yêu cầu sau: – Phân loại tranh ảnh sưu tầm theo sự phân bố của chúng trên trái đất như sau: + Động vật, thực vật sống ở xứ lạnh, băng tuyết quanh năm. + Động vật, thực vật sống ở vùng ôn đới. + Động vật, thực vật sống ở vùng nhiệt đới. + Động vật, thực vật sống ở vùng sa mạc. – Nhận xét các vùng khí hậu (có nhiều loài vật, cây sinh sống hoặc ít loài sinh sống). Trên cơ sở tranh ảnh sưu tầm, học sinh tự rút ra kết luận về vai trò của nhiệt đối với đời sống sinh vật. Để việc sưu tầm tư liệu mang lại hiệu quả cao, tôi áp dụng một số các làm như sau: + Hướng dẫn học sinh phân loại tranh theo yêu cầu của bài học. + Sử dụng tư liệu sưu tầm của học sinh các khoá trước. + Đánh giá, động viên việc sưu tầm tư liệu của học sinh. + Giáo viên thường xuyên bổ sung tư liệu, kiến thức ngoài sách giáo khoa trong các tiết học. * Ví dụ bài 58: Nhu cầu nước của thực vật Học sinh sưu tầm tranh, ảnh, một số cây thật. Học sinh sẽ làm việc theo nhóm với các yêu cầu: – Phân loại các loại cây đã sưu tầm theo 4 nhóm sau đây; + Cây chịu được khô hạn + Cây sống trên cạn ưa ẩm ướt + Cây sống dưới nước + Cây vừa sống trên cạn vừa sống dưới nước – Nhận xét về nhu cầu nước của mỗi loài cây Sau khi tìm hiểu và phân loại từ những tranh, ảnh, cây đã sưu tầm, học sinh tự rút ra được kết luận về nhu cầu nước của mỗi loài cây (Mỗi loài cây có nhu cầu về nước khác nhau). Biện pháp 2: Rèn học sinh tự làm các thí nghiệm đơn giản. * Phương pháp thí nghiệm có tác dụng : + Giúp học sinh đi sâu vào tìm hiểu bản chất các sự vật, hiện tượng, sự vật tự nhiện. + Thí nghiệm được sử dụng như “nguồn” dẫn học sinh đi tìm tri thức mới, vì thế các em sẽ hiểu sâu nhớ lâu. + Rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng: đặt thí nghiệm, lắp ráp dụng cụ thí nghiệm, quan sát diễn biến thí nghiệm, … * Để dạy học theo phương pháp thí nghiệm thông thường cần tuân theo các bước sau: a) Xác định mục đích của thí nghiệm: Các thí nghiệm trong chương trình khoa học 4 có thể phân thành 3 loại chính: – Loại nghiên cứu mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. – Loại nghiên cứu điều kiện (cái này là điều kiện của cái kia hoặc hiện tượng kia). – Loại nghiên cứu tính chất của một vật. b) Vạch kế hoạch tiến hành thí nghiệm: Liệt kê những dụng cụ thí nghiệm cần có và những điều kiện để tiến hành thí nghiệm.Vạch kế hoạch cụ thể (Làm gì trước? Làm gì sau?). – Thực hiện thao tác gì? Trên vật nào ? – Quan sát dấu hiệu gì? Ở đâu? Bằng giác quan nào hoặc phương tiện nào? c) Tiến hành thí nghiệm Bố trí, lắp ráp và làm thí nghiệm theo các bước đã vạch ra. * Khi làm thí nghiệm, giáo viên cần nắm vững và thực hiện các yêu cầu sau: + Học sinh phải chọn ra được một số yếu tố riêng có thể khống chế được để nghiên cứu hoặc phải tác động lên hiện tượng, sự vật cần nghiên cứu. + Học sinh cần phải theo dõi, quan sát các hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm. + Học sinh cần biết thiết lập các mối quan hệ (nguyên nhân – kết quả) giải thích các kết quả thí nghiệm để rút ra kết luận. + Các điều kiện và quá trình được kiểm soát là thiết yếu đối với một số thí nghiệm. + Chú ý đảm bảo an toàn cho học sinh khi làm thí nghiệm. d) Phân tích kết quả và kết luận: Phần này, giáo viên cần hướng dẫn học sinh chú ý đến các dấu hiệu bản chất. Dạy học sinh cách so sánh, suy luận khái quát để rút ra kết luận. – Lưu ý: Tuỳ từng thí nghiệm, tuỳ trình độ học sinh, giáo viên có thể yêu cầu học sinh làm thí nghiệm ở các mức độ khác nhau: – Học sinh nghiên cứu thí nghiệm được trình bày trong sách giáo khoa đưa ra giả thuyết, giải thích và kết luận. – Giáo viên làm mẫu, học sinh làm theo. – Giáo viên giao nhiệm vụ, giúp đỡ học sinh từng bước tiến hành thí nghiệm thông qua phiếu học tập hoặc chỉ dẫn bằng lời. – Giáo viên giao nhiệm vụ, học sinh tự làm, giáo viên theo dõi và đưa ra chỉ dẫn kịp thời nếu thấy cần thiết. Vì thế trừ một số thí nghiệm đòi hỏi tính chính xác cao phải do giáo viên thực hiện (ví dụ bài 31: thí nghiệm chứng minh tính chất của không khí: Không khí nở ra khi nóng lên và co lại khi lạnh đi; bài 37: Thí nghiệm chứng minh không khí chuyển động từ nơi lạnh đến nơi nóng, không khí chuyển động tạo thành gió) các thí nghiệm nêu ở sách giáo khoa, tôi chia lớp thành nhiều nhóm để thực hành. Đối với mỗi thí nghiệm yêu cầu học sinh thực hiện đúng theo các bước sau: Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ. Bước 2: Tiến hành thí nghiệm. Bước 3: Quan sát thí nghiệm. Bước 4: Giải thích thí nghiệm * Ví dụ bài 35: Không khí cần cho sự cháy Hoạt động 1: Tìm hiểu vai trò của ô – xi đối với sự cháy Mục tiêu: Làm thí nghiệm chứng tỏ: Càng có nhiều không khí càng có nhiều ô – xi để duy trì sự cháy được lâu hơn Bước 1: Chuẩn bị: + Hai lọ thủy tinh ( 1 lọ to, 1 lọ nhỏ) + Hai cây nến bằng nhau Bước 2: Cách tiến hành Giáo viên cho học sinh đọc cách tiến hành trong SGK để học sinh nắm được cách làm thí nghiệm như sau: + Lấy 2 lọ thủy tinh cùng úp đồng thời vào 2 cây nến đang cháy + Quan sát sự cháy của các ngọn nến Bước 3: Quan sát thí nghiệm – Học sinh quan sát để thấy được ngọn nến trong lọ thủy tinh to thời gian cháy dài hơn, ngọn nến trong lọ thủy tinh nhỏ thời gian cháy ngắn hơn. Bước 4: Giải thích hiện tượng Học sinh dựa vào các thành phần của không khí để giải thích hiện tượng cây nến trong lọ thủy tinh to cháy lâu hơn cây nến trong lọ thủy tinh nhỏ như sau: Nến trong lọ thủy tinh cháy lâu hơn vì lượng không khí ở trong lọ nhiều hơn nên lượng ô – xi nhiều hơn. Còn nến trong lọ thủy tinh nhỏ tắt nhanh hơn vì lượng không khí trong lọ nhỏ ít hơn nên lượng ô – xi ít hơn. Sau đó học sinh rút ra kết luận: Ô – xi trong không khí cần cho sự cháy. Càng có nhiều không khí thì càng có nhiều ô – xi để duy trì sự cháy lâu hơn. Vì vậy cần có không khí để duy trì sự cháy. (Học sinh quan sát thí nghiệm để rút ra nhận xét) * Ví dụ bài 52: Vật dẫn nhiệt và vật cách nhiệt. Hoạt động 2: Chứng minh không khí là vật cách nhiệt. Bước 1: Chuẩn bị: + Hai chiếc cốc như nhau. + Hai tờ giấy báo. + Nước nóng. + Nhiệt kế. Bước 2: Cách tiến hành: + Lấy một tờ giấy báo quấn thật chặt vào cốc thứ nhất. + Lấy tờ báo còn lại làm nhăn và quấn lỏng vào cốc thứ hai để có nhiều chỗ chứa không khí giữa các lớp giấy. + Đổ vào hai cốc nước một lượng nước nóng như nhau. + Sau một thời gian đo nhiệt độ nước trong hai cốc. – Nhận xét: Nước trong cốc nào nóng hơn Giáo viên chỉ làm mẫu cách quấn giấy vào cốc sau đó yêu cầu học sinh tiến hành thí nghiệm theo nhóm 4. Bước 3: Quan sát thí nghiệm Học sinh đo và ghi lại nhiệt độ của từng cốc sau mỗi lần đo. Lần 1: Nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và không buộc chặt có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt Lần 2: Đo cách lần một 5 phút, nước trong cốc được quấn giấy báo nhăn và chặt vẫn có nhiệt độ cao hơn nước trong cốc được quấn giấy báo thường chặt. Bước 4: Giải thích hiện tượng Học sinh dựa vào tính chất của không khí để giải thích hiện tượng nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn nước trong cốc quấn giấy báo thường và quấn chặt như sau: Nước trong cốc quấn giấy báo nhăn quấn lỏng còn nóng hơn vì giữa các lớp báo quấn lỏng có chứa rất nhiều không khí nên nhiệt độ của nước truyền qua cốc, lớp giấy báo và truyền ra ngoài môi trường ít hơn, chậm hơn nên nó còn nóng lâu hơn. Sau đó học sinh tự rút ra kết luận không khí là vật cách nhiệt. * Ưu điểm của biện pháp này là: – Học sinh có kỹ năng thao tác thành thạo trong việc thực hiện thí nghiệm dưới sự hướng dẫn của giáo viên. – Học sinh được trực quan (mắt thấy, tai nghe hoặc cảm nhận qua các giác quan) các hiện tượng, kết quả thí nghiệm, chứ không bị áp đặt, chấp nhận kết quả thí nghiệm một cách gián tiếp thông qua sách giáo khoa. Biện pháp 3: Tăng cường việc học tập theo nhóm để phát huy tính tích cực của học sinh. Hoạt động nhóm là một hoạt động học tập tích cực. Cụ thể là: – Đem lại cho học sinh cơ hội được sử dụng các kiến thức và kỹ năng mà các em được lĩnh hội và rèn luyện. – Cho phép học sinh diễn đạt những ý tưởng, những khám phá của mình. – Mở rộng suy nghĩ và thực hành các kỹ năng tư duy (so sánh, phân tích, tổng hợp, đánh giá …). – Hoạt động nhóm giúp các em rèn luyện và phát triển kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm với nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian nhất định. – Hình thức dạy học theo nhóm góp phần hình thành và phát triển các mối quan hệ qua lại trong học sinh, đem lại bầu không khí đoàn kết, giúp đỡ, tin tưởng lẫn nhau trong học tập. – Tổ chức cho học sinh học tập theo nhóm giúp các em học sinh nhút nhát, khả năng diễn đạt kém có điều kiện rèn luyện, tập dượt, từ đó tự khẳng định mình trong sự hấp dẫn của hoạt động nhóm. – Khi dạy học nhóm, giáo viên sẽ có dịp tận dụng các kinh nghiệm và sự sáng tạo của học sinh trong học tập. * Muốn hoạt động nhóm đạt kết quả tốt cần đảm bảo các yêu cầu sau: – Mỗi thành viên trong nhóm đều biết và hiểu công việc của nhóm, của bản thân. – Mỗi thành viên đều tích cực suy nghĩ và tham gia vào các hoạt động của nhóm (như phát biểu ý kiến, tranh luận …). – Mọi thành viên đều lắng nghe ý kiến của nhau, thoải mái khi phân tích và nói ra những điều mình suy nghĩ. –

Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Tập Cho Học Sinh Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí – nhân cách của con người. Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không có việc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú. M.Gorki từng nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc. Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh (HS) học tập đạt kết quả cao, có khả năng khơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo.Trong khi đó, việc khảo sát thực tế dạy học ở tiểu học bằng nhiều con đường (lấy phiếu hỏi từ các cấp quản lí giáo dục, từ các giáo viên (GV), các bậc phụ huynh và học sinh, quan sát và làm các đo nghiệm khách quan trên học sinh) đã cho thấy nhiều học sinh tiểu học không có hứng thú trong học tập. Điều này vừa được xem như là một biểu hiện vừa được xem như một nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy học ở tiểu học.

Những biện pháp tạo hứng thú trong bài viết này xuất phát từ 3 luận điểm cơ bản: Một là: Hiệu quả thực sự của việc dạy học là học sinh biết tự học; tự hoàn thiện kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng, hai là: Nhiệm vụ khó khăn và quan trọng nhất của GV là làm sao cho học sinh thích học, ba là: Dạy học ở tiểu học phải làm cho HS cảm thấy biết thêm kiến thức của mỗi bài học ở mỗi môn học là có thêm những điều bổ ích, lý thú từ một góc nhìn cuộc sống.

Với ba luận điểm này, chúng tôi quan niệm rằng thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học của người học. Còn nếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho HS, ch­ưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực mà tri thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả. Người học chỉ tự giác, tích cực học tập khi họ thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm. Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV. GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng hứng thú học tập cho HS.

Quá trình dạy học gồm 5 thành tố cơ bản: Mục đích dạy học, nội dung dạy học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, phương tiện và thiết bị dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập.

Với các thành tố đó, có nhiều nhóm biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh và chúng thuộc những bình diện khác nhau của quá trình dạy học. Có biện pháp tác động vào việc trình bày mục tiêu bài học, có biện pháp tác động vào nội dung dạy học, có biện pháp tác động vào phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, có biện pháp tác động vào phương tiện, thiết bị dạy học, có biện pháp tác động vào kiểm tra đánh giá (bao gồm cả nhận xét), tác động vào quan hệ tương tác thân thiện giữa thầy – trò, trò – trò…

Bài viết này chưa đặt ra vấn đề bàn lại mục tiêu và chương trình của từng môn học. Đó là một vấn đề lớn của một công trình nghiên cứu khác. Ở đây chúng tôi chỉ bàn đến những biện pháp tạo hứng thú học tập trên một chương trình dạy học đang được thực thi. Vì vậy, thành tố mục tiêu chỉ giới hạn ở việc làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học. Do khuôn khổ của bài viết, trong phần trình bày nhóm biện pháp tác động vào nội dung dạy học, chỉ tập trung minh họa ở môn Tiếng Việt và nhóm biện pháp tác động vào phương pháp dạy học, chỉ tập trung minh họa ở môn Toán. Những luận điểm và ý tưởng tạo hứng thú học tập cho học sinh tiểu học đề cập ở đây không chỉ áp dụng trong hai môn học này.

1. Tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho học sinh nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học

Hứng thú là một thuộc tính tâm lí mang tính đặc thù cá nhân. Hứng thú có tính lựa chọn. Đối tượng của hứng thú chỉ là những cái cần thiết, có giá trị, có sức hấp dẫn với cá nhân. Vậy vấn đề gì thu hút sự quan tâm, chú ý tìm hiểu của các em? Trả lời được câu hỏi này nghĩa là người GV đã sống cùng với đời sống tinh thần của các em, biến đổi những nhiệm vụ học tập khô khan phù hợp với những mong muốn, nhu cầu, sở thích, nguyện vọng (tất nhiên là phải tích cực, chính đáng) của HS.

Với mỗi bài học cụ thể, giáo viên cần giúp cho học sinh nhận ra tính lợi ích của một nội dung nào đó. Chẳng hạn, sự cần thiết của dấu phẩy sẽ được làm rõ khi chỉ ra sự khác nhau về nghĩa của hai câu: Đêm hôm, qua cầu gãy và Đêm hôm qua, cầu gãy. Tính lợi ích của một nội dung dạy học cũng được thể hiện rõ khi chúng ta đặt ra sự đối lập giữa “có nó” và “không có nó”, ví dụ: Điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta không có chữ viết? Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta không có những từ đồng nghĩa, không có câu ghép?…

2. Tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học

Nội dung dạy học được chia ra rất nhiều cấp độ. Ví dụ trong môn Tiếng Việt, trước hết đó là các phân môn, các mạch kiến thức – kĩ năng, cụ thể hóa đến nhóm, kiểu, dạng bài tập và cho đến tận từng bài tập cụ thể. Từ bình diện nội dung dạy học, trên một bài tập, ta có thể tác động vào phần lệnh hoặc phần ngữ liệu.

Không có con đường nào khác để làm nảy sinh và duy trì hứng thú của học sinh với tiếng Việt và văn học ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập – tiếng Việt, văn chương. Đây cũng chính là ngữ liệu của dạy tiếng.

Ngay cả những vấn đề lí thuyết ngữ pháp khô khan cũng đều có thể gây hứng thú cho HS nếu chúng ta biết lựa chọn ngữ liệu khai thác những đặc điểm thú vị của tiếng Việt, chẳng hạn đó là mối quan hệ giữa kiểu nghĩa và cấu tạo từ, giá trị gợi tả gợi cảm của lớp từ láy, quy luật chuyển nghĩa của từ nhiều nghĩa; khả năng tạo những “định danh nghệ thuật”, “đồng nghĩa kép” của hiện tượng đồng nghĩa, sự bất ngờ thú vị của hiện tượng đồng âm. Chẳng hạn, bài tập phân tích nghĩa của câu sẽ thú vị nếu GV sử dụng ngữ liệu đồng âm, đặc biệt là đồng âm cú pháp. Ví dụ: Nhiều bạn gái đang múa hát rất hay, Chúng tôi học qua loa.

Ngữ liệu tiếng Việt trở nên hấp dẫn khi thể hiện tính năng sản của ngôn ngữ. Ví dụ, tiếng học, từ tay… hoàn toàn trở thành ngữ liệu hấp dẫn trong các bài tập: Tìm các từ có chung tiếng “học”, Tìm thành ngữ, tục ngữ cùng chứa từ “tay”… Vì tiếng học có mặt trong rất nhiều từ ngữ: học bạ, học bổng, học cụ, học đòi, học đường, học gạo, học giả, học hành, học hỏi, học kì, học lỏm, học phí, học sinh, học tập… từ tay xuất hiện trong 21 thành ngữ, tục ngữ.

Ngữ liệu hấp dẫn phản ánh được nét độc đáo của tiếng Việt, một ngôn ngữ đơn lập mà phương thức ngữ pháp chủ yếu là trật tự từ. Với bài tập yêu cầu HS sắp xếp các từ cho trước để tạo câu, nên chọn những từ có khả năng sắp xếp thành nhiều câu khác nhau, ví dụ nếu chọn 5 từ: sao, nó, không, đến, bảo có khả năng tạo thành trên 30 câu khác nhau.

Những kiến thức ngữ pháp nên được xem xét dưới góc độ của người sử dụng ngôn ngữ sẽ gây được hứng thú. Ví dụ, dạy bài Danh từ riêng có thể bắt đầu bằng cách nhận xét về cách đặt tên của người Việt. Khi dạy Đại từ nhân xưng, có thể cho học sinh nhận xét về văn hóa của người Việt trong cách xưng hô. Học sinh chưa hiểu hết được sự tế nhị trong cách xưng hô của người Việt và không phải em nào cũng biết xưng hô với bạn bè, cha mẹ, người thân một cách có văn hóa nên phát hiện này đối với các em cũng là điều thú vị…

Không có cách gì tạo ra hứng thú với tiếng mẹ đẻ và văn chương ngoài con đường cho trẻ tiếp xúc trực tiếp, càng nhiều càng tốt với những tác phẩm văn chương, những mẫu hình sử dụng ngôn ngữ mẫu mực vì: Không làm thân với văn thơ thì không nghe thấy được tiếng lòng chân thật của nó (Lê Trí Viễn).

3. Tạo hứng thú học tập bằng cách phối hợp các phương pháp và các hình thức dạy học linh hoạt

Ngoài việc khai thác sự lí thú trong chính nội dung dạy học, hứng thú của HS còn được hình thành và phát triển nhờ các phương pháp, thủ pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với sở thích của các em. Đó chính là cách tổ chức dạy học dưới dạng các trò thi đố, các trò chơi, tổ chức hoạt động sắm vai, tổ chức hoạt động học theo nhóm, tổ chức dạy học dự án, tổ chức dạy học ngoài không gian lớp học…

3.1. Tổ chức trò chơi học tập

Trong thực tế dạy học, giờ học nào tổ chức trò chơi cũng đều gây được không khí học tập hào hứng, thoải mái, vui nhộn. Nghiên cứu cho thấy, trò chơi học tập có khả năng kích thích hứng thú và trí tưởng tượng của trẻ em, kích thích sự phát triển trí tuệ của các em.

Trò chơi học tập nhất thiết phải là một bộ phận của nội dung bài học, phải là một phần cấu tạo nên bài học. Trong trò chơi, khi mọi thứ đều thật, chẳng hạn trong môn Tiếng Việt, từ vẫn là từ, câu vẫn là câu, trò vẫn là trò, thầy vẫn là thầy… trò chơi sẽ bớt phần thú vị. Trò chơi cuốn hút trẻ em hơn nếu có được sự giả định từ tên gọi, từ người tham gia, từ tình huống đến kết quả chơi. Ví dụ nhóm trò chơi: Trong vườn cổ tích đã khai thác tính giả định của trò chơi từ nguồn văn bản truyện cổ. Khi đó, trò chơi vừa minh họa sinh động kiến thức, kỹ năng tiếng Việt, vừa tạo ra được một không khí cổ tích huyền diệu, gợi lại nội dung các văn bản truyện cổ mà HS đã học ở phân môn Tập đọc hay Kể chuyện. Ví dụ, từ truyện Tấm Cám, xây dựng trò chơi Chim sẻ giúp cô Tấm dành cho các bài tập nhận diện, phân loại… Từ truyện Sơn Tinh Thủy Tinh, có thể xây dựng trò chơi Dâng núi chống lụt cho những bài tập chính tả, làm giàu vốn từ…

Có thể kể vào trò chơi học tập hoạt động sắm vai. Đây là một trò chơi có rất nhiều lợi thế để dạy học Tiếng Việt. Sắm vai trong dạy học là nhận một vai giao tiếp nào đó nhằm thể hiện sinh động nội dung học tập. Hình thức học tập sắm vai nhiều khi rất vui nhờ những chi tiết hài hước, ngộ nghĩnh do những diễn viên bất đắc dĩ tạo nên. Hình thức sắm vai đặc biệt phát huy tác dụng trong các giờ tập làm văn rèn kĩ năng nói, nó giúp học sinh được thực hành giao tiếp, được quan sát trực tiếp hoạt động nói với sự kết hợp sinh động của phương tiện âm thanh và các yếu tố phi ngôn ngữ.

3.2. Tổ chức hoạt động học theo nhóm

Học theo nhóm là hình thức học tập có sự hợp tác của nhiều thành viên trong lớp nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập chung. Được tổ chức một cách khoa học, học theo nhóm sẽ phát huy tính tích cực, sáng tạo, năng lực, sở trường, tinh thần và kĩ năng hợp tác của mỗi thành viên trong nhóm. Trong giờ học Tiếng Việt, biện pháp này đã tạo nên một môi trường giao tiếp tự nhiên, thuận lợi, đó là hoạt động giao tiếp nhằm trao đổi, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm của những người bạn.

3.3. Tổ chức dạy học ngoài trời

Dạy học ngoài trời giúp HS tìm hiểu rất nhiều kiến thức, kĩ năng từ cuộc sống. Dạy học ngoài trời là một hình thức tổ chức dạy học có nhiều lợi thế để phát triển năng lực giao tiếp cho HS, một năng lực cần thiết cho tất cả mọi môn học.

Dạy học ngoài trời tạo điều kiện để HS quan sát thiên nhiên, chơi các trò chơi… nhằm gây hứng thú, sự tích cực học tập cho các em. Tổ chức tiết học ngoài trời sẽ giúp HS tri giác trực tiếp đối tượng và ghi nhớ tốt, không phải tri giác gián tiếp qua các phương tiện dạy học. Các em có điều kiện gần gũi, hiểu biết về thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sống xung quanh. Hoạt động ngoài lớp còn là cơ hội để các em bộc lộ cá tính, năng khiếu, sở trường, đồng thời có tác dụng hình thành thói quen hợp tác, tương trợ, học hỏi lẫn nhau. Ngoài ra, trong môn Tiếng Việt, nhiều nội dung nói viết của phân môn TLV gắn liền với môi trường địa phương, nơi HS đang sinh sống nên việc dạy học ngoài không gian lớp học lại càng quan trọng.

Theo hoạch định của các chiến lược về mục tiêu, chương trình và sách giáo khoa (SGK) cùng với đặc thù riêng của môn Toán, các nội dung dạy học có tính chất toán học thuần túy được lựa chọn để dạy cho HS tiểu học khá ổn định; đảm bảo tính thiết thực; khả dụng; vừa sức; hiện đại và tích hợp.

Thiết kế các trò chơi học tập để HS tiếp cận kiến thức toán một cách nhẹ nhàng, thú vị

Cách 1: Nghe giảng và xem minh họa

Cách 2: Vui chơi có thưởng

GV có một hình tròn (miếng bìa đỏ hình tròn), một hình chữ nhật (miếng bìa trắng hình chữ nhật). Đặt hình chữ nhật nằm trọn trong hình tròn. Ta nói: Diện tích hình chữ nhật bé hơn diện tích hình tròn (GV chỉ vào phần mặt miếng bìa màu trắng bé hơn phần mặt miếng bìa màu đỏ) (Sách Giáo viên Toán 3, trang 235).

– GV chia nhóm 4 HS; mỗi nhóm nhận một tờ giấy kẻ 64 ô vuông (8 x 8) và hai bút dạ khác màu (xanh- đỏ); Hai nhóm ngồi đối diện.

– Chơi oẳn – tù – tì; nhóm nào thắng thì được tô vào 4 ô (yêu cầu tô lần lượt từng hàng) sau hai phút dừng lại kiểm tra. Nhóm tô được phần giấy rộng hơn thì thắng cuộc. Các nhóm thắng cuộc thì dán kết quả tô lên bảng lớp.

– GV yêu cầu so sánh mức độ rộng – hẹp của phần giấy đã tô mà các nhóm được dán trên bảng (nêu cách nhận biết). Trao thưởng cho nhóm đã tô được phần giấy rộng nhất.

– GV chỉ vào phần giấy của nhóm đã tô rộng nhất và giới thiệu: ta nói nhóm này tô được phần giấy có diện tích lớn nhất.

Cách 1: HS phải nghiêm túc chăm chú quan sát hình vẽ và lắng nghe lời giải thích của GV để nhận biết một cách trực giác là: hình này nằm trọn trong hình kia thì diện tích hình này bé hơn diện tích hình kia. Từ đó có biểu tượng ban đầu về diện tích một hình.

Cách 2: HS nhận đồ dùng (bút màu và giấy kẻ ô); cùng nhau oẳn – tù – tì để chơi và tạo ra phần giấy được tô màu (theo các hàng, cột); so sánh lần 1, HS nhận ra trong 2 nhóm, nhóm nào tô rộng hơn thì được dán lên bảng. So sánh lần 2, HS nhận ra nhóm tô được phần giấy rộng nhất trong các nhóm đã dán lên bảng. Khi giải thích kết quả so sánh HS có thể quan sát, có thể đặt chồng lên nhau, có thể đếm số ô vuông đã tô màu. Như vậy HS nhận biết: diện tích hình này bé hơn diện tích hình kia (không chỉ bằng trực giác hình này nằm trọn trong hình kia). Các hoạt động được thiết kế đã giúp HS tự kiến tạo và tiếp cận biểu tượng ban đầu về diện tích một hình khá nhẹ nhàng, lý thú.

Cách 1: Hướng dẫn cách lập bảng và nêu lên quan hệ

Cách 2: Vui chơi có thưởng để tự hình thành bảng và nêu quan hệ

GV yêu cầu nêu các đơn vị đo độ dài đã học. HS có thể nêu không theo thứ tự nhất định, GV hướng dẫn HS điền dần vào bảng kẻ sẵn để cuối cùng có một bảng hoàn thiện như trong SGK. Chẳng hạn: Khi HS lần lượt nêu các đơn vị đo độ dài, GV có thể viết ra ở phần bảng khác (theo thứ tự HS nêu). Khi HS đã nêu đủ 7 đơn vị đo độ dài thì GV cho HS nêu đơn vị đo cơ bản là mét; GV ghi chữ “mét” vào cột giữa của bảng kẻ sẵn; ghi ký hiệu “m” ở dòng dưới cùng cột. Sau đó GV cho HS nhận xét có những đơn vị đo nhỏ hơn mét ta ghi ở các cột bên phải cột “mét”, GV ghi chữ “nhỏ hơn mét” vào bảng kẻ sẵn. Có các đơn vị đo lớn hơn mét ta ghi các đơn vị lớn hơn mét ở bên trái cột “mét”, GV ghi chữ “lớn hơn mét” vào bảng kẻ sẵn….

GV cho HS nhìn bảng và lần lượt nêu quan hệ giữa hai đơn vị đo liền nhau…

GV cho HS đọc nhiều lần để ghi nhớ bảng. (SGV Toán 3, trang 86)

Trò chơi 1: GV treo 2 bảng kẻ sẵn; chia lớp thành hai đội; mỗi đội nhận một bút dạ và yêu cầu mỗi đội ghi (tiếp sức) vào các chỗ chấm trong bảng: HS hai đội lần lượt thi đua điền tên các đơn vị đo lớn hơn mét (km; hm; dam); nhỏ hơn mét (dm; cm; mm); ghi các số vào chỗ chấm: 1km = chúng tôi 1hm = chúng tôi dam = …m; 1m = chúng tôi 1dm = chúng tôi ; 1cm =….mm và điền vào kết luận: “Mỗi đơn vị đo độ dài gấp ….. lần đơn vị đo bé hơn liền nó”. Đội nào xong trước và điền đúng thứ tự các đơn vị và các số vào chỗ chấm thì thắng cuộc. GV yêu cầu HS mỗi nhóm đọc lại tên các đơn vị đo trong bảng theo thứ tự và đọc lại kết luận về quan hệ giữa các đơn vị liền kề.

Trò chơi 2: GV nêu một số câu đố; mỗi đội có một chuông (hoặc 1 biểu tượng) để giành quyền trả lời. Chẳng hạn: “Đố bạn biết đơn vị đo độ dài nào mà cứ 10 đơn vị đó là 1 mét ?”, Hoặc đố bạn đơn vị đo độ dài nào mà 1 đơn vị đó bằng 100 mm; đội rung chuông trước được quyền trả lời. Nếu trả lời đúng được 10 điểm. Nếu trả lời sai 0 điểm và đội còn lại giành quyền trả lời. Cứ chơi như vậy sau 5 phút đội nào nhiều điểm hơn thì thắng cuộc;

Yêu cầu HS 2 đội nói cho nhau nghe về thứ tự của các đơn vị đo độ dài trong bảng và quan hệ của hai đơn vị đo liền kề.

Cách 1: Thể hiện rõ vai trò của GV qua các hoạt động (được gạch chân) trong quá trình hoàn thành mục tiêu: GV hướng dẫn; GV cho HS… GV ghi….

Cách 2: Thể hiện rõ vai trò của HS tự huy động kiến thức vốn có; tự thể hiện kỹ năng; tự phát hiện quan hệ qua các hoạt động (được gạch chân) trong quá trình hoàn thành mục tiêu: mỗi đội ghi (tiếp sức); thi đua điền số; điền vào kết luận; giành quyền trả lời…

Thiết kế các hoạt động thực hành đa dạng gắn với việc giải quyết nhu cầu thiết thực trong đời sống để HS nhận biết giá trị của tri thức toán học

Ví dụ 1: Bài Thực hành xem lịch (SGV Toán 2, trang 140)

Kiến thức và kỹ năng của bài học

Hoạt động thực hành gắn với nhu cầu thiết thực

– Rèn kỹ năng xem lịch tháng (nhận biết thứ, ngày, tháng trên lịch)

– Củng cố nhận biết về các đơn vị thời gian: ngày, tháng, tuần lễ, biểu tượng thời gian (phân biệt thời điểm với khoảng thời gian)

– Hỏi các thành viên trong gia đình (bố, mẹ, anh, chị hoặc em) để biết ngày sinh nhật của từng người.

– Xem lịch rồi khoanh lại (hoặc ghi ra vở) ngày sinh nhật của mỗi người trong gia đình em năm nay; nhớ ghi rõ ngày đó là thứ mấy trong tuần.

Chẳng hạn: Sinh nhật của bố em là: ngày….. tháng… và là thứ…… trong tuần

Khi yêu cầu HS điền các ngày còn trống của một tờ lịch tháng nào đó hoặc liệt kê các ngày thứ… trong tuần nào đó của một tháng, hoặc khoanh vào một ngày nào đó trên tờ lịch… đều là hoạt động thực hành đúng với mục tiêu bài học nhưng khô khan và thuần túy kiến thức. Khi thiết kế hoạt động thực hành gắn với các nhu cầu cuộc sống như trên, chúng ta đã gợi lên những cảm xúc cho người học khi thực hành từ những việc làm tương tự.

Ví dụ 2: Thực hành nhận dạng các hình. Sau khi HS lớp Hai học bài: Hình chữ nhật – hình tứ giác, thay cho việc yêu cầu HS quan sát và đếm hình trong 1 hình vẽ đã cho, có thể thiết kế hoạt động thực hành như sau:

b. Nói cho bạn nghe hình vừa xếp được tạo dáng của vật nào thường thấy hàng ngày.

Tóm lại, việc thiết kế các hoạt động học tập giúp HS hứng thú học toán là sự thể hiện tổng hợp các ý tưởng về phương pháp dạy học. Người thiết kế không chỉ xác định đúng đắn mục tiêu học tập mà còn phải chú ý các yếu tố về tâm lý học, về giáo dục học và hiểu rõ vốn kiến thức thực tiễn của HS để phối hợp tốt với các thủ thuật, kỹ thuật thể hiện nội dung toán học, tạo ra các kích thích hợp lí để HS tự học.

4. Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò, trò và trò

Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò. Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại, mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự học. Cần hiểu đi VP : HÀ NỘI

Bạn đang xem bài viết Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Học Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 5 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!