Xem Nhiều 6/2023 #️ Một Số Giải Pháp Phát Triển Khoa Học # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 6/2023 # Một Số Giải Pháp Phát Triển Khoa Học # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Giải Pháp Phát Triển Khoa Học mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Để khoa học – công nghệ thực sự có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế biển, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau: Thứ nhất, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển. Hai là, ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển; hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đánh giá tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển, như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển, thiết bị tự vận hành ngầm… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; mở rộng, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu ở các vùng biển quốc tế. Đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm dưới biển có khả năng nghiên cứu ở các vùng biển sâu. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt nhằm bảo đảm sự thông suốt trong nhận thức về vai trò, vị trí của kinh tế biển cũng như vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển của kinh tế biển, từ Trung ương đến địa phương, từ cán bộ đến người dân và các doanh nghiệp; các bộ, ngành, địa phương cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trong chỉ đạo phát triển khoa học và công nghệ; xây dựng chính sách nhằm thu hút và cộng tác với các chuyên gia giỏi trong và ngoài nước, đặc biệt là cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài. Bốn là, cấu trúc lại hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học; đổi mới cơ chế quản lý các hoạt động khoa học và công nghệ biển; tiếp tục đào tạo và xây dựng, phát triển tiềm lực nghiên cứu, triển khai và ứng dụng; xây dựng các quy chuẩn quốc gia và cơ sở dữ liệu biển; đẩy mạnh hợp tác quốc tế, học tập và áp dụng kinh nghiệm đầu tư, quản lý công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển của các nước tiên tiến; công bố rộng rãi các kết quả điều tra, nghiên cứu để khẳng định với bạn bè quốc tế về chủ quyền các vùng biển của Việt Nam; cải thiện điều kiện làm việc, đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ làm công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển và có chính sách đãi ngộ thích hợp theo mô hình các nước tiên tiến; tăng cường sự phối hợp và liên kết giữa các tỉnh, thành phố của cả nước trong các hoạt động phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ cho phát triển bền vững kinh tế biển của vùng.

Một Số Giải Pháp Phát Triển Khoa Học Công Nghệ

Bằng việc đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN) vào sản xuất trong thời gian qua, đã góp phần nâng cao năng suất chất lượng giống cây trồng, vật nuôi của tỉnh. Chính nhờ ứng dụng KHCN mà người dân đã hạn chế phần nào sức lao động, sản phẩm sau thu hoạch luôn đạt chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu thị trường, góp phần tăng thu nhập cho hộ dân…

Ngày 09/02/2017, tại buổi làm việc của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thể với ngành KHCN, ngoài ý kiến của lãnh đạo tỉnh, một số sở, ngành và các nhà khoa học đã có những đóng góp về các giải pháp giúp ngành KHCN có nhiều hơn các đề án, đề tài ứng dụng vào thực tế trong tương lai.

Việc áp dụng kỹ thuật trồng màu trong nhà lưới, góp phần tăng năng suất các loại rau màu trên cùng một diện tích.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Huỳnh Ngọc Vân, ngành KHCN hiện có vai trò rất quan trọng, thông qua các hoạt động của lĩnh vực KHCN đã tạo điều kiện và đóng góp những giải pháp nâng cao giá trị kinh tế về sản xuất nông nghiệp tỉnh nhà, từ việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu vào sản xuất về giống lúa chất lượng cao, thử nghiệm các mô hình nuôi trồng thủy sản an toàn, các quy trình sản xuất thức ăn chăn nuôi, muối, artemia cho đến các giải pháp về phòng ngừa sâu hại trên cây ăn trái, thử nghiệm các mô hình sản xuất công nghệ cao, thử nghiệm mô hình sản xuất an toàn, chứng nhận GAP trên lúa, hành tím…

Từ những đóng góp trên của ngành KHCN cho nền nông nghiệp, đồng chí Huỳnh Ngọc Vân mong rằng: “Tới đây, ngành KHCN tiếp tục tập trung vào các vấn đề trọng tâm nhằm thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời gắn với thị trường tiêu thụ, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm để hướng tới xây dựng thương hiệu và vùng nguyên liệu hàng hóa phục vụ thị trường”. Từ đó, ngành nông nghiệp cần được sự hỗ trợ từ ngành KHCN, như thực hiện các đề án: Phát triển sản xuất lúa đặc sản giai đoạn 2016 – 2020 (bảo hộ nhãn hiệu, chứng nhận GAP, nghiên cứu giống…); Phát triển sản xuất theo quy trình GAP cho các mặt hàng nông, thủy sản xuất khẩu giai đoạn 2015 – 2020 (đầu tư các mô hình thử nghiệm, cung cấp các chế phẩm sinh học); Nâng cao sức cạnh tranh nông sản đến năm 2020; Những nghiên cứu để nâng cao hiệu quả ngư dân đánh bắt xa bờ; Dự án chăn nuôi bò sữa (cung cấp các men sinh học trong thức ăn, xử lý môi trường); Dự án phát triển đàn bò thịt; Dự án nghiên cứu về chuỗi giá trị.

Với những mong muốn trên, đồng chí Huỳnh Ngọc Vân cũng đưa ra các đề xuất, trọng tâm, gồm: nghiên cứu các công nghệ được tạo ra trong tỉnh, trong nước đã được đánh giá thích hợp, tiên tiến hơn so với công nghệ hiện đại có tại địa phương hoặc các công nghệ nhập từ nước ngoài nhưng phải chứng minh được tính thích nghi và khả năng ứng dụng phù hợp với tình hình thực tế của tỉnh khi đưa vào thử nghiệm; về công tác quản lý nên thực hiện chính sách ưu đãi hỗ trợ của Nhà nước trong chuyển giao tiến bộ KHCN nông nghiệp, cũng như tạo mối liên kết giữa các tổ chức KHCN – doanh nghiệp – nông dân; tăng cường đầu tư hỗ trợ cho nông nghiệp, nông dân, nhất là đầu tư chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả công nghệ chuyển giao. Bên cạnh đó, ngành KHCN cần có kế hoạch hợp tác giữa các ngành nhằm kịp thời giới thiệu, hỗ trợ, nghiên cứu ứng dụng các thành quả nghiên cứu vào chuỗi giá trị sản phẩm. Song song đó, việc triển khai thực hiện và nhân rộng kết quả ứng dụng tiến bộ KHCN phải đáp ứng được mục tiêu của nhiệm vụ và có thể nhân rộng mô hình.

Còn theo tiến sĩ Trần Tấn Phương – Giám đốc Trung tâm Giống cây trồng tỉnh, để ngành KHCN vươn lên tầm cao mới, nên sớm có các giải pháp, như: cần lập nên các nhóm nhà khoa học nghiên cứu chuyên sâu thuộc từng lĩnh vực, sau đó tập hợp thành các chuyên đề nghiên cứu của thế giới và so sánh điều kiện tại tỉnh để tìm ra các ứng dụng phù hợp áp dụng vào sản xuất trong tỉnh. Song song đó, cần tiếp cận với nguồn vốn từ quỹ quốc tế để có nguồn kinh phí dành cho nghiên cứu; cần đào tạo các cán bộ chuyên nghiên cứu từng lĩnh vực cụ thể.

Lợi thế của Sóc Trăng là nông nghiệp và thủy sản, thành công của KHCN nhiều năm nay đã tạo ra sản phẩm ủ phân và phát triển thêm sản phẩm cho thủy sản, sản phẩm xử lý môi trường nước phục vụ nuôi tôm có giá thành thấp so với các sản phẩm nước ngoài cùng loại. Bên cạnh đó, Sóc Trăng có nhiều lợi thế về việc dùng phân bò để sản xuất phân bón sạch, vì vậy cần nguồn kinh phí nhiều hơn cho hoạt động nghiên cứu không chỉ đối với phân bón mà còn đối với cây ăn trái, cây mía trong việc thực hiện giải pháp phòng ngừa bệnh trên cây ăn trái, tạo ra các loại giống cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu… Có kinh phí nhiều thì mọi hoạt động nghiên cứu sẽ thuận lợi hơn; mặt khác, đề tài ứng dụng thiết thực vào thực tế sẽ nhanh và nhiều hơn. Đó là những giải pháp mà tiến sĩ Hồ Văn Thảo – Phó Giám đốc Trung tâm Ứng dụng tiến bộ KHCN chia sẻ.

Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thể nhận định: “Sóc Trăng là tỉnh có điều kiện tự nhiên về đa dạng dành cho các lĩnh vực nghiên cứu. Do đó, hàng loạt đề tài nghiên cứu cần hướng đến mục tiêu cụ thể cho từng đề án, đề tài thuộc các chuyên ngành để giúp Sóc Trăng trở thành một tỉnh dẫn đầu trong việc nghiên cứu ứng dụng công nghệ vào hoạt động sản xuất. Hướng đến hình thành nền nông nghiệp sạch, nông nghiệp phát triển cao”. Với những nhận định trên, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cho rằng, nếu Sóc Trăng không đi theo con đường trên vẫn sẽ là một tỉnh nghèo. Vì thế, đội ngũ các nhà khoa học rất quan trọng trong việc nghiên cứu tìm ra các đề án ứng dụng vào thực tế sản xuất, góp phần đưa năng suất, chất lượng sản phẩm mang tính đột phá hơn. Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Văn Thể chỉ đạo: “Tới đây, ngành KHCN cần nghiên cứu việc bảo quản các sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, tạo ra các giống cây trồng thích ứng với biến đổi khí hậu nhưng phải đảm bảo môi trường”.

Một Số Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế

Các DTTS ở nước ta cư trú chủ yếu ở miền núi, suốt dọc biên giới phía Bắc và phía Tây của Tổ quốc. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam với nhiều thành phần khác nhau, mỗi thành phần dân tộc không phải là một cộng đồng riêng rẽ, biệt lập về chính trị-xã hội, mà là bộ phận cấu thành dân tộc Việt Nam thống nhất. Các thành phần dân tộc cư trú đan xen lẫn nhau và phân tán trên mọi vùng miền của đất nước, không có lãnh địa riêng biệt của từng dân tộc. Dân số các DTTS ở nước ta chỉ chiếm trên 14% dân số nhưng cư trú ở những vùng đất rộng lớn, chiếm 3/4 diện tích cả nước, là nơi có nguồn tài nguyên phong phú, địa bàn chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong mối quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta thì đoàn kết thống nhất là đặc điểm nổi bật nhất, xuyên suốt trong mọi thời kỳ lịch sử dựng nước và giữ nước. Các dân tộc sinh sống trên đất nước ta trong những giai đoạn khác nhau, nhưng đều có chung một vận mệnh lịch sử. Đoàn kết gắn bó là đảm bảo sự sống còn của từng dân tộc, cũng như của cả cộng đồng các dân tộc trong quá trình phát triển.

Các DTTS ở Việt Nam có vai trò rất to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Lịch sử dân tộc Việt Nam mấy ngàn năm qua đã khẳng định, các DTTS là một lực lượng cơ bản, không thể thay thế trong suốt thời kỳ dựng nước và giữ nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các DTTS ở nước ta ngày càng phát huy vai trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong lịch sử, các DTTS luôn là lực lượng che chắn, là “phên giậu”, thường xuyên phải chống lại những âm mưu, thủ đoạn xâm phạm bờ cõi của kẻ thù. Trong các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược của các triều đại phong kiến, đều có sự đóng góp sức người, sức của rất to lớn của đồng bào các DTTS. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, chiến khu Việt Bắc, vùng rừng núi miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ… không những là căn cứ vững chắc của cách mạng, mà còn là nơi chứng kiến những thất bại cuối cùng của kẻ thù. Ngày nay, sự vững mạnh về an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào các DTTS, có ý nghĩa quan trọng đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã ban hành và thực hiện rất nhiều chính sách nhằm phát triển mọi mặt đời sống, xã hội đồng bào DTTS. Đến nay, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào DTTS ở nước ta ngày càng được cải thiện. Các quyền cơ bản của đồng bào DTTS về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục, chăm sóc y tế… được đảm bảo.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và khách quan, đời sống của đồng bào DTTS ở nước ta nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược. Việc thể chế quyền của DTTS bằng pháp luật cũng như cơ chế thực hiện quyền của DTTS còn không ít bất cập. Hiện nay, vùng DTTS vẫn là những vùng nghèo, lạc hậu nhất nước, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp.

Nhằm mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng DTTS, đáp ứng yêu cầu hợp tác quốc tế của Đảng, Nhà nước, bên cạnh việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật, chúng ta cần quán triệt thực hiện các giải pháp về cơ chế thực hiện chính sách, pháp luật về DTTS như sau:

Xác định công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc, đảm bảo các quyền các DTTS là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của tất cả các cơ quan, ban, ngành từ Trung ương tới địa phương. Trong đó, vai trò nòng cốt thuộc trách nhiệm của cơ quan làm công tác dân tộc của Quốc hội và Chính phủ, được tổ chức thống nhất từ Trung ương xuống cơ sở. Giữa các cơ quan cần có cơ chế phối hợp trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc đảm bảo các quyền của DTTS.

Trước hết, cần nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, vận động đồng bào tích cực thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc. Tuyên truyền, giáo dục, vận động và tổ chức đồng bào tích cực, chủ động tham gia thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ra sức xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, nỗ lực vươn lên thoát nghèo, nhanh chóng hội nhập với sự phát triển chung của đất nước.

Cấp ủy, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội từ Trung ương xuống địa phương cần quán triệt, tuyên truyền để mỗi cán bộ và nhân dân hiểu rõ vai trò, vị trí, tiềm năng to lớn của địa bàn DTTS và chính sách dân tộc nhất quán của Đảng, Nhà nước, cũng như tầm quan trọng của việc thực hiện công tác dân tộc đối với sự phát triển của đồng bào DTTS trên cả nước.

Bên cạnh đó, tập trung kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Củng cố xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc đảm bảo đủ số lượng và chất lượng, để làm tốt công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyến địa phương trong việc quản lý, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Tiếp tục đổi mới công tác dân tộc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn hiện nay. Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ của ngành công tác dân tộc, chú trọng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở. Quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của vùng DTTS và miền núi, vì vậy, cần quan tâm đến chất lượng giáo dục và đào tạo, chất lượng chăm sóc sức khỏe đồng bào. Thành lập Học viện Dân tộc gắn với đào tạo nguồn nhân lực vùng dân tộc và miền núi. Ưu tiên bảo đảm nguồn lực cho thực hiện các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo được ban hành. Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư, phát triển, trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn (vùng “lõi nghèo”), tránh đầu tư dàn trải, lãng phí. Thực hiện nghiêm chỉnh việc phân cấp cho cơ sở, công khai các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư,… để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện.

Một giải pháp đặc biệt quan trọng là, điều chỉnh lại cơ chế quản lý thực hiện chính sách dân tộc theo hướng xây dựng chương trình, chính sách tổng hợp, đa mục tiêu, dài hạn. Thống nhất đầu mối cơ quan chủ trì, tổ chức thực hiện chính sách đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác dân tộc. Tập trung xây dựng, củng cố toàn diện, đồng bộ và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc và miền núi. Chú trọng công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS tại chỗ.

Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những điểm “nóng” về an ninh trật tự ở vùng dân tộc và miền núi. Tích cực chăm lo xây dựng và giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp và bản sắc dân tộc. Từng bước xây dựng, tiến tới hoàn thiện thiết chế văn hóa cơ sở vùng DTTS và miền núi. Hỗ trợ, tạo điều kiện cho những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng DTTS và miền núi được hưởng thụ những thành tựu của sự phát triển do công cuộc đổi mới đem lại.

Mặt khác, thường xuyên kiểm tra, đánh giá tình hình và kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, việc quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện chính sách, pháp luật ở các cấp, đặc biệt là ở cơ sở. Có cơ chế khuyến khích người dân, các tổ chức đoàn thể nhân dân tham gia công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án ở vùng đồng bào DTTS…

Giải Pháp Cho Sự Phát Triển Doanh Nghiệp Khoa Học Và Công Nghệ

Mặc dù đã đạt được nhiều kết quả trong phát triển doanh nghiệp (DN) khoa học và công nghệ (KH&CN), tuy nhiên, so với quy mô hơn 15.000 DN đang hoạt động trong toàn tỉnh hiện nay thì con số 26 DN đã được công nhận DN KH&CN là quá ít. Điều này đòi hỏi ngành chức năng cũng như các DN cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để thúc đẩy phát triển DN KH&CN trên địa bàn tỉnh.

Theo phân tích, đánh giá của Sở KH&CN, có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do bản chất hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hóa từ kết quả KH&CN mang tính rủi ro. Các DN của tỉnh phần lớn là DN nhỏ và siêu nhỏ, tiềm lực tài chính yếu nên chưa mạnh dạn đầu tư cho KH&CN; cơ chế, chính sách hỗ trợ, ưu đãi của Nhà nước đối với DN KH&CN chưa thực sự hấp dẫn; điều kiện, thủ tục để được thụ hưởng một số chính sách ưu đãi còn ngặt nghèo, đặc biệt là chính sách ưu đãi về thuế thu nhập DN. Bên cạnh đó, một số quy định của Nhà nước có tác dụng gián tiếp hỗ trợ thúc đẩy thị trường công nghệ, thương mại hóa sản phẩm KH&CN, như: Xác nhận kết quả thực hiện nhiệm vụ không sử dụng ngân sách Nhà nước; giao quyền sở hữu, sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ sử dụng ngân sách Nhà nước gặp nhiều khó khăn, bật cập trong quá trình thực hiện…

Từ thực tiễn trên, để nâng cao hơn nữa hiệu quả phát triển DN KH&CN trên địa bàn tỉnh, trong thời gian tới, cần thêm những giải pháp thiết thực từ DN, ngành chức năng, chính quyền các cấp. Trong đó, cần xác định việc phát triển DN KH&CN phải được đặt trong tổng thể mô hình phát triển DN của cả tỉnh. Vai trò, vị trí của DN KH&CN ở từng ngành, lĩnh vực, vùng và từng địa phương phải gắn bó chặt chẽ với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế. Bên cạnh việc phát triển về số lượng, phải quan tâm đến chất lượng DN KH&CN, làm cho DN KH&CN thực sự trở thành nền tảng và động lực cho phát triển sản xuất hàng hóa có giá trị gia tăng và sức cạnh tranh cao. Cùng với đó, thường xuyên đánh giá và cập nhật nhanh chóng cơ chế chính sách phù hợp với thực tiễn của sự phát triển. Ngành KH&CN cần quy hoạch và phát triển các khu ươm tạo DN KH&CN trong tỉnh và đổi mới cơ chế đầu tư, quản lý. Ví dụ, có thể triển khai các khu ươm tạo theo hình thức hợp tác công tư (PPP) để tăng cường nguồn lực đóng góp từ xã hội, với sự tham gia của các quỹ đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích đầu tư mạo hiểm cho một số ngành và lĩnh vực mới có nhiều triển vọng. Ngoài ra, để đạt được mục tiêu đề ra, giải pháp nâng cao hiệu quả chỉ đạo, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện chức năng xây dựng cơ chế, chính sách và triển khai thực hiện hỗ trợ phát triển DN KH&CN cũng cần được đặc biệt quan tâm. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cần được quan tâm hơn và nên cải tiến, lựa chọn hình thức phù hợp với từng đối tượng, qua đó, tạo ra làn sóng mới trong phát triển DN KH&CN trong cộng đồng DN. Nội dung luôn được đề cập, song không phải chính sách nào, nơi nào, lúc nào cũng được tuyên truyền, phổ biến một cách hiệu quả. Và, điều quan trọng là, việc phát triển DN KH&CN không chỉ phụ thuộc vào chính sách ưu đãi của Nhà nước mà chính mỗi DN phải tạo sự chuyển biến về nhận thức phát triển KH&CN, xem đầu tư cho KH&CN là nền tảng cho sự phát triển bền vững trong điều kiện hội nhập.

Bài và ảnh: Lê Phong

Bạn đang xem bài viết Một Số Giải Pháp Phát Triển Khoa Học trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!