Xem Nhiều 2/2023 #️ Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc # Top 6 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG MÔN NGỮ VĂN

GV: Vũ Xuân Đông

Tuy nhiên học V ăn là cả một quá trình tích luỹ lâu dài, không thể học xổi , h ọc dồn mà phải cập nhật từng ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm .

Đây cũng là đ ề tài đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên đã thực hiện song đó cũng là các đề tài có tính chất chung cho việc dạy học môn Ngữ Văn . Qua kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học , qua việc tìm hiểu thực tế ở dạy – học môn Ngữ Văn ở trường sở tại, chúng tôi mạnh dạn đề ra một số giải pháp nh ằ m nâng cao chất lượng dạy học môn Ngữ Văn .

I. Thực trạng

Học sinh ở x ã đại đa số là con em nông dân nên chăm chỉ , có ý thức cố gắng trong học tập và rèn luyện bộ môn Ngữ Văn

II. Giải pháp

1. Giáo viên tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân

– Khi giảng dạy cần chú ý đến từng loại đối tượng học sinh trong lớp học để có phương pháp giảng dạy cho phù hợp . Giáo viên cũng cần phân loại được học sinh trong lớp. Dù là lớp chọn, lớp đại trà hay lớp yếu kém thì mức độ tiếp thụ, học tập của học sinh có sự khác nhau. Từ đó xác định học sinh yếu kiến thức, kĩ năng nào để tìm nguyên nhân, biện pháp khắc phục còn đối với học sinh giỏi bồi dưỡng nâng cao kiến thức kĩ năng đã học để tạo hứng thú trong việc học tập b ộ môn

* Giáo viên cũng cần hướng dẫn học sinh xác định nội dung học tập

– Với phân môn Văn(Phần văn bản):

+ Với những tác phẩm có tác giả cần nắm chắc được về tiểu sử tác giả(Năm sinh năm mất- nếu có- tên khai sinh, bút danh, quê quán), sự nghiệp văn chương của tác giả đó, hiểu được hoàn cảnh sáng tác tác phẩm

+ Học thuộc các khái niệm, vận dụng làm tốt các bài tập từ dễ đến khó(Từ nhận biết đến thông hiểu, vận dụng ở mức độ thấp, vận dụng ở mức độ cao)

+ Với các biện pháp tu từ biết phát hiện đúng, nêu được tác dụng của phép tu từ đó trong hoàn cảnh sử dụng

+ Nắm được dặc trưng các thể loại: Miêu tả, Tự sự , Biểu cảm, Nghị luận, thuyết minh, h ành chính công vụ

* Hướng dẫn học sinh cách làm bài :

– P hần tự luận : Khi làm phần tự luận cũng cần chú ý ở từng câu. Học sinh thường chủ quan khi đọc câu hỏi, thấy câu nào quen thường chú tâm vào làm mà không để ý đến thang điểm nên những câu ít điểm thì chú ý còn câu nhiều điểm thì làm rất sơ sài …. dẫn tới bài làm bị điểm thấp , không đạt yêu cầu.

VD: Nêu ý nghĩa tình huống truyện “Làng” của Kim Lân

“Làng” là một thành công của Kim Lân . Truyện thể hiện tình yêu làng của nhân vật ông Hai. Tình cảm ấy của ông Hai được đặt trong một tình huống thử thách, tình huống ông đột ngột nghe tin dữ : làng quê ông – làng Chợ Dầu, theo giặc lập tề. Làng Chợ Dầu mà ông hằng tự hào, hãnh diện bấy lâu nay bỗng theo giặc. Tình huống ấy giúp nhà văn có thể đi sâu khai thác nội tâm nhân vật để thể hiện rõ tình yêu làng và tinh thần khá ng chiến của những người nông dân phải rời làng đi tản cư như ông Hai .

+ Đối với dạng tự luận dài: giáo viên hướng dẫn học sinh lập dàn ý chi tiết học sinh có thể vận dụng để lập dàn ý một cách thuần thục. Giáo viên cũng cần viết mẫu cho học sinh một số bài văn để học sinh có thể dựa vào đó mà vận dụng

3. Đa dạng hoá các hình thức kiểm tra , đánh giá

Với việc kiểm tra thường xuyên, giáo viên cần đa dạng hoá để học sinh phải tự giác học tập

– Kiểm tra sách, tài liệu – sách tham khảo, vở nháp của học sinh . Học sinh nào chưa có, chưa đúng yêu cầu nhắc nhở để kiểm tra lại . Nên giới thiệu một số sách tham khảo cho học sinh sưu tầm để học tập

– Kiểm tra đầu giờ,

+ Vừa kiểm tra miệng, vừa kiểm tra viết: Kiểm tra miệng có thể là tác giả, bài văn; kiểm tra viết có thể cho học sinh viết nội dung nghệ thuật của tác phẩm truyện, bài thơ…

Khi dạy học cần quan tâm nhiều hơn đến việc kiểm tra , đánh giá vì dạy chuyên đề có nhhiều thời gian so với dạy chính khoá .

Ở mỗi khối lớp, cần chia theo các nội dung lớp để giảng dạy cho có hệ thống

Kết thúc mỗi nội dung nên c ó các bài kiểm tra để đánh giá việc học tập của học sinh để đề ra cách giảng dạy cho phù hợp . Những học sinh chưa đạt yêu cầu (bước đầu có thể kiểu tra học sinh từ điểm 4 đến 4.75) cần cho họ c sinh ôn lại để kiểm tra theo sự bố trí của giáo viên .

6. Kết hợp gia đình học sinh

Có thể đề nghị nhà trường tổ chức họp phụ huynh từng lớp hoặc theo đối tượng học sinh(Trung bình, Yếu) để thông báo với gia đinh, bàn với gia đình những biện pháp nâng cao chất lượng học tập

Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Ở Tiểu Học Cac Giai Phap Nang Cao Chat Luong Day Hoc Doc

Họ và tên giáo viên: Nguyễn Thị Tiết

Chức vụ: Giáo viên – Tổ trưởng tổ 1

Đơn vị công tác: Trường tiểu học xã Lâm Hải huyện Năm Căn tỉnh Cà Mau

Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi người dạy học phải có kiến thức sâu và sự hiểu biết nhất định về nội dung chương trình sách giáo khoa, có khả năng hiểu được về tâm sinh lí của trẻ, về nhu cầu và khả nă ng của trẻ. Đồng thời người dạy có khả năng sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đối tượng học sinh . L à một giáo viên trong nhà trường để l àm thế nào đẩy mạnh sự phát triển giáo dục nói chung và làm thế nào để nâ ng cao chất lượng dạy học trong nhà trường nói riêng , đặc biệt là công tác mũi nhọn của trường. Hiện nay chủ trương của ngành là dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng của môn học. Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả họ c tập và rèn luyện của học sinh theo đúng Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và văn bản hợp nhất số 03/VBHN – BGDĐT ngày 23/6/2017 của Bộ giáo dục và Đào tạo.

T ập thể cán bộ giáo viên Trường tiểu học xã Lâm Hải đã không ngừng phấn đấu để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ và đặc biệt là chú trọng nhất về nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Có 100% cán bộ – giáo viên được tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn trong hè nên nắm vững cách thực hi ện đổi mới phương pháp dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học ở Tiểu học. Bám sát công văn số 9832/BGDĐT-GDTH ngày 01/9/2006. Công văn số 5842/BGDĐT-VP của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 01/9/2011 về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thông và công văn số 1617/SGDÐT-GDTH của Sở GD&ĐT Cà Mau ngày 08/9/2011 về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học giáo dục phổ thô ng.

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên Trường tiểu học xã Lâm Hải cũng còn gặp không ít những khó khăn trong quá trình thực hiện công tác giảng dạy về đổi mới phương pháp như sau:

Trong quá trình xây dựng kế hoạch bài dạy, giáo viên chưa thoát li được sách giáo viên, sách tham khảo, mà còn có những giáo viên coi sách giáo viên như một pháp lệnh, không được xê dịch hay sửa đổi.

Do còn không ít phụ huynh thiếu trách nhiệm, thiếu sự phối hợp để giáo dục học sinh, gây sức ép không nhỏ đối với giáo viên.

Trường học – tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục – nơi tập trung những người thực hiện nhiệm vụ chung: dạy và học, giáo dục và đào tạo những nhân cách theo mục tiêu đề ra. Mà giáo viên là lực lượng nồng cốt tham gia và trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục học sinh phát triển về trí tuệ, hiểu biết và nhân cách con người; là người không chỉ thực hiện nhiệm vụ của bản thân, với gia đình, với học sinh, phụ huynh học sinh mà còn thể hiện nhiệm vụ với xã hội, với vân mệnh và tương lai của đất nước. Chính vì vậy công tác xây dựng đội ngũ trong nhà trường là vấn đề quan trọng. Vì có một tập thể đoàn kết thì mới có một tập thể vững mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên là một tấm gương sáng về đạo đức và tự học. Mỗi cá nhân là một thành viên tích cực nêu cao quan điểm, mạnh dạn bày tỏ ý kiến đóng góp, xây dựng cho đồng chí, đồng đội, cùng phát triển về công tác chuyên môn c ó sự đoàn kết, thống nhất như vậy sẽ góp phần nâng cao nhận thức về chuyên môn, nâng cao khả năng giảng dạy của giáo viên, quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.

Nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ giáo viên, tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích giáo viên đọc sách báo, tham khảo tài liệu về chính trị, văn hóa, pháp luật…

Phân công chuyên môn phù hợp với năng lực, sở trường của từng giáo viên, tạo mọi điều kiên thuận lợi cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.

Thường xuyên mở các chuyên đề đổi mới phương pháp dạy học, các buổi thao giảng, phối hợp mở các buổi hội giảng trao đổi về phương pháp giảng dạy, biện pháp giáo dục học sinh.

2./ H oạt động giảng dạy của giáo viên.

Xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường , trong tổ . là một trong những công cụ để đánh giá quá trình lao động của người giáo viên. Việc thực hiện tốt quy chế chuyên môn trong nhà trường của giáo viên là yếu tố quan trọng đảm bảo chất lượng và hiệu quả của công tác giảng dạy.

Căn cứ Quyết định 14 /2017/QĐ- BGDĐT ngày 04 tháng 05 năm 2007 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tao Quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học . Hiệu trưởng xây dựng quy chế chuyên môn trong nhà trường như quy định về đạo đức, tác phong sư phạm, tác phong của nhà giáo, quy định giờ ra vào lớp, quy định về hồ sơ sổ sách, lịch trình duyệt các kế hoạch. Giáo viên soạn giảng đủ môn, đủ tiết, số tiết dự giờ trên tuần ( rút kinh nghiệm

Việc tố chức thực hiện chương trình và xây dựng kế hoạch giảng dạy của giáo viên là yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường

Giáo viên trong từng tổ t rao đổi về phương pháp dạy học theo các khối lớp , theo nội dung chương trình sách giáo khoa, trao đổi về phương pháp xác định mục tiêu của bài học – xác định mảng kiến thức trọng tâm của một bài, một nôm, trao đổi về biện pháp giáo dục học sinh hướng dẫn học sinh trong học tập cũng như trong rèn luyện .

Triển khai các văn bản, các yêu cầu cơ bản về việc thiết kế bài dạy, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào soạn giảng đến từng khối , từng giáo viên trong khối .Kế hoạch bài giảng của giáo viên phải thể hiện:

– Tăng cường trang bị về thiết bị, đồ dùng dạy học, khuyến khích gíao viên đẩy mạnh công nghệ thông tin vào giảng dạy . K hâu chuẩn bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung bài, đồng thời trong quá trình chuẩn bị phải thể hiện được đồ dùng phục vụ cho người dạy và đồ dùng phục vụ cho người học. Vì đồ dùng dạy học rất quan trọng trong việc dạy học ở tiều học giúp học sinh nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, đến thực tiễn. Ngoài đồ dùng dạy học giáo viên cần có giọng nói nhẹ nhàng, ngọt ngào, cử chỉ mềm mại, điệu bộ duyên dáng, thái độ ân cần… sẽ thu hút sự chú ý học tập của học sinh cao hơn , tăng thêm sự hứng thú nhận thức của trẻ.

– Nội dung giáo án ngắn gọ n, xúc tích đảm bảo nội dung trọ ng tâm của bài, logic khoa học, lựa chọn phương pháp gi ảng dạy (thể hiện sự hệ thống việc làm của thầy – trò, hình thức tổ chức phù hợp với môn học, lớp học với từng đối tượng học sinh ).

Qua quá trình nghiên cứu lí luận và thực tiễn, tìm hiểu về thực trạng của đơn vị và đề ra một số giải pháp nâng cao chất lượng dạy và học của trường Thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, bố trí các tiết dạy minh họa để tìm ra được cách thức tổ chức dạy học phù hợp nhất với thực tế của địa phương, tìm tòi các biện pháp để khắc phục những vấn đề còn vướng mắc nhằm nâng cao hiệu quả dạy học. Bên cạnh đó còn trao đổi về kinh nghiệm trong tổ chức lớp học, trang trí không gian lớp học, cách vận động phụ huynh tham gia phối hợp trong công tác giáo dục học sinh.

Chất lượng giáo dục toàn diện luôn là vấn đề nóng hiện nay trong giáo dục, mọi ngành, mọi người trong xã hội đều quan tâm. Tuy nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện là một nhiệm vụ khó khăn nhưng chúng ta tin tưởng rằng. Với mỗi giáo viên nếu có quyết tâm chúng ta sẽ thực hiện được thắng lợi, sẽ đưa chất lượng nhà trường duy trì và nâng cao hơn hơn nữa trong năm học này và trong tương lai.

Lâm Hải, ngày 23 tháng 01 năm 2018

Nguyễn Thị Tiết

Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Học Sinh Dân Tộc Thiểu Số Nhung Giai Phap Nang Cao Chat Luong Doc

Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục HSDT

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC HỌC SINH DÂN TỘC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC CƯ PUI II

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

– Chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Cư Pui II

– Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường

– Phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khi chưa thực hiện giải pháp và sau khi áp dụng những giải pháp.

Từ nhiều năm nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành tham mưu để Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chính sách hỗ trợ ở vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và chỉ đạo các địa phương thực hiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục như: Đề án Kiên cố hóa trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012, Đề án Củng cố và phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú giai đoạn 2011-2015(Quyết định số 1640/QĐ-TTg ngày 20/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ ; Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên; Quyết định số 2123/QĐ-TTg ngày 22/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Phát triển giáo dục đối với các dân tộc rất ít người giai đoạn 2010-2015; Thực hiện công bằng trong xã hội và một số chính sách miễn, giảm học phí, cấp học bổng, cho vay đi học. Nghị quyết 40/2002/NQ-QH của Quốc Hội khóa IX về đổi mới giáo dục phổ thông nói về việc nâng cao chất lượng giáo dục cũng đã khẳng định: tiếng Việt là ngôn ngữ phổ thông được đưa vào dạy học thống nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân. Tiếng Việt trong nhà trường tồn tại với hai tư cách: vừa là một môn học vừa là công cụ giao tiếp, học tập của học sinh. Do đó, trình độ tiếng Việt (vốn từ, kiến thức về tiếng Việt và kỹ năng sử dụng vốn từ trong học tập, giao tiếp) có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với khả năng học tập các môn học của học sinh. Thực tế cho thấy, học sinh người dân tộc thiểu số càng học lên lớp trên thì khả năng đạt chuẩn chương trình các môn học càng thấp vì nhiều nguyên nhân như cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập, trình độ nhận thức… trong đó, sự thiếu hụt về vốn sống, vốn ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp của tình trạng trên.

Trong những năm vừa qua, Giáo dục học sinh dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội gặp nhiều khó khăn đã và đang được Đảng, Nhà nước và các địa phương quan tâm, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học. Bộ Giáo dục – Đào tạo đã có rất nhiều thay đổi về khung thời gian, chương trình, sách giáo khoa đối với học sinh dân tộc thiểu số như chương trình 100 tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 165 tuần; tăng thời lượng môn tiếng Việt, giảm tải chương trình sách giáo khoa; soạn thảo chương trình sách giáo khoa tiếng dân tộc… Dự án giáo dục cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (PEDC) đã hỗ trợ xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sách giáo khoa, sách hướng dẫn, tập huấn nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, tuyển chọn và bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng cho đội ngũ nhân viên hỗ trợ giáo viên là người dân tộc thiểu số trong quá trình giảng dạy… song chất lượng vẫn chưa được như mong muốn, hiệu quả giáo dục thấp, tỷ lệ học sinh yếu kém, lưu ban, bỏ học vẫn còn rất cao thậm chí vẫn còn những học sinh “ngồi sai lớp”.

C ác trường trong toàn huyện nói chung và các trường vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng đã được Huyện ủy, HĐND, UBND, phòng Giáo dục- Đào tạo, các cấp, các ngành rất quan tâm, đầu tư xây nhiều hạng mục công trình, chăm lo đời sống của đội ngũ CBGVNV, hỗ trợ học sinh bằng những chính sách thiết thực nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên, vì những khó khăn đặc biệt là trình độ nhận thức, vốn tiếng Việt của học sinh dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế , đội ngũ giáo viên chưa thực hiện có hiệu quả việc đổi mới phương pháp dạy học nên ch ất lượng giáo dục còn rất thấp, tỷ lệ học sinh lưu ban, bỏ học vẫn còn cao.

Trường tiểu học Cư Pui II là một trường nằm ở vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Bông. Địa bàn của trường rất rộng đường sá đi lại gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là vào mùa mưa, phải qua nhiều đèo dốc, sông suối. Nhà trường có 6 điểm trường lẻ và 1 điểm trường chính trải dài trên 8 thôn, buôn đồng bào dân tộc thiểu số gồm 6 thôn với hơn 8.200 khẩu là người dân tộc Thái, Tày, Nùng, Mường… nhiều nhất là người H’Mông (gần 8 nghìn khẩu) di cư từ các tỉnh phía Bắc vào và 2 buôn người đồng bào dân tộc Ê Đê, M’Nông với 11 dân tộc anh em cùng chung sống. Trình độ dân trí còn thấp, cuộc sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn.

Qua khảo sát đầu các năm học vừa qua, tỷ lệ học sinh đến lớp Mẫu giáo trên địa bàn xã Cư Pui ra lớp chỉ đạt khoảng 50- 65% trẻ trong độ tuổi (do việc huy động trẻ trong độ tuổi ra lớp đạt tỷ lệ thấp). Đây là một trong những khó khăn lớn nhất của nhà trường khi tiếp nhận 35- 50 % các em chưa ra lớp Mẫu giáo vào học lớp Một. Những em này hầu như chưa biết và giao tiếp được bằng tiếng Việt. Trong số học sinh qua Mẫu giáo thì việc giao tiếp bằng tiếng Việt của các em vẫn hết sức khó khăn. Tỷ lệ học sinh có thể hỏi, trả lời và hiểu được những yêu cầu của giáo viên chỉ chiếm 20- 35 % trong số những em đã qua Mẫu giáo hoặc những học sinh lưu ban. Các em chỉ nghe và hiểu được những câu lệnh đơn giản như “trật tự”, “ra chơi”, “vào lớp”, “ra về”…. Với 12/17 lớp Mẫu giáo là học sinh dân tộc H’Mông nhưng không có một giáo viên Mầm non nào là người H’Mông cũng là một trong những khó khăn trong quá trình giảng dạy.

Việc giảng dạy mang tính áp đặt, khô khan do giáo viên “tham” và sợ nên cố truyền đạt những kiến thức có trong sách giáo khoa mà không giành thời gian để tạo ra sự hứng thú cho học sinh trong học tập là một hạn chế rất lớn trong quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh đặc biệt là đối với học sinh là người dân tộc thiểu số. Vì vậy chất lượng giáo dục rất thấp, tỷ lệ học sinh bỏ học cao do các em chán học, khhông tìm thấy niềm vui khi đến lớp.

Phối hợp với trường Mẫu giáo Cư Pui và các thôn, buôn vận động tối đa trẻ trong độ tuổi ra lớp Mẫu giáo 3,4,5 tuổi. Đây là điều kiện tốt giúp các em có được vốn tiếng Việt ban đầu rất quan trọng để sau 1 đến 3 năm các em tự tin vào lớp Một.

Chú trọng và quan tâm tăng cường tiếng Việt cho các em trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp như sinh hoạt Sao Nhi đồng, Đội thiếu niên, g iao lưu tiếng Việt giữa các khối lớp, giữa các trường trong Cụm 3 xã và giao lưu học sinh dân tộc thiểu số cấp trường, cấp Huyện.

Trong những năm học vừa qua, Nhà trường cũng đã đầu tư rất nhiều kinh phí để các khối lớp mua đồ dùng dạy học phục vụ cho 2 môn học này.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm trong đội ngũ giáo viên

Nhà trường có đội ngũ giáo viên hầu hết là trẻ và đều đạt chuẩn và trên chuẩn. Những giáo viên đạt chuẩn hiện tại đang theo học các lớp Đại học, Cao đẳng. Hiện tại số cán bộ giáo viên nhân viên của nhà trường là 76 người trong đó đạt chuẩn là 100% . trên chuẩn là 67%. Việc học nâng chuẩn của giáo viên được nhà trường hết sức quan tâm và tạo điều kiện để các đồng chí yên tâm học tập, thi cử. Những đồng chí đi học được Nhà trường miễn giảm một số hoạt động trong hè, nghỉ các cuộc họp, sinh hoạt trong những ngày thứ 7, chủ nhật để các đồng chí ôn thi, kiểm tra… Vì vậy những đồng chí tham gia học tập nâng cao đều có kết quả cao trong các kỳ thi.

Ngoài ra, Nhà trường còn tham mưu với UBND xã Cư Pui hàng năm tổ chức Hội thảo Giaó dục để có sự tham gia của các ban ngành, đoàn thể và đội ngũ giáo viên để cùng nhìn nhận thực trạng công tác giáo dục của địa phương từ đó tìm giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

Nhờ thực hiện nghiêm túc việc bàn giao nên năm học 2012-2013, các lớp đã có được những số liệu sát thực tế về chất lượng. Qua đó đánh giá được hiệu quả giảng dạy của từng giáo viên đồng thời có cơ sở để giáo viên xây dựng kế hoạch sát thực tế, phù hợp với điều kiện từng lớp . Kết thúc học kỳ I, chất lượng dạy và học của trường Tiểu học Cư Pui II đã được nâng lên so với cùng kỳ năm học 2011-2012.

Là một trong những đơn vị trường khó khăn nhất của huyện Krông Bông mà hàng năm chất lượng giáo dục tăng từ 5 đến 7%, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm từ gần 4% xuống còn hơn 1% có thể xem như đó là thành công lớn của tập thể Sư phạm nhà trường cũng như các cấp, các ngành trên địa bàn xã Cư Pui và ngành giáo dục Krông Bông . Trong quá trình Giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học phụ thuộc rất nhiều yếu tố song đối với các trường có nhiều học sinh dân tộc thiểu số, việc tăng cường tiếng Việt , duy trì sỹ số, đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo… là những yếu tố hết sức quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện các giải pháp không được phép nóng vội mà phải kiên trì để tìm và kết hợp những phương pháp, giải pháp phù hợp với điều kiện của học sinh thì mới đem lại hiệu quả như mong muốn.

Là một trường có địa bàn rộng, nhiều điểm trường, số lớp và số học sinh đông, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao nên cấp trên sớm cho chủ trương để chia tách trường tiểu học Cư Pui II thành 2 trường để việc quản lý thuận lợi hơn nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Huy động trẻ trong độ tuổi hàng năm ra lớp Mẫu giáo đạt tỷ lệ cao tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc và làm quen với tiếng Việt, chuẩn bị tốt tiếng Việt để các em bước vào lớp Một.

Xây dựng cơ sở vật chất đảm bảo để từng bước tiến hành dạy 2 buổi/ ngày (trước hết ưu tiên lớp Một) tạo điều kiện để các em có nhiều thời gian nhằm tăng cường tiếng Việt cho các em vào buổi thứ 2.

Cần có chính sách thỏa đáng và quan tâm hơn nữa đối với những cán bộ, giáo viên, nhân viên công tác ở các trường có điều kiện đặc biệt khó khăn để những giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy học sinh dân tộc tình nguyện và yên tâm công tác lâu dài ở trường; khuyến khích và có chế độ thỏa đáng đối với giáo viên tự học tiếng dân tộc thiểu số để nhiều người hưởng ứng tham gia.

Xin chân thành cảm ơn!

ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CỦA

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP PHÒNG

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… ,,,,,,,,,,,,,,,,,,

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

………………………………………………………………………………… …………..

2.3.2.1. Tăng cường tiếng Việt, tăng thời lượng dạy tiếng Việt cho học sinh

2.3.2.2. Duy trì sỹ số học sinh …………………………………………………..11

2.3.2.3 Phân công chuyên môn hợp lý …………………………………………..12

2.3.2.7. Thực hiện nghiêm túc việc bàn giao chất lượng ………………………16

2.3.2.8. Xây dựng cơ sở vật chất để tổ chức dạy 2 buổi/ngày, phối hợp với

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tham Luan Nang Cao Chat Luong Mon Anh

THAM LUẬNNÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY VÀ HỌC MÔN TIẾNG ANH

I. ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, môn tiếng Anh đã được đưa vào dạy học ở các cấp học. Với mục tiêu dạy học của bộ môn là giúp học sinh sử dụng Tiếng Anh như một công cụ giao tiếp ở mức độ cơ bản dưới các dạng nghe, nói, đọc, viết; có kiến thức cơ bản, tương đối hệ thống và hoàn chỉnh về Tiếng Anh, phù hợp với trình độ, đặc điểm tâm lí lứa tuổi; có hiểu biết khái quát về đất nước, con người và nền văn hoá của một số nước nói Tiếng Anh.Từ đó hình thành tình cảm và thái độ tốt đẹp đối với đất nước, con người, nền văn hoá và ngôn ngữ của các nước nói Tiếng Anh; biết tự hào, yêu quý và tôn trọng nền văn hoá và ngôn ngữ của dân tộc mình.

II. THỰC TRẠNGMặc dù môn Tiếng Anh được xếp vào một trong 3 môn chính, nhưng một thực tế là chất lượng dạy học môn Tiếng Anh trong huyện Bình Gia nói chung và trường THCS Hưng Đạo nói riêng còn thấp (nếu không nói là quá thấp), chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội trong thời kỳ hội nhập. Qua kết quả khảo sát đầu năm, tỉ lệ học sinh đạt trên trung bình của môn Tiếng Anh tai trường THCS Hưng Đạo rất thấp, thấp nhất so với các môn khác. Tỷ lệ này ở các khối có sự chênh lệch, song tình hình chung rất đáng quan ngại. Nhiều học sinh rơi vào tình trạng “mù” ngoại ngữ. Vì học sinh học quá yếu, lại không chịu khó học nên nhiều khi lên lớp giáo viên giống như đang “độc thoại” với mình. Biểu hiện của học sinh yếu kém về môn tiếng Anh phổ biến nhất là vốn từ nghèo nàn, không nắm được ngữ pháp, phát âm không chuẩn, kĩ năng tạo lập văn bản (nói, viết) chưa đạt yêu cầu và kĩ năng nghe kém. Đâu là nguyên nhân cho thực trạng trên?

II. NGUYÊN NHÂNTình trạng chất lượng dạy học môn ngoại ngữ còn thấp do nhiều nguyên nhân. Trước hết là do môn Tiếng Anh là một môn học hoàn toàn “mới mẻ”, trong khi đó 100% học sinh thuộc đối tượng dân tộc, vùng sâu, vùng xa, khả năng giao tiếp băng tiếng phổ thông còn hạn chế. Việc tiếp cận với ngôn ngữ nước ngoài gặp nhiều khó khăn.Thêm vào đó, phụ huynh và học sinh chưa nhận thức được tầm quan trọng của môn học. Do đó chưa có sự đầu tư thời gian, công sức, chưa nỗ lực vượt khó học tập. Nhiều học sinh đến giờ học không chú ý tập trung, về nhà không chịu làm bài tập, không chịu khó rèn luyện học hỏi nên không thể tiến bộ được.Môn tiếng Anh đòi hỏi người học phải chịu khó, đầu tư nhiều thời gian, phải có phương pháp. Thế nhưng, một số học sinh hầu như chỉ tập trung vào học các môn khác, ít chú ý trau dồi môn Tiếng Anh hoặc có tâm lí ngại khó, dựa vào các môn khác để kéo môn tiếngAnh lên. Bên cạnh đó, điều kiện giảng dạy trong trường còn thiếu thốn, học sinh không được tiếp cận với những phương tiện thiết yếu như băng hình, đài cát xét, máy vi tính… Trường còn nhiều khó khăn nên chưa có các phòng học ngoại ngữ chuyên dụng…Học sinh ít có điều kiện thực hành, làm quen với ngôn ngữ tiếng Anh chính thống…Hiện nay, chương trình và SGK đổi mới rất hay, song độ khó cũng cao hơn, đối với những học sinh đã “mất gốc” thì không thể theo được. Vì vậy, nhiều học sinh không kham nổi chương trình, nhất là những học sinh học yếu, kém .Mặt khác, học sinh phải học quá nhiều môn, lại còn học tự chọn, học yếu kém, học bù…. Do vậy mà thời gian dành cho môn TiếngAnh càng bị san sẻ. Một nguyên nhân nữa là trình độ giáo viên còn hạn chế. Thời gian đầu tư cho soạn giảng còn chưa nhiều, khả năng làm đồ dùng dạy học và ứng dụng các phương tiện dạy học vào giảng dạy chưa cao.Vậy làm cách nào để cải thiện và nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Anh trong trường?

III. GIẢI PHÁP1.Về phía giáo viên– Tăng cường phụ đạo, ôn tập cho học sinh yếu kém – Soạn bài theo phương pháp đặc trưng của bộ môn.– Quan tâm, giúp đỡ học sinh một cách chân tình nhằm khuyến khích các em học tập.– Tăng cường thăm lớp, dự giờ, rút kinh nghiệm– Tổ chức các giờ ngoại khoá về môn học. Thông qua đó hình thành ở HS niêm yêu thích môn học– Tổ chức trao đổi giữa học sinh khá giỏi và học sinh yếu kém để học

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!