Xem Nhiều 1/2023 #️ Quốc Hội Của Hiến Pháp Năm 2013 # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Quốc Hội Của Hiến Pháp Năm 2013 # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Quốc Hội Của Hiến Pháp Năm 2013 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Bài viết: Quốc hội của Hiến pháp năm 2013

TÓM TẮT

Quốc hội – cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân – là thiết chế đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nước các nhà nước dân chủ hiện đại. Sự hiện diện của Quốc hội thể hiện chủ quyền của nhân dân, là biểu tượng cho nền dân chủ của một quốc gia. Ở Việt Nam, Quốc hội được thành lập sau khi đất nước ta giành được độc lập chủ quyền, và những vấn đề quan trọng nhất về Quốc hội luôn được quy định một cách trang trọng trong các bản Hiến pháp. Do hoàn cảnh lịch sử ở nước ta mỗi giai đoạn có những đặc điểm riêng nên những quy định của mỗi Hiến pháp về Quốc hội cũng có những nội dung khác biệt nhất định.

I. Quốc hội Việt Nam qua các Bản hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992

1. Nghị viện nhân dân theo Hiến pháp năm 1946

Theo quy định của Hiến pháp năm 1946, cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân gọi là “Nghị viện nhân dân”. Hiến pháp năm 1946 dành Chương III với 21 điều để quy định về các vấn đề quan trọng nhất của Nghị viện nhân dân như: vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, nhân sự, kỳ họp.

Theo quy định tại Điều thứ 22, trong bộ máy nhà nước Nghị viện nhân dânlà cơ quan có quyền cao nhất, có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài. Nghị viện nhân dân do công dân bầu ra với nhiệm kỳ 3

năm. Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp duy nhất quy định số lượng nghị viên được tính theo tỷ lệ dân số, cứ 5 vạn dân thì bầu một nghị viên.

Về tổ chức Nghị viện nhân dân, Hiến pháp 1946 chưa quy định về các cơ quan tham mưu, tư vấn trong cơ cấu tổ chức của Nghị viện nhân dân mà chỉ quy định về cơ quan thường trực của Nghị viện nhân dân là Ban thường vụ. Khi Nghị viện không họp, Ban thường vụ có quyền: biểu quyết những dự án sắc luật của Chính phủ, và những sắc luật đó phải được trình Nghị viện vào phiên họp gần nhất để

Nghị viện ưng chuẩn hoặc phế bỏ; triệu tập Nghị viện nhân dân; kiểm soát và phê bình Chính phủ. Ban thường vụ nghị viện có thể bị bỏ phiếu tín nhiệm nếu có một phần tư tổng số nghị viên yêu cầu và phải từ chức khi không được tín nhiệm.

Vấn đề tổ chức kỳ họp nghị viện được Hiến pháp quy định khá toàn diện và chi tiết. Kỳ họp Nghị viện nhân dân được tổ chức mỗi năm hai lần. Thời gian tổ chức kỳ họp thường lệ được ấn định là vào tháng 5 và tháng 11 dương lịch (Điều thứ 28) và hội nghị chỉ được biểu quyết khi có quá nửa số nghị viên tới họp, việc quyết nghị được tính theo quá nửa nghị viên có mặt trừ trường hợp tuyên chiến thì phải được ít nhất hai phần ba nghị viên có mặt bỏ phiếu thuận (Điều thứ 29). Ban thường vụ có thể triệu tập hội nghị bất thường nếu xét cần. Ban thường vụ phải triệu tập Nghị viện nếu một phần ba tổng số nghị viên hoặc Chính phủ yêu cầu.

Hiến pháp năm 1946 cũng quy định rất cụ thể về thủ tục bãi miễn một nghị viên, theo Điều thứ 41 thì Nghị viện phải xét vấn đề bãi miễn một nghị viên khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố đã bầu ra nghị viên đó. Nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ chức.

Nhìn chung, những quy định của Hiến pháp năm 1946 về Nghị viện nhân dân là khá toàn diện và một số vấn đề được quy định tương đối chi tiết có khả năng áp dụng trực tiếp không cần thông qua luật cụ thể hóa. Đây có thể coi là ưu điểm của Hiến pháp năm 1946 khi quy định về Nghị viện nhân dân.

2. Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959

So với Nghị viện nhân dân trong Hiến pháp năm 1946, các quy định về Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 có một số điểm khác biệt cơ bản như sau:

Thứ nhất, tính quyền lực của Quốc hội theo Hiến pháp 1959 được khẳng định mạnh mẽ hơn, thẩm quyền của Quốc hội được mở rộng và được quy định cụ thể hơn.

Về vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước, Điều 43 quy định “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Điều 50 có 17 khoản quy định, trong đó có những nhiệm vụ, quyền hạn mới mà Hiến pháp 1946 chưa quy định là: làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; giám sát việc thi hành Hiến pháp; quyết định kế hoạch kinh tế Nhà nước; quyết định đại xá,… Đặc biệt, quy định tại khoản 17 Điều 50 cho phép Quốc hội định thêm những quyền hạn cần thiết khác (chưa được liệt kê trong Hiến pháp).

Thứ hai, cơ cấu tổ chức của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp 1959 đầy đủ hơn, gồm có cả cơ quan thường trực và các cơ quan tham mưu tư vấn cho Quốc hội theo từng lĩnh vực cụ thể.

Cơ quan thường trực của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 được đổi tên thành Ủy ban thường vụ Quốc hội (Điều 51) và thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội được quy định theo hướng mở rộng hơn so với Ban thường vụ nghị viên theo Hiến pháp năm 1946 với các quyền hạn mới như ban hành pháp lệnh, giải thích pháp luật, giám sát Tòa án nhân dân tối cao, quyết định về một số chức danh trong Hội đồng chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao… Mặt khác, nếu như theo Hiến pháp năm 1946, vai trò của Ban thường vụ nghị viện chỉ thể hiện trong thời gian Quốc hội không họp thì theo Hiến pháp năm 1959 trừ việc quyết định việc bổ nhiệm hoặc miễn Phó thủ tướng và những thành viên khác của Hội đồng chính phủ, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh trong thời gian Quốc hội không họp, thì đối với những nhiệm vụ, quyền hạn còn lại, Ủy ban thường vụ Quốc hội mặc nhiên được thực hiện.

Các cơ quan hoạt động mang tính chuyên môn được thành lập để giúp Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội được Hiến pháp quy định gồm Uỷ ban dự án pháp luật, Uỷ ban kế hoạch và ngân sách, và những uỷ ban khác mà Quốc hội xét thấy cần thiết.

Ngoài ra, Hiến pháp năm 1959 còn quy định việc thành lập một số cơ quan hoạt động không thường xuyên như Uỷ ban thẩm tra tư cách đại biểu, Uỷ ban điều tra về những vấn đề nhất định.

Hiến pháp năm 1959 chính thức quy định quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội đối với Hội đồng chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ. Theo Điều 59 của Hiến pháp năm 1959, “cơ quan bị chất vấn phải trả lời trong thời hạn năm ngày; trường hợp cần phải điều tra thì thời hạn trả lời là một tháng”.

Thứ ba, Hiến pháp năm 1959 không ấn định cụ thể về thời điểm tổ chức kỳ họp Quốc hội. Ngoài ra, theo Hiến pháp năm 1959 thì tất cả các luật của Quốc hội đều phải được Chủ tịch nước công bố chứ không thể bị yêu cầu xem xét lại như Hiến pháp năm 1946 quy định.

Với những điểm thay đổi trên, có thể nhận thấy, Quốc hội theo Hiến pháp năm 1959 đã được tăng cường thẩm quyền và khả năng chi phối những cơ quan còn lại trong bộ máy nhà nước, điều này đã bước đầu thể hiện quyền lực thực tế của Quốc hội trong bộ máy nhà nước ta trong giai đoạnnày.

3. Quốc hội theo Hiến pháp năm 1980

Trên quan điểm đề cao quyền làm chủ tập thể của nhân dân, với 16 điều thuộc Chương VI, Hiến pháp năm 1980 đã tiếp thu những quy định về Quốc hội trong Hiến pháp 1959 đồng thời có một số điều chỉnh nhằm tạo cho Quốc hội khả năng tập trung quyền lực mạnh mẽ cũng như khả năng chi phối toàn diện tới các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Hiến pháp năm 1980 có thay đổi trong nội dung diễn đạt về vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội. Theo Điều 82 Hiến pháp năm 1980, ngoài tính quyền lực cao nhất, Quốc hội được xác định “là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân”. Tính đại diện được nêu trước tiên như là tiền đề cho việc khẳng định “quyền lực cao nhất” của Quốc hội.

Chức năng của Quốc hội theo Điều 83 Hiến pháp năm 1980 được quy định rõ hơn, gồm có: lập hiến, lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng nhất của đất nước và giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Để tạo khả năng mở rộng quyền lực cho Quốc hội, bên cạnh việc liệt kê các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, Hiến pháp năm 1980 tiếp tục cho phép Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết.

Nhiệm kỳ của Quốc hội, đến Hiến pháp năm 1980, một lần nữa được nâng từ 4 năm lên 5 năm.

Những quy định về kỳ họp Quốc hội trong Hiến pháp năm 1980 về cơ bản không thay đổi nhiều với Hiến pháp năm 1959, chỉ có một điểm mới đáng chú ý là Điều 86 Hiến pháp năm 1980 liệt kê cụ thể các chủ thể được quyền trình dự án luật trước Quốc hội, trong đó bao gồm không chỉ các cơ quan nhà nước ở trung ương hay các chức danh cấp cao trong bộ máy nhà nước như Hội đồng nhà nước, Hội đồng bộ trưởng, Chủ tịch Quốc hội, Hội đồng quốc phòng, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao mà cả Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các chính đảng, Tổng công đoàn Việt Nam, tổ chức liên hiệp nông dân tập thể Việt Nam, Đoàn thành niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam cũng có quyền trình dự án luật ra trước Quốc hội.

Về tổ chức của Quốc hội, Chương VI Hiến pháp năm 1980 chỉ quy định về các cơ quan giúp Quốc hội theo từng lĩnh vực gồm Hội đồng dân tộc và các Ủy ban thường trực. Còn cơ quan thường trực của Quốc hội là Hội đồng nhà nước được quy định tại một chương riêng (Chương VII), và so với Ủy ban thường vụ Quốc hội trong Hiến pháp năm 1959, Hội đồng nhà nước ngoài tính chất là cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội còn đảm nhiệm chức năng nguyên thủ quốc gia – là chủ tịch tập thể của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Hiến pháp năm 1980 vẫn giữ các quyđịnh về đại biểu Quốc hội như Hiến pháp năm 1959, và bổ sung thêm quy định vềmối quan hệ, trách nhiệm của đại biểu Quốc hội với nhân dân.

4. Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001)

Hiến pháp năm 1992 vẫn giữ nguyên các quy định của Hiến pháp năm 1980 về vị trí, tính chất pháp lý của Quốc hội, chức năng, các cơ quan giúp Quốc hội theo lĩnh vực, nhiệm kỳ, kỳ họp Quốc hội. So với Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 có một số điều chỉnh trong quy định về Quốc hội như sau:

Thứ nhất, Hiến pháp năm 1992 bỏ quyền hạn “quyết định giao cho các tổ chức xã hội việc thực hiện một số nhiệm vụ thuộc chức năng quản lý của Nhà nước” của Quốc hội, đồng thời không còn quy định cho phép “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm vụ và quyền hạn khác, khi xét thấy cần thiết”. Như vậy, mặc dù Quốc hội vẫn là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” trong bộ máy nhà nước, nhưng so với Hiến pháp năm 1980 thẩm quyền của Quốc hội theo Hiến pháp năm 1992 đã bị giới hạn.

Thứ hai, Hiến pháp năm 1992 bỏ quy định về Hội đồng nhà nước vừa là cơ quan thường trực của Quốc hội, vừa là chủ tịch tập thể và khôi phục lại Ủy ban thường vụ Quốc hội như trong Hiến pháp năm 1959 nhưng thẩm quyền cũng bị giới hạn hơn so với trước đây.

Thứ ba, Hiến pháp năm 1992 bổ sung cho đại biểu Quốc hội quyền kiến nghị về luật bên cạnh quyền trình dự án luật đã quy định từ các bản Hiến pháp trước nhằm tăng tính khả thi trong việc đóng góp sáng kiến lập pháp của các đại biểu Quốc hội.

Với những điều chỉnh nêu trên, Hiến pháp năm 1992 một mặt khẳng định địa vị pháp lý cao nhất của Quốc hội trong bộ máy nhà nước; mặt khác vẫn đảm bảo tính pháp quyền của nhà nước, theo đó Quốc hội dù là cơ quan quyền lực cao nhất nhưng vẫn phải hoạt động trong khuôn khổ thẩm quyền được Hiến pháp quy định.

II. Sự cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp 1992 và định hướng xây dựng các quy định của hiến pháp về bộ máy nhà nước?

1. Sự cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp năm 1992

Theo Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp ngày 19/10/2012 thì sau 20 năm thực hiện Hiến pháp 1992, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và đến nay đất nước đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh tình hình quốc tế có những biến đổi sâu sắc và phức tạp. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu, định hướng phát triển toàn diện, bền vững đất nước trong giai đoạn cách mạng mới nhằm mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh. Vì vậy, cần sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để đảm bảo đổi mới đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; xây dựng và bảo vệ đất nước tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.

2. Những quan điểm về sửa đổi các quy định của Hiến pháp về bộ máy nhà nước

Tờ trình về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đưa ra 6 quan điểm chính về sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nói chung, theo đó tư tưởng chủ đạo về sửa đổi bộ máy nhà nước như sau:

– Kế thừa những quy định còn phù hợp của Hiến pháp năm 1992 và của các bản Hiến pháp trước đây; sửa đổi, bổ sung những vấn đề thực sự cần thiết, những vấn đề đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, có đủ cơ sở, nhận được sự thống nhất cao và phù hợp với tình hình mới đã được văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định.

– Thể hiện tính chất “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp “.

III. Những nội dung chủ yếu về Quốc hội theo quy định của Hiến pháp năm 2013

Hiến pháp năm 2013 dành Chương V với 17 điều (từ Điều 69 đến Điều 85) để quy định về Quốc hội. Chương V được xây dựng trên cơ sở các quan điểm chung về bộ máy nhà nước và các góp ý của các tầng lớp nhân dân về nội dung Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 với các nội dung cơ bản sau:

1. Vị trí, tính chất pháp lý, chức năng của Quốc hội

Theo Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội vẫn tiếp tục được xác định “là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Quốc hội là cơ quan bao gồm các đại biểu được Nhân dân cả nước bầu ra, thong qua Quốc hội Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước của mình.

Trong bộ máy nhà nước, Quốc hội là cơ quan có quyền lực cao nhất, thực hiện “quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước”

Như vậy, vị trí tính chất, pháp lý và chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013 về cơ bản không có thay đổi so với Hiến pháp năm 1992. Với quy định tại Điều 69, Quốc hội tiếp tục giữ vị trí tối cao trong bộ máy nhà nước. Vị trí của Quốc hội là biểu hiện rõ nhất chủ quyền của nhân dân và tính thống nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta.

2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội

Trong quá trình góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đã có một số ý kiến góp ý về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, đặc biệt là về thẩm quyền lập hiến và quyết định trưng cầu ý dân. Tuy nhiên, các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được quy định trong Điều 84 Hiến pháp năm 1992 được Hiến pháp 2013 tiếp tục quy định lại trong nhưng có một số điều chỉnh, bổ sung như sau:

– Quyền “Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước” quy định tại khoản 3 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 được sửa thành “Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”. Quy định mới này cụ thể và xác định rõ ràng hơn phạm vi trách nhiệm của Quốc hội trong việc quyết định những vấn đề về kinh tế – xã hội của đất nước, đảm bảo tính khả thi và phù hợp hơn trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

– Khoản 5 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 bổ sung thêm quyền quyết định chính sách tôn giáo bên cạnh quyền quyết định chính sách dân tộc. Bổ sung này cho thấy tầm quan trọng của vấn đề tôn giáo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

– Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 bổ sung thủ tục “tuyên thệ trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp” của các chức danh Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao sau khi được Quốc hội bầu. Mặc dù đây khôi phải là thủ tục mới theo thông lệ thế giới nhưng ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên Hiến pháp quy định về vấn đề này. Bổ sung này đã thể hiện rõ tính pháp quyền của Nhà nước ta và sự đề cao giá trị của Hiến pháp trong đời sống xã hội.

– Khoản 14 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định thêm thẩm quyền của Quốc hội “quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế”. Quy định này tạo cho Quốc hội quyền quyết định thực tế hơn trong lĩnh vực đối ngoại.

– Trong lĩnh vực tổ chức nhà nước, có một bổ sung quan trọng đó là thẩm quyền của Quốc hội “phê chuẩn việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao”. Bổ sung mới này được đánh giá là đã làm rõ hơn vai trò của Quốc hội trong mối quan hệ với cơ quan thực hiện quyền tư pháp và góp phần nâng cao vị thế của thẩm phán phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Ngoài ra, việc thành lập thêm hai cơ quan mới là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước cũng dẫn tới những bổ sung trong quy định về thẩm quyền của Quốc hội trong việc thành lập, giám sát các cơ quan, các chức danh trong bộ máy nhà nước, xử lý văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước ban hành.

3. Nhiệm kỳ và kỳ họp Quốc hội

Nhiệm kỳ của Quốc hội theo Điều 71 Hiến pháp năm 2013 vẫn là 5 năm. So với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 có một bổ sung trong quy định về việc kéo dài nhiệm kỳ của Quốc hội, theo đó “việc kéo dài nhiệm kỳ của một khóa Quốc hội không được quá mười hai tháng, trừ trường hợp có chiến tranh”.Trước đây, Quốc hội khóa 1 phải kéo dài nhiệm kỳ từ năm 1946 đến năm 1960.

4. Cơ cấu tổ chức và đại biểu Quốc hội

Về cơ cấu tổ chức của Quốc hội, theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cơ cấu tổ chức của Quốc hội vẫn gồm có: Ủy ban thường vụ Quốc hội (cơ quan thường trực) và Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội (cơ quan giúp cho Quốc hội theo lĩnh vực, chuyên môn cụ thể).

Ngoài việc làm rõ hơn vai trò của Ủy ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội được giao thêm thẩm quyền điều chỉnh địa giới hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cho Ủy ban thường vụ Quốc hội theo đề nghị của Chính phủ (thẩm quyền này theo Hiến pháp năm 1992 thuộc về Chính phủ).

Bên cạnh các cơ quan đã được quy định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn bổ sung thêm quy định về việc thành lập Ủy ban lâm thời để nghiên cứu, thẩm tra một dự án hoặc điều tra về một vấn đề nhất định giúp Quốc hội.

Trong giai đoạn góp ý về Dự thảo sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, có khá nhiều ý kiến góp ý đối với các quy định về đại biểu Quốc hội, tập trung chủ yếu vào vấn đề kiêm nhiệm của đại biểu Quốc hội, về trách nhiệm của đại biểu với cử tri, cơ chế miễn nhiệm đại biểu,… Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 không thể hiện những nội dung quan trọng trong các đề xuất về các vấn đề trên. Những nội dung cơ bản của Hiến pháp năm 1992 về đại biểu Quốc hội được Hiến pháp năm 2013 giữ lại toàn bộ, chỉ điều chỉnh lại cách diễn đạt và có thêm một số bổ sung nhỏ như: trách nhiệm “đôn đốc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân”; trách nhiệm “phổ biến và vận động Nhân dân thực hiện Hiến pháp và pháp luật” (thay vì “phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội” như Hiến pháp năm 1992); quyền tham gia làm thành viên của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban của Quốc hội.

5. Đánh giá chung

So với các nội dung khác của Hiến pháp, các nội dung về Quốc hội được quy định trong Hiến pháp năm 2013 so với Hiến pháp năm 1992 thay đổi không nhiều. Những quy định về vị trí, chức năng, cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội cơ bản vẫn giữ như quy định của Hiến pháp năm 1992. Các điều chỉnh, bổ sung mới chỉ nhằm mục đích quy định phù hợp chức năng của Quốc hội trong lĩnh vực lập pháp và mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước thực hiện quyền hành pháp, tư pháp.

Tác giả: Nguyễn Cảnh Hợp*, Đinh Thị Cẩm Hà** – Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số Đặc san 01/2014, Trang 41-47

Vị Trí, Chức Năng Của Quốc Hội Trong Hiến Pháp Năm 2013

Đây là sự thay đổi cơ bản về nhận thức xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), đồng thời kế thừa tư tưởng lập hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hiến pháp năm 1946.

Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội, Hội đồng nhân dân) mà còn thông qua các cơ quan nhà nước khác, và bằng cả hình thức dân chủ trực tiếp như phúc quyết Hiến pháp khi Quốc hội quyết định (Điều 120), trưng cầu dân ý (Điều 29). Vì thế, quyền lập hiến cao hơn quyền lập pháp, Nhân dân sử dụng quyền lập hiến để thiết lập quyền lực nhà nước, trong đó có quyền lập pháp.

Vềchức năng của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ hơn, khái quát hơn trên ba phương diện: thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Trước hết, về thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 đã có sự phân biệt rõ ràng giữa quyền lập hiến, quyền lập pháp và thay quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” bằng quy định “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp” (lập hiến và lập pháp theo Hiến pháp năm 1992 là một quyền).

Hiến định nội dung này, Hiến pháp năm 2013 đòi hỏi Quốc hội phải tập trung hơn nữa vào chức năng làm luật để khắc phục tình trạng vừa thiếu pháp luật, vừa mẫu thuẫn, chồng chéo trong hệ thống pháp luật, thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo đảm mọi hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có Quốc hội đều phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, không thể tự định cho mình những nhiệm vụ, quyền hạn khác ngoài những nhiệm vụ và quyền hạn đã được Hiến pháp, pháp luật quy định. Thứ hai, về quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, so với quy định của Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 đã quy định theo hướng khái quát hơn, bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo cơ sở để cụ thể hóa nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội trong Hiến pháp và trong các đạo luật chuyên ngành.

Toàn cảnh phiên họp Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8.

Thứ ba, về giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Đây là hoạt động mang tính chất chính trị, thể hiện ý chí của cử tri và là một trong những tiêu chí để đánh giá tính hiệu lực, hiệu quả của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. So với Hiến pháp năm 1992 thì quy định này có những điểm mới đáng chú ý sau: (1) phạm vi thẩm quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước của Quốc hội là có giới hạn, không mở rộng đến “toàn bộ” hoạt động của Nhà nước (bao gồm các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ở Trung ương và các cơ quan nhà nước ở địa phương mà chỉ tập trung vào các cơ quan ở trung ương như Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao). (2) Bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập. (3) Quy định khái quát để các luật có điều kiện cụ thể hóa những hoạt động nào của Nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội.

Theo đó, việc thực hiện chức năng giám sát của Quốc hội được thực hiện tại kỳ họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, bằng các hình thức: xét báo cáo công tác của các cơ quan Nhà nước (Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập); xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra về một vấn đề nhất định và xem xét kết quả điều tra của Ủy ban; tổ chức các đoàn giám sát; bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn (việc bỏ phiếu tín nhiệm với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn là phương thức để Quốc hội thực hiện quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi người đó không xứng đáng với trọng trách được giao); bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội…

Vị trí pháp lý của Quốc hội còn được thể hiện rõ trong các mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Cùng với sự phân công rành mạch chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước còn được thực hiện thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, tránh lấn sân, chồng chéo, mâu thuẫn khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đó. Để tăng cường quan hệ phối hợp trong việc thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp.

Theo đó, sự phối hợp, kiểm soát hoạt động của Quốc hội cũng được thể hiện trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ này, theo hướng việc làm Hiến pháp, sửa đổi Hiến pháp không chỉ riêng Quốc hội thực hiện mà còn dựa trên ý kiến đề nghị của “Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội”. Đối với quyền lập pháp, Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền sáng kiến lập pháp của nhiều chủ thể, trong đó có Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, đồng thời cũng quy định rõ sự khác nhau về quyền sáng kiến lập pháp của cá nhân đại biểu Quốc hội với các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Sự tham gia của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức khác trong quá trình soạn thảo và trình các dự án luật đã thể hiện rõ sự phối hợp giữa Quốc hội với các cơ quan hành pháp và tư pháp trong việc thực hiện quyền lập pháp. Đối với việc phối hợp trong thực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 khẳng định Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp. Theo đó, Chính phủ có quyền ban hành các chính sách, văn bản độc lập để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Đây là điểm mới so với Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định Chính phủ có quyền ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội ). Trong việc thực hiện quyền hành pháp, mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ còn được thể hiện ở quyền quyết định và hoạch định chính sách.

Theo đó, Quốc hội quyết định những chính sách dài hạn, mang tầm định hướng quốc gia, còn Chính phủ quyết định những chính sách ngắn hạn, mang tính chất điều hành các mặt kinh tế, xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, cơ chế phối hợp trong việc thực hiện quyền hành pháp còn thể hiện thông qua việc Quốc hội tham gia vào việc quy định tổ chức và hoạt động của Chính phủ; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Thủ tướng Chính phủ; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ; bỏ phiếu tín nhiệm đối với Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đơn vị hành chính kinh tế – đặc biệt…

Về quan hệ phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp, Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội có quyền xét báo cáo công tác của Tòa án nhân dân tối cao; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bỏ phiếu tín nhiệm đối với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; bãi bỏ văn bản của Tòa án nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Ngược lại, việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; đấu tranh phòng ngừa và chống các tội phạm, các vi phạm Hiến pháp, pháp luật, giữ vững kỷ cương pháp luật là nhiệm vụ hàng đầu của cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân không được can thiệp vào hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm tôn trọng, giữ gìn, bảo vệ tính pháp quyền và công lý trong các phán quyết của Tòa án. Đây chính là cách thức thể hiện sự phối hợp quan trọng nhất giúp cơ quan tư pháp thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình.

Mối Quan Hệ Giữa Quốc Hội Với Các Cơ Quan Nhà Nước Ở Trung Ương Theo Hiến Pháp Năm 2013

Mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo Hiến pháp năm 2013. Bài tập học kỳ Luật hiến pháp 9 điểm.

Mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo Hiến pháp năm 2013

Bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là một hệ thống gồm nhiều cơ quan có vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một thể thống nhất. Trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa của ta, Quốc hội chiếm một vị trí đặc biệt với những tính chất và chức năng vô cùng quan trọng, và trong hiến pháp có hẳn một chế định pháp luật về Quốc hội. Để có thể đảm bảo uy tín cũng như trách nhiệm trong việc thực hiện các chức năng của mình, Quốc hội phải gắn bó chặt chẽ đối với các cơ quan nhà nước, đặc biệt là các cơ quan nhà nước ở trung ương. Trong BT lớn lần này, em xin đi tìm hiểu chi tiết hơn về Quốc hội với đề tài số 10: “Mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước ở trung ương theo Hiến pháp năm 2013”.

I. Vị trí, tính chất và chức năng của Quốc hội:

Theo Điều 69 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

II. Mối quan hệ giữa Quốc hội với Chính phủ:

“Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.” (Điều 94 Hiến pháp năm 2013). Ta thấy, Quốc hội và Chính phủ gắn bó mật thiết với nhau để xây dựng, phát huy tối đa tiềm lực quốc gia.

Quốc hội quy định tổ chức và hoạt động của Chính phủ. Thủ tướng Chính phủ do Quốc hội bầu trong số các đại biểu Quốc hội (Điều 98) tại kỳ họp đầu tiên của mỗi khóa. Chính phủ độc lập về nhân viên: ngoài Thủ tướng, các thành viên Chính phủ không thể đồng thời là thành viên Ủy ban thường vụ Quốc hội (khoản 3 Điều 73 Hiến pháp năm 2013). Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ (Khoản 3 Điều 98 và khoản 7 Điều 70 Hiến pháp năm 2013).

Chức Năng Của Quốc Hội Theo Hiến Pháp 2013 Và Một Số Kiến Nghị Bảo Đảm Thực Hiện

Ngày đăng: 28/06/2017 03:20

1. Chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013

a, Thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp của Quốc hội

Về vị trí của Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 tiếp tục ghi rõ: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Hiến pháp năm 1992. Tuy vậy, khác với Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 không ghi Quốc hội là cơ quan “duy nhất” có quyền lập hiến.

Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định về chức năng lập hiến, lập pháp của Quốc hội như sau: “Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp”.Trong khi đó Điều 83 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung năm 2001 quy định: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp”.Như vậy, theo Hiến pháp năm 1992 thì Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền thông qua, sửa đổi Hiến pháp và pháp luật.

b, Quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước

c, Thực hiện giám sát tối cao

Hiến pháp năm 2013 không quy định Quốc hội giám sát tối cao đối với “toàn bộ hoạt động của Nhà nước” (đoạn 4 Điều 83) mà thu hẹp phạm vi của quyền giám sát tối cao của Quốc hội.

Theo Hiến pháp năm 1992, Quốc hội có quyền giám sát bất cứ hoạt động nào của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, kể cả cấp cơ sở. Tại Hiến pháp năm 2013, phạm vi đó đã được giới hạn trong các hoạt động của cơ quan nhà nước ở cấp cao nhất, những cơ quan do Quốc hội thành lập, phê chuẩn như Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia (Điều 70 Hiến pháp năm 2013). Phạm vi này phù hợp với chức năng giám sát tối cao của Quốc hội, đồng thời phù hợp với thực tiễn thực hiện chức năng giám sát này.

Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung thẩm quyền của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao đối với các thiết chế độc lập như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan nhà nước khác do Quốc hội thành lập.

Khoản 2 Điều 84 Hiến pháp năm 1992 quy định về các chủ thể thuộc quyền giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm: Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Tuy nhiên, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng thêm phạm vi thực hiện quyền giám sát tối cao của Quốc hội đối với các thiết chế như Kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập. Quy định này là phù hợp với tính chất hoạt động giám sát của Quốc hội. Sở dĩ có sự thay đổi này là do Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung hai thiết chế hiến định độc lập (cơ quan) là Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước (Chương X). Vì các cơ quan này thuộc thẩm quyền thành lập của Quốc hội nên phải đưa vào nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Hơn nữa, việc hiến định các cơ quan độc lập trên góp phần làm rõ chủ quyền nhân dân, làm rõ hơn cơ chế phân công, phối hợp trong việc kiểm soát quyền lực và hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Quy định mang tính chất khái quát hóa để các văn bản luật có điều kiện cụ thể hóa những hoạt động nào của nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội

Việc quy định mang tính chất khái quát về những hoạt động của Nhà nước thuộc thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội tại Khoản 2 Điều 70 Hiến pháp năm 2013 là cơ sở vững chắc để các văn bản pháp luật ban hành sau này được xây dựng có hệ thống, chi tiết, tránh sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các lĩnh vực pháp luật.

2. Một số vấn đề đặt ra

Như trên đã phân tích, để phù hợp với đường lối chính trị, tăng quyền làm chủ của nhân dân, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định Quốc hội không phải là chủ thể “duy nhất”có quyền lập hiến, quyền lập pháp mà đã mở rộng và hiến định quyền này của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (tại Điều 100, Hiến pháp 2013). Quy định này đặt trong mối tương quan với tổ chức bộ máy nhà nước cũng chỉ ra một số điểm hạn chế trong cách thức lập pháp và thi hành pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

Hiến pháp cho phép Chính phủ được ban hành văn bản pháp luật để thi hành luật (sắc lệnh hoặc nghị định). Các văn bản này có giá trị pháp lý thấp hơn luật và đều có thể bị phán quyết thay đổi, hủy bỏ và có chế tài áp dụng bởi một cơ quan tòa án về tính hợp hiến và hợp pháp. Tuy nhiên, ở Việt Nam, nghị định và thông tư được xếp trong cùng một loại là văn bản quy phạm pháp luật, cùng có hiệu lực bắt buộc thi hành và không được khiếu nại hay khởi kiện. Việt Nam cũng chưa có tòa án hiến pháp – nơi trực tiếp thẩm định tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật và xử lý trong trường hợp có sai phạm trong khi tòa án hành chính hiện nay cũng không có thẩm quyền xử lý những nghị định, thông tư có nội dung vi hiến. Hiện nay, thẩm quyền “đình chỉ” và “bãi bỏ”các văn bản pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và Ủy ban thường vụ Quốc hội mới chỉ trao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, khi hậu quả của việc áp dụng những văn bản pháp luật vi hiến đã xảy ra trên thực tế thì chủ thể nào sẽ có trách nhiệm xử lý?

Theo số liệu của Bộ Tư pháp tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công tác tư pháp năm 2014 và triển khai nhiệm vụ năm 2015(1), có đến hơn 9 nghìn văn bản có dấu hiệu vi phạm các điều kiện về tính hợp hiến, hợp pháp; trong đó có hơn 1.500 văn bản pháp luật vi phạm về thẩm quyền ban hành. Cùng với đó là tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn, những văn bản sai cả về hình thức lẫn nội dung, thậm chí vừa ban hành đã gặp phải những phản ứng của dư luận về thiếu tính khả thi. Với những nghị định, thông tư có nội dung vi hiến, thiếu tính khả thi nhưng người dân và doanh nghiệp cũng không có quyền khiếu nại hay khởi kiện bồi thường. Như vậy, về hình thức, sự thay đổi này của Hiến pháp năm 2013 là tiến bộ nhưng đặt trong thể chế chính trị và cách thức tổ chức, vận hành bộ máy quyền lực hiện nay, quy định này dường như đã tiệm quyền của Quốc hội.

Điều 70 Hiến pháp năm 2013 quy định các vấn đề quan trọng của đất nước thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội. Về mặt lý luận, Quốc hội được giao rất nhiều trọng trách nhưng trên thực tế quyền năng này lại bị hạn chế khá nhiều.

Hiến pháp năm 2013 quy định Chính phủ có quyền “trình dự án ngân sách nhà nước trước Quốc hội”(Khoản 2 Điều 96). Theo đó, Chính phủ lập dự toán ngân sách quốc gia trình Quốc hội trong đó các khoản chi ngoài dự toán cũng phải giải trình và lập báo cáo. Tuy nhiên, hiện nay do thành phần đại biểu Quốc hội có nhiều cá nhân hoạt động với chức năng hành pháp kiêm nhiệm nên ảnh hưởng của Chính phủ tới Quốc hội tương đối lớn. Hơn nữa, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội thực hiện chưa thực sự hiệu quả nên tình trạng thất thoát, tham nhũng và lãng phí còn diễn biến phức tạp. Liên tục trong nhiều năm qua Chính phủ chi vượt quá dự toán ngân sách. Bội chi ngân sách năm 2015 là 6,11% GDP vượt qua số bội chi dự định là 5,0% GDP(2).

Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội quyết định chính sách tài chính tiền tệ quốc gia. Nhưng chưa có văn bản pháp luật quy định cụ thể. Các vấn đề như điều chỉnh lãi suất tiền gửi ngân hàng, phát hành trái phiếu chính phủ, khoản 30.000 tỷ đồng cứu trợ thị trường bất động sản(3), việc cho phép độc quyền sản xuất vàng miếng hay cấm mua bán vàng miếng có phải là chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hay không? Hay việc Chính phủ bảo lãnh khoản vay 750 triệu USD cho tập đoàn Vinashin(4) có phải là một quyết định về chính sách tài chính tiền tệ quốc gia hay không? Nếu có thì đây rõ ràng là sự vượt quá thẩm quyền được Hiến pháp và pháp luật trao cho của Chính phủ và sự buông lơi thẩm quyền, chức năng của Quốc hội.

Như vậy, Hiến pháp năm 2013 đã quy định chức năng của Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước theo hướng bao quát và hợp lý hơn. Tuy nhiên, quyền năng được trao cho là vậy, nhưng quy định về cơ chế để đảm bảo thực hiện những chức năng đó còn chưa minh bạch và rõ ràng, dẫn tới hoạt động của Quốc hội vẫn còn mang tính hình thức, chưa công khai và quyết liệt.

Giám sát tối cao là một trong những chức năng đặc thù của Quốc hội tương xứng với vị trí là cơ quan quyền lực cao nhất trong bộ máy nhà nước. Điều 1 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội 2003 nêu rõ: “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao của mình tại kì họp Quốc hội trên cơ sở hoạt động giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”.Tuy nhiên, pháp luật hiện hành chưa có một quy định rõ ràng về chức năng này mà mới chỉ dừng lại ở định nghĩa về hoạt động giám sát.

Về bản chất, hoạt động giám sát nói chung và giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng đều là hoạt động: “theo dõi, xem xét và đánh giá”.Điều 11 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã chỉ ra các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội với 7 hoạt động cụ thể nhưng có đến 6 hoạt động là “xem xét”. Trong Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015, những hạn chế vẫn chưa được giải quyết thấu đáo nhằm tăng cường tính khả thi trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội để giám sát tiến gần hơn với thực tiễn. Chính từ sự không rõ ràng về khái niệm giám sát tối cao của Quốc hội và giám sát của các cơ quan của Quốc hội dẫn đến việc chưa giới hạn được phạm vi và mục đích giám sát.

Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát bằng các hình thức: nghe báo cáo của các cơ quan nhà nước tại các kỳ họp; các đại biểu thực hiện quyền chất vấn tại kỳ họp hoặc ngoài kỳ họp; các đoàn kiểm tra, thường là đoàn kiểm tra của các Ủy ban và Hội đồng dân tộc của Quốc hội. Tuy nhiên, chất lượng chất vấn tại các kì họp của Quốc hội chưa thực sự hiệu quả do thiếu thông tin, thiếu cơ chế bắt buộc đối với người bị chất vấn. Các đoàn giám sát còn chưa có cơ chế phối hợp với nhau, mới chỉ dừng lại ở việc ghi nhận ý kiến của địa phương.

Đối tượng của giám sát chưa thực sự phù hợp. Điều 4 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015 quy định về thẩm quyền giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, Ủy ban khác của Quốc hội, đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Các bản Hiến pháp năm 1959, 1980, 1992 và Hiến pháp năm 2013 đều khẳng định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Như vậy, đối tượng giám sát quá rộng, nội dung không quy định rõ nên chưa xác định được đối tượng nào là trọng tâm, việc nào cần được ưu tiên dẫn đến giám sát còn dàn trải và thiếu hiệu quả. Trong khi ở các nước phát triển, hoạt động giám sát của Quốc hội chỉ tập trung vào Chính phủ và các cơ quan hành pháp; còn ở Việt Nam, hoạt động giám sát của Quốc hội bao quát không chỉ Chính phủ mà còn cả “Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập”(Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014). Công việc này quá tải với Quốc hội, nhất là khi Quốc hội có tới nhiều nhất 65% đại biểu kiêm nhiệm.

3. Một số kiến nghị nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng của Quốc hội theo Hiến pháp năm 2013

Thứ hai, cần hình thành cơ chế tài phán Hiến pháp. Bảo hiến – theo nghĩa rộng được hiểu là hoạt động phòng ngừa vi phạm Hiến pháp; nghĩa hẹp đồng nghĩa với tài phán Hiến pháp. Ở Việt Nam, việc bảo đảm tính hợp hiến của các đạo luật mới chỉ đặt ra trong quá trình soạn thảo văn bản, và một khi dự thảo luật được Quốc hội thông qua; nghị định, thông tư được Chính phủ, các bộ trưởng thông qua thì mặc định được hiểu là đã đảm bảo tính hợp hiến. Bởi vậy, nhu cầu thành lập tài phán Hiến pháp thông qua Hội đồng bảo hiến là hết sức cần thiết.

Về tổ chức bộ máy, Chủ tịch Hội đồng bảo hiến nên giao cho Chủ tịch nước và các thành viên còn lại được Quốc hội bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước. Có thể thấy, vai trò của Chủ tịch nước hiện nay không phải là người đứng đầu hành pháp trong khi việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật có vi phạm hiến pháp chủ yếu là các cơ quan hành pháp. Do vậy, việc trao quyền cho Chủ tịch nước làm Chủ tịch Hội đồng bảo hiến sẽ phát huy tối đa “quyền phủ quyết”này. Hội đồng bảo hiến cần được phân công rõ ràng các chức năng nhiệm vụ sau:

Kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật: bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội, Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ban hành.

Đình chỉ việc thi hành văn bản pháp luật trái với Hiến pháp và trình Quốc hội bãi bỏ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất: bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.

Bãi bỏ các văn bản pháp luật của Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Yêu cầu cơ quan Tòa án nhân dân có thẩm quyền xem xét việc bồi thường thiệt hại (nếu có) của các tổ chức, cá nhân phát sinh từ việc thi hành các văn bản pháp luật của các cơ quan trên gây ra thiệt hại.

Kiểm tra tính hợp hiến của các điều ước quốc tế được ký kết nhân danh Nhà nước trước khi trình Quốc hội, Chủ tịch nước phê chuẩn.

Thực hiện nhiệm vụ giải thích Hiến pháp và luật. Hiện nay, nhiệm vụ này được giao cho Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, trên thực tế cơ quan này thực hiện nhiệm vụ giải thích Hiến pháp và luật còn rất hạn chế.

Khi được giao quyền lực mạnh mẽ và quyết liệt như vậy, Hội đồng bảo hiến mới có thể phát huy được vai trò của một cơ quan bảo vệ Hiến pháp. Việc thượng tôn pháp luật của các cơ quan nhà nước sẽ có một trật tự rõ ràng, minh bạch và chặt chẽ hơn.

Thứ ba, cần có một kế hoạch nâng cao năng lực quyền hạn cho Quốc hội bằng việc giảm bớt dần những đại biểu Quốc hội thuộc bộ máy hành pháp kiêm nhiệm. Đồng thời, cần tạo ra cơ chế phối hợp, ràng buộc rõ ràng giữa Chính phủ và Quốc hội; quy định rõ thẩm quyền của Chính phủ trong việc can thiệp vào những vấn đề quan trọng thuộc chức năng của Quốc hội. Đặc biệt đối với các vấn đề quan trọng của đất nước theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp, trong mỗi hoạt động của Chính phủ cần phải có sự xem xét, kiểm tra, đánh giá của Quốc hội.

Điều 94 Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.Như vậy Hiến pháp năm 2013 đã không trực tiếp khẳng định Chính phủ là cơ quan hành pháp mà chỉ thực hiện quyền hành pháp. Sở dĩ nếu khẳng định Chính phủ là cơ quan hành pháp thì sẽ tạo nhận định Chính phủ ngang bằng, đối trọng và phân quyền với các cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp, xác lập vị thế Chính phủ cao hơn so với việc chỉ quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”.

Thứ tư, cần xác định cụ thể hoạt động “giám sát” và “giám sát tối cao”, tăng cường các hình thức giám sát

Hoạt động giám sát nói chung và giám sát tối cao nói riêng không chỉ dừng ở mức độ xem xét, theo dõi, đánh giá mà cần quy định theo hướng xác định rõ mục đích của giám sát, giám sát tối cao và các biện pháp, chế tài thích hợp trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát. Bên cạnh đó, cần mở rộng hình thức giám sát không chỉ giới hạn thông qua các phiên họp mà cần có những khảo sát thực tế, trao đổi, lắng nghe ý kiến của cử tri để hoạt động giám sát có hiệu quả, giảm bớt tính hình thức, nặng về báo cáo.

Thứ năm, hoạt động giám sát của Quốc hội cần được tiến hành có trọng tâm, tránh quy định dàn trải

Như trên đã phân tích, một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác giám sát của Quốc hội là giám sát hành pháp của Chính phủ. Đơn cử như vấn đề trách nhiệm của Quốc hội trong quản lí, giám sát ngân sách. Quốc hội có trách nhiệm ban hành Luật Ngân sách nhà nước, thông qua và quyết toán ngân sách hằng năm, quyết định những khoản thu chi đặc biệt cũng như những vấn đề quan trọng của đất nước và thực thi việc giám sát ngân sách thường xuyên. “Chính phủ chỉ là người được giao chi tiêu theo luật và chịu sự giám sát của Quốc hội. Cho nên trách nhiệm trong việc sử dụng hiệu quả ngân sách trước tiên thuộc về Quốc hội”(5). Bởi vậy, Quốc hội phải coi những đề nghị của Chính phủ như một dự án tính toán chi li trên cơ sở Chính phủ phải cam kết sử dụng số tiền này một cách hiệu quả, hợp lý. Số tiền này phải được thể hiện bằng những con số cụ thể chứ không bằng những chỉ số như 5,3% GDP mức bội chi ngân sách, giới hạn trần công nợ… Có như vậy Quốc hội mới giám sát được hiệu quả ngay từ chính giai đoạn ban hành chính sách, tránh tình trạng thất thoát và lãng phí nguồn ngân sách.

TS Lưu Ngọc Tố Tâm – Học viện Báo chí và Tuyên truyền

(1) http://tuoitre.vn.

(2) http://www.sggp.org.vn. Kết quả được công bố tại phiên họp thứ 46 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khai mạc ngày 7-3-2016 theo Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2015.

(3) http://www.fdvn.vn.

(4) http://www.thesaigontimes.vn.

(5) http://www.baodatviet.vn.

Theo lyluanchinhtri.vn

Bạn đang xem bài viết Quốc Hội Của Hiến Pháp Năm 2013 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!