Xem Nhiều 5/2022 # Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp # Top Trend

Xem 6,732

Cập nhật thông tin chi tiết về Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp mới nhất ngày 22/05/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 6,732 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nằm Lòng Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 9 Trong Một Nốt Nhạc
  • Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Thơ Đồng Chí
  • Trình Bày Cảm Nhận Đoạn Thơ: Quê Hương Anh Nước Mặn, Đồng Chua… Giếng Nước Gốc Đa Nhớ Người Ra Lính
  • CÁC PHƯƠNG PHÁP TÌM NHANH CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ THƯỜNG GẶP

    1. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ so sánh

    So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    1.1. Tìm biện pháp so sánh dựa vào các từ ngữ so sánh

    So sánh được chia làm 2 loại: so sánh ngang bằngso sánh không ngang bằng và ở mỗi loại so sánh thường có các lớp từ so sánh đi kèm. Chẳng hạn ở so sánh ngang bằng ( cấu trúc : A = B), ta dễ dàng bắt gặp lớp từ ngữ: như, giống như, chừng như, y như, tựa như, bằng, …

    Ở loại so sánh không ngang bằng ( cấu trúc A không bằng B), các lớp từ ngữ thường đi kèm là: hơn, hơn là, kém, không bằng, chẳng bằng,…

    Như vậy chỉ cần nắm vững lớp từ ngữ thường xuyên đi cùng với các loại so sánh thì việc tìm ra phép so sánh không phải là quá khó khăn đối với học sinh.

    1.2. Tìm biện pháp so sánh dựa vào từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu”

    Câu có cặp từ hô ứng “bao nhiêu…bấy nhiêu” thường là câu so sánh. Do đó nếu học sinh thấy trong câu nào có từ hô ứng này ( trong dạng bài tập tìm biện pháp tu từ ) thì đó là phép so sánh. Có thể khái quát theo mô hình sau:

    Ví dụ: Qua đình ngả nón trông đình

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Qua cầu ngả nón trông cầu

    1.3. Tìm biện pháp so sánh dựa vào kiểu cấu trúc ” A là B”

    Cấu trúc câu “A là B” là cấu trúc của câu so sánh ( trong đó Acái so sánh, còn B cái được so sánh). Vì thế khi kiểu câu này xuất hiện, chúng ta dễ dàng nhận biết trong câu có sủ dụng biện pháp tu từ so sánh.

    Cho con trèo hái mỗi ngày.

    ( Quê hương – Đỗ Trung Quân).

    Anh theo cánh gió chơi vơi

    Em vẫn nằm trong nhung lụa.

    2. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ ẩn dụ

    2.1. Tìm ẩn dụ dựa trên những nét tương đồng của sự vật, hiện tượng

    Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền

    Nắm vững được cách thức này, ta cũng dễ dàng tìm ra phép ẩn dụ trong bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương:

    Thân em vừa trắng lại vừa tròn

    Bảy nổi ba chìm với nước non

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son.

    Những hình ảnh Bảy nổi ba chìm, Rắn nát mặc dầu của chiếc bánh trôi nước có những nét tương đồng với thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ là những người chịu nhiều bất hạnh, bất công ngang trái, không làm chủ được số phận của mình. Họ bị chà đạp, bị rẻ rúng, chỉ là một thứ đồ chơi không hơn không kém. Nhưng trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù có bị đối xử bất công, ngang trái đến đâu, người phụ nữ vẫn giữ được phẩm chất trong sáng của mình. Như vậy chiếc bánh trôi nước là hình ảnh ẩn dụ cho người phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xưa,…

    Qua những ví dụ trên cho thấy, tìm ra phép ẩn dụ không phải là quá khó khăn. Điều quan trọng là chúng ta tìm ra được nét tương đồng giữa các sự vật, hiện tượng.

    2.2. Tìm ẩn dụ dựa vào các công thức dân gian ( mô tip)

    Trong sáng tác văn học, nhất là văn học dân gian, người nghệ sĩ thường sử dụng các môtíp quen thuộc như: thân em, em như, ước gì, buồn trông, rủ nhau,…Ở một số môtip, người sáng tác luôn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ. Ví dụ như môtip thân emem như, hình ảnh được đưa ra so sánh ở vế sau chắc chắn là hình ảnh ẩn dụ ( thường là ẩn dụ cho thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa).

    Thân em ( em như) A B

    Trong đó A là đối tượng được so sánh, B là ẩn dụ ( người phụ nữ trong xã hội xưa). Như vậy nếu gặp đúng môtip quen thuộc trên, chỉ cần dựa vào công thức chung này, học sinh sẽ dễ dàng chỉ ra phép ẩn dụ. Môtip này chúng ta bắt gặp nhiều trong ca dao, nhất là ở phần ca dao than thân. Thật không khó để chúng ta có thể kể ra các câu ca dao sử dụng kiểu công thức dân gian này:

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.

    Người khôn rửa mặt người phàm rửa chân.

    Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

    Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi.

    Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay.

    Muốn bay nhưng mắc con rùa quấn chân.

    Những hình ảnh được đưa ra so sánh như: tấm lụa đào, hạt mưa sa, giếng giữa đàng, củ ấu gai, con hạc đầu đình chính là những hỉnh ảnh ẩn dụ. Có hể nói đây là phương pháp nhanh và hiệu quả nhất để tìm ra phép tu từ ẩn dụ.

    Ngoài thềm rơi chiếc lá đa,

    ( Đêm Côn Sơn – Trần Đăng Khoa).

    Tiếng lá rơi, vốn là âm thanh, được thu nhận bằng thính giác, không có hình dáng, không cầm nắm được; ở đây, nhờ sự chuyển đổi cảm giác, cái nhẹ của tiếng lá rơi được gợi tả tinh tế, trở nên có hình khối cụ thể ( mỏng – vốn là hình ảnh của xúc giác) và có dáng vẻ ( rơi nghiêng – vốn là hình ảnh của thị giác). Đây là hình ảnh chuyển đổi cảm giác vì thế rơi rất mỏng rơi nghiêng chính là ẩn dụ.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

    Ở đây ta thấy nắng được thấy qua cơ quan thị giác còn giòn tan chỉ có thể cảm nhận bằng xúc giác ( sờ, cầm, nắm). Như vậy nắng giòn tan là hình ảnh chuyển đổi cảm giác và đó là hình ảnh ẩn dụ.

    ( Chiếc võng của bố – Phan Thế Cải).

    Thông thường, tiếng cười là âm thanh và được nghe bằng thính giác, còn ướt chỉ có thể cảm nhận bằng xúc giác. Như vậy ướt tiếng cười là sự chuyển đổi cảm giác. Đó chính là hình ảnh ẩn dụ.

    3. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ hoán dụ

    Thực tế dạy học trong Nhà trường phổ thông cho thấy, đa số học sinh vẫn còn mơ hồ và chưa phân biệt được phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ. Trong quá trình làm bài tập, khá nhiều em vẫn còn bị nhầm lẫn giữa hai biện pháp tu từ này. Vì thế trang bị cho các em phương pháp nhận diện và làm nhanh các bài tập về biện pháp tu từ hoán dụ là hết sức cần thiết. Trong quá trình thực dạy và nghiên cứu, người viết xin đề xuất một số phương pháp sau:

    3.1. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của các bộ phận trên cơ thể người

    Đây là cách thức đơn giản nhất để tìm ra hoán dụ. Thực chất đây là kiểu lấy bộ phận để gọi toàn thể. Vì thế nếu trong câu thơ hay câu văn có sự xuất hiện của các bộ phận cơ thể (hoặc các từ đi kèm với các bộ phận cơ thể) thì từ đó chính là hoán dụ. Có thể lấy một số ví dụ sau ( hoán dụ là những từ in đậm):

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm.

    – Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    3.2. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của trang phục hay những vật dụng của con người

    Ví dụ:

    Nông thôn cùng với thị thành đứng lên

    ( Ba mươi năm đời ta có Đảng – Tố Hữu).

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    ( Đời tàn ngõ hẹp Vũ Hoàng Chương).

    3.3. Tìm hoán dụ dựa vào sự xuất hiện của số đếm

    Tìm biện pháp hoán dụ bằng cách dựa vào số đếm là phương pháp làm bài tập nhanh rất có hiệu quả. Phương pháp này dễ nắm bắt bởi lẽ chỉ cần dựa vào sự xuất của số đếm (hoặc những từ kết hợp với số đếm) thì chắc chắn từ ( hoặc cụm từ kết hợp) đó là hoán dụ. Ví dụ:

    – Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    ( Viếng Lăng Bác – Viễn Phương).

    – Vì lợi ích trồng cây, vì lợi ích trồng người.

      Tìm hoán dụ dựa vào vật chứa đựng và vật bị chứa đựng

    Nhắc đến tên người Hồ Chí Minh.

    Ta dễ dàng nhận ra là vật chứa đựng bởi nó là từ chỉ ý nghĩa tổng quát, bao trùm lên tất cả. Nó biểu thị cho tất cả con người sống trên mặt đất (vật bị chứa đựng). Vì thế ở đây là hình ảnh hoán dụ. Tương tự như vậy, không mấy khó khăn để chúng ta tìm ra hình ảnh hoán dụ trong câu thơ:

    là vật chứa đựng, nó biểu thị cho tất cả con người đang sống ở miền Nam (vật bị chứa đựng). Vì thế là hình ảnh hoán dụ.

    4. Phương pháp làm nhanh bài tập về biện pháp tu từ nhân hóa

    Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị được những suy nghĩ tình cảm của con người.

    Nhân hóa cũng là một biện pháp tu từ được sử dụng rộng rãi trong sáng tác văn học và mang lại hiệu quả thẩm mĩ cao, nó góp phần làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm.

    Có thể nói rằng, so với việc tìm ra biện pháp tu từ ẩn dụ, hoán dụ và so sánh thì việc tìm ra phép ẩn dụ đơn giản hơn. Bởi lẽ chỉ cần dựa vào các từ gọi hay miêu tả con vật, cây cối, đồ vật, hiện tượng thiên nhiên ( người viết gọi chung là sự vật) mang những thuộc tính của con người thì chắc chắn đó là phép ẩn dụ. Tuy nhiên để cụ thể, chi tiết và nhất là để tiện cho việc học sinh tìm nhanh biện pháp tu từ nhân hóa trong quá trình làm bài tập, người viết xin đề xuất một số phương pháp sau:

    4.1. Tìm nhân hóa dựa vào từ miêu tả hình dáng con người của sự vật

    Trong dạng bài tập tiếng Việt yêu cầu học sinh tìm các biện pháp tu từ nghệ thuật trong câu, nếu có những từ miêu tả hình dáng con người của sự vật thì từ đó chắc chắn là nhân hóa.

    Mà sao nên lũy nên thành tre ơi

      Sông Hương đã chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm.

    ( Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường).

    4.2. Tìm nhân hóa dựa vào từ miêu tả hoạt động con người của sự vật

    Đây là cách thức đơn giản để tìm ra biện pháp tu từ nhân hóa, bởi vì chỉ cần dựa vào từ trong câu miêu tả hoạt động con người của sự vật thì học sinh dễ dàng biết đó chính là phép nhân hóa.

    ( Tre Việt Nam – Nguyễn Duy).

    ( Đoàn thuyền đánh cá – Huy Cận).

    – Người ngắm trăng soi ngoài cửa sổ

    4.3. Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tâm trạng con người của sự vật

    Tương tự như việc tìm phép nhân hóa đã trình bày ở trên, nếu trong câu có các từ diễn tả tâm trạng con người của sự vật thì các từ đó là nhân hóa.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

      Mặc dù cái thằng đá tướng ở cửa vào đã cái mặt xanh lè thất vọng thua cái thuyền đã đánh trúng vào cửa sinh nó trấn lấy.

    ( Người lái đò sông Đà – Nguyễn Tuân).

      Từ đây như đã tìm đúng đường về, sông Hương vui tươi hẳn lên giữa những biền bãi xanh biếc của vùng ngoại ô Kim Long,…

    ( Ai đã đặt tên cho dòng sông – Hoàng Phủ Ngọc Tường).

      Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tính cách con người của sự vật

    Tìm nhân hóa dựa vào từ diễn tả tính cách con người của sự vật cũng được coi là phương pháp làm nhanh các dạng bài tập tìm các biện pháp tu từ. Bởi vì chỉ cần dựa vào những từ diễn tả tính cách con người của sự vật thì đó chắc chắn là phép nhân hóa.

    ( Dòng sông mặc áo – Nguyễn Trọng Tạo).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6
  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài
  • Bạn đang xem bài viết Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100