Xem Nhiều 2/2023 #️ Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

 Sức mạnh của cả dân tộc được khơi dậy và tập hợp nhờ quan điểm “hết sức chăm nom đến đời sống nhân dân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

1. Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của con người và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng

Theo Hồ Chí Minh, con người là một chỉnh thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội; con người là chủ thể của các mối quan hệ xã hội – lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội.

Theo Hồ Chí Minh, con người có sức mạnh rất to lớn. Trong con người có sẵn các nguồn lực, bao gồm: Nguồn lực của cải, tài chính; Nguồn lực sức lao động; Nguồn lực trí tuệ:

Không dừng ở việc xác định vai trò của con người đối với sự nghiệp cách mạng và các nguồn lực có trong con người, Hồ Chí Minh còn chỉ rõ phải làm gì và làm như thế nào để phát huy được nhân tố con người trong sự nghiệp cách mạng. Người đề cập tới nhiều khía cạnh, có thể khái quát ở mấy điểm chính sau: 

Thứ nhất, muốn phát huy sức mạnh của con người, Đảng, chính quyền, mỗi cá nhân phải có lòng thương yêu vô hạn, sự cảm thông, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người, vào nhân dân. Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên “trước hết phải tin tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận”(1). “Việc gì có lợi cho dân thì làm, việc gì có hại cho dân thì phải tránh”(2). Người cũng nhấn mạnh: nếu không tin dân thì dân cũng không tin Đảng, Chính phủ. Nếu dân chúng không tin Đảng, Chính phủ thì “biết, họ cũng không nói. Nói, họ cũng không nói hết lời”. Vì vậy, “đảng viên nào không được dân tin, dân phục, dân yêu thì chưa xứng đáng là một người đảng viên”(3). Như vậy, thương yêu vô hạn, sự cảm thông, tin tưởng tuyệt đối vào con người, quyết tâm phấn đấu giải phóng con người trở thành tiền đề đầu tiên để có thể phát huy sức mạnh vốn có trong con người.

Thứ hai, để phát huy sức mạnh của con người, Đảng, Chính phủ phải hoạch định, xác lập một hệ thống chính sách hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của dân tộc tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, bao quát các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất là những vấn đề an sinh xã hội. Trước hết là chính sách phát triển sản xuất và tiền lương phải hợp lý. Tiền lương của người lao động phải luôn gắn chặt với hiệu quả công việc, bởi lương là một trong những thước đo công sức, trình độ, thái độ, ý thức, tinh thần lao động. Nâng lương là một trong những biểu hiện nâng cao mức sống, mức thu nhập của người lao động. Nếu đồng lương không tương xứng với giá trị sức lao động thì những tư liệu sinh hoạt cần thiết của người lao động cũng không được đáp ứng, điều này sẽ đánh mất động lực của quá trình sản xuất và nền kinhh tế tất yếu sẽ bị ngưng trệ.

Theo Hồ Chí Minh, cần thi hành một hệ thống chính sách xã hội hướng tới con người như: thi hành một nền chính trị liêm khiết, cải thiện đời sống nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa…Nội dung chính sách phải phong phú, đa dạng. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ phải lấy dân làm gốc, quan tâm chăm lo đến mọi tầng lớp người trong xã hội. Chính sách xã hội đúng đắn là một chính sách lấy việc phát huy sức mạnh của nhân dân, xây dựng từng bước con người mới là trung tâm.  Cần chú ý đến việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung. Nếu lợi ích cá nhân không trái với lợi ích tập thể thì không phải là xấu. Đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân không phải là “giày xéo lên lợi ích cá nhân”(4). Hồ Chí Minh còn thấy được vai trò động lực cực kỳ quan trọng của lợi ích cá nhân. “Quần chúng rất nhiều sáng kiến, họ hiểu biết rất mau, nhất là những cái thuộc về quyền lợi của họ”(5). Điểm mấu chốt để có thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cái riêng và cái chung đó là phải tìm ra điểm tương đồng, lợi ích chung giữa những cá nhân, giai cấp. Mẫu số chung đó chính là lợi ích dân tộc.

Thứ ba, muốn phát huy được sức mạnh của con người thì phải quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của con người, các quyền lợi của con người phải được bảo vệ và ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật. Ý thức về tính cấp thiết phải xây dựng, ban hành và thực hiện những chính sách về thể chế, pháp chế đảm bảo cho hoạt động của Nhà nước dân chủ, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng cùng tập thể Trung ương Đảng, Chính phủ ban hành Hiến pháp 1946. Bản Hiến pháp đã phản ánh và quy định chặt chẽ quyền và nghĩa vụ của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh: Dân chủ, sáng kiến, hăng hái, ba điều đó có quan hệ rất chặt với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ, quần chúng đề ra sáng kiến. Vì thế Người luôn luôn nhắc nhở: Phải thật sự tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh, ra oai với nhân dân. Theo Người, dân chủ là “chìa khóa” vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn. Phát huy dân chủ của nhân dân phải kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước phải tiếp tục thể chế hóa bằng pháp luật các quyền dân chủ của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thứ tư, Hồ Chí Minh đã dạy: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”(6). Có thể thấy, vai trò của giáo dục, đào tạo là rất quan trọng để từ đó tạo tiền đề cho việc phát huy sức mạnh của con người. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa. Con người xã hội chủ nghĩa có thể được hoàn thiện trước một bước so với hoàn cảnh kinh tế – xã hội, nhưng phải có điều kiện. Một trong những điều kiện đó là việc coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo. Giáo dục, đào tạo có vai trò to lớn để có một đội ngũ lao động giỏi, nâng cao dân trí, đào tạo người lao động trẻ có trình độ khoa học – kỹ thuật và công nghệ ngày càng cao, có phẩm chất cần thiết của người lao động mới, có tri thức văn hóa chính trị, văn hóa pháp luật, có ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, có phong cách và phương pháp làm việc khoa học.

Về mục tiêu của chiến lược giáo dục và đào tạo là nhằm đào tạo ra những công dân tốt và cán bộ tốt cho nước nhà. Muốn đạt được mục tiêu chiến lược thì nội dung, phương pháp giáo dục phải toàn diện. Hồ Chí Minh yêu cầu: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”(7). Nó thể hiện sự kết hợp giữa nội dung toàn diện và phương pháp toàn diện, giữa nhận thức và hành động, lời nói và việc làm, giữa tư tưởng và sự nêu gương thực hành, giữa tư tưởng và lối sống, nếp sống. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của việc học là để sửa chữa tư tưởng, để tu dưỡng đạo đức cách mạng, để tin tưởng, học để hành. Do đó, phải học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân. “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, “giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại. Muốn đạt mục đích, thì phải: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”(8).

Vấn đề phát huy nhân tố con người được Hồ Chí Minh đề cập với nội dung sâu sắc và toàn diện, đầy tính cách mạng và khoa học. Không chỉ đánh giá cao vị trí, vai trò của con người, thấy được tính tất yếu của vấn đề phát huy nhân tố con người, Hồ Chí Minh còn xây dựng được một hệ thống các giải pháp toàn diện, coi việc thực hiện đúng đắn các giải pháp đó là khâu then chốt, quyết định thành công.

2. Vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh vào việc phát huy nhân tố con người để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Qua hơn 30 năm đổi mới, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và tổng kết lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: con người và các nguồn lực của con người đóng vai trò quyết định sự phát triển của đất nước. Nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật rất quan trọng nhưng quan trọng nhất vẫn là nhân tố con người. Trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, Đảng ta xác định mục tiêu: Tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững…Nâng cao rõ rệt hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế…Tạo chuyển biến mạnh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát huy nhân tố con người. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã đặt ra một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm là: “Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, về nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh”(9). Như vậy, đến Đại hội lần thứ XII, vấn đề “phát triển con người toàn diện” được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 – 2020 và “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”. Đây là bước tiến trong nhận thức của Đảng sau 35 năm đổi mới, khẳng định và nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của việc phát huy nhân tố con người, phát triển con người toàn diện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc thời kì hội nhập quốc tế.

Trong giai đoạn hiện nay, phát huy nhân tố con người luôn gắn liền với xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc. Trong điều kiện khoa học và công nghệ hiện đại, kinh tế tri thức phát triển, hội nhập gia tăng thì mối quan hệ biện chứng này càng trở nên quan trọng. Đối với nước ta, để phát huy nguồn lực con người một cách hợp lý, hiệu quả cần phải có một hệ thống các biện pháp đồng bộ, trong đó, cần tập trung vào một số biện pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, phát triển mạnh mẽ giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ

Phát triển mạnh mẽ giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ, một mặt, phục vụ trực tiếp sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; mặt khác, xây dựng tiềm lực trí tuệ – cốt lõi của nguồn nhân lực chất lượng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: một dân tộc dốt là một dân tộc yếu. Trí tuệ là một trong những chỉ số quan trọng nhất của chất lượng nhân tố con người, nhất là trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ có những bước phát triển nhảy vọt, khoa học đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và sự xuất hiện của kinh tế tri thức hiện nay. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho con người, trước hết là với các thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải có sức khoẻ, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc. Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Chú trọng phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người. Đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế (công dân toàn cầu)(10).

Mặt khác, để phát huy vai trò của giáo dục – đào tạo con người trong sự nghiệp đổi mới, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng hợp lý, hiệu quả lực lượng lao động. Đồng thời, cần kết hợp giữa nâng cao trình độ dân trí và phát triển nguồn nhân lực đồng đều ở các vùng miền, các cộng đồng xã hội; gắn chiến lược phát triển khoa học công nghệ với nâng cao hàm lượng trí tuệ trong nhân tố con người. Từ chỗ có nguồn lực con người bảo đảm về chất lượng, cần xây dựng và thực hiện những phương thức, cơ chế phát huy nguồn lực đó. 

Thứ hai, quan tâm giải quyết hài hoà các quan hệ lợi ích theo phương châm bảo đảm công bằng xã hội trong từng chính sách, từng bước phát triển.

Thứ ba, xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ trong mọi mặt của đời sống xã hội nhằm tạo môi trường, điều kiện thiết yếu để phát huy vai trò của nguồn lực con người trong các lĩnh vực.

Nhân tố con người chỉ được khai thác và phát huy tối đa khi con người thực sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ chính mình. Để phát huy tính tích cực, tự giác, sáng tạo của con người trong mọi hoạt động thì nhất thiết phải xây dựng và thực hiện một cơ chế dân chủ, trong đó ngày càng quan tâm đến dân chủ trực tiếp nhằm hiện thực hoá những giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội. Việc phát huy dân chủ không chỉ tạo cơ hội thuận lợi cho tất cả mọi người có thể cống hiến năng lực của mình cho xã hội, mà còn có ý nghĩa tạo điều kiện cho việc thực hiện cơ chế phản biện xã hội với tinh thần lành mạnh, xây dựng và phát huy trách nhiệm công dân. Nói cách khác, thông qua quá trình dân chủ hoá, trí tuệ của toàn dân được huy động và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội. Đó cũng là lý do tại sao Hồ Chí Minh coi dân chủ là chìa khoá vạn năng để giải quyết mọi vấn đề mà thực tiễn cách mạng đặt ra. Tuy nhiên, thực hiện dân chủ phải đi đôi với tăng cường kỷ cương pháp luật, pháp chế xã hội chủ nghĩa; khắc phục mọi biểu hiện dân chủ cực đoan hoặc lợi dụng “dân chủ” để chia rẽ khối đại đoàn kết, làm rạn nứt sự đồng thuận xã hội. Lấy dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước làm nòng cốt để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ nhằm giải phóng mọi năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dân, góp phần ổn định chính trị – xã hội, tạo điều kiện cho sự nghiệp đổi mới thắng lợi.

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, việc luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân tố con người và lấy đó làm điểm tựa vững chắc là điều kiện để chúng ta đưa sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đến thắng lợi. Phát huy nhân tố con người để phát triển kinh tế – xã hội, đó là một vấn đề có tính quy luật. Trong giai đoạn hiện nay, phải phát huy nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hoá, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững. Phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân.      

(1), Sđd, t.12, tr.283

(2), Sđd, t.4, tr.21

(3), Sđd, t.7, tr.55

(4), Sđd, t.11, tr.610

(5), Sđd, t.8, tr.48

(6), Sđd, t.11, tr.528

(7), Sđd, t.12, tr.647

(8), Sđd, t.6, tr.208

(9), Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.219

(10), (14), Dự thảo Báo cáo Tổng kết thực hiện chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2011 – 2020, xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm 2021 – 2030, tr.49, tr.62.

TS. Vũ Hồng HuyBan Tuyên giáo Trung ương

Xây Dựng Lực Lượng Công An Nhân Dân Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

1. Công an nhân dân “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”

Một là, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Công an nhân dân. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; đó cũng là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Công an nhân dân. Vì vậy, trong Bài nói tại buổi lễ thành lập Công an nhân dân vũ trang, Người khẳng định: “Thành lập được lực lượng Công an nhân dân vũ trang là một thành công về đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau giữa bộ đội và công an. Công an và quân đội là hai cánh tay của nhân dân, của Đảng, của Chính phủ, của vô sản chuyên chính” (1).  Vì thế, trong quá trình trưởng thành, phát triển của lực lượng Công an phải đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự thống nhất quản lý của Nhà nước và Công an nhân dân luôn phải phục tùng vô điều kiện sự lãnh đạo, quản lý đó: “Công an nhân dân phải là kiểu mẫu, phải là người chuyên trách thi hành chính sách, phương châm của Đảng và Chính phủ cho tốt. Công an nhân dân phải thực sự phục vụ nhân dân” (tập 7, tr.269). Theo đó, một mặt, phải tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân của Công an nhân dân; đồng thời, nội bộ phải chung sức, đồng lòng, đoàn kết, hiệp đồng chặt chẽ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao theo đúng lời dạy của Bác: “Đảng có lãnh đạo chính trị đúng, thì chuyên môn mới đúng. Công an nhân dân vũ trang, hay là quân đội cũng thế, phải phục tùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới”(2). Mặt khác, phải kiên quyết phòng, chống mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa”, tách Công an khỏi sự lãnh đạo của Đảng ta, hoặc đối lập giữa lực lượng Công an với Đảng, Nhà nước và nhân dân…

Hai là, Công an nhân dân là lực lượng công cụ bạo lực cách mạng sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Mục tiêu, lý tưởng chiến đấu Công an nhân dân quy định chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Công an. Vì thế, trong tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng chính trị, công cụ bạo lực sắc bén để chuyên chính với những lực lượng phản cách mạng. Vì vậy, tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1 năm 1956, Người nhấn mạnh: “Nhân dân ta có hai lực lượng. Một là quân đội, để đánh giặc ngoại xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình. Một lực lượng nữa là công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại. Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình. Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện. Còn công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc” (3). Cụ thể, Công an nhân dân có hai chức năng, nhiệm vụ cơ bản sau:

Thứ nhất, Công an nhân dân là công cụ bạo lực cách mạng sắc bén của Đảng, Nhà nước. Trong Bài nói tại lớp nghiên cứu khóa I  và lớp bổ túc khóa VI Trường Công an Trung ương, Người khẳng định: “Công an là một bộ máy để thực hiện chuyên chính dân chủ nhân dân, bảo vệ nền chuyên chính của nhân dân đối với các thế lực phản động khác. Muốn có dân chủ thật sự, phải chuyên chính thật sự, nếu không bọn xấu sẽ làm hại nhân dân. Muốn chuyên chính thật sự, phải thật sự dân chủ với nhân dân. Dân có mến, yêu, tin công an thì mới giúp công an chuyên chính với địch để tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4). Theo đó, chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Công an nhân dân là sử dụng bạo lực chuyên chính đối với các thế lực thù địch, phản động để bảo vệ chính quyền – nền chuyên chính của nhân dân – tức nền chuyên chính vô sản trước kia và hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong Bài nói tại Trường Công an trung cấp khóa 2, Người giải thích rõ hơn: “Các chú, các cô phải biết chính quyền của chúng ta là chuyên chính dân chủ nhân dân. Đây là nhân dân chuyên chính để đàn áp bọn thực dân xâm lược và bọn tay sai chống lại chính quyền ấy. Vì quyền lợi chung của đa số nhân dân mà chúng ta chuyên chính với thiểu số bóc lột. Chính quyền của bọn tư bản thì là chính quyền chuyên chính của một thiểu số chống lại đa số” (5)…

Thứ hai, Công an nhân dân lực lượng bảo vệ nhân dân. Công an nhân dân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ và chiến đấu vì nhân dân; do đó, bảo vệ nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu của Công an. Chính vì vậy, trong bài Công an và nhân dân, đăng Báo Nhân dân, số 533, ngày 18-8-1955, Người chỉ rõ và yêu cầu Công an phải đoàn kết và dựa vào nhân dân để hoàn thành tốt nhiệm vụ vẻ vang đó: “Nhiệm vụ của Công an là: Bảo vệ nhân dân, giữ gìn trật tự trị an, tẩy trừ những kẻ gian tế. Muốn làm tròn nhiệm vụ nặng nề mà vẻ vang ấy, Công an cần phải đoàn kết nhân dân, tổ chức và giáo dục nhân dân, dựa vào lực lượng rộng lớn của nhân dân” (6). Không những vậy, “Bác dặn thêm mấy điểm: Công an và bộ đội phải cảnh giác, phải biết trấn áp kẻ địch bên trong và kẻ địch bên ngoài. Kẻ địch bên trong là bọn phản động, bọn phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kẻ địch bên ngoài là bọn đế quốc, bọn xâm lược. Chống bọn xâm lược và bọn phá hoại là nhiệm vụ của quân đội, của công an nói riêng và toàn dân nói chung; là nhiệm vụ mà quân đội và công an phải dựa vào nhân dân mới hoàn thành được tốt”(7)… 

2. Xây dựng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân vừa “hồng”, vừa “chuyên”

Một là, về mục tiêu, nội dung xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Tư duy nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh là phải xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt cho sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc và sự nghiệp xây dựng thế trận an ninh nhân. Từ những tổ chức vũ trang đầu tiên đến lực lượng Công an nhân dân ngày nay, lực lượng Công an luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng, giáo dục, rèn luyện về chính trị, tư tưởng và tổ chức.

Người khẳng định nội dung cơ bản của việc xây dựng Công an nhân dân phải được thể hiện ở việc xác định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Người thường xuyên nhắc nhở phải: “Sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội”. Bằng hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn hết sức phong phú, Hồ Chí Minh từng bước giáo dục, bồi dưỡng làm cho Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày càng thấm sâu vào đời sống tinh thần của lực lượng Công an nhân dân. Đồng thời, Người rất quan tâm đến việc chọn lựa, bồi dưỡng những “điển hình tiên tiến” trong các tầng lớp nhân dân lao động có tinh thần yêu nước, có giác ngộ dân tộc và giác ngộ giai cấp sâu sắc để tiếp tục bồi dưỡng, rèn luyện họ trở thành những cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân cách mạng, những cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên”, những đảng viên trung kiên của Đảng. Vì vậy, Người yêu cầu Công an: “phải nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, luôn luôn cảnh giác, dũng cảm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ nghĩa xã hội. Tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân” (8).

Nội dung cơ bản xây dựng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở việc xây dựng cho lực lượng Công an nhân dân có đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa Công an và nhân dân, đoàn kết quốc tế tốt; có dân chủ tốt; có kỷ luật, tự giác, nghiêm minh; có tinh thần khắc phục khó khăn, gian khổ; có ý chí quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao cho. Đồng thời, đó còn là việc chăm lo xây dựng lực lượng Công an nhân dân về mặt tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, khoa học và nghệ thuật an ninh… Vì vậy, Người nhắc nhở Công an: “Phải thật sự đoàn kết, đoàn kết giữa cán bộ và chiến sĩ, giữa công an với nhân dân. Phải kịp thời kiện toàn tổ chức và chỉnh đốn lề lối làm việc của các bộ phận công an để làm trọn nhiệm vụ mới”(9)…

Hai là, về phương thức xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân phải trải qua quá trình xây dựng, giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện của Đảng, của Nhà nước, của các tổ chức chính trị-xã hội, của nhân dân các dân tộc Việt Nam và trực tiếp là của các tổ chức, con người cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân, thông qua công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách, thông qua việc tiến hành tốt công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng Công an nhân dân và thông qua hoạt động thực tiễn thực hiện chức năng, nhiệm vụ lực lượng Công an nhân dân cả trong thời chiến và thời bình. Muốn vậy, theo Người: “Các cán bộ và chiến sĩ Công an nhân dân phải ra sức trau dồi: Đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, một lòng một dạ phục vụ nhân dân. Tác phong phải thật khách quan, thiết thực, phải tăng cường công tác điều tra nghiên cứu tổng kết và trao đổi kinh nghiệm giữa các ngành công an. Đối với những người có thành tích, phải khen thưởng, đối với những người mắc sai lầm thì phải phê bình, kiểm thảo giúp họ sửa chữa. Khi cần thiết thì phải thi hành kỷ luật nghiêm minh, đúng mức. Các cấp đảng bộ trong lực lượng Công an nhân dân phải rất coi trọng xây dựng đảng bộ và chi bộ “bốn tốt”, phải coi trọng công tác xây dựng Đoàn Thanh niên. Trong các cơ quan, phải thực hành dân chủ, thường xuyên phê bình nghiêm chỉnh và thật thà tự phê bình để giúp nhau tiến bộ. Các cô, các chú thi đua thực hiện những điểm nói trên, thì Công an nhân dân của ta sẽ là một lực lượng cách mạng vô địch”(10). 74 năm qua, dưới ngọn cờ vinh quang của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng của Người về Công an nhân dân, lực lượng Công an nhân dân luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đã cùng với nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên những chiến thắng vẻ vang, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã viết nên truyền thống tốt đẹp “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”…

3. Một số nội dung góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại

Với thực tiễn cách mạng, căn cứ tình hình, mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của mỗi giai đoạn lịch sử Đảng, Nhà nước ta luôn định hướng những chủ trương, nhằm xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân liên tục được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ công tác bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của đất nước trong từng thời kỳ và được khẳng định qua các kỳ Đại hội của Đảng. Như: Tại Đại hội lần thứ X của Đảng xác định: “Công an nhân dân phải thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy và tiến lên hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, thật sự là công cụ tin cậy, sắc bén của Đảng và Nhà nước”. Đại hội lần thứ XI, Đảng ta khẳng định “Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có số lượng hợp lý, với chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao”. Đại hội lần thứ XII, Đảng ta tiếp tục khẳng định “ Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tăng cường nguồn lực cho quốc phòng, an ninh”.

Thực tiễn quá trình xây dựng và phát triển lực lượng 74 năm qua, lực lượng Công an nhân dân luôn quán triệt và nắm vững quan điểm đổi mới của Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an xác định công tác xây dựng Đảng, xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, với mục đích đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự trong tình hình mới. Đặc biệt cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy Công an các cấp thường xuyên chú trọng và thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống cách mạng…, lấy xây dựng bản lĩnh chính trị, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với nhân dân làm mục tiêu hàng đầu để giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên…

Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, toàn lực lượng Công an luôn nghiêm túc quán triệt, triển khai thực hiện sâu sắc, kịp thời các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tiếp tục triển khai sâu rộng “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – Công an nhân dân vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, đó là mệnh lệnh trái tim của mỗi cán bộ chiến sỹ Công an; phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”; Cuộc vận động “Công an nhân dân chấp hành nghiêm điều lệnh – xây dựng nếp sống văn hoá vì nhân dân phục vụ”; các phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”…

Nhân kỷ niệm 74 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 – 19/8/2019) và 14 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (2005 – 2019). Đại tướng, chúng tôi Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương. Bộ trưởng Bộ Công an đã có bài viết trên Cổng Thông tin điện tử Bộ Công an “Phát huy truyền thống Anh hùng, vẻ vang, quyết tâm chỉnh đốn, xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” đồng chí nhấn mạnh: “…Tập trung điều chỉnh, bố trí lại lực lượng theo hướng tăng cường cho cơ sở, cho lực lượng trực tiếp chiến đấu. Rà soát khung tiêu chuẩn, tiêu chí để bố trí cán bộ ở từng cấp Công an theo đúng tinh thần chỉ đạo tại Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị là “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”. Theo đó, tiếp tục giảm quân số ở cơ quan Bộ để tăng cường cho địa phương, giảm quân số ở cấp tỉnh, cấp huyện để tăng cường cho cấp xã, phường, thị trấn. Khẩn trương triển khai thực hiện chủ trương bố trí Công an xã chính quy, đi đôi với đổi mới phương thức hoạt động, phương pháp công tác theo hướng gần dân, sát dân, tăng cường “tương tác” với nhân dân, sâu sát cơ sở, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, trong từng gia đình, từng thôn, xóm không để phát sinh thành tội phạm, giải quyết những vấn đề phức tạp về an ninh, trật tự ngay từ cơ sở…”

Kế thừa thành tựu, kinh nghiệm trong quá trình xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và xây dựng lực lượng; quán triệt, thực hiện nghiêm túc các chủ trương đề ra trong các nghị quyết khóa XII; căn cứ các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Chính phủ, Bộ Công an chủ động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành từng bước bài bản, khoa học, khách quan trong nghiên cứu xây dựng Đề án “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” (Đề án 106), với mục tiêu sắp xếp lại tổ chức bộ máy Công an nhân dân phù hợp, đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”; kịp thời tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15-3-2018 về “Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tham mưu, đề xuất Chính phủ ban hành Nghị định số 01/2018/NĐ-CP, ngày 06-8-2018, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công an.*

Hiện nay các thế lực thù địch, phản động chống phá chúng ta với nhiều âm mưu thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, thâm độc, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và “Phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”… Sự tác động mặt trái của nền kinh tế thị trường trong hội nhập quốc tế ngày càng rõ… Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, sự xuống cấp về văn hóa, đạo đức và một số bức xúc trong xã hội có chiều hướng gia tăng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đời sống xã hội…Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới, việc xây dựng lực lượng Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần quan tâm một số vấn đề sau đây:

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Công an nhân dân, nhất là kiên trì và phát triển quan điểm cơ bản, chủ trương nhất quán của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng Công an nhân dân, nhận thức đúng và vận dụng sáng tạo phù hợp với đặc điểm, yêu cầu trong thời kỳ mới. Công an nhân dân phải tỏ rõ bản lĩnh chính trị kiên định vững vàng, nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, không ngừng phát huy hơn nữa truyền thống vẻ vang của mình…Chủ động đấu tranh trên mặt trận chính trị tư tưởng, bảo vệ lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” lực lượng Công an nhân dân của các thế lực thù địch…

Tiếp tục đổi mới toàn diện và nâng cao chất lượng các mặt công tác của các lực lượng, phát huy vai trò nhân dân cùng tham gia giữ gìn trật tự an toàn xã hội trong tình hình mới… Phát huy vai trò, hiệu lực tổ chức, quản lý, điều hành của Nhà nước trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng Công an nhân dân coi đó là tình cảm, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, các lực lượng và nhân dân…chú trọng vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội, vai trò của các tầng lớp nhân dân, cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong tham gia xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh.

Phát huy vai trò của các tổ chức, con người trong lực lượng Công an nhân dân, nhất là vai trò cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các tổ chức quần chúng, vai trò của đội ngũ cán bộ, chiến sỹ các cấp, không ngừng tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân. Thường xuyên quan tâm tổng kết thực tiễn, nghiên cứu bổ sung, phát triển lý luận, xác định rõ những yêu cầu, nội dung, hình thức, biện pháp xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.

Xây dựng và phát huy vai trò lực lượng nòng cốt trên mặt trận bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền các cấp triển khai thực hiện có hiệu quả các chủ trương, biện pháp của Đảng, Nhà nước về an ninh trật tự, an toàn xã hội; đẩy mạnh công tác phát động phong trào quần chúng, xây dựng thế trận an ninh nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân.

Trong giai đoạn hiện nay cần tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với phong trào “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy” và phong trào thi đua “Vì an ninh Tổ quốc”. Trong mỗi giai đoạn cần xác định rõ mục tiêu cho phong trào thi đua một cách thiết thực, phù hợp với các loại hình đơn vị, đặc biệt mô hình công an cấp xã; thường xuyên theo dõi, tổng kết, kịp thời động viên, khen thưởng đúng người, đúng việc và nhân rộng gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến trong toàn lực lượng Công an nhân dân…./.

Chú thích:

(1) (2) (7) Hồ Chí Minh, Toàn tập,tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.153; tr.153; tr.154

(3) (6) Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 10, tr.258; tr.83

(4)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 11, tr.598

(5)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 7, tr.269

(8) (9)Hồ Chí Minh, Toàn tập,Sđd, tập 15, tr.169; tr.169; tr.169-170.

*http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/An-ninh-quoc-phong/2018/53480/Bo-Cong-an-Xay-dung-bo-may-tinh-gon-hoat-dong-hieu.aspx

Xây Dựng Đảng Trong Sạch Vững Mạnh Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Chủ tịch UBND tỉnh Bùi Văn Quang và Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Hoàng Công Thủy tặng Bằng khen và hoa cho 18 cá nhân, 18 tập thể có thành tích xuất sắc trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2019.

PTĐT – Chủ tịch Hồ Chí Minh- lãnh tụ thiên tài của dân tộc, sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức, rèn luyện Đảng trong quá trình cách mạng giành độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân.

Người đã dành sự quan tâm lớn nhất và sâu sắc nhất cho việc xây dựng, củng cố Đảng, củng cố mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Bằng sự nhạy cảm về chính trị và tấm lòng luôn đau đáu với mục tiêu giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, Người luôn chú ý đến từng vấn đề nảy sinh trong Đảng, chỉ ra những thành công to lớn, những sai lầm, hạn chế của Đảng cũng như dự báo kịp thời những căn bệnh có thể ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Trước lúc đi xa, trong Di chúc, Người căn dặn Đảng ta và chỉ ra tính chất, vai trò của Đảng cũng như trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân, với Tổ quốc. Người viết: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

Quan điểm xuyên suốt của Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng là: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Người cũng yêu cầu chỉnh đốn đảng là công việc thường xuyên. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm nhiều vấn đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Cần tập trung vào những vấn đề cơ bản:

Một là, Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác – Lênin “làm cốt”. Thường xuyên nắm vững tinh thần của V.I.Lênin: “Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”. Về vai trò của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với Đảng ta và cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều yếu tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng… trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác – Lênin”.

Hai là, Đảng được xây dựng theo những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của chủ nghĩa Mác – Lênin. Nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Dân chủ và tập trung là hai mặt của một nguyên tắc, có quan hệ gắn bó mật thiết với nhau. Dân chủ để đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, dưới sự chỉ đạo của tập trung, không phải là phân tán, vô tổ chức. Tập trung trên cơ sở dân chủ, không phải tập trung quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Tập trung là phải thống nhất về tư tưởng, tổ chức và hành động; thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Dân chủ là đảng viên được quyền tự do tư tưởng, bày tỏ ý kiến của mình để tìm ra chân lý, khi đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lý. Có dân chủ trong Đảng mới có dân chủ trong xã hội.

Ba là, phê bình và tự phê bình nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục và sửa chữa khuyết điểm trong cán bộ, đảng viên. Theo Hồ Chí Minh, mục đích của phê bình và tự phê bình là vạch rõ ưu điểm và khuyết điểm, cốt làm cho phần tốt trong mỗi con người, mỗi tổ chức nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị mất dần đi. Người cho rằng: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ”. Trong phê bình và tự phê bình, Hồ Chí Minh đòi hỏi phải ráo riết cả với chính mình và với người khác, không thể chỉ biết phê bình người khác mà quên đi khuyết điểm, trách nhiệm của chính mình; phải xuất phát từ tình đồng chí, từ trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng chứ không phải từ lợi ích hay sự hẹp hòi cá nhân. Hồ Chí Minh quan niệm: “Dao có mài, mới sắc. Vàng có thui, mới trong. Nước có lọc, mới sạch. Người có tự phê bình, mới tiến bộ. Đảng cũng thế”.

Bốn là, củng cố mối quan hệ Đảng với dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh vừa dựa trên nguyên tắc đảng kiểu mới của Lênin, vừa có bước phát triển mới xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể Việt nam. Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời là đảng của dân tộc Việt Nam, ngoài lợi ích của dân tộc, Tổ quốc, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng cầm quyền nhưng nhân dân làm chủ, dân là gốc. Đảng viên, cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Đảng phải quan tâm dân quyền, dân sinh, dân trí, dân chủ và thực hành dân vận.

Xây dựng và chỉnh đốn Đảng là công việc thường xuyên của Đảng ta nhằm bảo đảm cho Đảng luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao, xứng đáng là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Từ khi ra đời đến nay đã 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tùy theo tình hình và nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ mà Đảng xác định những vấn đề cần tập trung cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị, để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, từ Đại hội VIII đến nay, Đảng đã thường xuyên quan tâm coi trọng thực hiện nhiệm vụ then chốt là xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Để đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới và mở rộng hợp tác quốc tế hiện nay, nhằm thu được những thành tựu to lớn hơn nữa, đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Đặc biệt, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng và trong xã hội với nhiều phong trào rộng lớn, có sức lan tỏa và hiệu ứng tích cực, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xây Dựng Ý Thức Tôn Trọng Nhân Dân Theo Tư Tưởng, Đạo Đức, Phong Cách Hồ Chí Minh

Việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2019 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2019

Việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2019 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2019.

Bác Hồ với công nhân Nhà máy xe lửa Gia Lâm (Hà Nội) năm 1955. Ảnh tư liệu

Hiểu rõ về “ý thức tôn trọng nhân dân”

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) khẳng định, khi bàn tới nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phải khẳng định ý thức tôn trọng nhân dân vừa là tư tưởng, đạo đức, vừa là phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, ý thức tôn trọng nhân dân theo quan điểm của Bác thể hiện ở 5 nội dung như sau.

Thứ nhất , thể hiện ở khía cạnh Hồ Chí Minh luôn luôn đánh giá đúng vai trò của nhân dân trong tiến trình lịch sử, trong sự nghiệp cách mạng.

Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn coi cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là chủ thể, là người làm nên lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh nội dung đó, nhưng Bác đi vào khía cạnh rất cụ thể, đó là: Chính nhân dân là nguồn gốc sức mạnh của Việt Nam. Nếu không có nhân dân thì sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây cũng không thể hoàn thành được. Trong xây dựng đất nước, sự nghiệp kiến quốc, sự nghiệp đổi mới là của nhân dân.

Trong cách mạng giải phóng dân tộc, khi mới về nước năm 1942, đồng chí Võ Nguyên Giáp có hỏi Bác: Chúng ta bắt đầu từ đâu? Bác đã trả lời, bắt đầu từ dân. “Phải lo dân trước, súng sau. Có dân thì sẽ có súng, có dân sẽ có tất cả”. Câu nói giản dị này đã đánh giá sự vĩ đại trong tầm nhìn của Bác về nhân dân. Bác Hồ đã phát triển tư tưởng coi trọng dân của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng này được bắt nguồn từ lịch sử của dân tộc Việt Nam đề cao vai trò của người dân.

Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đã căn dặn: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi đã từng nói: “Chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân?”. Hay Phan Bội Châu cũng đã từng nói:

“Dân là dân nước

Nước là nước dân.

Được lòng dân thì sống, không được lòng dân thì chết”.

“Mọi cán bộ, đảng viên hiện nay phải hiểu rõ, nhận thức đúng đắn về vai trò của nhân dân để không được coi thường dân hoặc có những hành vi hạ thấp vai trò của nhân dân; thậm chí coi nhân dân như lực lượng thụ động mà mình quản lý, ban ơn.” – PGS. TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh.

Thứ hai , thể hiện ở khía cạnh vì dân. Ngay từ những năm 1920, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nói giản dị và ngắn gọn: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Sự nghiệp cách mạng của Đảng ta cũng như tư tưởng của Bác đều hướng tới lợi ích của nước, của dân.

Năm 1927, trong tác phẩm Đường Cách Mệnh, Bác Hồ khẳng định lại một lần nữa, cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều. Quyền ở đây được hiểu là quyền lực và lợi ích, giao cho nhân dân. Đấy là mục tiêu của cách mạng, chứ không phải quyền lực là giao cho một số người được hưởng lợi ích. Lợi ích của cách mạng phải được trao cho dân chúng.

Năm 1945, cách mạng Tháng Tám thành công, Bác đã nói, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Bản thân người cầm quyền, chính quyền của ta là công bộc của dân, gánh việc chung cho dân, chứ không phải là người thống trị, cai trị dân, mà là người phục vụ dân. Đó là tư tưởng đặc sắc của Hồ Chí Minh.

Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, tư tưởng của Bác cần được hiểu rõ và nhấn mạnh, để cán bộ quản lý các cấp hiện nay, từ cấp phường, xã đến cấp Trung ương đừng nghĩ mình là người có quyền hành với dân, đừng “vác mặt làm quan cách mạng”, để dân khinh, dân ghét. Từ đó, có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức cán bộ, đảng viên phải luôn là “công bộc” của dân; không được ở trên dân, mà phải hòa với dân, lo cho dân.

Trong một lần gọi điện thoại, một đồng chí làm việc ở văn phòng Chủ tịch có nói: “Tôi ở trên Phủ Chủ tịch đây”, Bác chỉ nhẹ nhàng nhắc: Lần sau gọi điện, chú đừng có xưng danh “tôi ở trên Phủ Chủ tịch”. Bác và chú không ở trên ai cả. Bác và chú chỉ là người phục vụ dân thôi. Khi nào dân cần, Bác và chú làm việc. Khi nào dân không cần nữa, Bác và chú nghỉ. Câu nhắc nhở của Bác rất thân tình, nhưng cũng rất sâu sắc về “đạo làm quan” trong chế độ của chúng ta. Đáng buồn là, hiện nay, vẫn còn tồn tại hiện tượng, chỉ có một chút quyền lực trong tay đã hoạnh họe, “bắt nạt” người dân, nên chúng ta càng thấy thấm thía về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc trao đổi về xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Thứ tư , thể hiện ở cái khía cạnh học cái hay, cái sáng tạo của dân và để hiểu dân một cách sâu sắc, để xử lý vấn đề tích cực. Vì sự nghiệp cách mạng xét đến cùng là lợi ích vì dân. Ngày 7/6/1960, trong bài nói tại Đại hội sản xuất tỉnh Hà Đông (nay thuộc thành phố Hà Nội), Bác khẳng định: “Đảng ta là một đảng cách mạng, ngoài lợi ích của công nhân và nông dân, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Một trong những bài học lớn của cách mạng Việt Nam là: “Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Điều này được ghi rõ trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bổ sung phát triển năm 2011. Điều này cũng bắt nguồn từ tư tưởng của Hồ Chí Minh về ý thức tôn trọng nhân dân. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi bắt đầu quá trình xây dựng, phát triển xã hội mới, Hồ Chí Minh khẳng định: Nước ta là nước dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ. Đó là điều kiện chính trị, xã hội bảo đảm cho thi đua phát triển trong các tầng lớp nhân dân, lực lượng xã hội, lực lượng vũ trang nhằm thực hiện mục tiêu chiến lược: Kháng chiến, kiến quốc. Người lãnh đạo là Đảng, là người hướng dẫn cho dân, cơ quan chính quyền là người thực thi quyền làm chủ của dân. Chúng ta phải nắm vững điều đó.

Thứ năm,  thể hiện ở khía cạnh học hỏi nhân dân, nhưng không được “theo đuôi quần chúng”. Điều này Bác đã căn dặn ở trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. Theo Bác, trong nhân dân, có bộ phận tích cực, có bộ phần lừng chừng (trung bình) và có bộ phận còn lạc hậu, hạn chế trong nhận thức. Tôn trọng nhân dân là phát huy tính tích cực, cái hay, cái sáng tạo của nhân dân. Nhưng bên cạnh đó, cần giác ngộ, giải thích nâng cao nhận thức của người dân, nhất là bộ phận còn trung bình, lạc hậu.

Hiện nay, cần phải tiếp tục tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ người dân để nâng vị trí của người dân, để người ta làm đúng được vị trí đó. Xét đến cùng, như Bác Hồ nói, cần trở lại công tác dân vận – vận động quần chúng.

Vận dụng tư tưởng xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân trong tình hình mới

Thực tiễn hiện nay cho thấy, đã có những sự chuyển động tích cực trong việc xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Tây Hồ (Hà Nội)

Trong đó, đổi mới mạnh mẽ nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam, tổ chức chính trị-xã hội, nhất là công tác nắm tình hình nhân dân, nhất là ở những địa bàn có vấn đề phát sinh phức tạp; nâng cao hiệu quả công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Ðảng, Nhà nước, nhất là những chính sách mới được ban hành; phát huy vai trò nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương tới địa phương chăm lo, đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền giải pháp có hiệu quả nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Các cấp, các ngành nâng cao hiệu quả công tác nắm, đánh giá, dự báo tình hình các tầng lớp nhân dân để chủ động, kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cấp ủy về chủ trương, giải pháp CTDV của Ðảng đáp ứng yêu cầu tình hình mới.

Tại các kỳ họp của Quốc hội, ý kiến của cử tri cả nước đều được phản ánh tới Quốc hội. Chỉ tính riêng tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV vừa qua, đã có 2.976 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội. Trong đó, có 365 ý kiến, kiến nghị của cử tri được phản ánh qua các Đoàn đại biểu Quốc hội và 2.611 ý kiến, kiến nghị của nhân dân được phản ánh qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp, các tổ chức thành viên Mặt trận ở Trung ương.

Các địa phương đã ban hành và thực hiện Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền với nhân dân. Theo đó, các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,… đều trực tiếp đối thoại với người dân. Tính riêng ở tỉnh Hậu Giang, đến nay lãnh đạo tỉnh đã tiếp xúc với người dân 6 cuộc với 3.300 người dân tham dự, với 4.758 ý kiến của người dân. Các huyện, thị, thành tổ chức tiếp xúc 73 cuộc, có 6.879 người dân tham dự, với 9.549 lượt ý kiến của người dân. Xã, phường, thị trấn tổ chức tiếp xúc: 681 cuộc, có 27.770 người dân tham dự, với 4.348 lượt ý kiến của nhân dân.

Từ thực tiễn đó cho thấy, ý thức về sự tôn trọng nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được thực hiện và phát huy tính tích cực của nó. Từ sự nhận thức sâu sắc, hiểu rõ về ý thức tôn trọng nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có thể vận dụng tư tưởng này một cách tích cực trong tình hình mới, đẩy mạnh việc làm theo gương Bác.

Theo chúng tôi Nguyễn Trọng Phúc, để vận dụng tư tưởng ý thức tôn trọng nhân dân hiện nay, trước hết, cần thực hiện đúng và tốt các quy định của “tin dân, hiểu dân, gần dân”.

Tin dân có nghĩa là tin vào sức mạnh, tin vào bản chất của người dân. Còn có bộ phận nào lừng chừng, lạc hậu, cần phải tuyên truyền, giải thích, giác ngộ cho người dân.

Hiểu dân có nghĩa là tìm hiểu xem người dân đang mong muốn điều gì; cuộc sống của người dân ra sao, ý nguyện của dân là gì, đời sống của họ có thuận lợi, khó khăn gì.

Muốn hiểu dân thì phải gần dân, cán bộ không được quan liêu, ngồi bàn giấy dự thảo các chỉ thị, nghị quyết. Cần phải xuống cơ sở, hòa mình với người dân, lắng nghe ý kiến của dân, chống xa dân.

Nếu có điều gì sai, cần thành thật nhận lỗi trước dân. Bác Hồ đã căn dặn điều này trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc. “Nghị quyết gì mà người dân cho là không đúng, thì phải để họ đề nghị sửa chữa”. Phải căn cứ vào đề nghị của người dân rồi mới tính toán các yếu tố khác để có những quyết sách hợp lòng dân, để nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống.

Thứ hai, cần nhất quán phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân được thụ hưởng”. Trong đó,  Dân biết: phải công khai chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để dân biết.

Dân làm: dân là người làm trực tiếp, người cán bộ chỉ là hướng dẫn.

Dân kiểm tra: dân là người giám sát xem việc làm có đúng không.

Quan trọng, dân phải là người được thụ hưởng kết quả tốt đẹp đó.

Chắc chắn, việc thực hiện tốt nội dung xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân theo Hướng dẫn học tập chuyên đề năm 2019 “Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” của Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành sẽ làm tăng mối quan hệ khăng khít giữa dân với Đảng, với chính quyền; củng cố niềm tin của nhân dân, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của năm 2019.

Bạn đang xem bài viết Phát Huy Nhân Tố Con Người Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!