Xem Nhiều 2/2023 #️ Phát Triển Du Lịch Thông Minh: Cần Đồng Bộ Các Giải Pháp # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phát Triển Du Lịch Thông Minh: Cần Đồng Bộ Các Giải Pháp # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phát Triển Du Lịch Thông Minh: Cần Đồng Bộ Các Giải Pháp mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Phát triển du lịch thông minh: Cần đồng bộ các giải pháp

Để được gọi là du lịch thông minh, nhất thiết phải đảm bảo bốn yếu tố: công nghệ thông minh, người tiêu dùng thông minh, doanh nghiệp du lịch thông minh và điểm đến thông minh. 

Xây dựng trên nền tảng của công nghệ thông tin và truyền thông, du lịch thông minh đang ngày càng được đẩy mạnh thực hiện, góp phần tạo ra các giá trị, lợi ích và dịch vụ tốt nhất đáp ứng nhu cầu của du khách, doanh nghiệp, cũng như cơ quan quản lý và cộng đồng. Tuy nhiên, việc phát triển du lịch thông minh cũng gặp không ít thách thức, đòi hỏi được tháo gỡ bằng nhiều giải pháp đồng bộ hơn trong thời gian tới.  

Đảm bảo 4 yếu tố

Theo một số chuyên gia, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay để phát triển du lịch thông minh ở nhiều địa phương là mức độ sẵn sàng cho phát triển du lịch thông minh.

Du lịch thông minh được phát triển trên nền tảng ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin-truyền thông. Đây được coi là điều kiện mang tính tiên quyết. Tuy nhiên, mức độ sẵn sàng về công nghệ để phát triển du lịch thông minh ở nhiều địa phương lại chưa cao và là trở ngại cần được khắc phục trong thời gian ngắn nhất. Bởi lẽ muốn có du lịch thông minh, cần có các nền tảng hạ tầng về viễn thông điện tử và các trang thiết bị hiện đại đi kèm một cách đồng bộ.

Tiến sỹ Đào Thị Thu Hằng, Trường Đại học Kinh tế-Luật (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) cho rằng để được gọi là du lịch thông minh, nhất thiết phải đảm bảo bốn yếu tố: công nghệ thông minh, người tiêu dùng thông minh

 (sử dụng điện thoại thông minh 

và có kết nối), doanh nghiệp du lịch thông minh và điểm đến thông minh.

Nếu có công nghệ thông minh, doanh nghiệp thông minh và điểm đến cũng đáp ứng những tiện ích, gia tăng giá trị trải nghiệm để được gọi là điểm đến thông minh, nhưng không có sự kết nối tương tác, đổi mới tức thời của du khách thông minh thì không thể có du lịch thông minh đúng nghĩa.

[Phát triển du lịch thông minh tại Việt Nam: Xu hướng tất yếu]

Về phía doanh nghiệp kinh doanh du lịch, để hướng tới du lịch thông minh, cần đầu tư để có các thiết bị thu thập, chia sẻ dữ liệu, chia sẻ tài nguyên tức thời. Chẳng hạn, doanh nghiệp trang bị những hệ thống cảm biến để thu thập thông tin về thời tiết nhằm có phương án phục vụ du khách một cách phù hợp nhất hoặc tiếp nhận kịp thời thông tin từ các mạng xã hội. Điều này sẽ làm tăng sự liên kết chuỗi giá trị, tăng khả năng cạnh tranh, hiệu quả phối hợp tập thể và tính linh hoạt trong hệ sinh thái kinh doanh du lịch.

Đồng bộ các giải pháp

Tiến sỹ Lê Quang Đăng, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch (Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) cho rằng để phát triển du lịch thông minh, cần nâng cao nhận thức của người dân về du lịch thông minh, tuyên tuyền sâu rộng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về các hoạt động du lịch trực tuyến, những ưu điểm và cả những tồn tại, bất cập của nó để khách du lịch và người dân hiểu, có những hoạt động tích cực, thông minh, tránh bị lợi dụng, lừa đảo.

Bên cạnh đó, cần khuyến khích các doanh nghiệp du lịch đổi mới sáng tạo, ứng dụng công nghệ trong kinh doanh, tiếp cận du lịch thông minh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong hoạt động quản lý nhà nước về du lịch, nâng cao hiệu quả quản lý, từng bước hiện đại hóa ngành du lịch.

Đề cập cụ thể về các giải pháp phát triển du lịch thông minh

 tại Thành phố Hồ Chí Minh, tiến sỹ Bùi Thị Ngọc Trang thuộc Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh và tiến sỹ Tạ Duy Linh thuộc Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế và du lịch (Hội Trí thức khoa học và công nghệ trẻ Việt Nam), thạc sỹ Dương Đức Minh thuộc Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đều nhận định thành phố là một trong những trọng điểm du lịch của cả nước, có nhiều thuận lợi rất căn bản trong phát triển du lịch thông minh, như đang triển khai đề án đô thị thông minh, có nguồn tài nguyên du lịch phong phú, là thị trường nhận và gửi du khách sôi động.

Trong thời đại công nghệ phát triển với tốc độ rất nhanh chóng, khoảng cách địa lý không còn là rào cản to lớn để hạn chế sự kết nối các thị trường kinh tế, trong đó có thị trường kinh doanh du lịch, các đơn vị, các doanh nghiệp du lịch cần tận dụng và khai thác triệt để mạng lưới kinh doanh du lịch dựa vào các ứng dụng công nghệ thông tin để từ đó “tranh thủ” được các dòng dịch chuyển du khách vào Thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, thành phố cũng cần tăng cường việc đào tạo nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển một cách lâu dài, căn cơ của ngành du lịch.

Các cơ sở đào tạo cần nghiên cứu, đào tạo những vị trí việc làm mới thay thế những vị trí truyền thống mà hệ thống công nghệ đã đảm nhiệm. Khi thế giới đang theo xu hướng công nghệ 4.0, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác đào tạo cũng không thể nào trang bị như đào tạo theo hướng truyền thống, mà đòi hỏi cơ sở đào tạo phải có trang thiết bị bắt kịp với xu thế./.

Thanh Trà (TTXVN/Vietnam+)

Tiếp Cận Du Lịch Thông Minh Tại Các Địa Phương: Cần Giải Pháp Đồng Bộ

Bên cạnh đó, để phát triển du lịch thông minh, cần thiết phải phát triển và hoàn thiện hạ tầng mạng bởi đây là điều kiện quan trọng để triển khai các hoạt động du lịch online. Nhận thức được điều này, nhiều địa phương trong cả nước đã và đang triển khai lắp đặt các trạm phát wifi miễn phí.

Vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập…

Tồn tại trong nhận thức: Hầu hết các địa phương của Việt Nam vẫn đang trong tình trạng loay hoay với du lịch thông minh, chưa nắm rõ được mô hình và bản chất của du lịch thông minh. Thậm chí, cách hiểu về du lịch thông minh của mỗi địa phương còn có sự khác biệt, thiếu tính nhất quán. Nguyên nhân là do du lịch thông minh đang là xu thế mới, chưa có địa phương nào xây dựng thành công du lịch thông minh để làm bài học kinh nghiệm cho các địa phương khác.

Tồn tại trong hành động: Nhiều địa phương đã và đang triển khai các giải pháp phát triển du lịch thông minh nhưng các hoạt động này diễn ra lẻ tẻ, manh mún, thiếu tính đồng bộ, chưa có những giải pháp căn cơ, chưa có quy hoạch, kế hoạch, chiến lược cụ thể. Đa số các hoạt động đầu tư phát triển du lịch thông minh còn mang tính kinh nghiệm, bộc phát, dẫn đến đầu tư thiếu trọng điểm, hiệu quả mang lại chưa cao. Nguyên nhân của vấn đề này, một phần do thiếu các cơ sở khoa học để làm căn cứ tham chiếu cho hành động, một phần do thực tế tình hình phát triển du lịch ở mỗi địa phương khác nhau nên phải thực hiện các giải pháp du lịch thông minh dựa theo thế mạnh du lịch của địa phương mình.

Tồn tại trong công tác chuẩn bị: Phát triển du lịch thông minh có thể coi là “cuộc cách mạng trong ngành Du lịch”, muốn thành công phải có sự chuẩn bị các điều kiện cần và đủ cho nó. Tuy nhiên, đa số các địa phương của Việt Nam khi triển khai du lịch thông minh đều tập trung vào giải pháp can thiệp công nghệ – tức là sản xuất và áp dụng các phần mềm, tiện ích thông minh mà chưa tính đến các điều kiện cần và đủ để vận hành nó. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở vốn đầu tư, đầu tư cho hạ tầng rất tốn kém và cần thời gian. Vì thế, chỉ các địa phương có điều kiện kinh tế phát triển mới có khả năng đầu tư mạnh cho hạ tầng (Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng), nhiều địa phương giàu tài nguyên du lịch nhưng yếu tiềm lực kinh tế cũng chưa thể thực hiện chiến lược phát triển du lịch thông minh (Lào Cai, Ninh Bình, Thanh Hóa, Quảng Bình, Lâm Đồng).

Tồn tai về trình độ công nghệ: Để phát triển du lịch thông minh, yếu tố công nghệ giữ vai trò quan trọng nhất. So với các quốc gia trên thế giới, Việt Nam chưa phải là quốc gia có trình độ công nghệ phát triển. Vì thế, việc nghiên cứu, sản xuất các sản phẩm công nghệ ứng dụng cho du lịch vẫn còn nhiều hạn chế.

Cần giải pháp đồng bộ

Những giải pháp căn bản để phát triển du lịch thông minh tại các địa phương của Việt Nam trong thời gian tới có thể kể đến mấy điểm chính như sau:

Thứ nhất, tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, trao đổi khoa học, khuyến khích các nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển du lịch thông minh tại địa phương; tổ chức các hội thảo, hội nghị, tọa đàm về du lịch thông minh; lắng nghe, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch thông minh tại địa phương.

Thứ hai, chính quyền địa phương, đặc biệt là các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch phải triển khai xây dựng được các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch thông minh tại địa phương để có phương hướng rõ ràng trong việc triển khai thực hiện.

Thứ ba, phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về hạ tầng mạng, hạ tầng phần cứng, hạ tầng phần mềm, hạ tầng nhân lực, vốn và công nghệ trước khi triển khai để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả.

Thứ tư, nên triển khai mô hình thí điểm trước rồi mới triển khai đồng bộ trên diện rộng. Nơi được chọn thí điểm phải đại diện cho du lịch của địa phương, có lượng khách du lịch lớn và coi việc thí điểm này là “mô hình du lịch thông minh thu nhỏ” của địa phương.

Thứ năm, tích cực kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả mô hình thí điểm, rút kinh nghiệm và có phương án cải tiến, sửa chữa để hoàn thiện và nhân rộng mô hình trên địa bàn tỉnh.

Tài liệu tham khảo

1. Lê Quang Đăng (2016), Ứng dụng công nghệ thông tin nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, số 109, tháng 11 năm 2016, tr.42-47.

2. Lê Quang Đăng, Nguyễn Anh Chuyên (2017), Giải pháp phần mềm quản lý hệ thống thông tin du lịch: Trường hợp nghiên cứu cụ thể tại tỉnh Thái Nguyên, Tạp chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán, số 112, tháng 03 năm 2017, tr.36-44.

3. Lê Quang Đăng (2017), Công nghệ thông tin du lịch và một số vấn đề đặt ra đối với du lịch Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và Quản lý, số 21, tháng 03 năm 2017, tr.35-40.

4. Chỉ thị số 16/2017/CT-TTg ngày 04/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư…

TS. Lê Quang Đăng

Quảng Ninh Tiếp Tục Triển Khai Các Giải Pháp Du Lịch Thông Minh

Xây dựng, phát triển kho tích hợp dữ liệu du lịch và Cổng thông tin điện tử về du lịch là một trong những ưu tiên hàng đầu trong xây dựng du lịch thông minh ở Quảng Ninh. Theo đó, du khách muốn tìm hiểu hay tra cứu những thông tin hữu ích về Du lịch Quảng Ninh, có thể truy cập Cổng thông tin du lịch Quảng Ninh tại các địa chỉ chúng tôi chúng tôi (bằng cả 3 ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Trung) hoặc vào fanpage Thông tin Du lịch Quảng Ninh.

Các trang web này không chỉ giới thiệu các điểm đến, dịch vụ giải trí, các lễ hội, ẩm thực độc đáo, cơ sở lưu trú, mua sắm… thông qua những bài viết, hình ảnh, video quảng bá, mà còn kết hợp hỗ trợ chỉ dẫn bản đồ, đặt phòng trực tuyến, đặt xe theo lịch trình, hệ thống bán, soát vé tự động, thông tin đường dây nóng hỗ trợ và phản ánh chất lượng du lịch.

Trong tương lai, cổng thông tin cũng ứng dụng các công nghệ hiện đại như: trí tuệ nhân tạo, hình ảnh lập thể, thực tế ảo… để hỗ trợ du khách trong lựa chọn và tự thiết kế lịch trình du lịch, thử trải nghiệm những nét đặc sắc của điểm đến trước khi quyết định trải nghiệm thực tế…

Cùng với đó, các tàu du lịch trên vịnh Hạ Long đều được lắp đặt hệ thống định vị GPS để nâng cao hệ số an toàn cho khách du lịch. Hệ thống camera giám sát ở một số hang động lớn như: hang Ðầu Gỗ, động Thiên Cung bảo đảm liên tục truyền dữ liệu về cho bộ phận giám sát.

Đặc biệt, chỉ với 1 chiếc điện thoại thông minh, du khách có thể tiếp cận với các tiện ích, ứng dụng thông minh về du lịch, như tìm kiếm thông tin bằng giọng nói, dịch chuyển ngôn ngữ, hệ thống thuyết minh tự động tại các điểm đến với hướng dẫn viên ảo, hay tham quan 3D… trên nền tảng điện thoại di động.

Quảng Ninh cũng đang tập trung hoàn thiện Trung tâm Điều hành du lịch thông minh hiện đại để quản lý, vận hành hoạt động của toàn bộ hệ thống.

Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, xây dựng mô hình du lịch thông minh giúp Quảng Ninh trở thành điểm đến du lịch thông minh, một thành phố thông minh hiện đại, ngày càng hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế.

P.V

Phát Triển Kinh Tế Trang Trại: Cần Đồng Bộ Các Giải Pháp

Ông Nguyễn Duy Lượng (người ngoài cùng bên trái) thăm mô hình trồng rau, củ, quả công nghệ cao trên đất cát hoang hóa ở xã Thạch Văn (Thạch Hà – Hà Tĩnh) . Ảnh: Trí Thức

Đặc biệt, trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, kinh tế trang trại chính là cơ sở khơi dậy tiềm năng trong dân cư để chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, sản xuất hàng hóa, thúc đẩy áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho nông dân, góp phần tạo ra các vùng sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp hàng hóa tập trung, làm tăng khối lượng và giá trị hàng hóa, góp phần xây dựng nông thôn mới.

Chìa khóa mở ra nhiều cơ hội làm giàu cho nông dân

Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, cả nước hiện nay có hơn 29.853 trang trại, trong đó có 7.641 trang trại trồng trọt; 14.551 trang trại chăn nuôi; 4.241 trang trại thủy sản; 3.276 trang trại tổng hợp và 144 trang trại lâm nghiệp. Các mô hình trang trại được phân bố đều khắp trong các vùng cả nước.

Hiện nay, hình thức kinh tế trang trại đang tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, song quy mô đất đai còn hạn hẹp, vốn đầu tư chủ yếu là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng, nguồn vốn vay tín dụng ngân hàng còn chiếm tỉ trọng thấp. Vốn bình quân của một trang trại khoảng 1,3 tỷ đồng và giá trị nông sản hàng hóa bình quân một trang trại đạt khoảng 1,5 tỷ đồng/năm.

Lao động của các trang trại chủ yếu là lao động gia đình, bao gồm cả chủ hộ trực tiếp tham gia sản xuất (chiếm trên 70%). Tổng diện tích đất trang trại khoảng 133.826 ha, so với diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng trong cả nước chiếm 0,6%. Bình quân một trang trại có 4,54 ha đất; trong đó trang trại trồng trọt là 89.432 ha, bình quân 10,2 ha/TT; chăn nuôi 16.777 ha, bình quân 1,5 ha/TT; trang trại tổng hợp 12.636 ha, bình quân 3,1 ha/TT; lâm nghiệp 6.739 ha, bình quân 15,7 ha/TT; thủy sản 6.442 ha, bình quân 1,2 ha/TT.

Thực tiễn những năm qua, kinh tế trang trại giống như chiếc chìa khóa mở ra nhiều cơ hội làm giàu cho nông dân, đã có nhiều mô hình trang trại phát huy được lợi thế vùng, địa phương hiệu quả cho thu nhập cao, doanh thu từ 1-3 tỷ đồng/năm, một số mô hình cho doanh thu từ 5-10 tỷ đồng/năm, một số trang trại trong bối cảnh hội nhập đã có sự gắn bó mật thiết với thị trường thông qua các hợp đồng sản xuất, tiêu thụ bền vững (sản xuất theo đơn đặt hàng; sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng; sản xuất theo số lượng nhất định, sản phẩm bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm).

Những mô hình trang trại này đã cho doanh thu hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Từ thực tiễn, khẳng định, kinh tế trang trại là một trong những loại hình mũi nhọn trong phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

Những giải pháp cụ thể

Về đất đai, Chính phủ đã có Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2000 về kinh tế trang trại, đây là hành lang pháp lý rất quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân phát triển kinh tế trang trại. Tuy nhiên, nhiều chính sách trong Nghị quyết dành cho kinh tế trang trại không còn phù hợp nữa như: đất sử dụng cho kinh tế trang trại được hưởng chính sách ưu tiên, nhưng không có quy định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, điều này không những làm hạn chế sự năng động trong hoạt động sản xuất mà còn khó khăn cho chủ trang trại. Có rất nhiều quy định nằm trong nhiều văn bản khác nhau, chưa kể đến việc tùy theo điều kiện của mình mà mỗi địa phương còn ban hành chính sách riêng để hỗ trợ khuyến khích trang trại phát triển. Vì vậy, cần có sự điều chỉnh việc sử dụng đất đai trong các trang trại theo hướng tăng quy mô bằng cách khuyến khích tích tụ tập trung ruộng đất và liên kết trong sản xuất…

Về chính sách tín dụng hỗ trợ cho kinh tế trang trại, Nhà nước đã ban hành nhiều nhưng nằm rải rác ở các văn bản khác nhau, chưa có một văn bản mang tính hệ thống tích hợp tất cả các chính sách đó, nhiều quy định còn chưa rõ. Đó là những bất cập cần được nghiên cứu để hỗ trợ kinh tế trang trại phát triển. Hiện nay, Chính phủ đã có Nghị định 55/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2015, theo Nghị định thì chủ trang trại hoạt động trên địa bàn nông thôn hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp được tổ chức tín dụng cho vay vốn. Đối tượng cho vay để sản xuất nông nghiệp được mở rộng, hình thức cho vay phong phú và thời hạn cho vay cũng có nhiều thay đổi; tuy nhiên, để biết được những quy định này thì chỉ có lĩnh vực chuyên ngành, đối tượng trang trại rất khó tiếp cận…

Xây dựng các mô hình kinh tế trong nông nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Tùy theo điều kiện tự nhiên, kỹ thuật, địa hình canh tác khác nhau đã có các mô hình khác nhau. Xây dựng các mô hình điểm về sản xuất, chế biến nông sản thực phẩm an toàn là một giải pháp có tính đột phá và bền vững để quản lý tốt chất lượng, an toàn thực phẩm, đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng; đồng thời là cơ sở để liên kết các hộ sản xuất nhỏ lẻ thành tổ hợp tác sản xuất kinh doanh; sản phẩm đưa ra thị trường được kiểm soát, được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận.

Thực tiễn có thể áp dụng mô hình khác nhau như: đối với mô hình trồng trọt thực hiện theo tiêu chuẩn VietGAP, sản phẩm hữu cơ (5 không: không bón phân hóa học, không hóa chất bảo quản, không chất kích thích tăng trưởng, không sử dụng thuốc diệt cỏ, không biến đổi gen).

Đối với mô hình chăn nuôi gia súc tiêu chuẩn thực hiện (4 không – 2 sạch: không chất tạo nạc, không thuốc tăng trọng, không lạm dụng kháng sinh, không sử dụng chất cấm; và sạch vật nuôi, sạch chuồng trại).

Đối với mô hình chăn nuôi gia cầm theo hướng an toàn sinh học cần thực hiện (3 không – 2 sạch: không thuốc tăng trọng, không lạm dụng kháng sinh, không sử dụng chất cấm khác; và sạch vật nuôi, sạch chuồng trại)…

Tập trung nguồn lực khoa học – công nghệ cho việc phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa: Yếu tố khoa học công nghệ là chìa khóa, là động lực yêu cầu tất yếu để nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch là hướng đi bền vững và cũng là hướng đầu tư rất tốt cho phát triển kinh tế; Vì vậy, cần tập trung nguồn lực và tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ trong nông nghiệp, nông thôn. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất thông qua công tác khuyến nông, khuyến công, khuyến lâm, khuyến ngư; tăng cường công nghệ chế biến hiện đại, chế biến sâu, tận dụng chế biến các phế phụ phẩm trong sản xuất để tăng giá trị gia tăng cho nông sản. Chú trọng tạo ra những sản phẩm nông nghiệp sạch, nông sản hữu cơ, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP để tăng sức cạnh tranh, chủ động hội nhập.

Tăng cường xúc tiến thương mại, phát triển thị trường nông sản: Ngành nông nghiệp đang chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp; Vì vậy, cần thiết phải đưa vào nội dung về phát triển thị trường, bởi thị trường sẽ khơi thông được đầu sản xuất; đồng thời ngành nông nghiệp phải hỗ trợ, định hướng, đào tạo để nông dân chủ động nắm bắt cơ hội và thích ứng nhanh với sự thay đổi của thị trường, trước mắt là xây dựng và triển khai kế hoạch đăng ký mã vùng trồng, làm nhãn hiệu, tem truy xuất nguồn gốc nông sản.

Đối với thị trường Trung Quốc, đây là thị trường xuất khẩu chính của nông sản Việt Nam, nhưng nay Trung Quốc siết chặt quy định nhập khẩu với trái cây Việt Nam qua cả kênh chính thức và các kênh khác như chủ hàng… đồng thời yêu cầu sản phẩm phải được cấp mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói; trước mắt có vẻ khó khăn với doanh nghiệp, nhưng về lâu dài sẽ đem lại những thay đổi tích cực cho ngành sản xuất rau quả; Đòi hỏi từ doanh nghiệp, hợp tác xã đến người nông dân sẽ phải thay đổi quan điểm và phương thức sản xuất nâng cao chất lượng, quan tâm hơn tới việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, quy trình canh tác, mẫu mã sản phẩm…

Xây dựng thương hiệu nông sản chủ lực: Hiện nay, nông nghiệp Việt Nam có 10 sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu chính, có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD. Tuy nhiên, 90% nông sản vẫn xuất khẩu dưới dạng thô, kim ngạch còn thấp do giá xuất khẩu thấp hơn các sản phẩm cùng loại của nhiều nước. Chúng ta vẫn còn khoảng 80% lượng nông sản chưa xây dựng được thương hiệu. Đây là một bất lợi lớn, khiến sức cạnh tranh của các loại nông sản Việt Nam trên thị trường còn yếu và chịu nhiều thua thiệt. Các trang trại, doanh nghiệp cần sớm triển khai xây dựng thương hiệu cho các mặt hàng nông sản của mình khi đáp ứng được các yếu tố chính như: được sản xuất trên quy mô lớn với mức độ cơ giới hóa cao, có khối lượng và giá trị tiêu thụ lớn, chất lượng đồng đều, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, giá bán cạnh tranh, có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn trong và ngoài nước.

Việt Nam là một nước nông nghiệp mạnh trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, để phát triển kinh tế trang trại, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, Chính phủ cần hỗ trợ mạnh hơn nữa về chính sách đất đai, tín dụng, khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, đầu tư cơ sở hạ tầng nông nghiệp, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu các sản phẩm chủ lực; tăng cường sự liên kết giữa các thành phần kinh tế, lĩnh vực kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm, phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

TS. Nguyễn Duy Lượng (Phó chủ tịch Hội Làm vườn Việt Nam)

Bạn đang xem bài viết Phát Triển Du Lịch Thông Minh: Cần Đồng Bộ Các Giải Pháp trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!