Xem Nhiều 12/2022 #️ Sản Xuất Táo Vietgap: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 # Top 18 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Sản Xuất Táo Vietgap: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 # Top 18 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sản Xuất Táo Vietgap: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

HTX Cam Thành Nam đang đẩy mạnh liên kết với doanh nghiệp để xây dựng thương hiệu cho quả táo. Đây cũng là bước đệm vững chắc giúp đầu ra cho sản phẩm đặc trưng của địa phương vươn xa.

Trồng táo theo quy trình VietGAP

Người trồng táo nơi đây vẫn có lãi nếu táo được bán ra ở mức 8.000-10.000 đồng/kg, nông dân trồng khoảng 10.000m2 táo có thể lãi trên dưới 120 triệu đồng/vụ. Tuy nhiên, do giá táo khá bấp bênh, có năm chỉ còn 3.000-4.000 đồng/kg nên nhiều gia đình bị thua lỗ, không thể duy trì diện tích. Đó là còn chưa kể đến việc táo bị sâu bệnh, hoặc chết do thiếu nước.

Trước thực tế này, HTX ra đời và định hướng người dân tập trung sản xuất theo quy trình an toàn VietGAP.

Các thành viên đều đầu tư hệ thống tưới nước tiết kiệm và lưới để che côn trùng. Tất cả các khâu từ giống táo, quy trình tưới, bón phân, phun thuốc trừ sâu đều phải tuân thủ quy trình nghiêm ngặt.

Theo các thành viên, đầu tư hệ thống tưới tiết kiệm giúp người trồng táo không tốn công sức mà nước lại thấm, lâu khô khiến vườn táo lúc nào cũng có nước. Chỉ cần tưới nước khoảng 3 giờ liên tục thì vườn táo ướt 3-4 ngày, rất thích hợp với vùng khô hạn như Cam Thành Nam.

Ngoài việc dùng lưới, các thành viên còn dùng các loại bẫy thủ công và bẫy có bả sinh học để bắt côn trùng, nhờ đó tình trạng ruồi vàng đục quả được giải quyết.

Áp dụng quy trình VietGAP chính là cách quản lý và sản xuất nông sản đảm bảo an toàn ở tất cả các khâu từ chuẩn bị làm đất đến bảo quản sau thu hoạch. Để đạt được chứng nhận, HTX phải bảo đảm được 4 tiêu chuẩn cơ bản là: kỹ thuật sản xuất, an toàn thực phẩm, môi trường và truy nguyên nguồn gốc.

Do vậy, sản phẩm đưa ra thị trường không chỉ an toàn về chất lượng mà còn có khả năng truy nguyên nguồn gốc thông qua mã điện tử.

Hiện, sản lượng táo của HTX tăng 10-20% (đạt 60-70 tấn/ha) so với phương pháp trồng cũ. Quả táo cũng đạt tiêu chuẩn về mẫu mã: quả to đều, ngọt, không bị sâu, nám…

Nếu như trước đây, táo chủ yếu bán cho thương lái thì nay đã được các siêu thị, cửa hàng nông sản sạch, các đơn vị sự nghiệp đến đăng ký thu mua. Táo được sơ chế, đóng hộp, dán tem nhãn và có mã QR trước khi xuất ra thị trường.

Nâng chất lượng môi trường

Trước đây, tình trạng ruồi vàng đục quả trở thành vấn nạn và người dân không biết cách nào để giải quyết. Các hộ dân chỉ mua thuốc diệt ruồi về phun, thậm chí phun thuốc cũng không thể tiêu diệt triệt để nên vừa ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, vừa làm hại đến môi trường sản xuất.

Tuy nhiên, khi áp dụng tiêu chuẩn VietGAP, thay vì dùng tiền mua thuốc bảo vệ thực vật, các thành viên quyết định mua lưới bao giàn táo vừa tránh được ruồi vàng và các loại côn trùng xâm nhập, vừa giúp đảm bảo sức khỏe, bảo vệ môi trường vì không còn phải xịt thuốc, đáp ứng được các tiêu chuẩn sản xuất sạch nên giá táo bán vì thế cũng cao hơn.

Ông Hồ Văn Niệm, thành viên HTX, cho biết việc sử dụng lưới che chắn côn trùng bao quanh vườn táo đem lại rất nhiều ưu điểm như: Lưới giúp che chắn không cho côn trùng, đặc biệt là ruồi vàng đục quả xâm nhập, hạn chế dùng thuốc bảo vệ thực vật nên sản phẩm sản xuất an toàn.

Ngoài ra, màn lưới giúp cản tia mặt trời chiếu vào táo, bảo vệ trái bớt bị rám vỏ và sậm màu. Lưới còn có tác dụng che bớt sương muối, gió bấc làm thui lá, gẫy cành, mưa gió gây rụng quả. Từ khi đi vào hoạt động HTX đã tăng cường tập huấn, hướng dẫn các hộ sử dụng thuốc sinh học phòng, trừ sâu bệnh cho cây; tăng cường bón phân hữu cơ thay phân bón vô cơ, bảo đảm sản phẩm an toàn, bảo vệ môi trường, chống độc cho đất.

Tuy sản xuất tại vùng có khí hậu khô nóng nhưng đây cũng là điều kiện thuận lợi để HTX Cam Thành Nam ứng dụng và kết hợp các công nghệ mới, tiên tiến để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng nông sản, đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững và đặc biệt đây là một trong các giải pháp bảo vệ môi trường trong nông nghiệp hiệu quả nhất hiện nay.

Như Yến

Phương thức sản xuất thân thiện môi trường, ứng dụng hiệu quả khoa học – kỹ thuật đang giúp HTX cam bù Trường Mai (xã Sơn Trường, huyện Hương Sơn, …

Thay vì bán sản phẩm thô, HTX Hương Ngàn (xã Nguyên Phúc, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) chú trọng chiết xuất tinh dầu từ các loại cây dược liệu, …

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023

Việt Nam là nước có khí hậu nóng và ẩm nên rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, đây cũng chính là điều kiện nảy sinh và phát triển sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng… Do vậy việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học (PBHH) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh, bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lương thực quốc gia là biện pháp quan trọng và chủ yếu. Thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu bất hợp lý trong trồng trọt cùng với việc không kiểm soát tình hình xả thải trong chăn nuôi hiện nay đang khiến môi trường ở khu vực nông thôn xuống cấp nhanh chóng và nghiêm trọng.

Thực trạng chung của môi trường nông nghiệp.

Đề cập đến vấn đề này, ông Đinh Vũ Thanh – Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học công nghệ và Môi trường, đã đưa ra nhận định trong “Hội nghị tổng kết công tác Bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn giai đoạn 2011 – 2015 và định hướng giai đoạn 2016 – 2020” tại Hà Nội trong tháng 10/2015 vừa qua:

– Tình trạng sử dụng phân bón không hợp lý về chủng loại, liều lượng, thời gian và phương thức bón cho cây trồng đang gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường. Đặc biệt, việc lạm dụng phân bón vô cơ trong thời gian gần đây khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và độ màu mỡ của đất giảm. Bình quân tổng lượng phân bón vô cơ các loại sử dụng vào khoảng 2,4 triệu tấn/năm, mỗi năm thải ra môi trường khoảng 240 tấn bao bì, vỏ hộp các loại và phần lớn không thu gom mà vứt bừa bãi ra đồng ruộng, kênh mương gây ô nhiễm môi trường trong vùng sản xuất nông nghiệp;

– Bên cạnh đó, tình trạng sử dụng BVTV trong nông nghiệp có xu hướng gia tăng, thiếu kiểm soát. Thống kê của Cục BVTV cho thấy mỗi năm Việt Nam nhập khẩu khoảng 70.000 đến hơn 116.000 tấn thành phẩm hóa chất BVTV. Ước tính lượng bao bì chiếm khoảng 10% tổng số thuốc tiêu thụ, tức là số lượng bao bì, vỏ đựng thuốc BVTV lên tới hàng chục ngàn tấn mỗi năm. Lượng bao bì này không được thu gom đã gây ô nhiễm nguồn nước, không khí, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái và là nguy cơ đe dọa sức khỏe cộng đồng.

– Trong lĩnh vực chăn nuôi, khối lượng chất thải rắn của vật nuôi trong năm 2014 hơn 82 triệu tấn, trong đó chỉ khoảng 60% số chất thải được xử lý, còn lại thường được xả trực tiếp ra môi trường. Hơn nữa, tình trạng giết mổ cũng không khả quan. Hiện cả nước tồn tại gần 35.000 điểm giết mổ gia súc, gia cầm nhỏ lẻ, phần lớn nằm ngoài tầm kiểm soát của cơ quan quản lý, chỉ có 35,8% trong số đó được kiểm soát.

– Đối với lĩnh vực thủy sản, đa số vùng nuôi không có hệ thống xử lý nước và chất thải, việc kiểm soát môi trường nước và ao nuôi còn nhiều bất cập, dẫn đến lượng chất thải gây ô nhiễm từ ao nuôi rất lớn, hầu hết lượng chất thải này chưa được xử lý triệt để trước khi thải ra ngoài, gây ảnh hưởng lớn đến môi trường khu vực và ảnh hưởng ngược trở lại vùng nuôi trồng thủy sản.

Các biện pháp cần và có.

Với thực tế đó, để hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, những năm qua các cấp, các ngành và các địa phương đã triển khai thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu như:

– Trước hết phải chú trọng đến việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức bằng cách tăng cường các biện pháp tuyên truyền, vận động để người dân ý thức việc sản xuất nông nghiệp phải đi đôi với bảo vệ môi trường, giúp nâng cao tính thích ứng với những biến đổi xấu của khí hậu;

– Để ngăn chặn, hạn chế việc đốt rơm, rạ sau thu hoạch… nên sử dụng chế phẩm sinh học xử lý rơm, rạ, phụ phẩm ngay tại ruộng đồng để trả lại lượng mùn, chất hữu cơ cho đất;

– Về chăn nuôi: phải thường xuyên phối hợp với các địa phương tổ chức, đánh giá hiện trạng, tác động của ô nhiễm môi trường đối với phát triển kinh tế – xã hội và có biện pháp xử lý các cơ sở chăn nuôi gây ô nhiễm; Đồng thời vận động người dân đầu tư, xây dựng mô hình chăn nuôi an toàn sinh học như: nuôi lợn trên nền đệm lót sinh học; Sử dụng chế phẩm sinh học, công nghệ khí sinh học biogas nhằm xử lý chất thải chăn nuôi, giảm mùi hôi thối, diệt khuẩn có hại và tăng khả năng phòng, chống dịch bệnh cho vật nuôi, nâng cao hiệu quả chăn nuôi;

– Lĩnh vực thủy sản: nên tăng cường quản lý thức ăn, hóa chất, thuốc kháng sinh, chế phẩm sinh học sử dụng trong nuôi trồng thủy sản; Hướng dẫn bà con thực hiện nghiêm túc quy trình nuôi, nhất là quy trình chuẩn bị ao nuôi; Tiến hành quan trắc mẫu nước, xét nghiệm các chỉ tiêu kỹ thuật quan trắc, cảnh báo môi trường nước nuôi trồng thủy sản, từ đó khuyến cáo người dân không nên thả nuôi mới vào thời điểm độ mặn của nước xuống thấp và không nên cấp nước trực tiếp vào ao nuôi, cần phải qua ao lắng để xử lý một số chỉ tiêu lý hóa như độ kiềm, độ trong, chỉ số NH4 – N… nhằm đảm bảo chất lượng nước phù hợp nhất khi đưa vào ao nuôi;

– Lĩnh vực thủy lợi: Điều tiết vận hành công trình phù hợp, đảm bảo tưới tiêu theo hướng ngăn mặn xả ô nhiễm; Đầu tư nâng cấp, duy tu, sửa chữa các công trình nhằm giảm thiểu nguồn nước bị ô nhiễm trên kênh, rạch; quan trắc mẫu nước để xác định diễn biến chất lượng nguồn nước, làm cơ sở cho việc vận hành công trình hiệu quả, hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, đảm bảo nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Lĩnh vực lâm nghiệp: Tập trung công tác quản lý bảo vệ rừng và nên phối kết hợp với các trường học, cơ quan và lực lượng vũ trang địa phương tích cực trồng cây góp phần nâng cao tỷ lệ phủ xanh cho thành phố;

Chúng ta phải luôn xác định bảo vệ môi trường nông nghiệp nông thôn là một công việc lâu dài, phải làm công phu, bền bỉ, cần được thực hiện một cách đồng bộ giữa các cấp, các ngành, phối hợp chặt chẽ với người dân thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến.

Hy vọng những giải pháp bảo vệ môi trường nêu trên sẽ góp phần cải thiện chất lượng môi trường cuộc sống, cũng như chất lượng môi trường trong nông nghiệp nông thôn, giúp diện mạo nông thôn cả nước ngày càng trong sạch, tạo nền tảng vững chắc cho ngành nông nghiệp, từ đó góp phần làm cho môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp.

Minh Khuê

Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp: Sạch, An Toàn Và Phát Triển Bền Vững / 2023

Moitruong24h- Quảng Ninh không phải vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp nên lượng chất thải trong lĩnh vực này chưa quá lớn và gây tác động nghiêm trọng như chất thải trong công nghiệp. Tuy nhiên với thực tế việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), phân hóa học trong trồng trọt, nguồn thức ăn trong Nhiều mối nguy hại đối với môi trường nuôi trồng thủy sản (NTTS) ngày càng bất hợp lý, mất kiểm soát cùng những bất cập trong xả thải, xử lý thải trong chăn nuôi đã và đang ảnh hưởng đến môi trường các vùng nông thôn. Một bể chứa vỏ bao bì thuốc BVTV chưa đạt chuẩn ở xã Hồng Phong, TX Đông Triều.

Theo kết quả rà soát của Sở NN&PTNT, mỗi năm ngành nông nghiệp sử dụng trên 200 tấn phân bón vô cơ và thuốc BVTV các loại, trong đó chỉ 30% hấp thụ vào cây trồng, còn lại thẩm thấu vào đất, nước làm ô nhiễm môi trường. Chưa kể khoảng 10% – 15% phân, thuốc nguyên chất, vốn là những hợp chất độc hại, đứng đầu danh sách 12 loại độc nguy hiểm còn sót lại ở vỏ các bao bì vứt bừa bãi trên đồng ruộng, kênh mương sẽ tác động trực tiếp đến môi trường. Tình trạng này khiến đất đai bị chai cứng, giữ nước kém và giảm độ màu mỡ, quan trọng hơn đó là khiến con người có nguy cơ mắc các bệnh ung thư.

Hiện nay toàn tỉnh đang có trên 20.000ha NTTS các loại, mỗi năm nuôi từ 2 – 3 vụ, tổng sản lượng thủy sản nuôi trồng năm 2017 đạt trên 54.000 tấn. Theo ông Vương Văn Oanh, Phó Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản tỉnh, với diện tích nuôi và sản lượng như trên thì lượng thức ăn tồn dư trong môi trường không hề nhỏ. Một yếu tố khác đe dọa môi trường là tình trạng khai thác thủy sản theo hướng tận diệt; các vật dụng phao xốp dùng trong NTTS, vốn rất khó phân hủy trong điều kiện tự nhiên và lượng dầu mỡ thải ra trên mặt nước từ các phương tiện khai thác thủy sản.Đối với hoạt động sản xuất thủy sản, nguy cơ lớn nhất ảnh hưởng đến môi trường là lượng thức ăn dư thừa và chất thải của đối tượng nuôi tồn dư trong nước lớn do hệ số thức ăn (lượng thức ăn phải tiêu tốn để thu được 1kg tăng trọng) cao. Đơn cử như đối với con tôm, hệ số thức ăn trung bình là trên 2 lần; cá biển là trên 7 lần. Đáng nói phần lớn thức ăn phục vụ NTTS hiện đều là các loại cá tạp xay sống nên ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường.

Theo thống kê của Sở NN&PTNT, hiện toàn tỉnh có đến gần 8.000 lồng bè NTTS các loại, trong đó hầu hết sử dụng vật liệu phao xốp; số lượng phương tiện khai thác thủy sản là trên 7.500, trong đó trên 5.000 chiếc là phương tiện chưa hiện đại, lượng dầu mỡ rò rỉ lớn.

Cần có giải pháp bảo vệ môi trường bền vững

Riêng việc xử lý thải trong chăn nuôi trâu, bò, hiện chỉ có Công ty TNHH Phú Lâm sử dụng hầm bioga; toàn bộ mô hình chăn nuôi gia cầm thả vườn, đồi quy mô nhỏ không xử lý thải. Ngoài ra hiện tình trạng ô nhiễm môi trường từ nguồn thải ở các lò giết mổ gia súc, gia cầm đã ở mức nghiêm trọng. Theo thống kê của Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh, toàn tỉnh đang có trên 50 điểm giết mổ song chỉ có 4 điểm giết mổ tập trung có đầu tư hệ thống xử lý thải đạt chuẩn…Hiện tổng đàn gia súc, gia cầm của tỉnh là 46.664 con trâu, 25.263 con bò, 423.793 con lợn và 3,45 triệu con gia cầm; tổng lượng xả thải của các đàn khoảng 1.927 tấn chất thải rắn/ngày đêm, chưa kể lượng nước tiểu. Điều đáng nói, đến 90% mô hình chăn nuôi của tỉnh đều ở dạng nông hộ (18.000 hộ), trong đó mới có khoảng trên 9.000 hộ có đầu tư hầm bioga để xử lý thải, số còn lại xử lý bằng cách ủ để bón ruộng hoặc xả thẳng ra môi trường, chảy tràn khi có mưa, đi vào đất, nước. Ngay việc xử lý thải ở số hộ có sử dụng hầm bioga cũng không đạt chuẩn, bởi diện tích hầm quá nhỏ so với quy mô nuôi nên không thể lưu giữ, xử lý lượng thải sau 30-40 ngày mới đưa ra môi trường như theo quy định.

Theo ông Nguyễn Hữu Giang, Giám đốc Sở NN&PTNT, giải pháp bền vững nhất để bảo vệ môi trường sản xuất nông nghiệp là chuyển đổi lề lối canh tác thì hiện vẫn chưa đạt được kết quả như ý muốn. Tiêu biểu như việc thay thế thức ăn cá tạp bằng thức ăn công nghiệp và vật liệu phao xốp bằng những vật liệu thân thiện khác trong NTTS; xây dựng các điểm giết mổ gia súc, gia cầm tập trung theo đúng quy hoạch; đặc biệt là đẩy mạnh mô hình liên kết sản xuất hoặc sản xuất theo hướng công nghiệp để thu hẹp mô hình nông hộ… Thực tế giá trị kinh tế sản xuất theo quy mô tập trung, công nghiệp đạt cao hơn từ 10 – 70 lần sản xuất nhỏ lẻ tùy từng lĩnh vực. Trong khi đó hiện toàn tỉnh mới có khoảng trên 300 trang, gia trại, doanh nghiệp nông nghiệp có triển khai hoạt động sản xuất, chiếm phần rất nhỏ so với con số sản xuất nông hộ

Tuệ Lâm (theo baoquangninh)

05 Giải Pháp Sản Xuất Nông Nghiệp Thời 4.0 / 2023

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, 40% lực lượng lao động khu vực nông thôn, cùng hàng triệu mảnh ruộng nhỏ lẻ đang đặt ra nhiều thách thức đối với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững của ngành Nông nghiệp nước ta.

Thực trạng của sản xuất nông nghiệp hiện nay

Theo nghiên cứu của ThS. Nguyễn Thị Thu – Khoa Quản trị kinh doanh, trường Đại học Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp cho rằng, ứng dụng công nghệ 4.0 vào trong sản xuất nông nghiệp đã trở thành xu hướng và được Chính phủ quan tâm, chú trọng phát triển.

Trên thế giới, điển hình là, Thái Lan đã ban hành chính sách đổi mới công nghệ định hướng nông nghiệp và thực phẩm theo ứng dụng cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chính phủ nước này còn xây dựng chương trình hành động cho phát triển từng vùng với các sản phẩm cụ thể cho từng lĩnh vực.

Tại Việt Nam, ngành Nông nghiệp đã đạt được những thành tựu quan trọng, giá trị sản phẩm gia tăng nhiều lần, sản lượng nông sản hàng hóa ngày càng đa dạng, thu nhập và đời sống người nông dân được cải thiện. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp hàng hóa chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của Việt Nam.

Thực tế, quy mô sản xuất nhiều ngành hàng còn manh mún, chất lượng và giá trị gia tăng của nông sản chưa cao. Mặt khác, khu vực nông thôn Việt Nam chiếm khoảng 70% dân số và khoảng 40% lực lượng lao động với hàng triệu mảnh ruộng nhỏ lẻ đang đặt ra những thách thức không nhỏ đối với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững.

Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam cũng đang rất thiếu lao động lành nghề, có trình độ chuyên môn và đang phải đối diện với những thách thức lớn về sự thiếu hụt lao động có trình độ cao và kỹ năng chuyên nghiệp để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho nông nghiệp 4.0.

Hệ thống đào tạo nghề cũng còn lạc hậu, chưa đủ sức đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao cho sản xuất và đời sống. Đào tạo nghề vẫn chủ yếu là giảng dạy, hướng dẫn những kiến thức kỹ năng mà các tổ chức dạy nghề có, không thực sự xuất phát từ yêu cầu của người học. Chương trình đào tạo còn mang tính lý thuyết cao, thiếu yếu tố thực hành. Dạy nghề chưa kết hợp với sử dụng tạo việc làm, chưa gắn kết chiến lược đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Giải pháp cho sản xuất nông nghiệp

Để khắc phục những hạn chế trên, ThS. Nguyễn Thị Thu đã đưa ra một số nội dung, giải pháp cần quan tâm trong thời gian tới như sau:

Một là, Nhà nước cần cân đối, bố trí kinh phí từ nguồn ngân sách hỗ trợ công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho nông nghiệp, trong đó tập trung cho đào tạo dài hạn đội ngũ chuyên gia, kỹ thuật cao ở các lĩnh vực then chốt như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ thông tin và khoa học quản lý…

Mặt khác, có chính sách hướng vào việc đãi ngộ nhân tài phục vụ ở nông thôn, nông nghiệp, nhằm thu hút người giỏi quản lý và lãnh đạo về với nông thôn như: Tăng lương, tăng các khoản phúc lợi để tạo thu nhập cao cho cán bộ quản lý ở nông thôn, xóa bỏ sự bất hợp lý trong việc hưởng lương cao theo thâm niên công tác, tập trung ưu tiên chế độ trả lương theo hiệu quả công việc và tính sáng tạo.

Hai là, cần có những định hướng, chính sách về đào tạo, thu hút sinh viên vào học ngành Nông nghiệp, gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức sử dụng lao động; nên khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước thành lập cơ sở dạy nghề, thực hiện chương trình hợp tác đào tạo tại khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao để đào tạo, huấn luyện công nhân, kỹ thuật viên, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp.

Ba là, các trường đại học cần tăng cường đầu tư cho giáo dục, đào tạo và hướng nghiệp từ bậc phổ thông tại khu vực nông thôn; đa dạng hóa hình thức đào tạo dạy nghề, có cơ chế ưu đãi cho các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề theo yêu cầu; đổi mới phương pháp đào tạo nghề, tập trung vào đào tạo năng lực thực hành, kỹ năng, kỹ thuật cốt lõi và các kỹ năng mềm cho học viên.

Năm là, gắn đào tạo với thị trường lao động, thực hiện đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp, lập sàn giao dịch việc làm kỹ thuật số kết nối với doanh nghiệp. Bênh cạnh đó, tăng cường sự tham gia của sinh viên vào các hoạt động thực tiễn sản xuất… Đây là mấu chốt quan trọng để tạo ra nguồn nhân lực mới đáp ứng nhu cầu ứng dụng công nghệ cao trong phát triển sản xuất về phía nhà nước nông nghiệp thời kỳ 4.0.

Bạn đang xem bài viết Sản Xuất Táo Vietgap: Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Nông Nghiệp / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!