Xem Nhiều 12/2022 #️ Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam / 2023 # Top 19 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam / 2023 # Top 19 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Lêi c¶m ¬n Tr­íc hÕt, em xin ®­îc göi lêi c¶m ¬n s©u s¾c tíi ThÇy gi¸o, Phã gi¸o s­, Phã tiÕn sü Lª §×nh T­êng, ng­êi ®· tËn t×nh chØ b¶o, gióp ®ì em hoµn thµnh tèt Kho¸ LuËn tèt nghiÖp nµy. Em còng xin ®­îc c¶m ¬n c¸c thÇy c” gi¸o trong tr­êng §¹i häc Ngo¹i Th­¬ng, nh÷ng ng­êi ®· nhiÖt t×nh d¹y dç, trao cho chóng em nh÷ng kiÕn thøc quý b¸u, lµ hµnh trang ®Ó chóng em b­íc vµo ®êi. §Ó cã thÓ hoµn thµnh Kho¸ luËn nµy, em kh”ng thÓ kh”ng kÓ ®Õn sù gióp ®ì tËn t×nh cña c¸c anh, c¸c chÞ c¸n bé phßng KÕ ho¹ch §­êng bay thuéc Ban KÕ ho¹ch ThÞ tr­êng, phßng KÕ ho¹ch vµ Ph¸t triÓn B¸n thuéc Ban TiÕp ThÞ Hµnh Kh¸ch cña h·ng Hµng kh”ng Quèc gia. C¸c anh, c¸c chÞ ®· lu”n s½n lßng cung cÊp tµi liÖu còng nh­ gi¶i ®¸p nh÷ng th¾c m¾c cã liªn quan ®Õn vÊn ®Ò marketing trong hµng kh”ng nãi chung vµ Vietnam Airlines nãi riªng. Cuèi cïng, em xin ®­îc giµnh lêi c¶m ¬n s©u s¾c cña m×nh cho gia ®×nh, b¹n bÌ, nh÷ng ng­êi ®· lu”n ®éng viªn vµ t¹o mäi ®iÒu kiÖn ®Ó em hoµn thµnh tèt Kho¸ luËn. Môc lôc Lêi nãi ®Çu…………………………………………………………… 1 ch­¬ng I: Giíi thiÖu chung vÒ marketing vµ h·ng hµng kh”ng quèc gia viÖt nam I. Kh¸i niÖm marketing ………………………………………………… 3 II. Giíi thiÖu chung vÒ ho¹t ®éng marketing trong ngµnh hµng kh”ng……………………………………………………………………… 4 1. §Æc thï cña ho¹t ®éng marketing trong ngµnh hµng kh”ng…………… 4 2. Giíi thiÖu chung vÒ h·ng hµng kh”ng Quèc Gia ViÖt Nam…………… 12 Ch­¬ng II: ViÖc vËn dông marketing vµo thùc tiÔn kinh doanh cña h·ng hµng kh”ng quèc gia viÖt nam I. Thùc tiÔn ¸p dông marketing vµo ho¹t ®éng kinh doanh cña h·ng Hµng Kh”ng Quèc Gia ViÖt Nam……………………………………… 20 1. Ho¹t ®éng marketing trong nghiªn cøu thÞ tr­êng…………………. 20 2. Ho¹t ®éng marketing mix…………………………………………… 24 II. §¸nh gi¸ vÒ viÖc vËn dông marketing trong ho¹t ®éng kinh doanh cña h·ng Hµng Kh”ng Quèc Gia ViÖt Nam …………………………… 47 1. Nh÷ng kÕt qu¶…………………………………………………………. 47 2. Nh÷ng vÊn ®Ò tån t¹i…………………………………………………… 51 Ch­¬ng III: Mét sè gi¶i ph¸p marketing nh”m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh cña H·ng hµng kh”ng quèc gia viÖt nam I. §Þnh h­íng ph¸t triÓn ho¹t ®éng kinh doanh cña h·ng Hµng Kh”ng Quèc Gia ViÖt Nam……………………………………………… 57 1. Xu thÕ ph¸t triÓn cña ho¹t ®éng vËn t¶i hµng kh”ng d©n dông thÕ giíi…………………………………………………………………….. 57 2. ChiÕn l­îc ph¸t triÓn ®Õn n¨m 2010 vµ ®Þnh h­íng ®Õn n¨m 2020 …………………………………………………………………………. 58 3. Bµi häc kinh nghiÖm cña Singapore vÒ ®Þnh h­íng ph¸t triÓn cña h·ng hµng kh”ng………………………………………………………. 61 II. Mét sè gi¶i ph¸p marketing nh”m n©ng cao n¨ng lùc c¹nh tranh 63 1. Gi¶i ph¸p vi m”…………………………………………………….. 63 2. Gi¶i ph¸p vÜ m”……………………………………………………… 71 kÕt luËn……………………………………………………………… 76 Tµi liÖu tham kh¶o Phô lôc Phô lôc ViÖc trao ®æi th­¬ng quyÒn (TQ) lµ néi dung ®­îc quan t©m trong c¸c hiÖp ®Þnh chÝnh phñ vÒ vËn t¶i hµng kh”ng vµ viÖc kiÓm so¸t TQ chÝnh lµ néi dung chÝnh cña chÝnh s¸ch ®iÒu tiÕt vËn t¶i hµng kh”ng. Cã c¸c lo¹i TQ chÝnh sau: TQ1: QuyÒn ®­îc phÐp bay qua l·nh thæ cña mét n­íc kh¸c, kh”ng h¹ c¸nh. TQ2: QuyÒn h¹ c¸nh kü thuËt (phi th­¬ng m¹i) trªn l·nh thæ mét n­íc. Hai th­¬ng quyÒn nµy lµ hai th­¬ng quyÒn c¬ b¶n vµ phæ biÕn hay ®­îc c¸c n­íc trao ®æi cho nhau. TQ3: QuyÒn chë hµnh kh¸ch vµ hµng ho¸ tõ n­íc m×nh tíi mét n­íc thø hai. TQ4: QuyÒn chë hµnh kh¸ch vµ hµng ho¸ tõ mét n­íc thø hai vÒ n­íc m×nh. Hai th­¬ng quyÒn nµy thÓ hiÖn tÝnh chÊt kinh doanh th­¬ng m¹i cña vËn t¶i hµng kh”ng. TQ5: QuyÒn vËn chuyÓn hµnh kh¸ch vµ hµng ho¸ gi÷a hai n­íc víi ®iÒu kiÖn chuyÕn bay xuÊt ph¸t tõ n­íc m×nh. TQ6: QuyÒn vËn chuyÓn hµnh kh¸ch vµ hµng ho¸ tõ mét n­íc qua n­íc m×nh (cã h¹ c¸nh) tíi mét n­íc thø ba. TQ7: QuyÒn vËn chuyÓn hµng ho¸ vµ hµnh kh¸ch gi÷a hai ®iÓm cña mét n­íc thø hai hay vËn chuyÓn néi ®Þa trong mét n­íc thø hai. Th­¬ng quyÒn nµy Ýt ®­îc dïng vµ ViÖt Nam còng ph¶n ®èi. TQ8: QuyÒn vËn chuyÓn hµng ho¸ vµ hµnh kh¸ch tõ mét n­íc tíi mét n­íc thø ba kh”ng cÇn ®iÒu kiÖn chuyÕn bay xuÊt ph¸t tõ n­íc m×nh. Tµi liÖu tham kh¶o – Airline Marketing and Management – Stephen Shaw, Nhµ xuÊt b¶n Pitman, 1990. – Nh÷ng nguyªn lý vÒ tiÕp thÞ – Philip Kotler, Nhµ xuÊt b¶n Tp. Hå ChÝ Minh, 1994. – Qu¶n trÞ marketing dÞch vô – PTS L­u V¨n Nghiªm (chñ biªn), Nhµ xuÊt b¶n Lao ®éng, 1997. – Marketing du lÞch – Th¹c sÜ TrÇn Ngäc Nam, Nhµ xuÊt b¶n tæng hîp §ång Nai, 2000. – T¹p chÝ Heritage sè th¸ng 8,9,10/2003. – B¶n tin néi bé sè th¸ng 7,8/2001, Tæng c”ng ty hµng kh”ng ViÖt Nam. – B¶n tin néi bé sè th¸ng 2,8/2002, Tæng c”ng ty hµng kh”ng ViÖt Nam. – B¶n tin néi bé sè th¸ng 1, 3, 7/2003, Tæng c”ng ty hµng kh”ng ViÖt Nam. – Thêi b¸o kinh tÕ sè 39 ngµy 18/9/2003. – T¹p chÝ Giao th”ng vËn t¶i th¸ng 4, 10/2003. – Gi¸o tr×nh vÒ quan hÖ hµnh kh¸ch, Líp ®µo t¹o bæ tóc nghiÖp vô hµng kh”ng ViÖt Nam, th¸ng 10/2002. – B¸o c¸o kÕt qu¶ ®iÒu tra th­êng xuyªn trªn chuyÕn bay, Ban kÕ ho¹ch thÞ tr­êng, H·ng Hµng kh”ng Quèc gia ViÖt Nam, th¸ng 4/2003. – B¸o c¸o kÕt qu¶ vËn chuyÓn hµnh kh¸ch n¨m 2002, Ban kÕ ho¹ch thÞ tr­êng, H·ng Hµng kh”ng Quèc gia ViÖt Nam. – B¸o c¸o thÞ tr­êng vËn chuyÓn hµnh kh¸ch 6 th¸ng ®Çu n¨m 2003, Ban kÕ ho¹ch thÞ tr­êng, Tæng c”ng ty hµng kh”ng ViÖt Nam. B¶ng ch÷ viÕt t¾t IATA: international Air Transport Association – HiÖp héi hµng kh”ng quèc tÕ. SITI: Sale inside and ticket issued inside: B¸n ë trong vµ xuÊt vÐ ë trong n­íc xuÊt ph¸t cña hµnh tr×nh vËn chuyÓn quèc tÕ. SOTO: Sale outside and ticket issued outside: B¸n ë ngoµi vµ xuÊt vÐ ë ngoµi n­íc xuÊt ph¸t cña hµnh tr×nh vËn chuyÓn quèc tÕ. SITO: Sale inside and ticket issued outside: B¸n ë trong vµ xuÊt vÐ ë ngoµi n­íc xuÊt ph¸t cña hµnh tr×nh vËn chuyÓn quèc tÕ. SOTI: Sale outside and ticket issued inside: B¸n ë ngoµi vµ xuÊt vÐ ë trong n­íc xuÊt ph¸t cña hµnh tr×nh vËn chuyÓn quèc tÕ. BSP: §¹i lý b¸n vÐ sö dông hÖ thèng thanh to¸n qua tµi kho¶n ng©n hµng Non- BSP: §¹i lý b¸n vÐ kh”ng sö dông hÖ thèng thanh to¸n qua tµi kho¶n ng©n hµng mµ tiÕn hµnh thanh to¸n trùc tiÕp víi c¸c h·ng hµng kh”ng. §¹i lý l÷ hµnh in-house: §¹i lý l÷ hµnh trong n­íc. FIT: Free Individual Traveller: Kh¸ch ®i lÎ Corporate account lµ bé phËn phô tr¸ch vÊn ®Ò ®i l¹i cña c”ng ty, tæ chøc lín. §èi t­îng phôc vô lµ kh¸ch c”ng vô, th­êng cã quan hÖ víi h·ng bay chñ nhµ ®Ó sö dông tèi ®a m¹ng bay cña h·ng vµ h­ëng c¸c chÝnh s¸ch ­u ®·i kh¸c. GhÕ h¹ng F: First class- GhÕ h¹ng nhÊt. GhÕ h¹ng C: Business class- GhÕ h¹ng th­¬ng nh©n. GhÕ h¹ng Y: Economy class- GhÕ h¹ng b×nh d©n. Mét sè tªn thµnh phè theo code ®¨ng kÝ víi IATA: – Trong n­íc: HAN: Hµ Néi, SGN: TP. Hå ChÝ Minh, DAD: §µ N½ng, HUI: HuÕ -Ngoµi n­íc: BKK: B¨ng cèc, HKG: Hång K”ng, PNH: Phn”m-pªnh

Luận Văn Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam / 2023

Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển chung của đất nước, ngành hàng không dân dụng Việt Nam cũng đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Toàn ngành đã không ngừng đổi mới, nâng cấp trang thiết bị nhằm nâng cao chất lượng, phạm vi phục vụ, đóng góp không nhỏ vào ngân sách nhà nước. Việc Tổng công ty hàng không Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ đầu tháng 5/1996 đã đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành hàng không dân dụng Việt Nam. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam-Vietnam Airlines, một trong các thành viên nòng cốt của Tổng công ty hàng không Việt Nam cũng đã liên tục gặt hái được những thành tích cao trong hoạt động kinh doanh. Tính tới thời điểm hiện nay, mạng bay của VNA đã vươn tới 23 điểm trên toàn thế giới và 16 tỉnh thành trong cả nước. Lượng khách vận chuyển không ngừng tăng qua các năm, đạt trên 4 triệu lượt khách vào năm 2002. Tuy nhiên, trong thời gian trước mắt và lâu dài, VNA phải đương đầu với những thách thức ngày càng gay gắt hơn trên con đường phát triển theo hướng công nghiệp hoá, tăng cường hội nhập và cạnh tranh. Là một hãng hàng không non trẻ, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, tiềm lực tài chính nhỏ bé so với các hãng hàng kEông trên thế giới cho nên năng lực cạnh trWnh trên thị trường thế giới của VNA còn nhiều hạn chế. Ngay cả trên thị trường nội địa mà hầu như VNA nắm vị trí độc quyền, thị phần của VNA trên một số đường bay quan trọng cũng đang giảm do phải chịu sự cạnh tranh với Pacific Airlines. Trong bối cảnh đó, việc vận dụng marketing vào hoạt động sản xuất kinh doanh có một vai trò quan trọng trong việc giúp cho VNA có thể đứng vững, phát triển và cạnh tranh thắng lợi. Thực tế cho thấy đóng góp vào thành công của những hãng hàng không lớn trên thế giới hiện nay như American Airlines, Singapore Airlines có rất nhiều yếu tố mà một trong những yếu tố mang tính quyết định đó là họ biết định hướng vào khách hàng, dành nhiều công sức trong việc nghiên cứu nhu cầu của khách hàng và tìm cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Với mong muốn đi sâu tìm hiểu thực tiễn áp dụng marketing tại Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam để từ đó đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động marketing, phù hợp với điều kiện riêng của hãng và phù hợp với bối cảnh chung hiện nay, người viết hi vọng có thể góp một phần nhỏ bé vào trong sự phát triển chung của Hãng. Bài viết gồm có 3 phần: Chương I: Giới thiệu chung về marketing và Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam Chương II: Việc vận dụng marketing vào thực tiễn kinh doanh của Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam Chương III: Một số giải pháp marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam

TÀI LIỆU LUẬN VĂN CÙNG DANH MỤC

TIN KHUYẾN MÃI

Thư viện tài liệu Phong Phú

Hỗ trợ download nhiều Website

Nạp thẻ & Download nhanh

Hỗ trợ nạp thẻ qua Momo & Zalo Pay

Nhận nhiều khuyến mãi

Khi đăng ký & nạp thẻ ngay Hôm Nay

NẠP THẺ NGAY

DANH MỤC TÀI LIỆU LUẬN VĂN

Giải Pháp Nâng Cao Sức Cạnh Tranh Của Hàng Hoá Việt Nam / 2023

1

3

_Đó là chất lượng hàng hoá tốt. Đây là nhân tố quan trọng nhất quyết định khả năng cạnh tranh của hàng hoá. _Đó là giá cả thấp. _Và cuối cùng là thời gian và điều kiện dịch vụ. Tức là hàng hoá đưa ra thị trường đúng thời điểm xã hội cần, bán nhanh, thanh toán nhanh. Sau khi tiêu thụ thì có các dịch vụ tốt:bảo hành, sửa chữa, hướng dẫn tiêu dùng… II. Một số kinh nghiệm của các nước bạn trong vấn đề nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

1. Năng lực cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp: 1.1 .Nhật Bản: Để có nền kinh tế siêu cường như ngày nay, Nhật Bản đã phải trải qua hơn 100 năm phát triển. Trong đó có thể nói thời kì 1955-1973 là thời kì rất đặc biệt. Thời kì này kinh tế mỗi năm tăng trưởng bình quân 10% và thành quả này kéo dài trong thời gian khoảng 20 năm. Các nhà nghiên cứu gọi đây là giai đoạn “thần kì” hoặc “thời đại phát triển cao độ” của Nhật Bản. Nhưng, trước khi bước vào giai đoạn thần kì này, Nhật Bản đứng trước một tình huống quốc tế giống như Việt Nam hiện nay là phải có một chiến lược như thế nào trước trào lưu chung của thế giới là mở cửa, hội nhập vào nền kinh tế thế giới trong khi nền kinh tế nước mình còn non yếu. Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên vào loại nhất thế giới nên ngoại thương có vai trò vô cùng quan trọng cho kinh tế phát triển. Rõ ràng việc gia nhập các tổ chức kinh tế, thương mại thế giới sẽ mang lại cơ hội tiếp cận thị trường thế giới rộng lớn. Song việc đó lại đi kèm theo những nghĩa vụ phải mở cửa thị trường nước mình đối với hàng ngoại và hoạt động đầu tư của các công ty nước ngoài trong khi trình độ phát triển kinh tế của Nhật Bản còn non yếu so với cac nước Âu-Mĩ. Nhưng chỉ có con đường chấp nhận hội nhập, giảm bớt thách thức đồng thời đưa ra các chiến lược phát triển các ngành công nghiệp mà Nhật Bản có tiềm năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chiến lược mở cửa, hội nhập, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Nhật Bản gồm 3 bộ phân không thể tách rời: Thứ nhất, việc mở cửa như thế nào để hàng nhập không cản trở sự phát triển của các ngành công nghiệp trong nước. Thứ hai,việc mở cửa phải kết hợp với chiến lược, chính sách làm sao cho các ngành công nghiệp ngày càng có sức cạnh tranh trong thị trường trong nước và thế giới.

5

Song song với việc trì hoãn tự do hoá tư bản, chính phủ Nhật tích cực khuyến khích, sắp xếp các công ty trong nước tạo thành các công ty lớn, đủ sức cạnh tranh với các công ty xuyên quốc gia sau khi mở cửa thị trường đầu tư ra nước ngoài. b. Xây dựng chiến lược phát triển và tăng sức cạnh tranh của các ngành công nghiệp _Thứ nhất,Nhật Bản đã chon các ngành có lợi thế so sánh động-lợi thế so sánh có được trong tương lai- và đưa ra cơ cấu công nghiệp trung và dài hạn. Đó phải là các ngành có khả năng tăng năng suất lao động nhanh, những ngành mà Nhật Bản có khả năng hấp thu công nghệ nhập khẩu một cách có hiệu quả và là những ngành mà nhu cầu sẽ tăng nhanh khi lợi nhuận tăng. Với lực lượng lao động có kĩ năng cao cùng với nhiều yếu tố khác, Nhật đã chọn hầu hết các ngành công nghiệp nặng và ngành có công nghệ cao. _Thứ hai, Nhật Bản đã đưa ra các chính sách nuôi dưỡng ngành công nghiệp chẳng hạn như ban hành các luật hoặc pháp lệnh cho từng ngành đồng thời có biên pháp trợ giúp về giá và về tín dụng… _Thứ ba, các chính sách, chiến lược công nghiệp được chuẩn bị với sự tham gia rộng rãi của nhiều tầng lớp xã hội, đặc biệt là sự liên kết, hợp tác giữa chính phủ với lãnh đạo các doanh nghiệp và học giả kinh tế. c. Xây dựng chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu hàng công nghiệp gồm 2 phần: Một là, khả năng tổ chức của các công ty tư nhân. Đó là sự hình thành của các tổng công ty thương mại. Các tổng công ty này có các tính chất cơ bản sau: _Tính tổng hợp: kinh doanh nhiều mặt hàng. _Tính đa dạng: kinh danh xuất nhập khẩu, bán buôn trong nước, bán buôn giữa các nước bên ngoài Nhật Bản. _Tính tổ chức: đóng vai trò tích cực trong việc cung cấp vốn, tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ, giới thiệu công nghệ mới, tìm đối tác và đầu tư trực tiếp trong các liên doanh ở nước ngoài. Hai là, chính sách đẩy mạnh xuất khẩu của chính phủ: Trong quá trình phát triển các ngành công nghiệp hướng vào xuất khẩu, vai trò của Chính phủ Nhật rất to lớn. Chính phủ Nhật đã áp dụng : _Chính sách ưu đãi cho các xí nghiệp xuất khẩu, chính sách miễn giảm thuế cho các công ty xuất khẩu. _Thiết lập cơ quan, tổ chức hỗ trợ xuất khẩu. Trong lĩnh vực này, Chính phủ Nhật Bản lập ra chế độ thừa nhận xí nghiệp cống hiến xuất khẩu , lập ra 7

8

_ Trung Quốc đã có rất nhiều biện pháp để hạ giá thành sản phẩm. Đây là những giải pháp “gốc” vì sản phẩm sản xuất ra có giá thành thấp sẽ dễ tiêu thụ trên cả thị trường trong nước và ngoài nước. Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy có thể hạ giá thành sản phẩm cần có các biện pháp: Một là, về mặt sản xuất: +Trung Quốc đã tìm nhiều biện pháp đổi mới công nghệ làm cho năng suất của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước tăng lên, giá thành sản phẩm hạ.Một trong những việc làm tích cực là tìm cách thu hút vốn đầu tư nước ngoài bằng những c hính sách thông thoáng. +Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng rất chú trọng học tập kinh nghiệm tổ chức và quản lý xí nghiệp của nước ngoài bằng cách hang năm cử rất nhiều người ra nước ngoài tham quan học tập đông thời thông qua việc nhận thầu các công trình và cử người đi lao động ở nước ngoài để học tập +Lựa chọn những mặt hàng là thế mạnh của Trung Quốc như hàng công nghiệp nhẹ (đồ chơi, dệt may, hang ngũ kim, hang mây tre…), hàng sử dụng nhiều lao động… là những hàng hoá có tính truyền thống của Trung Quốc, không cần vốn lớn lại dễ đổi mới công nghệ. +Hơn nữa Trung Quốc cũng rất chú trọng khoa học-kĩ thuật, coi trọng chất xám. +Trung Quốc còn đưa ra các biện pháp về đổi mới quan hệ sản xuất. Đó là tách rời chức năng chính quyền và xí nghiệp làm tăng tính tự chủ của doanh nghiệp và hạn chế những tiêu cực, trì trệ nảy sinh từ quan hệ này. Đó là tách quyền sở hữu với những quyền sử dụng càng làm tăng thêm một bước quyền tự chủ, chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Thứ hai, về các chính sách tài chính và tiền tệ: để giảm giá hàng công nghệ phẩm, bên cạnh những biện pháp tác động vào sản xuất, nhà nước Trung Quốc rất chú trọng vào những giải pháp ngoài sản xuất mà tài chính tiền tệ là một công cụ quan trọng.Việc cho phéphình thành giá cả hàng hoá dựa trên cơ sở giá trị, việc từng bước hình thành thị trường vốn, việc tận dụng quan hệ với người Hoa ở nước ngoài để thu hút vốn đầu tư và công nghệ, việc trợ giá hoặc miễn giảm thuế cho hàng xuất khẩu cũng như việc nhà nước Trung Quốc rút được nhiều kinh nghiệm thành công và thất bại trong việc xử lý các vấn đề lạm phát, giá cả trên thị trường…đã đóng góp nhiều vào việc phát triển sản xuất, nâng cao sức cạnh tranh của hàng công nghệ phẩm trung Quốc trên thị trường khu vực và thế giới.

9

_Hơn nữa để nâng cao sức cạnh tranh của công nghiệp, bên cạnh những biện pháp tác động vào sản xuất, Nhà nước Trung Quốc rất chú trọng xử lý hài hoà các mối quan hệ giữa sản xuất với mậu dịch mà trước hết là ngoại thương. +Luôn gắn sản xuất với thị trường, thể hiện dưới hình thức cho xí nghiệp góp vốn với bên ngoài, hoặc cho xí nghiệp được tìm thị trường xuất khẩu trực tiếp để xí nghiệp có thể mở rộng xuất khẩu. +Thực hiện chiến lược mở cửa, xây dựng các đặc khu kinh tế. Các đặc khu này đóng vai trò “cửa sổ”, “phòng thí nghiệm” để quan sát học tập tiến tới hoà nhập với bên ngoài, thu hút vốn, kĩ thuật, thu thập và cung cấp thông tin, mở ra các kênh xuất khẩu. +Trung Quốc rất coi trọng mở rộng thị trường và sử dụng nhiều biện pháp đồng bộ cho việc mở rộng thị trường.Bên cạnh các điểm nêu trên, nhà nước trung Quốc còn sử dụng nhiều giải pháp khác như: tăng quyền hạn cho các doanh nghiệp chuyên là kinh tế đối ngoại đồng thời với việc xoá bỏ độc quyền ngoại thương của các công ty ngoại thương, để cho các công ty này được xuất nhạp khẩu trực tiếp và làm đại lý cho các xí nghiệp, tăng cường mở rộng. +Nhà nước trung Quốc mở rộng quan hệ đối ngoại để tạo ra môi trường nhằm mở rộng thị trường.Kinh nghiệm sử dụng sự gắn kết giữa chính trị với kinh tế hơn ở đâu hết được Trung Quốc sử dụng một cách nhạy bén từ khi triển khai công cuộc đổi mới và thực tế đã mang lại hiệu quả to lớn. Có thể nói xét từng trường hợp cụ thể, các kinh nghiệm trên không mới, nhưng vấn đề là ở chỗ toàn bộ các kinh nghiệm đó đã được sử dụng đồng bộ, hài hoà với liều lượng vừa đủ nên đã tạo ra thành công vượt bậc cho trung Quốc như vậy. 2. Năng lực cạnh trang của các sản phẩm nông nghiệp: Qua nghiên cứu sản xuất và xuất khẩu nông nghiệp ở một số nước như Mĩ, Trung Quốc, Malaixia, Thái chúng tôi thấy, chính phủ các nước này rất quan tâm tới việc phát triển các ngành nông sản xuất khẩu. Đặc biệt nhiều nước xây dựng những chiến lược riêng đối với từng ngành có lợi thế so sánh để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả. Các nước này trong quá trình phát triển nông nghiệp nói chung và xây dựng các ngành nông sản xuất khẩu nói riêng đều xuất phát từ các lợi thế vốn có và biết tạo ra các lợi thế mới trên cơ sở đổi mới chính sách, khoa học-công

10

nghệ, vốn đầu tư và thị trường. Từ thực tiễn của một số nước chúng ta có thể rút ra một số nhận xét có tính chất kinh nghiệm như sau: Thành công của các nước trước hết là ở chỗ đã xác định đúng vị trí đặc biệt quan trọng của nông nghiệp và tập trung nỗ lực cho phát triển nông nghiệp để tạo đà và đổi mới cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu là chủ yếu. Đặc biệt các nước chú trọng phát huy các lợi thế so sánh thực hiện chiến lược sản phẩm, tạo vùng và quy hoạch đầu tư đồng bộ cho các vùng sản xuất chuyên canh tập trung sản xuất hàng hoá. Đổi mới công nghệ nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ giá thành, phản ứng nhanh nhẹn trước yêu cầu và thị hiếu của thị trường về hình thức, chất lượng của hàng hoá nhằm nâng cao lợi thế trong cạnh tranh.Tăng cường đổi mới hệ thống tiếp thị, phát triển các kênh sản xuất-tiêu thụ-xuất khẩu, coi trọng chữ tín để mở rộng và tạo lập thị trường mới. Đồng thời rất chú ý công tác đào tạo. Đây là một trong những nhân tố quyết định thành công và ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh kinh tế tri thức đang ảnh hưởng sâu rộng tới mọi hoạt động của nền kinh tế xã hội. Còn nhà nước sử dụng các chính sách kinh tế vĩ mô để can thiệp gián tiếp và điều tiết sản xuất nông nghiệp có hiệu quả, tuỳ thuộc từng giai đoạn sẽ có những chính sách và giải pháp đồng bộ để đạt mục tiêu đã đề ra. III. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam:

1. Trước khi gia nhập WTO 1.1. Thành tựu: Sau 20 năm tích cực đổi mới một cách toàn diện, triệt để (1986-2006), kinh tế Việt Nam đã đạt được những thay đổi đáng kể. Từ một nước nghèo đói, bị chiến tranh tàn phá, giờ đây Việt Nam đã lột xác trở thành một bạn hàng đầy tiềm năng và đáng tin cậy với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong những năm qua chúng ta đã đạt được các điểm sáng ấn tượng. Xin lấy một ví dụ năm 2005: Một trong những điểm sáng ấn tượng mang tính nhạy cảm trong trào lưu hội nhập, có thể đơn cử từ thực tế công tác xuất khẩu năm 2005. Kim ngạch cả năm ước đạt 32,233 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm 2004. Kim ngạch của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 57% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy xuất khẩu của cả nước. Tổng kim ngạch năm 2005 bằng l04,9% chỉ tiêu kế hoạch của Chính phủ đặt ra từ đầu năm (30,7 tỷ USD). 11

Lượng xuất khẩu và giá xuất khẩu của hàng hóa xuất khẩu đều tăng ở mức trên dưới 9 và l l%, lần lượt đóng góp 42% và 58% vào giá trị gần 5,5 tỷ USD tăng trong năm nay so với năm 2004. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu đều đạt tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao. Đặc biệt, một số mặt hàng đạt tốc độ tăng kim ngạch ấn tượng như gạo (+49%) (l), rau quả (+36,1%), cao su (+25,2%), dầu thô (+35%), than đá (+80,6%), hàng điện tử, linh kiện máy tính (+36,4%), sản phẩm gỗ (+43, 1%), dây cáp điện (+33, l%). Thị trường xuất khẩu tăng trên tất cả các khu vực trên thế giới trong năm 2005. Trong đó, thị trường Châu Phi có tốc độ tăng cao nhất (+84%), Châu Đại Dương có tốc độ tăng cao thứ hai (+53%), thị trường Châu Mỹ tăng gần 22%, Châu á tăng 2l ,6% (riêng khu vực ASEAN tăng 39,3%), Châu Âu tăng 6,7% (EU tăng 8,1%). Xuất khẩu dịch vụ tiếp tục có những thành công: năm 2005 ước đạt 4 tỷ USD, tăng l4,7% so với năm 2004. Doanh thu từ hoạt động du 1ịch ngày càng tăng (Năm 2005, cả nước đón 3,5 triệu lượt khách quốc tế, tăng khoảng 20% so với năm 2004). Nhiều loài hình dịch vụ khác mang lại ngoại tệ, bổ sung tích cực vào hoạt động xuất khẩu dịch vụ của cả nước như vận tải hàng hoá tăng, viễn thông quốc tế tăng mạnh so với năm 2004. Xuất khẩu dịch vụ năm 2005 đạt 4 tỷ USD. Kim ngạch xuất khẩu cả thời kỳ 5 năm dự kiến đạt trên 21 tỷ USD, tốc độ tăng bình quân l5,7%/năm, bằng khoảng l9% kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, xấp xỉ mức bình quân của thế giới (thế giới là 20%). Kết quả xuất khẩu năm 2005 đã góp phần nâng tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 110,6 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm đạt 17,4%, cao hơn so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 2001-2010 là 1,3%. Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người năm 2005 dự kiến đạt 390 USD/người. Quy mô xuất khẩu 5 năm 2001-2005 gấp hơn hai lần so với 5 năm 1996-2000 (đạt 51,824 tỷ USD). Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao là nhân tố quan trọng góp phần vào kết quả tăng trưởng GDP 8,7% của cả nước. Một số mặt hàng đã vượt qua những thách thức trong và ngoài nước cũng như biến động bất lợi trên thị trường thế giới tiếp tục tốc độ tăng cao (giày dép tăng trên 7%, thủy sản tăng trên 14%). Riêng mặt hàng may mặc, mặc dù phải chịu sức ép cạnh tranh rất lớn trên thị trường thế giới do việc bãi bỏ hạn ngạch dệt may đối với các thành viên WTO nhưng xuất khẩu mặt hàng này đã vượt qua những tháng đầu năm khó khăn, về đích với tốc độ tăng khoảng 10% so với năm 2004. Nếu so với các đối thủ cạnh tranh thì đây là một thành tích đáng nể vì xuất 12

khẩu hàng may mặc của nhiều nước đã giảm so với năng 2004 do ảnh hưởng của việc bãi bỏ hạn ngạch này. Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục đạt được những tiến bộ: tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định. Chất lượng hàng xuất khẩu từng bước được nâng lên; năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu được cải thiện, thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng được các đơn hàng lớn, đồng thời hàng hóa Việt Nam đã vươn tới nhiều thị trường mới. Trong tổng số 20 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam năm 2005, ngoài dầu thô có kim ngạch xuất khẩu trên 7 tỷ USD còn có thêm 6 mặt hàng khác có kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD là dệt may, thủy sản, giày dép, hàng điện tử, linh kiện máy tính, sản phẩm gỗ và gạo. Với cơ cấu này, chúng ta đã bước đầu thực hiện được mục tiêu cải tiến cơ cấu xuất khẩu theo hướng tăng các mặt hàng chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lượng lớn và thị trường tương đối ổn định, chất lượng hàng xuất khẩu từng bước được nâng lên; năng lực cạnh tranh được cải thiện. Các mặt hàng gạo, cà phê tiếp tục duy trì thứ 2 trên thế giới, hạt tiêu đứng đầu thế giới, hạt điều đứng thứ 3 thế giới… 1.2. Hạn chế: Những kết quả đạt được trong thời gian qua là rất lớn, rất ý nghĩa, chúng ta có quyền tự hào; nhưng thách thức cũng không nhỏ và còn đang ở phía trước! Cần phải thừa nhận môt điều, cạnh tranh ở nước ta vẫn còn những điều bất cập, in dấu vết của cơ chế cũ. _Thứ nhất, cạnh tranh trong nền kinh tế nước ta còn ở trình độ thấp, tiềm ẩn nhiều nhân tố không lành mạnh, chưa phù hợp với quy luật kinh tế khách quan như: cạnh tranh về chất lượng hàng hoá còn hạn chế, tệ hàng giả, cạnh tranh theo kiểu “chụp giật”, “đánh quả” đang là phổ biến. Chính vì còn tồn tại nhiều doanh nghiệp vẫn đứng ngoài các quy định kinh tế của nhà nước ta và thế giới nên trên thị trường người tiêu dùng trong và ngoài nước rất bát mãn. Đó chính là thực trạng hàng hoá lưu thông tràn lan trên thị trường. Tình trạng hàng giả ngày càng mở rộng về quy mô và địa bàn hoạt động, đa dạng về chủng loại với những thủ đoạn, kĩ thuật làm tinh vi, phức tạp đã gây ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến lợi ích, thậm chí đến tính mạng của người tiêu dùng. Nghiên cứu sự “sôi động” của “thị trường hàng giả” ta có thể nhận 13

diện các thủ đoạn làm hàng giả như sau: hàng nội giả hàng ngoại, hàng nội giả hàng nội, hàng ngoại giả hàng ngoại, hàng ngoại giả hàng nội. Một trong những vấn đề gần đây đang nổi cộm đó là việc tôm xuất khẩu của Việt Nam có vấn đề: Trong thời gian gần đây, phía Nhật Bản liên tục phát hiện nhiều lô hàng tôm của Việt Nam nhiễm dư lượng các chất kháng sinh bị cấm bất chấp những cảnh báo đỏ đã được nước này phát ra. Tỉ lệ vi phạm thậm chí đã vượt ngưỡng cho phép các cơ quan chức năng của Nhật Bản xem xét tiến tới ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm của Việt Nam. Nguy cơ mất thị trường Nhật Bản là có thật. Tình hình nghiêm trọng đến mức Thủ tướng chính phủ mới đây đã phải yêu cầu Bộ Thủy sản và Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) tăng cường chỉ đạo quản lý chất lượng thủy sản xuất khẩu, cương quyết không để tái diễn tình trạng vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm.Tỉ lệ vi phạm Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm Nhật Bản của sản phẩm tôm Việt Nam tiếp tục gia tăng trong tháng 12 và tháng 1/2007, dù đến cuối tháng 11/2006, tỉ lệ này đã ở mức 6,7%. Trong khi đó, nếu phát hiện tỉ lệ vi phạm ở mức 5%, tức là 3 lô trong tổng số 60 lô hàng liên tục được kiểm tra, cơ quan chức năng nước Nhật Bản đã có thể xem xét ban hành lệnh cấm nhập khẩu đối với toàn bộ nhóm hàng bị nhiễm kháng sinh từ nước xuất khẩu, dù 60 lô hàng được kiểm tra đó chỉ xuất phát từ một hoặc một vài doanh nghiệp. Hơn 30 doanh nghiệp vi phạm Luật Vệ sinh an toàn thực phẩm của Nhật Bản, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, đã ảnh hưởng tiêu cực tới việc xuất khẩu tôm của hơn 300 doanh nghiệp khác. Mặc dù chưa cấm nhập khẩu hoàn toàn, nhưng từ cuối tháng 10/2006, phía Nhật đã ra lệnh kiểm tra 100% đối với tất cả sản phẩm tôm có xuất xứ từ Việt Nam. Quyết định này khiến các doanh nghiệp “làm ăn nghiêm chỉnh” bị “vạ lây”. Ông Trần Thiện Hải, Giám đốc Công ty Cổ phần thuỷ sản Minh Hải, Chủ tịch Uỷ ban tôm cho biết: “Lượng hàng hoá mà các khách hàng mua của chúng ta phải nằm chờ ở các kho hải quan của Nhật Bản để chờ nhập hàng vào. Trước đây, có khi chỉ 3 ngày là thông quan, hiện nay lên tới 3 tuần lễ, thậm chí lên tới một tháng mới lấy được lô hàng vào. Việc đó làm cho chi phí ở cảng tăng lên rất lớn. Do vậy, các doanh nghiệp Nhật Bản có thể mua hàng thay thế của các quốc gia khác, không mua từ Việt Nam nữa”. ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc Công ty cổ phần thuỷ sản Minh Phú nói: “Tốc độ nhận hàng của phía Nhật giảm đi thì 14

cung sẽ vượt cầu. Cung vượt cầu ảnh hưởng đến giá. Chính ra vào thời điểm trái vụ như thế này, giá tôm phải lên, nhưng trên thực tế nó không lên được, vẫn ở mức bình thường”. Nhiều cuộc họp tìm giải pháp cải thiện tình hình đã được Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) tiến hành. Tuy nhiên, hầu hết các doanh nghiệp đã vi phạm lại không nằm trong hiệp hội. Vì thế, giải pháp toàn diện được trông chờ chính là việc thực thi quyết định của Bộ Thuỷ sản về việc đăng kí xuất khẩu và kiểm tra dư lượng hóa chất, dư lượng kháng sinh cấm trong hàng thủy sản xuất khẩu vào Nhật Bản. Ông Trương Đình Hoè, Phó Tổng thư kí Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) cho biết: “Đối với doanh nghiệp chưa có sản phẩm bị phát hiện nhiễm, họ phải đăng kí với cơ quan có thẩm quyền là cơ sở của mình phải đạt tiêu chuẩn xuất khẩu sang Nhật. Đó là một giải pháp về nhận thức trong vấn đề kháng sinh. Còn các doanh nghiệp đã có trong danh sách có lô hàng bị nhiễm, phải tuân thủ theo yêu cầu kiểm 100%, tức là kiểm bắt buộc trước khi xuất sang Nhật”. Quy định của Bộ Thuỷ sản có hiệu lực từ 20/12/2006, nhưng theo VASEP, ngay trong nửa đầu tháng 1/2007, đã lại có thêm 2 doanh nghiệp Việt Nam bị phát hiện xuất hàng có dư lượng kháng sinh cấm sang Nhật Bản. Cảnh báo, kiểm tra 50%, rồi 100% không mang lại hiệu quả, Bộ Y tế, Lao động và Phúc lợi Nhật Bản đã thông báo sẽ xem xét việc áp dụng lệnh cấm nhập khẩu đối với sản phẩm tôm của Việt Nam. Đến lúc đó, con tôm Việt Nam có “mọc cánh” cũng không bay được vào thị trường Nhật Bản. Qua những thực trạng như trên, các doanh nghiệp Việt Nam thật sự cần sự thay đổi rất lớn để tránh hiện tượng “con sâu làm rầu nồi canh” làm ảnh hưởng đến đất nước và các doanh nghiệp khác. _Thứ hai, bên cạnh đó, môi trường cạnh tranh hiện nay chưa thông thoáng, thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh. Môi trường cạnh tranh được hiểu là những yếu tố, những mối liên hệ nằm ngoài khả năng kiểm soát của các chủ thể cạnh tranh như: chính trị, luật pháp, các chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước, dân tộc, tập quán, nghiên cứu điều kiện tự nhiên…Trong đó luật pháp và các chinh sách quản lý vĩ mô cụ thể của nhà nước có ý nghĩa quan trọng đến quá trình cạnh tranh của các chủ thể kinh tế. Nhưng chính sách quản lý vĩ mô của nhà nước trong nhiều trường hợp tỏ ra còn bất cập, thậm chí gây cản trở các hoạt động của các chủ thể sản xuất kinh doanh. 15

Đó là tình trạng có quá nhiều cửa trong quá trình thẩm định, xét hồ sơ thành lập doanh nghiệp và có quá nhiều giấy phép cần phải có để doanh nghiệp hoạt động được xem là hợp pháp. Đó là tình trạng một sân chơi gập ghềnh, một luật chơi bất bình đẳng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh trong quá trình cạnh tranh… Những bài học thành công và hạn chế của sau 20 năm đổi mới chính là những bài học kinh nghiệm sâu sắc nhất cho Việt Nam phát huy năng lực cạnh tranh cho hàng hoá nước ta khi gia nhập WTO. 2. Sau khi gia nhập WTO Cuối năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO chính là một cơ hội cho các doanh nghiệp nước ta Tính đến nay Việt Nam mới gia nhập WTO chưa đầy nửa năm- một khảng thời gian quá ngắn để xác định những thành công và thất bại của Việt Nam. Do vậy chúng ta chỉ đề cập đến cơ may và thách thức của Việt Nam khi gia nhập WTO 2.1. Trước hết xin đề cập đến những nguyên tắc nền tảng của WTO:  Thương mại không phân biệt đối xử: gồm 2 quy chế _Quy chế tối huệ quốc: các thành viên của WTO phải đối xử bình đẳng với các thành viên khác +Mỗi thành viên phải đối xử với các thành viên khác 1 cách công bằng như nhưng đối tác thương mại “ưu tiên nhất”. +Nếu một nước dành cho một đối tác thương mại của mình một số ưu đãi thì nước đó phải đối xử tương tự như vậy với tất cả các thành viên khác của WTO. Không cho phép bất kì quốc gia thành viên nào có những ưu đãi mang tính biệt lệ cho một hoặc một vài đối tác của mình.Bởi lẽ điều đó sẽ phá vỡ tính thống nhất của tổ chức, tạo ra cạnh tranh không bình đẳng trên thương trường _Đãi ngộ quốc gia: phải đối xử đẳng với sản phẩm nước ngoài và sản phẩm nội địa. Các quốc gia thành viên không được ban hành những chính sách thương mại nội địa nhằm hạn chế việc tiêu thụ hàng nhập khẩu trên thị trường trong nước của quốc gia đó  Tự do hoá thương mại từng bước và bằng con đường đàn phán  Dễ dự đoán nhờ ràng buộc cam kết cùng chính sách minh bạch  Thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng 16

WTO chấp nhận cạnh tranh nhưng đó phải là cạnh tranh bình đẳng. Các hiệp định về từng lĩnh vực có quy định rõ sự khác nhau giữa cạnh tranh bình đẳng với thể chế mậu dịch tự do hoàn toàn và quy định rõ thế nào là bình đẳng và thế nào là không bình đẳng. Nguyên tắc không phân biệt đối xử, quy định về chống bán phá giá, chống trợ cấp… nhằm đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. WTO cho phép áp dụng các biện pháp trả đũa với những cạnh tranh không bình đẳng để bảo đảm thúc đẩy cạnh tranh bình đẳng.  Khuyến khích phát triển và cải cách kinh tế 2.2. Cơ may *Thương mại: Thương mại là động lực của sự phát triển kinh tế và thị trường. Trong khi đó WTO, với tư cách là một tổ chức quốc tế đã và đang quản lý, kiểm soát và tạo ra thị trường cho sự phát triển của thương mại toàn cầu. Vì vậy, khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận với thương mại thế giới trong vị thế được đối xử bình đẳng với các quốc gia là thành viên của tổ chức này. Việt Nam sẽ được hưởng các ưu đãi trong thương mại hàng hoá, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên giành cho nhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (MFN), Chế độ Đãi ngộ quốc gia (NT), và sẽ ngày càng nâng cao thế và lực trong thương mại quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam sẽ được thừa hưởng nhiều thành tựu của các vòng đàm phán đa phương về thuế quan của các tổ chức tiền thân WTO là thỏa ước thuế quan và mậu dịch. Thị trường xuất khẩu sẽ ngày càng được ổn định do có nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường. Chúng ta có thể dự báo được thị trường cho hàng xuất khẩu dài hạn trong tương lai và tạo ra mối quan hệ thương mại chắc chắn hơn, góp phần tạo thuận lợi cho việc hoạch định các chính sách về đầu tư và phát triển sản xuất công – nông nghiệp, giảm thiểu những rủi ro trong thương mại quốc tế. *Người tiêu dùng hưởng lợi nhiều hơn khi cạnh tranh tự do và bình đẳng: Việc gia nhập WTO hỗ trợ việc gia tăng cạnh tranh trong mọi ngành kinh tế. Người tiêu dùng Việt Nam sẽ là những người hưởng lợi trực tiếp khi cạnh tranh mang lại nhiều sự lựa chọn hơn, giá cả thấp hơn và chất lượng cao hơn. Nền kinh tế Việt Nam sẽ có lợi từ sự phát triển của ngành dịch vụ – bảo hiểm, tài chính, phân phối – mà các công ty nước ngoài muốn đưa vào Việt Nam sau khi nước này gia nhập WTO. Cạnh tranh trong lĩnh vực này sẽ kích thích

17

ích cho Việt Nam. Nếu Việt Nam tiếp tục theo đuổi công cuộc cải cách toàn diện nền kinh tế theo đúng tinh thần WTO và tận dụng tốt những cơ hội mà việc gia nhập WTO mang lại thì vốn đầu tư nước ngoài sẽ đổ vào nhiều hơn, khả năng thâm nhập thị trường nước ngoài cũng tăng lên và chúng ta sẽ được chứng kiến những bước chưa từng thấy ở Việt Nam. *Tranh chấp quốc tế Khi đã là thành viên của WTO, các tranh chấp về thương mại của Việt Nam sẽ được giải quyết dựa trên những điều luật của tổ chức này. Cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO thông thoáng, ít tốn thời gian, trên cơ sở tự động và có tính ràng buộc. Việt Nam có thể tranh thủ cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại đa biên để giải quyết một cách công bằng hơn các vấn đề nảy sinh trong quan hệ kinh tế thương mại với các nước khác, đặc biệt là với các cường quốc thương mại do cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương không cho phép các nước phát triển áp đặt luật của mình trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế. Các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ có lợi từ sự đảm bảo chắc chắn là các đối tác thương mại của họ buộc phải tuân thủ các quy tắc của WTO. 2.3. Thách thức Bên cạnh những cơ hội cho kinh tế Việt Nam tất yếu còn tồn tại những thách thức mà nếu chúng ta không giải quyết được, chắc chắn nền kinh tế sẽ tụt hậu nhanh chóng. Các thách thức đó là: _Một là: Cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt hơn, với nhiều “đối thủ” hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. _Hai là: Trên thế giới sự “phân phối” lợi ích của toàn cầu hoá là không đồng đều. Những nước có nền kinh tế phát triển thấp được hưởng lợi ít hơn. Ở mỗi quốc gia, sự “phân phối” lợi ích cũng không đồng đều. Một bộ phận dân cư được hưởng lợi ít hơn, thậm chí còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hoá; nguy cơ phá sản một bộ phận doanh nghiệp và nguy cơ thất nghiệp sẽ tăng lên, phân hoá giàu nghèo sẽ mạnh hơn. Điều đó đòi hỏi phải có chính sách phúc lợi và an sinh xã hội đúng đắn; phải quán triệt và thực hiện thật tốt chủ trương của Đảng: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi với xoá đói, giảm nghèo, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển”. _Ba là: Hội nhập kinh tế quốc tế trong một thế giới toàn cầu hoá, tính tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nước sẽ tăng lên. Trong điều kiện tiềm lực đất nước

19

có hạn, hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, kinh nghiệm vận hành nền kinh tế thị trường chưa nhiều thì đây là khó khăn không nhỏ. _Bốn là: Hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra những vấn đề mới trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của dân tộc, chống lại lối sống thực dụng, chạy theo đồng tiền. Thủ tướng đã nêu rõ: Gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, hội nhập kinh tế quốc tế vừa có cơ hội lớn, vừa phải đối đầu với thách thức không nhỏ. Cơ hội tự nó không biến thành lực lượng vật chất trên thị trường mà tuỳ thuộc vào khả năng tận dụng cơ hội của chúng ta. Thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng tác động của nó đến đâu còn tuỳ thuộc vào nỗ lực vươn lên của chúng ta. Cơ hội và thách thức không phải “nhất thành bất biến” mà luôn vận động, chuyển hoá và thách thức đối với ngành này có thể là cơ hội cho ngành khác phát triển. Tận dụng được cơ hội sẽ tạo ra thế và lực mới để vượt qua và đẩy lùi thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại, không tận dụng được cơ hội, thách thức sẽ lấn át, cơ hội sẽ mất đi, thách thức sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục. Ở đây, nhân tố chủ quan, nội lực của đất nước, tinh thần tự lực tự cường của toàn dân tộc là quyết định nhất. Thủ tướng cũng bảy tỏ tin tưởng: “Với thành tựu to lớn sau 20 năm Đổi mới, quá trình chuyển biến tích cực trong cạnh tranh và hội nhập kinh tế những năm vừa qua, cùng với kinh nghiệm và kết quả của nhiều nước đã gia nhập WTO, cho chúng ta niềm tin vững chắc rằng: Chúng ta hoàn toàn có thể tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức. Có thể có một số doanh nghiệp khó khăn, thậm chí lâm vào cảnh phá sản nhưng phần lớn các doanh nghiệp sẽ trụ vững và vươn lên, nhiều doanh nghiệp mới sẽ tham gia thị trường và toàn bộ nền kinh tế sẽ phát triển theo mục tiêu và định hướng của chúng ta”. IV. Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam

1. Xây dựng chiến lược phát triển và chiến lược cạnh tranh tích cực: Đất nước bước vào thời kì mới, chúng ta đã xây dựng Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001-2010 là “…đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2002 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Quan điểm cơ bản của chiến lược trong thời kì này là phải bảo đảm phát triển nhanh hiệu quả và bền vững, phải đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế trên cơ sở đổi mới công nghệ, đổi mới quản lý, chuyển dịch và nâng cấp cơ cấu kinh tế. Đây chính là bước đầu tiến tới nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Song như thế chưa đủ, mà cần phải có một chiến lược 20

Một Số Giải Pháp Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa Việt Nam Trong Bối Cảnh Hội Nhập Quốc Tế / 2023

Doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện chiếm trên 95% tổng số doanh nghiệp Việt Nam và có đóng góp lớn cho nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những doanh nghiệp này đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, hạn chế trong cạnh tranh, nên rất cần có những giải pháp để họ đóng góp tốt hơn cho sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước.

Theo Hiệp hội DNNVV, trong năm 2011 những khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng đã đẩy khoảng 20% DNNVV vào tình trạng khó có thể tiếp tục hoạt động (đứng trên bờ vực phá sản). Ngoài nhóm này, 60% DNNVV đang chịu tác động của khó khăn kinh tế nên sản xuất sút kém hoặc bị đình trệ (chi phí sản xuất tăng cao do tác động của lạm phát, giá thành sản phẩm tăng không cạnh tranh được, nên bị mất thị phần, gia tăng lượng hàng tồn kho, doanh thu và lợi nhuận đều sụt giảm không đủ vốn để duy trì sản xuất). Chỉ có 20% DNNVV còn lại là ít bị ảnh hưởng và có thể trụ vững được (do ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay và được các lãnh đạo có kinh nghiệm dẫn dắt).

Thứ tư, hạn chế trong tiếp cận nguồn nguyên vật liệu giá cạnh tranh và chưa có thương hiệu doanh nghiệp. Đa số các doanh nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào. Công nghiệp chế tạo vẫn chủ yếu là gia công lắp ráp. Nhiều sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm có sự tăng trưởng cao (hàng da giày, dệt may, chế biến thực phẩm, ô-tô, xe máy) đều phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu và bán thành phẩm nhập khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó, giá cả các loại nguyên vật liệu này trên thế giới tăng cao thời gian qua, làm cho nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu khá cao, chiếm hơn 60% giá thành sản phẩm. Đối với các DNNVV tình hình còn xấu hơn, do các doanh nghiệp này quy mô nhỏ, vị thế yếu, nếu không có hình thức liên kết hợp tác thích hợp để mua nguyên vật liệu thì sẽ luôn ở thế bất lợi trong đàm phán về giá cả.

Thứ năm, chất lượng lao động thấp. Thách thức rất lớn của DNNVV là chất lượng nhân lực thấp. Đội ngũ chủ doanh nghiệp, cán bộ quản lý doanh nghiệp rất thiếu kiến thức quản trị và kỹ năng, kinh nghiệm quản lý. Có thể nói, đa số các chủ doanh nghiệp và giám đốc doanh nghiệp tư nhân chưa được đào tạo một cách bài bản về kiến thức kinh doanh, quản lý, kinh tế – xã hội, văn hóa, luật pháp… và kỹ năng quản trị kinh doanh, nhất là kỹ năng kinh doanh trong điều kiện hội nhập quốc tế. Điều đó thể hiện rõ trong việc nhiều doanh nghiệp chưa chấp hành tốt các quy định về thuế, quản lý nhân sự, quản lý tài chính, chất lượng hàng hóa, sở hữu công nghiệp, trong khi hầu hết lao động trong các DNNVV lại chưa qua đào tạo và thường kiêm nhiệm nhiều công việc khác nhau.

Giải pháp chủ yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là khi Việt Nam đã là thành viên của WTO và đang tham gia mạnh mẽ tiến trình khu vực, tiến tới việc hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, cùng nhiều hiệp định tự do thương mại khác, việc nâng cao năng lực cạnh tranh trở thành vấn đề sống còn của các doanh nghiệp nói chung, đặc biệt là DNNVV.

Có thể khẳng định, chìa khóa để nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV Việt Nam vẫn nằm trong tay Nhà nước. Chính vì vậy, rất cần Nhà nước có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đồng bộ và hiệu quả cho các doanh nghiệp này.

Trước hết, hỗ trợ về vốn và tiếp cận tín dụng cho DNNVV. Để các DNNVV dễ dàng hơn trong tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, cần có sự hài hòa lợi ích của 3 nhân tố là tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và cơ chế, chính sách của Nhà nước. Các ngân hàng cần đổi mới cơ chế, chính sách tín dụng theo nguyên tắc thị trường; cải tiến thủ tục cho vay đối với DNNVV theo hướng đơn giản, rõ ràng hơn nhằm rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay. Bên cạnh đó, DNNVV cần thực hiện minh bạch hóa, bài bản hóa hệ thống sổ sách kế toán tạo thuận tiện cho ngân hàng trong việc theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó nhanh chóng đưa ra quyết định cho vay vốn. Về phía địa phương, chính quyền cũng cần chủ động thành lập các tổ chức, các quỹ hỗ trợ vốn, quỹ bảo lãnh tín dụng… tạo thêm nhiều cơ hội cho các DNVVN tiếp cận nguồn vốn.

Thứ hai, hỗ trợ về tăng cường năng lực khoa học – công nghệ cho DNNVV. Tăng cường sự hỗ trợ của Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước về vốn, cơ chế, chính sách, luật pháp, xúc tiến thương mại, giáo dục – đào tạo, tư vấn về thiết bị, công nghệ hiện đại… cho các doanh nghiệp. Chính sách của Nhà nước cần tạo ra được các thể chế phù hợp, phát triển thị trường khoa học – công nghệ. Đồng thời, tăng cường hơn nữa vai trò của các hiệp hội, các hội, câu lạc bộ giám đốc và những tổ chức chuyên môn, nghiệp vụ đối với sự phát triển của các doanh nghiệp.

Thứ ba, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi tối đa cho các DNNVV tham gia sản xuất, kinh doanh. Điều chỉnh hành vi, thái độ của cơ quan công quyền, khắc phục tình trạng phân biệt đối xử với DNNVV. Đơn giản hóa, minh bạch và công khai thủ tục hành chính. Ban hành và triển khai sâu sát, đồng bộ các chính sách hỗ trợ DNNVV.

Thứ tư, hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho DNNVV. Thực hiện cải cách sâu rộng hệ thống giáo dục – đào tạo quốc gia, hỗ trợ đào tạo, trang bị học vấn ở trình độ cử nhân và những tri thức cơ bản về kinh tế – xã hội, văn hóa, pháp luật… cho các chủ doanh nghiệp, giám đốc, cán bộ quản lý doanh nghiệp và người lao động. Tăng cường năng lực đào tạo và thực hành nghề cho người lao động. Có chính sách động viên, khuyến khích các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và quỹ khuyến học khác tham gia đào tạo lao động cho DNNVV.

Thứ năm, Nhà nước tạo môi trường khuyến khích, hỗ trợ hình thành và phát triển các liên kết doanh nghiệp. Nhà nước khuyến khích việc tăng cường liên kết, hợp tác theo chiều dọc và chiều ngang; xác lập quan hệ bạn hàng và quan hệ đối tác chiến lược nhằm phát triển xuất khẩu về lâu dài. Doanh nghiệp của nước ta quy mô nhỏ, vốn ít nên càng cần phải tăng cường liên kết và hợp tác. Điều quan trọng là năng lực và bản lĩnh của người quản trị doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp cần có những người quản trị doanh nghiệp có bản lĩnh và năng lực thực sự, dám mạo hiểm để bảo đảm hiệu quả kinh doanh, từ đó mới tăng được khả năng tích tụ vốn và huy động vốn trên thị trường chứng khoán… Việc kiện toàn tổ chức và cơ chế hoạt động của các hiệp hội ngành hàng, bảo đảm hiệp hội thực sự là cầu nối giữa doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước, cùng với việc hỗ trợ có hiệu quả cho doanh nghiệp trong phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, đào tạo nguồn nhân lực cũng là cần thiết.

Về phía các DNNVV, một khi được Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, cần nắm bắt cơ hội để tăng cường năng lực cạnh tranh, không những vì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp mà còn góp phần củng cố và nâng cao sức cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế để tăng cường năng lực hội nhập, phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Cụ thể:

Một là, tăng cường năng lực của chủ doanh nghiệp, giám đốc và cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp về quản trị kinh doanh, quản trị chiến lược. Trong mọi điều kiện, doanh nhân cần thường xuyên cập nhật tri thức mới, những kỹ năng cần thiết (kỹ năng quản trị trong cạnh tranh, lãnh đạo doanh nghiệp, quản lý sự biến đổi, khả năng thuyết trình, đàm phán và giao tiếp v.v..) để có đủ sức cạnh tranh trên thị trường và tiếp cận kinh tế tri thức. Đặc biệt chú trọng đến chiến lược cạnh tranh và những kỹ năng mang tính chiến lược, như quản trị chiến lược, quản trị rủi ro, tính nhạy cảm trong quản lý, phân tích kinh doanh, dự báo và định hướng chiến lược phát triển.

Hai là, chủ động và tích cực thực hiện liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp Việt Nam để nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh trên thị trường. Sự liên kết và hợp tác doanh nghiệp cần được thực hiện thông qua các biện pháp và hình thức phù hợp. Điều quan trọng nhất là giải quyết hài hòa lợi ích của các bên tham gia liên kết, chỉ như vậy mới thực sự phát huy hiệu quả của liên kết hợp tác, tạo ra sức mạnh tổng hợp của toàn bộ doanh nghiệp trong nền kinh tế nhằm cải thiện năng lực cạnh tranh quốc gia và hiệu quả hội nhập quốc tế.

Ba là, đẩy mạnh xây dựng văn hóa doanh nghiệp, tạo môi trường văn hóa lành mạnh, tích cực, chuyên nghiệp luôn là động lực thúc đẩy sức sáng tạo và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp.

Bốn là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất, kinh doanh, tham gia chuỗi kinh doanh toàn cầu với việc đa dạng hóa các sản phẩm chất lượng cao, dịch vụ chất lượng quốc tế. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu phát triển doanh nghiệp theo hướng trang bị những tri thức, kỹ năng mới về chuyên môn kỹ thuật, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ, năng lực xử lý và tác nghiệp các tình huống kinh doanh… phù hợp với các chuẩn mực giáo dục, đào tạo của khu vực và quốc tế./.

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Marketing Nhằm Nâng Cao Năng Lực Cạnh Tranh Của Hãng Hàng Không Quốc Gia Việt Nam / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!