Xem Nhiều 2/2023 #️ Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung # Top 4 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Một số giải pháp phát triển bền vững ngành Điện Việt Nam

Để đảm bảo phát triển ngành Điện lực Việt Nam bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cần tập trung nỗ lực vào việc tăng cường khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, kiên định theo đuổi kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon và thúc đẩy đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, mặt trời và sinh khối.

8 đề xuất hoàn thiện Đề án điều chỉnh Quy hoạch điện VII

TS. NGUYỄN MẠNH HIẾN – Hội đồng Khoa học VEA

Phát triển điện lực nói riêng và phát triển năng lượng nói chung có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của đất nước. Vì vậy, để đảm bảo phát triển điện lực bền vững cần nghiên cứu triển khai các giải pháp chủ yếu sau:

Khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Có thể nói đây là giải pháp hữu hiệu nhất mà nhiều nước trên thế giới áp dụng, nhằm giảm nhu cầu điện năng để từ đó giảm chi phí đầu tư vào phát triển nguồn lưới cung cấp điện, giảm tác động xấu đến môi trường sinh thái (giảm phát thải ô nhiễm, chiếm dụng đất đai…) và giảm giá thành điện năng…

Theo nghiên cứu, đánh giá của một số chuyên gia năng lượng trong nước và quốc tế, giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả có thể giảm nhu cầu điện năng của cả nước khoảng 11-12% vào năm 2030.

Ví dụ: giả sử, tổng sản lượng điện yêu cầu của toàn quốc năm 2030 bình thường được dự báo khoảng 500 tỷ kWh, thì khi có tính đến khả năng thực khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, sản lượng điện có thể giảm được là khoảng 55-60 tỷ kWh (nghĩa là nhu cầu tổng sản lượng phát điện năm 2030 chỉ còn là 440 – 445 tỷ kWh), tương ứng giảm yêu cầu bổ xung công suất nguồn phát điện khoảng 9 đến 10 ngàn MW trong giai đoạn 2016-2030, kèm theo một khối lượng đáng kể lưới điện truyền tải và phân phối từ nguồn đến phụ tải điện. Tổng chi phí vốn đầu tư tiết kiệm được theo giải pháp ước tính tới vài trục tỷ USD.

Theo đuổi kịch bản phát triển năng lượng phát thải ít carbon

Khí carbon dioxyt (CO2) phát thải từ việc đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than trong năng lượng và dầu mỏ trong giao thông vận tải) được coi là tác nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính làm trái đất nóng lên. Vì vậy, hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới trong chiến lược phát triển của mình đều hết sức quan tâm đến cuộc chiến chống biến đổi khí hậu toàn cầu và theo đuổi các kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon. Đối với nước ta, hiện tại và trong tương lai, lượng phát thải CO2 từ các nhà máy nhiệt điện than chiếm tỷ trọng rất lớn, tiêu thụ than có thể lên đến trên dưới 100 triệu tấn vào năm 2030, trong khi đó lượng than khai thác trong nước có khả năng cung cấp cho sản xuất điện dự báo chỉ có thể hạn chế khoảng 40 triệu tấn/năm, khoảng 2/3 lượng than còn lại sẽ là than nhập.

Để đáp ứng yêu cầu giảm phát thải khí CO2, cần phải nghiên cứu xem xét giảm tỷ trọng cac nhà máy nhiệt điện than trong cơ cấu phát triển nguồn điện mà thay thế bằng các nguồn không/ít phát thải carbon như: tăng cường tỷ trọng nguồn điện từ năng lượng tái tạo và nhập khẩu; xây dựng các nhà máy điện nguyên tử và các nhà máy điện sử dụng khí hóa lỏng…

Việc giảm tỷ trọng nguồn nhiệt điện than còn có ý nghĩa hết sức quan trọng, là giảm bớt sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn than nhập khẩu, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo

Như trên đã nêu, giải pháp hữu hiệu và chủ động nhất để bù đắp lượng nhiệt điện than suy giảm trong cơ cấu phát triển nguồn điện theo kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon là tăng cường phát triển nguồn điện từ năng lượng tái tạo, mà chủ yếu là thủy điện nhỏ, sinh khối, gió và mặt trời. Thời gian qua, trong các loại nguồn này, ngoài nguồn thủy điện nhỏ đã có truyền thống phát triển từ lâu và đang được tiếp tục duy trì tại các tỉnh miền núi, các loại nguồn khác vẫn chưa được quan tâm đúng mức về các cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư phát triển và ưu đãi trợ giá bán điện. Tuy nhiên, từ nay trở đi việc đầu tư phát triển các dự án điện từ năng lượng tái tạo sẽ có được các điều kiện thuận lợi, vì các lý do cơ bản sau:

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định “Phê duyệt chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050”, trong đó đã nêu lên định hướng phát triển các dự án điện sinh khối, gió và mặt trời đến gần 90 tỷ kWh, chiếm tỷ trọng khoảng 15% tổng sản lượng phát điện vào năm 2030. Chiến lược cũng đề xuất các cơ chế chính sách về ưu tiên, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, về xây dựng giá bán điện, đảm bảo thu hồi chi phí đầu tư và lợi nhuận hợp lý đối các dự án năng lượng tái tạo nối lưới.

Ngoài ra, theo nghiên cứu, đánh giá của các chuyên gia năng lượng quốc tế, chi phí đầu tư các dự án điện từ năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió và mặt trời có xu hướng ngày càng giảm mạnh, dẫn tới giá thành điện năng các dự án gió, mặt trời hoàn toàn có thể cạnh tranh được tại một số thị trường, ngay cả khi không có trợ giá và không chỉ vì có nguồn tài nguyên tốt. Theo khảo sát đánh giá của chuyên gia Ngân hàng Thế giới – Ts. Pierre Audinet trong báo cáo “Khảo sát con đường phát triển phát thải ít carbon cho Việt Nam” tại Hội nghị “Định hình tương lai phát triển bền vững điện lực Việt Nam”, Đà Nẵng, tháng 11/2015, hiện tại điện mặt trời trên mái nhà rẻ hơn giá điện bán lẻ tại ít nhất 11 quốc gia, điện gió cũng cạnh tranh được với điện than tại các nước: Australia, Chile, Mexico, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ.

Tại một số nước hoặc khu vực có điện gió, mặt trời, giá cụ thể như sau: Ai Cập, giá điện gió 4cent/kWh; Ấn Độ, tại một số khu vực giá điện gió ở mức 6-10 cent/kWh, so với điện than là 5-8 cent/kWh; Brazil, điện gió 4,5 cent/kWh, rẻ hơn bất kỳ nguồn năng lượng nào khác; Hoa Kỳ, điện gió ở mức 5-8 cent/kWh, rẻ hơn nhiệt điện than mới; Nam Phi, điện gió 7 cent/kWh, rẻ hơn 30% so với nhiệt điện than mới; Các tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất (UAE), điện mặt trời 5,6 cent/kWh.

Kết luận

Để đảm bảo phát triển ngành Điện lực Việt Nam bền vững trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, cần tập trung nỗ lực vào việc tăng cường khai thác tiềm năng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và sinh hoạt; kiên định theo đuổi kịch bản tăng trưởng phát thải ít carbon trong Quy hoạch phát trển Điện lực với quy định bắt buộc áp dụng công nghệ than sạch (công nghệ lò hơi siêu tới hạn) đối với các dự án nhiệt điện than mới và thúc đẩy đầu tư phát triển các dự án năng lượng tái tạo, đặc biệt là điện gió, mặt trời và sinh khối.

Huy P1 ST- NangluongVietnam Online

Tìm Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Bền Vững Ở Miền Trung Việt Nam Và Asean

Trong 2 ngày 8 và 9/6 tại Đà Nẵng diễn ra Hội thảo khoa học “Phát triển du lịch bền vững ở miền Trung Việt Nam và ASEAN” với sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, học giả trong lĩnh vực du lịch đến từ nhiều quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Philippin, Sri Lanka….

Hội thảo “Phát triển du lịch bền vững ở miền Trung Việt Nam và ASEAN”

Hội thảo nhằm đánh giá lại thực trạng phát triển du lịch tại khu vực miền Trung Việt Nam và các nước ASEAN thông qua những bài học, kinh nghiệm thực tế từ những điểm đến du lịch của các địa phương trong ASEAN. Từ đó đưa ra các giải pháp, đề xuất phát triển bền vững từng điểm đến cũng như trong liên kết toàn khu vực.

Nội dung của hội thảo tập trung vào 5 nhóm vấn đề chính bao gồm thực tiễn và kinh nghiệm phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, khu vực ASEAN và trên thế giới; Khai thác và bảo tồn di sản văn hóa, bản sắc văn hóa các dân tộc trong phát triển du lịch bền vững; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển du lịch bền vững; thực trạng và những vấn đề đặt ra cho du lịch bền vững miền Trung Việt Nam trong bối cảnh hợp tác và cạnh tranh toàn cầu; Giải pháp phát triển du lịch bền vững khu vực miền Trung Việt Nam.

Hội thảo thu hút đông đảo các chuyên gia, nhà nghiên cứu, học giả về du lịch khu vực ASEAN và một số nước trên thế giới

Nguồn nhân lực du lịch là yếu tố được nhiều đại biểu tham gia hội thảo quan tâm hơn cả để phát triển du lịch bền vững khu vực ASEAN. Theo Thạc sĩ Christina G.Aquino, đại học Lyceum Philippin, cần phải có sự thừa nhận lẫn nhau về nhân lực trong khối ASEAN. Cần phải tập trung phát triển đội ngũ chuyên gia du lịch đủ năng lực cần thiết để duy trì phát triển du lịch ở bất kỳ điểm đến nào trong khu vực ASEAN. Tiếng Anh được chọn làm ngôn ngữ chung cho đội ngũ chuyên gia này. Để làm được điều này các quốc gia cần phải đạt được Thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau về lao động du lịch trong ASEAN (MRA-TP) được xác định trong Tầm nhìn 2020 của Cộng đồng ASEAN.

Giáo sư Joseph Lema, Đại học Stockton thì đặt vấn đề về ứng dụng của công nghệ đối với nhân sự du lịch bởi ngày càng có nhiều du khách áp dụng và chấp nhận các công nghệ mới từ đơn giản đến phức tạp để tăng thêm trải nghiệm trong chuyến du lịch của họ. Giáo sư Joseph Lema cho rằng để duy trì một lực lượng lao động mang tính cạnh tranh thì việc phát triển các kỹ năng truyền tải nhằm thực hiện và dẫn dắt sự thay đổi là điều cần thiết. Các khía cạnh của dịch vụ tự định hướng xuất hiện cho phép du khách có sự kiểm soát các trải nghiệm của họ tốt hơn.

Ngoài ra, các đại biểu cũng trao đổi về du lịch cộng đồng trong phát triển du lịch nông thôn, kết hợp di sản với cảnh quan bản địa trong các dự án du lịch nông thôn, vai trò của ẩm thực, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đối với phát triển du lịch, khai thác du lịch tri thức, tác động của các mô hình homestay đối với du lịch, phát triển du lịch y tế cho người già, và vai trò của các khách sạn trong du lịch bền vững.

Sau thời gian hội thảo, các đại biểu đã thực hiện nghiên cứu thực địa tại khu Dự trữ sinh quyền Cù Lao Chàm.

Nguồn: baocongthuong.com.vn

Giải Pháp Cho Ngành Dệt May Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Dệt May là một trong những ngành công nghiệp mũi nhọn của Việt Nam (VN). Xuất khẩu dệt may nước ta đang nằm trong top những nước xuất khẩu dệt may cao nhất thế giới và được kỳ vọng là sẽ tiếp tục tăng tốc khi VN đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, đặc biệt là các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA.

Nguồn cung nguyên liệu chính là “nút thắt” lớn nhất của ngành Dệt May Việt Nam

Tuy nhiên, để có thể tận dụng được các lợi thế mang lại từ những hiệp định này, các chuyên gia cho rằng, ngành Dệt May của VN phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quy tắc xuất xứ, mà giải pháp bền vững cần chú trọng xây dựng là CNHT dành cho ngành Dệt May trong nước.

Tiềm năng còn rất lớn

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, ngành Dệt May VN đóng góp 10% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, tạo công ăn việc làm cho khoảng 2,7 triệu lao động, chiếm tỷ lệ 25% tổng số lao động trong ngành công nghiệp, là ngành có kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 2 cả nước. Trong giai đoạn 2009 – 2018, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may liên tục tăng trưởng với tốc độ trung bình ở mức 13,06%.

Năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt 39 tỷ USD, tăng 7,55% so với năm 2018, trong đó, tỷ trọng xuất khẩu của các DN đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 59% tổng giá trị. Thị trường xuất khẩu chủ lực là Mỹ, EU, Hàn Quốc và Nhật Bản.

         

Với những tiềm năng sẵn có trong bối cảnh hội nhập, cùng với việc VN đã ký và tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, ngành Dệt May được đánh giá là một trong những ngành sẽ được hưởng lợi nhiều từ các hiệp định này. Các chuyên gia cho rằng, nhờ hưởng lợi thuế quan từ CPTPP và EVFTA, hàng dệt may VN sẽ trở nên cạnh tranh hơn, tổng giá trị xuất khẩu có thể tăng thêm 4,04% và nhập khẩu tăng thêm 3,8% vào năm 2035, tổng số việc làm tăng thêm hàng năm khoảng 20.000 đến 26.000 lao động, đặc biệt, trong trường hợp đáp ứng được các điều kiện về nguyên tắc xuất xứ, Dệt May VN dự kiến tăng gấp đôi thị phần tại thị trường các nước CPTPP sau khi FTA này có hiệu lực kể từ năm 2019.

Tuy nhiên, theo TS.Võ Trí Thành – Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, mức độ tận dụng được những ưu đãi trên của VN đã được cải thiện rất nhiều những vẫn khá thấp. Tính tất cả các FTA thì VN mới chỉ vận dụng được khoảng 39% giá trị hàng xuất khẩu. Qua đó thấy rằng, tiềm năng của ngành này còn rất lớn.

Điểm nghẽn của ngành Dệt May

Rõ ràng triển vọng phát triển ngành Dệt May là rất tích cực, tuy nhiên, ngành này cũng sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn, chưa thể hưởng lợi nhiều ngay lập tức từ các hiệp định bởi các hàng rào phi thuế quan như: Chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ…, đặc biệt là chưa đáp đứng được yêu cầu quy định về nguyên tắc xuất xứ.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May VN cho rằng, nguồn cung nguyên liệu ngành Dệt May chính là nút thắt lớn trong việc hưởng cơ hội mà EVFTA mang lại. Bởi ngành Dệt May VN chủ yếu chỉ thực hiện những công đoạn đơn giản như gia công và đến 90% nguyên phụ liệu cho ngành Dệt May đang phải nhập khẩu từ những thị trường chưa ký hiệp định FTA với EU. Do vậy, các tiêu chuẩn về quy tắc xuất xứ cao của EVFTA sẽ là thách thức rất lớn với các DN dệt may VN, đặc biệt là khâu dệt, nhuộm hoàn tất.

Ngành Dệt May sẽ khó phát triển bền vững nếu thiếu CNHT

Phát triển CNHT phải là trọng tâm ưu tiên

Các chuyên gia cho rằng, để thao gỡ nút thắt giúp ngành Dệt May có thể tự chủ hơn về nguyên phụ liệu, cần coi phát triển CNHT là một ưu tiên trọng tâm. Phải có quy hoạch quốc gia về xây dựng những vùng nguyên liệu, chiến lược về phát triển các vùng nguyên liệu hoặc các nguồn nguyên liệu nhập khẩu thay thế. Song song với đó là chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực.

Bà Nguyễn Thị Xuân Thúy – Phó Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ phát triển CNHT Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cho rằng, thời gian qua, ngành Dệt May đã đạt được nhiều mục tiêu quan trọng, tuy nhiên cũng có những mục tiêu chưa đạt được, trong đó, quan trọng nhất là việc hình thành chuỗi giá trị và đáp ứng nhu cầu vải sử dụng trong nước cũng như xuất khẩu. Để giải quyết vấn đề này và nâng giá trị của Dệt May VN cao hơn trong chuỗi giá trị, cần tập trung vào việc xây dựng năng lực của các DN trong nước xuyên suốt toàn bộ chuỗi giá trị, bao gồm từ khâu kéo sợi, dệt vải đến khâu thiết kế nhằm liên kết toàn bộ ngành Dệt May. Cùng với đó là tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời, phải giải quyết được vấn đề môi trường. Ngoài ra, những vấn đề về thuế và hoàn thuế, khả năng tiếp cận nguồn vốn; quỹ đất của các DN dệt may, đặc biệt là đối với các DN dệt nhuộm, cũng cần quan tâm.

Có thể thấy, phát triển CNHT là yêu cầu tất yếu cho sự phát triển của ngành Dệt May VN trong bối cảnh hội nhập. Chỉ khi CNHT phát triển, các DN dệt may trong nước mới có thể tự chủ về nguyên phụ liệu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa trong các sản phẩm xuất khẩu, đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ. Đây cũng chính là cơ sở để các DN dệt may VN tham gia được vào chuỗi cung ứng toàn cầu./.

Minh Vũ

Giải Pháp Thúc Đẩy Ngành Du Lịch Việt Nam Phát Triển Bền Vững

Tiềm năng và thách thức đối với phát triển du lịch Việt Nam

Với những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý kinh tế và chính trị, Việt Nam có rất nhiều thuận lợi để phát triển du lịch. Nằm ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thông ra đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đường sông, đường sắt, đường bộ và hàng không. Đây là tiền đề rất quan trọng trong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế.

Việt Nam là đất nước có tiềm năng lớn về du lịch. Ngoài những danh thắng đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới như: Vịnh Hạ Long, Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Vườn quốc gia Phong Nha- Kẻ Bảng… Việt Nam còn thu hút khách du lịch nước ngoài với hàng loạt địa điểm du lịch sinh thái kéo dài khắp ba miền Tổ quốc.

Tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú và đa dạng. Các đặc điểm đa dạng về cấu trúc địa hình biển và hải đảo, đồng bằng, đồi núi, cao nguyên đã làm cho lãnh thổ Việt Nam đa dạng, phong phú về cảnh quan và các hệ sinh thái có giá trị cao cho phát triển du lịch, đặc biệt là hệ sinh thái biển, hệ sinh thái sông hồ, hệ sinh thái rừng, hang động. Thêm vào đó, với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam cũng rất phong phú. Trong số khoảng 40.000 di tích lịch sử trên khắp miền đất nước, có hơn 2.500 di tích đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng.

Ngoài những lợi thế trên, Việt Nam còn là nước có chế độ chính trị ổn định, có nguồn nhân lực dồi dào. Chính sách đổi mới, mở cửa và hội nhập của Nhà nước cũng tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại trong đó có du lịch phát triển.

Tuy nhiên, bên cạnh những tiềm năng trên, hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam còn gặp không ít khó khăn và thách thức như: Trong giai đoạn đầu của sự phát triển, điểm xuất phát của du lịch Việt Nam quá thấp so với các nước trong khu vực. Khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam cũng còn rất hạn chế trước sự cạnh tranh gay gắt của du lịch trong khu vực và thế giới. Trong khi đó, công tác quản lý môi trường tự nhiên và môi trường xã hội tại nhiều điểm du lịch còn yếu kém và chưa được coi trọng. Công tác quản lý điểm đến chưa được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Tình trạng mất vệ sinh, an ninh, trật tự tại các điểm du lịch vẫn thường xuyên xảy ra. Tình trạng taxi dù, hiện tượng chèo kéo, bán hàng rong, lừa đảo, ép khách du lịch vẫn thường xuyên diễn ra ở nhiều địa phương, nhất là mùa cao điểm…

Bên cạnh đó, nguồn tài nguyên du lịch chưa được thống kê, đánh giá, phân loại và xếp hạng để quản lý khai thác một cách bền vững, hiệu quả. Dẫn tới tài nguyên du lịch thì nhiều, nhưng khai thác bừa bãi, mới dừng ở bề nổi, khai thác cái sẵn có chưa phát huy giá trị của tài nguyên. Sự xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể kinh tế và các ngành, tầm nhìn ngắn hạn và hạn chế về công nghệ dẫn tới một số tài nguyên du lịch bị tàn phá, sử dụng sai mục đích… tác động tiêu cực tới phát triển du lịch bền vững.

Tính chuyên nghiệp khi xây dựng sản phẩm du lịch, xúc tiến quảng bá cũng chưa được nâng cao. Sản phẩm du lịch Việt Nam vẫn chậm đổi mới, còn nghèo nàn, đơn điệu, thiếu đặc sắc, ít sáng tạo, còn trùng lặp giữa các vùng miền, giá trị gia tăng hàm chứa trong sản phẩm du lịch thấp, thiếu đồng bộ và thiếu liên kết trong phát triển sản phẩm. Công tác xúc tiến quảng bá còn nhiều hạn chế, chưa chuyên nghiệp, chưa bài bản, chưa hiệu quả; mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu du lịch. Kinh phí nhà nước đầu tư còn hạn chế, cho nên chưa tạo được hiệu ứng kích cầu đi du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu.

Hệ thống cơ sở hạ tầng tiếp cận điểm đến còn thiếu đồng bộ. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát triển nhanh nhưng nhìn chung tầm cỡ quy mô, tính chất tiện nghi và phong cách sản phẩm du lịch nhỏ lẻ, vận hành chưa chuyên nghiệp, do vậy chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật. Thêm vào đó, nguồn nhân lực du lịch cũng là điểm yếu kém rất lớn. Mặc dù có nhiều cố gắng trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch thời gian qua, nhưng so với yêu cầu về tính chuyên nghiệp của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập, toàn cầu hóa thì nhân lực du lịch chưa đáp ứng kịp về kỹ năng chuyên nghiệp, hội nhập, liên kết toàn cầu.

Giải pháp phát triển bền vững Du lịch Việt Nam

Để Du lịch Việt Nam phát triển bền vững và hiệu quả, cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

– Nâng cao năng lực cạnh tranh. Trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực tham gia vào quá trình toàn cầu hóa như gia nhập WTO, Cộng đồng kinh tế ASEAN, đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do… ngành Du lịch Việt Nam đứng trước những cơ hội và thách thức không nhỏ, đòi hỏi phải nâng cao năng lực cạnh tranh. Một trong những cách tiếp cận để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch Việt Nam là nghiên cứu xu hướng nhu cầu của du khách để tạo ra những sản phẩm mới, hấp dẫn, đáp ứng đúng nguyện vọng và mang đến sự hài lòng cho du khách.

– Chú trọng phát triển sản phẩm du lịch địa phương.Ngoài việc nâng cao năng lực cạnh tranh còn cần nâng cao chất lượng dịch vụ các khu, tuyến, điểm du lịch đã khai thác. Khai thác những lợi thế khác biệt để tạo nên những sản phẩm du lịch đặc thù, từ đó hình thành các tuyến du lịch nội vùng và liên vùng có tính hấp dẫn và cạnh tranh cao.

– Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến và liên kết du lịch. Cụ thể, cần tăng cường công tác quảng bá, xúc tiến, tạo ra các sản phẩm du lịch phù hợp với nhiều phân khúc thị trường du lịch. Lựa chọn, tham gia có chọn lọc vào các hoạt động, sự kiện du lịch, thành lập Quỹ Xúc tiến du lịch quốc gia để tăng cường hơn nữa việc quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè quốc tế; Đề xuất xây dựng những sản phẩm du lịch mới, tăng cường xây dựng những tour, tuyến du lịch liên vùng nhằm đa dạng hóa sản phẩm du lịch, phối kết hợp các hoạt động du lịch giữa các tỉnh trong vùng với các địa phương khác để du lịch thực sự trở thành một hoạt động thông suốt, có tính cạnh tranh cao hơn.

– Đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Chất lượng sản phẩm du lịch phụ thuộc nhiều vào việc cơ sở hạ tầng có được đầu tư tốt hay không và thái độ phục vụ cũng như trình độ của nhân viên. Vì vậy, phải chú trọng đến việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đào tạo nguồn nhân lực du lịch trong đó tập trung đào tạo kỹ năng nghề và thực hành homestay.

– Chú trọng bảo vệ môi trường. Trong khai thác du lịch, các cơ quan quản lý phải luôn nhấn mạnh đến vấn đề bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái tự nhiên vốn có tại các điểm du lịch; Đặt vấn đề bảo vệ môi trường trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quy hoạch các đề án, chiến lược phát triển du lịch của tỉnh và các khu, điểm du lịch.

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Ngành Điện Việt Nam — Website Công Ty Cổ Phần Thủy Điện Miền Trung trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!