Xem Nhiều 1/2023 #️ Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng # Top 2 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt nội dung:

Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu tác động của tải trọng động đất lên các công trình vẫn còn tương đối mới tại Việt Nam. Hiện chúng ta đã có tiêu chuẩn thiết kế công trình chịu động đất (TCVN 9386:2012) được biên soạn từ tiêu chuẩn Eurocode 8 (2004) và một số quy định về giải pháp cấu tạo kháng chấn cho các cấu kiện dầm, sàn, tường chịu lực… và sửa chữa, gia cường cho các kết cấu nhà, công trình bị hư hỏng do động đất. Tuy nhiên, các giải pháp cấu tạo này vẫn tương đối ít và chưa đầy đủ nên cần thiết phải nghiên cứu bổ sung thêm cho phù hợp với từng đối tượng nhà cụ thể. Để đáp ứng nhu cầu đó, nhóm tác giả đã biên soạn cuốn “Giải pháp cấu tạo kháng chấn cho công trình xây dựng dân dụng”.

Nội dung sách trình bày các giải pháp cấu tạo kháng chấn cho các công trình nhà ở, nhà công cộng thấp tầng có chiều cao từ 9 tầng trở xuống, có kết cấu chịu lực dạng khung chịu lực, tường chịu lực, hệ hỗn hợp khung – tường chịu lực đổ tại chỗ bằng bê tông, bê tông cốt thép, gạch đá (có và không có cốt thép), được tính toán theo các tiêu chuẩn thiết kế kết cấu thông thường nhưng không tính toán, thiết kế theo tiêu chuẩn chịu động đất, được xây dựng ở trong các vùng có đỉnh gia tốc nền thiết kế ag nằm trong khoảng 0,04 đến 0,08g, tương ứng với cấp động đất là cấp VI theo thang MSK-64, (động đất yếu). Khu vực xây dựng không nằm trong các vùng có nguy cơ trợt lở, lún hoặc xảy ra hiện tượng hóa lỏng nền đất khi có động đất yếu.

Nội dung sách gồm 05 chương:

Chương 1: Mở đầu.

Chương 2: Những quy định chung về cấu tạo kháng chấn.

Chương 3: Cấu tạo kháng chấn cho kết cấu bê tông và kết cấu bê tông cốt thép.

Chương 4: Cấu tạo kháng chấn cho kết cấu gạch đá.

Chương 5: Cấu tạo kháng chấn khi sửa chữa, phục hồi, gia cường kết cấu.

Thư viện Bộ Xây dựng

Giải Pháp Mới Cho Những Công Trình Xây Dựng

Với các giải pháp công nghệ mới được áp dụng, kỹ thuật được cải tiến, hiện nay nhiều khó khăn, phức tạp trong thi công công trình đã dần được khắc phục.

Công nhân Công ty cổ phần thép TSC lắp đặt cấu kiện thép tại công trình. Ảnh: Đức Anh

Hẳn nhiều người còn nhớ hình ảnh hàng chục công nhân trằn mình với việc nắn, buộc thép rồi hùng hục trộn bê tông bằng tay, sau chuyền tay nhau lên đổ mái, đúc dầm. Bên cạnh đó, để đúc được bê tông cho một công trình xây dựng, người ta còn cần đến hàng chục mét khối gỗ cốp pha và mất nhiều ngày để đóng thành khuôn. Hôm nào công trình đổ bê tông được xem như ngày cực kỳ hệ trọng.

Trong ngành xây dựng có 3 hạng mục có sự tác động lớn, quyết định chất lượng công trình. Đó là bê tông, sắt thép và cốp pha (khuôn đúc bê tông).

Với các giải pháp công nghệ mới được áp dụng, kỹ thuật được cải tiến, hiện nay nhiều khó khăn, phức tạp trong thi công công trình đã dần được khắc phục. Tuy nhiên vẫn còn những vấn đề cần có giải pháp khắc phục. Một trong số đó chính là thép thi công.

Coupler nối các thanh thép tạo độ vững chắc cho công trình và là giải pháp tiết kiệm 7-10% chi phí. Ảnh: Đào Tuấn

Những toan lo về mức độ an toàn trong quá trình lao động, thời gian thi công, chi phí công trình khiến các nhà đầu tư, chủ công trình khó kiểm soát được. Đặc biệt, đối với sắt thép, một trong những vật liệu cốt lõi, quyết định đến độ bền, tuổi thọ của công trình lại thường được thực hiện theo cách thủ công. Đó là các sàng, trụ, dầm, cấu kiện thép… được đo tại chỗ và chằng buộc khá đơn giản.

Và người ta cũng cần nhiều công nhân để thực hiện khâu này trong nhiều ngày. Điều này vừa khiến công trình chậm tiến độ vừa mất chi phí lớn trong khi độ an toàn và chất lượng không cao. “Một mặt sàn với diện tích khoảng 1.500m2, để thực hiện thi công phần thép sẽ cần khoảng 50 công nhân và làm trong 4-5 ngày. Thực tế này sẽ khiến các nhà đầu tư, chủ công trình và nhà thầu phải tính toán” – ông Lê Quang Trung – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần thép TSC có trụ sở tại số 34, Trần Quang Diệu, thành phố Vinh cho biết.

Kinh nghiệm hơn 12 năm cung ứng thép xây dựng cho các công trình trên nhiều tỉnh, thành khiến ông Lê Quang Trung không ngừng suy nghĩ. Ông Trung cho hay, thay cho các phương pháp cũ, hiện nay một số giải pháp công nghệ trong ngành xây dựng đã được áp dụng và mang lại hiệu quả, như: sử dụng khuôn nhôm thay cho cốp pha ván gỗ, hình thành các nhà máy trộn bê tông tươi đáp ứng nhu cầu khách hàng. Với riêng thép là vẫn chưa thay đổi, phần lớn các công trình vẫn đang làm theo cách “cổ điển”. Để khắc phục thực tế này cần có người tiên phong. Từ những day dứt của một người làm trong ngành thép thương mại, ông Lê Quang Trung ấp ủ dự định sẽ tìm cách khắc phục những hạn chế của việc thi công thép truyền thống.  Và dịp may hiếm có đã đến với ông. Năm 2015, trong một lần tiếp xúc, làm việc với khách hàng, ông Trung đã được gặp ông Akisawa – Giám đốc Công ty Kyoei Sangyo – Nhà thầu thép lớn nhất Nhật Bản. Thông qua ông Akisawa, Công ty Kyoei Sangyo đã chuyển giao công nghệ, hỗ trợ máy móc và hướng dẫn kỹ thuật cho Công ty cổ phần thép TSC. Ngoài sự hỗ trợ kỹ thuật thép cho nhà cao tầng của Kyoei Sangyo, TSC còn học hỏi công nghệ thi công thép cầu đường của Tập đoàn Harris Rebar của Mỹ.

Gia công cấu kiện thép tại nhà máy. Ảnh: Đức Anh

Ý tưởng ban đầu về việc áp dụng phương pháp tối ưu cho thi công thép xây dựng đã trở thành giải pháp công nghệ mà Công ty cổ phần thép TSC đã thực hiện từ giữa năm 2017 đến nay.

Kể từ năm 2017, Công ty cổ phần thép TSC bắt đầu đi vào gia công, sản xuất cấu kiện thép theo giải pháp công nghệ mới của Nhật Bản. Thay cho việc cung cấp thép cây 11.7, TSC đã cung cấp theo bản vẽ thi công. Các đơn hàng được gia công, sản xuất tại nhà máy trước khi chuyển đến công trình. Điểm đáng chú ý của giải pháp này chính là sử dụng Coupler nối thép thay cho cách buộc truyền thống.  Theo phương pháp nối thép Coupler: 2 thanh thép được nối đồng tâm nên hoạt động như một thanh cốt thép có độ dài liên tục. Điều này không xảy ra gián đoạn khi truyền tải lực. Bên cạnh đó, cường độ múi nối không phụ thuộc vào cường độ bê tông hoặc độ kết dính giữa bê tông và cốt thép. Múi nối có chu trình chịu lực tốt ngay cả khi lớp bê tông bảo vệ bị phá hủy dưới tác động của tải trọng chu kỳ.

Trong khi đó, phương pháp truyền thống lâu nay là thép được nối lệch tâm. Theo đó, khi cần nối thêm độ dài của cây thép để đáp ứng theo thiết kế công trình, 2 đoạn sẽ được cố định, gắn kết với nhau bằng cách chằng buộc. Một công thức được đưa ra cho phương pháp này là: 30-40cm x D. (Trong đó D là đường kính thép). Giả sử với thép phi 30 thì độ dài của đoạn nối sẽ là 40×30=120cm. Phương pháp lệch tâm này khiến cho sự truyền tải lực không được thực hiện trực tiếp mà sẽ gián tiếp thông qua bê tông. Vì vậy, cường độ chịu lực của múi nối phụ thuộc vào cường độ bê tông và độ kết dính giữa bê tông và cốt thép. Thêm nữa, với phương pháp truyền thống, sẽ vừa lãng phí thép vừa mất thời gian trong thi công.  Việc áp dụng mô hình gia công thép theo công nghệ Nhật Bản đã đưa Công ty cổ phần thép TSC lên đơn vị đầu tiên không chỉ của Việt Nam mà cả Đông Nam Á áp dụng giải pháp kỹ thuật này. Thực tế còn cho thấy, phương pháp gia công, sản xuất thép theo phương pháp mới còn giúp công trình tiết kiệm 7-10%. Bên cạnh đó, việc thi công lắp đặt theo phương pháp công nghiệp, trụ, dầm, sàn, vách (đối với nhà cao tầng); Khoan cọc nhồi, bệ, thân, xà mũ đối với công trình cầu được sản xuất trong nhà máy, đến công trường chỉ ghép nối với nhau nên đẩy nhanh tiến độ gấp 5 lần thông thường. Và quan trọng hơn, độ chính xác, độ bền, chất lượng của công trình luôn đáp ứng yêu cầu tối ưu.  Cũng theo ông Lê Quang Trung, mỗi line dây chuyền gia công thép công suất 100 tấn/ngày của hãng TOYO Nhật Bản phải đầu tư 15 tỷ đồng. Đến nay phòng công ty đã nội địa hóa được với tỷ lệ 30%, và trong tương lai gần con số này sẽ là 80%.

Cán bộ kỹ thuật hướng dẫn uốn thép theo thiết kế. Ảnh: Đào Tuấn.

Ngoài việc thầu và thi công thép, TSC còn cố vấn kết cấu cho nhà cao tầng, cầu đường sử dụng bê tông cốt thép mác cao, tiết kiệm cho chủ đầu tư hàng chục tỷ đồng.

TSC cũng đi đầu trong việc nghiên cứu, sản xuất dây chuyền công nghệ mới. Mới đây, để thi công thép công nghệ cao công ty đã sử dụng móc cẩu đặc biệt. Móc cẩu này nếu mua từ Nhật phải chi phí hàng chục ngàn đô la, tuy nhiên sau khi nghiên cứu, công ty đã sản xuất thành công với chi phí chỉ 10 triệu đồng, nhờ vậy tiết kiệm hàng trăm triệu đồng. “Bằng phương pháp này chúng tôi đã thi công, lắp đặt thành công nhiều công trình tại Khu công nghiệp VSIP Nghệ An, các công trình cầu ở bản Sắn, bản Chiềng, bản Quang (huyện Quỳ Châu – Nghệ An) cũng được thi công theo phương pháp này” – bà Nguyễn Thu Hà, Phó Giám đốc Công ty cổ phần thép TSC cho biết. Trong chiến lược phát triển, sau thành công ở TP. Vinh, Công ty cổ phẩn thép TSC đã mở rộng quy mô sản xuất, các nhà máy đã có mặt tại nhiều địa phương trong cả nước, như: Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh. Và cuối tháng 3/2018 công ty sẽ chính thức khai trương nhà máy tại Khu công nghiệp Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Bước đầu nhà máy này sẽ sản xuất với công suất 100 tấn thép/ngày, tiếp sau đó, với 10 dây chuyền sẽ đạt công suất 1.000 tấn/ngày. “Theo kế hoạch, đến năm 2020 chúng tôi sẽ có mặt tại tất cả các tỉnh, thành trong cả nước với công suất bình quân đạt 50 tấn thép/ngày” – ông Lê Quang Trung, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần thép TSC chia sẻ.

Ông Trung cũng khẳng định, tầm nhìn của Công ty cổ phần thép TSC sẽ là nhà thầu thép hàng đầu châu Á với sứ mệnh tiết kiệm và tự động hóa ngành xây dựng.

Quốc Sơn – Đức Anh

Giải Pháp Chống Thấm Hiệu Quả Cho Công Trình Xây Dựng

Vậy làm sao để tìm ra giả pháp chống thấm hiệu quả cho công trình xây dựng.

Thị trường vật liệu chống thấm hiện có hàng chục sản phẩm ngoại nhập như: Shellkote, Sika, Index, Stonhard, Radcon 07, Terraco… Sản phẩm chống thấm trong nước có Rồng Đen, Kova, Intoc, Sankote, Fosta, Menkote, Latex, Wapro, Hysuka, chưa kể đến hàng chục thương hiệu sơn nước có sản phẩm sơn chống thấm như: Flintkote Colourlex, Nippon, ICI, Seamaster… Giữa rừng sản phẩm chống thấm như vậy, người tiêu dùng nên chọn lựa như thế nào để có được sản phẩm phù hợp?

Cho dù chống thấm bằng sản phẩm nào đi nữa cũng phải tuân thủ đúng quy trình, đúng kỹ thuật của nhà sản xuất.

Phải thực hiện 3 công đoạn chính là tìm đúng nguyên nhân gây thấm, sử dụng các loại sản phẩm chống thấm thích hợp cho từng dạng (thấm do nứt, thấm do thẩm thấu; công trình là nhà đang xây dựng hay nhà cũ…) và thi công đúng phương pháp.

Khi sử dụng phụ gia chống thấm trộn vào vữa hoặc bê tông phải bảo đảm tỉ lệ thích hợp mới đạt hiệu quả cao. Phải có máy trộn chuyên dùng để trộn thật đều bê tông, vữa và phụ gia chống thấm.

Xác định đúng nguyên nhân thấm

Trong một công trình, hầu như chỗ nào cũng có thể bị thấm vì tác động của môi trường. Một chút nước đọng trên mái, mối nối của đinh vít lợp mái tôn, khe nứt giữa khuôn cửa và tường, thấm vách tầng hầm, thấm ngang bên hông do giữa hai nhà có khe hở, thấm do lỗ giàn giáo xây xong rút đi…

Các dịch vụ chống thấm hiện nay sẵn sàng giúp gia chủ khắc phục mọi sự cố bằng cách đến tận nhà khảo sát, tìm hiểu nguyên nhân thấm để rồi trình bày giải pháp thực hiện. Thông thường, các dịch vụ hay áp dụng 2 cách chống thấm là chống thấm ngược và chống thấm nguyên nhân. Chống thấm ngược (thường áp dụng khi không thể chống thấm nguyên nhân) bằng cách dùng một số chất phụ gia để xử lý ngay chỗ bị thấm, tuy nhiên độ bền thường không cao.

Muốn chống thấm nguyên nhân, ban đầu cần xác định rõ thấm do đâu, sau đó sẽ dỡ bỏ phần công trình cũ, xây tô mới và chống thấm ngay từ đầu, kế tiếp mới làm các công đoạn như chống thấm ngược.

Tham khảo báo giá chống thấm

Chọn đúng sản phẩm thích hợp

Sản phẩm chống thấm có thể tạm chia thành 3 dạng là sản phẩm chống thấm bề mặt, dạng trộn vào bê tông hoặc vữa và dạng thẩm thấu. Các dạng trên lại được chia thành 2 nhóm gồm: sản phẩm chống thấm có gốc hữu cơ và vô cơ.

Chất chống thấm hữu cơ giống như lớp áo phủ lên bề mặt, sau một thời gian sử dụng do thời tiết nắng, mưa sẽ làm cho lớp áo này dễ bị biến chất, lão hóa, giòn dẫn đến hư hỏng.

Vì vậy, theo định kỳ phải xử lý lại nhiều lần. Loại này chỉ bền vững khi chất chống thấm nằm sâu trong các mao quản của cấu trúc xây dựng. Các hãng sản xuất thường có sản phẩm riêng ứng dụng cho từng hạng mục, không thể sử dụng lẫn lộn. Cho nên khi chọn mua cần phải nói rõ mục đích sử dụng. Sau khi thi công cần có thêm lớp phủ bên ngoài.

Ưu điểm của loại sản phẩm này là rẻ tiền, dễ thi công. Hiệu quả kháng nước cao, nếu kết hợp với lớp lưới thủy tinh sẽ chống được hiện tượng rạn nứt khá hiệu quả.

Các chất chống thấm gốc vô cơ có khả năng thẩm thấu vào bên trong vật liệu bị thấm.

Chẳng hạn, Radcon 7 khi sử dụng chỉ cần tưới trực tiếp vào bề mặt cần chống thấm, dung dịch này sẽ ngấm sâu vào các mao mạch rỗng bên trong kết cấu làm bít các khe hở. Tuy nhiên, giá bán khá cao, từ 20 – 30 USD/lít.

Sản phẩm trong nước sản xuất như Intoc, Fosta là dạng chống thấm tinh thể lỏng bằng men sinh hóa có khả năng tự ngấm vào kết cấu vữa, bê tông, gạch mà không cần đục đẽo. Giá bán từ 20.000 – 30.000 đồng/lít phủ được 4 – 5 m2.

Phụ gia chống thấm Hysuca thuộc dạng hợp chất vô cơ cũng vậy, khi pha vào xi măng, chất portland sẽ làm xi măng giãn nở có khả năng chống thẩm thấu nước…

Nhược điểm cũng tương tự như phụ gia trộn trong bê tông là phụ thuộc vào chất liệu bê tông tốt hay xấu. Nếu bê tông, tường bị bể nứt thì khả năng chống thấm bằng vật liệu này ít có tác dụng.

Một số giải pháp chống thấm cụ thể

Theo giới chuyên môn trong ngành xây dựng, với mái nhà đúc bằng, nếu bị thấm có thể đổ thêm một lớp vữa dày có trộn phụ gia chống thấm tráng lên mái bằng với độ nghiêng tối thiểu 2% để nước thoát nhanh. Sau đó đổ thêm một lớp chống thấm lên trên và lát thêm lớp gạch xuôi để chống nhiệt.

Trường hợp thấm do phần tiếp giáp tường hai nhà sát vách nhau bị nứt, hở có thể đổ bê tông có trộn chất chống thấm chụp lên đường rãnh giữa hai vách tường. Hoặc đục tường phía vách cao để “đâm” tôn làm mái che phủ kín khe hở. Trường hợp vách riêng biệt có thể tô lại phần bị nứt. Trước và sau khi tô cần phủ thêm lớp chống thấm, kế đến có thể quét vôi hoặc sơn nước chống thấm trang trí bên ngoài. Nếu là tường cũ bị thấm cần đục bỏ lớp vữa thấm rồi mới tiến hành chống thấm.

Nếu chân tường bị thấm ngược (thấm lan dần lên cao) nên tìm nguyên nhân gây thấm, đục bỏ phần tường bị thấm, nơi xuất phát thấm, xử lý trát lại bằng vữa mới có trộn chất chống thấm.

Nhà vệ sinh bị thấm cần xử lý tương tự như chống thấm mái bằng. Ngoài ra còn phải xử lý thêm phần vách chung quanh, tạo độ dốc thoát nước thích hợp. Sàn bê tông nên phủ lớp chống thấm thật kỹ. Vữa lót gạch cũng phải trộn chất chống thấm.

CÔNG TY TNHH VẬT LIỆU XÂY DỰNG ĐẠI PHÚ VINH

Quý khách có nhu cầu về sản phẩm phào chỉ nhựa, phào chỉ thạch cao, phào chi pu, phào chỉ ps, có yêu cầu về báo giá, thi công hoặc tư vấn sản phẩm. Vui lòng liên hệ Đại Phú Vinh – Chuyên phào chỉ thạch cao, phào chỉ nhựa, phào chỉ PU Đ/C : 166 Phạm Văn Bạch, P. 15, Q. Tân Bình, TPHCM ĐT : 0866863355 DĐ : 093.77.35.356 – 0919.15.75.75 – 0922.15.75.75 Email : daiphuvinh68@gmail.com – lienhe@daiphuvinh.com.vn MST : 0314346707 STK : 060147851424 tại Ngân hàng Sacombank PGD KCN Tân Bình – TPHCM Wesite : www.daiphuvinh.vn

Biện Pháp Thi Công Xây Dựng Nhà Ở Dân Dụng

Biện pháp thi công xây dựng nhà ở dân dụng

– Nhận mặt bằng công trình,cột mốc công trình (có bản vẽ và dự toán đính kèm theo công trình),có và cao độ công trình.– Dọn dẹp mặt bằng (cỏ,cây và các vật dụng…) đóng lán trại để bỏ vật tư và công nhân nghỉ lại công trình,trường hợp nhà dân dụng hai bên là vách nhà thì sơn trục tim cột vào hai vách nhà mượn để làm chuẩn,trường hợp công trình rộng lớn hơn thì đóng gabarie để làm tim chuẩn cho bước cột.– Lấy góc chuẩn cho nhà chuẩn bị xây.

– Lấy một cạnh làm chuẩn sau đó giăng dây nhợ theo phương dọc trục của nhà,tại hai điểm này đóng gabarie sẵn,tiếp theo giăng dây nhợ theo trục ngang nhà và bắt đầu lấy góc vuông nhà bằng cách: một trục ta lấy chiều dài của thước đo là 1,9m; 3,1m và trục kia lấy chiều dài là 2,5m; 4,1m và gióng chéo hai điểm đó lại ta được kích thước sau:3m ;5m (thông thường lấy góc ta phải bỏ bớt 10cm đầu của thước vì 10cm đầu của thước không chính xác nhiều).

Tiếp theo là lấy trục ngang,dọc của công trình theo hai phương đã lấy góc từ đó ta đóng gabarie vào các vị trí để sau này hoàn thiện ta cũng cần dùng tới nó.

Công tác cốt pha,cốt thép: Hệ thống cốt pha gỗ kết hợp với cốt pha thép định hình.Máy cắt,uốn cốt thép,máy hàn điện,máy cưa .

II- THI CÔNG.

+ Móng bê tông cốt thép được gia công thép đổ ngay tại công trường.

+ Móng được chế tạo gồm các loại móng băng, móng bè và móng đơn.Ván khuôn đỗ bê tông dùng ván khuôn gỗ đã gia công và lắp dựng

+ Vị trí các móng được xác định và trình bày trong bản vẽ và được đánh dấu trên mặt bằng công trình.

+ Để tránh lưu lượng nước ngầm,trời mưa làm cản trở quá trình thi công ta bố trí mương nhỏ,hố thu nước,máy bơm quanh chu vi hố móng để hút nước và làm sạch hố móng.

+ Cho máy đào,xe vận chuyển đất,công nhân đã chuẩn bị rồi tiến hành đào đất đến cao độ thiết kế (lưu ý nếu thi công nhà liền kề cần phải có cọc cừ gia cố hai bên móng liền kề để đảm bảo không gây lún sụt móng nhà kế bên,thông thường dùng ván thép định hình đóng vào nền trước khi đào đất,sau đó tiến hành thi công đào đất).

+ Sau khi đào đất xong sẽ tiến hành đầm nén đáy móng và đỗ bê tông lót đáy móng.

+ Cấu tạo móng gồm 2 phần đài móng và đà móng.

Theo cấu tạo trên phân khối móng thành 2 đợt thi công:

+ Đổ bê tông lót móng đá 4×6,mac 100,dày 10cm,rộng hơn đế móng theo mỗi phương là 10cm.

+ Đổ bằng thủ công,dùng đầm bàn kỹ,xác định tim móng.

+ Thép dùng làm vĩ móng là thép d12 a15 buộc thành lưới.

+ Mối nối giữa thép cổ móng và thép vĩ móng phải đảm bảo đủ 30d.Buộc các viên kê vào cốt thép theo yêu cầu lớp bảo vệ.

+ Cân chỉnh cốt thép theo tim móng và cố định.

+ Làm thép đài móng,đà móng.

+ Lắp và hiệu chỉnh cốt thép đài móng và đà móng.

+ Lắp ván thành móng, đài móng và đà móng.

+ Đổ bê tông đài móng, đà móng.

+ Đổ bê tông móng mac #250.

+ Làm vệ sinh cốt thép,cốt pha,và bê tông lót đáy móng.

+ Bê tông được trộn bằng máy trộn có dung tích 250L.

+ Tiến hành đổ bê tông bằng thủ công đến đáy đà kiềng. Dùng đầm dùi đầm kỹ bê tông.

+ Bảo dưỡng bê tông móng sau khi đổ.

Dầm giằng móng bê tông cốt thép mac 200,kích thước theo bản vẽ.

+ Gia công lắp dựng cốt thép,cốt dọc và cốt đai được gia công theo thiết kế,rồi lắp cốt thép vào vị trí.

+Buộc các viên kê 30mm để đảm bảo chiều dày lớp bê tông bảo vệ cốt thép.

+ Gia công lắp dựng ván khuôn gỗ,ván khuôn đươc gia công đóng thành hộp tập kết lại,rồi lắp đặt theo đúng thiết kế và cố định nó lại.

+ Đổ bê tông mac 200.

+ Làm vệ sinh ván khuôn và cốt thép.

+ Tiến hành nghiêm thu ván khuôn và cốt thép dầm giằng móng.

+ Tiến hành trộn và đổ bê tông.Đầm kỷ bằng đầm dùi.

+ Sau khi đổ bê tông được một ngày tiến hành tháo ván khuôn dầm giằng móng (tháo ván khuôn theo đúng yêu cầu kỹ thuât tránh làm sứt mé cấu kiện).

Đất được vân chuyển từ điểm đổ đến vị trí gần mặt bằng móng. Làm sàn công tác đi qua hệ giằng móng. Dùng xe rùa vận chuyển lấp hố móng từ ngoài vào trong. Tưới nước đầm kỹ.

+ Công tác cốt pha là một trong những khâu quan trọng quyết định đến chất lượng bê tông, hình dạng và kích thước của kết cấu.Cốt pha sử dụng cho công tác phần thân là cốt pha thép và cốt pha gỗ cốt pha được phân loại và tập kết riêng tại các bãi trên công trường.Trước khi đưa vào sử dụng cốt pha phải được vệ sinh sạch và phủ lớp chất chống dính.

+ Cốt pha được gia công,lắp dựng tại công trường.

+ Cốt pha được dùng là cốt pha gỗ hoặc cốt pha thép.

+ Sử dụng cây chống tròn,đường kính 8-10cm, thanh gỗ 5-10cm làm giằng ngang và dọc.

+ Cốt pha dầm, sàn bằng gỗ,cây chống gỗ tròn.

Công tác cốt pha được thực hiên như sau:

+ Công tác lắp dựng cốt pha được bố trí như sau:

Cán bô kỹ thuâ t trực tiếp chỉ đạo tổ trưởng, thợ chuyên môn thực hiê n công tác cốt pha,đảm bảo chính xác theo yêu cầu kỹ thuâ t. Tiến hành lắp dựng cốt pha theo bản vẽ chi tiết và hướng dẫn của cán bô kỹ thuâ t.

Cốt pha được lắp dựng phải vững chắc, neo chặt vào những điểm cố định, không để cho cốt pha bị biến dạng và xê dịch trong quá trình đổ bê tông.

+ Cốt thép được gia công là thép đai, thép mũ, lưới thép…

+ Chuẩn bị lắp ghép:

Bô phâ n gia công cốt thép sẽ thực hiê n đúng bản vẽ dưới sự hướng dẫn của cán bô kỹ thuâ t. Thép sau khi gia công sẽ được đánh số theo đúng chủng loại và phân bố tới nơi cần lắp dựng. Tiến hành vạch mực vị trí cần lắp thép, vê sinh thép và dọn dẹp mặt bằng tại vị trí lắp cốt thép.

Tiến hành lắp thép theo bản vẽ kết cấu dưới sự hướng dẫn của cán bô kỹ thuâ t. Cốt thép sau khi xây dựng phải đảm bảo đúng kích thước, đúng số liê u thiết kế, đúng vị trí khoảng cách của các thanh thép và điểm nối chiều dài các mối nối. Những vị trí mối nối của cô t với tường phải đặt thép chờ liên kết. Sau khi lắp dựng cốt thép xong phải vê sinh sạch sẽ, và tránh những tác đô ng mạnh vào cấu trúc thép.

Đối với cốt thép cô t, do kích thước, tiết diê n của công trình lớn nên cốt thép cô t không được gia công thành khung thép sẵn, mà được nối từng thanh vào thép chờ cô t, sau đó lắp cốt đai va tạo thành khung vào vị trí cô t cần đặt.

Đối thép dầm, đươc ghép thành từng thanh theo yêu cầu kết cấu theo nguyên tắc cốt thép phía trên của dầm phụ nằm trên cốt thép của dầm chính, và cốt thép trên của dầm chính nằm trên cốt thép sàn. Lắp dựng cốt thép dầm trên ván khuôn dầm khi lắp xong mới hạ xuống.

Cốt thép, cốt pha phải được nghiêm thu trước khi đổ bê tông, khi đổ bê tông vào cốt thép và cốt pha phải đảm bảo không sai lê ch vị trí thép hay gây nở cho cốt pha làm cho cấu kiê n bị biến dạng và sai lê ch so với thiết kế, kiểm tra kỹ lưỡng và bịt các khe hở giữa cốt pha với nhau tránh tình trạng bê tông chảy nước bằng giấy bao thấm nước, băng keo…Vê sinh sạch sẽ phần bên trong và bên ngoài cấu kiê n đổ bê tông.

Khi thi công đổ bê tông công tác đổ cô t dùng bê tông thương phẩm vâ n chuyển đến công trình, từ đây bê tông được nhân công xúc từng xô và đổ thủ công vào cô t, đầm nén kỹ để mặt bê tông không bị rô , không bị phân tầng.

Khi bê tông đã đủ cứng ta bắt đâu công tác bảo dưỡng, bảo dưỡng phải được tiến hành liên tục trong 12 giờ.

Để đảm bảo kết dình tốt cho khối xây vữa xi măng được sử dụng là hợp phần của xi măng , cát ,nước được trộn với nhau theo một tỷ lệ thích hợp, sẽ tạo ra hỗn hợp có cường độ cao chịu được nước và nơi ẩm ướt.

Do công trình là nhà ở lên gạch phải là chất lượng tốt, chịu được ảnh hưởng của thời tiết, gạch đặc và gạch ống :

Xi măng có thế dùng nơi sản xuất TCVN : hoàng thạch, polang hocim dùng nơi bảo quản tốt. ( Cát dùng là là loại các mịn, hạt đều, không lẫn các tạp chất, các không sạch ta tiến hành bỏ các tạp chất).

Nước sạch phải lấy từ các nguồn nước trong khu vực.

+ ) Chuẩn bị xây : coffa dầm, sàn, cột, và hệ thống chống đã được tháo ra và dọn dẹp, gọn gang đảm bảo không vướng trong quá trình xây. Đồng thời tạo ra chỗ chỗ vận chuyển vật liệu thuận lới đến chỗ gần gạch và máng hồ… Khi xây lên cao cần phải bố trí đà giáo.

Thợ chính và thợ phụ phải đầy đủ.

Dụng cụ xây bao gồm bay , thước, dây nhựa, bàn tà, nio.

Xác định tường xây là loại nào 100, 200 hay lớn hơn để xây hợp lí đúng kĩ thuật.

Xác định tim mốc, vị trí xây.

Thợ phụ vận chuyển vật liệu gach, máng hồ, giàn dáo lại thợ chính, sắp chúng thích hợp trên mặt bằng xây.

Nếu xây trên tầng cao thì vận chuyển bằng puli.

– xây từ dưới lên trên, tường chính xây trước, tường phụ xây sau, xung quanh xây trước, trong xây sau.

– Nếu gạch khô phải tưới nước để đảm bảo gạch không hút nước của vữa, tạo liên kết tốt khi xây.

– Bề mặt tiếp giáp với khối xây phải được trát một lớp hồ dầu, để tạo độ liên kết giữa gạch và bề mặt tiếp giáp đó, như dầm, cột.

– để đảm bảo cho tường phẳng, và thẳng, thì trong quá trình xây phải,giăng dây nhợ và thường xuyên thả rọi.

– mạch vữa dao động từ 8- 12mm, mạch vữa phải nằm ngang, phải dày hơn mạch vữa dọc , bảo đảm mạch no vữa. Điều chỉnh tăng vữa về phái vữa thấp nếu tường không ngang phẳng.

– có hai cách xây 3 dọc 1 ngang, hay 5 dọc 1 ngang.

– chú ý vị trí tiếp giáp dầm phải xây xiên, xây bằng gạch đinh, đồng thời các lỗ trống phải miết hồ kĩ nhằm tránh trường hợp nứt ở mép tiếp giáp của tường với dạ đà.

– ở vị trí tiếp giáp của tường, với mặt trên của đà, phải được xử lí một lớp hồ dầu 1cm, và xây khoảng 3 hàng gạch đinh để chống nứt.

– khi xây chú ý chừa những lỗ chống trên tường lắp dựng cửa, lam gió ,đường điện, ống nước…sau này.

– sau khi khối xây vừa xong phải hạn chế các lực va chạm để khối xây đạt cường độ từ từ.

Nếu xây tiếp lên tường cũ thì cần phải vệ sinh tưới nước, tường cũ trước khi xây tiếp.

Để đảm bảo chất lượng vật liệu như, ximang, cát, đá, gạch, khi đưa đến công trình được kiểm tra, nghiệm thu ngay,xem có yêu cầu đã đề ra hay chưa.( xi măng, gạch, đúng loại, đúng mác…) nếu chưa kịp thì phải thay đổi ngay.Và sau khi khốixây đã kiểm tra hoàn chỉnh và kiểm tra nghiệm thu lần nữa.Cho đến khi công trình hoàn tất.Công việc này do chỉ huy công trường đảm nhiệm.Hỗn hợp vữa phải được pha theo đúng tiêu chuẩn.Bằng cách lấy mẫu thí nghiệm ngay tại công trình, sau khi đã pha dẻo xong về độ dẻo, độ sụt, độ đồng đều của vữa xây.

– Các tổ đội là của công ty, có tổ chức, có tính dây chuyền. Mỗi tổ xây đứng là một nhóm trưởng, điều hành trong tổ xây.

– ngươi thợ phải tuyệt đối chấp hành khi xây, đảm bảo an toàn lao động, khi đứng trên dàn giáo.Làm việc trên cao.

– Tổ chức mặt bằng thi công phải tiện lợi, phù hợp 3 khu : Khu vực thao tác xây, khu vực chứa vật liệu và khu vực chuyển tiếp vật liệu.Ba khu vực này không tách rời với nhau được.Đặc biệt khi làm việc trên đà giáo thì giáo phải vững.Sàn công tác phải chắc chắn để chứa vật liệu và thao tác xây.

Thông thường để cho công việc xây thì 1 thợ chính, 1 thợ phụ.Nếu kết cấu phức tạp, khối lượng nhiều thí số người phải lớn hơn.Gạch vữa chuyển lên tầng băng puli.

( Để bảo vệ, tọa vẽ thẩm mỹ cho kết cấu tường, dầm..) ta phải tiến hành tô trát.

( có các loại trát, như trát tường, trát lớp lót, trát lớp vữa nền, trát lớp vữa mặt, trát góc, trát cạnh lồi,trát lớp mặt, trát cạnh góc lõm,

Trát dầm trần…

– dụng cụ : bay, bàn xoa, nivo, thước nhợ… vật liệu là vữa ximang max75 trộn thích hợp.

– công việc đã được thực hiện sau khi các kết cấu phần tô đã được hình thành.

– chất lượng trát phụ thuộc vào rất nhiều bề mặt trát,bề mặt cần trát phải đạt độ cứng ổn định, chắc chắn rồi mới tiến hành trát, đối với tường thì phải chờ đến tường khô mới trát.

– vệ sinh sạch sẽ độ bẫn trên bề mặt trát, nếu bề mặt gồ ghề, thì phải đục đẽo.đắp them cho mặt tương đối phẳng. Rồi mới tiến hành trát.

– Tạo nhám cho bề mặt cần trát, để vữa dính vào.

– nếu bề mặt trát khô quá thì phải có nước tưới vào.

– Trải bao ở phía dưới chân chổ trát nhằm tận dụng lại vữa rơi khi trát, tránh gây lãng phí.– Ngoài ra để tạo độ bám dính bề mặt tốt ta nên trát trước bề mặt kết cấu bằng một lớp hồ dầu.– Nếu trát bề mặt ngoài của tường thì phải đảm bảo giàn dáo và sàn công tác an toàn trước khi trát. – Thực hiện xong các công việc nêu trên ta gém hồ hay dùng đinh, gạch vỡ làm dấu lên mốc, phái trên

đầu và cuối bức tường trước, sau đó mới tiến hành các mốc phía trong. Làm các mốc phía trên rồi thả

quả dọi để làm mốc ở dưới và giữa tường. Khoảng cách các mốc về các phía phải nhỏ hơn thước tầm

để dễ kiểm tra độ phẳng lớp trát. Mặt sàn thao tác trên giàn dáo và mặt sàn dưới chân giàn dáo phải quét

dọn sạch sẽ trước khi tiến hành công việc.

– Tiến hành trát trần, dầm trước rồi tới tường, cột sau.

– Trát theo bề dày của mốc đánh dấu. Nên trát thử vài chổ để kiểm tra độ dính kết cấu.

– Chiều dày lớp trát từ 10 – 20mm, khi trát phải chia thành nhiều lớp mỏng từ 5-8mm. Nếu trát quá dày sẽ bị phồng, dột, nứt thông thường chiều dày của một lớp trát nên không mỏng hơn 5mm và không dày hơn 8mm. Khi ngừng trát phải tạo mạch ngừng hình gãy không để thẳng, cắt lớp vữa trát thẳng góc.– Thực hiện tuần tự 03 lớp trát lót, lớp đệm và lớp ngoài.

– Dùng vữa xi măng mác 75.

– Lớp vữa trát phải bám chắc vào bề mặt các kết cấu công trình; loại vữa và chiều dày lớp vữa trát phải đúng yêu cầu thiết kế; bề mặt lớp vữa phải nhẵn phẳng; các đường gờ cạnh chỉ phải ngang bằng hay thẳng đứng.

– Các lớp vữa trang trí thường có yêu cầu mỹ thuật cao.

– Phải kiểm tra độ bám dính của vữa bằng cách gõ nhẹ trên mặt lớp vữa trát, tất cả những chổ bộp đều

phải trát lại bằng cách phá rộng chổ đó ra, miết chặt mép vữa xung quanh, để cho se mặt mới trát sửa

lại. Mặt tường, bể sau khi trát không có khe nứt, gồ ghề, nẽ chân chim hoặc vữa chảy. Phải chú ý chổ

trát dưới bệ cửa sổ, gờ cửa, chân tường, chân lò, bếp, các chổ dễ bị bỏ sót khác. Các cạnh cột, gờ cửa,

tường phải thẳng, sắc cạnh, các góc vuông phải được kiểm tra bằng thước. Các gờ bệ cửa sổ phải thẳng

hàng với nhau. Mặt trên bệ cửa sổ phải có độ dốc theo thiết kế và lớp vữa trát ăn sau vào dưới khung cửa sổ ít nhất 10mm.– Tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc an toàn lao động khi làm việc trên giàn dáo hay trên cao.

– Những chổ tiếp giáp giữa gạch với gỗ cần phải làm nhám bề mặt gỗ rồi mới trát.

– Khi trát xong thì cần phải che đậy cẩn thận tránh tác động của thời tiết, và va chạm do vô tình tác động vào. Chú ý bảo dưỡng bề mặt trát, luôn giữ ẩm cho bề mặt trát trong 7 đến 10 ngày.

– Trong quá trình tô trát nếu phát hiện trong vữa có thành phần hạt lớn như đá, sỏi… cần phải loại bỏ ngay.

– Tận dụng lại vữa rơi bên dưới đã có vật lót để trát tiếp.

Thông thường các tổ đội xây cũng đảm nhận luôn cả phần trát. Nguyên tắc tổ chức nhìn chung không khác xây là mấy.

V. CÔNG TÁC LÁNG: + Lớp láng được thực hiện trên nền bê tông gạch vỡ, bê tông cốt thép. Cấu tạo chung gồm lớp vữa đệm và lớp láng mặt.

+ Lớp vữa láng có chiều dày từ 2-3cm, dùng vữa láng xi măng cát vàng mác 75 – 100.

+ Dụng cụ để láng cũng như trát gồm: bay, bàn xoa, thước, nivô, dây dọi…… vật liệu dùng để láng cũng như trát là hỗn hợp vữa xi măng và cát vàng phải đảm bảo.+ Trước khi láng kết cấu phải ổn định và phẳng, vệ sinh thật sạch kết cấu cần láng, thông thường nền nhà rộng ta phải chia ô đánh mốc từng khu vực để láng, cao độ mặt nền sàn phải được kiểm tra rồi căn cứ vào tường, các góc xung quanh thiết lập lên mạng lưới các mốc phù hợp với chiều dài thước khi láng.+ khi láng xong phải chú ý bảo quản bề mặt láng (che đậy cẩn thận) tránh đi lại tuỳ tiện muốn đi phải lót ván vào lớp mới láng xong.

+ Chú ý công tác dưỡng hộ cho lớp láng nhằm giúp làm tăng chất lượng bề mặt láng vì vậy từ 7 -10 ngày đầu sau khi láng cong phải tưới nước dưỡng hộ. VI. CÔNG TÁC ỐP, LÁT:

+ Vai trò của công tác ốp lát là nhằm tăng tính thẩm mỹ của công trình, có tác dụng bảo vệ công trình chống lại tác động của thời tiết bên ngoài. Oáp được tiến hành trước lát.

+ Chuẩn bị vật liệu dùng đế ốp lát là những vật liệu được chế tạo sẵn có máy sắc + Ốp: Dùng thước kẻ một đường nằm ngang ờ chân tường cách nền bằng chiều rộng của một viên gạch cần ốp. Xác định viên mốc ở hai bên, trát vữa váo hai viên mốc dính vào tường. Căn cứ vào hai viên mốc xác định đường thẳng đứng, căng dây theo hàng thẳng đứng trát vữa xi măng ốp gạch hàng thẳng đứng. Căng dây theo 2 hàng thẳng đứng hai bên ốp các hàng phía trong, và cứ thế ốp cho đến hết độ cao cần ốp. Cuối cùng là dùng hồ xi măng trắng chà lên các khe hở của gạch (chà joint).như gạch men Ceramic, gạch men,đá Granite…… gạch phải đúng chất lượng, đúng qui cách, không nứt nẻ giữ được đường nét hoa văn.+ Vữa lót dùng là xi măng nguyên chất trộn với nước, ta cũng có thể pha trộn 5% hồ vôi so với thể tích của xi măng để tăng độ dẽo của vữa ốp.+ Lát: Trong khu vực cần lát cần kiểm tra lại các góc vuông xung quanh xem có chính xác chưa. Xếp ướm hàng gạch xung quanh để xác định viên gạch góc. Rải vữa lót cố định gạch góc bằng cao độ gạch cần lót, lát hàng gạch ở phía cạnh tường. Căng dây theo hai hàng gạch cạnh tường lót các hàng bên trong. Cuối cùng dùng hồ xi măng trắng chà lên các khe hở của gạch (chà joint).+ Kiểm tra độ phẳng bằng thước dài khoảng 2m đặt áp và mặt ốp qui định là không quá 1mm trên 1m chiều dài về độ phẳng của bề mặt ốp lát, khe hở của thước và mặt ốp không quá 2mm.+ Chiều dày mạch ốp giữa hai viên gạch theo phương đứng và phương ngang là 3mm đối với tấm ốp có kích thước lớn hơn 200 x 200mm, 2mm với tấm ốp có kích thước nhỏ hơn 200 x 200; với gạch men sứ, gạch gốm, đá nhân tạo mạch vữa lấy theo tính chất của phòng và kích thước tấm ốp. Các mạch vữa ngang dọc phải sắc nét, đều đặn, no vữa.+ Phải chống rỉ cho các chi tiết kết cấu thép tiếp xúc với mặt ốp và các chi tiết thép giữ mặt ốp. Các chi tiết neo giữ (đinh, chốt, móc) phải mạ kẽm hoặc thép không rỉ.+ Chú ý cẩn thận khi ốp lát không làm bẩn tấm ốp, vệ sinh bằng giẻ lau. Tránh các lực va chạm mạnh vào tấm ốp gây vỡ. Hoa văn khi ốp lát phải khớp với nhau. Chà joint phải đúng màu sắc thiết kế.+ Trước khi ốp phải đặt xong hệ thống ống và đường dây điện ngầm, kết cấu ốp phải chắc, trước khi ốp phải tẩy sạch các vết dính dầu, mỡ trên bề mặt.+ Mặt tường trát và mặt bê tông trước khi ốp phải đánh xờm, mặt vữa cement trát chổ ốp không xoa nhẵn mà phải khía thành lưới quả trám. Khoảng cách giữa các vạch khía không được lớn hơn 5cm và không được lớn hơn chiều rộng của viên gạch ốp.+ Vữa đệm giữa kết cấu và gạch ốp phải dính kết tốt, không bị bong dộp, khi vỗ trên bề mặt ốp không có tiếp bộp. Tiến hành ốp lại những viên gạch bị bộp. + Dụng cụ gồm: bay, nivô, thước, dao cắt gạch, giẻ sạch, dây……+ Dạt bõ những chổ lồi lõm trên bề mặt cần ốp, cho thêm vữa vào những chổ lõm đảm bảo cho bề mặt ốp bằng phẳng.+ Kiểm tra lại cao độ nền nhà, độ phẳng của tường cần ốp lát, sửa lại bằng vữa xi măng.

b. Trình tự và các yêu cầu kỹ thuật khi ốp lát:

+ Công tác quét vôi và sơn được thực hiện sau khi trát xong nhằm làm tăng tính thẩm mỹ cho công trình chống lại tác hại của thời tiết.+ Đối với công tác quét vôi: Vôi sử dụng là vôi tôi chín sàng lọc kỹ và hoà nước. Yêu cầu khi pha nước vôi là không quá đặc rất khó quét hoặc quá loãng thì khi quét vọi sẽ bị chảy. Trước khi quét bề mặt quét vôi phải vệ sinh kỹ và quan trọng là phải bằng phẳng không được lồi lõm vì vậy công tác trát ta phải thực hiện tốt, tạo ra bề mặt đúng yêu cầu kỹ thuật thì công tác quét vôi sẽ dể dáng hơn. Ta tiến hành quét hai lớp: lớp lót (quét một đến hai nước) và lớp mặt. Lớp trước khô mới tiến hành quét lớp sau. Dung cụ quét là chổi, tiến hành quét ngang và quét từ trên xuống (quét tường), quét trần thì thì đưa chổi song song với cửa. Trình tự quét từ trên cao xuống thấp, quét trần trước, tường quét sau, quét các đường biên, đường góc làm cơ sở để quét các mảng trần tiếp theo. Phải đảm bảo mặt quét không bị loang lổ, không lộ ra vết chổi hay giọt vôi đọng lại trên bề mặt làm giảm tính thẩm mỹ công trình, tránh để người đi va chạm vào bề mặt mới quét làm giảm độ đồng đều của màu sắc lớp bên ngoài. Chú ý quét vôi ở mặt ngoài tường phải tuân thủ các biên pháp an toàn lao động khi làm việc ở trên cao. Khi quét nên che đậy các bộ phận khác phía dưới tránh bẩn.

Công nhân quét vôi phải có tay nghề cao.

+ Đối với công tác sơn nước: Bề mặt công trình được phủ lên một lớp sơn nước sẽ tạo ra một vẽ đẹp hoàn mĩ, sang trọng.

Trước khi sơn nước người ta thường đánh lên tường một lớp bả mastic nhằm tạo độ nhẵn mịn cho tường nhờ vậy lớp sơn nước cuối cùng sẽ đạt được yêu cầu kỹ thuật. Một số yêu cầu kỹ thuật của lớp sơn bả mastic: phẳng, nhẵn, bóng, không rỗ, không bong rộp bề dày lớp bả không quá 3mm, bề mặt mastic không sơn phũ phải đều màu.

+ Các lổi kỹ thuật thường xảy ra với lớp mastic nguyên nhân và cách khắc phục:+ Lớp mastic bị bụi phấn:

+ Nguyên nhân: Do bề mặt áp dụng bị quá khô, nước trong hỗn hợp nhão đã bị hút hết vào bề mặt, do đó quá trình ninh kết (chín) của hỗn hợp không xảy ra nên lớp mastic biến thành bụi phấn. Có thể khi pha trộn đã dùng lượng nước quá thấp cộng với việc trộn không đều cũng gây ra hiện tượng trên. Cũng có thể khi pha trộn xong đã thi công ngay, không chờ cho hoá chất phát huy tác dụng.

+ Khắc phục: Buộc phải cạo bỏ hết lớp mastic này, làm sạch bụi bám bằng nước và chổi cỏ, Chuẩn bị bề mặt thật kỹ, nếu bề mặt khô quá thì nên làm ẩm. Lượng nước pha trộn cần theo đúng tỉ lệ là nước 1, bột 3 (trong khoảng 16 -18 lít nước sạch cho một bao 40kg). Trộn cho thật kỹ và chờ ít nhất là từ 7 đến 10 phút cho hoá chất phát huy tác dụng sau đó quậy lại một lần nữa rồi mới bắt đầu thi công.+ Lớp mastic bị nứt chân chim:

+ Nguyên nhân: Do lớp mastic này đã được trát quá dày, vượt độ dày cho phép là 3mm.+ Khắc phục: Cạo bỏ hết những chổ nứt chân chim. Nếu bề mặt vùng đó màl õm sâu quá, thì nên dùng hồ xi măng tô thêm cho tương đối phẳng, rồi trát lớp mastic mới.+ Ngoài sơn nước cho công trình, sơn còn dùng để sơn cửa đi, cửa sổ, những cấu kiện cần trang trí màu……Trước khi quét phải làm vệ sinh sạch sẽ bề mặt cần sơn không để bụi bám vào lớp sơn còn ướt. Chọn sơn đúng loại công trình đề ra. Không nên quét sơn vào những ngày nóng quá (lớp sơn ngoài sẽ khô trước lớp sơn trong không đảm bảo chất lượng) hoặc lạnh quá (sơn lâu khô).+ Sơn được quét làm nhiều lớp. Trước quét lớp lót sau đó quét lớp mặt. Lưu ý là lớp trước khô mới quét lớp sau. Phải bảo quản tốt khi sơn còn chưa khô.+ Chọn hướng quét sao cho lớp cuối cùng phải theo đường thẳng đứng đối với tường, hướng ánh sáng từ cửa vào đối với trần, theo chiều thớ gỗ đối với mặt gỗ.+ Các lổi kỹ thuật thường xảy ra với sơn nước:+ Màn sơn bị rổ: Trên bề mặt màng sơn có những hạt hoặc rổ.+ Trường hợp có hạt: Do có những vẩy hoặc những mẩu sơn khô. Vì các nguyên nhân sau: Sơn bị khô trên thành vật chứa sơn khi thi công hay do bụi bẩn bám vào. Sau khi thi công lần trước không rửa sạch dụng cụ thi công để các váy sơn sót lại. Vệ sinh bề mặt không kỹ, để lại trên bề mặt nhiều bụi (sau khi xả nhám lớp mastic).+ Trường hợp có lổ: do pha sơn quá loãng đã tạo ra nhiều bọt khí. Khi thi công thì bọt khí hiện diện trên màng sơn. Khi khô vỡ ra thành lỗ. Nếu là sơn dung môi – sơn dầu – thì do xử lý bề mặt cần sơn không được kỹ. + Màng sơn bị nhăn: Sau khi khô màng sơn bị nhăn nheo, sần sùi, không mượt, phẳng.+ Con lăn (roller) không thích hợp: Con lăn có lông quá dài sẽ tạo nên bề mặt có vân lớn sần sùi. Sơn quá dày hoặc sơn không đều, chổ dày, chổ mỏng làm cho sơn không khô cùng lúc. Bề mặt bên ngoài khô trước, lớp bên trong vẫn chưa kịp khô nên bề mặt ngoài bị nhăn. Sơn dưới trời nắng gắt, lớp ngoài bị khô quá nhanh, lớp bên trong chưa kịp khô nên bề mặt ngoài bị nhăn. Sơn xong gặp trời lạnh, nhiệt độ giảm đột ngột cũng làm cho lớp trong khô chậm và lớp ngoài khô nhanh.+ Màu sơn không đồng nhất: khi chỉ dùng một loại sơn màu nhưng không đều màu.+ Do không khuấy đếu thùng sơn trước khi lăn. Thợ thi công không đều tay. Dụng cụ thi công khác nhau. Dặm vá không khéo léo. Mỗi lần thi công sơn được pha loãng với một tỉ lệ khác nhau.

Đây là công việc có nhiều đặc thù riêng và yêu cầu về chất lượng, mỹ thuật cao, nên từ việc chế tạo, lắp dựng, bảo quản đều phải cẩn thận tỉ mỉ và chính xác để đảm bảo bền vững và an toàn.+Sự phấn hoá: Bề mặt màng sơn có bột trắng.+ Dùng loại sơn rẽ tiền, tỉ lệ chất độn/ chất tạo màng cao. Tia tử ngoại và thời tiết ảnh hưởng xấu đến màng sơn. Do pha sơn quá loãng làm giảm độ kết dính của sơn. Độ bề của cửa phải thoả các yêu cầu sau:+ Độ bền cơ học.+ Độ bền chịu áp lực gió.+ Độ bền chịu thấm nước.+ Độ lọt không khí.+ Biện pháp chống côn trùng, nấm mốc.+ Vật liệu cửa:Vật liệu gỗ, sắt, nhôm theo yêu cầu thiết kế. Riêng vật liệu gỗ độ ẩm của gỗ gia công cửa từ 13% đến 17% nhờ qua lò sấy.+ Chất kết dính: yêu cầu đảm bảo gắn chặt các mối liên kết của khung cánh, bền, chống ẩm, chỉ sử dụng chất kết dính khi gia công các chi tiết gỗ có độ ẩm <= 15%.Cửa được gia công đúng thiết kế về kiểu dáng, kích thước, mặt cắt và phụ tùng cửa.+ Liên kết các thanh cửa, khuôn cửa, khung cánh bằng mộng, chốt và chất kết dính tạo thành khung cứng, hạn chế vít, ke chìa ra ngoài làm mất thẩm mỹ.+ Liên kết khung cửa với tường bằng các đầu mút đố chính ở đỉnh, bật sắt hoặc vít nở.+ Nẹp cửa có độ dày không đổi suốt dọc thanh, màu sắc hoà hợp màu cửa, liên kết với cửa bằng đinh vít.Phụ tùng cửa: Số lượng, chủng loại, kích thước, phương pháp cố định từng loại phụ tùng theo đúng yêu cầu thiết kế, đúng mẩu mã đã được thống nhất trước.Khi lắp đặt cửa đặt đúng độ cao và kích thước thiết kế, thẳng đứng, vuông góc, không cong vênh. + Lắp đặt khuôn cửa khi thi công khối tường, bản lề, bật sắt liên kết với khối xây bằng vữa xi măng cát vàng.+ Bộ cửa sau khi lắp được cố định tạm cho khi lớp vữa gắn kết với tường đạt cường độ chịu lực.Đảm bảo bao bọc kín cửa đã lắp để chất bẩn không bám vào. + Màng sơn bị phồng rộp: Sau khi khô, hình thành túi (bóng) khí trong màng sơn.+ Do bề mặt sơn thường xuyên bị ẩm ướt. Do thi công trên bề mặt quá ẩm. Điều kiện thi công không đảm bảo: nhiệt độ thấp, thời tiết quá ẩm ướt. Thời gian sơn cách lớp quá ngắn. Đối với sơn dung môi: Do nhiệt độ quá cao dung môi bay hơi nhanh trên màng sơn chưa liên kết.+ Màng sơn bị bong tróc: Sau khi khô, màng sơn bị bong tróc, có hai hiện tượng: tróc toàn bộ lớp màng, tróc 1 hoặc hơn 1 lớp màng.+ Xử lý bề mặt không tốt, còn bụi bám hay các chất làm giảm độ bám dính như dầu, mỡ, sáp……Thi công không đúng hệ thống, không sử dụng sơn lót……Do màng sơn đã bị phồng rộp hoặc phấn hoá. Dùng lớp sơn hệ dung môi mạnh hơn hệ dung môi của lớp sơn trước. Thi công dưới điều kiện sự tạo màng bị cản trở như nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp hoặc có nhiều gió làm cho màng sơn bay hơi quá nhanh. + Màng sơn bị nứt nẻ: Sau khi khô, màng sơn xuất hiện những vết rạn, vết nứt.+ Sử dụng loại sơn rẽ tiền, chất lượng quá thấp. Pha quá loãng hoặc lăn sơn quá mỏng. Dùng hai lớp sơn có độ co dãn khác nhau. Sử dụng lớp mastic không đạt chất lượng, dể bị răn, nứt. Kết cấu vật cần sơn yếu. Ví dụ như móng bị lún, tường bị xé. + Màng sơn bị rêu mốc: Sau khi khô, trên màng sơn những đốm, vệt mốc đen.+ Do bề mặt cần sơn bị ẩm. Sơn lớp sơn lên bề mặt đã bị mốc sẵn mà không qua xử lý. Sơn lớp sơn quá mỏng hoặc chỉ sơn một lớp, không đủ chất lượng chống mốc cần thiết. Dùng sơn nội thất đem sơn ngoại thất.+ Màng sơn bị mất màu: Sau khi khô một thời gian, màng sơn bị nhạt màu hoặc mất hẳn màu.+ Màng sơn bị phân hủy dưới tác dụng của tia tử ngoại và nhiệt độ cao. Dùng sơn nội thất đem sơn ngoại thất. Bị cháy do kiềm hoá: do không dùng lớp sơn lót chống kiềm. Nhà sản xuất dùng màu không phù hợp mục đích sử dụng. + Màng sơn bị cháy kiềm ( kiềm hoá): Màng sơn bị mất màu, có những đốm loang.+ Do độ kiềm của hồ, vữa quá cao tấn công vào lớp màng sơn, làm suy yếu chất kết dính, dẫn đến mất màu và xuống cấp toàn bộ màng sơn. Do lớp vữa hồ quá tươi hoặc lớp mastic có độ kiềm cao. Không dùng lớp sơn lót chống kiềm. + Màng sơn bị muối hoá: bề mặt màng sơn có một lớp chất trắng như muối, thường gặp nhất là sơn màu đậm.+ Do thi công trên bề mặt tường mới và ẩm. Sự hình thành muối canxi CaCO3 do ẩm và mưa đọng lại trên bề mặt màng sơn.+ Màng sơn bị xà phòng hoá: Bề mặt màng sơn bị nhớt và biến màu, thường xảy ra ở sơn dung môi.+ Do hồ vữa mới có độ kiềm cao phản ứng với sơn. Do xà phòng hoặc kiềm đọng lại trên màng sơn một thời gian dài. + Màng sơn bị lệch màu: khi dặm vá bị lệch màu.+ Do sử dụng sơn khác màu để dặm vá. Lớp lót không đều hoặc không lót, nên khi dặm vá giống như sơn lớp thứ hai lê lớp thứ nhất. Sử dụng dụng cụ thi công khác nhau để dặm vá. Nhiệt độ khi dặm vá khác với khi sơn các lớp sơn trước. Người thi công có tay nghề kém. Nhà sản xuất kiểm soát màu không kĩ. + Màng sơn có độ phủ kém: Bề mặt màng sơn không che phủ hết lớp nền. + Pha sơn quá loãng. Sử dụng loại sơn rẽ tiền. Gia công không đúng qui trình. Tay nghề thi công thấp, lăn không đều. + Màng sơn bị chảy: Bề mặt màng sơn không bằng phẳng. Do vệ sinh bề mặt cần sơn không kỹ, còn sót lại nhiều bụi của lớp mastic. Pha sơn quá loãng, tay nghề thi công kém.

VIII. CÔNG TÁC GIA CÔNG, LẮP ĐẶT CỬA:

Đặt ống thoát nước mưa cho mái nhà theo thiết kế VIIII. CÔNG TÁC CHỐNG THẤM, CHỐNG NÓNG MÁI, SÊNÔ: Quanh chân ống thoát phần tiếp giáp với nền sàn phải được chèn kỹ

Bạn đang xem bài viết Sách Mới: Giải Pháp Cấu Tạo Kháng Chấn Cho Công Trình Xây Dựng Dân Dụng trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!