Xem Nhiều 2/2023 #️ Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Nông Dân Việt Nam Hiện Nay # Top 11 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Nông Dân Việt Nam Hiện Nay # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Nông Dân Việt Nam Hiện Nay mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ nhất, đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ dạy nghề, tư vấn hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, cùng với việc hỗ trợ nông dân tích cực, chủ động tham gia các chương trình, dự án phát triển sản xuất và nâng cao đời sống, chính quyền địa phương và cơ sở (cụ thể là cấp tỉnh, huyện và cả xã, thôn) cần coi trọng công tác bồi dưỡng, phát triển nông dân, trước tiên và cơ bản là nghề nghiệp, để họ có thể phát huy được vai trò chủ thể của mình. Cụ thể, chính quyền địa phương và cơ sở cần có kế hoạch ngắn hạn và dài hạn về đào tạo, bồi dưỡng tay nghề cho nông dân để không ngừng nâng cao trình độ sản xuất thâm canh, kiến thức quản lý kinh tế và thị trường. Thông qua đó, giúp nông dân tiếp cận và khai thác có hiệu quả các chính sách đầu tư cho nông nghiệp, nông dân, nông thôn và huy động tối đa các nguồn vốn, khoa học công nghệ mới, góp phần gia tăng giá trị sản phẩm và khả năng cạnh tranh trong quá trình phát triển một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững. Từng bước đưa dịch vụ mạng Internet đến với hội viên, nông dân ở cơ sở nhằm khai thác có hiệu quả công nghệ thông tin, thông tin thị trường, giá cả trong nước cũng như thế giới, phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Chính quyền địa phương, cơ sở, cần đổi mới công tác hỗ trợ phát triển đối với nông dân nhằm thúc đẩy nông dân phát triển các loại hình và đối tượng sản xuất, kinh doanh phù hợp gắn với nghề nghiệp đã được đào tạo hay bồi dưỡng, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Coi trọng việc xây dựng, nhân rộng những mô hình điển hình tiên tiến, xuất sắc. Nêu gương và tổ chức học tập, nhân rộng các điển hình sản xuất, kinh doanh giỏi và giúp đỡ có hiệu quả đối với các hộ nghèo. Hằng năm, tổ chức phân loại, làm rõ nguyên nhân các hộ nghèo, cận nghèo để có biện pháp cụ thể giúp hội viên, nông dân nghèo có điều kiện tự vươn lên thoát nghèo phấn đấu trở thành hộ nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi. Thứ hai, khuyến khích và tạo điều kiện cho nông dân tích cực tham gia các phong trào và các cuộc vận động, nhằm nâng cao trách nhiệm và năng lực thụ hưởng quyền lợi của nông dân Hiện nay nên tập trung khuyến khích và tạo điều kiện cho nông dân tích cực tham gia 3 phong trào sau: – Phong trào nông dân thi đua sản xuất, kinh doanh giỏi, đoàn kết giúp nhau xóa đói, giảm nghèo và làm giàu chính đáng, gồm: Vận động nông dân đăng ký thi đua phấn đấu trong sản xuất, kinh doanh có hiệu quả trên cơ sở nâng cao chất lượng hàng hóa, nông sản, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, đáp ứng khả năng cạnh tranh hàng hóa trong thời kỳ hội nhập; đoàn kết chia sẻ kinh nghiệm giúp nhau làm giàu; tạo được nhiều việc làm, tăng thu nhập; liên kết liên doanh, tham gia cổ phần các doanh nghiệp, phát triển kinh tế hợp tác, xây dựng hợp tác xã ở nông thôn. Vận động nông dân chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao; hình thành vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung. Khuyến khích nông dân tham gia thúc đẩy quá trình tích tụ ruộng đất, gắn với việc chuyển dịch lao động nông nghiệp, sang các ngành nghề khác. Hỗ trợ hộ nông dân nghèo về vốn, vật tư nông nghiệp, hướng dẫn cách làm ăn và kinh nghiệm sản xuất. Xây dựng các mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư. – Phong trào nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới. Trước hết, vận động nông dân tham gia phát triển kinh tế, xây dựng và bảo vệ kết cấu hạ tầng nông thôn. Yêu cầu đặt ra là phấn đấu để phong trào có bước phát triển mới về chất, chuyển dịch mạnh cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tạo ra sản phẩm nông nghiệp có giá trị và khả năng cạnh tranh cao hơn; góp phần hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung, gắn với thương hiệu sản phẩm và phát triển mạnh theo hướng kinh tế tập thể, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Qua đó, đưa phong trào phát triển theo chiều sâu, làm cơ sở cho việc đưa tiến bộ khoa học – kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và kêu gọi đầu tư, chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng tới hiện đại hóa và liên kết sản xuất, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu, dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên kết hợp với việc tiếp nhận và ứng dụng khoa học và công nghệ nông nghiệp tiên tiến. Song song với đó, tăng cường vận động nông dân thi đua xây dựng gia đình nông dân văn hóa; thực hiện nếp sống mới. Từ đó vận động nông dân tham gia công tác kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc, giáo dục trẻ em; tham gia bảo vệ môi trường nông thôn; chương trình hành động phòng chống ma túy, mại dâm, tệ nạn xã hội; an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm, an toàn lao động và phòng chống cháy, nổ, nhằm bảo đảm giữ vững trật tự, an toàn xã hội ở nông thôn. – Phong trào nông dân tham gia bảo đảm giữ gìn an ninh trật tự xã hội và quốc phòng ở nông thôn: Tuyên truyền, vận động nâng cao nhận thức cho nông dân về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng trước âm mưu diến biến hòa bình của các thế lực thù địch, nhất là âm mưu lợi dụng tôn giáo, dân tộc, dân chủ để kích động chiến tranh tâm lý chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc; tích cực tham gia xây dựng các khu vực phòng thủ, các “Điểm sáng vùng biên”, tự quản đường biên, mốc giới, nhất là thế trận quốc phòng toàn dân ở các vùng ven biển, biên giới, hải đảo. Vận động hội viên nông dân hăng hái tham gia dân quân tự vệ, bảo vệ an ninh, thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự, “Chính sách hậu phương quân đội”; xây dựng nhà tình nghĩa, chăm sóc người có công cách mạng; gương mẫu chấp hành pháp luật; tham gia xây dựng thôn, ấp, bản, làng không có người phạm tội; phát hiện tố giác tội phạm; cảm hóa giáo dục người phạm tội, người lầm lỗi hoàn lương hòa nhập cộng đồng. Thứ ba, phát huy vai trò của Hội Nông dân Việt Nam là người đại diện và hỗ trợ việc bảo đảm quyền làm chủ, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên, của nông dân Hiện nay, Hội nông dân Việt Nam cần tập trung phát huy vai trò thực sự của mình ngay tại cơ sở, bằng cách thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động; phối hợp với chính quyền, các ngành, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn thể ở cơ sở tuyên truyền, vận động nông dân thực hiện các phong trào phát triển kinh tế – xã hội, tham gia kinh tế hợp tác và hợp tác xã, làng nghề, trang trại và các loại hình kinh tế tập thể khác. Tổ chức hoạt động hỗ trợ, tư vấn, dịch vụ giúp nông dân phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. Thông qua đó, các chi hội nông dân phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở thôn, ấp, bản, làng, khu phố…, vận động nông dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và nghĩa vụ công dân với Nhà nước, nhất là thực hiện tốt Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; vận động hòa giải tranh chấp trong nội bộ nông dân; tích cực tham gia các phong trào phát triển kinh tế, xã hội, xây dựng nông thôn mới. Phải phát huy vai trò của mình tại mỗi cơ sở thôn, bản, buôn, ấp, Hội Nông dân Việt Nam mới làm tròn các chức năng, như: Vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào nông dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới; đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên; kịp thời phản ánh tâm tư nguyện vọng của nông dân với Đảng và Nhà nước; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân; và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên và của nông dân nói chung.

TS. Lê Xuân Cử

Theo Tạp chí Cộng sản

Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Nguồn Nhân Lực Trong Phát Triển Kinh Tế Biển Ở Việt Nam Hiện Nay

TÓM TẮT:

Việt Nam có thế mạnh và có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển gắn với phát triển kinh tế trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang là một trong những vấn đề chiến lược được ưu tiên hàng đầu ở nước ta. Để thực hiện được nhiệm vụ này, nguồn nhân lực đóng một vai trò hết sức quan trọng, có tính quyết định. Bằng phương pháp phân tích thống kê, bài viết tập trung phân tích vai trò, tác động của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của kinh tế biển Việt Nam. Kết quả cho thấy, việc nhìn nhận vai trò và phát huy nhân tố này thời gian qua ở nước ta còn nhiều hạn chế, chưa khai thác được hết tiềm năng, đặc biệt là khi dân số đang ở giai đoạn cơ cấu “dân số vàng”. Từ đó, bài viết kiến nghị một số giải pháp cơ bản nhằm khắc phục tình trạng này trong thời gian sắp tới.

Từ khóa: Kinh tế biển, nguồn nhân lực, Việt Nam.

1. Nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế biển

1.1. Một số khái niệm về nguồn nhân lực

Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế phát triển từ những năm giữa thế kỷ thứ XX, với ý nghĩa là nguồn lực con người, thể hiện một sự nhìn nhận lại vai trò yếu tố con người trong quá trình phát triển. Nội hàm nguồn nhân lực không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, cũng không chỉ bao hàm về mặt chất lượng mà còn chứa đựng các hàm ý rộng hơn.

Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer & Dornhusch, 1995). Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là vốn quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta trong khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp” đó là ” lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại”.

Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc đưa ra trong báo cáo đánh giá về những tác động toàn cầu hóa đối với nguồn nhân lực, “nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người”. Với cách tiếp cận này cho thấy sự đề cao yếu tố “chất lượng” trong đánh giá “nguồn nhân lực”.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), phát triển nguồn nhân lực là sự chiếm lĩnh trình độ lành nghề và phát triển năng lực, sử dụng năng lực đó của con người để tiến tới có việc làm hiệu quả cũng như thỏa mãn nghề nghiệp và chính sách cá nhân hay phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm biến đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế.

Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với một nền khoa học hiện đại”.

Nguồn nhân lực được xem xét ở hai khía cạnh. Trước hết, với ý nghĩa là nguồn gốc, là nơi phát sinh ra nguồn lực nằm ngay trong bản thân con người, đó cũng là sự khác nhau cơ bản giữa nguồn lực con người và các nguồn lực khác. Thứ hai, nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể nguồn lực của từng cá nhân con người. Với tư cách là một nguồn lực của quá trình phát triển, nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng tại một thời điểm nhất định. Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện qua năng suất lao động (GDP/lao động). Tiêu chí nhân lực chất lượng cao được thể hiện qua: 1. Đạo đức nghề nghiệp, 2. Trình độ chuyên môn, 3. Sức khỏe thể chất, 4. Kỹ năng nghề nghiệp – kỹ năng sống hay 1. Có nhân cách, 2. Trí tuệ phát triển mức độ cao, 3. Các phẩm chất nổi bật, 4. Giàu tính sáng tạo, tư duy độc đáo, 5. Giải quyết công việc nhanh, hiệu quả, 6. Năng lực và kỹ năng chuyên biệt.

1.2. Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế biển

Ở bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử thì nguồn nhân lực luôn là yếu tố quan trọng, quyết định nhất đến sự phát triển mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội, là sức mạnh, tài sản của mỗi quốc gia. Theo C. Mác, nguồn nhân lực là nền tảng tạo ra của cải, các yếu tố khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn là những nhân tố thụ động trong sản xuất. Con người có vai trò quan trọng quyết định đến sự phát triển mọi lĩnh vực của đời sống từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội.

Theo một số mô hình tăng trưởng thể hiện vai trò của nguồn nhân lực đối với phát triển kinh tế tiêu biểu như: hàm Cobb Douglas Y = AKaL trong đó K là vốn, L là lao động, A là yếu tố thể hiện năng suất, hiệu quả của việc sử dụng K và L (TFP) cũng đã chứng minh được sự tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng nhiều yếu tố, trong đó yếu tố lao động, hay TFP (cũng do con người quyết định đến trình độ lao động, trình độ công nghệ) có ý nghĩa then chốt đến tăng trưởng, phát triển kinh tế bền vững bao hàm phát triển kinh tế biển.

2. Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam

Chiến lược phát triển kinh tế biển đến năm 2020 đặt mục tiêu: Kinh tế biển sẽ đóng góp hơn 53%-55% GDP của cả nước. Để đạt được điều này cần nhiều nhân tố, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển các ngành kinh tế biển như: khai thác, nuôi trồng, chế biến hải sản, khai khoáng, logistics, du lịch biển đảo,… là nhân tố quyết định.

Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam thời gian qua có chuyển biến tích cực tuy nhiên sự chuyển biến đó chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước nói chung và kinh tế biển nói riêng. Năng suất lao động Việt Nam còn thấp so với lao động của các nước trong khu vực và thế giới.

Theo số liệu của các tổ chức quốc tế (ADB-ILO, ASEAN Community 2015: Managing integration for better jobs and shared prosperity, Bangkok, Thailand, 2014.), năng suất lao động của Việt Nam năm 2013 qui đổi theo giá cố định 2005 PPP đạt 5440 USD/lao động, bằng 1/18 năng suất lao động của Singapore, bằng 1/6,5 so sánh với Malaysia, 1/3 Thái Lan và Trung Quốc. Theo Báo cáo của Tổng cục Thống kê, năng suất lao động toàn nền kinh tế Việt Nam năm 2016 ước tính tăng 5,31% so với năm 2015, đạt 84,5 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3853 USD/lao động).

Đến năm 2015, năng suất lao động của Việt Nam theo giá hiện hành đạt 3.660 USD, chỉ bằng 4,4% của Singapore; 17,4% của Malaysia; 35,2% của Thái Lan; 48,5% của Phillippines và 48,8% của Indonesia. Nói cách khác, năm 2015, một người Singapore có năng suất làm việc bằng gần 23 người Việt Nam, một người Malaysia bằng gần 6 người Việt Nam, một người Thái Lan bằng gần ba người Việt Nam và một người Philippines hay Indonesia cũng vẫn bằng hơn hai người Việt Nam. Trong khu vực ASEAN, hiện tại năng suất lao động Việt Nam chỉ cao hơn Myanmar, Cambodia và đang xấp xỉ với Lào. Điều này cũng là tình hình chung đối với nguồn nhân lực kinh tế biển.

Tay nghề và kỹ năng còn yếu của lực lượng lao động ảnh hưởng đến hiệu quả các hoạt động khai thác, chế biến, quản lý và bảo vệ các nguồn tài nguyên biển. Có thể minh chứng như nghề khai thác hải sản lâu nay chưa được đào tạo bài bản mà chủ yếu theo kiểu “cha truyền, con nối” với phương tiện lao động đa số còn thô sơ, chưa được trang bị đầy đủ về phương tiện, kỹ thuật, pháp luật,… để đạt hiệu quả, an toàn trong khai thác hải sản đi đôi với bảo tồn và bảo vệ môi trường sinh thái.

Không những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực, số lượng lao động phục vụ cho kinh tế biển cũng chưa đáp ứng được yêu cầu, đặc biệt là lao động chất lượng cao. Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam thì đến đầu năm 2014, đội tàu biển của Việt Nam hiện có 1.793 chiếc với tổng trọng tải 6,9 triệu DWT và đội ngũ thuyền viên 44.651 người. Với đội ngũ này chưa thể đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên biển. Lực lượng quản lý, khai thác cảng biển, đóng tàu biển và các ngành dịch vụ khác của kinh tế hàng hải cũng còn rất thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn, ngoại ngữ, trình độ và kinh nghiệm chưa ngang tầm quốc tế nên các cảng biển hoạt động với năng suất thấp, chưa đủ sức cạnh tranh với các cảng khác trong khu vực và trên thế giới.

Việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ kinh tế biển còn nhiều khó khăn, bất cập. Tài liệu thống kê thí sinh thi đại học những năm qua cho thấy, nếu Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính – Ngân hàng là ba ngành có thí sinh lựa chọn nhiều nhất trong tổng số 240 ngành học với tỷ lệ lần lượt là 9,81%, 8,17%, 7,62%, thì tỷ lệ thí sinh chọn các ngành kinh tế biển chưa đến 1%, với điểm trung bình dự thi không cao. Hiện nay, cả nước có khoảng 8 trường đại học chuyên ngành và không chuyên do 7 bộ quản lý Nhà nước, cùng nhiều trường cao đẳng, trung cấp dạy nghề (chưa kể số cơ sở đào tạo công nhân kỹ thuật của các nhà máy, xí nghiệp) cung cấp nhân lực cho các ngành kinh tế biển. Tuy vậy, số lượng và đào tạo hàng năm của các cơ sở vẫn chưa đảm bảo về số lượng, lẫn chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển.

Thực hiện “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, Nhà nước dự kiến trong vòng 15 đến 20 năm tới sẽ đầu tư khoảng 500 triệu USD cho khoa học công nghệ biển, trong đó 40% dành cho nghiên cứu khoa học và trang bị kỹ thuật, 15% cho đào tạo nguồn nhân lực. Với quyết tâm trên cho thấy sự đổi mới mạnh mẽ tư duy đối với sự phát triển kinh tế biển và phát triển biển của Đảng và Nhà nước ta.

3. Chiến lược phát triển kinh tế biển và nguồn nhân lực Việt Nam

Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 “Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” đã đề ra các mục tiêu như sau:

Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh.

Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học – công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; phấn đấu đến năm 2020, kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP và 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước.

Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển; có thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước. Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ven biển; xây dựng cơ quan quản lý tổng hợp và thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển.

Để đạt được mục tiêu đó, Nghị quyết đã xác định các quan điểm chỉ đạo của Đảng về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 như sau:

Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn.

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc phòng – an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Tại Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X Đảng Cộng sản Việt Nam (2008) tại Hà Nội đã ra Nghị quyết “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Đây là một Nghị quyết chuyên đề của Đảng về xây dựng đội ngũ trí thức – lực lượng quan trọng trong nguồn nhân lực. Nghị quyết đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Với quan điểm chỉ đạo như sau:

Một là, trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là trực tiếp nâng tầm trí tuệ của dân tộc, sức mạnh của đất nước, nâng cao năng lực lãnh đạo của Ðảng và chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Ðầu tư xây dựng đội ngũ trí thức là đầu tư cho phát triển bền vững.

Hai là, xây dựng đội ngũ trí thức là trách nhiệm chung của toàn xã hội, của cả hệ thống chính trị, trong đó trách nhiệm của Ðảng và Nhà nước giữ vai trò quyết định. Trí thức có vinh dự và bổn phận trước Tổ quốc và dân tộc, không ngừng phấn đấu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, đóng góp nhiều nhất cho sự phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, thực hành dân chủ, tôn trọng và phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo của trí thức vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp của trí thức. Trọng dụng trí thức trên cơ sở đánh giá đúng phẩm chất, năng lực và kết quả cống hiến; có chính sách đặc biệt đối với nhân tài của đất nước.

4. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế biển ở Viêt Nam hiện nay

4.1. Một số vấn đề đặt ra

Từ thực trạng nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế biển hiện nay đã chỉ ra một số mâu thuẫn cơ bản:

Một là, mâu thuẫn về yêu cầu về số lượng và chất lượng ngày càng cao của nguồn nhân lực và thực tế đào tạo tại các cơ sở giáo dục – đào tạo trong nước.

Hai là, mâu thuẫn giữa yêu cầu cấp bách của phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại với các phương pháp hoạt động kinh tế truyền thống, lạc hậu của các lĩnh vực phát triển kinh tế biển.

Ba là, mâu thuẫn giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu chính trị trong phát triển kinh tế biển và bảo vệ môi trường sinh thái.

Bốn là, mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về phát triển kinh tế biển và hạn chế của cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực ở các địa phương giáp biển và các cơ sở đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay.

4.2. Một số giải pháp về nguồn nhân lực phát triển kinh tế biển Việt Nam

Để thực hiện được các mục tiêu đề ra, để Việt Nam thực sự giàu lên từ biển, Đảng và Nhà nước cần có những chủ trương, chính sách nhằm đồng bộ thực hiện các giải pháp cấp bách từ đó tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế biển bền vững. Cụ thể:

Một là, nâng cao nhận thức của người lao động và người dân về vai trò, vị trí của biển và kinh tế đối với phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc phòng;

Hai là, đẩy mạnh công tác quy hoạch khoa học nguồn nhân lực kinh tế biển (thống kê, dự báo) đối với từng lĩnh vực hoạt động (trực tiếp hoặc gián tiếp), từ đó có kế hoạch đào tạo đảm bảo đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu về chất lượng lao động hoạt động trong các lĩnh vực thuộc kinh tế biển;

Ba là, tăng cường đầu tư cho các cơ sở nghiên cứu khoa học – công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp lẫn gián tiếp cho các ngành, lĩnh vực thuộc kinh tế biển;

Bốn là, mở rộng hợp tác quốc tế trong đào tạo, huấn luyện nguồn nhân lực kinh tế biển, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực ngang tầm quốc tế trong những lĩnh vực mũi nhọn như du lịch biển, khai thác hải sản, vận tải biển, đóng tàu,…;

Năm là, tăng cường các chương trình huấn luyện bổ sung các kỹ năng cơ bản (phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu, sơ cứu trên biển,…), hỗ trợ phương tiện kỹ thuật, thông tin, y tế,… cho các lao động đang làm việc trong những ngành đặc thù thuộc kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo;

Sáu là, đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng, đạo đức nghề nghiệp và nâng cao thể chất cho đội ngũ lao động tiềm năng hoạt động trong các lĩnh vực phát triển kinh tế biển ở Việt Nam hiện nay;

Bảy là, tuyên truyền, giáo dục kiến thức về luật biển, bảo vệ môi trường sinh thái, biến đổi khí hậu,… cho người lao động và người dân trên cả nước nói chung và đối với các địa phương có biển nói riêng từ đó nâng cao ý thức bảo vệ môi trường biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc;

Tám là, chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho ngành Hàng hải, trong đó cần ưu tiên đề ra các chính sách đào tạo, đào tạo lại, luân chuyển cán bộ; có chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ sỹ quan, thuyền viên, và bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của thuyền viên, đặc biệt là khi Việt Nam đã tham gia Công ước Lao động hàng hải MLC 2006, bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8/2014.

5. Kết luận

Thế kỷ XXI là thế kỷ của đại dương và phát triển kinh tế biển là vấn đề mang tính chiến lược hiện nay. Trong đó, nguồn nhân lực có vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh tế Việt Nam nói chung trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặc dù nguồn nhân lực phục vụ cho phát triển kinh tế biển còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ tiềm năng phát triển kinh tế biển Việt Nam hiện nay, song với những thay đổi về nhận thức, tư duy đúng đắn về chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam thì trong thời gian không xa kinh tế biển sẽ gặt hái được những thành tựu xứng tầm như tiềm năng vốn có của nó.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Phạm Minh Hạc (2011), Nghiên cứu con người và nguồn lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Bùi Ngọc Lan (2002), Sách Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3.Nguyễn Duy Hùng, Vũ Văn Phúc (2012), Sách Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

4. Phạm Thành Nghị (Chủ biên – 2007), Sách Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.

5. Phạm Tất Dong (Chủ biên – 2005), Sách Trí thức Việt Nam thực tiễn và triển vọng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội.

6. Lê Thị Hồng Điệp (2010), Luận án Tiến sĩ Kinh tế chính trị Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.

7. Ấn phẩm thông tin chuyên đề tháng 9/2007 về “Phát triển kinh tế biển Việt Nam” của CIEM – Viện Nghiên cứu Kinh tế và Quản lý Trung ương.

8. Tài liệu hội thảo “Chính sách phát triển kỹ năng và nguồn nhân lực tại Việt Nam”. Do Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội đã phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế và Chương trình hợp tác ILO-Korea tổ chức.

9. Chu Văn Cấp (2012), Bài báo Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao góp phần phát triển bền vững Việt Nam, Tạp chí Cộng sản, số 9 (839).

10. Đề án “Quy hoạch phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam đến năm 2020” theo Quyết định số 1353/QĐ-TTg, ngày 23/09/2008 của Thủ tướng Chính phủ.

SOLUTIONS TO TAKE ADVANTAGE OF VIETNAM’S

HUMAN RESOURCES IN DEVELOPING THE COUNTRY’S

MARINE ECONOMICS IN THE CURRENT PERIOD

Master. LE THI HIEU THAO

Deputy Director, Center of Developing Soft Skills and General Training

Ba Ria Vung Tau University

ABSTRACT:

Keywords: Marine economics, human resources, Vietnam.

Một Số Giải Pháp Phát Huy Vai Trò Của Công Dân Trong Phòng, Chống Tham Nhũng

Trên cơ sở đó, việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói chung và phát huy vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng nói riêng phải thấm nhuần sâu sắc mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa Nhà nước và công dân, đề cao nhân tố con người; tức là phải phát huy được trách nhiệm, sức mạnh của công dân trong tổng thể các biện pháp chung nhằm phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng.

1. Nâng cao nhận thức về vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của công dân.

Công dân với vai trò là chủ thể của quyền lực nhà nước, công dân ủy quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lực của mình thì sẽ luôn quan tâm và chủ động giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước đó. Nâng cao nhận thức của công dân đối với việc kiểm soát quyền lực nhà nước có tác động rất lớn đến hoạt động phòng, chống tham nhũng Theo đó, cần thiết phải:

– Giáo dục đạo đức, lối sống cho thế hệ thanh niên nhận thức rằng tham nhũng là một hành vi phi đạo đức, cần bị lên án, đấu tranh. Xây dựng nền tảng đạo đức hướng tới một xã hội trong sạch, đề cao liêm chính, không chấp nhận tham nhũng nhằm thiết lập cơ sở xã hội vững chắc ngăn ngừa tệ nạn này từ gốc. Do đó, trong công tác giáo dục đạo đức, chính trị, tư tưởng, cần nhấn mạnh việc xây dựng và thực hiện các giải pháp về chiến lược xây dựng nguồn nhân lực có đạo đức liêm chính.

– Bản thân người dân cần chủ động nâng cao ý thức làm chủ của mình, tích cực tìm hiểu các quy định pháp luật để xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật, hành động trên cơ sở pháp luật, có hành vi xử sự tích cực trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình nhằm phòng, chống tham nhũng. Từ đó, công dân sẽ có hiểu biết, có ý thức thực hiện đúng quy định của pháp luật (hành xử trong phạm vi pháp luật không cấm); ý thức được trách nhiệm công dân của mình trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Công dân có thể lên án, đấu tranh với các hành vi tham nhũng bằng nhiều phương thức, cách thức phù hợp với chuẩn mực về pháp lý và đạo lý; tạo dư luận phản đối các hành vi tiêu cực; gây áp lực đối với người có hành vi tham nhũng.

Như vậy, vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi thông qua các quan hệ pháp luật. Chỉ có thông qua hành vi pháp luật mà quan hệ pháp luật được hình thành và đến lượt mình nó trở thành phương tiện để chuyển hóa, làm cho quyền và nghĩa vụ pháp lý trở thành hiện thực. Theo đó, nâng cao trình độ văn hóa pháp lý là yêu cầu cấp bách để nâng cao tính tích cực của công dân trong việc thực hiện phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng.

Thứ hai, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước về vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân, Nhà nước cần tiếp tục củng cố, từng bước hoàn thiện những điều kiện bảo đảm nhằm hiện thực hóa quyền của công dân đã được pháp luật ghi nhận để họ có thể thực sự chủ động, quyết định lựa chọn cách xử sự phù hợp trong đấu tranh chống tham nhũng.

Đội ngũ cán bộ, công chức là một mắt xích quan trọng trong cơ cấu thực thi quyền lực nhà nước, bảo vệ các quyền công dân, đặc biệt là cán bộ cấp cơ sở vì đây chính là chủ thể thường xuyên tiếp xúc, nắm bắt được tình hình triển khai, thực thi quyền của công dân trong phòng, chống tham nhũng trên thực tế. Do đó, nâng cao nhận thức và năng lực cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện được quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong phòng, chống tham nhũng là cần thiết.

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức chung của cán bộ, công chức về liêm chính trong hoạt động công vụ, giúp cán bộ, công chức hiểu rõ về liêm chính; nhận thức về ý nghĩa, vai trò của liêm chính trong hoạt động công vụ; những giá trị và chuẩn mực phải tuân thủ; ý thức trách nhiệm của mỗi người về xây dựng và thực hiện liêm chính… Từ đó, cán bộ, công chức có cách nhìn đúng đắn hơn về trách nhiệm của họ trong việc đảm bảo thực thi quyền của công dân trong tham gia phòng, chống tham nhũng như công khai, minh bạch, đảm bảo trách nhiệm giải trình từ việc tiếp thu các ý kiến góp ý của công dân, cơ quan, tổ chức vào các dự thảo chính sách, pháp luật cho đến việc tiếp nhận, xử lý, giải quyết tố cáo tham nhũng.

Thứ ba, nâng cao nhận thức của các thành viên trong các tổ chức xã hội.

Nhận thức là cơ sở của hành động tích cực. Thành viên các tổ chức xã hội khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn phòng, chống tham nhũng là đang đại diện cho nguyện vọng, tiếng nói của người dân nên cần thiết phải nhận thức được trách nhiệm của mình và có những kiến thức, kỹ năng nhất định. Mỗi tổ chức có những định hướng, mục tiêu và phương thức hoạt động khác nhau, do đó các thành viên cũng cần có những kiến thức, kinh nghiệm và kỹ năng phù hợp. Trên cơ sở đó thực hiện tốt các nhiệm vụ trong tổ chức của mình.

2. Hoàn thiện pháp luật nhằm phát huy vai trò của công dân trong phòng, chống tham nhũng

Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật hoạt động giám sát của nhân dân: Hiện nay, giám sát của nhân dân nhằm kiểm soát quyền lực đã được bàn luận nhiều nhưng quy định về quyền này chưa rõ ràng, nằm rải rác trong nhiều văn bản khác nhau. Công dân chưa thực sự biết mình có quyền gì, trong giới hạn nào và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước ra sao. Vì vậy, cần thiết phải rà soát, hệ thống hóa các quy định về giám sát của nhân dân trong các văn bản pháp luật để tiến tới nghiên cứu xây dựng Luật hoạt động giám sát của nhân dân. Luật phải thể chế hóa được các quan điểm, chủ trương của Đảng và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 nhằm xác định rõ các vấn để cơ bản về đối tượng giám sát, nội dung giám sát, phạm vi giám sát, phương pháp giám sát; quyền và trách nhiệm của chủ thể và đối tượng được giám sát, về các điều kiện đảm bảo thực hiện, tổ chức thực hiện giám sát của nhân dân.

Thứ ba, nghiên cứu sửa đổi Nghị định 47/2007/NĐ-CP ngày 27/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng về vai trò, trách nhiệm của xã hội trong phòng, chống tham nhũng: Nghị định 47/2007/NĐ-CP ra đời cách đây 10 năm. Trong khoảng thời gian đó, Luật phòng, chống tham nhũng đã hai lần sửa đổi, bổ sung và hiện nay đang dự thảo để chuẩn bị thông qua trong kỳ họp Quốc hội tới. Theo đó, trên tinh thần Hiến pháp năm 2013, khuyến nghị của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC) và Luật phòng, chống tham nhũng sửa đổi, cần sửa Nghị định này theo hướng nêu rõ vai trò chủ động của các chủ thể xã hội là Mặt trận tổ quốc, Ban thanh tra nhân dân, báo chí, doanh nghiệp và đặc biệt là công dân trong phòng, chống tham nhũng.Trong đó, quy định rõ các quyền, trách nhiệm cụ thể cho các chủ thể này như quyền tiếp cận thông tin, quyền được bảo vệ khi tố cáo tham nhũng…. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung các quy định về vai trò, trách nhiệm của các tổ chức xã hội không sử dụng ngân sách nhà nước trong phòng, chống tham nhũng; không chỉ quy định trách nhiệm phòng, chống tham nhũng trong nội bộ tổ chức và hoạt động của bản thân các tổ chức này mà cần quy định rõ giới hạn, phạm vi trách nhiệm đến đâu trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Thứ hai, đảm bảo thực hiện công khai, minh bạch tạo điều kiện cho công dân tiếp cận thông tin: Tăng cường minh bạch thông tin về hoạt động của cơ quan nhà nước là một trong những cơ chế thúc đẩy niềm tin của nhân dân vào chính quyền và cũng là một trong các biện pháp hạn chế tối đa tham nhũng vì khi minh bạch, công dân được giám sát và tham gia quản lý nhà nước. Điều quan trọng là phải làm thế nào để công dân tin rằng các yêu cầu chính đáng của mình phải được và chắc chắn sẽ được cơ quan nhà nước đáp ứng thuận lợi trong thời gian thích hợp, một khi các thủ tục luật định được thực hiện đầy đủ; quy trình xử lý công việc, về phần mình, sẽ vận hành suôn sẻ mà không cần trợ lực bằng các “chất bôi trơn”.

Thứ ba, nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước. Tiếp cận thông tin một cách đầy đủ là cơ sở để người dân nắm bắt được các hoạt động của cơ quan nhà nước. Chỉ khi nắm bắt được đầy đủ thông tin thì người dân mới có cơ sở để đưa ra các yêu cầu giải trình của mình. Ngược lại, khi đã được tiếp cận đầy đủ thông tin cần thiết, người dân sẽ không phát sinh các thắc mắc, yêu cầu giải trình, kiến nghị, phản ánh nữa. Bên cạnh đó, các thông tin được công khai sẽ khiến cho cán bộ, công chức ý thức cao hơn về trách nhiệm của mình trong việc cung cấp, giải thích thông tin cho người dân, chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ của mình trước người dân.

Thứ tư, tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng nói chung và việc thực hiện kê khai tài sản, thu nhập nói riêng từ những phản ánh, kiến nghị, tố cáo của cơ quan, tổ chức, công dân. Các cơ quan nhà nước cần căn cứ trên cơ sở những phản ánh từ thông tin có dấu hiệu cho rằng tài sản, thu nhập được kê khai tăng bất thường so với nguồn gốc và không có sự rõ ràng từ hoạt động bên ngoài; dựa trên các dấu hiệu làm giàu không chính đáng, hành vi đáng ngờ và theo đơn tố giác của công dân để tiến hành thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định về kê khai tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn.

Thứ năm, các cấp lãnh đạo kiên quyết chỉ đạo xử lý đến cùng và nghiêm minh những vụ việc tiêu cực, tham nhũng đã được phát hiện; nhất là các vụ án tham nhũng lớn, được dư luận quan tâm để cải thiện niềm tin của công dân. Việc xử lý nghiêm minh những vụ việc tham nhũng đã được phát hiện; đặc biệt là các vụ án tham nhũng được dư luận quan tâm sẽ đem lại niềm tin cho nhân dân, tác động tích cực đến quyết tâm tham gia của công dân trong giám sát, phát hiện, phản ánh, tố cáo hành vi tham nhũng. Khi và chỉ khi công dân tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, đội ngũ cán bộ, công chức thì ý thức về trách nhiệm phòng, chống tham nhũng ngày càng được khẳng định; năng lực giám sát, phát hiện ngày càng có cơ sở để phát huy.

Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng bằng nhiều hình thức phong phú, sinh động. Chú trọng công tác giáo dục đạo đức liêm chính đối với các đối tượng thông qua nhiều cách thức, trong đó đặc biệt là qua hệ thống giáo dục quốc dân. Ngoài ra, tăng cường tuyên truyền về những hình mẫu, tấm gương tích cực trong phòng, chống tham nhũng; hướng dẫn cách xử lý những tình huống cụ thể có khả năng xảy ra tham nhũng, tiêu cực mà công dân có thể gặp phải trong cuộc sống hàng ngày; tuyên dương, động viên những thanh niên liêm chính bằng các hình thức hỗ trợ và tạo thêm cho họ cơ hội phát triển như học bổng, khóa đào tạo, thực tập và phần thưởng tập thể.

Để phòng, chống tham nhũng hiệu quả cần phải có sự kết hợp của cả cơ chế kiểm soát từ trong chính bản thân các cơ quan nhà nước và từ bên ngoài xã hội. Việc tự kiểm soát thường sẽ khó có thể làm và làm tốt nếu không phải đối mặt với sức ép mạnh mẽ từ phía người dân, công luận và xã hội. Vì vậy, công dân là một trong những chủ thể đóng vai trò quan trọng cần phải được phát huy, tạo điều kiện trong cuộc chiến chống tham nhũng. Điều này đã được khẳng định hơn tại Hiến pháp năm 2013 khi tiếp tục tái khẳng định quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và bổ sung quy định Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội, trong đó không thể không bao gồm quyền tham gia phòng, chống tham nhũng ./.

ThS. Tạ Thu Thủy

Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra

Một Số Giải Pháp Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Hiện Nay

Trong bối cảnh nền nông nghiệp nước ta hiện đang gặp nhiều bất cập, một số giải pháp phát triển nông nghiệp là điều mà những người nông dân quan tâm và tìm hiểu. Nông nghiệp muốn phát triển bền vững và lớn mạnh hơn đòi hỏi người làm nông phải có cái nhìn khái quát về tình hình hiện tại và chủ động cải thiện những vấn đề khó khăn trước mắt.

Dựa trên những nghiên cứu thực tiễn trước đây, HiFarm sẽ đề xuất một số giải pháp giúp người nông dân có thể cải thiện và phát triển nông nghiệp bền vững.

Một số giải pháp phát triển nông nghiệp

Muốn phát triển nông nghiệp, cải thiện chất lượng, nâng cao năng suất và mang lại nguồn lợi nhuận cao người dân cần phải vận dụng tổng hợp các yếu tố về:

Lựa chọn giống sản phẩm phù hợp

Vấn đề nhà nhà đều biết nhưng không phải ai cũng thực hiện được. Muốn sản phẩm sản xuất ra đạt chuẩn về chất lượng cũng như cho năng suất cao thì hiển nhiên giống loại phải thuộc loại tốt. Thế nhưng, vẫn còn rất nhiều nhà nông, doanh nghiệp bỏ qua vấn đề này chỉ bởi hai chữ “Lợi nhuận”.

Những loại giống kém chất lượng sẽ có giá vốn thấp nhưng đồng nghĩa với việc sản phẩm tạo ra cũng kém, chất lượng cũng kém. Thậm chí sẽ không thu về được sản phẩm, hoặc nếu thu được thì những sản phẩm cũng ngấm không biết bao nhiêu chất hóa học. Ngoài ra, cần nên tập trung lựa chọn sản xuất những nhóm sản phẩm có:

Lợi thế và quy mô xuất khẩu lớn

Khả năng cạnh tranh cao

Khả năng phát triển và thay thế hàng nhập khẩu

Chính vì thế, lựa chọn đúng loại giống và giống chất lượng sẽ là yếu tố hàng đầu khi muốn phát triển nông nghiệp.

Cải thiện, cải tạo và bảo vệ nguồn tài nguyên

Đất và nước hai nguồn tài nguyên chính trong nông nghiệp. Thế nhưng thực trạng nước ta hiện nay, nguồn nước người dân sử dụng hằng ngày vẫn còn bị ô nhiễm thì nước tưới tiêu cũng không phải trường hợp ngoại lệ. Nguồn chất thải từ các nhà máy, xí nghiệp xả thải trực tiếp ra sông, suối,…gây ảnh hưởng nặng nề, thậm chí các hóa chất độc hại còn ngấm vào nguồn đất.

Nói về nguồn đất, không chỉ bị ô nhiễm bởi nguồn nước ngấm vào mà còn từ các hóa chất kích thích, thuốc bảo vệ thực vật mà người làm nông đã lạm dụng quá nhiều khi trồng trọt, chăn nuôi. Những việc làm này đã làm gây nên ảnh hưởng không nhỏ cho ngành nông nghiệp.

Nâng cao, mở rộng và lựa chọn tiêu dùng hàng trong nước

Vấn đề gây nên nhiều tranh cãi và khó khăn khi phát triển nông nghiệp là đây. Bởi những yếu tố đã nêu trên khiến cho sản phẩm trong nước giảm dần uy tín, chất lượng. Điều này dẫn đến tình trạng người tiêu dùng trong nước chuộng hàng nhập khẩu. Hoặc những bất cập như giá sản phẩm từ nông trại ra thị trường chênh lệch quá cao, sản phẩm ứ đọng trong khi thị trường lại khan hiếm. Do đó, vấn đề trước mắt là cần cải thiện chất lượng sản phẩm, tạo dựng lòng tin của người tiêu dùng và giảm thiểu sự chênh lệch giá cả.

Đẩy mạnh, áp dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp

Trong một số giải pháp phát triển nông nghiệp thì đây chính là vấn đề cần được quan tâm và đầu tư đẩy mạnh nhiều nhất. Trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế , thời đại 4.0 khiến khoa học công nghệ ngày càng tiên tiến, hiện đại hơn. Việc ứng dụng các công nghệ cao và sản xuất nông nghiệp là một lẽ tất yếu.

Thế nhưng, đây cũng không phải điều dễ dàng có thể thực hiện. Bởi để đầu tư nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi ở người nông dân:

Nguồn vốn đầu tư cao

Trang bị về kiến thức khi ứng dụng công nghệ vào nông nghiệp

Hiểu rõ về tầm quan trọng của công nghệ trong nông nghiệp

Đồng thời, công nghệ ứng dụng vào nông nghiệp tại nước ta chưa phát triển mạnh mẽ, đa số phải nhập về trực tiếp từ nước ngoài, chưa có nhiều doanh nghiệp đầu tư và cung cấp giải pháp công nghệ cho nông dân.

Hiểu được những khó khăn khi phát triển trang trại nói riêng và ngành nông nghiệp nói chung. Giải pháp nông trại thông minh của HiFarm đã ra đời. Nhằm cải thiện cho người nông dân khi nuôi trồng, canh tác nông sản các vấn đề về:

Nguồn giống

Môi trường, thời tiết, đất nước

Chi phí và thời gian

Khả năng tiêu thụ

Công nghệ tự động hóa hoàn toàn

– HiFarm –

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Nhằm Phát Huy Vai Trò Của Nông Dân Việt Nam Hiện Nay trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!