Xem Nhiều 1/2023 #️ Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 9 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu # Top 9 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết tập trung nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại của một số quốc gia trên thế giới. Cụ thể về bốn nội dung quản lý nhà nước, gồm: xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại; tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại; và xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Trên cơ sở phân tích, tổng hợp kinh nghiệm ba quốc gia điển hình, bài viết đề xuất một số bài học cho hoạt động quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

 

Mở đầu  

Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng các biện pháp vĩ mô để bảo vệ sự ổn định tài chính quốc gia. Tại Việt Nam, hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại được đặt dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước. Vai trò điều tiết và quản lý của Ngân hàng Nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và hệ thống ngân hàng thương mại, đảm bảo an toàn hiệu quả thanh toán quốc gia. Vì vậy, đối với các ngân hàng thương mại, khi mức dư nợ xấu tín dụng càng cao thì Ngân hàng Nhà nước thường đóng vai trò “người cứu cánh cuối cùng”. Bởi khi rủi ro tín dụng xảy ra, nợ xấu của một ngân hàng thương mại bất kỳ trong hệ thống tăng cao báo động sẽ gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động, khả năng cạnh tranh của ngân hàng và cả uy tín ngân hàng, niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống ngân hàng trong nước. Do tính chất lây lan của hiệu ứng đám đông, rủi ro tín dụng vượt kiểm soát sẽ trở thành một trong những nguyên nhân hình thành nên cuộc khủng hoảng tài chính cho nền kinh tế của quốc gia. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước luôn chú trọng quan tâm đến quản lý hoạt động của các ngân hàng thương mại, cụ thể là, trong kiểm soát chất lượng tín dụng, đặc biệt là kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại.   

Cần xây dựng và phát triển hệ thống NHTM có cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng   

Trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới hiện nay, có sự tiềm ẩn rủi ro khủng hoảng tài chính và hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, tác giả quyết định lựa chọn nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia điển hình trên thế giới về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại, từ đó rút ra các bài học cho Việt Nam.  

1. Quản lý nhà nước đối với nợ xấu của ngân hàng thương mại  

Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các ngân hàng thương mại chính là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của Ngân hàng Trung ương, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của ngân hàng thương mại, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các ngân hàng thương mại tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình (Trịnh Thị Thủy, 2015).   

Hoạt động quản lý nợ xấu của nhà nước bao gồm nhận diện nợ xấu, đưa ra các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các ngân hàng thương mại hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình cần phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.  

 

– Phương pháp quản lý nhà nước đối với nợ xấu   

 

Hiện nay, có một số phương pháp được áp dụng phổ biến trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, đó là: phương pháp thuyết phục, phương pháp cưỡng chế nhà nước, phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp quản lý có mục tiêu, phương pháp quản lý tác nghiệp, phương pháp kiểm tra… (Phan Trung Hiền, 2009).  

Các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại phải đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật. Về tính khoa học, các phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại đòi hỏi phải nắm vững đối tượng ngân hàng thương mại với những đặc điểm vốn có của nó, để tác động trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan phù hợp với đối tượng này. Về tính nghệ thuật, các phương pháp quản lý nhà nước cần được lựa chọn và kết hợp các phương pháp trong thực tiễn để sử dụng tốt tiềm năng và cơ hội của đất nước, đạt mục tiêu quản lý đề ra (Ghosh, 2015).  

– Công cụ quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại là tập hợp những phương tiện sử dụng để thực hiện các chức năng quản lý về hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Ngân hàng Trung ương thông qua các công cụ quản lý này chuyển tải ý định và ý chí của mình đến các ngân hàng thương mại hoạt động trong nền kinh tế (Phan Trung Hiền, 2009).  

Hiện nay, có năm nhóm công cụ chính để quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, bao gồm: (i) Nhóm công cụ thể hiện mục tiêu quản lý, (ii) Nhóm công cụ thể hiện chuẩn mực xử sự hành vi của các ngân hàng thương mại, (iii) Nhóm công cụ thể hiện tư tưởng, quan điểm của nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại, (iv) Nhóm công cụ vật chất làm động lực tác động vào các ngân hàng thương mại, và (v) Nhóm công cụ để sử dụng các công cụ trên (Phan Trung Hiền, 2009).   

– Mục tiêu quản lý nhà nước đối với nợ xấu  

Quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của nhà nước và cũng là hoạt động chủ đạo của các ngân hàng thương mại. Theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu của nhà nước cần hướng đến mục tiêu đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại để ngày càng nâng cao chất lượng của hoạt động này. Đồng thời, quản lý nhà nước đối với nợ xấu phải hướng đến mục tiêu tìm giải pháp xử lý nợ xấu có hiệu quả nhất để giảm tối đa tổn thất và rủi ro cho ngân hàng thương mại. Nói cách khác, thông qua các chính sách, cơ chế, đạo luật, nhà nước thông qua việc Ngân hàng Trung ương thực thi các biện pháp quản lý, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại một cách khoa học và có hiệu quả.  

Cụ thể hơn, có bốn mục tiêu cụ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của ngân hàng thương mại: Thứ nhất, duy trì sự an toàn và lành mạnh và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng: ngân hàng là đối tượng chịu nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế bởi đây là nguồn thanh khoản dự phòng cho tất cả các tổ chức khác trong xã hội và là công cụ truyền tải chính sách tiền tệ của nhà nước (Corrigan, 1982). Thứ hai, khuyến khích, hỗ trợ hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại: mục tiêu của quản lý nhà nước đối với hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại thông qua vai trò của ngân hàng nhà nước là sẽ tạo động lực và khuyến khích hoạt động tín dụng phát triển, ngăn ngừa nợ xấu. Thứ ba, tạo môi trường thuận lợi để các ngân hàng thương mại phát triển: trong nền kinh tế thị trường, tác động của mỗi chủ thể đều có ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực nhạy cảm như ngân hàng. Thứ tư, định hướng, dẫn dắt và điều tiết hoạt động của hệ thống ngân hàng, tạo lập sự cân đối vĩ mô trong nền kinh tế và ngăn ngừa nợ xấu: nền kinh tế thị trường hiện nay hoạt động theo các quy luật vốn có của nó (Rosenstein-Rodan, 1961).

 

2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của một số quốc gia trên thế giới  

2.1. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương châu Âu  

Ngân hàng Trung ương châu Âu (ESCB) điều hành chính sách tiền tệ đồng Euro của Liên minh châu Âu hay khu vực đồng Euro hiện nay sau khi Anh rời khối này. Do tính chất đặc thù của một khối các quốc gia, Ngân hàng Trung ương châu Âu có ban giám đốc đứng đầu là Chủ tịch và hội đồng các thống đốc gồm lãnh đạo và đại diện các ngân hàng trung ương của các quốc gia trong liên minh. Hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của của Ngân hàng Trung ương châu Âu trong thời gian qua được triển khai gồm các nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Văn bản có vai trò quan trọng hỗ trợ việc thiết lập một khuôn khổ chung trên các hệ thống ngân hàng EU để nhận biết, phân loại và đánh giá nợ xấu đó là dự thảo hướng dẫn của Cơ quan Ngân hàng Châu Âu (European Banking Authority) từ năm 2014 (European Banking Authority, 2014, 2016a, 2016b). Các tiêu chuẩn này cung cấp các tiêu chí hài hòa để xác định các khoản nợ xấu, tăng cường tính minh bạch của rủi ro tín dụng được thực hiện bởi các ngân hàng châu Âu.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Ủy ban châu Âu tập trung đề xuất các phương án để đưa ra mức dự phòng tối thiểu cho các khoản nợ xấu trong tương lai. Ngày 14/03/2018, Ủy ban châu Âu đã đưa ra các biện pháp để giải quyết tỷ lệ nợ xấu cao tại hệ thống các ngân hàng thương mại. Trong đó đặc biệt đề xuất quy định về dự phòng tổn thất tối thiểu đối với các khoản vay mới không hiệu quả. Sự hỗ trợ này bao gồm hai yếu tố chính: (i) yêu cầu các ngân hàng phải chi trả đến mức tối thiểu chung cho các khoản lỗ phát sinh và dự kiến đối với các khoản vay mới không hiệu quả (yêu cầu dự phòng tối thiểu) và (ii ) khi yêu cầu dự phòng tối thiểu không được đáp ứng, một khoản khấu trừ chênh lệch giữa dự phòng thực tế và dự phòng tối thiểu sẽ được 

thực hiện.   

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

 

Các cơ quan giám sát ngân hàng thiết lập Cơ chế giám sát đơn (Single Supervisory Mechanism – SSM) trên cơ sở các hoạt động của Trụ cột 2 (SREP). Điều này cho thấy, việc nhận thức được tầm quan trọng của đánh giá và kiểm soát chất lượng tài sản của khoản vay một cách công bằng. Bên cạnh đó, việc đánh giá toàn diện được thực hiện bởi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Cơ quan có thẩm quyền quốc gia (NCA), bao gồm một số hoạt động quan trọng, đặc biệt là đánh giá chất lượng tài sản (AQR). Hoạt động này tập trung vào việc đánh giá giá trị chính xác của tài sản đảm bảo của các ngân hàng dựa trên một phương pháp thống nhất và hài hòa.  

Trên cơ sở kết quả kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại, các chiến lược nợ xấu được đưa ra, về cơ bản, ECB xác định bốn thành phần cơ bản, đó là: (1) Đánh giá môi trường hoạt động, (2) Phát triển chiến lược, (3) Thực hiện kế hoạch hành động, và (4) Đưa chiến lược vào quy trình quản lý ở các cấp độ. Trong tương lai, Ủy ban châu Âu sẽ cho phép những nhà giám sát ngân hàng nhiều quyền hạn hơn để họ có thể tích cực thúc đẩy các ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu nhiều năm qua.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Liên minh châu Âu trong những năm gần đây đã rất chú trọng đến việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Cụ thể, Ngân hàng Trung ương châu Âu có thể buộc các ngân hàng tăng “vùng đệm” đối với các khoản nợ xấu hiện tại. Các ngân hàng cũng có thể buộc phải tự động trích thêm vốn cho các khoản vay mới khi thấy mức nợ xấu vượt quá mức chấp nhận được. Tuy nhiên, một cách khách quan, các biện pháp này có thể làm chi phí tăng quá mức, ảnh hưởng đến hiệu suất của các ngân hàng.   

2.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Trung Quốc  

Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc nắm quyền kiểm soát chính sách tiền tệ và quản lý các định chế tài chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Đối với hoạt động quản lý nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại trong nước, trong thời gian qua, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc triển khai một số nội dung sau:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu giải quyết nợ xấu là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách kinh tế. Trung Quốc đã ban hành chính sách chứng khoán hóa các khoản nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (PBC) đã thành lập 4 công ty quản lý tài sản dưới sự quản lý và chỉ đạo của Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm xử lý nợ xấu cho một số ngân hàng thương mại quốc doanh. Các công ty này đã mạnh dạn cho chứng khoán hóa các khoản nợ của ngân hàng thương mại và mua lại chúng nhằm thổi vốn vào tình trạng cạn kiệt của các ngân hàng tại Trung Quốc.   

 

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Để quản lý tốt nợ xấu trong thời kỳ mới, Chính phủ Trung Quốc yêu cầu ngành Ngân hàng của quốc gia này phải tuân thủ 4 nguyên tắc sau: (i) Đáp ứng các yêu cầu quản lý nợ xấu trong khuôn khổ tối ưu hoá hiệu suất ngân hàng; (ii) Thúc đẩy cải cách ngân hàng, cạnh tranh thị trường công bằng và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng Trung Quốc; (iii) Tuân thủ các cam kết WTO và tiếp tục mở cửa khu vực ngân hàng nội địa; (iv) Triển khai các hoạt động cho vay phải thận trọng để có thể duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng và đảm bảo an ninh tài chính.   

Đồng thời, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thực hiện các nguyên tắc cơ bản về thanh tra ngân hàng hiệu quả do Ủy ban Basel về thanh tra ngân hàng đề ra để tăng cường tính hiệu quả và minh bạch của các khoản cho vay. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Trung Quốc nhằm mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng một hệ thống ngân hàng lành mạnh, phát triển bền vững, huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển kinh tế.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được đẩy mạnh tại Trung Quốc. Quốc gia này tích cực sử dụng các phương pháp kiểm tra, giám sát hệ thống để đảm bảo sự an toàn, lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Quá trình tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu tại Trung Quốc đi kèm với thanh tra phòng ngừa nghiêm ngặt theo các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Nguyên tắc kiểm tra và giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu cơ bản là thực hành tổng hợp, quản lý rủi ro, tăng cường kiểm soát nội bộ và nâng cao tính minh bạch của các khoản nợ xấu. Mục đích của phương pháp tiếp cận này là củng cố hệ thống quản lý rủi ro và kiểm soát nợ xấu của các ngân hàng thương mại, yêu cầu có một mức độ minh bạch cao hơn để có thể áp dụng kỷ luật thị trường đối với các ngân hàng.  

Các cơ quan giám sát ngân hàng và bảo hiểm của Trung Quốc đã được sáp nhập để có thể giải quyết tốt hơn vấn đề nợ xấu cũng như nhiều thách thức trong hoạt động tín dụng. Trong năm 2017, các nhà quản lý ngành Ngân hàng Trung Quốc đẩy cao áp lực dọn sạch bảng cân đối kế toán cũng như đẩy mạnh phát triển kinh tế. Trung Quốc cũng tăng cường công tác kiểm tra và giám sát trên cơ sở rủi ro. Ủy ban Giám sát Ngân hàng đã tăng cường năng lực giám sát và phân tích từ xa, từ đó, cải thiện hoạt động lập kế hoạch và giám sát nợ xấu tại chỗ. Nhờ đó, chất lượng kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại được tăng cường đáng kể, góp phần lành mạnh các hệ thống ngân hàng tại Trung Quốc.  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Chính phủ Trung Quốc áp dụng biện pháp mua lại nợ xấu cho các ngân hàng thương mại. Các khoản nợ xấu sẽ được phân loại và được các công ty nợ xấu hoặc các tổ chức tương tự mua lại. Hoạt động này góp phần tạo vốn cho các ngân hàng thương mại, đồng thời khiến các nhà đầu tư lạc quan hơn, kích thích kênh đầu tư tạo cơ hội cho nền kinh tế tái hoạt động. Giải pháp này còn giúp những ngân hàng thương mại yếu kém giải quyết các vấn đề thanh khoản tạm thời nhằm tạo động lực cho việc tái cấu trúc hệ thống.  

Công tác quản lý nhà nước về nợ xấu tại Trung Quốc chú trọng vào việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Hoạt động này góp phần hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu trong tương lai. Các công ty AMC của Trung Quốc là nhân tố quan trọng trong việc xử lý nợ xấu tại quốc gia này. Đây là các doanh nghiệp tài chính độc lập nhà nước do Bộ Tài chính bỏ vốn thành lập. Khác với các công ty AMC nước ngoài, AMC tại Trung Quốc có đặc điểm là đa mục tiêu, vừa xử lý nợ xấu, vừa phải duy trì nền tài chính ổn định, và thúc đẩy cải cách hệ thống ngân hàng. Phương pháp xử lý nợ xấu của AMC tại Trung Quốc chủ yếu là tái cơ cấu, sắp xếp lại nợ, hoặc chuyển nhượng nợ thành cổ phần. Việc chuyển nợ thành cổ phần thường được Trung Quốc thực hiện. Phương pháp đốc thúc hoàn nợ bao gồm thúc đẩy thu mua, ra tòa, bồi thường… dù được áp dụng nhiều nhưng hiệu quả rất kém tại Trung Quốc.  

2.3. Kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản  

Các hoạt động quản lý nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng thương mại của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong thời gian:  

– Xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

 

Nhìn chung, việc xác lập môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản chú trọng vào xây dựng hệ thống pháp lý đầy đủ, đồng bộ và kiện toàn. Trong quá trình xử lý nợ xấu của Nhật Bản qua nhiều giai đoạn vẫn tồn tại một vài hạn chế, nhưng đều được Chính phủ Nhật Bản thực hiện sửa đổi hoặc ban hành Luật mới rất nhanh chóng và kịp thời.  

– Ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại  

Tại Nhật Bản, BOJ yêu cầu các ngân hàng thương mại phải áp dụng những tiêu chuẩn quy định quốc tế như Basel II, III trong hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu. Các ngân hàng tại Nhật Bản thực hiện việc phân loại nợ khắt khe và thường xuyên. Bên cạnh đó, các ngân hàng của quốc gia này cũng rất tích cực trong việc công khai số liệu nợ xấu thực tế của mình và quyết liệt xử lý để giảm tỷ lệ nợ xấu, góp phần đảm bảo tính bền vững của thị trường tài chính trong nước.  

Để quản lý nợ xấu có hiệu quả, BOJ ứng dụng một số nguyên tắc quản lý nợ xấu theo Hiệp ước Basel nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn, từ đó giảm thiểu tối đa nợ xấu của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp quan trọng được sử dụng trên cơ sở các nguyên tắc quản lý nợ xấu có thể kể đến như điều chỉnh kỳ hạn nợ, giảm hoặc miễn một phần lãi vay, chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, gia hạn nợ, phát mại tài sản đảm bảo, bù đắp bằng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng…   

Đáng chú ý, các chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Nhật Bản được ban hành và tuyên truyền rộng rãi. Vì vậy, nhận thức và sự hiểu biết của toàn xã hội về tầm quan trọng của việc xử lý nợ xấu tại Nhật Bản rất cao. Nhờ đó, việc tuân thủ và thực hiện theo pháp luật trong khi xử lý tài sản đảm bảo trả nợ được người dân gần như chấp hành tuyệt đối.  

– Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại  

Ngân hàng Trung ương Nhật Bản coi công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu nhằm giúp kịp thời phát hiện, ngăn chặn và chấn chỉnh những sai sót trong quá trình cấp tín dụng và quản lý thu hồi nợ của các ngân hàng thương mại trong nước. Chính vì vậy, hoạt động thanh tra, giám sát được coi là nhiệm vụ trọng yếu trong quản lý nợ xấu tại quốc gia này. Tổ chức kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu còn nhằm phát hiện và ngăn chặn những sai phạm về đạo đức, sự lạm dụng quyền lực và tư lợi cá nhân có thể xảy ra ở các cán bộ tín dụng của ngân hàng thương mại, từ đó, ngăn chặn những thiệt hại có nguy cơ xảy ra đối với nền kinh tế và hệ thống ngân hàng.   

Về cơ bản, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng thương mại tại Nhật Bản chú trọng vào một số vấn đề chính như: việc thực hiện cấp tín dụng, quản lý tiền vay và chính sách dự phòng rủi ro; mức độ tuân thủ các chuẩn mực nợ xấu; phân loại nợ, trích lập dự phòng và sử dụng dự phòng vào việc xử lý rủi ro tín dụng…  

– Xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng  

Nhật Bản thành lập Công ty chuyên thu hồi nợ (RCC) để mua nợ và Cơ quan tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ) chuyên làm nhiệm vụ tái cơ cấu lại những doanh nghiệp quan trọng. Chính phủ Nhật Bản cho rằng, xử lý nợ và tái cơ cấu doanh nghiệp yếu kém là hai việc không thể tách rời trong quá trình xử lý nợ xấu. RCC thực hiện chức năng thu hồi nợ xấu của nền kinh tế, hay còn gọi là một doanh nghiệp dịch vụ công. Đối với Nhật Bản, họ tập trung nhiều hơn vào việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Toàn bộ số tiền thành lập IRCJ là của các ngân hàng đóng góp chứ không phải từ Nhà nước.   

Đặc biệt, Chính phủ Nhật Bản cho thực hiện việc phá sản đối với các ngân hàng thực sự yếu kém và không quản lý tốt nợ xấu. Đồng thời, Chính phủ triển khai song song những biện pháp hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo thanh toán tiền gửi tiết kiệm tại những ngân hàng đó. Ngoài ra, Nhật Bản đã tiến hành nhiều vụ hợp nhất và sáp nhập ngân hàng, nhằm hoàn thành sớm và đầy đủ việc giải quyết nợ khó đòi ở các ngân hàng lớn, đồng thời, giới hạn và thay đổi cơ chế hỗ trợ của ngân hàng. Cụ thể, đối với các ngân hàng lớn, bắt buộc xóa nợ khó đòi khỏi Bảng cân đối kế toán trong 2 đến 3 năm, đưa ra mục tiêu định lượng áp dụng với các ngân hàng lớn. Như vậy, chính những biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ Nhật Bản với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng đã góp phần quan trọng giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng tại quốc gia này bớt căng thẳng đi rất nhiều. 

 

3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam  

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại một số quốc gia trên thế giới, xét trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, tác giả rút ra được một số bài học sau:  

Thứ nhất, Nhà nước và các cơ quan hữu quan cần đẩy mạnh xây dựng và tăng cường khung pháp lý một cách đồng bộ nhằm giám sát chặt chẽ ngành Ngân hàng, từ đó quản lý tốt và hạn chế sự xuất hiện của nợ xấu. Để làm được điều này, Việt Nam cần chủ động hình thành đồng bộ khuôn khổ pháp lý, áp dụng đầy đủ hơn các thiết chế và chuẩn mực quốc tế về an toàn tín dụng ngân hàng. Trên cơ sở đó, Việt Nam có thể tạo lập được môi trường pháp lý thuận lợi cho hoạt động của các ngân hàng thương mại đạt hiệu quả, an toàn và phát triển bền vững.   

Thứ hai, cần chú trọng đến việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại. Việc ban hành chuẩn mực nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại cần hướng đến mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh, xây dựng hệ thống ngân hàng lành mạnh, bền vững, từ đó có thể huy động được cả các nguồn vốn trong và ngoài nước để phát triển.   

Thứ ba, cần chú trọng hơn nữa đến việc đảm bảo tính độc lập và tự quyết của Ngân hàng Nhà nước trong vấn đề quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại. Nếu Ngân hàng Nhà nước không có thẩm quyền độc lập trong việc quyết định về tín dụng và quản lý nợ xấu sẽ làm giảm hiệu quả quản lý hoạt động này.   

Thứ tư, cần có đánh giá chính xác tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại để có thể nhanh chóng đưa ra các ứng phó ngay từ đầu nhằm giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt, cần phải giám sát chặt chẽ việc phân loại nợ tại các ngân hàng thương mại để đánh giá đúng đắn tác động tới hệ thống tài chính, từ đó đưa ra những phương án phù hợp với tình hình tín dụng và nợ xấu của các ngân hàng trong nước. Bên cạnh đó, việc xử lý nhanh chóng tình trạng thiếu vốn của các ngân hàng thương mại (tăng vốn kịp thời trong quá trình xử lý nợ xấu bằng mọi nguồn: công và tư), xem xét việc sử dụng vốn nhà nước để xử lý kịp thời, tránh làm sụp đổ hệ thống.  

Thứ năm, cần xây dựng và phát triển hệ thống ngân hàng thương mại có cấu trúc đa dạng về sở hữu, có quy mô hoạt động đủ lớn và minh bạch, đồng thời đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng. Chỉ như vậy hệ thống ngân hàng Việt Nam mới có khả năng quản lý và xử lý hiệu quả nợ xấu. Bên cạnh đó, cần nhanh chóng áp dụng các chuẩn mực quốc tế về hoạt động ngân hàng và nợ xấu. Các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần do nhà nước chi phối phải đóng vai trò chủ lực trong phát triển hệ thống.   

Thứ sáu, cần tăng cường quy chế quản lý, giám sát các hoạt động kinh doanh tín dụng và xử lý nợ xấu của từng ngân hàng thương mại, đồng thời, củng cố sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc giám sát hoạt động của hệ thống tài chính; cần chú trọng xây dựng hệ thống giám sát ngân hàng hiện đại nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn của quá trình phát triển ngân hàng nhằm đảm bảo hiệu quả công tác kiểm tra và giám sát ngân hàng.   

Thứ bảy, cần mở rộng kênh xử lý nợ xấu. Đây là một bài học cần được nghiên cứu kỹ, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi ngân sách đầu tư cho công ty mua nợ xấu còn thiếu hụt. Bên cạnh đó, theo kinh nghiệm của các quốc gia nêu trên, việc thành lập cơ quan xử lý nợ xấu chuyên biệt trực thuộc Chính phủ (có thể ủy quyền cho Ngân hàng Nhà nước quản lý) là biện pháp cần thiết. Tuy nhiên, cơ quan này sẽ chịu trách nhiệm xử lý một phần nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Việc xử lý có thể thực hiện thông qua một số phương thức như chứng khoán hóa các khoản nợ xấu, mua lại nợ xấu …  

Thứ tám, cần nghiên cứu kinh nghiệm các quốc gia trên trong việc xử lý các ngân hàng thương mại khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng. Các biện pháp xử lý quyết liệt của Chính phủ đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng sẽ góp phần giúp tình hình nợ xấu của các ngân hàng thương mại bớt căng thẳng. 

 

1. Corrigan G. (1982). “Are Banks Special?” 1982 Annual Report Essay. Minneapolis, United States: Federal Reserve Board. http://minneapolisfed.org/pubs/ar/ar1982a.cfm

2. European Banking Authority (2014), Final Draft Implementing Technical Standards on Supervisory reporting on forbearance and non-performing exposures under article 99 (4) of Regulation (EU) No 575/2013. 

3. Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104. 

4. IMF (2006), Financial Soundness Indicators: Compilation Guide, International Monetary Fund.

5. Nkusu Mwanza (2011), “Nonperforming Loans and Macrofinancial Vulnerabilities in Advanced Economies”, IMF Working Papers 11/161, International Monetary Fund.

6. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2018), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

7. Ozge Akinci, Jane Olmstead-Rumsey (2018), “How effective are macroprudential policies? An empirical investigation”, Journal of Financial Intermediation, Volume 33, January 2018, Pages 33-57.

8. Phan Trung Hiền (2009), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Trường Đại học Cần Thơ. 

9. Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội. 

10. Rosenstein-Rodan P.N. (1961), “Notes on the Theory of the ‘Big Push.’” In: H.S. Ellis and H.C. Wallich, editors. Economic Development for Latin America. New York, United States: St. Martin’s.

11. Trịnh Thị Thủy (2015), Quản lý nhà nước đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, Luận án Tiến sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. ThS. Phạm Phú Thái Theo TCNH số 10/2020

Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Quản Lý Nhà Nước Đối Với Nợ Xấu

Bài viết phân tích, đánh giá vai trò của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong quản lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) tại Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về thực trạng nợ xấu và quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHNN Việt Nam, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp đối với NHNN. Nhóm giải pháp tập trung vào 4 vấn đề: (1) môi trường pháp lý về hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu của NHNN, (2) tổ chức thực hiện quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHNN Việt Nam, (3) kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHNN, và (4) xử lý vi phạm của NHNN khi có nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng.

Từ khóa: Quản lý nhà nước, nợ xấu, ngân hàng thương mại, hệ thống ngân hàng thương mại, Việt Nam.

1. Mở đầu

Trong bối cảnh thị trường tài chính mở rộng như hiện nay, hệ thống NHTM Việt Nam đang chuyển mình trong xu thế toàn cầu hóa. Giữa áp lực cạnh tranh trên con đường hội nhập, hoạt động tín dụng của các NHTM luôn được mở rộng và phát triển, tuy nhiên vấn đề rủi ro tín dụng, nợ xấu vẫn chưa thực sự được kiểm soát và xử lý hiệu quả. Nhận thức được tầm quan trọng này, hoạt động quản lý nợ xấu của NHNN được chú trọng hàng đầu.

Từ năm 2012, NHNN đã có những định hướng và giải pháp cụ thể theo lộ trình cho hoạt động quản lý nợ xấu. Nhờ vậy, nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam đã dần được kiểm soát. Tuy nhiên, tín dụng là hoạt động thường nhật của các NHTM, do đó nợ xấu luôn tồn tại và có xu hướng tăng mạnh gây ảnh hưởng đến toàn ngành.

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả thực hiện nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống NHTM tại Việt Nam. Mục đích nhằm hệ thống hóa, mở rộng thêm cơ sở lý luận và thực trạng về quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của NHTM

Nợ xấu là một trong những vấn đề chính yếu mà các ngân hàng liên tục phải đối mặt. Nợ xấu trong hoạt động tín dụng của NHNN phát sinh do các nguyên nhân sau (Beck và các cộng sự, 2013):

Thứ nhất, các yếu tố khách quan của môi trường xung quanh: Môi trường thiên nhiên như thiên tai, hỏa hoạn, bão lụt,…; môi trường pháp lý; sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng; đạo đức khách hàng (Nguyễn Lê Nguyên Dung, 2019).

Thứ hai, các yếu tố kinh tế vĩ mô: Theo Fisher (1933), trong giai đoạn mở rộng của nền kinh tế, nợ xấu rất ít khi xảy ra. Nhưng đến thời kỳ bùng nổ tiếp theo, khi tín dụng được mở rộng và áp dụng các khách hàng có chất lượng thấp, tình trạng nợ xấu gia tăng cho đến khi giai đoạn suy thoái kinh tế diễn ra.

Thứ ba, nguyên nhân chủ quan: Sự tăng trưởng nhanh chóng của các khoản cho vay (Sinkey và Greenwalt, 1991); lãi suất cao (Rajan và Zingales, 2003); các điều khoản tín dụng dễ dãi (Waweru và Kalini, 2009).

Quản lý nhà nước đối với nợ xấu tại các NHNN là sự tác động có tổ chức, mang tính quyền lực công của NHNN và các cơ quan trong bộ máy của NHNN, thông qua hệ thống pháp luật và chính sách để điều chỉnh các hành vi và quy trình tín dụng của NHNN, nhằm mục tiêu đảm bảo an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng. Trong đó, nhà nước thực thi các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh của nợ xấu cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu để các NHNN tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

Hoạt động quản lý nợ xấu của Nhà nước bao gồm: Nhận diện nợ xấu, các biện pháp phòng ngừa nợ xấu và xử lý nợ xấu, trong đó bao gồm các biện pháp thu hồi nợ xấu phát sinh để các NHNN hoạt động an toàn, hiệu quả và bền vững. Vấn đề quan trọng nhất trong hoạt động quản lý nợ xấu là tiến hành các biện pháp hạn chế nợ xấu phát sinh, bởi khi nợ xấu gia tăng, sự phát triển của nền kinh tế, của cả hệ thống tài chính sẽ bị ảnh hưởng. Tùy vào đặc điểm ngân hàng ở mỗi quốc gia mà có những mô hình quản lý nợ xấu khác nhau, nhưng theo Ghosh (2015), quản lý nợ xấu là một quá trình phải được thực hiện liên tục thì hoạt động tín dụng của các NHNN mới có thể đảm bảo được sự an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững.

Quản lý của Nhà nước đối với nợ xấu của NHNN cần thiết khách quan xuất phát từ 4 yếu tố sau:

Thứ nhất, xuất phát từ chức năng chung của Nhà nước: Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không chỉ đóng vai trò bảo vệ cho nền kinh tế mà còn phải tham gia vào quá trình điều tiết các ngành và lĩnh vực để đạt được mục tiêu phát triển đã đề ra. Sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, quá trình hội nhập có tầm ảnh hưởng sâu rộng và tác động lớn đến định hướng chính trị và pháp lý của mỗi nước.

Thứ hai, xuất phát từ vai trò quan trọng của NHNN trong nền kinh tế: Sự ổn định của hệ thống NHNN chính là cơ sở để một nền kinh tế có thể phát triển bền vững. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 hay khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 đã cho thấy hoạt động của hệ thống NHNN đã tác động đến nền kinh tế như thế nào. Vì vậy, việc quản lý nợ xấu thông qua NHNN của Nhà nước phải được xây dựng và triển khai một cách đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế (Zhu Ning, Wang Bing và Wu Yanrui, 2015).

Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm hoạt động kinh doanh: So với các loại hình kinh doanh khác, hoạt động của NHNN có độ rủi ro cao hơn và có ảnh hưởng lớn, mang tính dây chuyền đối với nền kinh tế. Vì thế, hoạt động của các ngân hàng thường được điều chỉnh và kiểm soát chặt chẽ thông qua những đạo luật riêng biệt để đảm bảo sự vận hành an toàn và hiệu quả của hoạt động này.

Thứ tư, xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô về tài chính ngân hàng của Nhà nước: Nhà nước sử dụng hệ thống tài chính tiền tệ là công cụ trong quản lý nền kinh tế ở mức độ vĩ mô nên có thể nói hệ thống ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế. Sự phát triển hay trì trệ của hệ thống ngân hàng sẽ tỷ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của đất nước. Nhà nước cần quản lý hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHNN thông qua NHNN để đảm bảo sự phát triển ổn định và lành mạnh của thị trường tiền tệ (Rose, 2004).

3. Thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Nợ xấu hiện nay có xu hướng tăng cao ở một số NHNN, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế và làm giảm lãi suất cho vay. Theo số liệu thống kê từ báo cáo tài chính quý I/2019 của các NHNN cho thấy, đến hết quý I/2019, tổng số nợ xấu nội bảng ước tính là 84.200 tỷ đồng, tăng so với điểm đầu năm. Nhìn chung số NHTM có nợ xấu tăng vẫn chiếm tỷ trọng cao, có tới 15 trong 22 ngân hàng có nợ xấu tuyệt đối tăng. Bức tranh về tình hình nợ xấu của các NHNN Việt Nam có thể nhìn qua tiêu chí tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ hay còn được gọi là tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước giai đoạn 2010 – 2018 (Hình 1).

Hình 1: Tổng nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2018

Vai trò của NHNN về quản lý nhà nước đối với nợ xấu của hệ thống NHTM thể hiện qua việc NHNN xây dựng khuôn khổ pháp lý đối với sự hoạt động các NHTM ở Việt Nam. NHNN đã chủ trì soạn thảo, xây dựng, bổ sung và sửa đổi các khuôn khổ pháp lý về điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các NHNN, các tổ chức tín dụng để trình lên các cấp có thẩm quyền.

Kể từ năm 1990 đến nay đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thực hiện chính sách, pháp luật về tiền tệ trong ngành ngân hàng. Luật NHNN Việt Nam và Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) tạo cơ sơ pháp lý để NHNN nâng cao trách nhiệm, thẩm quyền và sự chủ động trong việc quản lý, giám sát an toàn hoạt động của các NHTM.

NHNN đã ban hành hệ thống các quy định trong hoạt động của hệ thống ngân hàng bao gồm quản lý rủi ro, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, quy định về tỷ lệ đảm bảo an toàn, tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung hạn, dài hạn, mức độ đủ vốn, minh bạch hóa hoạt động của ngân hàng.

Để đảm bảo sự an toàn, chặt chẽ trong hoạt động của các NHTM, NHNN đã lập và thực hiện các đề án cơ cấu và kiểm soát nợ xấu ở các NHTM, được chia làm 2 giai đoạn chính 2011-2015 và 2016-2020. Trước tình hình nợ xấu gia tăng sau cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, NHNN thực hiện Đề án “Cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” ban hành theo Quyết định số 254/QĐ-TTg. Khi thực hiện đề án này, phía NHNN đã đánh giá lại thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, xây dựng và đệ trình lên Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 843/2013/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 về phê duyệt Đề án “Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án “Thành lập Công ty Quản lý Tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC)”.

Về phía Nhà nước, NHNN chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ hoạt động của các NHTM và các TCTD, bao gồm: Các nội dung kiểm soát tăng trưởng tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng; hoàn thiện các văn bản pháp lý hỗ trợ cho quá trình đánh giá; kiểm tra, kiểm soát và xử lý nợ xấu; trích loại và sử dụng dự phòng rủi ro hiệu quả nhất. Nhờ đó các NHMT hoạt động an toàn hơn và thúc đẩy xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.

Khuôn khổ pháp lý về mua bán, xử lý nợ xấu thuộc phạm vi quản lý của NHNN gồm: Thứ nhất, ban hành các văn bản quy định về thành lập, cơ cấu tổ chức và hoạt động của VAMC; Thứ hai, ban hành quy định mới về mua, bán nợ của các TCTD; Thứ ba, phối hợp với các bộ, ngành ban hành các văn bản quy định về hoạt động xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của TCTD và VAMC.

Giai đoạn tiếp theo, Đề án “Cơ cấu hệ lại thống TCTD gắn với xử lí nợ xấu giai đoạn 2016-2020” được ban hành kèm theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg. Ở đề án này, NHNN yêu cầu các NHTM rà soát lại toàn bộ thực trạng nợ xấu, hướng dẫn công tác thu giữ tài sản được xác định theo các quy định tại Nghị quyết 42; thành lập Ban chỉ đạo, các tổ công tác xử lý nợ xấu và ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tích cực đôn đốc, yêu cầu khách hàng trả nợ, vận dụng linh hoạt các giải pháp hỗ trợ để xử lý tài sản đảm bảo có hiệu quả. Đồng thời, NHNN tiếp tục yêu cầu các TCTD phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định và tăng cường công tác quản lý rủi ro, nâng cao năng lực quản trị điều hành, kiểm soát nội bộ để phòng ngừa, kiểm soát nhằm hạn chế tối đa nợ xấu mới phát sinh và định kỳ báo cáo NHNN tình hình xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42.

NHNN cũng chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố yêu cầu các chi nhánh TCTD trên địa bàn chấp hành nghiêm túc quy định của pháp luật về cấp tín dụng, bảo đảm tiền vay, các quy định an toàn trong hoạt động. Các TCTD phải có văn bản cảnh báo nợ xấu đối với các QTDND có nợ xấu vượt mức cho phép; đồng thời thanh tra, giám sát công tác tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý thu hồi nợ, phát hiện và xử lý kịp thời các TCTD và cá nhân có hành vi vi phạm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.

Đối với VAMC, NHNN giao nhiệm vụ hoàn thiện việc sửa đổi và ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với các quy định mới; ký thỏa thuận hợp tác, phối hợp với một số TCTD (6 TCTD: Agribank, BIDV, Vietinbank, ACB, Sacombank, Techcombank, không bao gồm hệ thống QTDND) thí điểm triển khai đẩy mạnh xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42; hoàn thiện phương án mua nợ xấu theo giá thị trường, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan có thẩm quyền và khách hàng vay để hoàn thiện thủ tục, hồ sơ pháp lý và đề nghị được áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao và xử lý TSBĐ; đánh giá thực trạng các khoản nợ, nợ xấu và tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu đã mua để xác định khả năng thu hồi nợ, từ đó, có biện pháp xử lý phù hợp; tích cực tìm kiếm các đối tác mua nợ đối với các khoản nợ đã bán cho VAMC và được VAMC ủy quyền bán nợ.

Để giám sát, kiểm soát nợ xấu của các NHTM, NHNN còn chú trọng xây dựng, tổ chức bộ máy quản lý đối với hoạt động NHTM ở Việt Nam, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, đáp ứng được các yêu cầu và nhiệm vụ trong công tác của NHNN trong việc điều tra, đánh giá nợ xấu của NHTM. NHNN hiện nay còn sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để kiểm soát nợ xấu, đề phòng rủi ro đối với các NHTM bằng các công cụ như, dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn,… góp phần đảm bảo hệ thống NHTM hoạt động an toàn.

Ngoài ra, công tác thanh tra, giám sát các NHTM trong lĩnh vực nợ xấu vẫn được NHNN thực hiện theo định kì. Hoạt động thanh tra, giám sát của NHNN được quy định trong Luật NHNN năm 2010. Tổ chức bộ máy thanh tranh giám sát được cơ cấu nhằm nâng cao năng lực hoạt động. NHNN thực hiện giám sát từ xa dựa trên cơ sở nợ bằng các nội dung: diễn biến cơ cấu tài sản Nợ và Có, chất lượng tài sản có, vốn tự có, tình hình thu nhập, việc thực hiện các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động. Buộc các NHTM phải thực hiện chuẩn mực quốc tế về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng. Các chuẩn mực quốc tế Basel I, II đang được áp dụng tại nhiều NHTM hiện nay để quản trị rủi ro tốt hơn.

4. Giải pháp đề xuất

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu định lượng, tác giả đề xuất một số giải pháp với NHNN Việt Nam, gồm:

Thứ nhất, giải pháp xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của các NHTM và quản lý của NHNN. NHNN cần chú trọng tập trung việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động NHTM theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam. Đây là một trong các nhân tố quan trọng để thúc đẩy, hỗ trợ tích cực cho hoạt động của NHTM phát triển ổn định, an toàn và bền vững.

Thứ hai, giải pháp đẩy nhanh tiến độ tái cấu trúc NHTM. Quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM sẽ kém hiệu quả, nếu quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng kéo dài. Quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng bao gồm các hoạt động như: Giải thể một số ngân hàng yếu kém; tiến hành sáp nhập một số ngân hàng yếu vào ngân hàng khoẻ mạnh; củng cố tổ chức và hoạt động của các ngân hàng còn lại trong hệ thống.

Thứ ba, giải pháp tập trung, xử lý nợ xấu đối với các NHTM. Theo đó, cần tập trung xử lý, giải quyết được cơ bản vấn đề nợ xấu của các NHTM, từ đó sẽ khơi thông được dòng tín dụng, ổn định tính thanh khoản toàn hệ thống, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý của NHNN đối với hoạt động của các NHTM.

Thứ tư, giải pháp về xử lý sở hữu chéo trong hệ thống các NHTM. NHNN cần có đánh giá đầy đủ về tình hình sở hữu chéo trong hệ thống NHTM, từ đó rà soát lại các quy định pháp lý để tiến hành sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng ban hành mới các quy định để kiểm soát, hạn chế, ngăn ngừa các tác động tiêu cực của sở hữu chéo đối với NHTM.

Thứ sáu, đổi mới cơ chế chỉ đạo điều hành hoạt động thanh tra, kiểm tra và giám sát ngân hàng. Đồng bộ và thống nhất công tác quản lý mang tính hệ thống từ trung ương đến địa phương và tạo sự tương thích với xu hướng quản trị rủi ro tập trung của các NHTM hiện nay. Xuất phát từ thực tế, cơ chế chỉ đạo điều hành hoạt động kiểm tra giám sát nợ xấu của NHNN hiện nay tập trung ở NHNN cấp trung ương. Điều này dẫn đến một số vụ việc vi phạm về quản lý nợ xấu không được phát hiện xử lý kịp thời. NHNN cần phân rõ trách nhiệm gắn với từng vị trí đảm nhiệm trong hệ thống cơ quan thanh tra từ trung ương tới địa phương.

5. Kết luận

Nghiên cứu phân tích hoạt động quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHNN Việt Nam. Tác giả đã phân tích thực trạng nợ xấu và quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHNN Việt Nam hiện nay. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp đối với NHNN tập trung vào giải quyết 4 vấn đề, bao gồm: (1) môi trường pháp lý về hoạt động tín dụng và quản lý nợ xấu của NHNN, (2) tổ chức thực hiện quản lý của NHNN đối với nợ xấu của hệ thống NHNN Việt Nam, (3) kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng và nợ xấu của các NHNN, và (4) xử lý vi phạm của NHNN khi có với nợ xấu vượt ngưỡng trong hoạt động tín dụng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Beck Roland, Jakubik Petr, Piloiu Anamaria (2015). “Key Determinants of Non-performing Loans: New Evidence from a Global Sample,” Open Economies Review, Springer, vol. 26(3), pages 525-550, July.

Đoàn Phương Thảo, Tạ Nhật Linh (2014), “Nợ xấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và định hướng giải pháp”, Kinh tế & Phát triển, số 207 (II), tháng 09 năm 2014, tr. 61-68.

Fisher I. (1933) “The Debt-Deflation Theory of Great Depressions,” Econometrica, 1 (4): 337-57.

Ghosh Amit (2015), “Banking-industry specific and regional economic determinants of non-performing loans: Evidence from US states”, Journal of Financial Stability, Volume 20, Pages 93-104.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2010 – 2018), Báo cáo thường niên của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giai đoạn 2010-2018, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Nguyễn Lê Nguyên Dung (2019), “Thực trạng xử lý nợ xấu gắn với tái cơ cấu các tổ chức tín dụng ở Việt Nam và một số đề xuất”, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, Số 200+ 201- Tháng 1&2. 2019.

Rajan Raghuram G., Zingales Luigi (2003), “The Great Reversals: The Politics of Financial Development in the Twentieth Century”. Journal of Financial Economics, 69(1): 5-50.

Rose Peter S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại (sách dịch), NXB Tài chính, Hà Nội.

Sinkey Joseph F. Greenwalt Mary B. (1991). “Loan-Loss Experience and Risk-Taking Behvior at Large Commercial Banks”. Journal of Financial Services Research, 5: 43-59.

Waweru N.M., Kalani V. M. (2009), “Commercial banking crises in Kenya: causes and remedies”, African Journal of Accounting, Economic Economics, Finance and banking research, 4(4): 12-32.

Zhu Ning, Wang Bing, Wu Yanrui (2015), “Productivity, efficiency, and non-performing loans in the Chinese banking industry”, The Social Science Journal, Volume 52, Issue 4, Pages 468-480.

Some solutions to perfecting the state management over the non-performing loans of Vietnam’s commercial banking system

Faculty of Finance – Accounting, Dong A University

This study analyzes and assesses the role of the State Bank of Vietnam (SBV) in managing non-performing loans of commercial banking system in Vietnam. Based on the analyses, this study proposes some solutions to the SBV to help the central bank improve its efficiency in managing non-performing loans of Vietnam’s commercial banking system. These solution focuses on 4 following issues (1) the legal environment for the credit operations and non-performing loans management of the SBV, (2) the perform of the SBV’s non-performing loans management, (3) the inspection and supervision on credit activities of commercial banks and (4) the violation solving of the SBV when the non-performing loans of commercial banks exceed the limit.

Keywords: State management, non-performing loans, commercial bank, commercial banking system, Vietnam.

Thực Hiện Các Giải Pháp Xử Lý Nợ Xấu

Thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu

Được vay vốn của ngân hàng, Công ty CP Xuất khẩu nông sản Thành Trung (Nông Cống) phát triển sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế. Để hạn chế sự gia tăng nợ xấu, các ngân hàng trên địa bàn tỉnh đã, đang tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp xử lý và ngăn ngừa nợ xấu phát sinh.

Thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước – Chi nhánh tỉnh Thanh Hóa (NHNN Thanh Hóa) đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng củng cố, chấn chỉnh hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Đồng thời, tập trung xử lý, tăng cường các biện pháp kiểm soát, nâng cao chất lượng tín dụng, hạn chế đầu tư vào các lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mục tiêu đề ra là đến hết năm 2019 không để nợ xấu vượt quá 1% trong tổng dư nợ.

Trên cơ sở bám sát chỉ đạo của NHNN về hoạt động tín dụng và tình hình kinh tế địa phương, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã tích cực thực hiện các giải pháp mở rộng đầu tư tín dụng có hiệu quả đi đôi với kiểm soát chất lượng tín dụng. Vốn tín dụng được tập trung đầu tư trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh; cơ cấu cho vay tiếp tục dịch chuyển phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, du lịch, dịch vụ, sản xuất nông nghiệp sạch, hoạt động xuất khẩu… Tính đến hết tháng 7-2019, tổng dư nợ tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt hơn 115.150 tỷ đồng, tăng 6,4% so với đầu năm. Nguồn vốn tín dụng được đầu tư trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng thì những khoản đầu tư tín dụng tiềm ẩn nhiều rủi ro, có nguy cơ chuyển sang nợ quá hạn và nợ xấu cũng gia tăng. Theo thống kê của NHNN Thanh Hóa, hết tháng 7-2019, tổng nợ quá hạn trên địa bàn tỉnh là 1.128 tỷ đồng, chiếm 1,04%/tổng dư nợ. Nguyên nhân là do vẫn còn nhiều doanh nghiệp trên địa bàn gặp khó khăn về hoạt động sản xuất, kinh doanh, khó khăn về tình hình tài chính và khả năng trả nợ.

Để giải quyết và thu hồi nợ xấu, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV) Thanh Hóa đã thành lập ban chỉ đạo xử lý và thu hồi nợ; tiến hành rà soát, phân tích, đánh giá nguyên nhân từng khoản nợ để có những giải pháp thu hồi cụ thể. Những khoản cho vay nào có triển vọng, hiệu quả sẽ cơ cấu lại; những khoản vay xét thấy không còn hiệu quả sẽ thực hiện bán khoán tài sản, chuyển giao thu hồi nợ. Đối với khách hàng gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, ngân hàng phối hợp với khách hàng để cơ cấu lại nợ một cách phù hợp, như giãn thời hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi vay, hạ lãi suất cho vay một cách hợp lý để khách hàng giảm bớt khó khăn về tài chính.

Thời gian qua, các tổ chức tín dụng đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ trong việc kiềm chế và xử lý nợ xấu. NHNN Thanh Hóa đã chủ động tổ chức các đoàn thanh tra, kiểm tra tại các ngân hàng nhằm chấn chỉnh và minh bạch hoạt động của các đơn vị; tập trung giám sát việc chấp hành quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Đồng thời, chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn không ngừng nâng cao năng lực quản lý và thẩm định các dự án đầu tư, lựa chọn các dự án đầu tư an toàn, hiệu quả; xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ tín dụng cho vay không đúng quy định. Xem xét, xử lý theo thẩm quyền đối với trường hợp cán bộ thẩm định, định giá của ngân hàng có hành vi móc nối với khách hàng để nâng giá trị tài sản thế chấp nhằm trục lợi, chiếm đoạt tài sản của Nhà nước. Quán triệt đến cán bộ tín dụng, trong quá trình thỏa thuận hợp đồng, nhất là hợp đồng bảo lãnh thế chấp của bên thứ 3, cần giải thích rõ quyền, nghĩa vụ của người bảo lãnh, cần thể hiện rõ ràng các điều khoản hợp đồng, tránh đưa các nội dung đa nghĩa để có thể hiểu điều khoản ký kết theo nhiều hướng khác nhau, gây khó khăn cho quá trình xử lý tranh chấp. Qua đó, hạn chế nợ xấu phát sinh, bảo đảm tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng. Nhờ thực hiện đồng bộ các giải pháp, 7 tháng năm 2019, toàn ngành ngân hàng đã xử lý và thu hồi được hơn 100 tỷ đồng nợ xấu. Một số ngân hàng thực hiện xử lý nợ xấu đạt kết quả tốt, như: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn – Chi nhánh Thanh Hóa, Ngân hàng TMCP Công Thương – Chi nhánh Thanh Hóa; Ngân hàng TMCP Ngoại thương – Chi nhánh Thanh Hóa…

Thời gian tới, để giảm nợ xấu, quản lý rủi ro, NHNN Thanh Hóa yêu cầu các ngân hàng thương mại cần kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng phù hợp với nguồn vốn huy động cả về quy mô và cơ cấu, phù hợp với tăng trưởng kinh tế địa phương, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng. Thực hiện nghiêm túc quy trình, quy chế tín dụng. Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, nợ tồn đọng, nâng cao chất lượng tín dụng, lành mạnh hóa tài chính các ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Minh Hà

Quản Lý Nhà Nước Về Kinh Tế

Ngày đăng: 11/10/2013 10:51

Đổi mới quản lý nhà nước là hoạt động thường xuyên, lâu dài của mỗi quốc gia để nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nhằm thích ứng với bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng. Là một nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam không chỉ cần tích cực, khẩn trương trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật kinh tế, mà quan trọng hơn là phải đổi mới sâu sắc cả về tư duy lẫn phương pháp thực hiện. Chính vì vậy, trong Nghị quyết Đại hội Đảng X đã xác định nội dung nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là một trong ba nội dung chủ yếu để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để góp phần xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển, bài viết này đề cập một số vấn đề cần nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian tới.

1. Đổi mới về tư duy quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu chủ yếu của Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX01: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, vai trò điều hành của Chính phủ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường; được xác định như một trọng tài để điều khiển và giám sát sự phát triển của nền kinh tế. Theo đó, Chính phủ cần bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh và tạo điều kiện công bằng cho các chủ thể kinh tế thuộc các thành phần kinh tế khác nhau cùng phát triển.

Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay Chính phủ vừa giữ vai trò là “trọng tài”, vừa tham gia vào nền kinh tế khi thực hiện chức năng đầu tư vốn và thực hiện quyền chủ sở hữu đối với các chủ thể kinh tế nhà nước. Chính vì vậy, để quản lý kinh tế có hiệu quả, phát huy tối đa các nguồn lực trong xã hội, Chính phủ cần đổi mới tư duy quản lý kinh tế, chuyển dần chức năng “làm kinh tế” sang thực hiện tốt vai trò là “trọng tài” trong nền kinh tế; theo đó, cần tập trung vào giải quyết một số vấn đề sau:

Một là, tập trung hoàn thiện hệ thống các thị trường riêng đầy đủ, đồng bộ và công khai, bao gồm: thị trường hàng hoá dịch vụ, thị trường đất đai bất động sản; thị trường vốn, tài chính; thị trường khoa học và công nghệ; thị trường lao động, tạo “sân chơi” bình đẳng cho các thành phần kinh tế tham gia, xoá bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu.

Hai là, xác định rõ “vai trò chủ đạo” đối với các chủ thể kinh tế nhà nước, cụ thể là: Nhà nước cần giữ vai trò chủ đạo về kinh tế trong các ngành, lĩnh vực then chốt nào?, quy mô và phạm vi đến đâu?, bảo đảm tính chi phối thị trường ở mức độ nào?, hiệu quả kinh tế và xã hội do các chủ thể kinh tế nhà nước đem lại được đánh giá thông qua hệ thống chỉ tiêu nào?

Ba là, đổi mới phương thức quản lý nền kinh tế thông qua việc giảm tối đa các can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Thay vào đó, cần tập trung vào quản lý kinh tế vĩ mô, điều tiết nền kinh tế bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, hoạch định chính sách để huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường.

2. Đổi mới phương pháp thực hiện quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế thị trường nói chung, vai trò điều hành của chính phủ các nước, với tư cách là một chủ thể quản lý nền kinh tế, luôn được xác định là yếu tố đặc biệt quan trọng và không thể thiếu, nhưng có sự khác nhau về phương thức, hình thức, mức độ tác động, can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp vào nền kinh tế.

Đối với nước ta, trong thời gian qua, Chính phủ đã chủ động, tích cực đẩy mạnh cải cách hành chính. Theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, Chính phủ tập trung vào 4 nội dung cơ bản, đó là: cải cách thể chế; cải cách tổ chức bộ máy hành chính; đổi mới nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; cải cách tài chính công.

Nhìn chung, kết quả của công cuộc cải cách hành chính của Chính phủ đã có ảnh hưởng tích cực đến việc cải thiện môi trường kinh doanh tại Việt Nam, thể hiện qua chỉ số năng lực cạnh tranh doanh nghiệp tăng 4 hạng so sánh giữa năm 2007 với năm 2004. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh tổng hợp của nền kinh tế của Việt Nam năm 2007 không những không được cải thiện mà còn bị tụt giảm 4 hạng so với 2006. Theo đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam đứng thứ 68 trong số 131 nền kinh tế được xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh tổng hợp (điểm xếp hạng giao động trong khoảng 4,04-4,09).

Từ thực tế nêu trên, đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của Chính phủ. Mục tiêu của quá trình này là nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của Chính phủ trong việc quản lý và điều hành nền kinh tế. Muốn vậy, bên cạnh việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, Chính phủ cần đổi mới trong việc thực hiện chức năng phục vụ phát triển kinh tế – xã hội để làm tốt vai trò là chủ thể dẫn dắt và định hướng phát triển nền kinh tế. Để thực hiện tốt chức năng này, cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

– Một là, xử lý đúng mối quan hệ giữa thị trường và kế hoạch để giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội. Sự khác biệt chủ yếu giữa kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với kinh tế thị trường tự do chính là ở chỗ có sự kết hợp “hợp lý” giữa thị trường và kế hoạch. Trong khi tôn trọng đầy đủ vai trò của thị trường trong việc phân bổ các nguồn lực và điều tiết các hoạt động kinh tế mang tính kinh doanh, Chính phủ cần có chiến lược, kế hoạch để mở rộng và phát triển thị trường; ưu tiên đẩy mạnh quan hệ quốc tế; định hướng lộ trình và các chính sách cụ thể để thực hiện có hiệu quả.

– Hai là, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế, thiết lập, phát triển và mở rộng các mối quan hệ quốc tế trên cơ sở các hiệp định kinh tế song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước, khu vực và các tổ chức kinh tế quốc tế. Đây là tiền đề để tạo điều kiện, hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước vươn ra các thị trường nước ngoài, tham gia vào hệ thống sản xuất, kinh doanh, phân phối toàn cầu của nền kinh tế thế giới.

– Ba là, tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện cơ cấu tổ chức Chính phủ, ngoài các bộ thuộc khối đối ngoại, an ninh, quốc phòng, nội chính mà nước nào cũng có thì các bộ thuộc khối kinh tế cần được tổ chức, sắp xếp lại vừa thích hợp với thực tế Việt Nam, vừa có sự tương thích với các nước đối tác để phù hợp với điều kiện hội nhập.

– Bốn là, tăng cường các cơ quan hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô, cải thiện sự phối hợp giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, bảo đảm các số liệu về thông tin kinh tế được thu thập đầy đủ và có chất lượng để phục vụ quá trình ra quyết định, tăng khả năng phản ứng nhanh và nhất quán của Chính phủ với các điều kiện kinh tế thay đổi.

3. Hoàn thiện đồng bộ các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả

Theo Báo cáo đánh giá của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006-2010, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng khá nhanh, năm sau cao hơn năm trước; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội về cơ bản đã được hoàn thành. Tuy nhiên, Báo cáo cũng chỉ ra những vấn đề còn yếu kém, hạn chế như: sức cạnh tranh của nền kinh tế, chất lượng và tính bền vững của sự phát triển còn kém; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm; hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại còn nhiều hạn chế; bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức đổi mới chậm; quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Để từng bước khắc phục các điểm hạn chế, yếu kém trên, trong thời gian tới Chính phủ cần thiết lập và hoàn thiện các hệ thống đảm bảo quản lý nhà nước về kinh tế có hiệu quả như sau:

– Thứ nhất là hệ thống thông tin kinh tế. Thế kỷ XXI là thế kỷ của thông tin, trong đó, thông tin kinh tế chính xác, kịp thời và đầy đủ có vai trò đặc biệt quan trọng và có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển nền kinh tế của mỗi quốc gia. Mỗi quyết định của nhà quản lý kinh tế và nhà quản lý doanh nghiệp đều đòi hỏi những thông tin kinh tế hiệu quả, bảo đảm cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước cũng như trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có tính khả thi cao.

Để có được những thông tin kinh tế hiệu quả đối với mỗi quốc gia, không có một cơ quan hay một tổ chức đơn lẻ nào có thể làm thay vai trò của Chính phủ trong việc xây dựng và tổ chức quản lý mạng lưới hệ thống thông tin kinh tế, bảo đảm các thông tin kinh tế trong và ngoài nước được cập nhật nhanh, chính xác, kịp thời và đầy đủ. Việc quản lý cơ sở dữ liệu thông tin kinh tế cần được thực hiện tập trung, thống nhất bởi một cơ quan của Chính phủ. Theo đó, để bảo đảm khả năng tiếp cận thông tin kinh tế theo yêu cầu của các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và người dân, Chính phủ cần ban hành quy chế quản lý, sử dụng và khai thác thông tin kinh tế một cách công khai, minh bạch và hiệu quả.

– Thứ hai là hệ thống dự báo, cảnh báo, bao gồm: hệ thống các cơ quan dự báo, cảnh báo; các nguyên tắc, phương pháp dự báo, cảnh báo tiên tiến và hệ thống các chỉ tiêu phục vụ công tác dự báo, cảnh báo các biến động của nền kinh tế, để giúp Chính phủ điều chỉnh kịp thời các chính sách kinh tế cho phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, khu vực và thế giới.

– Thứ ba là hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ, bao gồm: hệ thống các cơ quan đánh giá và hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý – điều hành của Chính phủ, nhằm phân tích và phản biện các chính sách của Nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành nền kinh tế. Đối với các nước có nền kinh tế phát triển, hệ thống các cơ quan này được bảo đảm với cơ chế hoạt động độc lập, khách quan, không bị chi phối, tác động bởi các cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ; kết quả đánh giá của các cơ quan này rất được Chính phủ các nước quan tâm và lắng nghe.

Hiện nay, hàng năm tổ chức Ngân hàng thế giới có báo cáo về các chỉ dẫn quản lý – điều hành thế giới theo 6 chỉ dẫn tổng hợp: (1) ổn định chính trị/không có bạo lực, (2) hiệu quả hoạt động của chính phủ, (3) chất lượng của luật pháp, (4) thực thi pháp luật, (5) kiểm soát tham nhũng và (6) tiếng nói và trách nhiệm. Đây là các nội dung cần được quan tâm trong việc hoàn thiện hệ thống đánh giá chất lượng hoạt động của Chính phủ.

– Thứ tư là hệ thống sáng tạo. Đây là cách thức để Chính phủ các nước khuyến khích việc đề xuất các ý tưởng có tính sáng tạo, cải cách, đột phá trong quản lý nhà nước về kinh tế; đồng thời, tạo điều kiện cho các ý tưởng này được ươm tạo, thử nghiệm, áp dụng thí điểm, để làm cơ sở cho quá trình đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về kinh tế trên phạm vi rộng.

ThS. Vũ Hải Nam – Chuyên viên Vụ Tổ chức – Biên chế, Bộ Nội vụ / Tạp chí Tổ chức Nhà nước Số 7/2009

Bạn đang xem bài viết Quản Lý Nhà Nước Về Nợ Xấu trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!