Xem Nhiều 12/2022 #️ Phổ Biến Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022 Trong Cand / 2023 # Top 15 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Phổ Biến Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022 Trong Cand / 2023 # Top 15 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phổ Biến Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022 Trong Cand / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tại hội nghị, TS Nguyễn Tuấn Khanh, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ đã phổ biến những nội dung cơ bản của Luật. Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ 6 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2019. Luật bao gồm 10 chương với 96 điều. Luật quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng.

Luật đã mở rộng phạm vi điều chỉnh ra khu vực ngoài nhà nước; mở rộng người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập, thu hẹp cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập; quy định các phương thức kê khai áp dụng cho từng đối tượng kê khai khác nhau, gồm kê khai lần đầu, kê khai bổ sung, kê khai hàng năm và kê khai phục vụ công tác cán bộ.

TS Nguyễn Tuấn Khanh phổ biến những nội dung cơ bản của Luật

Hội nghị cũng đã được nghe Thiếu tướng Đỗ Văn Hoành, Chánh thanh tra Bộ Công an trình bày kết quả công tác phòng, chống tham nhũng trong CAND thời gian qua, những vấn đề đặt ta khi triển khai Luật trong CAND.

Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Công an đã bám sát chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong CAND; tổ chức, triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng trong CAND và đấu tranh chống tội phạm tham nhũng.

Nổi bật là: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong lực lượng CAND về phòng, chống tham nhũng được tăng cường, có hiệu quả. Tổ chức bộ máy trong CAND được sắp xếp, kiện toàn tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Các biện pháp phòng ngừa tham nhũng như công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, đơn vị Công an; thực hiện các chế độ, định mức, tiêu chuẩn, thực hiện quy tắc ứng xử, kê khai tài sản, thu nhập trong lực lượng CAND ngày càng tốt hơn; chuyển đổi vị trí công tác tiếp tục được thực hiện; công tác cải cách hành chính trong lực lượng CAND có chuyển biến rõ nét, chú trọng những lĩnh vực nhạy cảm để phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, đã xử lý kịp thời, nghiêm minh những sai phạm của cán bộ, chiến sĩ Công an, tạo hiệu quả phòng ngừa giáo dục, răn đe. Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, lãng phí của Bộ và Công an các địa phương hoạt động có hiệu quả hơn, góp phần phòng ngừa, hạn chế sai phạm trong lực lượng CAND.

Thiếu tướng Đỗ Văn Hoành trình bày kết quả công tác phòng, chống tham nhũng trong CAND

Để triển khai, thực hiện có hiệu quả Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 trong lực lượng CAND, Thiếu tướng Đỗ Văn Hoành đã đưa ra những nội dung trọng tâm cần tập trung chỉ đạo, thực hiện tốt gồm: Đề cao vai trò, trách nhiệm và tính tiên phong, gương mẫu của cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy nhất là trách nhiệm của bí thư cấp ủy, thủ trưởng Công an các cấp, các đơn vị trong việc chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng. Tiếp tục xây dựng, sửa đổi, ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản về phòng, chống tham nhũng. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền về phòng, chống tham nhũng, giáo dục chính trị, tư tưởng trong CAND.

Tập trung hoàn thiện công tác tổ chức cán bộ để phòng, chống tham nhũng trong CAND. Tổ chức thực hiện nghiêm, có hiệu quả các quy định của pháp luật về phòng ngừa tham nhũng trong Công an đơn vị, địa phương. Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra, giải quyết tố cáo, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng của cán bộ, chiến sĩ Công an. Tiếp tục kiện toàn đổi mới hiệu quả của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của CAND; củng cố, kiện toàn tổ chức, cán bộ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng.

Trung tướng Nguyễn Ngọc Anh phát biểu bế mạc hội nghị

Phát biểu bế mạc hội nghị, Trung tướng Nguyễn Ngọc Anh, Cục trưởng Cục Pháp chế và Cải cách hành chính, tư pháp nhấn mạnh, sau hội nghị, Công an các đơn vị địa phương phối hợp với hội đồng phổ biến giáo dục với các cấp, các cơ quan báo chí phát thanh truyền hình làm tốt công tác tuyên truyền Luật.

Mỗi cấp ủy đảng chính quyền đã có kế hoạch chung, lực lượng Công an các đơn vị địa phương cũng cần có kế hoạch tổ chức triển khai Luật. Đây là một trong những tiêu chí đánh giá phẩm chất, năng lực của cán bộ Công an trong thực thi nhiệm vụ. Tổ chức việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hệ thống giáo trình, tài liệu giảng dạy để cập nhật các quy định mới của Luật và các văn hản hướng dẫn thi hành…

Triển Khai Công Tác Phòng, Chống Tham Nhũng Trong Cand Năm 2022 / 2023

Năm 2018, Đảng ủy CA TƯ, Bộ Công an, cấp ủy, lãnh đạo các cấp trong CAND đã tập trung chỉ đạo, triển khai đồng bộ các giải pháp phòng ngừa, phát hiện, xử lí các hành vi tham nhũng, lãng phí trong nội bộ; ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong CAND về phòng chống tham nhũng đạt hiệu quả. Công tác cải cách hành chính được chú trọng, nhất là những lĩnh vực nhạy cảm để phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực, tham nhũng. Công tác thanh tra, kiểm tra được tăng cường, đã xử lí kịp thời, nghiêm minh những sai phạm của CBCS CA; kê khai tài sản, thu nhập trong lực lượng đạt kết quả tích cực.

Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng, lãng phí của Bộ và Công an các đơn vị, địa phương hoạt động có hiệu quả, góp phần phòng ngừa, hạn chế sai phạm trong CAND. Các đơn vị, địa phương đã có nhiều biện pháp thực hành tiết kiệm chống lãng phí phù hợp với quy định của pháp luật và thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác chiến đấu và phục vụ đời sống CBCS. Công tác điều tra, xử lí tội phạm về kinh tế, tham nhũng đạt nhiều kết quả quan trọng.

Phát biểu kết luận, Bộ trưởng Tô Lâm đề nghị, năm 2019, các đơn vị chức năng tiếp tục rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung, xây dựng, ban hành các văn bản thực hiện nhiệm vụ công tác PCTN, lãng phí trong CAND. Tập trung hoàn thành các nhiệm vụ Chính phủ giao Bộ Công an thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về công tác PCTN đến năm 2020. Chủ động phát hiện và xác minh, kết luận, xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ, việc tham nhũng tiêu cực trong nội bộ. Nghiêm túc xử lý trách nhiệm người đứng đầu đơn vị trong CAND khi để xảy ra tham nhũng trong đơn vị.

Trong công tác điều tra, xử lý tội phạm về tham nhũng cần tiếp tục chấn chỉnh, nâng cao chất lượng công tác nghiệp vụ cơ bản, phát hiện, điều tra, xử lí kịp thời, nghiêm minh các vụ việc, vụ án tham nhũng, nhất là các vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm; thu hồi triệt để tài sản tham nhũng.

Kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo PCTN, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Bộ Công an và Công an các địa phương theo mô hình tổ chức mới. Xây dựng đội ngũ làm công tác thanh, kiểm tra trong lực lượng CAND thực sự trong sạch, liêm chính, góp phần xây dựng lực lượng CAND vững mạnh toàn diện.

Một Số Nội Dung Quan Trọng Của Luật Phòng Chống Tham Nhũng Năm 2022 / 2023

, về công khai minh bạch trong phòng ngừa tham nhũng. Nếu như luật PCTN 2005 quy định công khai, minh bạch trong các lĩnh vực thì luật 2018 chỉ quy định ngắn gọn về nguyên tắc về nội dung, hình thức, trách nhiệm thực hiện công khai, minh bạch; về trách nhiệm giải trình, báo cáo công tác PCTN và tiêu chí đánh giá về công tác PCTN.

, Luật quy định về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Đây là nội dung hoàn toàn mới so với luật 2005. Quy định này nhằm nhấn mạnh và đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước trong phòng, chống tham nhũng. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp phòng ngừa tham nhũng; kịp thời phát hiện, phản ánh và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý tham nhũng xảy ra trong doanh nghiệp, tổ chức mình theo quy định của pháp luật và điều lệ, quy chế, quy định của doanh nghiệp, tổ chức; kịp thời cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng của người có chức vụ, quyền hạn và phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ngăn chặn, xử lý tham nhũng. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước có trách nhiệm xây dựng Quy tắc đạo đức nghề nghiệp, quy tắc đạo đức kinh doanh, quy tắc ứng xử, cơ chế kiểm soát nội bộ nhằm phòng ngừa tham nhũng.

, về thực hiện quy tắc ứng xử của người có chức vụ, quyền hạn. Luật bổ sung quy định về kiểm soát lợi ích. Theo đó, người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nếu biết hoặc buộc phải biết nhiệm vụ, công vụ được giao có xung đột lợi ích thì phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, xử lý. Cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân khi phát hiện có xung đột lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn thì phải thông tin, báo cáo cho người trực tiếp quản lý, sử dụng người đó để xem xét, xử lý; khi phát hiện có xung đột lợi ích và nếu thấy việc tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, công vụ không bảo đảm tính đúng đắn, khách quan, trung thực thì phải xem xét, áp dụng một trong các biện pháp: giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; đình chỉ, tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao của người có xung đột lợi ích; tạm thời chuyển người có xung đột lợi ích sang vị trí công tác khác.

Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Đây là nội dung hoàn toàn mới. Luật quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong kiểm soát tài sản, thu nhập; về kê khai tài sản, thu nhập, xác minh tài sản, thu nhập; về cơ sở dữ liệu về tài sản, thu nhập.

, về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, Luật quy định thành một chương riêng và nhấn mạnh về chế tài xử lý: khi để xảy ra tham nhũng của người do mình trực tiếp quản lý, giao nhiệm vụ thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm trực tiếp khi để xảy ra tham nhũng trong lĩnh vực công tác và trong đơn vị do mình được giao trực tiếp phụ trách; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới.

,Xử lý tham nhũng và các hành vi khác vi phạm pháp luật về PCTN luật đã quy định rõ ràng, cụ thể hơn với các nội dung:

– Nguyên tắc về việc xử lý tham nhũng: Người có hành vi tham nhũng giữ bất kì chức vụ, vị trí công tác nào đều phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật, kể cả người đã nghỉ hưu, thôi việc, chuyển công tác.

Người có hành vi tham nhũng quy định tại Điều 2 của Luật PCTN thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, phải bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Trường hợp người có hành vi tham nhũng bị xử lý kỷ luật là người đứng đầu hoặc cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thì bị xem xét tăng hình thức kỷ luật.

Người có hành vi tham nhũng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, tích cực hợp tác với cơ quan có thẩm quyền, góp phần hạn chế thiệt hại, tự giác nộp lại tài sản tham nhũng, khắc phục hậu quả của hành vi tham nhũng thì được xem xét giảm hình thức kỷ luật, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Người bị kết án về tội phạm tham nhũng là cán bộ, công chức, viên chức mà bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì đương nhiên bị buộc thôi việc đối với đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

Xử lý tài sản tham nhũng: Tài sản tham nhũng phải được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc tịch thu theo quy định của pháp luật. Thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra phải được khắc phục; người có hành vi tham nhũng gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

– Ngoài việc xử lý hành vi tham nhũng, luật còn quy định Xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị gồm: Vi phạm quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; vi phạm quy định về định mức, tiêu chuẩn, chế độ; vi phạm quy định về quy tắc ứng xử; vi phạm quy định về xung đột lợi ích; vi phạm quy định về chuyển đổi vị trí công tác của người có chức vụ, quyền hạn; vi phạm quy định về nghĩa vụ báo cáo về hành vi tham nhũng và xử lý báo cáo về hành vi tham nhũng; vi phạm quy định về nghĩa vụ trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm; vi phạm quy định về thời hạn kê khai tài sản, thu nhập hoặc vi phạm quy định khác về kiểm soát tài sản, thu nhập.

Xử lý hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng trong doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước. Doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước là công ty đại chúng, tổ chức tín dụng và tổ chức xã hội do Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Nội vụ hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập hoặc phê duyệt điều lệ có huy động các khoản đóng góp của Nhân dân để hoạt động từ thiện vi phạm quy định tại Điều 80 của Luật (vi phạm Nguyên tắc công khai, minh bạch, nội dung công khai, minh bạch, hình thức công khai, trách nhiệm thực hiện việc công khai, minh bạch, Kiểm soát xung đột lợi ích, Trách nhiệm, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu).

Pháp Luật Về Phòng Chống Tham Nhũng Trong Lĩnh Vực Giáo Dục Phổ Thông Thực Trạng Và Giải Pháp / 2023

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠKHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬTKHÓA 37 (2011-2015)Đề tài:

PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG CHỐNG THAMNHŨNG TRONG LĨNH VỰC GIÁO DỤC PHỔTHÔNG – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Giảng viên hướng dẫn:Ths. DIỆP THÀNH NGUYÊNBộ môn Luật Hành Chính

Sinh viên thực hiện:TRẦN ĐỨC THỌMSSV: 5115756Lớp: Luật Hành Chính – K37

Cần Thơ, 12/2014

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp

MỤC LỤCMỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………. 11. Lý do chọn đề tài ………………………………………………………………………………………… 12. Phạm vi nghiên cứu …………………………………………………………………………………….. 23. Mục tiêu nghiên cứu ……………………………………………………………………………………. 24. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………………………… 25. Cấu trúc luận văn………………………………………………………………………………………… 2

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp2.1.3. Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông …………………….. 342.2. Các chủ thể tham gia phòng chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục phổ thông………………………………………………………………………………………………………………….. 382.2.1. Đối với phụ huynh học sinh ………………………………………………………………… 382.2.2. Đối với học sinh ……………………………………………………………………………….. 392.2.3. Đối với xã hội ………………………………………………………………………………….. 392.2.4. Đối với nhà nước ……………………………………………………………………………… 402.2.5. Đối với giáo viên ………………………………………………………………………………. 412.3. Xử lý người có hành vi tham nhũng và tài sản tham nhũng trong lĩnh vực giáo dụcphổ thông ……………………………………………………………………………………………………. 412.3.1. Xử lý người có hành vi tham nhũng trong giáo dục phổ thông………………….. 422.3.2. Xử lý tài sản tham nhũng trong giáo dục phổ thông ……………………………….. 422.4. Tổ chức, trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức về phòng chốngtham nhũng trong giáo dục phổ thông ………………………………………………………………. 432.4.1. Về trách nhiệm và sự phối hợp giữa các cơ quan trong công tác phòng, chốngtham nhũng trong giáo dục phổ thông…………………………………………………………… 432.4.2. Các cơ chế và tổ chức có tính chất chuyên trách trong đấu tranh phòng chốngtham nhũng trong giáo dục phổ thông…………………………………………………………… 45

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP VỀ CÔNG TÁC PHÒNGCHỐNG THAM NHŨNG TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG ………………… 473.1. Thực trạng về công tác phòng, chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông ……. 473.2. Các dạng sai phạm và những sơ hở trong cơ chế, chính sách trong lĩnh vực giáodục phổ thông được phát hiện qua các cuộc thanh tra trong những năm gần đây …….. 503.3. Các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục đã được phát hiện và xử lý từ năm2006 đến 2010. …………………………………………………………………………………………….. 553.4. Một số hạn chế, tồn tại trong công tác phòng chống tham nhũng trong giáo dụcphổ thông ……………………………………………………………………………………………………. 583.5. Nguyên nhân của các tồn tại hạn chế …………………………………………………………. 593.6. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng trong lĩnhvực giáo dục phổ thông …………………………………………………………………………………. 593.7. Một số kiến nghị cụ thể về phòng chống tham nhũng trong giáo dục phổ thông… 60

KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………………………. 64DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢOGVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 1

SVTH: Trần Đức Thọ

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 2

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp

CHƯƠNG 1MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNGTRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG1.1. Sơ lược chung về lịch sử1.1.1. Lịch sử hình thành nền giáo dục Việt NamGiáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng tám năm 1945Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xâydựng nhà nước phong kiến do nhà nước chỉ đạo được hình thành và phát triển qua 10 thếkỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy học, thi hành chế độkhoa cử. Các triều đại thường chú trọng về việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô,đặt các giáo chức ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành. Tại các trường lớp tư gia, docác ông đồ ngồi dạy trẻ. Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là nhữngnhà nho, các nhà khoa bảng.Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lấyTứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa. Các triều đại Lí, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các nhàkhoa thi (thi hương, thi hội, thi đình, hay thi tiến sĩ) về cơ bản giống nhau. Từ năm 1075,nhà Lý mở khoa thi và hơn 2900 người đỗ từ tiến sĩ đến trạng nguyên.Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiềuthế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thốngquan chức quản lý nhà nước và xã hội. Nền giáo dục ấy đã tạo nên nhiều bác học, nhàvăn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai tròquan trọng việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục phong kiếncoi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tuynhiên, ý thức tôn cổ của nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự pháttriển của xã hội; phương pháp học khuôn sào, giáo điều, nặng về chương trình cũ, lýthuyết suông, chạy theo hư danh là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến ViệtNam.Cuối thế kỷ XIX, thực dân pháp xâm chiếm nước ta. Nền giáo dục phong kiếnViệt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ hán thay thế bằng chữ quốc ngữ và chữ pháp. Từ nộidung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thayđổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học phổ thông đến

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 3

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápcác trường chuyên nghiệp, đại học dần dần được hình thành, thay thế các trường lớp cảnền giáo dục phong kiến.Thực dân pháp coi nền giáo dục phong kiến là công cụ quan trọng để chinh phụcthuộc địa. Chúng mở các trường nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị, cáccơ sở kinh doanh, số trường học ít và số người đi học ngày càng ít hơn. Trong khoảng từnăm 1931 đến năm 1940, cứ 100 người dân chưa được 3 người đi học và hầu hết là họcbậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một sinh viên (cao đẳng, đại học). Mặc dùđã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh vi, gian xảo nhưngthực dân pháp vẫn không đạt được kết quả mong muốn. Phần lớn những người Việt Namđược Pháp đào tạo vẫn có ý thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nước chốngPháp, trở thành chiến sĩ cách mạng và Đảng viên cộng sản.Giáo dục Việt Nam từ cách mạng tháng tám năm 1945 đến nayGiai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ. Giáo dục phục vụkháng chiến và kiến quốc (1945-1954)Từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, nền giáo dục mới được hìnhthành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục pháp thuộc, nền giáo dục mới được tiếnhành trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu cao cả là: Tôn trọngnhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng, đề cao tinh thần khoa học, học tập vàgiảng dạy bằng tiếng việt từ các trường phổ thông đến đại học.Trong phiên hợp đầu tiên sau ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát độngchiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nước. Các lớp học bình dân được mở ở khắp nơi.Sau một năm cả nước có gần 75.000 lớp học bình dân, trên 95.000 giáo viên và 2,5 triệungười thoát nạn mù chữ.Từ tháng 9/1945, cả nước cùng khai giảng năm học mới. Nhân ngày khai giảng,Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, trong đó Người chỉ rõ: “Non sông ViệtNam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang đểsánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là một phần lớn ở công học tậpcủa các em”.Khi thực dân pháp quay lại xâm lược chiếm nước ta một lần nữa, cuộc khángchiến toàn quốc bùng nổ. Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khuan toàn. Phong trào xóa mù chữ vẫn được duy trì. Được công nhận đạt tiêu chuẩn xóa nạnmù chữ.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 4

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápNăm 1950, Trung ương đảng và Chính phủ quyết định tiến hành cải cách giáodục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoahọc, đại chúng. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thựctiễn. Đến năm học 1953-1954, ở vùng giải phóng đã có 3673 trường cấp I, 397 trườngcấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 4 trường đại học.Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miềnBắc và thống nhất đất nước (1954-1975).Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiếnchuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xãhội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quátrình xây dựng nền giáo dục xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo dục mới này được tiến hànhkhông chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Nội dunggiáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: Đức, trí, thể, mỹ. Phương châm giáodục là liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội.Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáodục vừa tiến hành sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, cácngành học. Có thể nói, ngành giáo dục của nước ta trong thời kỳ này đã giữ vững đượcquy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tích lớn.Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổimới giáo dục Việt Nam.Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáodục là xây dựng một nền giáo dục thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Giáo dụcmiền Nam, được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc, nhanh chóng khôi phục vàhoạt động trở lại hoạt động bình thường. Ðến năm 1976, việc đào tạo sau đại học đượctriển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học đượcquyết định là cơ sở sau đại học.Tháng 01/1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai. Hệ thống giáo dụcmười hai năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc. Các bộ sách giáo khoa mới theotinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học1981- 1982. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệpở trung ương và địa phương được cải cách, từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chươngtrình, phương pháp giảng dạy.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 5

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápTuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế – xã hội nói chung và bản thân ngànhgiáo dục nói riêng đã tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của ngành, làm cho hệthống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đãxây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990). Sau 3 nămđổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thuđược những kết quả đáng khích lệ.Năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập giáo dụctiểu học. Trước đó, Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và xóa mù chữ làchương trình mục tiêu quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2000, tất cả các tỉnh, thành trongcả nước đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ.Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về “tiếp tụcđổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nêu lên 4 quan điểm chỉ đạo pháttriển giáo dục và đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với khoa họccông nghệ được xem là quốc sách hàng đầu. Tháng 12/1996, Hội nghị lần thứ hai Banchấp hành Trung ương Ðảng khoá VIII tiếp tục ra Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đàotạo. Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua Luật Giáo dục,tháng 12/1998.Trong những năm cuối thập kỷ XX, Giáo dục và Ðào tạo Việt Nam đã đạt đượcnhiều thành tựu lớn. Quy mô giáo dục và đào tạo tăng nhanh. Tính đến tháng 8/1999, cóhơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành và 90% quận, huyện đạtchuẩn quốc gia về xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh đang tiến tới phổcập trung học cơ sở. Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tíchcực. Trên 100 trường dân tộc nội trú đã được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho conem các dân tộc theo học. Ðội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olimpic quốctế đem lại niềm tự hào cho dân tộc Việt Nam. Hơn 25 năm qua, năm nào học sinh ViệtNam cũng mang về cho đất nước nhiều huy chương và nhiều giải cao trong các kỳ thiOlimpic về toán, vật lý, hóa học, sinh học, tin học, ngoại ngữ.Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản Việt Nam nhân dânViệt Nam đã xây dựng một nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, có tính nhân dân, tính dân tộc,khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.Ðây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụsự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.1

1

Giáo dục Việt Nam trước cách mạng tháng tám, http://tailieu.vn/doc/giao-duc-viet-nam-truoc-cach-mang-thangtam-nam-1945-484553.html, [truy cập ngày 20/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 6

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải pháp1.1.2. Sự hình thành và phát triển của những quy định về phòng chống thamnhũngTham nhũng là một hiện tượng xã hội, mang tính lịch sử đang hiện diện ở tất cảcác quốc gia trên thế giới, tuy ở các cấp độ khác nhau nhưng đang tác động không nhỏđến sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, nó làm nghèo hóa đất nước, chính vì vậy,chống tham nhũng không chỉ là một mối quan tâm của mỗi quốc gia riêng biệt mà nó làmang tính toàn cầu.Chủ trương, chính sách chống tham nhũng của Chính phủ là vấn đề có nội dungphong phú, vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể, nhưng cũng có tính lịch sử củanó, thể hiện những quan điểm, chủ trương, chính sách đấu tranh phòng chống tệ nạn thamnhũng của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước.Về phía Đảng Cộng Sản Việt NamNgay từ rất sớm, chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thể hiệnquan điểm, chủ trương đúng đắn, nhất quán của mình đối với tệ tham nhũng. Trong “thưgửi các đồng chí Bắc Bộ” (1947) và “sửa đổi lề lối làm việc” (1948) Bác đã nói “tệ thamnhũng đặc biệt nguy hiểm vì nó không mang gươm, mang súng mà nó nằm trong tổ chứccủa Đảng ta để làm hõng công việc của ta”.Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định tệ tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đedọa sự sống còn của sự nghiệp cách mạng làm cho bộ máy Đảng, Nhà nước bị suy yếu,lòng tin của nhân dân đối với Đảng bị xói mòn. Vì thế, đã đề ra phương hướng, quyếtsách phòng, chống tham nhũng.Đó là Chỉ thị số 15/CT-TW ngày 20/11/1992 về một số biện pháp ngăn chặn,đẩy lùi tham nhũng.Nghị quyết số 14/NQ-TW ngày 15/5/1996 về quan điểm chỉ đạo và một số giảipháp để đấu tranh chống tham nhũng.Chỉ thị số 10/CT/-TW ngày 04/01/1997 về một số việc cần làm để tăng cườnghơn nửa công tác đấu tranh chống tham nhũng.Nghị quyết số 06/NQ-TW (hội nghị lần 2) và kết luận số 04/KL-TW ngày19/11/2001 của Hội nghị Ban chấp hành Trương ương khóa IX Đảng Cộng Sản ViệtNam về tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùitham nhũng.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 7

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápSau đó, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tiếp tụcban hành Nghị quyết số 04/NQ-TW ngày 21/8/2006 về tăng cường lãnh đạo của Đảngđối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục xác định các biện pháp đấutranh ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng càng thể hiện rõ quyết tâm phòng, chống thamnhũng của Đảng ta.Về phía Nhà nướcCụ thể hóa các chủ trương của Đảng nêu trên, Nhà nước (Quốc hội, Chủ tịchnước, Chính phủ) đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật về phòng, chống tham nhũngnhư: Quyết định số 240/QĐ-HĐBT ngày 26/6/1990 của Hội đồng Bộ Trưởng về đấutranh chống tham nhũng.Pháp lệnh số 03/1998/PL-UBTVQH ngày 26/04/1998 của Ủy Ban Thường VụQuốc Hội về “chống tham nhũng” được sửa đổi, bổ sung ngày 28/04/2000.Nghị định số 64/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của Chính phủ quy định chi tiết,hướng dẫn thi hành Pháp lệnh chống tham nhũng 1998.Bộ luật hình sự 1985 sửa đổi, bổ sung qua các năm 1989, 1991, 1992, 1997 quyđịnh cụ thể về tội Tham nhũng.Việt Nam đã ký kết Công ước quốc tế năm 2003 về chống tham nhũng vào ngày10/12/2003 và ký phê chuẩn vào tháng 6/2009 chính thức trở thành viên của công uớc.Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung 2009; và còn nhiều văn bản pháp lý có liênquan khác được ban hành càng thể hiện rõ hơn quan điểm chủ trương của Đảng và Nhànước ta đối với vấn nạn tham nhũng và quyết tâm đẩy lùi tiêu cực, đẩy lùi tham nhũngxây dựng Nhà nước Việt Nam trong sạch vững mạnh.Trong thời gian gần đây là Luật phòng chống tham nhũng năm 2005 sửa đổi, bổsung 2007, 2012.Nghị định số 59/2013/NĐ-CP ngày 17/06/2013 của Chính Phủ quy định chi tiếtvà hướng dẫn thi hành một số điều của Luật phòng, chống tham nhũng.1.2. Đặc trưng của tham nhũngChủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực côngNgười có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơquan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống chính trị, nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức,đơn vị có sử dụng ngân sách nhà nước, vốn, tài sản nhà nước.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 8

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápNgười có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan,quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân độinhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật trong cơquan, đơn vị thuộc công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phầngóp vốn của Nhà nước tạo doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụcó quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.2Nhìn chung nhóm đối tượng này có đặc trưng đặc thù so với các nhóm đối tượngkhác như: Họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiềukinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khácnhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tính xã hội nhất định và thậm chí có thểmạnh về kinh tế. Những đặc trưng này của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu tốgây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng.Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ quyền hạn giaoLợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng. Khithực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng chức vụ, quyền hạn của mìnhnhư một phương tiện mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc cho người khác.Đây là yếu tố cơ bản xác định hành vi tham nhũng. Một người có chức vụ, quyền hạnnhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng. Tuynhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ,quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng. Ở đây có sự giao thoa giữa hành vinày với hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng vớicác hành vi vi phạm pháp luật khác.Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợiHành vi tham nhũng là hành vi cố ý. Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi.Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì không là hành vi tham nhũng. Vụ lợi ở đâyđược hiểu là lợi ích vật chất, hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ quyền hạn đã đạtđược hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng. Như vậy, khi xử lý về hành vitham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích.Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguyhiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chấthiện nay trong cơ chế thị trường thể hiện ở nhiều dạng khác nhau, nếu chỉ căn cứ vàonhững tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được

2

Khoản 3, điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi, bổ sung năm 2007.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 9

SVTH: Trần Đức Thọ

Tài liệu bồi dưỡng về phòng chống tham nhũng, dành cho giáo viên các trường trung học phổ thông,http://thanhtra.gov.vn/ct137/Lists/LTaiLieu/View_Detail.aspx?CatID=-1&ItemId=21&LVC=2&CapChaId=2, [truycập ngày 20/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 10

SVTH: Trần Đức Thọ

Trang 11

SVTH: Trần Đức Thọ

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 12

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápSự liên kết trong tham nhũng giữa cả thủ phạm và nạn nhân làm cho công tácchống tham nhũng trong ngành giáo dục trở nên khó khăn. Các hiện tượng và hành vitham nhũng ngày càng lan rộng, bởi vì trong hầu hết các trường hợp, tham nhũng làm lợicho cả thủ phạm lẫn nạn nhân. Ví dụ không thể phủ nhận rằng cơ chế “giá thị trường”cho việc chạy trường, chạy lớp, chạy điểm cao có lợi cho phụ huynh học sinh, nhữngngười luôn mong muốn các em họ được vào học ở các trường có chất lượng tốt, có danhtiếng, được các giáo viên tài giỏi dạy dỗ, và điều quan trọng nhất là học tập tốt ở trường.Điều này cũng lý giải tại sao các nhà quản lý giáo dục và giáo viên lại chú trọngquá nhiều tới kết quả học tập của trường và lớp. Những chỉ số đánh giá kết quả học tập làđộng lực để phụ huynh học sinh tặng nhiều quà cáp hơn cho giáo viên và hiệu trưởng từđó giúp con em họ thành công. Kết quả là các nhà quản lý giáo dục và giáo viên có xuhướng nghĩ rằng giúp học sinh bằng cách nâng điểm nhằm làm vui lòng cha mẹ. Chính vìvậy mới có tình huống hai bên cùng có lợi. Tương tự như vậy, các hiện tượng khôngminh bạch và chạy chọt để có được các dự án đầu tư cơ bản không chỉ có lợi cho cá nhânnhững người tham nhũng (các quan chức có thẩm quyền) mà còn có lợi cho các trườnghọc được nhận dự án đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và cuối cùng là phụ huynh họcsinh.Thiếu văn hóa chống tham nhũngRõ ràng có tâm lý sợ hãi và e ngại trong xã hội khi phát hiện và tố cáo thamnhũng nói chung và tham nhũng trong giáo dục nói riêng. Nếu chuyện sống và chết nằmtrong tay ngành y thì tương lai trẻ em nằm trong tay ngành giáo dục. Có sự chấp nhậntham nhũng rộng rãi trong xã hội, thậm chí là sự nhẫn nhịn. Nhiều phụ huynh tin rằngthường xuyên biếu quà giáo viên sẽ có ảnh hưởng tốt tới kết quả học tập ở trường của conem học. Tuy nhiên hầu hết phụ huynh học sinh lại không coi đây là tham nhũng, mà nhìnnhận như một cử chỉ bình thường thể hiện lòng tôn trọng đúng mức của họ. Tuy nhiên, cómột ranh giới không rõ ràng giữa tặng quà để thể hiện sự kính trọng giáo viên với việcbày tỏ thông điệp “xin hảy giúp đỡ và chú trọng đặc biệt tới con cái tôi” (và sẽ thêmnhiều quà tặng đắt tiền hơn). Thông điệp này là một sự gợi ý tham gia vào hành vi thamnhũng. Mặc dù ý nghĩa của quà tặng có thể được giải mã bởi chính tính chất của món quàđó, giá trị và hoàn cảnh mà quà được tặng cho giáo viên, song vẫn rất khó có thể phânbiệt một cách rõ ràng giữa văn hóa tặng cho quà với văn hóa tham nhũng. Điều rõ ràng ởđây là văn hóa tặng quà có thể dễ dàng được sử dụng làm cái cớ cho cha mẹ học sinh vàgiáo viên lấy lòng nhau và tham gia vào hành vi tham nhũng mà xem nhẹ nhận thức vềhành vi này.

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 13

SVTH: Trần Đức Thọ

Lê phương, 9 hình thức tham nhũng trong giáo dục, http://vtc.vn/309-169308/chuyen-vu-an/9-hinh-thuc-thamnhung-trong-giao-duc.htm, [truy cập ngày 25/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 14

SVTH: Trần Đức Thọ

Pháp luật về phòng chống tham nhũng tronglĩnh vực giáo dục phổ thông – Thực trạng và giải phápMỹ để đưa một học sinh vào trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn – Thành Phố HồChí Minh; năm 2010, báo chí đưa rất nhiều tin bài về việc trong cả năm qua, lãnh đạo cáccấp ở Thành Phố Hải Phòng đã vi phạm luật giáo dục và quy chế tuyển sinh của Bộ Giáodục và Đào tạo, mỗi năm cho hàng trăm học sinh thi trượt vào học Trung học phổ thông.Hay về lạm thu.Còn theo cảm nhận của công chúng và của xã hội thì có những hình thức thamnhũng trong giáo dục chủ yếu ở Việt Nam sau đây:Tham nhũng trong các dự án đầu tư côngTham nhũng trong các dự án đầu tư công được cảm nhận tồn tại trên quy mô lớn,không chỉ trong giáo dục mà cả trong các lĩnh vực khác. Tuy nhiên rất khó có thể thunhập những chứng cứ cụ thể. Ví dụ theo Nghiên cứu Chẩn đoán năm 2005 của Ban Nộichính Trung ương, khi các cơ chế theo dõi và giám sát không hiệu quả, lĩnh vực đầu tưxây dựng cơ bản được xác định là có mức tham nhũng cao nhất.5 Gần đây báo chí vàngười dân đều nói đến một trường hợp trong đó trường học và các lớp học được xâydựng từ nguồn vốn của một dự án xây dựng trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viênnhưng không đảm bảo yêu cầu về chất lượng và tiêu chuẩn, và đã xuống cấp nghiêmtrọng ngay sau khi được đưa vào sử dụng. Chính phủ đã có kế hoạch cam kết dành 24,9nghìn tỷ đồng (tương đương khoản 1.3 tỉ USD) cho dự án này trong giao đoạn 2008 –2012, với mục tiêu xây dựng các trường học chất lượng cao trên phạm vi cả nước. Nếutham nhũng xảy ra dù chỉ ở cấp độ quản lý nhỏ nhất, tức là trong từng dự án, thì mộtlượng tiền ngân sách khổng lồ có thể bị thất thoát từ dự án này.Theo những quy định hiện hành, việc đề nghị xây dựng các dự án đầu tư cơ sở hạtầng lấy vốn từ ngân sách nhà nước dành cho các trường học thường phải qua một quytrình tương đối mất thời gian. Trước tiên các trường học phải có tờ trình cho cơ quan cóthẩm quyền (Sở Giáo dục và Đào tạo) để đưa dự án vào đề xuất đầu tư của địa phương.Những đề xuất này sau đó phải được Sở Kế hoạch và Đầu tư và ủy ban nhân dân phêduyệt và ra quyết định cuối cùng về việc đầu tư. Vì đầu tư từ ngân sách nhà nước hạnhẹp, trong khi các trường lại thường không đáp ứng được các yêu cầu đầu tư, nên họthường phải “chạy chọt” các cơ quan có thẩm quyền để phê duyệt dự án. Ngoài ra, thamnhũng trong đấu thầu và xây dựng cơ bản của các trường còn có thể xảy ra thông qua cácbáo cáo gian lận về khối lượng và chất lượng xây dựng nhằm rút ruột ngân sách nhànước. Những hình thức tham nhũng này cộng với cơ chế quản lý lỏng lẻo và yếu kém cóthể là nguyên nhân chính khiến cho công trình xây dựng không đáp ứng được yêu cầu và5

Nghiên cứu của Ban nội chính Trung ương (2005).

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 15

SVTH: Trần Đức Thọ

6

Cầm Văn Kình, Độc quyền xuất bản sách giáo khoa, http://tuoitre.vn/tin/giao-duc/20060723/doc-quyen-xuat-bansach-giao-khoa/151827.html, [truy cập ngày 26/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 16

SVTH: Trần Đức Thọ

Trang 17

SVTH: Trần Đức Thọ

7

Hiệu trưởng ăn chặn: Phụ huynh than, giáo viên khóc, http://www.baomoi.com/Hieu-truong-an-chan-Phu-huynhthan-giao-vien-khoc/59/4060697.epi, [truy cập ngày 27/8/2014].

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 18

SVTH: Trần Đức Thọ

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 19

SVTH: Trần Đức Thọ

GVHD: Ths. Diệp Thành Nguyên

Trang 20

SVTH: Trần Đức Thọ

Bạn đang xem bài viết Phổ Biến Luật Phòng, Chống Tham Nhũng Năm 2022 Trong Cand / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!