Xem Nhiều 2/2023 #️ Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Toàn cảnh hội thảo

Nhằm nâng cao nhận thức cho các cán bộ và nhân viên trong việc phát hiện, điều tra, phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, VPBank là ngân hàng đầu tiên phối hợp với Phòng An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PA05) – Công an Thành phố Hà Nội tổ chức Hội thảo cung cấp những thông tin về phòng chống tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, Tại Hội thảo, đại diện PA05 đã có những chia sẻ hữu ích, thiết thực về cách nhận diện phương thức, thủ đoạn phạm tội của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, việc các tổ chức tín dụng cần làm khi phát hiện dấu hiệu tội phạm công nghệ cao.

Cụ thể, trong năm 2020 vừa qua, có 5 phương thức phạm tội cơ bản của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng, gồm: Trộm cắp dữ liệu của ngân hàng, thông tin tài khoản khách hàng, thông tin thẻ tín dụng; Thủ đoạn phishing câu nhử, lấy cắp thông tin tài khoản; Lợi dụng kẽ hở trong quy trình, lỗ hổng bảo mật để chiếm quyền quản trị hệ thống; Tấn công vào cơ sở dữ liệu, chiếm quyền điều khiển hệ thống để chiếm đoạt tiền của tổ chức tín dụng; Sử dụng tài khoản, thẻ ngân hàng, thẻ cào trong quá trình thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

Trong 5 phương thức trên, phương thức được đánh giá phổ biến nhất là trộm cắp dữ liệu của ngân hàng, thông tin tài khoản khách hàng, thông tin thẻ tín dụng. Phương thức này được thực hiện thông qua việc lắp đặt thiết bị đánh cắp thông tin thẻ và mật khẩu tại máy ATM (skimming), lấy cắp/mua thông tin thẻ tín dụng, làm thẻ giả rồi sử dụng trái phép để thanh toán dịch vụ nhà hàng, khách sạn, các dịch vụ trên mạng internet, thậm chí lấy cắp tài khoản, mật khẩu truy cập hệ thống kế toán để chiếm đoạt tiền của khách hàng…

Đại diện VPBank chia sẻ tại hội thảo

“Với phương thức này, PA05 khuyến cáo các ngân hàng cần thường xuyên giám sát hoạt động của máy ATM để sớm phát hiện thiết bị skimming, đồng thời khuyến cáo khách hàng lưu ý che tay khi nhập mã pịn giao dịch trên máy ATM, không trao thẻ tín dụng cho người khác quẹt hộ, không đăng ký thông tin trên các trang web có độ tin tưởng thấp…”, đại diện PA05 chia sẻ.

Phương thức phổ biến tiếp theo mà thời gian gần đây đang nổi lên rất nhiều vụ việc điển hình là hành vi thực hiện câu nhử (phishing). Đây là phương thức chủ yếu đánh vào lòng tham hoặc sự cả tin của nạn nhân, được tội phạm thực hiện bằng cách tạo dựng tình huống cụ thể: gửi quà tặng, gửi tiền, phong tỏa tài khoản phục vụ điều tra theo yêu cầu của cơ quan công an… sau đó gửi cho nạn nhân một thông báo giả mạo của ngân hàng, yêu cầu truy cập vào đường link (cũng là giả mạo) kèm theo để xác nhận lại tài khoản. Khi nạn nhân thực hiện theo hướng dẫn, các thông tin của chủ tài khoản sẽ bị đối tượng tội phạm sử dụng để đăng nhập vào tài khoản của chủ thẻ (tức là người bị hại) và tiến hành chuyển toàn bộ tiền của nạn nhân sang tài khoản của đối tượng chuẩn bị, để chiếm đoạt.

Với phương thức này, PA05 khuyến cáo các tổ chức tín dụng cần thường xuyên rà soát các website giả mạo, cảnh báo khách hàng về việc không nên đăng nhập vào các website có dấu hiệu nghi vấn, đường link nghi vấn, không cung cấp thông tin tài khoản, thẻ trên các đường link này. Cơ quan công an cũng đề nghị các tổ chức tín dụng thiết lập cảnh báo khi tài khoản của khách hàng đăng nhập từ thiết bị lạ hoặc khi thay đổi phương thức xác thực.

Kết thúc hội thảo, Đại diện Khối Quản trị rủi ro, VPBank nhấn mạnh mục tiêu trong năm 2021, VPBank sẽ tiếp tục đảm bảo an ninh trong lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, của khách hàng, đồng thời tăng cường phối hợp với cơ quan công an trong công tác cung cấp thông tin tài liệu để hỗ trợ xác minh điều tra, thường xuyên trao đổi các dấu hiệu tội phạm nếu có và các biện pháp đảm bảo an ninh mạng, an ninh thông tin.

Nguyên Nhân Và Giải Pháp Phòng Ngừa, Đấu Tranh Chống Tội Phạm Kinh Tế Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng

Một số cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng trình độ năng lực, hiểu biết pháp luật còn bất cập so với yêu cầu, nhiệm vụ. Một số người đã bị thoái hóa biến chất, lợi dụng việc được giao quản lý tài sản của Nhà nước, của tập thể đã dùng các thủ đoạn nghiệp vụ về kế toán, tài chính, cố ý làm trái các quy định của Nhà nước sử dụng cho mục đích cá nhân như xây dựng nhà cửa, buôn bán kinh doanh bất động sản, đánh đề, đánh bạc hoặc cho vay lấy lãi suất cao hơn khi giá cả thị trường thay đổi hoặc đối tượng vay không thanh toán được, bỏ trốn thì cán bộ nhân viên ngân hàng không hoàn trả được vốn cho ngân hàng.

Một số cán bộ thoái hóa khác lại cố ý làm trái các quy định của pháp luật Ngân hàng, không kiểm tra, thẩm định tài sản thế chấp, bỏ qua các nguyên tắc, chế độ quản lý kinh tế tài chính, thủ tục điều kiện thế chấp tài sản, bảo lãnh vay vốn cũng như kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay… thông đồng với đối tượng vay xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh thiếu tính khả thi, nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên nhiều lần hoặc đảo nợ để nhận quà cáp biếu xén, đòi phần trăm số tiền vay được, tạo kẽ hở cho bọn tội phạm lợi dụng chiếm đoạt vốn vay của ngân hàng.

Trong chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quản lý và kinh doanh thiếu sự phối hợp giữa Ngân hàng thương mại Trung ương với chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cụ thể là sự phối kết hợp chưa được thống nhất, xuyên suốt và ăn ý giữa cơ quan quản lý kinh doanh với cơ quan quản lý Nhà nước, đặc biệt là vấn đề quản lý, sử dụng cán bộ cốt cán, chính vì vậy đã tạo kẽ hở cho một số cán bộ thoái hóa biến chất của một số chi nhánh ngân hàng thương mại lợi dụng để lẩn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và ngân hàng ngành dọc cấp trên, dấn sâu vào con đường sai phạm.

Công tác thanh tra, kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các chi nhánh ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc phòng ngừa, ngăn chặn tiêu cực trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng chưa đạt được yêu cầu thực tế đòi hỏi, còn nhiều thiếu sót và kém hiệu quả. Mặc dù qua thanh tra đã phát hiện nhiều vi phạm nhưng không kiên quyết, triệt để và chủ động xử lý trong phạm vi cho phép, rất ít vụ việc được chuyển cho cơ quan công an để điều tra xử lý theo pháp luật đã làm cho tình trạng tái phạm vẫn tiếp tục diễn ra, thậm chí những vi phạm sau thanh tra còn trầm trọng và gây nguy hiểm nhiều hơn.

Cán bộ thanh tra năng lực còn yếu, quan hệ làm việc chưa có quy chế cụ thể, sự phối hợp trong nội bộ chưa chặt chẽ. Sự phối kết hợp giữa thanh tra ngân hàng với thanh tra nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật đang gặp nhiều khó khăn và lúng túng, chưa có sự phối hợp thống nhất đồng bộ.

Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng, theo GS. TS Nguyễn Xuân Yêm, đó là vai trò của Trung tâm phòng ngừa rủi ro của Ngân hàng Nhà nước chưa thực sự phát huy được tác dụng đúng như tên gọi và chức năng nhiệm vụ của nó. Các Ngân hàng thương mại trong quá trình thẩm định, xác minh khách hàng vay (nhất là các doanh nghiệp) chỉ biết tự tìm hiểu, đánh giá về khách hàng thông qua các nguồn tin khác nhau, ít được thông tin cần thiết từ Trung tâm phòng ngừa rủi ro. Nguyên nhân chính của tình trạng này một phần là do các ngân hàng thương mại không cung cấp thông tin cho Trung tâm vì cố giữ độc quyền về khách hàng, mặt khác những thông tin đã được cung cấp đôi khi thiếu chính xác, không cập nhật dẫn đến những rủi ro thất thoát là điều không tránh khỏi.

Các nguyên nhân thuộc về lực lượng Công an và các cơ quan bảo vệ pháp luật

Tội phạm kinh tế xảy ra trong lĩnh vực ngân hàng thời gian qua có một phần trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân, trong đó có lực lượng Cảnh sát kinh tế và An ninh kinh tế.

Trung tướng Nguyễn Xuân Yêm chia sẻ: Thực tế mô hình tổ chức của công tác điều tra tội phạm, trình độ năng lực của một số cán bộ Công an được phân công quản lý địa bàn ngân hàng chưa theo kịp với cơ chế thị trường mở cửa. Nhiều cán bộ công an năng lực còn hạn chế, trình độ nhận thức về pháp luật, nghiệp vụ, ngoại ngữ… chưa cao, cá biệt có trường hợp gây cản trở phiền hà cho hoạt động của ngành ngân hàng hoặc vi phạm các quy định của pháp luật và ngành Công an như lợi dụng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự nhằm mục đích tư lợi.

Việc phân công phân cấp quản lý địa bàn nói chung, trong lĩnh vực Ngân hàng nói riêng giữa lực lượng Cảnh sát kinh tế và an ninh kinh tế từ Trung ương đến địa phương vẫn còn chưa thật khoa học nên ở nhiều nơi, nhiều chỗ còn trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót địa bàn, bỏ lọt tội phạm kinh tế.

Phòng chống tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng: cần nhiều giải pháp đồng bộ

Để phòng ngừa và chống tội phạm kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng, GS. TS Nguyễn Xuân Yêm cho rằng cần đảm bảo thực hiện một cách đồng bộ và hệ thống nhiều giải pháp, trong đó có những giải pháp quan trọng sau đây:

Thứ nhất, rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ tín dụng phù hợp với hành lang pháp lý chung, phù hợp với điều kiện của nền kinh tế thị trường là một trong những biện pháp mang tính phòng ngừa chung, góp phần hạn chế và ngăn chặn tiêu cực, rủi ro trong hoạt động ngân hàng.

Thứ hai, Chính phủ chỉ thị ngành Ngân hàng cùng các ngành chức năng hữu quan cần phải kiên quyết xử lý các tồn đọng cũ về nợ quá hạn, nợ khó đòi, làm lành mạnh hóa tài chính của các ngân hàng thương mại.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với hoạt động tín dụng ngân hàng.

Thứ tư, điều chỉnh cơ cấu phân bổ vốn đầu tư và pháp chế hóa cơ chế đầu tư về phương diện trách nhiệm: Hiện nay trong hệ thống ngân hàng thương mại đang hoạt động mặc dù thực hiện theo cơ chế tự hạch toán kinh doanh nhưng là ngân hàng thương mại XNCH nên các ngân hàng còn phải thực hiện cơ chế phân bổ vốn đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Chính cơ chế phân bổ đã dẫn đến tình trạng cơ quan phân bổ đầu tư sai, ngân hàng cho vay gánh chịu hậu quả vì thất thoát vốn (vốn của ngân hàng) nhưng cơ quan phân bổ đầu tư lại không cùng chịu trách nhiệm. Như vậy, một số hoạt động của ngân hàng thương mại trong cơ chế thị trường vẫn mang tính bao cấp xin – cho.

Thứ sáu, tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng ngân hàng nhằm giảm bớt các sai phạm, khả năng tổn thất, nguy cơ mất khả năng thanh toán, đổ vỡ của hệ thống ngân hàng. Đặc biệt hệ thống kiểm soát nội bộ này phải thật sự độc lập và kìm chế đối trọng với quyền hạn của người đứng đầu ngân hàng và các cổ đông lớn của ngân hàng.

Thứ bảy, hạn chế tình trạng “hình sự hóa và dân sự hóa” các quan hệ kinh tế.

Cơ quan công an cần nâng cao công tác phát hiện điều tra các vụ phạm tội kinh tế trong lĩnh vực ngân hàng (lừa đảo, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng; tham ô, cố ý làm trái; đưa và nhận hối lộ…). Khi phát hiện và tiến hành điều tra các vụ phạm tội kinh tế trong ngân hàng phải hết sức tránh dùng biện pháp công khai như kiểm tra sổ sách hoặc dùng giấy giới thiệu xác minh sẽ bị lộ ý đồ điều tra, đối tượng sẽ tìm cách hợp pháp hóa hồ sơ chứng từ hoặc bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra sau này.

Lan Hương (thực hiện)

Tội Phạm Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Tài Chính, Ngân Hàng Ở Việt Nam Hiện Nay

TS. Đinh Thế Hưng- Ths. Lê Thị Hồng Xuân

Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam

 

Tóm tắt: Hiện nay cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang có tốc độ phát triển rất nhanh chóng về công nghệ, lan rộng trên phạm vi toàn cầu. Nó dần đang phá vỡ cấu trúc của hầu hết các ngành công nghiệp ở mọi quốc gia. Đặc biệt, trong lĩnh vực tài chính, Ngân hàng, cuộc cách mạng công nghệ 4,0 đã và đang mang lại nhiều lợi ích như: Tăng khả năng cung cấp sản phẩm dịch vụ hiện đại cho khách hàng thông qua tài chính số; giúp tiếp cận thông tin, dữ liệu, kết nối, hợp tác; giảm chi phí, tăng năng suất lao động. Tuy nhiên, đi cùng với sự phát triển của công nghệ là việc kéo theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn về các hành vi phạm tội của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực này. Tội phạm sử dụng công nghệ cao tấn công vào lĩnh vực ngân hàng trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng về số lượng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Trước những thách thức đó, việc phát hiện và phòng ngừa tội phạm sử dụng công nghệ cao trở thành vấn đề cấp thiết đối với từng ngân hàng và cả hệ thống. Bài viết tập trung vào làm rõ hơn tình hình tội phạm cũng như thủ đoạn, hành vi phạm tội của tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực này.

Key word: Tội phạm công nghệ cao, tài chính – ngân hàng (High – tech crime, finance and banking)

Currently industrial revolution speed 4.0 are developing very rapidly in technology, spread on a global scale. It is breaking down the structure of most of the industry in every country. In particular, in the fields of finance, banking, technological revolution has brought 4.0 multiple benefits including: Increased ability to provide modern products and services to customers through financial figures; provide access to information, data, connection and cooperation; reduce costs, increase labor productivity. However, with the development of technology is pulling as many potential risk regarding the offence of high technology crime in this area. Criminals using high-tech assault on the world’s banking sector in General and Vietnam in particular tend to increase rapidly the number of complications, and cause more serious consequences. Before the challenge, the detection and prevention of crime use high technologies become urgent issues with respect to each Bank and the system. The article focuses on clarifying the situation of crimes as well as tricks, the offense of the high tech crime in this area.

 

1. Tội phạm công nghệ cao là gì?

Tội phạm công nghệ cao còn có tên gọi khác: tội phạm máy tính, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm ảo, tội phạm không gian ảo, tin tặc. Trên thế giới, tội phạm công nghệ cao đã trải qua nhiều hình thái, từ đơn giản đến phức tạp, từ những cá thể đơn lẻ phát triển thành các tổ chức lớn và hoạt động ngày càng trở nên tinh vi. Sau khi cách mạng công nghiệp 4.0 bùng nổ, tội phạm công nghệ cao có nhiều biến thể đa dạng hơn.

Theo Bộ Luật Hình sự 2015, tội phạm công nghệ cao là “các hành vi nguy hiểm cho xã hội do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa”([1]).

Xét về bản chất thì tội phạm công nghệ thông tin cũng có đầy đủ các tính chất, đặc điểm như mọi tội phạm truyền thống khác, nghĩa là cũng được coi là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, gồm 4 cấu thành cơ bản của một tội phạm (mặt khách thể, mặt khách quan, chủ thể của tội phạm và mặt chủ quan của tội phạm). Điểm khác biệt giữa chúng với tội phạm khác là công nghệ thông tin, máy tính và mạng máy tính có vai trò, mức độ nhất định trong việc thực hiện, che giấu và gây ra những hậu quả tác hại đối với xã hội của hành vi phạm tội([2]). Chúng ta cũng có thể thấy một số dấu hiệu khác biệt khác so với các nhóm tội phạm thông thường như tính không biên giới của loại tội phạm này, tính chất ngày càng tăng về số lượng và hậu quả, tinh vi về cách thức tiến hành cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ thông tin. Nhìn một cách tổng thể, đối với loại tội phạm công nghệ thông tin, chúng ta thấy công nghệ thông tin, máy tính và mạng máy tính đóng một số vai trò quan trọng trong quá trình phạm tội, chúng vừa có thể là khách thể của tội phạm, vừa có thể là công cụ phạm tội lại vừa có thể đóng vai trò như là  chủ thể của tội phạm.

Như vậy, tội phạm sử dụng công nghệ cao là tội phạm sử dụng tri thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện công nghệ ở trình độ cao tác động trái pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số, xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin, có thể gây tổn hại tới quyền và các lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, quốc gia.

2. Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng

Tội phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Tội phạm sử dụng công nghệ cao xảy ra trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế – xã hội, tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và đang lan ra các tỉnh, thành phố khác như: Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên… Ban đầu, đối tượng phạm tội chỉ có một số ít người nước ngoài hoặc Việt kiều nhưng đến nay, loại tội phạm này đã mở rộng đến từ nhiều quốc gia như Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Nga, Anh… Thậm chí, việc người Việt Nam sử dụng công nghệ cao để phạm tội trong lĩnh vực ngân hàng đã gia tăng, đặc biệt, có cả sinh viên có hiểu biết sâu về công nghệ thông tin, một số ít là cán bộ, công chức. Chúng thường tập hợp, liên kết với nhau thông qua các diễn đàn trên mạng internet (còn gọi là underground hay thế giới ngầm) để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội. Vì vậy, thủ đoạn ngày càng tinh vi, kín đáo và có sự thay đổi phương thức liên tục nhằm lẩn tránh sự phát hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Sự liên kết giữa các đối tượng trong và ngoài nước ngày càng thể hiện rõ nét.

Công ty bảo mật mạng của Mỹ Symantec đã công bố báo cáo về mối đe dọa bảo mật Internet vào tháng 4 năm 2017, theo đó báo cáo đã chỉ ra các quốc gia có tỉ lệ tấn công lừa đảo qua phần mềm độc hại, spam và tội phạm sử dụng công nghệ cao lớn nhất. Theo điều tra của Symantec, Việt Nam chiếm 2,16% mối đe dọa toàn cầu trong năm 2016, đứng thứ 10 trong 10 quốc gia có tỷ lệ tội phạm công nghệ cao lớn nhất thế giới. Con số này tăng từ 0,89% trong năm 2015. Cũng theo Symantec, Việt Nam đứng thứ 11 thế giới về các hoạt động đe dọa tấn công mạng. Theo Hiệp hội An toàn thông tin số Việt Nam, mặc dù chỉ số An toàn thông tin của Việt Nam đã cải thiện qua các năm (năm 2012 là 26%; năm 2013 là 37,5%; năm 2015 đạt 46,5%) nhưng vẫn được dự báo là nước có tỷ lệ lây nhiễm phần mềm độc hại, mã độc ở mức cao[1].

Năm 2016, lực lượng công an đã phát hiện, khởi tố điều tra 217 vụ, 493 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao, nhiều hơn 75% số vụ và 129,3% số bị can so với năm 2015. Năm 2017, đã phát hiện, khởi tố điều tra 197 vụ, 359 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao, ít hơn 9,22% số vụ và 27,18% số bị can so với năm 2016. Riêng từ đầu năm 2018 đến nay, đã khởi tố điều tra 117 vụ, 196 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao, giảm 13,97% vụ, tăng 4,26% bị can so với cùng kỳ năm 2017[2].

Đặc biệt, hiện nay tội phạm công nghệ cao liên tục tấn công hệ thống dữ liệu của các ngân hàng nhằm thực hiện những hành vi phạm tội gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng. Trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0 thì ngân hàng số sẽ không còn xa lạ, tuy nhiên đây cũng sẽ là mảnh đất màu mỡ để tội phạm công nghệ cao lợi dụng các kẽ hở để thực hiện hành vi phạm tội với những thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn. Tại Việt Nam, mới chỉ có 40 NHTM cung cấp dịch vụ internet banking, 16 tổ chức cung cấp hơn 2,3 triệu tài khoản ví điện tử, hơn 200 doanh nghiệp được cấp phép trong lĩnh vực thương mại điện tử. Kế hoạch đến năm 2020, Việt Nam sẽ có 95% các ngân hàng triển khai dịch vụ ngân hàng trực tuyến internet banking, mobile banking và 30% ngân hàng sẽ triển khai ngân hàng số, 100% các siêu thị, trung tâm mua sắm và cơ sở phân phối hiện đại có thiết bị chấp nhận thẻ (POS) cho phép thanh toán không dùng tiền mặt; 50% hộ cá nhân và gia đình ở các thành phố lớn sử dụng thanh toán không dùng tiền mặt, toàn thị trường có trên 300.000 POS được lắp đặt…([3]).

Tháng 1/2014, cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an đã đánh sập hai diễn đàn là chúng tôi và bkvfamily.info, quy tụ hàng nghìn hacker câu kết với nhau chuyên trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng, trộm tiền trong tài khoản ngân hàng. Cũng trong tháng 1/2014, công an Hà Nội đã điều tra bắt giữ 2 đối tượng người Trung Quốc liên kết với một công ty tại Việt Nam có lắp đặt máy POS, thực hiện các giao dịch khống bằng thẻ tín dụng giả của ngân hàng các nước chiếm đoạt số tiền gần 5,2 tỷ đồng; Tháng 11/2014, công an chúng tôi đã bắt đối tượng Ivan Slabob Rusev đem theo gần 40 thẻ ATM giả từ Bulgari sang Việt Nam để rút tiền trên địa bàn TP.HCM.

Tháng 1/2015, PC50 Hà Nội phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội, Công an Hà Nội, thực hiện khám xét khẩn cấp tại trụ sở chính của Công ty HGI ở tòa nhà Artex, số 172 Ngọc Khánh, Hà Nội, và Chi nhánh của HGI tại Đà Nẵng ở Tòa nhà Trung tâm Tài chính Dầu khí Đà Nẵng, quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Cơ quan điều tra xác định Công ty HGI được thành lập vào tháng 5/2009 và hoạt động kinh doanh vàng tài khoản từ năm 2009 đến nay. Công ty này tổ chức sàn giao dịch vàng tài khoản trên website chúng tôi sử dụng phần mềm MT4 được mua của đối tác nước ngoài, sử dụng cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư vàng, bạc, dầu và 8 cặp ngoại tệ trên mạng. Theo dữ liệu Cơ quan điều tra thu giữ được, thời điểm bị triệt phá sàn HGI có hơn 3.000 nạn nhân góp vốn kinh doanh, trong đó có khoảng 300 nhà đầu tư có dấu hiệu bị lừa đảo với số tiền 270 tỷ đồng.

Tháng 8-2016, dư luận xôn xao trước vụ việc một khách hàng của ngân hàng Vietcombank thông báo tài khoản ATM của chị này “bỗng dưng” biến mất 500 triệu đồng. Đại diện của ngân hàng VCB cho rằng, có cơ sở để xác định khách đã truy cập vào một trang web giả mạo qua điện thoại cá nhân vào ngày 28-7-2016. Từ việc truy cập này, thông tin và mật khẩu của khách hàng đã bị đánh cắp. Sau đó, tài khoản khách hàng đã bị lợi dụng vào đêm ngày 3 rạng sáng 4-8-2016.

Việc đưa các tiện ích từ sự phát triển công nghệ đã giúp người dân sử dụng các dịch vụ tài chính được tiện lợi và nhanh chóng hơn, nhưng mặt khác nó cũng đem lại nhiều nguy cơ tiềm ẩn trong việc mất an toàn đối với các thông tin cá nhân. Hầu hết các ngân hàng được khảo sát đều thừa nhận (46%) khách hàng của họ thường xuyên bị tấn công bởi lừa đảo,70% ngân hàng cũng báo cáo các sự cố về gian lận tài chính dẫn đến mất tiền([4]). Các trường hợp mất tiền trong tài khoản đã không ít lần xảy ra ở nhiều ngân hàng. Đa phần các vụ việc đều chưa có kết luận rõ ràng về nguyên nhân hay nếu có, thường được kết luận do lộ thông tin cá nhân khách hàng. Điều mà khách hàng quan tâm chính hiện chính là có hay không lỗ hổng trong bảo mật, các thông tin này lộ ra từ đâu, từ thông tin nội bộ ngân hàng bị rò rỉ hay các biện pháp phòng chống tin tặc còn yếu kém. 

3. Các thủ đoạn phạm tội của tội phạm sử dụng công nghệ cao trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay

Theo báo cáo Global Rick 2015 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, thiệt hại do tội phạm mạng gây ra cho nền kinh tế toàn cầu là hơn 445 tỷ USD/năm. Trong khi đó, theo BKAV, thiệt hại do loại tội phạm này gây ra tại Việt Nam là 8.700 tỷ đồng, đặc biệt, chiếm tỷ trọng lớn trong đó là những thiệt hại xảy ra trong những lĩnh vực ngân hàng tài chính. Thủ đoạn phạm tội diễn ra ngày càng phức tạp dưới một số hình thức phổ biến sau:

Thứ nhất, truy cập trái phép vào tài khoản ngân hàng của cá nhân để chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn này được thực hiện bằng việc sử dụng một số phần mềm (tools) để phát hiện lỗi của các website bán hàng qua mạng, ngân hàng thanh toán qua mạng, xâm nhập vào cơ sở dữ liệu lấy quyền quản trị của admin để trộm cắp dữ liệu để lấy địa chỉ email, thông tin khách hàng, thông tin thẻ tín dụng, tài khoảng cá nhân, bằng hình thức phát tán virus, phần mềm gián điệp, mã độc hại với nhiều biến thể qua thư điện tử, đường link website, diễn đàn, mạng xã hội hoặc các phần mềm miễn phí, phần mềm được sử dụng phổ biến để thu thập, trộm cắp, thay đổi, phá hủy trái phép cơ sở dữ liệu; Chiếm quyền điều khiển máy chủ, sau đó thay đổi giao diện của trang web bị tấn công, tạo website giả….

Theo BKAV, năm 2015, Việt Nam có 5.226 website bị hacker xâm nhập và 30% website các ngân hàng Việt Nam có lỗ hổng. Theo Trung tâm Ứng cứu khẩn cấp máy tính Việt Nam, năm 2015 đã phát hiện 5.898 sự cố lừa đảo, 8.850 sự cố thay đổi giao diện, 16.837 sự cố mã độc, ngăn chặn 200 website giả mạo[3].

Thứ ba, phương thức, thủ đoạn chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực thanh toán điện tử và thẻ ngân hàng. Ở dạng tội phạm này, trước hết các đối tượng phạm tội thường dùng mọi cách để có thông tin thẻ ngân hàng. Tội phạm thường sử dụng thiết bị hiện đại gắn vào ATM/POS; cài phần mềm gián điệp, mã độc tấn công ATM và hệ thống thẻ; bẻ khoá hệ thống bảo mật, đánh cắp thông tin của chủ thẻ rồi chế tạo thẻ ngân hàng giả để sử dụng bất hợp pháp dưới thủ đoạn mua bán thẻ ngân hàng giả; rút tiền tại các ATM/POS; thanh toán trực tuyến… Thường số lượng thẻ giả mà đối tượng sử dụng rất lớn và thực hiện rút nhiều lần, mỗi lần rút số tiền nhỏ để tránh bị phát hiện. Điển hình như vụ Stoyanov Yuliyan Georgivev (quốc tịch Bulgaria) sử dụng 144 thẻ ATM giả, thực hiện 388 lần giao dịch rút tiền qua máy ATM; vụ Kuznetcov Stanislav Dmitrievich (quốc tịch Nga) sử dụng 32 thẻ, rút 165 lần… 

Internet mang lại nhiều tiện lợi cho cuộc sống và cung cấp thông tin đa dạng cho người dân nhưng người dùng Internet cũng dễ trở thành nạn nhân của tội phạm lừa đảo.Trong đó, tội phạm công nghệ cao trong ngành Ngân hàng đang ngày càng tinh vi, phức tạp, gây ra nhiều hậu quả nặng nề khi mà hàng lang pháp lý ở nước ta còn nhiều hạn chế và bất cập; các doanh nghiệp còn chủ quan với nhiều lỗ hổng bảo mật khi mà trang thiết bị phòng chống tội phạm công nghệ cao hạn chế, cùng với đó là sự thiếu cảnh hiểu biết cũng như bản tính chủ quan của người dân,… đã và đang là những nguyên nhân để loại tội phạm này ngày càng phát triển.

4. Một số giải pháp nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa tội phạm công nghệ cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng

Hiện nay, các hành vi phạm tội sử dụng công nghệ cao ngày càng tinh vi, đe dọa tới độ an toàn thông tin có thể đến từ nhiều nơi theo nhiều cách. Vì vậy, việc đưa ra các chính sách và phương pháp đề phòng là rất cần thiết.

Trước tình hình trên, để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây: 

Thứ nhất, Việt Nam cần tiếp tục ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể đảm bảo an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Các cơ quan chức năng cần phải liên tục rà soát, nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Pháp luật hình sự cần kịp thời tội phạm hóa những hành vi nguy hiểm mới phát sinh trong xã hội, có tính nguy hiểm cao, uy hiếp an ninh của con người và của xã hội.

Thứ hai, Việt Nam cần phải tiếp tục kiện toàn tổ chức, lực lượng chức năng nhằm phát hiện, đấu tranh phòng chống các tội phạm sử dụng công nghệ cao, thường xuyên bồi dưỡng, bổ sung và nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cùng kiến thức tin học, ngoại ngữ cho các cán bộ, nhất là các cán bộ trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng.

Thứ ba,  triển khai các biện pháp bảo vệ dữ liệu khách hàng và đảm bảo hoạt động liên tục của hệ thống thông tin trong ngân hàng, cụ thể: Nâng cấp công nghệ và các giải pháp an ninh bảo mật cơ bản mà các ngân hàng đang triển khai như tường lửa, hệ thống phát hiện xâm nhập (IPS/IDS), hệ thống phòng chống virus, xác thực đa thành tố đối với giao dịch điện tử, mã hóa dữ liệu đối với các hệ thống quan trọng… để ngăn chặn và cảnh báo, và bảo vệ cho các server, website, cơ sở dữ liệu của ngân hàng.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền khách hàng nâng cao ý thức và trách nhiệm phòng chống tội phạm công nghệ cao; Cảnh báo khách hàng cần cẩn trọng trong việc cung cấp thông tin cá nhân, mật khẩu hoặc số OTP khi thực hiện các giao dịch thanh toán hoặc thực hiện bất kỳ yêu cầu thay đổi thông tin trên mạng xã hội, forum, website, email, điện thoại… Đặc biệt, cần khuyến cáo khách hàng sử dụng các phần mềm có bản quyền; sử dụng mật khẩu có tính bảo mật cao và thường xuyên thay đổi mật khẩu; cài đặt và sử dụng các phần mềm bảo vệ (diệt vi rút) hoặc thiết lập tường lửa (firewall)…

 

[1] http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/giai-phap-phong-chong-toi-pham-cong-nghe-cao-trong-linh-vuc-ngan-hang-o-viet-nam-120076.html. Truy cập ngày 24/10/2018.

[2] http://thoibaotaichinhvietnam.vn/pages/tien-te-bao-hiem/2018-08-13/toi-pham-cong-nghe-cao-trong-linh-vuc-tien-te-gia-tang-60921.aspx. Truy cập ngày 23/10/2018.

[3] http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/giai-phap-phong-chong-toi-pham-cong-nghe-cao-trong-linh-vuc-ngan-hang-o-viet-nam-120076.html. Truy cập ngày 23/10/2018.

[4] http://antg.cand.com.vn/Ho-so-Interpol/Toi-pham-cong-nghe-cao-2016-Lam-nguy-co-nhieu-thach-thuc-423161/. Truy cập ngày 24/10/2018.

 

[1]. Quốc hội (2017), Luật số 12/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13.

[2]. Đặc điểm và các hành vi cơ bản của tội phạm tin học – Nguyễn Mạnh Toàn. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2002.

[3]. Hà Loan (2017), “Ngại chia sẻ thông tin, ngân hàng khó an toàn bảo mật”, 17/8/2017, http://anninhthudo.vn/chinh-tri-xahoi/ngai-chia-se-thong-tin-ngan-hang-kho-an-toan-bao-mat/738308.antd.

[4]. N.A (2017), “Kaspersky: Chỉ 19% ngân hàng quan tâm đến các cuộc tấn công vào máy ATM”, 16/3/2017, https://www. bantincongnghe.xyz/t-106832/kaspersky-chi-19-ngan-hang-quan-tam-den-cac-cuoc-tan-cong-vao-may-atm.html.

 

Nguồn: Tạp chí Tòa án nhân dân số 7 năm 2019

 

 

 

Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Với Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Bối Cảnh Toàn Cầu Hóa

TS. Hồ Thế Hòe – Đại học An ninh nhân dân, TP. Hồ Chí Minh

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển nhanh như vũ bão trên phạm vi toàn cầu kéo theo sự bùng nổ của công nghệ thông tin, viễn thông với hệ quả là số lượng người sử dụng internet và các thiết bị viễn thông ngày một gia tăng nhanh chóng. Trên thế giới, có khoảng 1,8 tỷ người (tương đương khoảng 25% dân số toàn cầu) sử dụng internet. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, đến nay, tại Việt Nam có khoảng gần 30 triệu người sử dụng internet (chiếm 1/3 dân số cả nước, cao hơn nhiều so với mức bình quân của thế giới), 180 nghìn tên miền Việt Nam (.vn) được đăng ký, 115 triệu thuê bao điện thoại di động, 15 triệu thuê bao điện thoại cố định. Công nghệ thông tin, viễn thông trở thành một lĩnh vực mà các đối tượng tập trung khai thác, sử dụng để thực hiện tội phạm. Theo báo cáo của Tổ chức Cảnh sát Hình sự Quốc tế – International Criminal Police Organization (INTERPOL), tội phạm sử dụng công nghệ cao đang trở thành mối nguy hại lớn trên giới với thiệt hại gây ra hàng năm khoảng 400 tỷ đô la Mỹ, cao hơn số tiền mà tội phạm buôn bán ma túy thu được và cứ 14 giây lại xảy ra 01 vụ phạm tội sử dụng công nghệ cao.

Ở Việt Nam tội phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng nhanh chóng, diễn biến phức tạp và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Năm 2011, tội phạm sử dụng công nghệ cao xảy ra trên nhiều lĩnh vực như chính trị, kinh tế – xã hội, tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và đang lan ra các tỉnh, thành phố khác như: Hải Phòng, Đồng Nai, Bình Dương, Phú Yên… Phần lớn đối tượng phạm tội là học sinh, sinh viên có kiến thức và đam mê công nghệ thông tin, một số ít là cán bộ, công chức. Chúng thường tập hợp, liên kết với nhau thông qua các diễn đàn trên mạng internet (còn gọi là underground hay thế giới ngầm) để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội. Vì vậy, thủ đoạn ngày càng tinh vi, kín đáo và có sự thay đổi phương thức liên tục nhằm lẩn tránh sự phát hiện của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Sự liên kết giữa các đối tượng trong và ngoài nước ngày càng thể hiện rõ nét. Tội phạm công nghệ cao diễn ra trên cả lĩnh vực an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, hình ảnh của Việt Nam trong một số lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế và gây thiệt hại lớn cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước.  

1. Khái quát tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao

Ở nước ta tội phạm sử dụng công nghệ cao diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trên lĩnh vực an ninh quốc gia, các thế lực thù địch và phản động quốc tế đã không ngừng tập trung lợi dụng kênh truyền thông qua mạng internet để xuyên tạc, vu khống chống phá các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kêu gọi tập hợp lực lượng nhằm mục đích gây rối, nhất là trước và trong các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, như: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2011-2015, tình hình căng thẳng trên Biển Đông…

Trên lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, năm 2011 tiếp tục được coi là năm “báo động đỏ” của an ninh mạng Việt Nam với rất nhiều vụ tấn công, phá hoại, lây nhiễm virus, phầm mềm gián điệp, mã tin học độc hại…, nhằm vào hệ thống mạng của cơ quan, doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế của Nhà nước với mức độ, tính chất ngày càng nghiêm trọng, làm rối loạn hoạt động của hệ thống và lộ lọt thông tin. Điển hình là vụ hệ thống mạng của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam bị tin tặc liên tiếp tấn công bằng nhiều phương thức khác nhau, làm ngưng trệ hoạt động và xóa sạch toàn bộ dữ liệu website; vụ Công ty Cổ phần Bảo hiểm AAA tại TP. Hồ Chí Minh bị đối tượng tấn công làm tê liệt hệ thống mạng máy tính, mã hóa dữ liệu, đe dọa tống tiền trên 2 triệu đô la Mỹ.

Tình hình lừa đảo trong lĩnh vực thương mại điện tử và thanh toán điện tử gia tăng, dẫn đến tình trạng nhiều nước không chấp nhận giao dịch qua mạng internet có địa chỉ IP xuất phát từ Việt Nam, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín và hình ảnh của Việt Nam trong lĩnh vực thương mại điện tử nói riêng và lĩnh vực kinh tế quốc tế nói chung.

Tình trạng các đối tượng người nước ngoài (Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia và một số quốc gia Châu Phi) nhập cảnh vào Việt Nam sử dụng thiết bị công nghệ cao để lừa đảo, đe dọa tống tiền, làm giả thẻ tín dụng để chiếm đoạt, trộm cắp tài khoản ngân hàng xảy ra tại nhiều địa phương. Năm 2011, cơ quan chức năng đã phát hiện, điều tra 10 vụ, chuyển cơ quan điều tra khởi tố 11 bị can, thu giữ hàng trăm thẻ tín dụng giả do các đối tượng nước ngoài vào Việt Nam hoạt động phạm tội(2).

Điển hình như vụ ngày 6/9/2011, Công an tỉnh Phú Yên phối hợp với Tổng cục An ninh I – Bộ Công an bắt 59 đối tượng người nước ngoài thuê nhà ở TP. Tuy Hòa, Phú Yên để sử dụng các thiết bị công nghệ cao lừa đảo tiền qua mạng. Đối tượng mà bọn chúng hướng đến hầu hết là người Hoa đang sinh sống ở Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan. Trong số 62 đối tượng bị tạm giữ có 59 người Trung Quốc và 3 người Việt

Nam. Kiểm tra tại 4 địa điểm, cơ quan công an đã tạm giữ 108 điện thoại bàn, 18 laptop, 14 điện thoại di động, 13 bộ đàm, 25 cáp nối mạng, 14 cổng mạng, 6 thiết bị thu phát sóng ngoài trời và 4 thiết bị thu phát sóng trong nhà. Sáng 17/10/2011, Công an tỉnh Khánh Hòa phối hợp với Tổng cục An ninh I, Bộ Công an bắt quả tang 24 đối tượng có hành vi sử dụng công nghệ cao để hoạt động lừa đảo, gồm 20 người Trung Quốc (9 nữ), 3 người Đài Loan (Trung Quốc) và 01 người Việt Nam.

Lúc 14 giờ ngày 6/4/2012, Công an TP. Hồ Chí Minh đồng loạt kiểm tra 4 địa điểm (gồm 297 -299 Trịnh Đình Trọng, phường Hòa Thanh, quận Tân Phú; 41 đường số 28, phường Bình Trị Đông B, quận Bình Tân; 44 đường D1, phường Tân Thới Nhất, quận 12; 9A cư xá Bà Điểm, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn), bắt giữ 43 người Trung Quốc và Đài Loan đang lên mạng internet lừa đảo các nạn nhân ở nước ngoài nhằm chiếm đoạt tiền. Thủ đoạn của chúng là liên lạc với nạn nhân ở Thẩm Quyến, Quảng Châu (Trung Quốc), giả danh cảnh sát, Tòa án đang điều tra một đường dây trộm cắp tài khoản của nạn nhân. Sau đó, chúng yêu cầu nạn nhân cung cấp mật mã tài khoản ngân hàng để phục vụ công tác điều tra và ngăn chặn việc rút tiền trong tài khoản của nạn nhân. Khi nạn nhân cung cấp mật mã tài khoản ngân hàng, thì chúng thông báo cho đồng bọn ở Trung Quốc rút tiền của nạn nhân rồi chiếm đoạt. Tại hiện trường, cơ quan công an đã thu giữ 17 máy tính xách tay, 2 máy vi tính để bàn, 24 modem, 109 điện thoại bàn, 35 điện thoại di động, 10 bộ đàm, nhiều kịch bản lừa đảo, tiền Việt Nam, đô la Mỹ, nhân dân tệ cùng nhiều thiết bị viễn thông khác(3).

Bên cạnh đó, tình hình tội phạm sử dụng mạng internet để thực hiện các hành vi phạm tội như: Phát tán văn hóa phẩm đồi trụy, trộm cắp, đánh bạc, cá độ bóng đá, mại dâm, buôn bán trái phép các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ diễn biến phức tạp, là nguyên nhân trực tiếp phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác như giết người, cướp tài sản, hiếp dâm, tình trạng các băng nhóm lưu manh côn đồ chém giết, trả thù, sát hại lẫn nhau.

2. Nguyên nhân của tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tội phạm sử dụng công nghệ cao ở Việt

Nam

có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là:

Về khách quan, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trên thế giới và các nước trong khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Trong khi đó, đặc thù của loại tội phạm này là tính quốc tế và hội nhập nhanh, do đó, đã tác động mạnh đến tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao ở trong nước.

Về chủ quan, công tác quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông, thương mại điện tử, thanh toán điện tử và quản lý, vận hành các hệ thống máy tính của nhiều cơ quan, doanh nghiệp và cá nhân tại Việt Nam còn nhiều sơ hở, phần lớn chưa được bảo mật tốt. Hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao chưa đầy đủ và chưa theo kịp diễn biến tình hình thực tế. Lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao còn chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng. Đến nay, lực lượng này mới chỉ được thành lập ở Bộ Công an và Công an ở 3 địa phương là Hà Nội, Cần Thơ và Đồng Nai. Các địa phương còn lại chưa có đầu mối chuyên trách cho công tác này. Đội ngũ cán bộ cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đa số còn trẻ, chưa được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thực tế. Trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng vẫn còn thiếu, lạc hậu chưa theo kịp sự thay đổi liên tục của lĩnh vực công nghệ cao dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong triển khai các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện, thu thập, bảo quản tài liệu, chứng cứ.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao

Tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với thủ đoạn đa dạng, xảy ra trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước. Các thế lực thù địch và bọn phản động sẽ tiếp tục lợi dụng internet để tuyên truyền xuyên tạc và tập hợp lực lượng thực hiện âm mưu, hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Tình hình mất an toàn thông tin số tiếp tục diễn biến phức tạp, xuất hiện nhiều nguy cơ đe dọa đến việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo an ninh – quốc phòng, nhất là nguy cơ bị tấn công, lây nhiễm virus trong hệ thống thông tin dẫn đến lộ lọt bí mật quốc gia. Tội phạm người nước ngoài vào Việt Nam sử dụng thiết bị công nghệ cao để trộm cắp cước viễn thông, sử dụng thẻ tín dụng giả, lừa đảo, tống tiền sẽ tiếp tục gia tăng; các ổ nhóm, đường dây tội phạm sử dụng công nghệ cao sau khi bị phát hiện, xử lý mạnh trong thời gian qua sẽ chuyển qua phương thức, thủ đoạn mới; tình trạng cá độ và đánh bạc qua mạng tiếp tục diễn biến phức tạp. 

Hoạt động của tội phạm sử dụng công nghệ cao sẽ ngày càng mang đậm tính chất của tội phạm có tổ chức và tội phạm xuyên quốc gia.

Trước tình hình trên, để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong thời gian tới, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:

Một là, kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể đảm bảo an ninh trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học – công nghệ nhằm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Trọng tâm là triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án 5 thuộc Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm về “Đấu tranh phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao”, gắn với thực hiện quy hoạch phát triển An ninh thông tin số quốc gia đến năm 2020. Triển khai thực hiện các nội dung của Chỉ thị số 897/CT-TTg ngày 10/6/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường triển khai các hoạt động đảm bảo an toàn thông tin số. Các ngành chức năng cần tăng cường phối hợp trong công tác quản lý nhà nước và nâng cao ý thức, trách nhiệm phòng ngừa những nguy cơ xâm hại của tội phạm sử dụng công nghệ cao; gắn công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này với các lĩnh vực phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ của đất nước.

Ba là, Chính phủ cần giao cho Bộ Công an chỉ đạo công tác xây dựng, phát triển lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới. Bộ Công an cần chỉ đạo kiện toàn tổ chức bộ máy và triển khai thành lập các đơn vị cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trực thuộc các phòng chức năng ở công an các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nhằm xây dựng một hệ lực lượng cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trên phạm vi toàn quốc.

(1). Báo cáo số 4829/C41-C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm – Bộ Công an.

(2). Báo cáo số 4829/C41-C42 ngày 14/12/2011 của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm – Bộ Công an.

(3). Báo Thanh Niên, ngày 07/4/2012.

Nguồn:

http://www.moj.gov.vn

(Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Bạn đang xem bài viết Phòng Ngừa, Đấu Tranh Tội Phạm Sử Dụng Công Nghệ Cao Trong Lĩnh Vực Ngân Hàng trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!