Xem Nhiều 1/2023 #️ Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng # Top 4 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

TRƯỜNG TH TRUNG HƯNG Độc lập – Tự do – Hạnh phúc SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Đề tài: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TIẾP TỤC CHỈ ĐẠO “XÂY DỰNG TRƯỜNG HỌC THÂN THIỆN, HỌC SINH TÍCH CỰC” Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG HƯNG I- SỰ CẦN THIẾT, MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN Trường học là môi trường đầu tiên cho học sinh bắt đầu cuộc sống và lao động. Trong nhà trường Học sinh phải có hệ thống, những kỹ năng, kỹ xảo cần thiết để hình thành và phát triển những phẩm chất tốt đẹp ban đầu của con người mới . Môi trường giáo dục luôn có ảnh hưỡng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người thông qua mối quan hệ xã hội. Trong những năm qua, phần lớn nhiều trường tiểu học vẩn tồn tại phương pháp giảng dạy và giáo dục còn mang tính áp đặt, chưa quan tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của học sinh. Việc đánh giá sửa sai học sinh còn có những biểu hiện khắt khe, thiếu dân chủ. Học sinh còn những biểu hiện về nhân cách như: rụt rè, thiếu tự tin vào bản thân, không dám đề bạt ý kiến, không mạnh dạn thể hiện khả năng … Tình hình trên đòi hỏi các trường tiểu học phải có lựa chọn con đường, cách thức giáo dục phù hợp, để chuẩn bị thật tốt cho các em thành những người công dân tương lai, có trí tuệ và đạo đức tốt. Một trong các con đường đó là phải xây dựng cho được môi trường thân thiện trong trường tiểu học. Đó là hệ thống các hoàn cảnh, các điều kiện để tập thể học sinh quan hệ với cộng đồng một cách cởi mở, tích cực, cần thiết cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh theo mục tiêu giáo dục của trường tiểu học. Để xây dựng môi trường giáo dục thân thiện, vào đầu năm học 2008-2009, Ngành giáo dục ban hành một số văn bản quan trọng. Trường tiểu học Trung Hưng được thành lập từ tháng 11/2001 Tuy cơ sở vật chất của trường còn gặp nhiều khó khăn, cảnh quan sư phạm được nâng cấp sửa chữa hàng năm. Chất lượng giảng dạy và các hoạt đọng giáo dục của trường cũng được đi lên, trong nhiều năm qua Trường hoàn thành nhiệm vụ được UBND Huyện tặng giấy khen. Tuy nhiên đối với 2 mục tiêu, 5 yêu cầu và 5 nội dung của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường TH Trung Hưng thấy nhiều điểm còn thiếu sót và hạn chế và chưa đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu, nội dung của Bộ. Qua nghiên cứu, học tập và quán triệt các văn bản của Ngành. Là một cán bộ quản lý tôi đã chọn đề tài: Một số biện pháp tiếp tục chỉ đạo xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở trường tiểu học trung hưng. II- PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN Qua nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của ngành, chỉ thị, Kế hoạch của bộ giáo dục và đào tạo; Kế họach liên ngành thể thao và du về phong trào “xây dựng truờng học thân thiện, học sinh tích cực” qua nhiều năm thực hiện trường bở ngỡ và gặp khó khăn nên nhà trường cũng cố Ban chỉ đạo của trường để thực hiện tốt mục tiêu, yêu cầu và nội dung. Về khảo sát thực trạng của trường Tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng của trường bám theo 2 mục tiêu, 5 yêu cầu và 5 nội dung của phong trào “xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực”. Tuy cơ sở vật chất của nhà trường được xây dựng mới 3 điểm nên khang trang xanh – sạch- đẹp, đảm bảo cho việc dạy và học . Với đặc điểm đối tượng học sinh vào trường có nhiều khó khăn, Nên những năm qua nhà trường rất chú ý tổ chức nhiều hoạt động tập thể và rèn luyện kỉ năng sống cho học sinh; tính tích cực của học sinh còn còn nhiều hạn chế. Với đặc điểm đối tượng học sinh có đôi lúc không mấy thiết tha với việc học. Nên những năm qua nhà trường đặt mục tiêu giáo dục cho học sinh yêu trường nến lớp bằng cách tổ chức nhiều hoạt động tập thể thu hút được nhiều học sinh học sinh. việc khảo sát này giúp cho nhà trường thấy rõ tình hình, điều kiện của mình khi tham gia phong trào. Kết quả khảo sát là căn cứ giúp trường đề ra kế hoạch xây dựng trường học thân thiện học sinh tích cực trong năm 2014-2015 và những năm tiếp theo. Trong năm học 2014-2015 để động đến giáo viên và học sinh tìm hiểu mối quan hệ trong nhà trường, mối quan hệ Thầy- thầy, Trò- trò và thầy – trò hiện nay. Việc tổ chức phát động đến giáo viên và học sinh thấy rõ quy tắc ứng xử thân thiện đối với giáo viên và học sinh. III- MÔ TẢ SÁNG KIẾN Sau khi thành lập Ban chỉ đạo, ban hành kế hoạch thực hiện xây dựng truờng học thân thiện học sinh tích cực, trường đã tổ chức 3 cuộc họp để tuyên truyền và đạt yêu cầu phối hợp thực hiện: 1.Cuộc họp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, họp phụ huynh học sinh trong nhà trường: Tại cuộc họp nầy, Trường đã giới thiệu 3 văn bản của TW (chỉ thì số 40, kế hoạch 307 của Bộ GD, kế hoạch liên ngành giữa Bộ GD & Bộ văn hóa Thể dục thể thao và Du lịch, Trung Ưng đoàn TNCS Hồ Chí Minh) kế hoạch xây dựng truờng học thân thiện học sinh tích cực của trường năm học 2014-2015 và những năm tiếp theo. Tranh thủ được sự quan tâm của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường đã đề ra chủ trương vận động cha mẹ học sinh xây dựng gia đình thân, ban đại diện cha mẹ học sinh đề nghị làm sân trường, tiếp tục trồng thêm cây xanh để thực hiện nội dung thứ hai “Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn”. 2) Cuộc họp với các đoàn thể và các giáo viên trong trường để quán triệt kế hoạch xây dựng. Việc khen thưởng cuối năm đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xây dựng THTT,HSTC cũng được đặt ra nhằm tạo thêm động lực cho phong trào. 3). Cuộc họp các tổ trưởng chuyên môn nhằm xây dựng chuyên đề “thân thiện trong giảng dạy vả trong công tác chủ nhiệm” để thực hiện tốt “dạy và học có hiệu quả, phân hóa đối tượng phù họp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mổi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập”. A- Các công việc cụ thể của ban chỉ đạo: a. Phó hiệu trưởng CSVC, Trưởng ban – phụ trách xây dựng kế hoạch, than mưu cho đảng ủy và chính quyền đại phương, theo dõi kiểm tra kết quả thực hiện lập hồ sơ báo cáo phòng giáo dục – đào tạo Cái nước; Trực tiếp chỉ đạo nội dung 4a (Xây dựng trường lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn). b. Phó Hiệu trưởng CM, Phó Trưởng ban – phụ trách việc phát động phong trào thi đua trong CB- GV – NV nhà trường, đôn đốc kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện. c. Chủ tịch công đoàn, Phó Trưởng ban – phụ trách tổ chức thực hiện các nội dung. d. Các ông bà tổ trưởng chuyên môn, Ủy viên – Tổ chức thực hiện nội dung 4b (Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở địa phương, giúp các em tự tin trong học tập). đ. Bí thư chi đoàn, Ủy viên – Phụ trách nội dung 4đ (Tổ chức cho học sinh chăm sóc di tích lịch sử địa phương). e. Văn phòng, Làm thư ký – theo dõi kiểm tra tiến độ thực hiện, tổng hợp kết quả, phụ trách nội dung 4c (Rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh). f. Tổng phụ trách đội, Ủy viên – Phụ trách nội dung 4d (Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi lành mạnh). B- Các chuyên mục đối với học sinh: a. Lần lược giới thiệu và luyện cho học sinh một số trò chơi dân gian trong trường và tại gia đình như; kéo co, bịt mắt bắt dê, Mèo bắt chuộc, nhảy bao bố… Các hoạt động này do phó hiệu trưởng chỉ đạo hoạt động ngoại khóa và giáo viên tổng phụ trách đội phối hợp với giáo viên chuyên thể dục thực hiện b. Tổ chức cho học sinh sưu tầm ca dao, tục ngữ địa phương, sưu tầm tranh ảnh phục vụ chủ điểm trong năm. Hoạt động này do tổ chuyên môn và giáo viên chủ nhiệm thực hiện . c. Tổ chức cho học sinh toàn trường nhân các ngày lễ theo chủ điểm nội dung gồm: thi múa hát kết hợp với trò chơi dân gian. d. Tập cho học sinh được giới thiệu về gương tốt việc tốt, đựơc nghe những bài văn hay, những bài có chữ viết đẹp tiêu biểu trong trường. e. Phát động trong các chi đội làm các bảng tin treo ở cuối lớp và được trang trí đẹp, phù hợp với lứa tuổi học sinh như: Năm điều Bác Hồ dạy, vào lớp thuộc bài, ra lớp hiểu bài, “Người tốt- việc tốt” Xây dựng THTT,HSTC, tranh ảnh…. Với các chuyên mục nói trên, học sinh được giới thiệu các sản phẩm của mình về thủ công, về vẽ, viết chữ đẹp, bài văn hay nhằm phát huy tính mạnh dạn, khả năng của mình. f. Xây dụng và thực hiện một số qui tắc ứng xử thân thiện dành cho giáo viên và học sinh: các quy tắc nầy được xây dụng dựa theo kết quả hành vi, thái độ của giáo viên, học sinh và từ tình hình thực tế của trường, đã được hội đồng sư phạm thông qua, BCH Công đoàn và đội TNTP vận động thực hiện, kết quả thực hiện quy tắc nầy được đánh giá lồng ghép vào các đợt thi đua, khen thưởng trong năm do trường tổ chức. g. Xây dựng quy ước về gia đình thân thiện đễ triển khai cho cha mẹ học sinh, các dự tháo, có tham gia ý kiến của hội đồng trường và ban đại diện cha mẹ học sinh, sau đó vận động cha mẹ học sinh thực hiện. h. Tổ chuyên môn triển khai thực hiện chuyên đề “Thân thiện trong giảng dạy và công tác chủ nhiệm”. Kết quả tực hiện chuyên đề nầy được đánh giá qua việc dự giờ thăm lớp, trong các tiết thao giảng, trong các lần kiểm tra chuyên đề, toàn diện. i. Tổ chức tự quản học sinh: – Xây dưng kế hoạch trực, làm vệ sinh khuôn viên và chăm sóc cây xanh gây bóng mát hàng ngày dành cho học sinh lớp: 3, 4, 5. – Nâng cao cao chất lương đội cờ đỏ của học sinh đễ giám sát, kiểm tra việc thực hiện vệ sinh trường lớp, vệ sinh cá nhân, việc thực hiện nội quy học sinh. k. Tiếp tục hoàn thiện cảnh quang sư phạm, chăm sóc cây. những khẩu: “Mỗi ngày đến trường là một niềm vui”; ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh thích cực” Treo phía trước phòng học. Trường treo ảnh Bác Hồ và 5 điều Bác Hồ dạy. Đó là một số việc làm cụ thể triên khai kế hoạch xây dựng “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh thích cực” năm học 2014 – 2015 của trường tiểu học Trung Hưng từ đầu năm đến nay. IV- KẾT QUẢ, HIỆU QUẢ MANG LẠI * Một số kết quả đạt được: – Trường đã tổ chức triển khai thực hiện các chỉ thị, hướng dẩn của ngành về phong tào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Với những bước đi thích hợp, bằng những việc làm cụ thể, có tính sáng tạo, phù hợp với điều kiện, đặc điểm của trường của địa phương. – Phong trào đã được tuyên truyền và triển khai sâu rộng từ trường học đến gia đình và toàn xã hội, tạo được sự đồng tình của cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể, nhân dân, cha mẹ học sinh, giáo viên và học sinh. – Thực hiện nội dung “Rèn luyện kỷ năng sống cho học sinh” trường đã từng bước giáo dục cho học sinh kỷ năng giao tiếp ứng xử hợp lý, có văn hóa trước tình huống học tập, trong cuộc sống, thói quen học tập và hoạt động nhóm, giáo dục rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe kỷ năng phòng, chống tai nạn giao thông đuối nước và các tai nạn thương tích khác. – Thực hiện nội dung “Tổ chức các hoạt động tập thể vui chơi lành mạnh”, Trường hàng năm tổ chức tốt vui trung thu cho các em và thường xuyên các hoạt động văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo việt nam 20-11, các hội thi thể thao chào mừng ngày thành lập đoàn TNCS HCM 26-03 thu hút đông đảo học sinh tham gia. Bước đầu đưa các trò chơi dân gian vào giờ chơi của học sinh ở trường, ở nhà, làm cho không khí giờ chơi mang tính tập thể hơn, vui hơn, thân thiện hơn. – Thực hiện nội dung “Dạy học có hiệu quả, phù hợp với đăc điểm lứa tuổi học sinh địa phương, giúp các em tự tin trong học tập”, Thực hiện cuộc vận động “Nói không tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và ” Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”. Trường đã tiếp tục thực hiện phương pháp dạy học tích cực, hướng dẩn học sinh phương pháp tự học, khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến, nêu thắc mắc, chủ động tham gia các hoạt động ngoại khóa. Thái độ của giáo viên trong giờ lên lớp, trong công tác chủ nhiệm đã có sự gần gũi, thân thiện, thương yêu và tôn trọng học sinh hơn trước. Các hiện tượng la mắng học sinh, trách phạt học sinh khi phạm lỗi, đã được hạn chế ở mức thấp nhất. – Thực hiện nội dung “Xây dựng trường lớp, xanh sạch đẹp và an toàn” Giáo dục ý thức giữ gìn vệ sinh công cộng và bảo vệ tài sản nhà trường. Trường đã vận động kinh phí mở rộng sân chơi, nâng cấp phòng học, trồng thêm cây xanh, trang trí phòng học, làm khẩu hiệu cho các điểm trường đễ cho nhà trường ngày càng khang trang. – Thực hiện nội dung “Học sinh tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa ở địa phương” Trên địa bàn không có di tích lịch sử văn hóa trường chỉ giớ thiệu cho học sinh biết qua tranh ảnh sách báo, tổ chức giới thiệu một số anh hùng liệt sĩ tại địa phương như: Liệt sĩ Lương Thế Trân, Anh hùng lực lượng vũ trang Lê Văn Cổ ( Năm Đảm) … Đối chiếu với các mục tiêu của phong trào “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tich cực”, qua năm học đầu tiên, trường đã có những việc làm tích cực nhằm từng bước huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để góp phần xây dựng môi trường giáo dục ngày càng an toàn,thân thiện, phù hợp với điều kiện của địa phương, bước đầu hình thành, phát huy tính chủ động, tích cực, sự sáng tạo của học sinh trong học tập và trong hoạt động xã hội. Với những gì đã làm được, trường tự thấy có thể vận đụng những biện pháp này để thực hiện “xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” đối với các trường tiểu học. V- ĐÁNH GIÁ VỀ PHAM VI ẢNH HƯỞNG CỦA SÁNG KIẾN – Làm việc gì phải chắc việc đó tránh tình trạng đầu voi đuôi chuộc, việc làm hình thúc, ít tác dụng. – Giải quyết tốt khâu nhận thức của giáo viên và phong trào này để giáo viên có sự tự giác trong thực hiện vì thay đổi thói quen là rất khó. Một vài giáo viên sinh hoạt chưa chuẩn, ít chụi khó khi quan hệ giao tiếp với học sinh, ít thân thiện nên dể tạo ra khoảng cách giửi thầy và trò, đồng thời với sự giải quyết nhận thức, trao đổi kinh nghiệm thực hiện và có sự đôn đốc, kiểm tra của trường, của tổ chuyên môn, các đoàn thể. VI- KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT Phong trào “xây dựng trường học thân thiện,học sinh tích cực” là việc làm mới và lâu dài đòi hỏi sự kiên trì, tinh thần khắc phục khó khăn và vận dụng linh hoạt các biện pháp huy động lực lượng xã hội cùng tham gia. Những việc mà trường làm được đã nêu trong sáng kiến kinh nghiệm này là một đóng góp công nhỏ, có thể đạt như mong muốn. Với kinh nghiệm nhỏ nhoi tôi hy vọng góp phần đến các trường, đồng nghiệp, thầy cô thực hiện và chân tình đóng góp xây dựng cho phong trào ngày càng hiệu quả trong ngành giáo dục./. Trung hưng, ngày 06 tháng 09 năm 2014 Ý kiến xác nhận Người viết Thủ trưởng đơn vị Hồ văn cuộc

Một Số Giải Pháp Xây Dựng Thư Viện Xanh, Thân Thiện Ở Trường Tiểu Học

Thư viện trường học là một cơ quan truyền thông trong nhà trường có vai trò cung cấp thông tin để giải đáp thắc mắc, thỏa mãn óc tò mò, tìm hiểu của học sinh; là một động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục trong nhà trường, nhằm mục đích sử dụng các nguồn tài liệu để hỗ trợ cho sự thay đổi cách học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên trong nhà trường.

Thư viện trường học là bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hóa và khoa học của nhà trường. Thư viện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy của giáo viên, bồi dưỡng kiến thức và xây dựng thói quen tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, tạo cơ sở từng bước thay đổi phương pháp dạy và học, đồng thời thư viện tham gia tích cực vào việc bồi dưỡng tư tưởng chính trị và xây dựng nếp sống văn hóa mới cho các thành viên của nhà trường.

Với chức năng truyền thông, thư viện trường học có nhiệm vụ thu thập và tích lũy các nguồn tài liệu gồm những tài liệu tham khảo đầy đủ cùng những tài liệu nghe nhìn phản ánh những kiến thức, kinh nghiệm, và sắp xếp thế nào để có thể đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của học sinh.

Thực hiện Chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22/7/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc triển khai phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, để các hoạt động giáo dục trong nhà trường đảm bảo an toàn, thân thiện và hiệu quả thì vai trò của thư viện trong nhà trường là hết sức quan trọng. Thư viện phải làm thế nào để thu hút được nhiều bạn đọc, tạo thuận lợi cho giáo viên và học sinh khi tham gia đọc sách, phát triển văn hóa đọc trong nhà trường và nâng cao chất lượng dạy và học. Song song với hoạt động giáo dục của phong trào thi đua đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” thì tại trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan, mô hình xây dựng thư viện xanh, thân thiện được ra đời nhằm đáp ứng các yêu cầu đó.

Tuy nhiên, trong thực tế, nhiều thư viện trường học chưa phát huy hết vai trò của mình như cách tổ chức kho sách đóng, mượn- đọc sách tại chỗ, hình thức phục vụ còn cứng nhắc. Cán bộ, giáo viên và học sinh khi tham gia đọc sách còn mất nhiều thời gian cho việc mượn, trả; hoạt động thư viện còn đơn điệu, hiệu quả chưa cao.

Để khắc phục những tồn tại phổ biến hiện nay trong các thư viện trường học, đồng thời mong muốn xây dựng mô hình thư viện thân thiện, thư viện xanh thật sự hiệu quả tại trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu”Một số giải pháp xây dựng thư viện xanh, thân thiện ở trường tiểu học”.

1. Giải pháp cũ thường làm

Trước kia, hoạt động thư viện trong nhà trường chỉ đơn thuần là quản lý kho sách, cho mượn các loại sách báo trên cơ sở hướng dẫn bạn đọc thực hiện nghiêm túc nội quy thư viện; chưa chú ý đến việc tạo nguồn sách báo và tạo thuận lợi cho bạn đọc khi có nhu cầu đọc sách. Cụ thể những giải pháp cũ đã thực hiện trong việc chỉ đạo hoạt động thư viện tại trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan như sau:

1.1. Xây dựng nội quy thư viện

Chúng tôi đã xây dựng nội quy thư viện như sau:

Thư viện là tài sản vô giá của nhà trường. Tất cả thành viên trong nhà trường đều là bạn đọc của thư viện, có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng thư viện. Bạn đọc cần thực hiện đúng các quy định sau:

1. Vào thư viện phải giữ gìn trật tự và giữ vệ sinh chung, tôn trọng người xung quanh.

2. Mỗi lần mượn không quá 4 quyển sách. Thời hạn mượn sách là 1 tuần. Nếu đọc chưa xong bạn đọc phải đến thư viện xin gia hạn.

3. Báo chí, từ điển, sách quý hiếm chỉ được sử dụng tại chỗ.

4. Bạn đọc cần giữ gìn sách báo cẩn thận, không được làm rách, làm bẩn, không vẽ viết vào sách báo, cần tham gia bọc và tu sửa sách thường xuyên.

5. Bạn đọc làm mất sách phải đền sách mới hoặc đền tiền tương đương với giá trị thực tế. Nếu làm hư hỏng, tùy mức độ phải bồi thường thỏa đáng.

6. Mỗi học kì nhà trường xét duyệt khen thưởng các bạn đọc sử dụng thường xuyên và có nhiều đóng góp cho thư viện.

7. Khi chọn sách phải để sách ngay ngắn gọn gàng, không để sách trên mặt giá, giữ gìn sách cẩn thận.

1.2. Tăng cường nghiệp vụ thư viện

– Làm tốt công tác tổ chức kỹ thuật thư viện bao gồm các nội dung sau:

+ Mua, tập hợp các loại sách báo và tài liệu cần thiết;

+ Sách, báo, tài liệu mua về tiến hành đăng ký;

+ Phân loại, mô tả;

+ Đóng dấu, dán nhãn vào sách, ghi ký hiệu;

+ Xếp sách, kiểm kê bảo quản kho sách;

– Tổ chức phục vụ người đọc trong thư viện:

+ Cho mượn sách: Giáo viên, học sinh phải đăng ký mượn sách và được phát thẻ do nhà trường cấp. Đối với học sinh có thể mượn theo sổ hoặc theo tổ, theo lớp. Khi đến mượn sách đọc tại chỗ hoặc mượn về nhà phải xuất trình thẻ và ghi phiếu mượn đúng quy định.

1.3. Đầu tư cơ sở vật chất và tăng cường bổ sung sách, báo, tài liệu vào thư viện.

– Sử dụng kinh phí trong ngân sách Nhà nước cấp để bổ sung cơ sở vật chất thư viện như bàn ghế, tủ sách, máy tính, và các loại bảng biểu phục vụ hoạt động thư viện.

– Mua bổ sung các loại sách giáo khoa, sách nghiệp vụ, sách tham khảo vào thư viện trường học.

* Ưu điểm của giải pháp cũ

– Chú ý đến các nguyên tắc trong hoạt động thư viện trường học. Đảm bảo tốt các quy định về nghiệp vụ thư viện.

– Làm tốt công tác nghiệp vụ thư viện, quản lý tốt sách, báo, tài liệu tại thư viện; đảm bảo thư viện nhà trường luôn ngăn nắp, gọn gàng.

– Những việc làm trong giải pháp cũ đều là những công việc cần thiết và nên làm trong hoạt động thư viện. Những giải pháp đó đã mang lại kết quả nhất định trong việc nâng cao chất lượng dạy và học.

* Nhược điểm của giải pháp cũ

– Những giải pháp cũ mới chỉ là những việc cần làm của thư viện trường học trong hoạt động tại phòng thư viện. Nó là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ. Vì để nâng cao chất lượng hoạt động thư viện trường học và góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường thì hoạt động của thư viện cần đa dạng và phong phú hơn nữa.

– Cán bộ, giáo viên, học sinh khi tham gia hoạt động thư viện chỉ có một cách là lên thư viện trường học vào các giờ hành chính. Như vậy chưa thỏa mãn được nhu cầu đọc của bạn đọc trong nhà trường.

– Chưa thuận tiện cho học sinh và giáo viên khi tham gia hoạt động thư viện, nội dung hoạt động chưa phong phú, chưa thu hút được sự chú ý và hứng thú tham gia hoạt động thư viện của học sinh.

2. Giải pháp mới cải tiến

Để thực hiện mô hình thư viện xanh, thân thiện ngoài những nghiệp vụ thư viện đã thực hiện trong phòng thư viện như giải pháp cũ đã làm nêu trên, chúng tôi đã mở rộng phạm vi hoạt động của thư viện tại phòng đọc của học sinh, ở từng lớp học và ngoài sân trường, tạo ra hoạt động thư viện phong phú, thuận lợi để giáo viên cũng như học sinh chủ động khám phá, tìm tòi kiến thức. Cụ thể, chúng tôi đã thực hiện thêm một số giải pháp mới như sau:

2.1 Xây dựng vốn sách, báo:

2.2. Trang bị cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động tại phòng đọc của học sinh

Tại phòng đọc của học sinh nhà trường đã chia ra các góc hoạt động như góc đọc sách, góc viết, góc nghê thuật, góc nghe, xem… Mỗi góc đều có biển tên và các tài liệu, đồ dùng phù hợp.

Góc đọc:được xếp các loại sách như sách giáo khoa, sách tham khảo, truyện cổ tích, truyện danh nhân, … Học sinh có cơ hội đọc sách để nâng cao kiến thức, phục vu nhu cầu học tập hoặc tham gia các chương trình của thư viện.

Góc nghệ thuật:được sắp xếp các đồ dùng như giấy, bút chì, tẩy, phấn, màu nước, đất nặn, sáp màu, các dụng cụ thêu… Có không gian để trưng bày các sản phẩm do các em tạo ra như tranh vẽ, sản phẩm đất nặn…

Góc viết:Các đồ dùng chủ yếu ở đây là giấy, vở viết, bút mức, bút chì, thước kẻ…. Tại góc viết, các em có khả năng thể hiện sự sáng tạo như viết truyện, thơ, thư, nhật ký, những cảm nghĩ về sách. Các em cũng có thể luyện viết hoặc hoàn thành các bài tập viết.

Góc nghe nhạc:Ở đây các em có thể nghe các câu chuyện và các loại nhạc. Giáo viên thư viện sẽ giúp đỡ học sinh trong việc thu băng các câu chuyện và các bài hát dân ca, đồng dao… Đồ dùng cần chuẩn bị tại góc nghe là đầu đĩa nhạc, băng kể chuyện, đài catset…

Góc xem:Tại góc xem nhà trường đã chuẩn bị máy tính có nối mạng Internet. Tại đây, học sinh có thể tra cứu, lấy thông tin trên mạng hoặc xem các nội dung cần thiết phục vụ cho hoạt động học tập.

Các hoạt động của học sinh trong phòng đọc có sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên thư viện. Các em tự tìm cho mình vị trí thích hợp và tự lựa chọn tài liệu mà mình cần một cách thuận tiện, tuy nhiên cần nghiêm túc, không làm ảnh hưởng đến hoạt động của các bạn khác tại phòng đọc.

2.3. Trang bị cơ sở vật chất và tổ chức hoạt động thư viện tại các phòng học

Tại các lớp học, nhà trường trang bị cho mỗi lớp 1 tủ đựng sách được gọi là tủ sách thân thiện. Giáo viên chủ nhiệm sẽ hướng dẫn và bố trí thêm các góc đọc, góc viết, góc vẽ tại từng lớp.

2.4. Trang bị cơ sở vật chất cho thư viện xanh

Các bậc cha mẹ học sinh:Chủ động vào cuộc, cùng nghiên cứu và xây dựng mái vòm làm nơi có thể treo các tủ sách thân thiện mà không sợ mưa nắng Tại các gốc cây, thiết kế vòng tròn để treo tủ sách lưu động có thể mang ra và thu về mỗi ngày. Tại các khu vực có sách, tài liệu, bố trí ghế ngồi thuận lợi cho việc đọc sách và có thể thư giãn trong góc thư giãn…

Các thầy cô giáo và các em học sinh:Tất cả cùng vào cuộc để sáng tạo ra những tủ sách đơn giản, dễ tìm, dễ sử dụng mà lại thân thiện với môi trường. Nhà trường đã huy động giáo viên, học sinh sử dụng những chai nhựa, ống nhựa đã qua sử dụng, cùng cắt, sơn, buộc thành những tủ sách rất sáng tạo. Giúp cho học sinh có thể tự lấy sách ra đọc rồi lại tự bỏ sách vào “tủ”. Quá trình này tập thể giáo viên và các em học sinh đã tranh thủ những thời gian trống và làm trong nhiều ngày với tinh thần tích cực, tự giác và hết sức hào hứng.

2.5. Tổ chức hoạt động trong thư viện xanh

Khi đã xây dựng được cơ sở vật chất cho thư viện xanh thì việc tổ chức hoạt động thư viện ngoài trời cũng là cả một vấn đề cần lưu ý. Thư viện xanh đòi hỏi phải có sự tổ chức tốt để có thể quản lý được lượng sách báo ngoài thư viện xanh mà ai cũng có thể lấy được đồng thời sử dụng có hiệu quả. Ngoài hoạt động của giáo viên thư viện, chúng tôi đã huy động sự vào cuộc của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh của nhà trường. Cụ thể:

Giáo viên thư viện: phân loại từng khu vực để sách cho dễ sử dụng, trực tiếp xuất sách và để vào những vị trí sách đã quy định, kiểm soát sách hằng ngày và thay sách hằng tuần để học sinh luôn luôn có sách mới để đọc.

Tổng phụ trách Đội: Phân công học sinh trong Đội tuyên truyền măng non phụ trách từng khu vực sách. Hằng ngày Đội tuyên truyền măng non có trách nhiệm hướng dẫn các bạn đọc sách và bảo quản sách; mang sách ra và thu về sau mỗi ngày (đối với sách ở khu vực không có mái che).

Tất cả bạn đọc: Có thể đọc sách ở bất cứ lúc nào ngoài giờ lên lớp, tự lựa chọn loại sách mà mình yêu thích, đọc sách xong cẩn cất sách vào đúng nơi quy định, không tự chuyển sách sai khu vực quy định, tránh làm rách sách, cần tự giác giữ gìn sách.

* Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:

– Giải pháp mới đã khắc phục được những tồn tại mà giải pháp cũ chưa làm được.

– Đáp ứng được hướng tiếp cận lấy quyền trẻ em làm nền tảng cho mọi hoạt động. Học sinh được tham gia vào tất cả các bước xây dựng thư viện xanh, thân thiện tại trường, từ khâu lập kế hoạch đến khâu giám sát và đánh giá.

– Thực hiện thư viện xanh, thân thiện hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học. Với các góc hoạt động mở, đa dạng về hình thức, với không gian thư viện xanh thân thiện là nơi tạo điều kiện thuận tiện nhất cho học sinh cũng như giáo viên chủ động khám phá và tìm tòi kiến thức.

– Đến với thư viện xanh, thân thiện học sinh có thể tự do lựa chọn các hoạt động, các cuốn sách yêu thích và tìm kiếm những thông tin bổ trợ cho các bài học trên lớp hoặc các em tham gia vào các hoạt động khác như đọc, viết, nghe nhạc, làm thơ… Các hoạt động đó làm nền tảng cho sự sáng tạo của học sinh, đồng thời làm cơ sở cho giáo viên áp dụng các phương pháp dạy học mới.

– Thư viện xanh là nơi giáo viên, học sinh có thể đọc sách ở bất cứ thời gian nào, kể cả thời gian ngoài giờ hành chính. Các em có thể đọc sách trong thời gian chờ bố mẹ đón về cuối mỗi buổi học hoặc có thể viết, vẽ… những ý tưởng sáng tạo dưới bóng cây râm mát.

– Thư viện xanh, thân thiện có khả năng thúc đẩy sự phát triển đồng đều của tất cả các kỹ năng. Thông qua các góc hoạt động, các em có cơ hội để phát triển toàn diện. Các kỹ năng nhận thức có thể phát triển thông qua việc đọc sách và các trò chơi mang tính giáo dục. Kỹ năng vận động có thể được trau dồi thông qua các hoạt động thêu thùa, nặn đất…

* Một số hình ảnh về việc xây dựng và hoạt động trong thư viện xanh, thân thiện tại trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan.

(Có phụ lục kèm theo)

III. Hiệu quả của sáng kiến

Trong thời gian thử nghiệm, áp dụng các giải pháp nêu trên, chúng tôi đã thu được kết quả rất tốt trong hoạt động thư viện và góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường. cụ thể:

* Huy động nguồn sách:Từ công tác tuyên truyền, chúng tôi đã huy động được nguồn sách rất đáng kể vào thư viện nhà trường, phục vụ cho hoạt động của thư viện xanh, thân thiện:

* Cơ sở vật chất huy động xây dựng thư viện xanh, thân thiện năm học 2014- 2015:

* Hoạt động thư viện:

Từ mô hình hoạt động thư viện mở rộng và thân thiện, thư viện nhà trường đã thu hút được 100% cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh trong trường tham gia hằng ngày. Hoạt động thư viện thực sự sôi nổi và tạo ra không khí hào hứng, vui tươi, phấn khởi của cả phụ huynh cũng như CB, GV, NV và học sinh.

Số lượt giới thiệu sách của cán bộ thư viện cũng nhiều lên vì số sách mới được tăng lên hằng tuần và phương thức tiếp cận sách thuận lợi.

Các hoạt động vui chơi, thư giãn được học sinh hưởng ứng nhiệt tình, vì thế đã có nhiều cuộc thi các em tham gia đạt hiệu quả tốt như: Thi viết về thầy cô và mái trường, thi vẽ tranh ATGT , thi “Ý tưởng trẻ thơ”; thi làm thơ, báo tường, Tiếng hát sơn ca…

Hoạt động của thư viện đã góp phần rất lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường.

* Kết quả đạt được về chất lượng học sinh:

– Học sinh hoàn thành nội dung các môn học và các hoạt động giáo dục trong học kỳ 1: 100%

– Học sinh được khen thưởng trong học kỳ 1: 475/582 HS = 81.6%

– Học sinh đoạt giải trong các cuộc thi qua Internet cấp trường: 112 em

– Học sinh đoạt giải trong các cuộc thi qua Internet cấp huyện: 75 em

– Học sinh đoạt giải trong các cuộc thi qua Internet cấp tỉnh: 24 em

IV. Điều kiện và khả năng áp dụng

Muốn xây dựng thành công thư viện xanh, thân thiện ở trường tiểu học và sử dụng có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, trước tiên cần hiểu rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của thư viện trong trường học, ý nghĩa của việc sử dụng thư viện thân thiện, thư viện xanh trong nhà trường.

– Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động tới từng cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, các bậc cha mẹ học sinh, lãnh đạo địa phương và nhân dân trong toàn địa bàn về việc xây dựng thư viện thân thiện, thư viện xanh.

– Tổ chức hoạt động trong thư viện thân thiện, thư viện xanh thật sự khoa học và hiệu quả, vừa tạo ra không khí hào hứng, phấn khởi trong học sinh khi sử dụng thư viện nhà trường, vừa tạo ra nếp sống văn hóa, việc tự quản và tinh thần trách nhiệm khi sử dụng của công một cách hoàn toàn tự giác.

– Áp dụng hiệu quả thu được từ việc tham gia hoạt động trong thư viện nhà trường vào học tập và hoạt động ngoài giờ lên lớp như tổ chức các cuộc thi viết, vẽ, kể chuyện, hát, trò chơi giải trí…

– Chú ý tới việc tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc xây dựng và sử dụng thư viện thân thiện, thư viện xanh trong nhà trường.

Sau khi nghiên cứu và áp dụng đề tài trên tại trường mình, tôi nhận thấy rằng đề tài mà tôi nghiên cứu có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đổi mới hoạt động thư viện trong trường học và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục của trường Tiểu học Thị trấn Nho Quan.

Tôi nghĩ rằng, những giải pháp trên có thể áp dụng trong tất cả các trường tiểu học của huyện Nho Quan cũng như các trường tiểu học khác trong cả nước. Rất mong được sự góp ý của đồng nghiệp và các cấp quản lý giáo dục để đề tài nghiên cứu của tôi được hoàn thiện hơn, giúp tôi có thêm bài học kinh nghiệm, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao./.

Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường Học Tập Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Hoạt Động Tích Cực Ở Trường Mầm Non

Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập giúp trẻ 5-6 tuổi hoạt độngtích cực ở trường mầm non

1.Phần mở đầu1.1. Lí do chọn đề tài:Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non đã có nhiều đổi mới trong cáchnghĩ, cách làm, mạnh dạn bỏ đi những gì không phù hợp. Giáo dục mầm non đãtiến hành đổi mới toàn diện các mặt: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thứctổ chức, môi trường hoạt động và cách đánh giá. Như vậy, đổi mới môi trường hoạtđộng được coi là bước tiến lớn, đòi hỏi các nhà giáo dục phải tìm kiếm cách thứctổ chức môi trường tích cực bởi môi trường hoạt động là một trong ba yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển của trẻ mầm non (bản thân trẻ, người lớn, môi trường).Với trẻ mầm non chỉ học ở hoạt động học thôi chưa đủ, để trẻ phát triển hếtkhả năng, năng lực của mình mà trẻ chỉ thực sự học, thực sự được trải nghiệm khitham gia hoạt động tích cực ở các giờ chơi và mọi lúc mọi nơi. Vì thế việc tạo môitrường trong lớp cho trẻ hoạt động tích cực là việc làm hết sức cần thiết, nhằm tạođiều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân nhiều hơn, khám phá theo ý thích, khả năngcủa mình giúp trẻ phát hiện nhiều điều mới và hấp dẫn. Đồng thời giúp trẻ được

làm quen, củng cố kiến thức, bỗi dưỡng kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp xây dựng môi trường học tậpgiúp trẻ 5-6 tuổi hoạt động tích cực ở trường mầm non” được thực hiện trong nămhọc 2013-2014. Đề tài có thể áp dụng rộng rãi trong trường mầm non của huyệnnhà nói chung và đối với lớp mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng.

2. Phần nội dung2.1. Thực trạng:Năm học 2013-2014 bản thân tôi trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi vớitổng số là 42 cháu.

Bước vào thực hiện đề tài này lớp chúng tôi có được những

thuận lợi và gặp một số khó khăn sau:2.1.1. Thuận lợi:– Hoạt động của lớp được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Phòng GD-ĐT LệThủy, ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn.– Trường tôi là một trong những đơn vị được đầu tư xây dựng cơ sở vật chấtkiên cố, trang thiết bị khá đầy đủ đảm bảo việc học tập và sinh hoạt của trẻ.

– Bản thân tôi luôn tận dụng những nguồn nguyên vật liệu phế thải rồi xử lý

sạch để có thể biến chúng thành những dụng cụ học tập và đồ chơi đơn giản giúptrẻ được học, được khám phá và khắc sâu kiến thức.– Đa số phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng đối với bậc học mầm non,tích cực hỗ trợ nhà trường, lớp về tinh thần cũng như vật chất để xây dựng môitrường trong và ngoài lớp cho trẻ học tập.2.1.2. Khó khăn:Số lượng cháu trong lớp khá đông, nhiều cháu còn nhút nhát, không chủđộng tham gia các hoạt động tập thể.Trang thiết bị dạy học tuy đã được đầu tư mua sắm qua hàng năm khá đầy đủsong còn thiếu tính đồng bộ, ảnh hưởng phần nào đến việc chăm sóc giáo dục trẻ.Việc lựa chọn nguồn nguyên vật liệu, nơi cất giữ và bảo quản để đảm bảo sảnphẩm có độ bền cao, sử dụng lâu ngày còn khó khăn.Kết quả trẻ tham gia vào các hoạt động tích cực còn hạn chế, chưa hứng thúvào môi trường trong lớp; cụ thể qua đợt khảo sát đầu năm như sau:2.1.3. Khảo sát thực tế trẻ:

T

Thỉnh Tỷ lệ Thường Tỷ lệ Ghithoảng

%

xuyên

%

chú

Trẻ hoạt động tích cực1

vào môi trường đã tạo

16/42 38,1

19/42

45,2

7/42

16,6

16/42 38,1

20/42

47,6

6/42

14,2

24/42

57,1

8/42

19,0

trong lớpKỹ năng sử dụng môi2trường trong lớpHứng thú tham gia các

10/4

3

23,8hoạt động

2

2.1.4. Nguyên nhân:– Địa bàn trường đóng ở trung tâm nên con em của cán bộ công nhân viênchức đến tạm trú và học tại trường đông.– Trang thiết bị tuy đã được đầu tư qua hàng năm song vẫn chưa đáp ứng yêucầu của chương trình giáo dục mầm non mới.

việc sử dụng đèn chiếu, máy tính, bảng tương tác điện tử và còn đóng mới tủ nhômkính đựng các đồ dùng cá nhân trẻ phù hợp với số lượng trẻ ở lớp.2.2.2. Làm tốt công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ:Phải nói rằng việc tự học hỏi để nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp làđiều đặt lên hàng đầu cho mỗi giáo viên. Hiểu rõ điều đó, bản thân tôi đã tranh thủmọi cơ hội, điều kiện có thể để tìm tòi, học hỏi, sáng tạo bằng nhiều cách khácnhau: Tham quan trường bạn, dự giờ, tìm hiểu qua sách, báo, các phương tiệnthông tin đại chúng đặc biệt mạng internet là một kênh thông tin phong phú để tôikhám phá tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm cho bản thân.Luôn nắm vững đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi của trẻ để có các phương pháptác động phù hợp, kích thích tính tò mò, hứng thú ở trẻ.Nghiên cứu chương trình GDMN mới để nắm vững mục tiêu, nội dung,phương pháp giáo dục nhằm xây dựng môi trường cho trẻ phù hợp.Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chuyên đề của trường, của phòng, của sở,của Bộ GD&ĐT. Tham gia lớp học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Luôn có ý thức học hỏi chị em đồng nghiệp trong trường, trong cụm như dựgiờ, tham quan để rút những kinh nghiệm cho bản thân trong công tác chăm sócgiáo dục trẻ.

Ở phòng đón trẻ, từ đầu năm học tôi đã thay đổi các mảng tuyên truyền vớihình thức đẹp, nội dung phong phú cập nhật thông tin cần thiết gần gũi với trẻ, vớiphụ huynh như mảng dành góc sinh nhật bé trong tháng, mảng dành cho bản tincủa lớp về chương trình giảng dạy, lịch sinh hoạt, mảng dành cho gia đình và bé.* Xây dựng góc hoạt động trong lớp.Hoạt động góc là một hình thức hoạt động đặc biệt trong đời sống của trẻmầm non, đó là nơi trẻ thỏa mãn sở thích, nhu cầu vui chơi, nhận thức và cảm nhậnvề thế giới xung quanh. Hoạt động góc giúp trẻ rèn luyện, củng cố kiến thức đãhọc, là nơi trải nghiệm, khám phá những cái mới và phát huy khả năng sáng tạocủa trẻ. Vì vậy, tôi đã bố trí các góc trong lớp phù hợp như:– Góc yên tĩnh xa góc ồn ào hoặc các góc có thể sắp xếp cạnh nhau như:+ Góc phân vai xa góc học tập, góc sách.+ Góc xây dựng và góc phân vai kề nhau tạo sự liên kết các nhóm chơi ởtrong hai góc, góc xây dựng tránh nơi đi lại.+ Góc thiên nhiên Tôi đã tận dụng khoảng hiên ngoài lớp cho trẻ hoạt độngthoải mái tránh sự ồn ào cho các góc khác.

Khi chơi, tôi chú ý bao quát, động viên, hướng dẫn trẻ triển khai nội dungchơi, chú ý những trẻ rụt rè nhút nhát. Có thể nhập vai cùng trẻ để gợi ý nội dungchơi khi trẻ lúng túng hay gợi ý trẻ sáng tạo nên các nội dung chơi mới dựa trên ýtưởng của trẻ.Ví dụ: Chủ đề: “Côn trùng”Góc nghệ thuật: Các nguyên vật liệu tôi chuẩn bị sẵn như cánh hoa, vỏ sò, lácây, cỏ, vỏ thạch dừa, keo dán, keo hai mặt, bìa đã phun màu nền. Khi chơi, trẻ đếngóc đã chọn nhưng còn lúng túng chưa biết làm gì với những nguyên vật liệu cô đãchuẩn bị sẵn. Tôi đến và hỏi trẻ: Những cánh hoa hồng này con thấy giống cánhcon côn trùng nào mà cháu từng thấy. Nếu lấy cánh hoa làm cánh (bướm, chuồnchuồn..) thì cháu sẽ chọn gì để làm mình? Cháu sẽ ghép và dán ở đâu? (trên giấy).Cô nghĩ chắc chắn những con côn trùng cháu làm sẽ rất đẹp, rất ngộ nghĩnh và dễthương.Trong giờ chơi, tôi luôn giáo dục trẻ chơi cùng bạn, không giành đồ chơi củabạn, cất dọn đồ chơi gọn gàng vào chỗ cũ sau khi chơi xong.– Muốn quản lý trẻ tốt, tôi đã làm kí hiệu ở các góc hoạt động để theo dõi trẻnhằm giúp trẻ chơi ở tất cả các góc trong năm học. Kí hiệu của trẻ ở các góc trùngvới các ký hiệu của trẻ ở đồ dùng cá nhân trẻ.

* Ở hoạt động mọi lúc mọi nơi.Song song với việc tổ chức hoạt động học, hoạt động ở các góc chơi tôi luônchú ý để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.Trong các ngày lễ, ngày hội tôi tổ chức các hoạt động chiều, hoạt động theo ýthích…cho trẻ tham gia, qua đó giáo dục trẻ biết chia sẽ quan tâm và chăm sócngười thân. (Ví dụ: Ngày 8/3 tổ chức cho trẻ làm thiệp tặng mẹ, tặng bà, tặng côgiáo khơi gợi ở trẻ lòng biết ơn và kính trọng mẹ, bà, cô giáo qua những sản phẩmtrẻ tự làm).Tổ chức các lễ hội có nội dung phong phú, gẫn gũi đời sống trẻ: “Giai điệumùa xuân”, “Ngày hè”, “Mừng sinh nhật”. Các buổi đó trẻ không chỉ múa hát, đọcthơ, kể chuyện mà còn được chơi các trò chơi dân gian: ném còn, đua thuyền, đuavịt, đi chợ quê với quang gánh, rau, củ, quả, những đặc sản quê hương như bánhđúc, bánh tráng…Tất cả được trang trí trong một khung cảnh quê hương có cây tre,bụi chuối, trẻ được mặc áo quần bà ba, tứ thân, váy yếm, khăn đóng áo dài…. Quađó, trẻ được tăng cường mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ với trẻ, trẻ và cô, trẻ vớingười lớn….Điều này giúp trẻ tự tin khẳng định mình, biết cùng nhau hoạt độngtrong nhóm, biết chia sẽ ý tưởng để hoàn thành sản phẩm. Ở các ngày lễ hội tổchức trong lớp, trẻ không còn “chơi” chỉ để chơi nữa mà chơi thật trong cuộc sống.

* Kết quả đạt được.Qua quá trình thực hiện với những biện pháp và cách làm trên, việc tạo môitrường ở lớp tôi đạt được những kết quả đáng phấn khởi, cụ thể:– Đối với giáo viên:Trình độ chuyên môn được nâng lên rõ rệtXác định được vai trò định hướng các hoạt động cho trẻ, luôn tạo cơ hội chotrẻ phát huy tính tích cực và độc lập, rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ; có kinhnghiệm trong việc tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ theo tinh thần đổi mới.Các tiết dự giờ, thao giảng thanh kiểm tra của trường đều đạt kết quả tốt.

+ Chủ đề “Nghề nghiêp”: Bộ đồ chơi góc thiên nhiên: cuốc, cào, bình tướinước, xẻng; Bộ tranh chơi trò chơi góc học toán, 5 cái đàn ghi ta bằng gỗ, 10 cáIquạt bằng mo cau, 20 cái cào, 20 cái liềm, 30 hình ảnh các nguyên vật liệu và dụngcụ các nghề. 10 quyển tranh sưu tầm tranh về công cụ và sản phẩm các nghề.+ Chủ đê: “Thế giới động vật”: 40 con rùa, 40 con cua (làm vằng võ ngao,gáo dừa), 40 con bướm, 20 con lợn, 20 con gà, 25 con chó, 40 mũ múa các con vật,40 bộ bảng học toán tách gộp hai nhóm đối tượng trong phạm vi 4.+ Chủ đề: “Thế giới thực vật”: 10 cây ăn quả, 20 quả su hào, 20 củ cà rốt, 20củ cải trắng, 30 hoa sen, 15 cây hoa các loại.+ Chủ đề: “Quê Hương- Đất Nước- Bác Hồ- Trường tiểu học”: 10 thuyền nan,1 cây cầu, 1 trường tiểu học, 1 hồ sen, 1 lăng Bác Hồ cho trẻ lắp ghép, 3 chiếc nónkỳ diệu cho trẻ chơi trò chơi chữ cái, 10 cặp sách– Đối với trẻ:Hình thành những mối quan hệ tốt với trường lớp, với gia đình, bạn bè và xãhội; phát triển kiến thức về môi trường xung quanh và những kinh nghiệm trongđời sống; đảm bảo an toàn về thể chất, tâm lý và đáp ứng nhu cầu trẻ.

Trẻ hứng thú tích cực tham gia hoạt động; kiến thức, kỹ năng được củng cố,nhiều trẻ tỏ ra mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, khả năng sáng tạo được bộc lộ rõrệt, thể hiện rõ trong bản điều tra trẻ cuối học kỳ 1 vừa qua:

TT

Tiêu chí

Chư

Tỷ

Thỉnh

Tỷ

Thườn Tỷ lệ Ghi

a có lệ % thoảng

lệ

g xuyên

%

Trẻ hoạt động tích cực1

0

0

3/42

7,1

39/42

92,9

0

0

4/42

9,5

38/42

90,4

0

0

0

42/42

100

vào môi trường đã tạotrong lớp

2

Kỹ năng sử dụng môi2

trường trong lớp

3 Hứng thú tham gia các3

hoạt động– Đối với phụ huynh:

0

chú

Nhờ đó, bản thân đã rút được những bài học kinh nghiệm quý sau:– Làm tốt công tác tham mưu với Ban giám hiệu nhà truờng trong việc muasắm các trang thiết bị, các loại đồ dùng đồ chơi phục vụ việc dạy và học.– Tăng cường công tác tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệpvụ và tay nghề cho bản thân.– Tích cực chủ động tìm tòi, học hỏi, sưu tầm các nguyên vật liệu khác nhauđể xây dựng môi trường học tập cho trẻ sạch, đẹp, an toàn, thân thiện nhằm thựchiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới và phong trào thi đua: “Xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực”.– Tổ chức tốt cho trẻ hoạt động với môi trường học tập trong lớp.– Xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và giáo viên, giáoviên và trẻ; đoàn kết, gắn bó với phụ huynh trong việc tuyên truyền phối hợp nângcao chất lượng CS-GD trẻ và hỗ trợ lớp về vật chất cũng như tinh thần trong cáchoạt động CS – GD trẻ.– Tổ chức các hoạt động tập thể gần gũi vui tươi lành mạnh cho trẻ.Kết quả của việc tạo môi trường học tập trong lớp cho trẻ hoạt động tích cực ởlớp mẫu giáo 5-6 tuổi do tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2013 -2014 bước

đầu có những hiệu quả tích cực đối với giáo viên, đối với trẻ và phụ huynh nhưngbản thân thân nhận thấy vần còn nhiều vấn đề cần tiếp tục học hỏi, tìm kiếm giảipháp, đúc rút kinh nghiệm ở các đơn vị bạn để làm thế nào xây dựng môi trườnghọc tập trong lớp cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng và trẻ mẫu giáo trong trường nói để trẻnhư được sống cuộc sống thực của mình. Bản thân rất mong nhận được sự góp ý,trao đổi ý kiến của Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học Phònggiáo dục va Đào tạo Lệ Thủy để giúp tôi có kinh nghiệm tốt hơn trong việc xâydựng môi trường học tập cho trẻ hoạt động tích cực.3.2. Kiến nghị, đề xuất:* Đối với nhà trường:– Tham mưu với các cấp để có nguồn kinh phí mua sắm các loại đồ dùng, đồchơi, trang thiết bị phù hợp phục vụ các hoạt động trong nhóm, lớp.– Tổ chức cho giáo viên được đi tham quan trường bạn để học tập kinhnghiệm trong việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ hoạt động tích cực.– Tổ chức tập huấn cho giáo viên chuyên đề xây dựng môi trường học tập chotrẻ hoạt động tích cực.* Đối với Phòng giáo dục & Đào tạo Lệ Thủy:

Đề Tài Giải Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Học Sinh Yếu Kém Ở Trường Trung Học Cơ Sở Ninh Điền

BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI – Tên đề tài: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM Ở TRƯỜNG THCS NINH ĐIỀN – Họ và tên tác giả: NGUYỄN HUY HÙNG – Đơn vị công tác: Trường THCS Ninh Điền. 1. Lý do chọn đề tài: Thực tế trong những năm gần đầy chất lượng có chiều hướng đi xuống, thể hiện qua các kỳ thi tốt nghiệp, chuyển cấp, trong từng cấp học. Vấn đề học sinh yếu kém là một vấn đề nan giải cần được giải quyết. Qua năm năm thực hiện theo cuộc vận động hai không của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và qua thời gian quản lý toå chuyên môn tôi nhận thấy ở trường THCS Ninh Điền vẫn còn tồn tại nhiều học sinh yếu kém, đa số học sinh ở vùng sâu, vùng xa, con công nhân và dân lao động nghèo chưa được phụ huynh quan tâm đến việc học tập của các em. Bên cạnh đó, vẫn còn một số ít giáo viên chưa thật sự quan tâm đúng mức đến đối tượng này. 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: – Đối tượng nghiên cứu: Những giải pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém. – Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu các tài liệu, điều tra, so sánh, đưa ra giải pháp và rút ra kinh nghiệm cho bản thân. 3. Đề tài đưa ra giải pháp mới: Để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn phải có kế hoạch tổ chức bồi dưỡng học sinh yếu kém ngay khi vừa bắt đầu năm học mới, phân công giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy; đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với hiệu trưởng nhà trường, với tổ trưởng các tổ chuyên cũng như với phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn để tìm ra những biện pháp phù hợp giúp nâng cao chất lượng học sinh. 4. Hiệu quả áp dụng: Qua thực tiễn kiểm nghiệm, đề tài đã đem lại một số kết quả đáng khích lệ: Tỉ lệ học sinh yếu kém qua các đợt khảo sát giảm dần. 5. Phạm vi áp dụng: Với những phương pháp nêu trên, đề tài không chỉ áp dụng ở trường THCS Ninh Điền mà còn áp dụng được cho các đơn vị bạn. Ninh Điền, ngày 16 tháng 04 năm 2011 NGƯỜI THỰC HIỆN Nguyễn Huy Hùng PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hiến pháp nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam năm 1992 đã xác định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” (Điều 35). Luật giáo dục năm 2005 cũng đã nêu rõ: “Tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo mục tiêu, chương trình giáo dục” (Điều 53) nhằm giúp học sinh hoàn thành chương trình và tốt nghiệp bậc học, người thầy giáo còn có một nhiệm vụ rất quan trọng là quan tâm bồi dưỡng học sinh yếu kém để các em có được những kiến thức cơ bản; Chính điều này, trong năm học 2010 – 2011 chúng ta tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chỉ thị 33 của Thủ tướng chính phủ về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Hai không” với bốn nội dung của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, thực hiện nghiêm túc quy chế thi, quy chế về chuyên môn…. Tiếp tục thực hiện đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục, công tác kiểm tra và đánh giá khách quan chất lượng học sinh, không để tình trạng học sinh không đạt yêu cầu được lên lớp, nhất là học sinh ở cuối cấp. Thực tế trong những năm gần đầy chất lượng có chiều hướng đi xuống thể hiện qua các kỳ thi, kiểm tra. Vấn đề học sinh yếu kém là một vấn đề nan giải cần được giải quyết. Qua năm năm thực hiện theo cuộc vận động “Hai không” của Bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và thời gian làm công tác chuyên môn tôi nhận thấy ở trường THCS Ninh Điền vẫn còn tồn tại nhiều học sinh yếu kém, đa số học sinh ở vùng sâu, vùng xa, con công nhân và dân lao động nghèo chưa được phụ huynh quan tâm đến việc học tập của các em. Bên cạnh đó, vẫn còn một số ít giáo viên chưa thật sự quan tâm đúng mức đến đối tượng này. Chính vì thế, người phụ trách về chuyên môn cần phải tìm ra giải pháp quản lý, chỉ đạo để nâng cao chất lượng học sinh yếu kém, cho nên tôi quyết định chọn đề tài “Giải pháp quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém ở trường THCS Ninh Điền “. 1.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU – Công tác chỉ đạo của tổ chuyên môn. – Biện pháp nâng cao chất lượng và phụ đạo học sinh yếu kém của giáo viên bộ môn. – Thực trạng học sinh qua các bài kiểm tra, khảo sát chất lượng. 1.3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đề tài chỉ nghiên cứu áp dụng trong phạm vi quản lý, chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém ở nhà trường. Từng bộ môn giảng dạy. 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Quá trình thực hiện đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau: Nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu nghiên cứu về quản lý giáo dục. Điều lệ trường Trung học. Công văn số 1384/SGD&ĐT-GDTrH (Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2010 – 2011). Công văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Bậc THCS năm học 2010 – 2011 của phòng GD&ĐT Châu Thành. b.- Điều tra nghiên cứu về thực trạng chất lượng học sinh trong trường 3 năm qua. Đối chiếu kết quả và tìm ra giải pháp thích hợp cho việc quản lý chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém. PHẦN 2: NỘI DUNG 2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM CẤP THCS Khái niệm giải pháp quản lý giáo dục “Giải pháp quản lý là phương pháp được sử dụng để tiến hành giải quyết những công việc cụ thể của công tác quản lý nhằm đạt được những mục tiêu quản lý” (trích Đại từ điển tiếng Việt). Mặt khác, tác giả Nguyễn Ngọc Quang đã nêu về quản lý giáo dục như sau: “Quản lý giáo dục là những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng …đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” Như vậy quản lý, chỉ đạo công tác giáo dục chính là quản lý nhà trường, tìm ra cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể để tác động đến đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng, quyết định đến việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường theo kế hoạch đề ra từng năm học và theo yêu cầu phát triển giáo dục. 2.1.2. Chất lượng dạy học và hiệu quả giáo dục của giáo viên Theo tác giả Nguyễn Công Giáp, bàn về phạm trù chất lượng và hiệu quả giáo dục có nêu: “Chất lượng dạy học của giáo viên được thể hiện bằng chất lượng học tập của học sinh dựa vào tiêu chí, thành tích về học tập, tỉ lệ lên lớp, tỉ lệ tốt nghiệp …” Theo Rudi Schollaer một chuyên gia giáo dục người Bỉ: Chất lượng ngày nay được gắn với thị trường: “Chất lượng bằng sự thoả mãn của khách hàng”. Ông ta cho rằng nhà trường cần tạo ra những môi trường học tập lớn lao để nâng cao chất lượng của quá trình cơ bản là học và dạy. Nếu như những phương sách cải tiến của nhà trường không gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc học tập và thành tích của học sinh thì chắc chắn là chúng ta chỉ đang lãng phí thời gian mà thôi. Cho nên, việc nâng cao chất lượng học sinh yếu kém là nhằm mang lại hiệu quả thật sự, là giúp học sinh lấy lại được căn bản, củng cố lại kiến thức. Và người quản lý về chuyên môn phải tìm ra được giải pháp, cách nghĩ, cách làm, đồng thời tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất lẫn tinh thần để giáo viên có thể toàn tâm, toàn ý với công việc giảng dạy của mình. Hơn nữa, sản phẩm giáo dục được tạo ra không chỉ do từng giáo viên riêng rẽ, mà của tập thể giáo viên qua từng lớp học phải có sự tác động quản lý của người gần gũi với mình sao cho các hoạt động giáo dục được diễn ra một cách đồng bộ, nhịp nhàng và cuối cùng đạt hiệu quả cao. 2.1.3 Yêu cầu đối với giáo viên – Thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động học tập với các hình thức phong phú, đa dạng, có sức hấp dẫn phù hợp với đặc trưng bài học, với đặc điểm và trình độ học sinh, với điều kiện của lớp, trường và địa phương. – Động viên, khuyến khích, tạo cơ hội và điều kiện cho học sinh được tham gia một cách tích cực, chủ động, sáng tạo vào quá trình khám phá và lĩnh hội kiến thức; chú ý khai thác vốn kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng đã có của học sinh; tạo niềm vui, hứng khởi, nhu cầu hành động và thái độ thự tin trong học tập cho học sinh; giúp các em phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân. – Thiết kế và hướng dẫn học sinh thực hiện các câu hỏi, bài tập phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng; hướng dẫn sử dụng các thiết bị, đồ dùng học tập; tổ chức có hiệu quả các giờ thực hành; hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. – Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học một cách hợp lí, hiệu quả, linh hoạt, phù hợp với đặc trưng của cấp học, môn học, nội dung, tính chất của bài học, đặc điểm và trình độ học sinh, thời lượng dạy học và điều kiện cụ thể của nhà trường. 2.1.4. Yêu cầu đối với cán bộ quản lí giáo dục – Nắm vững chủ trương đổi mới giáo dục phổ thông thể hiện ở chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện, thiết bị, hình thức tổ chức dạy học và đánh giá kết quả giáo dục. – Tạo điều kịên thuận lợi cho giáo viên nâng cao chất lượng giảng dạy. – Có biện pháp quản lí, chỉ đạo nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong nhà trường một cách có hiệu quả; thường xuyên tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá chất lượng qua các kì thi khảo sát chất lượng. – Động viên, khen thưởng kịp thời những giáo viên thực hiện có hiệu qủa cao. 2.1.5 Quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về nâng cao chất lượng học sinh yếu kém Một trong những mục đích phát triển giáo dục của nhà trường trong giai đoạn hiện nay là phải nâng cao chất lượng giáo dục. Quản lí hoạt động giảng dạy ngày nay phải hướng cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường năng lực tự học của học sinh. Người hiệu trưởng cần quản lí tốt các tổ chức, thông qua tổ chức mà quản lí con người, quản lí công việc. Người làm công tác cần nắm vững các chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà Nước, hiểu rõ giáo viên và học sinh, các điều kiện thực tế ở địa phương, của nhà trường để đề ra những biện pháp đúng đắn mang tính khả thi cao. 2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.2.1. Đặc điểm tình hình nhà trường a. Đặc điểm: – Trường THCS Ninh Điền đóng trên địa bàn ấp Gò Nổi – xã Ninh Điền – huyện Châu Thành – Tỉnh Tây Ninh. Đây là một xã vùng sâu biên giới của huyện Châu Thành, đời sống kinh tế dân cư gần đây có chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều khó khăn. – Tổng số cán bộ giáo viên, nhân viên là 31 người/ 18 nữ. Được chia làm 3 tổ: Tổ Tự nhiên (gồm các môn: Toán, Lí, Hóa, Sinh, CN, TD, Nhạc); Tổ Xã Hội (gồm các môn: Văn, Sử, Địa, Anh, GDCD, MT) và tổ Văn phòng. – Trường có 10 phòng. Trong đó có 06 phòng học, 01 phòng Thư viện, 01 phòng Thiết bị, 01 phòng Văn phòng, 01 phòng Hội đồng. – Tình hình học sinh: Tổng số học sinh toàn trường 349/178 nữ/10 lớp + Khối 6: 86/45 nữ/2 lớp. + Khối 7: 92/49 nữ/3 lớp. + Khối 8: 101/42 nữ/3lớp. + Khối 9: 70/42 nữ/2 lớp. b. Tình hình: * Thuận lợi: – Đảng uỷ, UBND địa phương luôn quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà trường hoạt động. – Kinh tế của người dân tương đối ổn định và đang dần phát triển. – Cán bộ quản lí, giáo viên nhiệt tình trong công tác. – Đa số giáo viên trẻ tuổi, nhiệt tình trong công tác, nhạy bén trong việc tiếp thu cái mới nhất là tiếp cận những tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục. – Trang thiết bị, đồ dùng dạy học tương đối đầy đủ phục vụ giảng dạy, học tập. – Nhiều năm qua trường đạt danh hiệu tiên tiến nên đã xuất hiện nhiều nhân tố mới trong phong trào thi đua làm tiền đề cho năm học mới. * Khó khăn: – Do đời sống còn nhiều khó khăn, các bậc cha mẹ nặng lo công việc gia đình, ít quan tâm đến việc học hành của con cái và chưa phối hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục và quản lí các em. – Địa bàn quá rộng, học sinh đi học còn nhiều khó khăn nhất là mùa mưa. 2.2.2. Thực trạng công tác quản lí chỉ đạo nâng cao chất lượng học sinh yếu kém ở nhà trường trong thời gian qua a. Kết quả đạt được: Nhờ phát huy thế mạnh sẵn có của nhà trường như đội ngũ giáo viên và có kế hoạch chỉ đạo dài hạn, có các biện pháp tổ chức khoa học, khâu bồi dưỡng hợp lý, nên hàng năm nhà trường giảm được tỉ lệ học sinh yếu kém, tuy nhiên tỉ lệ giảm chưa cao (do các điều kiện khách quan tác động vào). Kết quả cụ thể như sau: Năm học Học sinh yếu kém Khối 6 Khối 7 Khối 8 Khối 9 2009 – 2010 12.1% 19.2% 18.4% 2010 – 2011 ( Cuối HK I) 22.1% 9.8% 16.8% 5.7% Thống kê số liệu học sinh yếu kém đầu năm(KSCL đầu năm); cuối học kỳ I và KSCL giữa học kì II năm học 2010 – 2011 trước và sau học bồi dưỡng các bộ môn Toán, Văn, Anh như sau: * Khối 6: Môn Tỉ lệ học sinh kém đầu năm (chưa học bồi dưỡng) Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL học kỳ I Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL giữa học kỳ II Văn 32.6% 22.1% 7.1% Toán 24.4% 31.4% 20.9% Anh văn Không KSCL 20.2% 9.4% * Khối 7: Môn Tỉ lệ học sinh kém đầu năm (chưa học bồi dưỡng) Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL học kỳ I Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL giữa học kỳ II Văn 27.1% 16.3% 10% Toán 25% 26.1% 22.4% Anh văn 22.8% 5.4% 19.1% * Khối 8: Môn Tỉ lệ học sinh kém đầu năm (chưa học bồi dưỡng) Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL học kỳ I Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL giữa học kỳ II Văn 29.7% 11.9% 22.7% Toán 22.8% 34.7% 25.8% Anh văn 14.9% 31.7% 8.25% * Khối 9: Môn Tỉ lệ học sinh kém đầu năm (chưa học bồi dưỡng) Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL học kỳ I Tỉ lệ học sinh kém qua kỳ KSCL giữa học kỳ II Văn 25.3% 11.4% 4.7% Toán 19.7% 24.3% 25.4% Anh văn 23.9% 12.9% 12.5% b. Một số hạn chế: – Trước tình hình học sinh cấp I lên cấp II ngày càng có xu hướng giảm đi về chất lượng nhất là ở vùng nông thôn, đa số là con nông dân và dân lao động nghèo, ít được sự quan tâm của phụ huynh. – Vì không có nền kiến thức tốt từ cấp I nên số học sinh vào trường THCS yếu rất nhiều muốn củng cố lại kiến thức phải mất nhiều công sức, thời gian và rất cần các biện pháp khoa học, hợp lý mới mong đạt hiệu quả. – Bên cạnh đó, trường vẫn có một đội ngũ giáo viên tốt, có lương tâm nghề nghiệp nếu biết tác động quản lý hợp lý thì sản phẩm giáo dục được tạo ra sẽ có kết quả cao. c. Nguyên nhân: – Do ảnh hưởng của công tác phổ cập, hoàn cảnh kinh tế gia đình. – Do nhận thức của người dân chưa cao, chưa coi trọng việc học dẫn đến chất lượng học sinh còn nhiều yếu kém. 2.3. PHƯƠNG HƯỚNG QUẢN LÍ, CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM Ở NHÀ TRƯỜNG 2.3.1. Việc chỉ đạo chọn đối tượng học bồi dưỡng – Phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn lập danh sách những học sinh có học lực yếu kém. Cách chọn kết hợp qua các kỳ kiểm tra đánh giá ( bài kiểm tra định kì) và qua các kỳ thi chính thức (các bài KSCL các vòng), những trường hợp cá biệt giáo viên bộ môn phát hiện trong quá trình giảng dạy và đưa lên. – Phối hợp cùng giáo viên chủ nhiệm thông báo đến phụ huynh có học sinh yếu kém thông qua sổ liên lạc, họp phụ huynh học sinh định kì. – Trong suốt năm học vẫn duy trì dạy bồi dưỡng học sinh yếu kém. 2.3.2. Việc chỉ đạo phân công giảng dạy học sinh yếu kém – Ngay từ đầu năm học, họp cùng các tổ trưởng chuyên môn bàn về kế hoạch, biện pháp quản lý, tổ chức, phân công giáo viên dạy bồi dưỡng để thống nhất kế hoạch bồi dưỡng sớm và trong suốt năm học (bồi dưỡng trái buổi). – Yếu tố giáo viên cũng rất quan trọng vì thế tôi phân công giáo viên có năng lực, kinh nghiệm bồi dưỡng để kích thích tinh thần học tập của học sinh. Giáo viên bộ môn sẽ bồi dưỡng học sinh yếu kém chịu trách nhiệm về chất lượng học sinh môn mình dạy. – Yêu cầu các tổ chuyên môn và các giáo viên bộ môn được phân công phải có chương trình bồi dưỡng học sinh yếu kém riêng (kết hợp với chương trình của ngành) xem đây là một chuyên đề của tổ hoặc giải pháp cá nhân có đánh giá khen thưởng. – Kết hợp chặt chẽ giữa Ban giam hiệu – tổ trưởng trong việc theo dõi các giờ giảng, nhất là tạo điều kiện về thời gian, tài liệu để tiết dạy có hiệu quả, tránh dạy không đủ tiết, chất lượng không cao hoặc dạy còn bỏ sót kiến thức theo chương trình để còn lỗ hỏng kiến thức. – Giáo viên bộ môn phải chú ý cải tiến phương pháp dạy học, giúp học sinh tự học, tự tìm tòi, nghiên cứu nhằm lấy lại kiến thức căn bản. 2.3.3. Việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên tham gia bồi dưỡng học sinh yếu kém – Ngoài việc giáo viên phải nhiệt tình, chịu khó sưu tầm tài liệu, có kinh nghiệm, tổ chuyên môn thường xuyên trao đổi về chuyên môn, giúp nhau về tài liệu. – Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng các chuyên đề mà trong giảng dạy đối tượng này thường gặp khó khăn hoặc giảng dạy chưa có hiệu quả, được đánh giá là một giải pháp khoa học mang tính phổ biến rộng rãi lưu lại trong tổ. – Học tập kinh nghiệm ở các trường bạn để giáo viên có tầm nhìn rộng hơn, có nhiều kinh nghiệm hơn nhằm kích thích sự ham học của học sinh yếu kém. 2.3.4. Tổ chức khen thưởng, động viên giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh yếu kém – Bồi dưỡng học sinh giỏi đã khó, bồi dưỡng học sinh yếu kém đạt chất lượng lại càng khó hơn. Vì thế cần phải có sự động viên, đây là biện pháp quan trọng nhằm kích thích, động viên sự tích cực hoạt động và nhiệt tình của giáo viên làm cho chất lượng và hiệu quả công việc ngày càng tốt hơn, điều quan trọng là làm sao lôi cuốn được phòng trào học bồi dưỡng của học sinh yếu kém vì đối tượng này rất ngán học. – Ban giám hiệu cần có biện pháp kích thích giáo viên về mặt tinh thần (khen trước hội đồng đối với giáo viên đạt chỉ tiêu đề ra). – Sự quan tâm đặc biệt của Ban giám hiệu là điểm rất quan trọng, giúp giáo viên hết mình với trường, với phong trào như: Thường xuyên thăm hỏi, trao đổi về công tác bồi dưỡng học sinh yếu kém của họ, giúp đỡ ngay khi có khó khăn, đề xuất, đừng để họ nản chí, luôn tạo cho giáo viên sự hưng phấn trong quá trình bồi dưỡng, từ đó chính mình cũng phát hiện ra những giải pháp hay mà mình cần phải tiếp tục chỉ đạo trong công tác này. 2.3.5. Nhiệm vụ của người quản lý chuyên môn Kết hợp với tổ trưởng, giáo viên bộ môn: – Đầu năm học tiến hành khảo sát chất lượng ở tất cả các môn từ khối 6 đến khối 9 nắm được số liệu học sinh yếu kém có hướng bồi dưỡng cụ thể. – Tiến hành cho bồi dưỡng tập trung ở những môn có học sinh yếu kém như: Văn, Toán, Lý, Hóa, Sinh, Anh Văn, … – Đến khảo sát giữa học kỳ I: đối chiếu số liệu so đầu năm. Những môn nào có tỉ lệ giảm vẫn tiếp tục bồi dưỡng, đối với những môn có tỉ lệ yếu kém tăng so với đầu năm phải cùng giáo viên bộ môn, tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra giải pháp phù hợp. – Cuối học kỳ I, tiếp tục đối chiếu với khảo sát giữa học kỳ I để kịp thời xử lý những tồn tại và có kế hoạch tiếp theo cho học kỳ II…. Như vậy trong năm học sẽ tổ chức năm lần khảo sát chất lượng (bao gồm hai lần thi học kỳ) để đối chiếu kết quả, có hướng xử lý cụ thể. 2.4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, CHỈ ĐẠO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HỌC SINH YẾU KÉM DÀI HẠN 2.4.1. Việc rà soát, giúp đỡ học sinh yếu kém Căn cứ kết quả các kì khảo sát chất lượng, phân tích, lập danh sách những học sinh học lực loại yếu và loại kém, kể cả nhựng học sinh trung bình có biểu hiện giảm súc chất lượng học tập, xác định mức độ và nguyên nhân yếu kém của học sinh ở từng môn học, từ đó xây dựng kế hoạch và tổ chức phụ đạo, giúp đỡ các em vươn lên trong học tập. Nhà trường phải thông báo đến tận gia đình mỗi học sinh, cùng với gia đình học sinh, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn bàn bạc, thống nhất kế hoạch phụ đạo. Việc tổ chức phụ đạo cho học sinh được xem là một trong những hoạt động bình thường của nhà trường, tránh căng thẳng, phân biệt đối xử, ảnh hưởng đến tâm lí học tập. Nhà trường phải có kế hoạch cụ thể, tổ chức khoa học, phân công những giáo viên có năng lực, có trách nhiệm cao tham gia phụ đạo cho học sinh; có thể tổ chức chung cho một số lớp hoặc theo khối lớp; lập danh sách có kiểm tra,cho điểm, đánh giá, theo dõi kết quả học tập phụ đạo của mỗi h

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Tiếp Tục Chỉ Đạo Xây Dựng “Trường Học Thân Thiện, Học Sinh Tích Cực” Ở Trường Tiểu Học Trung Hưng trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!