Xem Nhiều 3/2023 #️ Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau # Top 11 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 3/2023 # Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

c)Đối với mỗi người văn chương có những ý nghĩa, cảm nhận khác nhau. Nhưng ai cũng hiểu rằng văn chương là một thứ trừu tượng, ta không thể nhìn thấy hay chạm vào nó mà chỉ có thể lắng nghe và cảm nhận thôi. Văn chương là nơi kết tụ cái tinh hoa của cuộc sống. Văn chương còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng với đời sống con người. “Văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm ta sẵn có” chính là công dụng của văn chương, Nghĩa là văn chương mở ra cho ta những “chân trời mới”, bồi đắp tình cảm tốt đẹp cho ta, làm giàu thêm cho thế giới tâm hồn ta. Và văn chương khai phá những tình cảm xưa nay ẩn sâu trong trái tim ta và bồi dưỡng những thứ tình cảm ấy thêm lớn hơn nữa. Vì sao trong tác phẩm “Ý nghĩa văn chương”, nhà văn Hoài Thanh lại nói “Văn chương luyện những tình cảm ta sẵn có”. Vì văn chương dạy, giúp ta hiểu thêm được ý nghĩa, giá trị của tình cảm gia đình là to lớn, là quan trọng thế nào. Giúp cho mỗi lứa học sinh chúng ta thấm thía hơn công lao dưỡng dục của cha mẹ; sự vất vả, những giọt mồ hôi phải rơi xuống của cha mẹ để nuôi chúng ta lớn lên từng ngày. Qua câu ca dao ông cha ta nói ngày xưa: ” Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, ta đã thấy được tình cảm của cha mẹ dành cho chúng ta là vô bến bờ, cha mẹ luôn luôn yêu thương ta, che chở ta mãi mãi. Và qua những dòng văn thơ, văn chương cũng cho chúng ta biết ông bà, những người tuy không sinh ra chúng ta nhưng ông bà đã cùng bố mẹ nuôi nấng, chăm sóc chúng ta nên người. Và nhờ ông bà thì mới có bố mẹ, để rồi có chúng ta ngày hôm nay. Từ đó mà ta nhận ra một điều rằng càng phải biết ơn, kính yêu ông bà hơn nữa. Và cũng từ câu ca dao xưa đã giúp ta hiểu được đạo lí ấy: “Ngó lên nuộc lạt mái nhà / Bao nhiêu nuộc lát nhớ ông bà bấy nhiêu”. Văn chương cho ta biết giá trị tình cảm gia đình, và văn chương còn cho ta biết ý nghĩa của tình bạn bè, bằng hữu. Văn chương ngày nay đã có bao nhiêu những tác phẩm nói lên tình bạn thực sự, đẹp đẽ, tri kỉ. Dưới ngòi bút tinh tế của nhà thơ Nguyễn Khuyến trong văn bản “Bạn đến chơi nhà”, tình bạn đã hiện lên thật giản dị mà cũng thật cao thượng. Tình bạn là 1 thứ tất yếu, tình bạn không cần của cải vật chất. Bạn bè luôn hiểu ta nhất, luôn bên ta, biết ta cần gì,…Qua bài thơ “Bạn đến chơi nhà” mà ta thêm trân trọng tình cảm bạn bè dành cho nhau, một thứ tình cảm tồn tại mãi mãi… Văn chương giúp ta thấm thía được tình cảm gia đình, thêm trân trọng tình bạn thiêng liêng và giờ văn chương đẩy mạnh tình yêu nước trong tim mỗi con người. Những lời văn sinh động, chất chứa đầy tình cảm thúc đẩy niểm tự hào của ta về quê hương đất nước: vẻ đẹp tiềm ẩn, cảnh sắc quê hương, truyền thống văn hóa đặc sắc, một lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng,… Qua những lời văn miêu tả tinh tế, chân thật trong văn bản “Sài Gòn tôi yêu” hay Mùa xuân của tôi”,… ai mà chẳng tự hào, ngượng mộ vẻ đẹp tự nhiên tiềm ẩn của quê hương Việt Nam ta. Còn qua hai tác phẩm ” Một thứ quà của lúa non: Cốm” và ” Ca Huế trên sông Hương”, một lần nữa ta lại thêm tự hào về nền văn hóa đặc sắc lâu đời của dân tộc ta. Đến khi đọc những tác phẩm “Lòng yêu nước của nhân ta”, “Nam quốc sơn hà”,… ta lại phải khâm phục sức kiên cường, không lùi bước chiến đấu của dân tộc ta, để lại một trang sử hào hùng. Qua những dẫn chứng trên, ta thấy văn chương đã tạo ra những phép màu cho cuộc sống, tạo ra tình cảm giữa con người với con người. Văn chương đã bồi dương tâm hồn ta, mở rộng cánh cửa nhân ái của lòng ta, giúp ta hiểu thêm tình đời tình người. Văn chương khơi dậy lòng trắc ẩn trong mỗi người.

Đặt Câu Có Sử Dụng Biện Pháp Điệp Ngữ

Viết đoạn văn ngắn có sử dung câu đặc biệt, câu rút gọn,dấu chấm lửng,dấu chấm than, dấu gạch ngang và nêu công dụng cảu dấu câu, dấu câu sử dụng

Viết đoạn văn ngắn trong đó có sử dụng cậu mở rộng, câu đặc biệt và trạng ngữ (đề tại tự chọn)

Câu 1. Tìm cụm chủ vị mở rộng và cho biết chúng làm thành phần gì trong câu

a)Ở trên lớp, học sinh chăm chỉ làm bài là một việc làm tốt

b) Mùa hè, hoa phượng nở làm cho sân trường thêm rực rỡ.

Câu 2. Tìm phép liệt kê và phân loại, nêu tác dụng

a) Ngoài hò, ở ca Huế còn bắt gặp các điệu lý như : lý con sáo, lý hoài xuân, lý hoài nam

b) Nhạc công dùng các ngón đàn trau chuốt như ngón nhấn, mổ, vỗ, vã….

HELPP MEEE

Mọi người giúp mình mấy bài này với hí hí

+Đoạn văn về tình cảm gia đình có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

+Đoạn văn về tình cảm bạn bè có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

+Đoạn văn về tình cảm anh em có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

+Đoạn văn về tình cảm quê hương có sử dụng 1 cặp từ trái nghĩa

Mong mọi người giup đỡ tí mình phải nộp bài rồi

câu 2: kể tên các chuyện đã học trong chương trình lớp 7? em thích truyện nào? vì sao?

câu 3: có mấy tiêu chí để phân loại phép liệt kê

giúp vs

Xác định kiểu câu và gạch chân dưới những từ ngữ nhận biết. a, An hỏi: Bạn là ai ? b, Bạn định làm gì vào ngày mai ? c, Tại sao bạn không làm bài tập về nhà ? d, Em đừng khóc nữa. e, Em đi về đi. f, Tớ chỉ đùa thôi. g, Ôi ! Khổ quá. h, Chao ôi ! Bọn chúng thật ác. i, Tôi thương mẹ tôi biết bao. k, Tôi nói với Phương: Bạn cứ vào trong nhà mình chơi. l, Mẹ nói: Bố về rồi con đi dọn cơm cho bố.

Xác định chủ ngữ , vị ngữ , trạng ngữ ( nếu có ) .

1. Khi tiếng trống hiệu vừa dứt, bốn thanh niên của bốn đội nhanh như sóc, thoăn thoắt leo lên bốn cây chuối bôi mỡ bóng nhẫy để lấy nén hương cắm ở trên ngọn.

2. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi

Phân tích tác dụng của phép nhân hóa:

Trăng lồng cổ thụ, bóng lồng hoa.

Tìm câu đặc biệt, trạng ngữ và câu rút gọn:

Nhân dân ta có một lòng yêu nước nồng nàn. từ già đến trẻ, tất cả đều sẵn sàng hy sinh vì đất nước Việt Nam. Những cô gái trẻ độ tuôi đôi mươi, cũng chấp nhận từ bỏ lứa tuổi đẹp nhất của đời người để ra trận. Những người mẹ tần tảo đã đau khổ biết mấy khi để những người con mà họ hết lòng yêu thương ra trận. Những người phụ nữ, bất chấp tất cả, cũng cùng các thanh niên trang bị cho cuộc chiến tranh sắp đến… Tất cả những công dân Việt Nam,họ biết họ đang đối mặt với sự sống và cái chết… nhưng họ gạt bỏ tất cả nỗi sợ hãi bị tật nguyền, bị mất đi đôi chân hoặc cánh tay, tệ hơn nữa, họ sẽ chết chìm trong biển lửa tàn khốc của chiến tranh. Nhưng lý do gì đã không ngừng thôi thúc họ không được từ bỏ, rằng dù có bị tật nguyền cũng phải dũng cảm chiến đấu vì tương lai sau này? Đó là vì tinh thần yêu nước của nhân dân ta quá sâu đậm. Dường như trong dòng máu của mỗi công dân Việt Nam đều đã có sẵn tinh thần bất khuất ầy. Nó sẽ không bao giờ chịu khuất phục bởi chiến tranh, luôn sống mãi trong tim mỗi con người, mỗi công dân Việt Nam

Xác định từ láy và từ ghép trong các từ sau đây:

+đầu đuôi +heo hút +tươi tốt

+ngọn ngành +đông đủ +nảy nở

+chậm chạp +ngọt ngào +xinh xẻo

+mệt mỏi + chua chát + tươi tắn

Hiệu Quả Tu Từ Của Biện Pháp Điệp Ngữ Trong Thơ Ngô Văn Phú

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Có thể nói điểm độc đáo nhất của văn học, đưa văn học thoát khỏi hình thái nghệ thuật nguyên hợp ban đầu, phát triển độc lập bên cạnh các nghệ thuật khác như: âm nhạc, hội họa, điện ảnh… là ở chỗ văn học phản ánh hiện thực cuộc sống bằng ngôn ngữ. Ngôn ngữ chính là phương tiện, chất liệu, là đối tượng để nhà văn xây dựng hình tượng, tái hiện sinh động hiện thực cuộc sống trong tác phẩm. Đồng thời, ngôn ngữ trong tác phẩm cũng là phương tiện để chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của nhà văn trước hiện thực cuộc sống. Bakhtin trong “Mấy vấn đề thi pháp của Đôxtôiépxki” khẳng định: “Ngôn ngữ chẳng những là phương tiện miêu tả, mà còn là đối tượng miêu tả của văn học” [12, 190]. Do vậy tiếp cận các tác phẩm văn học cần thiết phải hiểu các yếu tố ngôn ngữ đã được nhà văn lựa chọn, sử dụng. Bạn đọc nắm được nội dung của tác phẩm thông qua liên tưởng và tưởng tượng từ các yếu tố ngôn ngữ. Lí luận dạy học cũng đã khẳng định: tiếp nhận các tác phẩm văn chương từ góc độ ngôn ngữ là con đường đến với tác phẩm ngắn nhất và khoa học nhất. Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ trong tiếng Việt” đã khẳng định: “Cái làm nên sự kì diệu của ngôn ngữ chính là các phương tiện và biện pháp tu từ”. Việc tìm hiểu hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú là việc làm có nhiều ý nghĩa giúp bồi dưỡng thêm năng lực cảm thụ thi ca từ góc độ ngôn ngữ. 1.2. Ngô Văn Phú là một trong những nhà thơ đương đại tiêu biểu. Tuy tác phẩm của ông chưa được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông nhưng tên tuổi của Ngô Văn Phú đã được nhiều nhà phê bình và độc giả chú ý. Ngô Văn Phú viết nhiều và viết khỏe. Ông thành công ở nhiều thể loại: thơ, tiểu thuyết,

Sv: Nguyễn Thị Hiền

3

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

truyện ngắn, biên khảo, dịch thuật… đặc biệt là mảng thơ ca với hơn 300 bài thơ đã góp phần tạo nên dấu ấn riêng về phong cách của tác giả trên thi đàn. Là người sống trong thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ XX và XXI, Ngô Văn Phú trực tiếp chứng kiến những thăng trầm và khởi sắc của thơ ca đương đại. Trong khi các cây bút trẻ “phá phách” tìm lối viết “táo bạo” thì Ngô Văn Phú lại thực sự thành công khi ông trở về với tiếng thơ đồng nội giản dị, hồn hậu, chân chất yêu thương. Thơ ông là tiếng nói đa thanh, đa giọng điệu mang âm hưởng của cuộc sống thôn quê với nhiều lắng đọng suy tư. 1.3. Biện pháp tu từ điệp ngữ là biện pháp xuất hiện với tần số rất cao trong thơ Ngô Văn Phú. Chính biện pháp này đã góp phần tạo nên một nét riêng độc đáo cho nhà thơ – nhà thơ của vùng quê trung du Bắc bộ. Có thể nói ông là nhà thơ gắn bó gốc rễ với quê mình nên suốt chặng đường thơ từ lúc mới cầm bút cho đến khi trở thành nhà thơ có độ chín, sung sức, thơ ông không lúc nào tách khỏi vùng đất ấy. Thơ Ngô Văn Phú là một mảnh hồn trung du nhiều màu sắc: khi thì đậm đà như đất đồi đá ong, khi thì dịu nhẹ như khói sương thung lũng, khi lại mát đằm như lá tre rừng cọ. Ngô Văn Phú đã viết về quê hương, con người bằng cả tâm hồn thương yêu, trong trẻo của một thi sĩ. Tìm hiểu “Hiệu quả của phép điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú”, khóa luận mong muốn đóng góp tiếng nói khẳng định vẻ đẹp và tâm hồn thơ Ngô Văn Phú, đồng thời cũng thấy được sự biến hóa linh điệu của ngôn từ tiếng Việt trong ngôn ngữ nghệ thuật. Việc tìm hiểu hiệu quả biểu đạt của các phương tiện ngôn ngữ trong văn học cũng là việc làm cần thiết giúp hình thành kĩ năng lĩnh hội văn bản, góp phần đổi mới phương pháp đọc hiểu thơ trữ tình nói chung trong trường phổ thông hiện nay, đồng thời làm giàu ngữ liệu để dạy tốt hơn môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông. 2. Lịch sử vấn đề

Sv: Nguyễn Thị Hiền

4

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Điệp ngữ là một vấn đề đã được các nhà Phong cách học và Ngữ pháp học văn bản quan tâm nghiên cứu từ lâu và đề cập trong nhiều giáo trình ngôn ngữ. Phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu của từng chuyên ngành có sự khác nhau dẫn đến những quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề này. Có thể điểm qua lịch sử nghiên cứu vấn đề thông qua các công trình nghiên cứu của một số nhà Việt ngữ học sau. 2.1. Nghiên cứu điệp ngữ dưới góc nhìn của nhà Phong cách học tiếng Việt 2.1.1. Cuối thế kỷ XX, khi lý thuyết ngôn ngữ học có những bước phát triển thì điệp ngữ cũng được quan tâm nghiên cứu. Điệp ngữ được chú ý, phát hiện bởi hiệu quả biểu đạt của nó trong văn bản, đặc biệt là văn bản nghệ thuật. Trong “Giáo trình Việt ngữ”, tập III (Tu từ học), tác giả Đinh Trọng Lạc (1964) đã phát hiện: “Trong giao tiếp, không phải do cẩu thả mà chính do một dụng ý, tác giả muốn nhấn mạnh vào những từ ngữ cần thiết, để cho tư tưởng, tình cảm biểu hiện trở nên mạnh mẽ, gây ấn tượng sâu sắc với người đọc. Trong trường hợp này, chúng ta có điệp ngữ” [8, 237 – 238]. Cũng trong giáo trình này, tác giả Đinh Trọng Lạc phân chia thành 5 kiểu điệp ngữ cơ bản đó là: – Lặp lại từ ở đầu câu văn. – Lặp lại từ ở cuối câu văn. – Lặp lại từ ở giữa câu văn. – Lặp vòng tròn. – Lặp cách quãng. Ông xếp điệp ngữ vào loại các biện pháp tu từ cú pháp và khẳng định: “Những cách điệp từ là những cách trùng điệp tiêu biểu nhất trong phạm vi cú pháp” [8, 238] 2.1.2. Kế thừa và bổ sung thêm những phát hiện về phép điệp từ ngữ, nhóm tác giả nghiên cứu: Võ Bình, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, trong giáo

Sv: Nguyễn Thị Hiền

5

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

trình “Phong cách học tiếng Việt”, nhà xuất bản giáo dục, 1982 đã đưa ra bốn kiểu điệp ngữ đó là: – Điệp nối tiếp – Điệp cách quãng – Điệp vòng tròn – Điệp kiểu câu và điệp phô diễn 2.1.3. Đến năm 1983, tác giả Cù Đình Tú, trong cuốn “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt”, nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tiếp tục đề cập đến vấn đề điệp ngữ trong văn bản. Cách nhìn của ông về vấn đề này vừa có điểm gặp gỡ lại có điểm không đồng nhất với nhóm tác giả “Phong cách học tiếng Việt” (1982). Điều này được thể hiện thông qua việc phân chia và quan điểm phân chia điệp ngữ của ông. Tác giả Cù Đình Tú phân chia điệp một cách cụ thể bao gồm bảy loại nhỏ: – Điệp liên tiếp. – Điệp cách quãng. – Điệp đầu. – Điệp đầu cuối. – Điệp cuối đầu. – Điệp vòng tròn. – Điệp theo kiểu diễn đạt. Như vậy tác giả Cù Đình Tú có sự phân chia cụ thể hơn, hợp lí hơn dựa vào vị trí và mục đích của yếu tố điệp. 2.1.4. Trong giáo trình “Phong cách học tiếng Việt” nhóm tác giả: Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Nhà xuất bản giáo dục, 1979, quan niệm của tác giả Nguyễn Thái Hòa về điệp ngữ có phần phức tạp hơn. Theo đó tác giả Nguyễn Thái Hòa cho rằng:

Sv: Nguyễn Thị Hiền

6

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

“Điệp ngữ là biện pháp lặp lại một hay nhiều lần những từ, ngữ… nhằm mục đích mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe”. Cách phân chia điệp ngữ cũng có nhiều điểm khác theo các tiêu chí khác nhau: – Theo các yếu tố: điệp từ, điệp ngữ, điệp đoạn, điệp câu. – Theo vị trí: điệp đầu câu, điệp giữa câu, điệp cách quãng, điệp liên tiếp – Theo tính chất: điệp phức tạp và điệp đơn giản. 2.1.5. Tiếp nhận quan điểm của nhiều nhà Việt ngữ học và quan điểm của mình trước đó, tác giả Đinh Trọng Lạc, trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, 1999, đưa ra cách nhìn tương đối thống nhất về điệp ngữ. Về mặt lý luận, ông cho rằng: “Điệp ngữ là một phương tiện tu từ cú pháp. Đó là sự lặp lại có ý thức những từ nhằm mục đích nhấn mạnh ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người đọc, người nghe”. Ông cũng đưa ra cách phân chia điệp ngữ. Quan điểm phân chia có thay đổi so với năm 1962, ông đưa điệp đầu câu, điệp cuối câu vào một tiểu loại là điệp cách quãng. Do đó ta có ba loại điệp cơ bản: – Điệp nối tiếp – Điệp ngữ cách quãng – Điệp ngữ vòng tròn Như vậy, thông qua việc liệt kê lại các công trình nghiên cứu về phép điệp ngữ của các nhà Phong cách học có thể thấy: quan niệm về điệp ngữ và cách phân loại điệp ngữ của các nhà nghiên cứu phong cách học chưa thật thống nhất. Điều này gây nên những khó khăn nhất định khi tìm hiểu phép tu từ này theo hệ thống. 2.2. Nghiên cứu điệp ngữ dưới góc nhìn của một số nhà Ngữ pháp học văn bản

Sv: Nguyễn Thị Hiền

7

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Các nhà Ngữ pháp học văn bản cũng đề cập đến điệp ngữ khi nghiên cứu vấn đề liên kết trong văn bản. 2.2.1. Tác giả Trần Ngọc Thêm, trong cuốn “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp cho rằng: “Dấu hiệu cho phép phân biệt văn bản với phi văn bản chính là sự liên kết về hình thức và nội dung của các câu trong văn bản”. Về mặt liên kết hình thức, tác giả Trần Ngọc Thêm đi sâu nghiên cứu các phương thức liên kết câu trong văn bản. Ông chia các phương thức liên kết thành ba nhóm: – Các phương thức liên kết chung, dùng được cho cả ba loại câu: tự nghĩa, hợp nghĩa, nghĩa trực thuộc. – Các phương thức liên kết hợp nghĩa: dùng cho loại câu hợp nghĩa và nghĩa trực thuộc. – Các phương thức liên kết trực thuộc, chỉ dùng được cho loại ngữ trực thuộc. Trong đó nhóm phương thức liên kết chung bao gồm năm phương thức liên kết cơ bản. Đó là: phép lặp (bao gồm: lặp từ vựng, lặp ngữ pháp, lặp ngữ âm) phép đối, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng, phép tuyến tính. Điệp ngữ được đề cập trong trình bày của tác giả Trần Ngọc Thêm về phép lặp. Ông cho rằng: “Phép lặp từ vựng là một dạng thức của phương thức lặp mà ở đó chủ tố và lặp tố là những yếu tố từ vựng (thực từ, cụm từ)” [14,88]. Tác giả Trần Ngọc Thêm cũng xác định rằng: “Lặp từ vựng là phương thức liên kết phổ biến nhất trong văn bản”. Đồng thời, tác giả đưa ra các tiêu chí phân loại phép lặp như sau:

Sv: Nguyễn Thị Hiền

8

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

– Căn cứ cách thức lặp chủ tố và căn tố, có thể chia lặp từ vựng thành lặp từ và lặp cụm từ. Đồng thời cụm từ lại bao gồm: lặp hoàn toàn và lặp bộ phận. – Căn cứ vào bản chất từ loại của chủ tố và lặp tố có thể chia thành: lặp cùng từ loại, và lặp chuyển từ loại. – Căn cứ vào chức năng làm thành phát ngôn của chủ tố và lặp tố, có thể chia thành: lặp cùng chức năng hoặc lặp chuyển chức năng. 2.2.2. Cũng đề cập đến các phương thức liên kết câu trong văn bản, tác giả Diệp Quang Ban, trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” Nxb Giáo dục, 2005, đã đưa ra năm phép liên kết cơ bản sau: – Phép quy chiếu. – Phép thế. – Phép tỉnh lược. – Phép nối. – Phép liên kết từ vựng. Trong đó, phép liên kết từ vựng gồm ba phép nhỏ: lặp từ ngữ dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa, phối hợp từ ngữ. Điệp ngữ được đề cập đến trong phép lặp từ ngữ của phương thức liên kết từ vựng. Ông cho rằng, phép liên kết từ vựng là: “Lựa chọn những từ ngữ có quan hệ như thế nào đó với những từ ngữ đã có trước, và trên cơ sở đó làm cho câu chứa từ ngữ có trước với câu chứa từ ngữ mới được chọn này liên kết với nhau” [1, 386] Trong đó, phép lặp từ ngữ là “Việc sử dụng trong câu những từ ngữ đã được dùng ở câu trước theo kiểu nhắc lại y nguyên như vốn có, trên cơ sở đó liên kết những câu chứa chúng với nhau” [1,386]

Sv: Nguyễn Thị Hiền

9

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Sv: Nguyễn Thị Hiền

10

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Tiếp tục vấn đề này, sinh viên Trần Thị Minh Yến, K31 – Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội 2, tìm hiểu “Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ lục bát hiện đại Đồng Đức Bốn”. Liệt kê một số công trình nghiên cứu khoa học về phép điệp từ ngữ của một số tác giả trên để thấy rằng nghiên cứu về vấn đề này không phải là mới mẻ. Song có thể nói điệp ngữ là biện pháp tu từ quan trọng, có khả năng tạo ra hiệu quả tu từ đặc biệt trong thơ văn. 2.3.2. Về tác giả Ngô Văn Phú và việc nghiên cứu tác phẩm của ông Ngô Văn Phú là tên thật cũng chính là bút danh. Ông là một tác giả tiêu biểu của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, thành viên xuất sắc của hội nhà văn Việt Nam với trên 220 đầu sách bao gồm nhiều thể loại: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật. Tuy tác phẩm của Ngô Văn Phú chưa được đưa vào giảng dạy trong nhà trường nhưng tên tuổi của ông được nhiều người trong giới phê bình khẳng định. Độc giả biết đến ông trước hết là một nhà thơ – một nhà thơ tiếp nối mạch thơ chân quê của Đoàn Văn Cừ và Nguyễn Bính. Tìm hiểu thơ Ngô Văn Phú, các tác giả quan tâm nhiều đến phương diện nội dung trong thơ của ông. Trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội nhà Văn, 1997, tác giả Nguyễn Hoành Sơn đã tìm hiểu nội dung thơ Ngô Văn Phú với đề tài “Ngô Văn Phú – Dấu ấn quê mùa trên thi đàn”. Tác giả Ngô Quân Miện, Nxb Hội nhà Văn, 1997, khai thác “Tâm hồn đồng nội trong thơ Ngô Văn Phú”. Cũng tìm hiểu nội dung thơ Ngô văn Phú tác giả Đinh Nam Khương có bài viết “Tìm về tán cọ xanh” [15, 503 – 507] Điểm giao thoa của các bài viết đó là “tâm hồn đồng nội – chất quê mùa thứ thiệt” trong hồn thơ Ngô Văn Phú. Về ngôn ngữ thơ cũng có nhiều

Sv: Nguyễn Thị Hiền

11

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

bài viết đề cập đến dấu ấn ca dao – dân ca trong ngôn ngữ thơ Ngô Văn Phú để làm nổi bật nội dung thơ ông. Về vấn đề lặp từ ngữ (điệp ngữ) trong ngôn ngữ thơ Ngô Văn Phú, tác giả Tô Hà trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội nhà văn, 2007, đề cập đến một khía cạnh nhỏ đó là hiệu quả tu từ của điệp ngữ trong bài “Thôi mẹ đừng ra ngõ tiễn chiều nay”. Tuy nhiên bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc chỉ ra hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong giới hạn của một bài thơ. Điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú vẫn chưa được quan tâm một cách đầy đủ, cặn kẽ và có hệ thống. Trong tất cả các tài liệu mà chúng tôi sưu tầm được chưa có tài liệu nào trùng tên với đề tài khóa luận này. Trên cơ sở những gợi ý về mặt lý luận của các nhà nghiên cứu về phép điệp ngữ, khóa luận đi sâu nghiên cứu một cách hệ thống “Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú”. Hy vọng đề tài sẽ góp thêm một tiếng nói khẳng định hiệu quả nghệ thuật của biện pháp điệp ngữ nói chung, đóng góp nghệ thuật của nhà thơ Ngô Văn Phú nói riêng trên con đường phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.

3. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến một số mục đích: – Góp thêm tiếng nói khẳng định những đóng góp và phong cách của nhà thơ đồng quê hiện đại Ngô Văn Phú. – Thấy được hiệu quả của biện pháp tu từ điệp ngữ trong việc biểu đạt tứ thơ, góp phần khẳng định vẻ đẹp độc đáo, sức sống kỳ diệu thơ đồng quê hiện đại. – Góp phần phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập, giảng dạy văn học và tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn phổ thông. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu

Sv: Nguyễn Thị Hiền

12

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

– Tập hợp những vấn đề lý thuyết về phép tu từ điệp ngữ của các nhà Phong cách học và Ngữ pháp học để xây dựng lịch sử vấn đề và cơ sở lý luận cho việc tìm hiểu hiệu quả tu từ của phép điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú. – Khảo sát, thống kê, phân loại, nhận xét các kiểu điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú. – Vận dụng các phương pháp phân tích phong cách học để phân tích hiệu quả tu từ của phép điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú, đồng thời rút ra những kết luận cần thiết. 5. Đối tượng nghiên cứu Khóa luận tập trung nghiên cứu các cách điệp ngữ và hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú 6. Phạm vi nghiên cứu Khóa luận tập trung khảo sát, thống kê việc sử dụng phép điệp ngữ trong 150 bài thơ của Ngô Văn Phú, được tập hợp trong “Tuyển tập thơ Ngô Văn Phú”, Nxb Hội nhà Văn, HN, 1997. 7. Phương pháp nghiên cứu 7.1. Phương pháp thống kê, phân loại. 7.2. Phương pháp phân tích. 7.3. Phương pháp tổng hợp. 7.4. Phương pháp so sánh. 7.5. Phương pháp hệ thống. 8. Bố cục khóa luận Khóa luận được triển khai theo bố cục sau Mở đầu (tr.3 – 13) Nội dung (tr.14 – 80) Chương 1: Cơ sở lý luận (tr.14- 24) 1.1. Biện pháp điệp ngữ

Sv: Nguyễn Thị Hiền

13

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

1.2. Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ Chương 2: Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại, phép điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú (tr.25- 35) Chương 3: Hiệu quả tu từ của phép điệp từ ngữ trong thơ Ngô Văn Phú (tr.36 -80) 3.1. Hiệu quả tu từ của điệp ngữ trong việc phản ánh hiện thực cuộc sống và con người vùng đất trung du đồng bằng Bắc bộ 3.2. Hiệu quả của điệp ngữ trong việc thể hiện phong cách riêng của tác giả: nhà thơ của vùng đất trung du đồng bằng Bắc bộ. Kết luận (trang.81-82)

NỘI DUNG CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Biện pháp điệp ngữ 1.1.1. Định nghĩa Tác giả Đinh Trọng Lạc trong “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”, Nxb Giáo dục, Hà Nội 1997, đã định nghĩa:

Sv: Nguyễn Thị Hiền

14

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

“Điệp ngữ (còn gọi là lặp) là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh ý, mở rộng nghĩa, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những xúc cảm trong lòng người đọc, người nghe”. [10, 93] Qua định nghĩa trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh một số nội dung của định nghĩa: – Điệp ngữ là phép tu từ ngữ nghĩa. – Điệp ngữ được các nhà sử dụng một cách có chủ định. Đó là việc sử dụng các phương tiện ngôn ngữ theo hướng lặp lại từ hay cụm từ nhằm tạo hiệu quả tu từ (nhấn mạnh nội dung thông báo, tạo nghĩa mới bất ngờ giàu màu sắc tu từ học, tạo ra tính nhạc cho lời thơ, lời văn, đem lại thẩm mĩ cho người đọc người nghe). 1.1.2. Các kiểu điệp ngữ trong tiếng Việt Kế thừa có bổ sung quan điểm phân loại các kiểu điệp từ ngữ của tác giả Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú (đã trình bày ở mục trước) chúng tôi chú ý đến những kiểu điệp sau: 1.1.2.1. Điệp ngữ nối tiếp. Điệp ngữ nối tiếp là dạng điệp, trong đó có những từ ngữ được lặp lại trực tiếp đứng bên nhau, nhằm tạo nên ấn tượng mới mẻ, có tính chất tăng tiến. VD: Đêm qua ra bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò mò nhìn nhau. Anh đi đấy, anh về đâu? Cánh buồn nâu… Cánh buồm nâu… Cánh buồm… (Vô đề – Nguyễn Bính) 1.1.2.2. Điệp ngữ cách quãng

Sv: Nguyễn Thị Hiền

15

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Điệp ngữ cách quãng là điệp ngữ trong đó những từ được lặp lại đứng cách xa nhau nhằm gây một ấn tượng nổi bật và có tác dụng âm nhạc cao. VD: Chỉ mong người sống có tình Cho sông hết lũ, cho mình vẫn ta Cho sao thành dải ngân hà Thương yêu chỉ biết thật thà thế thôi. (Xéo gai anh chẳng sợ đau – Đồng Đức Bốn) 1.1.2.3. Điệp đầu Điệp đầu là dạng điệp trong đó từ được lặp lại đứng ở đầu câu. VD: Khăn thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất? Khăn thương nhớ ai, Khăn vắt lên vai? Khăn thương nhớ ai, Khăn chùi nước mắt? (Ca dao) 1.1.2.4. Điệp đầu – cuối Điệp đầu – cuối là kiểu điệp trong đó các từ được điệp đứng ở đầu và cuối câu thơ, đoạn thơ hoặc bài thơ. VD: Tre xanh, xanh tự bao giờ Chuyện ngày xưa đã có bờ tre xanh (Tre xanh – Nguyễn Duy) 1.1.2.5. Điệp cuối – đầu Điệp cuối – đầu là kiểu điệp trong đó các từ được điệp lại ở cuối câu thơ trước và đầu câu thơ sau.

Sv: Nguyễn Thị Hiền

16

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

VD: Lá ngô lay ở bờ sông, Bờ sông vẫn gió, người chưa thấy về. (Bờ sông vẫn gió – Trúc Thông) 1.1.2.6. Điệp hỗn hợp Điệp hỗn hợp là kiểu điệp trong đó sử dụng nhiều cách điệp khác nhau trong một đoạn văn bản. VD: Làm trời trời phải có sao Làm sông sông cứ dạt dào phù sa Làm đất đất phải nở hoa Làm tôi buồn cái người ta vẫn buồn. Từ đâu mà nước có nguồn Mà kim đã chỉ phải luồn vào nhau Đã trầu là phải có cau Từ đâu mà phải vàng thau rạch ròi Đã cho thì không được đòi Đã biển phải biết sông ngòi làm nên (Về lại chốn xưa – Đồng Đức Bốn) 1.1.2.7. Điệp theo kiểu diễn đạt Điệp theo kiểu diễn đạt là kiểu điệp nhằm diễn tả một dụng ý nào đó của tác giả. VD: Ước gì anh hóa ra hoa, Để em nâng lấy rồi mà cài khăn Ước gì anh hóa ra chăn, Để cho em đắp, em lăn cùng giường.

Sv: Nguyễn Thị Hiền

17

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Ước gì anh hóa ra gương Để cho em cứ ngày thường em soi. (Ca dao) 1.1.2.8. Điệp vòng tròn Điệp vòng tròn là một dạng điệp ngữ có tác dụng tu từ lớn. Chữ cuối câu trước được láy lại thành chữ ở đầu câu sau và cứ thế làm cho câu văn, câu thơ liền nhau như đợi sóng, diễn tả một cảm giác triền miên VD: Thu về gọi gió heo may Heo may lá đã vàng cây ngô đồng. Ngô đồng thả lá theo sông Sông ơi, có thấp thỏm mong thu về. (Biến tấu ca dao – Đỗ Bạch Mai) 1.1.3. Giá trị tu từ của điệp ngữ. “Giá trị tu từ” (màu sắc tu từ, sắc thái tu từ) là khái niệm phong cách học chỉ phần thông tin có tính chất bổ sung bên cạnh phần thông tin cơ bản của một thực từ. Nói cách khác đó là khía cạnh biểu cảm – cảm xúc của ý nghĩa của từ (diễn đạt những tình cảm, sự đánh giá những ý định), bên cạnh khía cạnh sự vật lôgic của ý nghĩa [10, 57-58]. Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, giá trị tu từ của điệp ngữ được thể hiện ở một số phương diện sau. 1.1.3.1. Nhờ biện pháp điệp ngữ, câu văn tăng tính nhạc, có tác dụng nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa tình cảm, cảm xúc nào đó làm nổi bật những yếu tố ngôn ngữ quan trọng. Làm cho lời văn thêm sâu sắc, tha thiết, có sức thuyết phục mạnh. VD:

Sv: Nguyễn Thị Hiền

18

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

“… Trong thơ văn Việt Nam nghe bay dậy một tiếng địch buồn. Không phải sáo Thiên thai, không phải điệu ái tình, không phải lời li tao kể chuyện một cái “tôi” mà ấy là một bản ngậm ngùi dài: có phải tiếng đìu hiu của khóm trúc bông lau, có phải niềm than van của bờ sông, bãi cát; có phải mặt trăng một mình đang cảm thông cùng vì sao?” (Lời tựa cho tập lửa thiêng – Xuân Diệu) 1.1.3.2. Chức năng tu từ học của điệp ngữ được phát hiện ra trong mối quan hệ qua lại với ngữ cảnh. Đó là việc gây ra một phản ứng trực tiếp có màu sắc biểu cảm – cảm xúc ở phía người nghe (người đọc): ngạc nhiên, vui mừng, bực bội sợ hãi… khi mà người nói nói ra. VD: Em là ai? Cô gái hay nàng tiên Em có tuổi hay không có tuổi? Mái tóc em đây hay là mây là suối Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm dông Thịt da em hay là sắt là đồng Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt Cho tôi nâng bàn tay em nắm chặt Ôi bàn tay như đôi lá còn xanh. Thân mình em đau đớn cả thân cành. (Người con gái Việt Nam – Tố Hữu) Trong một phát ngôn nhất định, điệp ngữ thường được dùng như một phương tiện tăng cường lôgic – cảm xúc nghĩa của phát ngôn. 1.1.3.3. Trong văn nghệ thuật, điệp ngữ mới phát huy được đầy đủ khả năng tu từ học của mình ở khả năng tạo hình, mô phỏng âm thanh, diễn tả những sắc thái khác nhau của tính chất: vui mừng, ngạc nhiên, lo âu, bực tức… 1.2. Thơ và đặc trưng ngôn ngữ thơ.

Sv: Nguyễn Thị Hiền

19

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

1.2.1. Định nghĩa Thơ là một thể loại văn học nảy sinh rất sớm trong đời sống con người. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng thơ là hình thái văn học đầu tiên của loài người. Đó là thể loại xã hội nằm trong phương thức trữ tình gắn với chiều sâu thế giới nội tâm, với những vẻ đẹp mềm mại của tình cảm con người. Từ xưa đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ: Nhà thờ Đuy Belây định nghĩa: “Thơ là người thư kí trung thành của những trái tim”. Nhà thơ Sóng Hồng bàn về thơ: “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có một tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lý trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”. Theo Chế Lan Viên: “Thơ là đi giữa nhạc và ý”. Người làm thơ hay phải biết “vừa ru người trong nhạc, vừa thức người bằng ý” Tố Hữu cho rằng: “Thơ là sự thể hiện con người và thời đại, là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình”. Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử – Nguyễn Khắc Phi, Nxb Giáo dục, định nghĩa về thơ như sau: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thơ, tuy nhiên các ý kiến này đều gặp gỡ nhau ở quan niệm: Thơ là tiếng nói của cảm xúc mãnh liệt, của trí tưởng tượng phong phú – là nghệ thuật ngôn từ tổng hợp của nhiều nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, âm nhạc, điện ảnh. 1.2.2. Đặc trưng ngôn ngữ thơ. 1.2.2.1. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bão hòa cảm xúc.

Sv: Nguyễn Thị Hiền

20

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

Nhà thơ Tố Hữu cho rằng: “Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn. Nói cho cùng, thơ là kết quả của sự nhập tâm. Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã tràn đầy”. Chính vì vậy ngôn ngữ thơ trữ tình có những điểm khác biệt so với ngôn ngữ tự sự và kịch. Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác phẩm tự sự. Đó là sự lắng kết chất thơ, lắng kết mạch thơ với đời sống được tích lũy lâu đời. Do vậy, yếu tố truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện cảm xúc của thơ. Đó chính là việc sử dụng điển cố, điển tích, vận dụng thành ngữ, tục ngữ, ca dao. VD: Lòng anh như biển sóng cồn Chứa muôn con nước nghìn con sông dài Lòng em như chiếc lá khoai Đổ bao nhiêu nước ra ngoài bấy nhiêu (Nguyễn Bính – Hai lòng) Những câu thơ sử dụng sáng tạo thành ngữ “nước đổ lá khoai”, “muôn sông nghìn sóng” kết hợp với hình ảnh so sánh và biện pháp điệp ngữ giàu sức gợi để khẳng định tình yêu của nhân vật trữ tình giành cho cô gái. Đó là một tình yêu dạt dào như “nước”, “bền bỉ” sâu sắc như sóng ngầm. Thế nhưng đó lại là tình yêu đơn phương, tuyệt vọng. Câu thơ nhuốm màu đau khổ sầu nặng. Cùng với sự phát triển của văn học, ngôn ngữ thơ ngày càng được chắt lọc tinh tế, sâu sắc phù hợp với tâm trạng, cảm xúc của con người trong sự hối hả bề bộn của cuộc sống hiện đại. 1.2.2.2. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm súc. Tính hàm súc là một đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ thơ trữ tình. Tính hàm súc được hiểu là khả năng biểu thị được nhiều nội dung tư tưởng nhất

Sv: Nguyễn Thị Hiền

21

K32B – Ngữ Văn

Hiệu quả tu từ của biện pháp điệp ngữ trong thơ Ngô Văn Phú

cho một số lượng yếu tố ngôn ngữ ít nhất “lời chật mà ý rộng – lời đã hết mà ý vô cùng”. Tính hàm súc của ngôn ngữ thơ được tạo nên bởi cách sử dụng tối đa các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, phóng đại, phép đối, phép điệp,… Các hình ảnh biểu tượng các từ tượng thanh, tượng hình. Do vậy, thơ là sự biến hóa kỳ diệu, sự vận động linh điệu. VD: Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non, Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Bài thơ trước hết tả thực về hình dáng chiếc bánh trôi và quá trình làm bánh, nhưng bánh trôi ở đây cũng chính là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến với đầy định kiến bất công. Như vậy tính đa nghĩa của bài thơ chính là khả năng gợi ý những liên tưởng sâu sắc, những hàm nghĩa sâu xa. Ngôn ngữ thơ không có tính liên tục như ngôn ngữ văn xuôi, ngược lại nó tính nhảy vọt, gián đoạn, tạo ra những khoảng lặng giàu ý nghĩa và khoảng trống giữa các dòng, kích thích sự liên tưởng, suy ngẫm của độc giả. Chính điều này đã tạo nên tính đa nghĩa hàm súc cho ngôn ngữ thơ. Nói như Ngô Minh: “Khoảng lặng giữa các câu thơ mà nhà thơ dành cho người đọc tự do nghĩ ngợi càng rộng thì độ dồn nén của thơ càng cao”. VD: Ai cấm ta say, say thần thánh? Ngực lép bốn nghìn năm trưa nay cơn gió lạnh Thổi phồng lên tim bỗng hóa mặt trời. … Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác

Sv: Nguyễn Thị Hiền

22

K32B – Ngữ Văn

Phân Tích Giá Trị Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ 1 Và 5 Của Bài Ánh Trăng

Hồ Chí Minh là một lãnh tụ cách mạng thiên tài của dân tộc nhưng đồng thời, Người cũng là một nhà thơ sánh vai cùng những thi nhân của Đông Tây kim cổ. Trong những năm tháng chiến đấu gian khổ của dân tộc, bên cạnh những chủ trương, chiến lược đánh đuổi giặc tài tình, Người còn có những vần thơ khiến lòng người rung động. “Cảnh khuya” là một thi phẩm trong số ấy:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

Bài thơ ra đời giữa lúc cuộc kháng chiến của dân tộc ta đang hồi gay go, quyết liệt: năm 1947. Trên chiến khu Việt Bắc, sau những giờ phút mỏi mệt, trong cảnh đêm của núi rừng, Người bồi hồi xúc động trước cảnh đêm khuya êm ái. Điều đầu tiên Bác cảm nhận được nơi thiên nhiên hoang sơ là tiếng suối róc rách tuôn theo dòng chảy:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Lối so sánh của Bác thật kì lạ! Tiếng suối vốn được cảm nhận bằng thính giác nhưng nghe tiếng suối Người cảm nhận được độ “trong” của dòng chảy. Dòng suối ấy hẳn rất ngọt lành, trong mát, đó hẳn cũng là thứ quà riêng mà thiên nhiên núi rừng ban tặng riêng cho những người chiến sĩ trên đường hành quân xa xôi mệt mỏi. Chẳng những vậy, tiếng suối trong nhưng là “trong như tiếng hát xa”. “Tiếng hát xa” là thứ âm thanh rất đặc biệt. Đó phải là tiếng hát rất cao để có sức lan toả mạnh mẽ, để từ xa con người vẫn có thể cảm nhận được. Đó cũng là tiếng hát vang lên trong thời khắc yên lặng bởi nếu không, nó sẽ bị lẫn vào biết bao âm thanh phức tạp của sự sống, liệu từ xa, con người còn có thể cảm nhận được? Điều thú vị trong câu thơ của Bác Hồ là một âm thanh của tự nhiên được so sánh với tiếng hát của con người. Điều đó thể hiện cảm hứng nhân vãn sâu sắc trong những vần thơ của Bác.

Cảnh đêm khuya hẳn trong trẻo, tĩnh lặng đến nhường nào Người mới có thế lắng nghe được tiếng suối long lanh ấy. Điều này không khó hiểu bởi không gian núi rừng thường được bao phủ bởi nhịều âm thanh phong phú: tiếng chim kêu, tiếng gió thổi, tiếng cây rừng xao xác tiếng muông thú gọi bầy… Trong bài thơ “Cảnh rừng Việt Bắc”, Bác đã từng viết:

“Cảnh rừng Việt Bắc thật là hay Vượn hót chim kêu suốt cả ngày”.

Vậy thì có lẽ, đây là chút yên ả hiếm hoi của thiên nhiên núi rừng vào thời khắc đêm khuya. Thiên nhiên yên tĩnh nhưng cũng là tâm hồn con người yên tĩnh, thanh thản hoà mình vào vẻ đẹp của tự nhiên. Thiên nhiên vào giây phút ấy thật hữu tình biết mấy:

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Hai từ “lồng” cùng nằm trong một câu thơ tạo những ấn tượng rất đặc biệt. “Lồng” là dộng từ chỉ việc các vật nằm vào trong một cách thặt khớp để tạo thành một chỉnh thể. Câu thơ hữu tình như một bức tranh duyên: ánh trăng mênh mông toả sáng bao trùm lên cây cổ thụ, bóng cây cổ thụ lại dịu dàng phủ mình lên những nhành hoa. Bác dùng từ “lồng” rất “đắt”, nó trở thành “nhãn tự” cho câu thơ. Chỉ với một từ ấy, cảnh vật như đang giao hoà, nương dựa vào nhau một cách duyên dáng, đáng yêu. Đôi mắt người chiến sĩ cách mạng Hồ Chí Minh thật hữu tình, bác ái

Bạn đang xem bài viết Nêu Giá Trị Biểu Hiện Của Biện Pháp Điệp Ngữ Được Sử Dụng Trong Đoạn Văn Sau trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!