Xem Nhiều 2/2023 #️ Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc # Top 8 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc # Top 8 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Từ khi chuẩn bị sáng lập Đảng – đội tiền phong của Đảng và dân tộc cho đến khi đi xa trở về với thế giới người hiền, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn không ngừng quan tâm đến công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng yếu của công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG LÀ NỀN TẢNG CỦA NGƯỜI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan, phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”[2]. Để làm tròn nhiệm vụ đó, người cách mạng nói chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng phải luôn nỗ lực phấn đấu, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, vì: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức cách mạng thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3]. Thấm nhuần lời dạy của cổ nhân: đức là cội gốc, tài là ngọn cành; kế thừa và phát triển những yếu tố đạo đức truyền thống của dân tộc và tinh hoa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cách mạng phải hội đủ 2 yếu tố: đức và tài, hồng và chuyên để có thể hoàn thành nhiệm vụ Tổ quốc và nhân dân giao phó. Trong khi khẳng định đạo đức là gốc, là nền tảng, Người không vì thế xem nhẹ tài năng; bởi theo Hồ Chí Minh, có đức mà không có tài thì vô dụng, nhưng nếu có tài mà không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy, người cán bộ, đảng viên cũng không quy tụ, lãnh đạo được nhân dân. Đạo đức phải gắn liền với năng lực; cùng với việc trau dồi năng lực chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ,v.v.. mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tự mình rèn luyện đạo đức, hoàn thiện bản thân để quy tụ và hấp dẫn được quần chúng – từ đó, lãnh đạo, tổ chức quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng có thể khái quát thành bốn nội dung cơ bản là: 1) Trung với nước, hiếu với dân; 2) Yêu thương con người; 3) Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; 4) Tinh thần quốc tế trong sáng. Những nội dung cơ bản về đạo đức đó “không phải là đạo đức thủ cựu. Nó là đạo đức mới. Đạo đức vĩ đại, nó không vì danh vọng cá nhân mà là vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Trong đó, trung với nước, hiếu với dân và cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là hai nội dung được Người đề cập nhiều nhất trong các bài nói, bài viết của mình về vấn đề đạo đức cách mạng. Là 4 nội dung cơ bản, song theo Người, tựu trung lại: “Đạo đức cách mạng là quyết tấm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc. Ra sức học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, luôn luôn dùng tự phê bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đồng chí mình tiến bộ”[4]… Vì thế, ngay từ những ngày hoạt động chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh đã nêu rõ yêu cầu về phẩm chất đạo đức và năng lực của người cán bộ cách mạng bao gồm 23 điều răn: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hoà mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng ham muốn về vật chất. Bí mật. Đối người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[5]. Sau đó, ở trong những thời điểm khác nhau, Người nói nhiều về các phẩm chất đạo đức, song nhấn mạnh đạo đức cách mạng biểu hiện cụ thể ở những phẩm chất: trung với nước, hiếu với dân; yêu thương con người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; tinh thần quốc tế trong sáng… Cũng theo lời Người, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, việc rèn luyện đạo đức cách mạng là yêu cầu nội tại, thường xuyên, liên tục và “không có gì là khó cả. Điều đó hoàn toàn do lòng mình mà ra. Lòng mình chỉ biết vì Đảng, vì Tổ quốc, vì đồng bào thì mình sẽ tiến đến chỗ chí công vô tư. Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ ngày càng ít, mà những đức tính tốt như sau ngày càng thêm”[6].

Những đức tính tốt mỗi cán bộ, đảng viên cần phải rèn luyện, tu dưỡng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh bao gồm:

  “a) NHÂN là thật thà thương yêu, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào. Vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại đến Đảng, đến nhân dân. Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ. Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ oai quyền. Những người đã không ham, không e, không sợ gì thì việc gì là việc phải họ đều làm được. b) NGHĨA là ngay thẳng, không có tư tâm, không làm việc bậy, không có việc gì phải giấu Đảng. Ngoài lợi ích của Đảng, không có lợi ích riêng phải lo toan. Lúc Đảng giao cho việc, thì bất kỳ to nhỏ, đều ra sức làm cẩn thận. Thấy việc phải thì làm, thấy việc phải thì nói. Không sợ người ta phê bình mình, mà phê bình người khác cũng luôn luôn đúng đắn. c) TRÍ vì không có việc tư túi nó làm mù quáng, cho nên đầu óc trong sạch, sáng suốt. Dễ hiểu lý luận. Dễ tìm phương hướng. Biết xem người. Biết xét việc. Vì vậy, mà biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng, biết vì Đảng mà cất nhắc người tốt, đề phòng người gian. d) DŨNG là dũng cảm, gan góc, gặp việc phải có gan làm. Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát. đ) LIÊM là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình. Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá. Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”[7].

Làm cách mạng là để tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những điều tốt đẹp, xây dựng nền dân chủ mới, song không phải cứ lật đổ chế độ thực dân phong kiến là những thói hư tật xấu, những hủ tục lạc hậu cũng mặc nhiên mất theo. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù chế độ thực dân phong kiến đã bị tiêu diệt, nhưng các tật xấu của nó như tệ tham ô, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,v.v..; những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân như: bệnh tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, hữu danh vô thực, óc lãnh tụ, thiếu kỷ luật, coi khinh quần chúng, kéo bè kéo cánh, cận thị, hẹp hòi, địa phương chủ nghĩa; nói không đi đôi với làm, nói một đằng làm một nẻo, diễn gương chứ không phải nêu gương… thì vẫn còn. Do đó, chừng nào, mỗi cán bộ, đảng viên chưa quét sạch những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân để nâng cao đạo đức cách mạng, thì chừng đó, cách mạng vẫn chưa hoàn toàn thành công: vì hệ lụy của các tật xấu ấy vẫn ngấm ngầm ngăn trở, gặm nhấm và làm suy thoái đạo đức của người cán bộ, đảng viên, dẫn đến phá hoại sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong gần 90 năm xây dựng và trưởng thành, phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn gương mẫu, tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao phó. Đó là những con người luôn lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, luôn đi đầu trên mọi trận tuyến, trong thời chiến cũng như trong thời bình, xứng đáng với vai trò vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Họ là những người đã luôn nỗ lực học tập, trau dồi tri thức, kỹ năng, nghiệp vụ và luôn vì Đảng, vì nhân dân mà hết lòng, hết sức hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Họ luôn tu dưỡng đạo đức, sống cần, kiệm, liêm, chính, làm việc chí công vô tư; không công thần, không lo kèn cựa chế độ đãi ngộ; không quan liêu, kiêu ngạo, tham ô, tham nhũng, lãng phí, chạy tuổi, chạy bằng cấp; luôn gắn bó mật thiết với nhân dân; luôn nghiêm khắc, thường xuyên tự phê bình và phê bình… để ngày càng tiến bộ. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, thoái hoá, biến chất, lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài. Họ sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, của lợi ích nhóm… nên đã không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước nhân dân. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhấn mạnh: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước… Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở”. Đó là những người sa vào “cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình”[8], trở thành những con sâu mọt “thoái bộ, lạc hậu”, “ngăn trở sự nghiệp của Đảng, ngăn trở bước tiến của cách mạng” đã và đang đưa lại những tổn thất rất lớn cho sự nghiệp cách mạng. Với họ, lời nói không đi đôi với việc làm, nói giỏi về đạo đức cách mạng nhưng thực tế thì rời xa những phẩm chất tốt đẹp của người cách mạng, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành”[9]… Họ luôn đe nẹt, phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình mình, không lắng nghe ý kiến của quần chúng, coi khinh người ngoài Đảng, tự cho mình nhiều đặc quyền, đặc lợi, hưởng thụ một cách xa hoa từ vị trí được giao phụ trách,v.v.. và cuối cùng họ đã rời xa lý tưởng của người cộng sản, không còn năng lực quy tụ và lãnh đạo quần chúng. Điều đáng lo ngại là những sai phạm của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên ấy, trong đó có cả những cán bộ lãnh đạo cấp cao đã bị đưa ra xét xử, đưa ra khỏi Đảng gần đây không những làm thiệt hại lớn đến kinh tế của Nhà nước mà còn làm suy giảm niềm tin trong nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; làm rạn vỡ mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân…  Hiểu sâu sắc rằng, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”[10] và Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải là những tấm gương sống động trong thực tiễn chứ không phải chỉ là những tấm gương trên lời nói, là sự tiên phong, gương mẫu trên mọi lĩnh vực chứ không chỉ dừng ở chương trình hay, bản báo cáo thành tích tốt… Với quần chúng, người cán bộ đảng viên phải “đem lòng chí công vô tư mà đối với người, đối với việc”; “khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước mà phải nghĩ đến đồng bào, đến toàn dân”, nghĩ đến công việc chứ đừng vội nghĩ đến hưởng thụ, để từ đó mà khéo nâng cái tốt, khéo sửa chữa cái xấu thì nhất định sẽ tiến bộ từng ngày, sẽ trở thành mẫu mực để quần chúng noi theo. Những điều Hồ Chí Minh căn dặn, những việc Người đã gương mẫu thực hành trong cả lời nói và việc làm luôn toả sáng, in đậm trong tái tim mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. Đó chính là giá trị và ý nghĩa của tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. MỖI CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN PHẢI THẬT SỰ THẤM NHUẦN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Thấu triệt những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là lời Người để lại trong bản Di chúc lịch sử: “Trước hết nói về Đảng” và yêu cầu đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…, trong các văn kiện của Đảng, nhất là từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, yêu cầu về rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên đã được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, được đặt lên hàng đầu để Đảng “là đạo đức, là văn minh”; trong đó, tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nội dung cần thiết, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Nghị quyết khẳng định xây dựng Đảng là một trong 6 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ (2016-2020), với nội dung cơ bản là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”[11]; “Tập trung thực hiện mục tiêu: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”[12]…

Bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Để đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự thấm nhuần và rèn luyện đạo đức cách mạng hiệu quả, thiết thực, trong những năm qua, cấp ủy các cấp đã và đang triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” cùng các Quy định “Về những điều đảng viên không được làm”, Quy định số 101-QÐ/TW “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, Quy định số 124-QĐ/TW về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện, đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”, Quy định số 109-QĐ/TW về “Công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên” và gần đây nhất là Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”… Thông qua đó, tạo sự chuyển biến, từ nâng cao nhận thức sang hành động cho mỗi cán bộ, đảng viên, tại mỗi tổ chức cơ sở đảng bằng cách gắn thực hành đạo đức cách mạng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phát huy cái tích cực, đẩy lùi tiêu cực, lấy cái đẹp dẹp cái xấu, góp phần quan trọng xây dựng Đảng thật sự trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, song cuộc đời, sự nghiệp của Người là một mẫu mực của đạo đức cách mạng, luôn thống nhất giữa lời nói và việc làm, gương mẫu đi đầu, đặc biệt là tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời. Người luôn khẳng định đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng và rèn luyện đạo đức cách mạng là nhu cầu tự thân; đồng thời là yêu cầu tất yếu, khách quan của người cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng. Không chỉ nêu ra, yêu cầu cán bộ, đảng viên phải rèn luyện đạo đức cách mạng, suốt cuộc đời Hồ Chí Minh là một tấm gương đạo đức mà “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục”.

Trong thời gian tới, để tiếp tục thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc; để việc rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của đội ngũ cán bộ, đảng viên trở thành việc làm thường xuyên, tự giác, mỗi cấp ủy và mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện tốt những nhiệm vụ sau: Một là, ngày mỗi ngày, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải nỗ lực học tập lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, học tập và quán triệt nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng… Thông qua đó, giúp mỗi người rèn luyện và giữ vững bản lĩnh chính trị, sự kiên định lý tưởng cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết, trước hết; đồng thời, thiết thực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức quần chúng nhân dân đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống. Cùng với đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cụ thể chú trọng: 1) Phòng và đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, bè phái, tham ô, tham nhũng, lợi ích nhóm… 2) Thực hành cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân… 3) Yêu thương con người, đồng bào, đồng chí; gần dân, trọng dân, chăm lo đời sống nhân dân một cách thiết thực, hiệu quả trên tinh thần tự nguyện và tự giác, thường xuyên và lâu dài… Hai là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu nói riêng trong mọi lĩnh vực công tác và cuộc sống đời thường để làm mẫu mực cho quần chúng. Trong đó, mỗi người, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu các cơ quan, địa phương, đơn vị phải nêu gương về đạo đức, thống nhất giữa nói và làm, cao hơn là làm rồi mới nói, làm nhiều nói ít…; xây đi đôi với chống, trong xây có chống và ngược lại, xây dựng và bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức tốt đẹp gắn liền với chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Mỗi người tùy chức năng, nhiệm vụ được giao phải tận tâm, tận lực thực hiện đúng và tốt chức trách được giao; đi trước, làm gương cho quần chúng noi theo, tránh kiểu “đánh trống bỏ dùi”; phải dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám “cả quyết sửa lỗi mình; làm gì cũng phải nghĩ đến lợi ích của nhân dân, của đất nước, tránh vì lợi ích cá nhân mà vi phạm tư cách, đạo đức, lối sống. Thông qua đó, tự soi và sửa mình, nghiêm túc tự phê bình và phê bình nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm của bản thân. Ba là, rèn luyện đạo đức cách mạng là việc phải làm thường xuyên, liên tục, suốt đời; là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống và đấu tranh tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân. Vì vậy, việc rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên phải được tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải ở trên trời sa xuống, nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[13]. Quá trình rèn luyện đạo đức phải được thực hiện trong mọi hoạt động thực tiễn, trong mọi mối quan hệ với tổ chức và cá nhân, trong đời tư cũng như trong sinh hoạt cộng đồng; phải được sự theo giám sát của cấp ủy, của nhân dân trên tinh thần: dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng có 24 năm đứng ở vị trí đỉnh cao của quyền lực, song với Người – đó chỉ là nhận sự ủy thác của nhân dân để tận tâm, tận lực cống hiến. Tấm gương của vị lãnh tụ xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng và hành động, “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[14] đã hấp dẫn, quy tụ mọi người xung quanh mình và ngời sáng cho muôn đời các thế hệ con cháu mai sau suy ngẫm, học tập, noi theo./. Ths. Văn Thị Thanh Hương Trưởng ban Sách Nhà nước và Pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật ————- [1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia- Sự thật, Hà Nội, 2011, t.15 tr.611-612 [2], [3], [6], [7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5 tr.289, 292-293, 291, 291-292 [4],[13] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr.603, 612 [5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280-281 [8], [9] Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết số 04-NQ/TW về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, ngày 30/10/2016  [10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.16 [11], [12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2016, tr.217, 202 [14] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.187

Vấn Đề Nâng Cao Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Ở Nước Ta Hiện Nay

Nói về vai trò của đạo đức cách mạng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Xây dựng chủ nghĩa xã hội tức là xây dựng đời sống ấm no và hạnh phúc cho nhân dân… Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người thấm nhuần đạo đức xã hội chủ nghĩa”(1) và “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). Sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa càng đi vào chiều sâu và triển khai trên diện rộng thì càng đòi hỏi phải phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đảng viên – bộ phận tiên tiến của xã hội trong việc nắm bắt thời cơ, vượt qua thử thách để giải quyết thành công những vấn đề mới mẻ do thực tiễn đặt ra. Chính vì vậy, cùng với việc nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ, phải chú trọng nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân cho cán bộ, đảng viên để những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cách mạng trở thành yếu tố chủ đạo trong việc định hướng hoạt động của họ. Đây là một trong những vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.

Trong sự nghiệp cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có những bước trưởng thành vượt bậc về nhiều mặt. Những thành tựu nổi bật của gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới gắn liền với tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có thể nói rằng, tuyệt đại bộ phận cán bộ, đảng viên đã phát huy tốt vai trò của mình trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước; có bản lĩnh vững vàng, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội do Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn. Là những hạt nhân gương mẫu trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã thể hiện rõ ý thức vươn lên trong học tập, rèn luyện để nâng cao trình độ học vấn, năng lực tư duy lý luận, trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Hầu hết cán bộ, đảng viên tuân thủ pháp luật Nhà nước, Điều lệ Đảng, nội quy, quy chế của cơ quan, tập thể. Tác phong, lối sống lành mạnh, sinh hoạt giản dị, gần gũi và chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở đã tạo được niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, cổ vũ nhân dân góp phần tích cực vào công cuộc xây dựng đất nước. Nhiều cán bộ, đảng viên đã thực hiện nghiêm túc việc tự phê bình và phê bình với thái độ trung thực, chân thành, công khai để khắc phục cái sai, cái xấu, bảo vệ cái đúng, cái tốt; có ý thức tăng cường đoàn kết trong nội bộ và ngoài xã hội trên cơ sở quán triệt mục tiêu, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị mình và do vậy, đã tạo nên động lực mạnh mẽ thúc đẩy tiến trình đổi mới, góp phần vào thành tựu chung của cả nước.

Trong phong trào thi đua yêu nước hiện nay, nhất là phong trào phát triển sản xuất, cải thiện đời sống, phong trào “xoá đói giảm nghèo”, “đền ơn đáp nghĩa”, phong trào “toàn dân đoàn kết, xây dựng đời sống văn hoá mới”,… đã xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ, đảng viên tiêu biểu, có sức thuyết phục, động viên quần chúng noi theo. Trong điều kiện kinh tế thị trường, mở rộng giao lưu quốc tế và xu thế toàn cầu hoá kinh tế, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên trực tiếp đảm trách cương vị lãnh đạo và quản lý trong các doanh nghiệp nhà nước đã chủ động thúc đẩy sự hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế theo tinh thần nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo vệ độc lập, tự chủ, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp được tôi luyện trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội luôn giữ vững, phát huy phẩm chất đạo đức của mình. Sự lãnh đạo trực tiếp, thống nhất của Đảng, trách nhiệm quản lý của các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, nhất là các tổ chức cơ sở đảng và chính quyền địa phương thông qua công tác giáo dục, tổ chức, kiểm tra cán bộ, đảng viên đã phát huy những mặt tích cực, hạn chế đến mức thấp nhất những vi phạm pháp luật, đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Trong những năm qua, công tác kiểm tra của Đảng và hiệu quả pháp luật trong quản lý xã hội đã được tăng cường một bước đáng kể. Đó thực sự là công cụ có hiệu quả trong đấu tranh chống tham nhũng, bệnh quan liêu, lãng phí, vô tổ chức, vô kỷ luật và có tác dụng giáo dục, định hướng đúng đắn hoạt động của cán bộ, đảng viên.

Ngoài ra, công tác giáo dục theo các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức cách mạng và tấm gương đạo đức mẫu mực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các đợt sinh hoạt chính trị, các ngày lễ lớn của dân tộc và thông qua chương trình đào tạo trong hệ thống trường chính trị, trường ngành các cấp cũng được chú trọng. Điều đó góp phần nâng cao ý thức đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên nước ta đã giữ vững phẩm chất đạo đức cách mạng của mình, tỏ rõ bản lĩnh và xứng đáng với vai trò “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thực sự trung thành của nhân dân”, được tuyệt đại đa số nhân dân tin cậy.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước trên các mặt kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội đã tạo tiền đề vật chất, tinh thần để tiếp tục củng cố và nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên với tính cách là chủ thể năng động, tích cực của sự phát triển xã hội nói chung và lĩnh vực đạo đức nói riêng.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực cơ bản nêu trên, đã xuất hiện “… sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền”(3). Tình trạng đó được biểu hiện ở các mặt sau:

– Giảm sút ý chí phấn đấu, phai nhạt lý tưởng và lòng tin vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng.

– Tệ nạn tham nhũng, hối lộ, tiêu xài phung phí, chạy theo các cám dỗ thấp hèn dưới nhiều hình thức của một số cán bộ, đảng viên đã gây ra những mất mát lớn về tài sản của Nhà nước và của nhân dân.

– Lối sống vị kỷ, thái độ gia trưởng trong lãnh đạo và quản lý cùng với tư tưởng cục bộ, bè phái, đố kỵ, địa phương chủ nghĩa, kèn cựa địa vị, “nói một đàng làm một nẻo”, “bằng mặt không bằng lòng”… của một số người, một số cấp uỷ và cơ quan lãnh đạo đã gây mất đoàn kết nội bộ, thậm chí có nơi còn nghiêm trọng và kéo dài.

– Tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình của một số tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên còn kém do tư tưởng cầu an, ngại va chạm, muốn “hoà cả làng” để “tất cả cùng vui vẻ”.

– Không ít cán bộ, đảng viên đã lợi dụng địa vị, chức quyền của mình để làm giàu bất chính và bao che cho những hành vi làm ăn phi pháp (buôn lậu, làm hàng giả, hối lộ, tổ chức đánh bạc, cá độ, cho vay nặng lãi, kinh doanh các sản phẩm phản văn hoá…) để kiếm danh, kiếm lợi; sự chuyển hoá giữa quyền và tiền dưới hình thức dùng tiền để kiếm quyền và ngược lại diễn ra khá tinh vi và đang bào mòn những giá trị đích thực của nhân tính.

Tình trạng trên đã ảnh hưởng xấu đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin của một bộ phận nhân dân vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Tình trạng trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là:

– Những tác động tiêu cực của quá trình thực hiện cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế đối với đạo đức.

– Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô (cũ) và các nước Đông Âu cùng với thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch thông qua việc triển khai chiến lược “diễn biến hoà bình” đã gây tác động xấu đến tư tưởng, đạo đức của một số cán bộ, đảng viên.

– Trong một thời gian khá dài, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tích cực, tự giác rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh.

– Sự thiếu đồng bộ, chưa chặt chẽ của hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật đã tạo ra kẽ hở cho một số cán bộ, đảng viên kém phẩm chất lợi dụng để mưu cầu lợi ích cá nhân ích kỷ của mình. Sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và những thiếu sót trong công tác cán bộ cũng ảnh hưởng đến việc tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, “Trong công tác xây dựng Đảng, bên cạnh những ưu điểm, đang nổi lên một số mặt yếu kém và khuyết điểm, nhất là khuyết điểm về công tác giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên, chưa ngăn chặn và đẩy lùi được sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống”(4).

– Ở nhiều nơi, cơ chế nhân dân tham gia giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên chưa được ban hành bằng các văn bản cụ thể nên chưa phát huy được vai trò của nhân dân, của các tổ chức và đoàn thể chính trị – xã hội trong lĩnh vực này.

Nâng cao đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên là vấn đề vừa cấp bách, vừa cơ bản, lâu dài, có tác động trực tiếp và to lớn đến thành công của sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xã hội. Trong công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng hiện nay, như Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Trước hết, phải tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân“(5). Điều đó đòi hỏi phải có phương hướng, giải pháp đồng bộ và triển khai có hiệu quả trong thực tế. Về mặt này, chúng ta cần lưu ý một số điểm chủ yếu sau:

Một là, kết hợp phát triển kinh tế với xây dựng các quan hệ xã hội lành mạnh hướng đến việc tạo môi trường cho cán bộ, đảng viên rèn luyện, bồi dưỡng đạo đức cách mạng. Đạo đức phản ánh và chịu sự quy định của đời sống kinh tế mà trực tiếp là quan hệ lợi ích của con người. Ph.Ăngghen đã từng khẳng định: “Lợi ích đúng đắn là nguyên tắc của toàn bộ đạo đức”(6). Thực tế cho thấy, ở đâu và lúc nào mà quan hệ lợi ích được giải quyết hài hoà thì những nhân tố tích cực của đạo đức cách mạng mới có cơ sở hình thành và phát triển. Việc giải quyết quan hệ này, ở tầm vĩ mô, tuỳ thuộc vào khả năng của các chủ thể lãnh đạo và quản lý (Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam) trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện một hệ thống chính sách kinh tế – xã hội phù hợp, cho phép vừa đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế, vừa tạo ra môi trường nhân văn cho sự hình thành và phát triển đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì vậy, việc “Xây dựng đồng bộ các chính sách kinh tế – xã hội đúng đắn, phát huy mọi khả năng sáng tạo của nhân dân. Đổi mới và hoàn thiện các chính sách cụ thể đối với các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, đặc biệt là các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phân phối, tiêu dùng, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của công dân”(7) là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu để tạo dựng đời sống đạo đức lành mạnh, tốt đẹp trong xã hội.

Ở mỗi địa phương, đơn vị, điều này đòi hỏi những cán bộ, đảng viên giữ trọng trách trong bộ máy tổ chức phải thực sự khách quan, công tâm khi giải quyết các quan hệ lợi ích, đặc biệt là lợi ích kinh tế. Về mặt này, có thể nói rằng, đạo đức của người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền là ở chỗ biết điều phối một cách hợp lý quan hệ giữa lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội trên cơ sở coi lợi ích xã hội, tập thể là lợi ích chủ đạo trong hoạt động của cá nhân.

Trong điều kiện hiện nay, tuy chúng ta chưa thực hiện được bình đẳng xã hội về kinh tế, nhưng công bằng xã hội (tương đối) được đảm bảo thì cơ sở kinh tế – xã hội cho sự tồn tại và phát triển của đạo đức cách mạng vẫn được duy trì.

Hai là, tăng cường vai trò của các tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể xã hội và tập thể lao động trong việc giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Bất kỳ tổ chức nào cũng đều do con người lập ra và đến lượt mình, nó lại quy định hành vi của các cá nhân (thành viên) theo những chuẩn mực nhất định. Cán bộ, đảng viên là những người hoạt động trong các tổ chức thuộc hệ thống kinh tế – chính trị, trong đó Đảng là hạt nhân lãnh đạo. Việc phát huy vai trò của các tổ chức cơ sở đảng, của các cấp uỷ đảng và các tổ chức khác trong hệ thống kinh tế – chính trị nhằm giáo dục, quản lý, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên có tác dụng to lớn đối với việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực khác về mặt đạo đức của lực lượng này.

Ba là, nâng cao chất lượng tự giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng tự giáo dục là biện pháp quyết định, có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tự giác hoá quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh rằng, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó được củng cố và phát triển chủ yếu do sự đấu tranh rèn luyện hàng ngày cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Vì vậy, cùng với sự quản lý, giáo dục thường xuyên của tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự mình trau dồi, rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân dưới mọi biểu hiện của nó. Thực tế lịch sử cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên một thời lăn lộn, hy sinh trong kháng chiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc và có người đã từng giữ cương vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, nhưng khi trở về cuộc sống đời thường, vì không thường xuyên tu dưỡng đạo đức nên có biểu hiện công thần, tự cao, tự đại, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc bị sa ngã trước những cám dỗ tầm thường, thậm chí trở thành kẻ có tội với đất nước, nhân dân.

Chính từ sự kết hợp giữa giáo dục và tự giáo dục đạo đức cách mạng mà những yêu cầu khách quan của sự nghiệp đổi mới chuyển thành lý tưởng, niềm tin, động cơ hoạt động của mỗi cán bộ, đảng viên. Tự giáo dục đạo đức cách mạng gắn liền với việc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ văn hoá, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tổ chức, quản lý của cán bộ, đảng viên. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và tự giáo dục đạo đức phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Vì vậy, phải đa dạng hoá và kết hợp các hình thức, phương thức tác động đến sự hình thành những phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên; chú trọng kết hợp giữa nâng cao tri thức đạo đức học Mác – Lênin qua các kênh (trong nhà trường, trong sinh hoạt của tổ chức, qua các đợt thi tìm hiểu, qua các phương tiện thông tin đại chúng…) với rèn luyện đạo đức cách mạng qua các hoạt động thực tiễn.

Tự tu dưỡng đạo đức cách mạng phải được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên càng giữ các trọng trách lớn lại càng phải chú tâm rèn luyện, tu dưỡng theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để cổ vũ mọi người học tập.

Bốn là, kiên quyết đấu tranh chống những hành vi vi phạm pháp luật và các biểu hiện tiêu cực khác trong cán bộ, đảng viên.

Nâng cao đạo đức cách mạng gắn liền với việc củng cố các tổ chức của hệ thống chính trị các cấp, tiến hành thường xuyên và có hiệu quả các biện pháp kiểm tra, thanh tra, phát hiện và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện sai trái để làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ, đảng viên có vi phạm nghiêm trọng về đạo đức và pháp luật, dù ở bất cứ cương vị nào, sẽ có tác dụng to lớn đối với việc củng cố lòng tin, khơi dậy phong trào quần chúng rộng rãi, tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ cái đúng, cái thiện, cái đẹp; đồng thời, phê phán cái sai, cái ác, cái xấu. Trong điều kiện “Nạn tham nhũng diễn ra nghiêm trọng, kéo dài gây bất bình trong nhân dân và là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”(8), việc tích cực đấu tranh, phòng chống quốc nạn này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trước mắt, cần sớm “Kiện toàn tổ chức và cán bộ ở những cơ quan, đơn vị để xảy ra những biểu hiện không chấp hành nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm việc trì trệ, độc đoán, chuyên quyền, kéo bè, kéo cánh, mất đoàn kết nội bộ”(9) để nâng cao hiệu quả của công tác giáo dục tư tưởng chính trị, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên.

Đức và tài là hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó đức là “gốc” của người cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(10). Đạo đức cách mạng chính là cái “gốc” của sự phát triển, vì sự phát triển, hướng đến sự phát triển của con người và xã hội Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay. Chăm lo vun trồng cái “gốc” này, trước hết là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên.

Đã xem: 21511 Thời gian đăng: Thứ tư – 17/06/2015 04:27Người đăng: Phạm Quang Duy

Tăng Cường Đạo Đức Cách Mạng Của Cán Bộ, Đảng Viên

Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ trọng tâm, được đặt lên hàng đầu. Trong đó, tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên là nội dung cần thiết và hệ trọng, có ý nghĩa sống còn đối với sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ.

GS.TS Hoàng Chí Bảo truyền đạt một số nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII tới các cán bộ đoàn tỉnh Bắc Giang. (Ảnh: baobacgiang.com.vn)

1. Tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên – khâu đột phá lý luận và thực tiễn trong xây dựng Đảng

Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng, được Đảng ta đề ra tại Đại hội XII: “Tập trung thực hiện mục tiêu: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức” 1. Ngay từ khi thành lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh – người sáng lập và rèn luyện Đảng ta – luôn đặc biệt coi trọng đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Theo Người, để làm tròn sứ mệnh của mình, Đảng không chỉ có lý luận tiên phong dẫn đường, là chủ nghĩa Mác – Lê-nin, mà Đảng còn phải tiêu biểu cho đạo đức và văn hóa. Đạo đức cách mạng là nền tảng, gốc rễ làm cho bản chất Đảng được giữ vững và phát huy, quyền lực không bị biến dạng và tha hóa, nhân cách đảng viên không bị suy thoái, hư hỏng; bảo đảm cho Đảng làm tròn sứ mệnh của đội tiền phong chiến đấu của giai cấp công nhân, của dân tộc và của nhân dân lao động. Thực tiễn cách mạng của Đảng và của dân tộc hơn tám thập kỷ qua, nhất là trong công cuộc đổi mới đã cho thấy, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vai trò quan trọng và tác dụng to lớn đối với sự phát triển của đất nước và sự trưởng thành của Đảng. Vì vậy, trong suốt tiến trình cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ tận tụy và trung thành của nhân dân.

Mặc dù vậy, đây là lần đầu tiên Đảng ta đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức – một dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng – vào trong Văn kiện. Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ số đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung này, sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, đảm bảo cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đây chính là khâu đột phá lý luận và thực tiễn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, lại duy nhất cầm quyền như Đảng ta, đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế, vì một Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

2. Thực trạng phẩm chất đạo đức, lối sống và việc giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên

Lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng suốt 86 năm qua, trong đó với 30 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là minh chứng thuyết phục cho đánh giá của Hồ Chí Minh: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đạo đức của Đảng cách mạng, của người cách mạng được hội tụ, kết tinh ở tư tưởng – đạo đức – phong cách Hồ Chí Minh. Người đã suốt đời nêu gương, đã truyền dẫn và tỏa sáng tấm gương đạo đức trong Đảng, trong dân, tạo nên nguồn xung lực đặc biệt để thúc đẩy lớp lớp cán bộ, đảng viên; thuyết phục và cổ vũ toàn thể đồng bào, chiến sĩ kiên trung, bất khuất trước trước kẻ thù, vững vàng trước khó khăn, gian khổ, một lòng “vì Nước quên thân, vì Dân phục vụ”, “Trung với Đảng, hiếu với Dân”, suốt đời là công bộc của dân. Đó là tinh thần đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của hàng vạn, hàng triệu cán bộ, đảng viên trong hệ thống các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị. Đó là một cuộc chiến quyết liệt, tự vượt lên chính mình để có đủ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, giữ vững chủ nghĩa, ít lòng tham muốn vật chất, vượt qua những cám dỗ bất minh của danh và lợi để đưa dân tộc phát triển, v.v. Điều đó cắt nghĩa nguyên nhân làm nên uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong xã hội và trong nhân dân. Nhân dân giữ trọn niềm tin yêu với Đảng, tự hào xem Đảng là Đảng của mình.

Trong đội ngũ gần năm triệu đảng viên của Đảng hiện nay, có không ít những tấm gương như thế. Đây là mặt tích cực, chủ đạo trong nhìn nhận, đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Thế hệ đảng viên lão thành, đã nhiều chục năm tuổi Đảng, được rèn luyện, thử thách trong đấu tranh cách mạng, nay dù ở cương vị nào vẫn luôn trung kiên, giữ vững phẩm chất người cách mạng, thể hiện và phát huy trong đời sống hằng ngày, trong hoạt động thực tiễn và công tác; nêu gương cho các thế hệ sau về lập trường, đạo đức, lối sống, về niềm tin vào Đảng, gắn bó với quần chúng nhân dân. Đội ngũ cán bộ, đảng viên đang trực tiếp tham gia công tác trên mọi lĩnh vực đã nêu cao trách nhiệm trước cuộc sống của nhân dân, tích cực rèn luyện nâng cao học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, thực hành dân chủ, tôn trọng pháp luật, thực hiện nghị quyết, nguyên tắc và Điều lệ Đảng.

Tư cách người đảng viên còn thể hiện rõ ở những người lao động giỏi, người công dân gương mẫu và người chiến sĩ tiên phong trong đổi mới. Họ là những công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân thành đạt, những cán bộ dân vận và công tác đoàn thể, những nhà quản lý đã góp phần làm nên kết quả và thành tựu của đổi mới. Đã có không ít những cán bộ, đảng viên trong lực lượng vũ trang hy sinh, đổ máu ngay trong thời bình, khi phải chống trả tội phạm, chống cái ác, cái xấu để bảo vệ cuộc sống bình yên cho nhân dân. Trong thiên tai, biết bao cán bộ, đảng viên đã lăn lộn hết mình để bảo vệ cuộc sống và sự sống của dân, thậm chí hy sinh cả tính mạng. Biết bao cán bộ, chiến sĩ âm thầm chịu đựng gian khổ giữ gìn biên cương, biển, đảo của Tổ quốc. Thế hệ đảng viên trẻ, lớp người sinh ra và lớn lên trong đổi mới đang là nòng cốt trong lao động, sản xuất, làm nên nguồn tăng trưởng của nền kinh tế, làm chủ khoa học – công nghệ để đưa đất nước vào quỹ đạo của phát triển; tích cực tham gia các hoạt động “đền ơn đáp nghĩa”, tình nguyện, nhân đạo; có lối sống đẹp, vị tha, nhân ái,… đem lại cho đất nước, cho Đảng sinh lực, sức sống và sức chiến đấu mới, v.v. Đó chính là những minh chứng thực tế về đạo đức tốt đẹp trong Đảng, trong dân, trong xã hội ta vẫn luôn tỏa sáng, vẫn là đường hướng chủ đạo, tích cực, là nguồn nội sinh đích thực của tiềm lực dân tộc, là phẩm chất đạo đức, văn hóa của Đảng. Không có những xung lực tinh thần này, làm sao có được thành tựu của đổi mới, của hội nhập, của xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong ba thập kỷ qua. Cần khẳng định, phải tiếp tục nuôi dưỡng và phát huy những nhân tố ấy.

Bên cạnh đó, tàn dư của phong kiến, thực dân, mặt trái kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch, sự thiếu tu dưỡng rèn luyện của một số cá nhân,… là nguyên nhân của những yếu kém, suy thoái, thậm chí hư hỏng về đạo đức trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Đó là một thực trạng nghiêm trọng, phổ biến và gây hậu quả rất nặng nề, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, gây bất bình trong xã hội và làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng. Trong nội bộ Đảng và trong dân, ai cũng nhìn thấy và nhận rõ tình trạng đáng lo ngại này. Đó là các biểu hiện mà Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra, nổi lên là: 1. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa cũng như chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2. Sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân, mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Những cán bộ, đảng viên mang những biểu hiện này, với họ, sinh hoạt Đảng chỉ còn là phương tiện để giữ lấy ” đảng tịch” (danh nghĩa đảng viên) và tồn tại trong Đảng để mưu lợi, cầu danh, đoạt vị chứ không phải “sống” vì Đảng, vì dân, không còn gì là thiêng liêng, là lẽ sống và niềm tin nữa. 3. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) bị suy giảm nghiêm trọng, thậm chí có thể nói: bị bào mòn. Nói không đi đôi với làm. Nói những lời tốt đẹp nhưng sống và hành động lại xa lạ với những gì đã nói. Đó là hiện thân của thói đạo đức giả và thường được che đậy tinh vi, kín đáo. Điều đáng lo ngại nhất là tình trạng này dẫn tới những “giả chính trị”, “giả khoa học”, “giả đạo đức”, cũng là “một thứ giả nhân cách”. Nếu những thói hư, tật xấu này không bị vạch trần, lên án, thì những cái giả, thứ giả nêu trên, với mọi biểu hiện tinh vi của nó sẽ lộng hành, thao túng. Hậu quả là dẫn tới đảo lộn các giá trị, làm gay gắt thêm tình trạng suy đồi, làm suy yếu tổ chức, làm mất tín nhiệm của tư tưởng và làm băng hoại phẩm giá, nhân cách. 4. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để chạy chọt các mối quan hệ, tìm kiếm những liên kết lợi ích nhóm bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng mà có để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Loại người này sống và hành xử theo một triết lý đáng phẫn nộ: “Cái gì cũng mua được bằng tiền”, “cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Họ chẳng những là những kẻ không có đạo đức mà còn phá hủy đạo đức trong Đảng. 5. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nên sự nhức nhối về đạo đức trong Đảng, sự phản cảm lớn nhất đối với nhân dân và xã hội, v.v. Mảng tối phản diện này, nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi nó, sẽ lấn át cả mảng sáng trong đời sống đạo đức của Đảng. Vì vậy, phải đặt xây dựng chỉnh đốn Đảng về đạo đức lên hàng đầu, nếu không, việc xây dựng Đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức chẳng những không thực hiện được, mà sức chiến đấu, năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cũng sẽ bị ảnh hưởng và yếu đi nghiêm trọng. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, cũng đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi, Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng việc làm, bằng ứng xử và hành xử là những người có đạo đức.

3. Một số giải pháp chủ yếu, cấp bách để tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên

Đặt lên hàng đầu tiêu chuẩn về đạo đức cách mạng, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” khi xem xét kết nạp, đánh giá đảng viên và tổ chức đảng; khi lựa chọn, tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, đặc biệt ở cấp chiến lược. Lẽ dĩ nhiên, đạo đức phải gắn chặt với tài năng, đảm bảo người trong Đảng (đảng viên) và người được Đảng, Nhà nước, Mặt trận, đoàn thể lựa chọn làm cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là người thực đức và thực tài. Muốn vậy, phải công khai, công bằng, công minh trong đánh giá, phải lắng nghe tiếng nói nhận xét, đánh giá từ phía người dân, dựa hẳn vào dân trong công tác xây dựng Đảng, trong công tác tổ chức cán bộ của Đảng.

Gắn liền với việc chấn chỉnh đạo đức, phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, trong Nhà nước và trong hệ thống chính trị theo Điều lệ Đảng (bộ luật tối cao của Đảng), theo Hiến pháp và luật pháp. Xử lý phải nghiêm minh, công khai, tôn trọng và thực hiện đúng quyền bình đẳng của tất cả đảng viên trước Điều lệ Đảng, của tất cả các công dân trước Hiến pháp và luật pháp, không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Thực hiện chỉnh đốn Đảng, trước hết chỉnh đốn về đạo đức theo đúng nghĩa nghiêm ngặt của từ “chỉnh đốn”, tức là phải có những biện pháp mạnh để thanh lọc “những con sâu bỏ dầu nồi canh” trong Đảng như “chỉ thị thanh Đảng” thời V.I. Lê-nin và thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh “Trừng trị tất cả những kẻ bất liêm, bất kể chúng là ai” để lấy lại sự trong sạch và sự công bằng chính trực của Đảng. Những vi phạm đạo đức và kỷ luật của cán bộ, đảng viên đã được xác minh, kết luận rõ thì phải nhanh chóng xử lý, đưa ra khỏi cơ quan lãnh đạo và các cương vị, chức trách dù chỉ mới vào nhiệm kỳ hay chưa hết nhiệm kỳ, ở tất cả các cấp, từ Trung ương tới địa phương và cơ sở. Phải công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân biết.

Bảo đảm cho toàn Đảng, từ chi bộ trở lên quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm các nghị quyết của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; nhất là Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), gắn chặt xây dựng và thực hành đạo đức trong Đảng với phòng chống, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Triển khai sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Chỉ thị 05-CT/TW, ngày 15-5-2015 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Từ nâng cao nhận thức, phải chuyển thành hành động bằng cách thực hành đạo đức cách mạng theo tấm gương sáng đạo đức Hồ Chí Minh: thiết thực, hiệu quả, bền bỉ, lâu dài, tự nguyện, tự giác như một nhu cầu văn hóa của mỗi người, mỗi tổ chức.

Xác lập một hệ thống chế tài để thúc đẩy việc nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan chính quyền, đoàn thể ở mọi lúc, mọi nơi; gắn việc xây dựng và thực hành đạo đức trong Đảng với đột phá về công tác tổ chức và cán bộ. Bằng mọi biện pháp nghiêm ngặt để kiểm soát và xử lý tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy huân chương, chạy luân chuyển; xóa bỏ sự tệ hại của cơ chế “xin – cho”, “duyệt – cấp”, bởi nó đã gây ra bao hậu quả nặng nề làm hỏng thể chế, làm suy yếu tổ chức, làm lệch lạc nhân cách cán bộ, gây bất bình trong xã hội và nhân dân.

Đổi mới công tác giáo dục tư tưởng và đạo đức, đủ sức tạo ra những chuyển biến tích cực về đạo đức trong Đảng, trong xã hội theo tinh thần chấn hưng đạo đức. Xây dựng bộ luật đạo đức xã hội làm cơ sở để giáo dục đạo đức công dân, nhất là giáo dục đạo đức cho đảng viên, cho thế hệ trẻ. Tăng cường giáo dục lương tâm, danh dự, liêm sỉ trong Đảng, nhất là đối với các đảng viên có chức vụ thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “phải biết rằng tham lam là một điều rất đáng xấu hổ”; tham ô, tham nhũng là một tội ác với dân, với nước. Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI) về xây dựng văn hóa và con người, xây dựng giá trị con người Việt Nam theo các đặc trưng dân tộc – văn hóa – dân chủ – khoa học của nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đẩy mạnh tuyên truyền trên mọi phương tiện thông tin đại chúng để đưa giáo dục đạo đức thành nền nếp thường xuyên, có tác động và hiệu ứng mạnh tới cán bộ, đảng viên trong Đảng, trong đội ngũ công chức Nhà nước và trong xã hội.

Tăng cường đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên, không chỉ là quyết tâm chính trị, mà phải trở thành hành động của toàn Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên, của cả hệ thống chính trị với sự hỗ trợ, giúp đỡ của toàn dân đối với Đảng của mình, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

1 – ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr. 202.

Một Số Giải Pháp Xây Dựng Đạo Đức Cách Mạng Cho Cán Bộ, Đảng Viên

Một là: Phát triển kinh tế xã hội theo hướng nhanh, bền vững nhằm tạo tiền đề vật chất để xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Theo quan điểm của các nhà kinh điển mácxít, tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, suy đến cùng kinh tế quyết định chính trị. Như vậy, cơ sở của đạo đức cũng xuất phát từ kinh tế. Vấn đề phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay là “con đường rút ngắn thời gian so với các nước đi trước, phát huy tối đa những tiềm năng và lợi thế của đất nước, gắn công nghiệp hóa với hiện đại hóa trong từng bước, gắn công nghiệp hóa, hiện đại hóa với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”[1]. Mặt khác, “phát triển nhanh phải đi liền với phát triển bền vững. Phát triển bền vững phải bao trùm các mặt của đời sống kinh tế, xã hội, tức là phải gắn kết sự phát triển kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh”.

Đạo đức phản ánh và chịu sự quy định của đời sống kinh tế mà trực tiếp là quan hệ lợi ích của con người. Chúng ta nói nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, điều đó không có nghĩa là không quan tâm đầy đủ đến lợi ích chính đáng của từng người. Lợi ích của tập thể và cá nhân có mối quan hệ hữu cơ, thống nhất với nhau, trong đó lợi ích tập thể phải đặt lên trên hết, trước hết. Tách rời và đối lập hai mặt đó với nhau là một quan điểm sai lầm. Vì vậy, việc chăm lo phát triển kinh tế, qua đó nâng cao đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân thành phố Đà Nẵng phải là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu tạo nền tảng của việc bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên hiện nay.

Thực tế cho thấy rằng, ở đâu và lúc nào mà tình hình kinh tế – xã hội phát triển thuận lợi, tình hình chính trị ổn định thì sẽ tạo tiền đề cho đạo đức cách mạng được củng cố, duy trì và phát triển. Hiện nay, Đà Nẵng là một thành phố năng động đang trên đà phát triển. Thành phố đang đẩy mạnh các hoạt động kinh tế – xã hội rất đa dạng, trở thành động lực lôi kéo cả khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Thông qua các hoạt động đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên của thành phố có điều kiện để nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý; kĩ năng tổ chức thực hiện; rèn luyện, trau dồi các phẩm chất đạo đức cần thiết.

Tuy nhiên, để thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển thành phố theo tinh thần Nghị quyết 33 – NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế – xã hội lớn của miền Trung” thì thành phố Đà Nẵng cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Việc thực hiện các nhiệm vụ đó sẽ tạo tiền đề vật chất tốt nhất cho việc bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, góp phần giữ vững và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, đồng thời hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức mới phù hợp với điều kiện công tác và làm việc trong giai đoạn hiện nay của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hai là: Phát huy vai trò của hệ thống chính trị các cấp ở địa phương trong việc xây dựng đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên

Bất kỳ tổ chức nào cũng do con người lập ra và đến lượt nó, các tổ chức lại quy định hành vi của các thành viên theo những chuẩn mực nhất định. Cán bộ, đảng viên là những người hoạt động trong các tổ chức thuộc hệ thống kinh tế – chính trị, trong đó, Đảng là hạt nhân lãnh đạo. Việc phát huy vai trò của các tổ chức nhằm quản lý, giáo dục, kiểm tra, giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên có tác dụng to lớn đối với việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những biểu hiện tiêu cực khác về mặt đạo đức của cán bộ, đảng viên.

Chúng ta cần xác định việc thực hiện nhiệm vụ chính trị phải gắn với xây dựng tổ chức, trong đó có tổ chức Đảng và các tổ chức đoàn thể, làm công tác đảng viên, công tác cán bộ đồng thời cũng phải làm công tác về bộ máy.

Chính quyền từ phường (xã), quận (huyện) đến các cơ quan, ban, ngành Mặt trận Tổ quốc của thành phố phải xây dựng quy chế làm việc, quy chế quản lý cán bộ và công tác cán bộ phù hợp với điều lệ Đảng và pháp luật hiện hành, phù hợp với thực trạng của cơ quan, địa phương, đơn vị mình; triển khai các nghị quyết, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và nghị quyết của Mặt trận Tổ quốc rộng khắp trong nhân dân; xây dựng khối đại đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân thành phố.

Chính quyền địa phương và Mặt trận Tổ quốc phải có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất với nhau trong việc quản lý kinh tế, xây dựng chủ trương, chính sách pháp luật, đặc biệt trong việc tổ chức thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đối với hoạt động của cơ quan Nhà nước, đối với cán bộ, đảng viên. Bản thân tổ chức Mặt trận phải khắc phục tình trạng thụ động, không phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm và quyền hạn của mình. Làm tốt điều đó, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân sẽ là người ngăn chặn có hiệu quả những biểu hiện lệch lạc về mặt phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên ở địa phương.

Hội đồng nhân dân phải thực hiện tốt chức năng giám sát theo quy định của pháp luật đồng thời căn cứ vào tình hình cụ thể mà có chương trình, kế hoạch giám sát thiết thực ở từng ngành, cơ quan, đơn vị. Tăng cường công tác kiểm tra của các tổ chức đảng, cơ quan thanh tra Nhà nước của thành phố đối với những lĩnh vực, những cán bộ, những đảng viên giữ chức vụ dễ phát sinh tham ô, tham nhũng, vi phạm đạo đức lối sống. Bên cạnh đó, làm trong sạch hóa đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra. Thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao trình độ năng lực, phẩm chất, đạo đức lối sống của đội ngũ này, kịp thời đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi công tác kiểm tra, thanh tra. Phát huy vai trò của nhân dân, công luận trong công tác kiểm tra, giám sát; đấu tranh phát hiện, ngăn chặn những hiện tượng suy thoái đạo đức, lối sống. Các cấp chính quyền phải quản lý cán bộ, đảng viên chặt chẽ, thường xuyên ở cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú.

Thực tế ở huyện Hòa Vang cho thấy, Huyện ủy thường xuyên thực hiện chức năng giám sát thông qua việc phân công mỗi ủy viên thường vụ phụ trách một xã, phân công các huyện ủy viên phụ trách ngành và địa bàn để thường xuyên theo dõi, nắm bắt tình hình. Huyện ủy duy trì chế độ giao ban hàng tháng, hàng quý với lãnh đạo các Ban của Đảng, Mặt trận và các đoàn thể, Bí thư đảng ủy các xã để nắm bắt và giải quyết kịp thời các vấn đề nổi cộm xảy ra cũng như những đề xuất phản ánh từ tình hình thực tiễn ở cơ sở. Nhờ làm tốt công tác kiểm tra, giám sát từ huyện đến cơ sở nên 5 năm qua (2005 – 2009), huyện ủy Hòa Vang đã chấn chỉnh kịp thời những tổ chức cơ sở đảng, những đơn vị có dấu hiệu vi phạm điều lệ Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nâng cao một bước chất lượng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Từ thực tiễn cho thấy, việc giáo dục, bồi dưỡng đạo đức cách mạng là một cuộc đấu tranh lâu dài, liên tục trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và cần được kết hợp chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động, tất cả các tổ chức chính trị – xã hội, kinh tế…Song ở những nơi, những ngành có cán bộ, đảng viên vi phạm thì việc rèn luyện các phẩm chất cách mạng phải được xem là vấn đề cấp thiết. Tổ chức Đảng và chính quyền, đoàn thể ở đó cần có những biện pháp tích cực, triệt để nhằm phát huy những mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt, tiếp tục nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.

Ba là: Chú trọng tự giáo dục và giáo dục đạo đức cách mạng, đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trong cán bộ, đảng viên

Giáo dục là con đường cơ bản, phổ biến để hình thành và phát triển những năng lực và phẩm chất cần thiết cho mỗi người chuẩn bị bước vào cuộc sống lao động và trở thành công dân hữu ích cho xã hội. Giáo dục đạo đức là một bộ phận quan trọng của giáo dục, là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao vai trò của đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên. Thực chất của giáo dục đạo đức là nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện ý thức đạo đức cũng như năng lực thực hiện hành vi đạo đức của mỗi cá nhân. Điều đó có nghĩa là hình thành những chủ thể có ý thức trong việc bảo vệ và tăng cường lợi ích cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, không phải cứ tăng trưởng kinh tế là đạo đức cách mạng tự động được nâng cao. Không phải cứ đời sống vật chất được cải thiện là sự sa đọa về lối sống, xuống cấp về đạo đức tự động được khắc phục. Sự hình thành những phẩm chất đạo đức của mỗi người không diễn ra một cách tự phát mà nó là kết quả sự nổ lực của quá trình giáo dục và tự giáo dục, tự rèn luyện của mỗi cá nhân theo những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức của xã hội.

Việc chú trọng tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên là biện pháp có ý nghĩa quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh rằng đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống, mà nó được củng cố và phát triển chủ yếu do sự đấu tranh rèn luyện bền bỉ hàng ngày. Vì vậy, cùng với sự quản lý, giáo dục thường xuyên của tổ chức, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn tự mình trau dồi, rèn luyện tu dưỡng các phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Thực tế cho thấy, không ít cán bộ, đảng viên đã từng quên mình, anh hùng trong kháng chiến vì độc lập tự do của Tổ quốc và có những người đã từng giữ chức vị cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước nhưng khi trở về cuộc sống đời thường do không thường xuyên tu dưỡng đạo đức nên có biểu hiện công thần, tự cao tự đại, gây mất đoàn kết nội bộ hoặc bị sa ngã trước những cám dỗ vật chất tầm thường, thậm chí trở thành kẻ có tội với đất nước và nhân dân.

Tự giáo dục đạo đức cách mạng ở thành phố Đà Nẵng phải gắn liền với học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực tư duy lý luận, năng lực tổ chức, quản lý của cán bộ, đảng viên. Mặt khác, phải gắn liền giáo dục đạo đức với giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục ý thức pháp luật. Chất lượng, hiệu quả của giáo dục và tự giáo dục đạo đức phụ thuộc vào nhiều nhân tố. Vì vậy, phải đa dạng hóa và kết hợp nhiều hình thức, phương thức tác động đến sự hình thành những phẩm chất đạo đức của cán bộ, đảng viên. Nội dung giáo dục phải thiết thực, cụ thể, phù hợp với từng loại đối tượng cán bộ, đảng viên, tránh khuôn sáo, máy móc. Chú trọng kết hợp giữa nâng cao nhận thức về đạo đức học Mác – Lênin qua nhiều kênh (trong nhà trường, trong sinh hoạt của tổ chức, qua các đợt tìm hiểu, qua các phương tiện thông tin đại chúng…) với rèn luyện đạo đức cách mạng qua hoạt động thực tiễn.

Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đã bước sang năm thứ tư. Tại thành phố Đà Nẵng, cuộc vận động được triển khai thực hiện sâu rộng, tạo được những chuyển biến bước đầu về ý thức rèn luyện tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân; có tác dụng tích cực đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của các đơn vị địa phương, đơn vị. Tuy nhiên, một số địa phương, đơn vị chưa gắn nội dung cuộc vận động với thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và cải cách hành chính. Việc đưa nội dung cuộc vận động vào sinh hoạt chi bộ chưa được quan tâm chỉ đạo thực hiện tốt, một số nơi có duy trì thực hiện nhưng chất lượng chưa cao, đôi khi còn mang tính hình thức. Việc “làm theo” tấm gương Bác chưa thật sự rõ nét, chưa tạo được phong trào rộng lớn và tự giác. Vì vậy, cuộc vận động này cần được đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian tới. Phải coi đây là công việc thường xuyên của cán bộ, đảng viên, của mọi tổ chức Đảng; phải khơi dậy tinh thần tự giác, tự nguyện “học tập” và “làm theo” tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng bộ và trong toàn xã hội; gắn cuộc vận động với phong trào thi đua thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị; xây dựng các quy định về tiêu chuẩn đạo đức của cán bộ, đảng viên ở từng vị trí công tác và kịp thời biểu dương, nhân rộng các điển hình tiên tiến “làm theo” tấm gương đạo đức của Bác. Những yếu tố trên nhằm nâng cao hơn nữa ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng phải được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của mỗi cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên càng giữ các trọng trách lớn càng phải chú tâm rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh để cổ vũ mọi người học tập.

Bốn là: Nâng cao trình độ về các mặt, nhất là trình độ lý luận chính trị – hành chính của cán bộ, đảng viên

Cán bộ, đảng viên là lực lượng tiên tiến nhất của giai cấp công nhân. Đối với mỗi cán bộ, đảng viên dù trong hoàn cảnh nào, cương vị nào cũng đòi hỏi phải có cả đức lẫn tài. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX chỉ rõ: “Các cấp ủy và chi bộ tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra đảng viên học tập, rèn luyện, không ngừng nâng cao trình độ chính trị, học vấn chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý”[2]. Việc nâng cao trình độ về lý luận chính trị – hành chính sẽ tạo sự phát triển ngày càng hoàn thiện cho mỗi cán bộ, đảng viên, là yếu tố để mỗi cán bộ, đảng viên phát huy hết mọi khả năng đối với công việc, góp phần làm tăng hiệu quả trong công tác nhất là đối với công tác quản lý, lãnh đạo.

Thành tựu của gần 25 năm đổi mới ở nước ta chứng tỏ đội ngũ cán bộ, đảng viên đã trưởng thành về trình độ lý luận. Trình độ học vấn, chuyên môn cũng đã có bước chuyển biến rõ nét. Thực tế ở thành phố Đà Nẵng cho thấy đội ngũ đảng viên có trình độ tương đối cao trong xã hội. Năm 2009, có 96,7% số đảng viên mới có trình độ phổ thông trung học, 53,3 % trình độ chuyên môn đại học, 2,8% thạc sĩ và tiến sĩ. Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, kỹ năng nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học của đảng viên có mặt chưa theo kịp yêu cầu của sự nghiệp đổi mới. Điều đó một phần quan trọng là do một số cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí, thiếu tu dưỡng bản thân, trở thành những đảng viên trung bình hoặc yếu kém. Đối với bộ phận đảng viên này, tình trạng ngại đi học, ngại học tập chính quy và dài hạn là khá phổ biến.

Hiện nay, Đà Nẵng là một trong những thành phố năng động, kinh tế – xã hội phát triển tương đối toàn diện, tốc độ tăng trưởng khá, hiệu quả và sức cạnh tranh cao (hai năm liên tục: 2008 và 2009 đạt chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cao nhất nước). Thành phố Đà Nẵng đang tập trung thực hiện Nghị quyết Đại hội XX và Nghị quyết 33 – NQ/TW của Bộ Chính trị về “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế – xã hội lớn của miền Trung”. Để thực hiện tốt nhiệm vụ đó thì việc nâng cao trình độ về các mặt cho cán bộ, đảng viên có vai trò rất quan trọng. Điều đó góp phần nâng cao năng lực quản lý, lãnh đạo cũng như sự chủ động, sáng tạo trong công việc của cán bộ, đảng viên. Mặt khác nó còn là yếu tố góp phần bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên đáp ứng yêu cầu của sự phát triển thành phố Đà Nẵng hiện tại và tương lai.

Để thực hiện tốt công tác bồi dưỡng trình độ lý luận chính trị – hành chính cho cán bộ, đảng viên, thành phố Đà Nẵng cần tổ chức nhiều hơn các đợt học tập nâng cao trình độ chính trị – hành chính cho cán bộ, đảng viên đặc biệt là cán bộ chủ chốt; tăng cường bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học. Để đạt hiệu quả cao, công tác này đòi hỏi ý thức tự giác học tập rèn luyện của mỗi người. Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố Đà Nẵng hiện nay, để khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của một bộ phận nhỏ cán bộ, đảng viên thì việc tổ chức Đảng chăm lo đào tạo, bồi đưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về phẩm chất chính trị lẫn học vấn tri thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý là một việc làm quan trọng và cấp bách hiện nay.

Năm là: Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên

Việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở cần đi đôi với việc tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên. Thông qua việc phát huy quyền làm chủ và sự giám sát của nhân dân để rèn luyện cán bộ, đảng viên về lập trường tư tưởng, quan điểm, tác phong và lối sống cách mạng. Bởi vì, nhân dân là những người trực tiếp tiếp xúc với cán bộ, đảng viên và thấy được năng lực, phẩm chất của cán bộ, đảng viên qua những việc làm cụ thể của họ. Thực tế ở nước ta và thành phố Đà Nẵng cho thấy, nơi nào quy chế dân chủ ở cơ sở được phát huy, công tác kiểm tra, giám sát của nhân dân được coi trọng thì nơi đó tổ chức Đảng lãnh đạo và hoạt động có hiệu quả; cán bộ, đảng viên luông là những người gương mẫu, chấp hành tốt mọi chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; gần gũi, tôn trọng nhân dân tạo môi trường lành mạnh ở nơi làm việc và nơi cư trú. Vì vậy, việc giáo dục và nâng cao ý thức làm chủ và phát huy tới mức cao quyền làm chủ của nhân dân ở thành phố Đà Nẵng hiện nay cần đi đôi với những biện pháp tổ chức, đảm bảo cho quần chúng thực sự kiểm tra, giám sát công việc của cán bộ, đảng viên ở cơ sở, các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền, các đơn vị sản xuất – kinh doanh, các đơn vị hành chính – sự nghiệp phải thường xuyên tổ chức quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên, góp ý kiến phê bình cơ quan lãnh đạo quản lý tạo thành dư luận rộng rãi, thành nề nếp thường xuyên của quần chúng là giám sát, biểu dương người tốt, việc tốt, phê bình và lên án những tư tưởng, hành động, tác phong xấu của cán bộ, đảng viên.

Sáu là: Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực về đạo đức trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

Chủ nghĩa cá nhân là một trở ngại lớn cho việc xây dựng đạo đức cách mạng. Vì vậy, thắng lợi của cách mạng không thể tách rời cuộc đấu tranh bài trừ chủ nghĩa cá nhân.

Cán bộ, đảng viên là những người chịu trách nhiệm trước Đảng, trước tập thể và nhân dân. Cán bộ, đảng viên là người đại diện cho lợi ích của một tập thể, một cộng đồng. Mặt khác, Đảng ta là đảng cầm quyền nên hầu hết những người có chức, có quyền đều là đảng viên. Các chức vụ phải đi đôi với các quyền trong đó có quyền bảo vệ các tài sản của Nhà nước và phân bổ các tài sản này theo Hiến pháp, pháp luật hoặc theo các nguyên tắc đã được thông qua. Chính đây là chỗ một số cán bộ, đảng viên mang nặng chủ nghĩa cá nhân có thể lợi dụng để chiếm đoạt tài sản, làm trái Hiến pháp, pháp luật, nguyên tắc và thể lệ chung.

Ở Đà Nẵng hiện nay, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân rất đa dạng. Biểu hiện nổi bật đối với người có chức quyền là quan liêu, tham nhũng. Ngoài ra còn có các biểu hiện khác như cơ hội về chính trị, cơ hội về tổ chức, chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy lợi…Muốn loại bỏ những hiện tượng này trước hết phải loại trừ chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhận định: Do chủ nghĩa cá nhân mà cán bộ, đảng viên ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí xa hoa. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Họ không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ…Cũng do chủ nghĩa cá nhân mà mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. Vì vậy, “muốn thành người cách mạng, thành người cộng sản chân chính phải chống chủ nghĩa cá nhân”[3].

Hiện nay, thành phố Đà Nẵng vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng. Từ khi Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng thành phố Đà Nẵng được thành lập (26/05/2010), tình hình chống tham nhũng tại thành phố Đà Nẵng có bước chuyển biến cơ bản tích cực. Qua 6 tháng đầu năm 2010, thành phố đã tập trung triển khai thực hiện đúng tiến độ các nội dung, công việc đã đề ra tại Kế hoạch phòng, chống tham nhũng năm 2010. Đặc biệt thành phố quan tâm công tác cải cách hành chính là khâu góp phần giảm thiểu tiêu cực, tham nhũng. Đi đôi với công tác phòng thì công tác chống cũng được quan tâm: trong 6 tháng đầu năm 2010 Uỷ ban kiểm tra Thành uỷ đã xử lý kỷ luật 2 tổ chức Đảng với hình thức khiển trách và 45 đảng viên. Nội dung vi phạm chủ yếu là chấp hành chưa nghiêm các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm phẩm chất đạo đức, lối sống…. Thanh tra thành phố đã tiến hành nhiều cuộc thanh tra, kiểm tra, đã kiến nghị thu hồi nộp ngân sách hơn 4 tỷ đồng, qua đó, có tác dụng ngăn ngừa tham nhũng. Công tác điều tra, truy tố và xét xử cũng triển khai rất nghiêm minh, đúng người, đúng tội nên có tác dụng răn đe nhất định.

Tóm lại, trong những năm qua, đội ngũ cán bộ, đảng viên thành phố Đà Nẵng tăng lên đáng kể về chất lượng và số lượng. Có thể nói rằng, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có mặt ở hầu hết các ngành, các cấp. Vấn đề đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên cũng có bước chuyển biến mới. Trình độ lý luận chính trị, học vấn chuyên môn của cán bộ, đảng viên được nâng lên rõ rệt. Cán bộ, đảng viên thành phố Đà Nẵng luôn luôn là lực lượng tiên phong trong mọi công việc, chủ động sáng tạo trong học tập và công tác nhằm phục vụ có hiệu quả những yêu cầu của tình hình mới đặt ra.

Mặc dù vậy, từ thực trạng đạo đức và công tác xây dựng đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên thành phố Đà Nẵng hiện nay (những ưu điểm cơ bản, những hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đã được phân tích), để đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình đổi mới hiện nay và thực hiện Nghị quyết 33 – NQ/TW của Bộ Chính trị về việc “Xây dựng thành phố Đà Nẵng trở thành một trong những đô thị lớn của cả nước, là trung tâm kinh tế – xã hội lớn của Miền Trung”, điều cần thiết là phải xây dựng, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thành phố. Để xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên thành phố Đà Nẵng hiện nay cần thực hiện đồng bộ các giải pháp đã được đề cập. Điều đó chắc chắn sẽ phát huy hơn nữa vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đổi mới và tạo ra động lực thúc đẩy việc thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương.

Bạn đang xem bài viết Rèn Luyện Đạo Đức Cách Mạng Cho Đội Ngũ Cán Bộ, Đảng Viên Theo Di Chúc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!