Xem Nhiều 1/2023 #️ Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh # Top 5 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh # Top 5 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

NÂNG CAO VĂN HÓA ĐỌC CHO HỌC SINH

QUA THƯ VIỆN XANH

              Phát triển văn hóa đọc là một trong những động lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại.

              Bởi vậy, để tạo cho học sinh có được thói quen tiếp xúc hàng ngày với tri thức mới qua những trang sách, thì việc xây dựng không gian văn hóa đọc trong trường học là hết sức quan trọng. Ý thức được điều đó, nhà trường đã có những phương pháp tổ chức thiết thực để khơi dậy văn hóa đọc trong HS, trong đó đặc biệt được chú trọng là việc phát triển và đổi mới hệ thống thư viện học xanh.

            Việc học tập, tìm hiểu tri thức bộ môn và cuộc sống qua kênh sách bằng hình thức đọc tuy là phương pháp truyền thống nhưng không hề cũ đối với người học. Chính vì vậy để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện nhà trường đã đưa hoạt động văn hóa đọc trở thành những nội dung ngoại khóa bổ ích tới HS.

             Văn hóa đọc góp phần hình thành nhân cách HS, giúp các em phát triển toàn diện cả về giáo dục và trí dục. Những trang sách hay mở ra cho các em những thế giới muôn màu, hướng các em biết yêu cái đẹp, biết cảm thụ cái đẹp.

              Song song với đó hoạt động đọc sách còn hỗ trợ rất nhiều tới quá trình dạy và học của thầy và trò. Những cuốn sách hay sẽ mang đến cho mỗi học sinh về kỹ năng sống cùng những kiến thức liên môn hết sức đa dạng và phong phú.

              Chính vì vậy, nhiều năm trở lại đây, Trường Tiểu học Minh Hưng đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền để mỗi HS nhận thức được vai trò của sách đối với việc học tập và cuộc sống; giúp các em hiểu rằng sách là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, một cuốn sách tốt giống như một người bạn hiền… Xuất phát từ mục đích đó, nhà trường đã đầu tư và xây dựng hệ thống thư viện nhằm đưa văn hóa đọc tới gần hơn từng HS.

               Tại Trường Tiểu học Minh Hưng, ngoài thư viện chung, thư viện xanh thân thiện nhà trường đã khuyến khích các lớp xây dựng những tủ sách thân thiện ngay tại từng lớp học. Nhờ vậy, mỗi HS dễ dàng và chủ động lựa chọn thời gian đọc sách trong những lúc rảnh rỗi.

              Với sự chung tay của giáo viên, phụ huynh và HS, hàng ngàn cuốn sách đã được mang tới chia sẻ cho tất cả mọi người.

              Để nâng cao chất lượng văn hóa đọc, các thầy cô còn hướng dẫn cho các em các kỹ năng đọc sách cơ bản cũng như định hướng cho học sinh cách chọn lựa các đầu sách hay. Mỗi tháng HS đều viết bản thu hoạch của riêng mình về những cuốn sách bổ ích mà mình đã được đọc.

               Đặc biệt để hưởng ứng Ngày hội sách, nhà trường còn tổ chức cho các em nói chuyện về các vấn đề mà xã hội đang quan tâm. Với những buổi nói chuyện như vậy, HS được cập nhật thêm nhiều kiến thức phong phú, truyền cho các em tình yêu với tri thức. Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa những nội dung như Phòng cháy chữa cháy, An toàn giao thông, Tuyên truyền về phòng chống xâm hại tình dục đối với trẻ em… cũng được lồng ghép Tuyên truyền và cập nhật tới từng đối tượng HS.

               Để khuyến khích thói quen đọc sách cho HS, thư viện nhà trường còn áp dụng hình thức hoạt động mới bằng các giải pháp như: Phát thẻ đọc cho HS được đọc sách trong các giờ ra chơi, chuyển sách trong thư viện nhà trường đến các tủ sách trên lớp; giao học sinh tự quản lý tủ sách và cho mượn sách; lồng ghép tổ chức những hoạt động như: Thi giới thiệu sách, thi kể chuyện, đọc thơ trong các buổi sinh hoạt tập thể của khối…

               Chính nhờ những hoạt động thực tiễn này của Ban giám hiệu đã giúp văn hóa đọc có thêm sự lan tỏa trong các em HS nhà trường, qua đó truyền thói quen tốt tới gia đình các em. “Đến thời điểm này, hoạt động đọc đã trở thành một nếp quen thường xuyên tại Trường Tiểu học Minh Hưng và lan tỏa tới cả phụ huynh HS”.

Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Ở Thư Viện Trường Tiểu Học

Nhà văn Macxin Gorki đã từng nói: “Mây đen có thể che được ánh sáng mặt trời, nhưng không gì có thể che được ánh sáng của sách mang lại. Mỗi cuốn sách đều mang tới cho người đọc rất nhiều ý nghĩa của cuộc sống. Không chỉ với người lớn, với trẻ thơ mỗi cuốn sách còn là một thế giới bí ẩn, khám phá nó sẽ thấy được vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống”.

Từ xưa tới nay, con người luôn luôn đề cao sách. Sách là một người thầy vĩ đại của chúng ta, sách là kho tàng tri thức của nhân loại. Sách có tác dụng vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển nhân cách, tri thức của con người. Nhờ có những cuốn sách mà chúng ta có thể biết được nhiều điều về tri thức của nhân loại.

Hiện nay xã hội đang bước vào một thời đại mới. Đó là thời đại của công nghệ, của khoa học kỹ thuật, của trí tuệ. Thời đại đòi hỏi đất nước phải có những con người với trình độ học vấn cao, có tri thức, có bản lĩnh, có năng lực thực hiện đáp ứng mọi yêu cầu của đời sống xã hội. Thực tiễn nói trên đòi hỏi ngành giáo dục đào tạo phải không ngừng đổi mới trong dạy và học, phải coi trọng công tác Thư viện trường học.

Thư viện trường học luôn đóng vai trò hết sức quạn trọng trong hoạt động của mỗi nhà trường, có câu nói” Thư viện là linh hồn của trường học”, Thư viện là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá – khoa học của nhà trường. Nếu làm tốt công tác Thư viện sẽ góp phần nầng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, xây dựng thói quen tự học tự nghiên cứu cho học sinh và ngoài ra còn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn minh cho cán bộ giáo viên và học sinh trong trường.

Thư viện trường học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Thư viện là nơi khuyến khích sự ham hiểu biết của học sinh hoàn thiện kĩ năng “đọc” và “nói”, giúp học sinh tiếp cận với các thông tin, hướng dẫn các em cách thức tìm kiếm và tích luỹ thông tin.

I. MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Nhà văn Macxin Gorki đã từng nói: "Mây đen có thể che được ánh sáng mặt trời, nhưng không gì có thể che được ánh sáng của sách mang lại. Mỗi cuốn sách đều mang tới cho người đọc rất nhiều ý nghĩa của cuộc sống. Không chỉ với người lớn, với trẻ thơ mỗi cuốn sách còn là một thế giới bí ẩn, khám phá nó sẽ thấy được vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống". Từ xưa tới nay, con người luôn luôn đề cao sách. Sách là một người thầy vĩ đại của chúng ta, sách là kho tàng tri thức của nhân loại. Sách có tác dụng vô cùng to lớn trong sự nghiệp phát triển nhân cách, tri thức của con người. Nhờ có những cuốn sách mà chúng ta có thể biết được nhiều điều về tri thức của nhân loại. Hiện nay xã hội đang bước vào một thời đại mới. Đó là thời đại của công nghệ, của khoa học kỹ thuật, của trí tuệ. Thời đại đòi hỏi đất nước phải có những con người với trình độ học vấn cao, có tri thức, có bản lĩnh, có năng lực thực hiện đáp ứng mọi yêu cầu của đời sống xã hội. Thực tiễn nói trên đòi hỏi ngành giáo dục đào tạo phải không ngừng đổi mới trong dạy và học, phải coi trọng công tác Thư viện trường học. Thư viện trường học luôn đóng vai trò hết sức quạn trọng trong hoạt động của mỗi nhà trường, có câu nói" Thư viện là linh hồn của trường học", Thư viện là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, là trung tâm sinh hoạt văn hoá - khoa học của nhà trường. Nếu làm tốt công tác Thư viện sẽ góp phần nầng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, xây dựng thói quen tự học tự nghiên cứu cho học sinh và ngoài ra còn góp phần quan trọng vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn minh cho cán bộ giáo viên và học sinh trong trường. Thư viện trường học giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong việc giảng dạy và học tập của giáo viên và học sinh. Thư viện là nơi khuyến khích sự ham hiểu biết của học sinh hoàn thiện kĩ năng "đọc" và "nói", giúp học sinh tiếp cận với các thông tin, hướng dẫn các em cách thức tìm kiếm và tích luỹ thông tin. Ngày nay trước sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ thông tin cùng với phương tiện nghe nhìn khác như tivi, đài, internet, ... "văn hóa đọc" đang dường như có xu hướng bị lấn át, thu hẹp. Cần phải khẳng định rằng văn hóa đọc vẫn luôn là nét đẹp của đời sống xã hội, góp phần tôn vinh các giá trị tinh thần, là thước đo trình độ dân trí, đồng thời là công cụ hữu hiệu để bồi đắp và nâng cao tâm hồn. Vì vậy, việc xây dựng ý thức, thói quen và phát huy văn hóa đọc đối với học sinh, những chủ nhân tương lai của đất nước càng đặc biệt quan trọng. Vậy, làm thế nào để khơi dậy niềm đam mê đọc sách báo của học sinh, nhằm giữ gìn và phát huy "văn hóa đọc" đang bị thông tin nghe nhìn lấn át? Trong nhiều năm qua, Thư viện trường Tiểu học Ngư Lộc 2 đã luôn đổi mới, nâng cao công tác phục vụ bạn đọc nhằm mục đích lôi cuốn bạn đọc đến với Thư viện ngày càng đông hơn, song việc đọc sách của học sinh vẫn chưa đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ nhận thức trên, cũng như tìm hiểu thực tiễn, thực trạng công tác thu hút bạn đọc ở Thư viện trường để nâng cao chất lượng văn hóa đọc cho học sinh ở Thư viện trường Tiểu học, tôi đã mạnh dạn đưa ra: "Một số biện pháp nâng cao chất lượng văn hóa đọc cho học sinh ở Thư viện trường Tiểu học", hy vọng nó sẽ giúp ích cho tôi và đồng nghiệp trong quá trình công tác của mình. 2. Mục đích nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu nhằm đưa ra những biện pháp nâng cao chất lượng "Văn hóa đọc" cho học sinh Tiểu học. Mục đích thu hút các em đến với Thư viện "tìm" và "đọc" sách báo, có phương pháp đọc sách đúng, có ý thức giữ gìn và bảo quản vốn tài liệu của Thư viện. Từ đó trau dồi kiến thức và giúp sách được luân chuyển nhanh, số vòng quay của sách nâng cao, đó cũng chính là mục đích cuối cùng của công tác Thư viện trường học. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Các giải pháp nâng cao chất lượng văn hóa đọc cho học sinh ở Thư viện trường Tiểu học Ngư Lộc 2. 4. Phương pháp nghiên cứu: - Nghiên cứu tài liệu: Đọc sách chuyên ngành Thư viện, sách tham khảo, những bài báo về công tác Thư viện trường học. -Phương pháp điều tra: Tìm hiểu thực trạng đọc sách của học sinh ở trường. -Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của học sinh trong giờ sinh hoạt lớp và giờ ra chơi. II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lý luận Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về "Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước" đã đề ra những định hướng lớn về xây dựng và phát triển văn hóa con người Việt Nam trong thời kỳ mới. Vì vậy, có thể khẳng định việc xây dựng và phát triển văn hóa đọc là một nhiệm vụ quan trọng để xây dựng và phát triển nền văn hóa, con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh. Từ xưa đến nay, muốn đi đến thành công con người cần phải có tri thức. Một trong những cách tiếp cận tri thức đó chính là việc đọc sách. Tuy nhiên, để việc đọc sách thật sự hiệu quả thì mỗi cá nhân cần phải luyện cho mình văn hóa đọc. Và một trong những con đường để hình thành văn hóa đọc đó chính là việc chọn lựa sách sao cho phù hợp. Văn hóa đọc là một trong những động lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng được với sự phát triển của xã hội hiện đại, xã hội dựa trên nền tảng kinh tế tri thức. Phát triển văn hóa đọc trong nhà trường sẽ là yếu tố thúc đẩy quá trình dạy và học của giáo viên và học sinh. Trẻ em tuổi đến trường bắt đầu học đọc, học viết và cùng với đó, văn hóa đọc hình thành và phát triển. Độ tuổi học sinh tiểu học cũng là giai đoạn phức tạp trong cuộc đời của mỗi người với hoạt động chủ đạo là hoạt động học tập. Các em còn rất ít kinh nghiệm sống. Việc tiếp thu kiến thức, kinh nghiệm sống chủ yếu thông qua hoạt động học tập ở nhà trường và hoạt động đọc sách tại Thư viện. Do vậy, văn hóa đọc là điều kiện quan trọng để các em tiếp thu tri thức, đồng thời Thư viện cũng là môi trường thuận lợi cho phát triển văn hóa đọc thông qua việc cung cấp kiến thức, kỹ năng đọc, phát triển tư duy sáng tạo, hình thành các chuẩn mực ứng xử văn hoá cho học sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy, sự tác động của văn hóa đọc với sự hình thành cá tính và nhân cách ở lứa tuổi thiếu nhi đặc biệt là lứa tuổi học sinh Tiểu học là rất mạnh mẽ. Do ở lứa tuổi này, các em còn chưa tự định hướng trong việc tiếp nhận thông tin nên việc sử dụng và biến sách báo tài liệu trở thành công cụ, phương tiện để giáo dục là việc làm hữu ích. Tuy nhiên, một thực trạng hiện nay là trẻ em đang bị chi phối bởi rất nhiều các phương tiện và văn hóa nghe nhìn khiến chúng trở nên không còn hứng thú với việc đọc sách. Việc cấm các em sử dụng các thiết bị hiện đại với ý nghĩ việc làm đó thúc đẩy hứng thú đọc sách nhiều khi lại phản tác dụng. Điều chúng ta nên làm để thúc đẩy nhu cầu và hứng thú đọc sách cho các em lứa tuổi Tiểu học là tạo ra môi trường đọc sách hiện đại, thân thiện, biến những cuốn sách và Thư viện trở nên gần gũi, hữu ích và thú vị, qua đó xây dựng cho học sinh phương pháp đọc sách đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Thư viện trường học là linh hồn của trường học, nơi hội tụ kiến thức, tri thức của loài người giúp cho các thầy cô giáo và các em học sinh trong nhà trường không chỉ dạy tốt - học tốt, mà còn mở mang trí óc, bồi đắp nhân cách, xây dựng nền tảng "văn hóa đọc" cho con người. Thư viện trường học là môi trường giáo dục mở và an toàn, nơi mà học sinh tìm đến sau những giờ học căng thẳng trên lớp. Là nơi mà học sinh có những cơ hội để khám phá, thực hành và phát triển những kiến thức đã thu nhận được, nơi học sinh có thể tự mình nêu ra những câu hỏi và hình thành những câu trả lời. Chính vì vậy, cán bộ Thư viện cần thực hiện tốt việc tổ chức các hoạt động Thư viện trong nhà trường. Nhằm thu hút đông đảo học sinh đến Thư viện tham gia các hoạt động của Thư viện, "tìm" và "đọc" sách báo đúng phương pháp. 2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Vào những năm đầu hình thành Thư viện, Thư viện trường Tiểu học thường không được quan tâm lắm, Thư viện chỉ là một kho để sách, không có bàn ghế đọc sách, có khi còn để chung với một lớp học, cán bộ Thư viện thường không có chuyên môn nghiệp vụ, cho nên Thư viện ít hoạt động, chủ yếu là đầu năm cho giáo viên mượn sách giảng dạy, học sinh mượn sách giáo khoa, cuối năm học thu về, vào sổ sách, làm báo cáo Dần dần, được sự quan tâm của ngành, của các cấp lãnh đạo, Thư viện trường học được đầu tư, phòng ốc khang trang hơn, có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho hoạt động Thư viện. Cán bộ Thư viện được bồi dưỡng nhiều về nghiệp vụ. Thư viện trường học trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, là nơi mà các em học sinh luôn được chào đón, nơi mà mọi mơ ước và sở thích cá nhân của các em đều được trân trọng. Thư viện trường Tiểu học Ngư Lộc 2 được sự quan tâm của Phòng Giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường và sự nỗ lực của cán bộ phụ trách Thư viên năm học 2005-2006 Thư viện nhà trường đã đạt "Thư viện tiên tiến" theo quyết định số 01/ 2003/ QĐ/ BGD &ĐT ngày 02/ 01/ 2003 của BGD&ĐT. - Thư viện được đặt ở trung tâm, nơi thuận tiện cho giáo viên và học sinh đến tham gia mượn, đọc sách báo. Thư viện có 1 phòng đọc, 1 phòng kho với diện tích 54m2. - Kho sách: Có 7 tủ để sách, tủ chuyên dùng trong Thư viện để sắp xếp sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh giáo dục, băng đĩa giáo khoa. * Thuận lợi: + Thư viện được bố trí ngăn nắp, sạch sẽ, thoáng mát và đầy đủ ánh sáng. + Ngay từ đầu năm học Thư viện xây dựng kế hoạch hoạt động và đã được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường. + Tiến hành phát động phong trào đọc sách đến toàn thể giáo viên và học sinh trong nhà trường cùng tham gia hưởng ứng. + Cán bộ Thư viện có chuyên môn và nhiệt tình trong công việc, thường xuyên quan tâm đến công tác phục vụ bạn đọc nhất là chất lượng văn hóa đọc cho học sinh. * Hạn chế : + Diện tích Thư viện có hạn chỉ có 54 m2, mà số lượng học sinh lại đông 690 em. + Kinh phí đầu tư cho Thư viện có phần hạn chế nên việc bổ sung sách, báo có phần ảnh hưởng. + Học sinh đến Thư viện đọc sách báo với niềm đam mê tìm tòi học hỏi còn hạn chế, chủ yếu mới thu hút số học sinh giỏi có lòng ham mê đọc sách báo và một số ít học sinh thích đọc các loại truyện tranh mang tính giải trí, hay học sinh chỉ đến Thư viện sau những buổi giới thiệu sách mới. + Học sinh chưa có phương pháp đọc sách, báo, chưa thấy hết giá trị, tầm quan trọng của từng cuốn sách và ảnh hưởng của việc đọc sách báo đối với việc học tập của mình. + Khi đến Thư viện đọc sách báo một số em chưa có văn hoá ứng xử với tài liệu, vẫn còn có những hành động thiếu trân trọng sách, báo như: cuộn sách, gấp trang để đánh dấu, để sách, báo không ngay ngắn trên giá. Trong tư thế ngồi đọc sách, còn có những em ngồi không ngay ngắn, có em đưa chân lên ghế, nói chuyện gây ồn ào, làm ảnh hưởng đến các bạn xung quanh và khiến cán bộ Thư viện phải nhiều lần nhắc nhở. * Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên. Kết quả thống kê bạn đọc trường Tiểu học Ngư Lộc 2 về học sinh tham gia đọc sách, báo trong Thư viện thu được kết quả như sau: Bảng 1: Bảng thống kê số lượt học sinh đến Thư viện tham gia đọc sách, báo trong tháng 9 năm học 2017-2018 Đối tượng bạn đọc Tỉ lệ bạn đọc đến Thư viện HS có phương pháp đọc sách HS chưa có phương pháp đọc sách Học sinh 520/690 = 75,4% 276/690 = 40% 244/690 = 35,4% Qua kết quả điều tra khảo sát trên, tôi thấy tỷ lệ học sinh đến Thư viện đọc sách chưa cao, đặc biệt số học sinh có phương pháp đọc sách còn hạn chế. Điều đó cho thấy các em chưa ham thích đọc sách, chưa thấy được giá trị của sách mang lại. Chứng tỏ công tác Thư viện chưa thu hút được nhu cầu hứng thú đọc sách của học sinh 3. Các giải pháp sử dụng để nâng cao chất lượng văn hóa đọc cho học sinh Tiểu học Qua quá trình nghiên cứu tôi xét thấy: Để nâng cao chất lượng văn hóa đọc cho học sinh Tiểu học cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: - Xây dựng cơ sở vật chất và nguồn vốn tài liệu của Thư viện. - Xây dựng kế hoạch đọc sách phù hợp với học sinh Tiểu học. - Hướng dẫn học sinh có phương pháp đọc sách hiệu quả. - Tổ chức đa dạng hoạt động tuyên truyền, giới thiệu sách báo đến học sinh. - Đổi mới và mở rộng hình thức phục vụ bạn đọc. 3.1. Xây dựng cơ sở vật chất và nguồn vốn tài liệu của Thư viện Phát triển văn hóa đọc là một trong những động lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội. Bởi vậy, để tạo cho học sinh có thói quen tiếp xúc hàng ngày với tri thức mới thông qua những trang sách, thì việc xây dựng không gian văn hóa đọc trong trường học là hết sức quan trọng. Vì vậy, không gian Thư viện cần được đầu tư xây dựng, trang trí sinh động và thân thiện.Nhằm mục đích thu hút học sinh đến với Thư viện, kích thích nhu cầu hứng thú đọc của học sinh Tiểu học. Hình ảnh: Không gian một số góc trong Thư viện Mặt khác, để Thư viện hoạt động được tốt và thu hút các em học sinh đến với Thư viện ngày một đông thì các loại sách, báo phải được bổ sung mới thường xuyên. Kho sách với nguồn vốn tài liệu đa dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng mới đáp ứng nhu cầu đọc của bạn đọc. Trong thực tế, nhu cầu đọc của các em đang phát triển, nhưng vốn tài liệu của Thư viện trường Tiểu học còn hạn chế. Đặc biệt sách tham khảo trong Thư viện còn hạn chế về tên sách. Khi tiến hành bổ sung sách, báo vào Thư viện cần thực hiện những nhiệm vụ sau: - Xác định nguồn vốn để bổ sung: +Thứ nhất: Yêu cầu Nhà trường nên tính đủ kinh phí đầu tư cho Thư viện theo Thông tư liên Bộ Tài chính - Giáo dục và Đào tạo số 30/TTLB ngày 26/7/1990, trong đó quy định kinh phí đầu tư cho Thư viện từ 6-10% tổng ngân sách giáo dục thường xuyên hàng năm. +Thứ hai: Tham mưu với ban giám hiệu thực hiện xã hội hóa công tác Thư viện với hội cha mẹ học sinh trong toàn trường, nhằm thu hút thêm nguồn vốn để mua bổ sung thêm sách, báo phát hành mới nhất phù hợp với cấp học, môn học, phù hợp với lứa tuổi, tâm sinh lý của học sinh Tiểu học. - Xác định các nguồn bổ sung: Sách được cấp, Nhà trường đặt mua với phòng Giáo dục huyện hoặc công ty sách- thiết bị trường học, hay các hiệu sách. - Nắm vững nội dung kho tài liệu Thư viện, nhu cầu học sinh cần đọc những loại tài liệu nào? Từ đó cán bộ Thư viện sẽ biết nên bổ sung những loại sách gì? Cần số lượng bao nhiêu bản? Nhằm phục vụ nhu cầu đọc của học sinh được tốt hơn. 3.2. Xây dựng kế hoạch đọc sách phù hợp với học sinh Tiểu học Trong điều kiện hiện nay đối với học sinh nông thôn, nhất là học sinh Ngư Lộc - một xã vùng bãi ngang ven biển thì nơi đọc sách tốt nhất của các em là Thư viện trường học vì thế nhà trường cần quan tâm đầu tư xây dựng Thư viện đầy đủ về cơ sở vật chất, nguồn vốn sách, báo. Bên cạnh không gian lý tưởng thì việc tổ chức sắp xếp thời gian hoạt động Thư viện hợp lý sẽ góp phần tạo hứng thú đọc sách cho các em. -Về thời gian đọc: +Ngoài thời gian học ở lớp, Thư viện cần tổ chức cho các em có thể đọc bất cứ thời gian nào khi các em đến trường, cụ thể Thời gian mở cửa Thư viện: Buổi sáng từ: 7h30 - 10h Buổi chiều từ: 14h - 16h +Căn cứ vào kế hoạch, Thời khóa biểu của nhà trường, học sinh các khối lớp chỉ học 8-9 buổi/ tuần. Vì vậy, cán bộ Thư viện tham mưu với BGH phân bố lịch đọc sách vào những buổi học sinh không có giờ học. Bố trí mỗi khối lớp một buổi đọc sách trong tuần tại Thư viện dưới sự hướng dẫn của cán bộ Thư viện kết hợp với sự hỗ trợ của giáo viên chủ nhiệm. Những buổi đọc sách ở Thư viện này được nhà trường quản lý, mục tiêu là xây dựng văn hóa đọc và tạo thói quen đọc sách cho các em. Ví dụ: Lịch Đọc sách của học sinh Thứ HS khối 2 3 4 5 6 1 x 2 x 3 x 4 x 5 x - Ngay từ đầu năm học cán bộ Thư viện phải xây dựng kế hoạch hoạt động Thư viện cụ thể dựa trên kế hoạch của nhà trường. Trong kế hoạch phải nêu lên được từng chủ điểm đọc, các sách tương ứng với từng chủ điểm để giới thiệu tới các em học sinh. Ví dụ 1: Chủ đề tháng 11: Thi đua lập nhiều thành tích chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20/11. Cán bộ Thư viện giới thiệu cho các em tìm đọc những cuốn sách như: + Tục ngữ ca dao Việt Nam về Giáo dục Đạo đức/ Nguyễn Nghĩa Dân .- H: Giáo dục, 2005 .- 135tr; 11x18 cm. + Những gương mặt Giáo dục Việt Nam 2007/ .- H: Giáo dục, 2007 .- 455tr; 16x24 cm Ví dụ 2: Chủ đề tháng 5: Thi đua lập thành tích chào mừng n

Nâng Cao Chất Lượng Thư Viện Trường Học

Thông tin tại Hội thảo Tổng kết công tác thư viện năm học 2018 – 2019, định hướng xây dựng bộ tiêu chuẩn thư viện trường tiểu học đáp ứng nhu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tổ chức, Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Hữu Độ cho biết: Những năm qua, các thư viện trường học đã phát huy được vai trò, tác dụng của mình, nhất là với cấp Tiểu học khi triển khai dạy học 2 buổi/ngày.

Thư viện The morning VIII do Hệ thống Giáo dục Ban Mai phối hợp cùng một số đơn vị hảo tâm xây dựng tại Trường Phổ thông Dân tộc Nội trú Tiểu học Nậm Chà (tỉnh Lai Châu).

Theo đó, song song với các giờ học trên lớp, học sinh có giờ học tại thư viện với những mô hình dạy học tích cực, phương thức giáo dục mở, thân thiện, giúp học sinh được tự do, chủ động tìm hiểu, khám phá kiến thức. Đây cũng là tinh thần chương trình giáo dục phổ thông mới hướng tới khi chú trọng phát triển năng lực, phẩm chất cho học sinh và một trong những năng lực cốt lõi là tự học, tự chủ.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác thư viện tại các trường học vẫn tồn tại một số hạn chế và phát triển chưa đồng bộ. Trang thiết bị cơ sở vật chất và nguồn học liệu của một số thư viện chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng. Một số nơi chưa chú trọng công tác bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ thư viện, khiến hoạt động vận hành thư viện chưa phát huy hết hiệu quả. Một số trường học chưa thực sự quan tâm nên thư viện mới chỉ là “cái kho” để chứa sách, là nơi cho học sinh và giáo viên mượn sách. Hoạt động thư viện chưa phát huy được hiệu quả, chưa thu hút được nhiều học sinh đến học tập và trải nghiệm ở không gian này.

Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIV, đại biểu Quốc hội Lâm Đình Thắng (Đoàn đại biểu Thành phố Hồ Chí Minh) cũng cho rằng, thư viện cơ sở giáo dục có tầm quan trọng bậc nhất, tác động đến việc hình thành thói quen đọc sách, phương pháp học tập có tra cứu, tham khảo khoa học, từ đó tạo nên văn hóa đọc, góp phần xây dựng nhân cách cho thanh thiếu nhi và con người Việt Nam. Nhiều nước trên thế giới đã có những chính sách đầu tư rất mạnh cho thư viện trong cơ sở giáo dục. Chẳng hạn như: Nhật Bản đã ban hành Luật Thư viện trường học từ năm 1953. Tại Hàn Quốc, Luật Thư viện trường học được ban hành vào năm 1963, bắt buộc mỗi trường học đều phải có thư viện…

Trong khi đó, ở cơ sở giáo dục Việt Nam hiện nay, bên cạnh nhiều đơn vị xem thư viện là trái tim của trường học, vẫn còn nhiều đơn vị không quan tâm đến việc phát triển thư viện. Có trường bố trí thư viện ở tầng cao nhất hoặc ở gần nhà vệ sinh, không phù hợp và không thuận tiện cho trẻ em đến đọc sách và tìm thấy sự hứng thú với hoạt động thư viện.

Nhiệm vụ chính của rất nhiều thư viện hiện nay là bán sách giáo khoa, bán dụng cụ học tập cho học sinh. Ngoài ra, cán bộ thư viện cơ sở giáo dục hiện nay không có chế độ chính sách bảo đảm cho cuộc sống và tạo động lực cho nghề nghiệp, cũng không có chế độ thâm niên, không có phụ cấp đứng lớp. Rất nhiều trường bố trí cán bộ thư viện là giáo viên kiêm nhiệm hoặc giáo viên đứng tuổi không còn sức khỏe giảng dạy tại lớp.

Cùng quan điểm, theo đại biểu Quốc hội Đặng Thị Phương Thảo (Đoàn đại biểu Nam Định), tại nhiều nhà trường, nhắc đến thư viện là nhắc tới một vị trí cố định, có khi lại đặt không hợp lý trong khuôn viên, không thuận lợi cho học sinh lui tới. Thời gian hoạt động thư viện theo giờ hành chính, mở cửa khi học sinh đã vào học và đóng cửa trước khi học sinh tan học. Chất lượng phục vụ trong thư viện nhà trường ở nhiều nơi không cao. Người làm công tác thư viện hoặc là kiêm nhiệm hoặc thiếu trình độ chuyên môn, thiếu kỹ thuật, nhiều khi không hợp tác, tạo tâm lý e ngại cho học sinh. Hình thức hoạt động của thư viện còn đơn điệu, khó tạo được hứng thú, thu hút người đọc…

Nghiên cứu để tổ chức thư viện thành không gian mở

Theo Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ, từ năm 1998, Bộ GD&ĐT đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động thư viện trường phổ thông nhằm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá 8 về xây dựng một nền giáo dục chuẩn hoá. Năm 2003, Bộ GD&ĐT tiếp tục ban hành Quyết định 01/2003/QĐ-BGDĐT về Tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông, trong đó đề ra các các tiêu chuẩn quan trọng cho một thư viện như: Số lượng đầu sách, cơ sở vật chất (diện tích phòng thư viện, quy định bàn ghế, máy tính…), cán bộ thư viện, công tác quản lý quản trị, tổ chức hoạt động của thư viện.

Thư viện trường học cần được xây dựng và hoạt động theo nhu cầu của học sinh.

Chiều 21/11, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật Thư viện với 91,51% đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Luật gồm 6 Chương, 52 Điều và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2020. Luật Thư viện mới được các chuyên gia đánh giá sẽ tác động rất lớn đến đời sống xã hội, đặc biệt là đối với sự phát triển văn hóa, giáo dục và khoa học của đất nước; góp phần tạo hành lang pháp lý, điều kiện phát triển sự nghiệp thư viện và văn hóa đọc; bảo đảm tính minh bạch và khả thi, tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế…

Tuy nhiên, sau nhiều năm triển khai thực hiện, các văn bản pháp lý về tổ chức, hoạt động thư viện đã có những nội dung “lỗi thời” so với thực tế hiện nay, nhất là khi Luật Thư viện vừa được Quốc hội thông qua và Việt Nam đang thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo yêu cầu của Nghị quyết 88/2014/QH13. “Chúng ta phải đổi mới từng yếu tố để tạo ra chất lượng giáo dục phổ thông đáp ứng yêu cầu mới của thực tế cuộc sống và hội nhập thế giới.

Trong đó một cấu phần rất quan trọng để tạo nên mô hình trường học chất lượng, góp phần hình thành thói quen đọc sách, năng lực tự học, tự nghiên cứu và sáng tạo cho học sinh chính là phát triển và nâng cao hiệu quả thư viện trường học. Để làm được điều này, các văn bản pháp lý đã lỗi thời cần được chỉnh sửa, thay thế” – Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ cho biết.

Một trong giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện trong trường học, theo Thứ trưởng Bộ GD&ĐT, là phải khảo sát được nhu cầu của học sinh theo từng vùng miền, từng lứa tuổi, để từ đó lên kế hoạch mua sắm, xác định nguồn tài liệu phù hợp với nhu cầu học tập, giải trí của các em. Đây cũng là hình thức thu hút học sinh đến với thư viện nhà trường. Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục phải xây dựng kế hoạch hoạt động thư viện đảm bảo phù hợp, có hình thức hoạt động linh hoạt, phong phú nhằm tạo hứng thú cho học sinh đến đọc và học.

“Chúng ta cần nghiên cứu để tổ chức thư viện thành không gian mở, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và cung cấp học liệu. Cán bộ thư viện cần làm tốt công tác tuyên truyền giới thiệu sách để thu hút học sinh đến thư viện nhà trường. Bốn yếu tố gồm: Nguồn tài liệu, cán bộ thư viện, người đọc, cơ sở vật chất/hạ tầng kỹ thuật cần được liên kết, đồng bộ để phát huy hiệu quả hoạt động thư viện trong các nhà trường” – Thứ trưởng Nguyễn Hữu Độ nhấn mạnh.

Phạm Thảo

Nguồn :

Nâng Cao Chất Lượng Đọc, Viết Tiếng Việt Cho Học Sinh Lớp 1

Tên đề tài: Nâng cao chất lượng đọc, viết tiếng việt cho học sinh lớp 1 Họ và tên: Cấn Thị Loan Giáo viên: Trường Tiểu học Cần Kiệm Năm học 2009 – 2010 A. Đặt vấn đề I. Lý do chọn đề tài: Giáo dục trẻ em là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng mà cả xã hội đều quan tâm, bởi vì ” Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”. Để ngày mai thế giới có những công dân tốt thì ngay từ ngày hôm nay chúng ta phải đào tạo một thế hệ trẻ có những kiến thức cơ bản về tự nhiên và xã hội, có phẩm chất đạo đức tốt của con người để các em học lên các lớp trên một cách dễ dàng. Trong môn tiếng Việt nói chung và ở lớp 1 nói riêng thì kĩ năng đọc viết là vô cùng quan trọng. Có đọc thông thạo mới hiểu được nội dung của văn bản. Khi kĩ năng viết được thành thạo mới thể hiện hết cho người đọc thấy được nội dung của văn bản. Nếu kĩ năng đọc viết thành thạo thì tiếp thu các môn học khác được dễ dàng. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 1. Tôi nhận thấy sau khi rời bàn tay chăm sóc của ông bà, cha mẹ, trẻ 6 tuổi bước vào một giai đoạn mới là được đi học. Bước đầu học chữ, học đọc, học viết. Nên các em còn nhiều bỡ ngỡ và tiếp thu kiến thức thật khó khăn. Trẻ phải nói lên được những yêu cầu cần thiết của một bài học, từ đó nhìn vào âm – vần – tiếng trẻ đọc, viết đúng. Cũng từ đây trẻ đọc, viết được câu văn, bài văn một cách thành thạo. Với những yêu cầu ngày càng cao đòi hỏi học sinh lớp một phải đọc viết thành thạo bài học. Nếu các em không đọc thông viết thạo thì các em làm toán cũng rất khó khăn và học các môn khác cũng vậy. Để giúp các em đọc viết thành thạo bài học của mình là một việc làm hết sức vất vả mà người giáo viên lớp 1 phải trải qua và khắc phục. Tôi rất băn khoăn trăn trở. Vậy phải làm thế nào để nâng cao chất lượng đọc, viết cho học sinh lớp 1. Vì vậy mà bản thân chọn đề tài: ” Nâng cao chất lượng đọc, viết tiếng Việt cho học sinh lớp 1″ II. Phạm vi và thời gian thực hiện – Tại lớp 1C trường Tiểu học Cần Kiệm – Thời gian thực hiện: 2 năm – Năm học 2008 – 2009 – Năm học 2009 – 2010 B. Quá trình thực hiện I. Thực trạng ban đầu khi chưa có biện pháp tác động: Năm học 2008 – 2009 tôi được phân công giảng dạy lớp 1C, gồm 32 học sinh. Tôi thấy nhiều em còn rất bỡ ngỡ và mọi thứ còn rất mới lạ. Cho nên cuối tháng 9 tôi đã phân loại học sinh cụ thể: Năm học Tổng số học sinh Số em đọc viết theo chuẩn Số em đọc viết chậm Số em chưa đọc viết được 2009 – 2010 32 5 = 15,6% 10 = 31% 17 = 53,1% * Nguyên nhân: Từ những số liệu về tình hình học sinh của lớp và qua nghiên cứu thực tế giảng dạy bản thân nhận thấy các em đọc, viết còn chậm so với yêu cầu chuẩn và chưa biết đọc, viết tập trung vào những nguyên nhân sau: 1. Bản thân tôi vận dụng phương pháp dạy học chưa phù hợp với từng đối tượng học sinh. 2. Học sinh nhận thức chậm, lười học, hay quên, do hoàn cảnh gia đình. 3. Phụ huynh không quan tâm đến con em mình phó mặc cho cô giáo. II. Các biện pháp: Qua thực trạng học sinh đọc, viết chậm và nhiều học sinh còn chưa biết đọc viết. Tôi đã tìm ra các giải pháp sau: 1. Biện pháp thứ nhất: Đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với từng đối tượng học sinh trong lớp. 1.1. Sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm đối tượng. Vào đầu năm học tôi đã phân loại học sinh trong lớp thành các nhóm đối tượng sau: * Nhóm 1: Gồm những học sinh chậm, yếu. * Nhóm 2: Gồm những học sinh trung bình. * Nhóm 3: Gồm những học sinh khá. * Nhóm 4: Gồm những học sinh giỏi. Để giúp cho học sinh dễ nhớ tên của nhóm mình, tôi thay tên nhóm 1, 2, 3, 4 thành tên khác như nhóm A, B, C, D. Trong các tiết học tôi luôn luôn lấy chuẩn làm thước đo. Nhưng ở các tiết ôn tập buổi chiều. Tôi yêu cầu các em thực hiện nhiệm vụ với 4 mức khác nhau trong cùng một giờ học. Ví dụ: Nhóm 1: Tôi cho các em đọc nhiều lần hơn, viết ít hơn so với nhóm 3 và 4. Các dạng bài như: Dạy chữ cái, dạy vần, tập đọc tôi đều vận dụng phương pháp này khi dạy bài 48: Vần: in – un các em chỉ cần viết in, un, đèn pin, con giun, mỗi từ, mỗi vần, chỉ một dòng. Còn đối với nhóm 3,4 viết nhiều hơn từ 2 đến 3 dòng đối vần, từ câu ứng dụng. Còn các em ở nhóm 2 chỉ cần viết theo yêu cầu chuẩn. Tôi luôn dành thời gian đầu giờ và cuối buổi để kèm cặp cho các em đọc, viết phần nào các em còn yếu. 1.2. Sử dụng đồ dùng dạy học như tranh ảnh, vật thật. Giúp học sinh học chậm tiếp thu bài dễ dàng. ở lứa tuổi lớp 1, tư duy của các em phần lớn là tư duy trực quan sinh động, tư duy trừu tượng kém phát triển. Cho nên tôi luôn sử dụng đồ dùng dạy học để chuyển tải thông tin và là nội dung truyền thụ kiến thức giáo dục tư cách rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh. Vì thế đồ dùng dạy học có tác dụng rất lớn giúp học sinh lớp 1 tiếp thu bài một cách dễ dàng, nhất là các em học sinh đọc, viết chậm. Ví dụ: Khi dạy bài Học vần Bài 39: au – âu SGK – Tiếng Việt lớp 1 tập 1: Tôi đưa tranh vẽ ( hoặc vật thật) quả cau, tranh vẽ cái cầu để học sinh quan sát và tìm ra từ khoá sau khi các em đã nhận diện vần au, âu ở phần đầu tiết học. Từ tranh vẽ, vật thật giúp các em nhớ chính xác hơn các vần và các từ được học. Như vậy việc sử dụng tranh, ảnh trong các giờ học vần giúp học sinh nhớ vần và từ tốt hơn. – Ngoài ra dùng tranh, ảnh có vai trò rất lớn trong phần luyện nói ở các tiết tập đọc môn Tiếng Vịêt lớp 1 – Học kỳ II. Ví dụ: Mèo con đi học – sách Tiếng Việt lớp 1 – tập 2 trang 103 – phần luyện nói. Tìm tiếng ngoài bài có vần ưu giáo viên treo tranh vẽ con cừu. Tôi hỏi nội dung bức tranh, sau đó cho các em nói câu có vần ưu, động viên các em học chậm nói trước, nhìn tranh tự các em nói được như mẹ ( cô, chú, chị ) đang chăn cừu hoặc con cừu béo múp. Dùng tranh, ảnh trong các phần này tôi nghĩ rằng có tác dụng rất lớn đối với các em học chậm. Từ đó giúp các em vừa nói được câu có vần cần tìm và hiểu được nghĩa của câu đó. Tuy nhiên các em học sinh khá, giỏi nói được câu khác có vần ưu, con cừu, quả lựu, ông hựu mà không dựa vào tranh. Như vậy qua việc sử dụng tranh ảnh, vật thật đã phát huy được tính sáng tạo chủ động cho học sinh khá giỏi và tạo hứng thú cố gắng vươn lên cho học sinh học chậm. 1.3.Luôn luôn quan tâm giúp đỡ học sinh. Bản thân tôi nhận thấy học sinh lớp 1 còn nhỏ, các em tiếp thu kiến thức thông qua hình thức, học mà chơi, chơi mà học, cho nên trong các giờ học tôi luôn nhẹ nhàng ân cần dạy bảo tạo không khí thoải mái vui vẻ trong giờ học, làm cho các em thấy tự tin và phấn khởi đến lớp, không quát mắng các em khi các em làm sai hay chưa làm được. Tôi không ngồi một chỗ đọc bảo các em viết đi, mà xuống bên học sinh xem em nào đã làm được còn em nào chưa làm được thì nhắc nhở các em , chỉ cụ thể cho các em nhất là những em học chậm nhắc lại, hay bắt tay các em để các em viết cho đúng. Tôi luôn gần gũi hỏi thăm động viên các em khi các em có một tiến bộ nho nhỏ làm cho các em thấy cô giáo như những người thân yêu trong gia đình, sẵn sàng kể cho cô nghe những niềm vui hoặc khó khăn của mình trong học tập hay trong cuộc sống hàng ngày mà cần cô giúp đỡ. Ví dụ: Em Lan ở lớp 1C. Do tôi chủ nhiệm, em đọc yếu và hay viết sai, không đúng cỡ chữ, không thẳng hàng, một số chữ hay nhầm lẫn ở trong 3 tháng đầu của năm học. Nhưng qua nhiều lần, tôi đến tận nơi giúp em đọc viết. Khi bắt tay, khi chỉ hàng cùng với lời khen em dù chỉ là tiến bộ nhỏ nhất. Quả thật đến nay em Lan đã tiến bộ rõ rệt, em đã đọc viết đúng, chữ rõ ràng, thẳng hàng. Qua các biện pháp ở trên tôi nhận thấy nếu người giáo viên biết lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp với từng đối tượng học sinh của mình cùng với lòng nhiệt tình, quan tâm giúp đỡ học sinh học chậm thì chất lượng đọc, viết của lớp ngày càng một nâng lên. 2. Biện pháp thứ 2: Giúp học sinh nhận thức chậm, lười học, hay quên do hoàn cảnh gia đình học tốt hơn. – Là giáo viên dạy lớp 1 lâu năm. Tôi nhận thấy có lẽ đây là nguyên nhân lớn làm giảm chất lượng đọc, viết của học sinh. Tôi thực sự băn khoăn và lo lắng bởi số học sinh này không phải chỉ có 1 hay 2 em. Vậy tôi nghĩ nên làm cách nào để giúp những học sinh này đạt kết quả tốt, không phải chỉ trong một tháng mà trong cả một năm học. 2.1. Đối với học sinh nhận thức chậm và hay quên vào đầu năm tôi đã phân loại để nắm số lượng, từ đó tìm ra biện pháp giúp đỡ. Tôi luôn lấy chuẩn để làm mục tiêu phấn đấu cho học sinh cả lớp. Cho nên tôi đã xếp chỗ ngồi cho phù hợp và có tác dụng thúc đẩy các em học tập. Ví dụ: Cho các em ngồi gần các bạn học giỏi để các em được bạn giúp đỡ học tập từ bạn, như các em đọc theo bạn, viết theo bạn và được bạn nhắc nhở luôn. Với biện pháp này tôi đã tạo điều kiện rất tốt cho các em hoạt động nhóm đôi, từ đó phát huy được những ưu điểm của các em học giỏi. Bản thân tôi chỉ yêu cầu những học sinh nhận thức chậm đọc, viết một số lượng kiến thức phù hợp để giúp các em theo kịp các bạn. Ví dụ: Tiết tập chép “Hồ Gươm” – sách Tiếng Việt lớp 1 tập 2 – trang 118: Yêu cầu chuẩn học sinh chép từ ” Cầu Thê Húc màu son” đến ” cổ kính” gồm 36 tiếng. Nhưng đối với những em học sinh nhận thức chậm chỉ yêu cầu các em viết đoạn gồm 26 tiếng. Tôi luôn theo dõi uốn nắn và hướng dẫn cụ thể cho các em. Tăng cường gọi đọc nhiều lần nhất là vần, câu ứng dụng đoạn thơ hay đoạn văn. Tôi thường xuyên đến sớm trước 15 phút để kèm cặp thêm những học sinh này. Ngoài ra cuối buổi tôi ở lại dạy các em, đến gần theo dõi khi các em đọc, viết. Sửa sai cho các em, động viên khi các em tiến bộ. Từ đó tạo cho các em lòng say mê học tập. 2.2. Tôi luôn luôn quan tâm đến những học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn. Trong quá trình làm công tác chủ nhiệm lớp 1C, tôi thấy nhiều học sinh đến lớp không đọc bài, viết bài, ngồi ngơ ngác, có khi còn ngủ gật, không chú ý nghe cô giảng bài. Nguyên nhân này cũng là yếu tố quan trọng làm giảm chất lượng đọc viết của học sinh. Vậy muốn các em học sinh này đọc viết tốt. Bản thân tôi phải nắm vững hoàn cảnh gia đình của các em . Từ đó có biện pháp cụ thể giúp đỡ các em, tôi thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, tặng sách vở, quần áo, đồ dùng học tập cho các em. Tôi luôn luôn gần gũi quan tâm đến các em, khi các em bị ốm động viên thăm hỏi kịp thời giúp các em chóng khỏi bệnh. Ví dụ: Lớp tôi có em Thư mồ côi cha, em đọc, viết rất chậm và thường hay nghỉ học, đến lớp ngồi một mình không tham gia hoạt động với các bạn , em học kém, hay quên vở, tôi luôn gần gũi, động viên em, khi thấy em nghỉ học không lý do. Tôi đến gặp gia đình của em, giúp em đọc, viết thêm ở nhà . Đến lớp giúp em cùng chơi và hoà nhập với các bạn, cho em 1 số sách vở ở lớp để em khỏi quên. Tôi thường xuyên kiểm tra, cụ thể đến nay em đã đọc viết thành thạo không còn vẻ buồn phiền nữa. Để giúp học sinh có hoàn cảnh khó khăn, bản thân tôi luôn luôn quan tâm, giúp đỡ , động viên các em , giúp các em tự tin trong học tập, tạo cho các em có sự thi đua lẫn nhau. Nhờ đó mà các em có ý thức vươn lên trong học tập đạt kết quả cao. 3. Biện pháp thứ 3: Làm cho phụ huynh phải quan tâm tới con em mình không khoán trắng cho cô giáo nữa. Bởi vì gia đình góp phần quan trọng trong việc giúp các em đọc viết thành thạo bài học. Nhưng từ thực tế cho thấy nhiều cha mẹ học sinh cho con đến trường là xong nhiệm vụ. Còn trách nhiệm dạy, giáo dục con mình là phần của cô giáo, có những em nhịn đói đi học, có những em bị bệnh nhưng cha mẹ không hề biết vẫn cho con đi học. Đến lớp các em học bài rất mệt mỏi, khi thì thiếu vở, khi thì thiếu bút… Trước tình hình này đòi hỏi bản thân tôi phải thường xuyên liên lạc với phụ huynh, trao đổi với phụ huynh để họ hiểu rằng các em có học được tốt là phải có sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường. Đề nghị phụ huynh cần quan tâm đến việc học bài của con em mình ở nhà. Cụ thể xem hôm nay học những bài gì , các em có ghi chép đủ không, giúp các em soạn sách vở ở nhà trước khi đến lớp, hướng dẫn các em đọc viết bài nhiều lần ở nhà. Tôi thường xuyên đến thăm gia đình học sinh để trao đổi trực tiếp. Ví dụ: Lớp 1C của tôi có em Thuận, Tới, Tuấn Anh, Thuỷ đi học thường xuyên quên mang vở, không đọc, viết bài ở nhà, nhiều lần tôi gặp gỡ trao đổi với từng phụ huynh của từng em để thông báo kết quả học tập của các em. Từ đó nhờ phụ huynh giúp đỡ các em đọc, viết bài ở nhà. Cho đến nay các em Tới, Tuấn Anh, Thuỷ, Thuận đã tiến bộ rõ rệt, cả 4 em đều đọc, viết thành thạo. Chính vì vậy mà phụ huynh đã hiểu rõ vai trò của gia đình trong việc dạy các em là rất quan trọng, mối quan hệ giữa gia đình và nhà trường không thể tách rời nhau. Cho nên muốn giúp học sinh đọc, viết thành thạo bài học. Tôi luôn giữ mối quan hệ thường xuyên với phụ huynh học sinh và luôn luôn mềm dẻo trước những phụ huynh khó tính. Tôi thường xuyên trao đổi và tư vấn cho phụ huynh hiểu được quá trình học tập của các em. Muốn cho các em đọc, viết thành thạo bài học thì phải có sự giúp đỡ từ phía gia đình. Có như vậy gia đình mới là chỗ dựa vững chắc làm cho các em có thói quen chăm học và học tốt hơn. III. Kết quả thực hiện Qua thực hiện các biện pháp ở trên học sinh lớp tôi rất chăm chỉ học tập, không còn nhiều học sinh đọc viết chậm. Chất lượng các lần khảo sát định kỳ của lớp tôi đều đạt 96,9% trung bình trở lên, trong đó tỷ lệ học sinh có bài giỏi đạt 72%. Cụ thể cuối năm: Năm học Tổng số học sinh Số em đọc viết tốt Số em đọc viết theo chuẩn Số em chưa biết đọc viết 2009 – 2010 32 23 = 71,9% 8 = 25% 1 = 3,1% IV. Bài học kinh nghiệm: Qua quá trình thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đọc viết tiếng Việt cho học sinh lớp 1. Bản thân tôi nhận thấy muốn giúp cho học sinh lớp 1đọc, viết thành thạo bài học: – Điều trước tiên người giáo viên phải có lòng yêu nghề mến trẻ, yêu thương các em như con em mình. – Người giáo viên phải biết đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng đối tượng học sinh của mình. Có như vậy các em mới hào hứng lĩnh hội kiến thức một cách tốt nhất. Ngoài ra cần tìm hiểu rõ nguyên nhân và hoàn cảnh của các em để chia sẻ những niềm vui nỗi buồn, giúp đỡ các em làm cho các em tự tin trong học tập và thực sự thấy mỗi ngày đến trường là một ngày vui và thấy cô giáo như người mẹ hiền thứ hai của em. Chính điều đó làm nền móng tốt cho các em học lên lớp trên. – Người giáo viên cần chú ý rèn cho các em đức tính cẩn thận ngay từ khi bước vào lớp 1. – Trong giảng dạy phải có sự phối kết hợp với gia đình để làm tốt công tác chủ nhiệm. Làm cho phụ huynh thấy rõ vai trò của gia đình trong quá trình giáo dục con em mình, phải biết khuyến khích kịp thời trước sự tiến bộ của học sinh. Xây dựng cho các em thói quen tự giác học tập ở nhà. Cần Kiệm, ngày 20 tháng 05 năm 2010 Người viết Cấn Thị Loan ý kiến nhận xét đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học cơ sở ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. Ngày…..tháng……năm 2010 Chủ tịch Hội đồng đánh giá và xếp loại của hội đồng khoa học Ngành giáo dục đào tạo huyện ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. ………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….. Ngày…..tháng……năm 2010 Chủ tịch Hội đồng

Bạn đang xem bài viết Nâng Cao Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Qua Thư Viện Xanh trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!