Xem Nhiều 2/2023 #️ Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức # Top 4 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thực tế cho thấy việc đó đòi hỏi giáo viên phải chủ động lựa chọn  nội dung theo từng đối tượng học sinh, tức là phải dạy học xuất phát từ trình độ, năng lực, điều kiện cụ thể của từng học sinh. Điều đó có nghĩa là phải “cá thể hoá” dạy học, giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập. Điều đó không có nghĩa là làm giảm vai trò của người giáo viên mà chính là làm tăng vai trò chủ động, sáng tạo của họ. Điều đó cũng kéo theo sự thay đổi hoạt động học tập của học sinh. Mục đích của việc làm này là nhằm tạo điều kiện cho mọi học sinh có thể học tập tích cực, sáng tạo, chủ động theo khả năng của mình trong từng lĩnh vực. Cách dạy này gọi là: “Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh” (phương pháp dạy học toán). Vì lý do trên mà trong sáng kiến kinh nghiệm này tôi đưa ra một số biện pháp gây hứng thú trong giờ học toán cho học sinh tiểu học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tự tìm tòi khám phá kiến thức mới góp phần nâng cao chất lượng trong các giờ học toán. II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU I. Thực trạng của lớp: I.1 Thuận lợi Cơ sở vật chất đảm bảo, đủ ánh sáng thoáng mát. Các em đã qua chương trình học lớp 1 dến lớp 4 của môn toán và đã làm quen với các phép tính cơ bản và làm quen với phần phân số, Các em được đào tạo theo chẩn mực của học sinh từ những năm trước nên nề nếp lớp ổn định và các em tương đối ngoan trong các giờ học. I.2. Khó khăn Tâm lý học sinh hiện nay, việc học môn toán, các em rất ngại hay nói đúng hơn là sợ do còn yếu và ít học toán. Thời gian tập trung cho việc học toán còn ít. Do vậy, học sinh không phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng tạo trong khi học môn toán, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa, trừu tượng hóa của trí lực học sinh. Năm học trước, tôi áp dụng đề tài này cho lớp tôi và thấy có kết quả rất khả quan nên đến đầu năm học 2011-2012, được sự đồng ý của Hội đồng khoa học trường, tôi đăng ký thực hiện đề tài này cho học sinh lớp lớp 5A. Do đó, vào đầu năm học tôi thống kê các sai lầm của học sinh trong lớp tôi để tìm ra nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục ngay cho môn toán. Qua thống kê, tôi nhận thấy học sinh của lớp tôi học chưa tốt về môn toán do những nguyên nhân sau: Một số em tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự học chưa cao. Chưa hiểu và nắm được đầy các khái niệm trong môn toán và chưa có hứng thú trong môn học toán. II. Biện pháp thực hiện II.1. Tự tìm tòi, khám phá kiến thức trong học tập. Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội; con người không chỉ tiếp thu những cái đã có mà luôn chủ động tìm tòi, khám phá, sáng tạo ra những cái mới phục vụ cho nhu cầu và cuộc sống của mình. Tính tích cực trong học tập là tính tích cực trong hoạt động nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh nội dung học tập bằng hoạt động tìm tòi, khám phá. Hoạt động tìm tòi, khám phá là một chuỗi hành động và thao tác để hướng tới một mục tiêu xác định. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có nhiều dạng khác nhau, từ mức độ thấp đến mức đọ cao tuỳ theo năng lực tư duy của từng học sinh và được tổ chức thực hiện theo cá nhân hoặc theo nhóm. Hoạt động tìm tòi, khám phá trong học tập có thể tóm tắt như sau: A. Mục tiêu của hoạt động: – Hình thành kiến thức, kĩ năng mới. – Xây dựng thái độ, niềm tin cho học sinh. – Rèn luyện khả năng tư duy, năng lực xử lí tình huống, giải quyết vấn đề. B. Các dạng hoạt động: – Trả lời câu hỏi và đặt câu hỏi.(hỏi – đáp) – Lập bảng, biểu đồ, sơ đồ, phân tích dữ kiện. – Thông báo kết quả, kiểm định kết quả. – Đưa ra giải pháp, kiến thức mới. C. Hình thức tổ chức: – Hoạt động cá nhân. – Hoạt động theo nhóm (2 người hoặc 4 người). – Làm việc chung cả lớp. – Trò chơi. II.2. Tác dụng của hoạt động tự tìm tòi khám phá kiến thức mới. – Giúp học sinh rèn luyện tính chủ động, sáng tạo trong học Toán. – Học sinh sẽ hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức nếu như chính mình tìm ra kiến thức đó hoặc góp phần cùng các bạn tìm tòi, khám phá, xây dựng lên kiến thức đó. – Trong quá trình tìm tòi, khám phá học sinh tự đánh giá được kiến thức của mình. Cụ thể: + Khi gặp khó khăn chưa giải quyết được vấn đề, học sinh tự đo được thiếu sót của mình về mặt kiến thức, về mặt tư duy và tự rút kinh nghiệm. + Khi tranh luận với các bạn, học sinh cũng tự đánh giá được trình độ của mình so với các bạn để tự rèn luyện, điều chỉnh. – Trong quá trình học sinh tự tìm tòi, khám phá, Giáo viên biết được tình hình của học sinh về mức độ nắm kiến thức từ vốn hiểu biết, từ bài học cũ; trình độ tư duy, khả năng khai thác mối liên hệ giữa yếu tố đã biết với yếu tố phải tìm. – Học sinh tự tìm tòi, khám phá sẽ rèn luyện được tính kiên trì vượt khó khăn và một số phẩm chất tốt của người học Toán như: Tự tin, suy luận có cơ sở, coi trọng tính chính xác, tính hệ thống… II.3. Quy trình dạy học để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. II.3.1. Đặc trưng của cách dạy – Giáo viên đặt ra bài toán nhận thức chứa đựng mâu thuẫn hoặc mối quan hệ giữa cái đã biết với cái phải tìm theo cấu trúc một cách hợp lí, tự nhiên. – Học sinh tiếp nhận mâu thuẫn và được đặt vào tình huống có vấn đề. Khi đó học sinh được đặt vào trạng thái muốn tìm tòi, khám phá và chiếm lĩnh nội dung kiến thức. – Bằng cách giải bài toán nhận thức mà học sinh lĩnh hội được một cách tự giác và tích cực cả kiến thức và kĩ năng; từ đó có được niềm vui của sự nhận thức sáng tạo. II.3.2. Quy trình cụ thể. Bước 1: Ôn tập tái hiện Bước 2: Phát hiện, nêu vấn đề: Cho học sinh phát hiện ra những vấn đề chưa rõ và xem đó là vấn đề cần được giải quyết trong tiết học đó. Bước 3: Tổng hợp, so sánh và đề xuất ý tưởng: Bước 4: Dự đoán giả thuyết: Cho học sinh suy nghĩ tiếp và dự đoán hay đề xuất giả thuyết về nội dung kiến thức, kĩ năng mới. Bước 5: Kiểm tra giả thuyết: Cho học sinh kiểm tra giả thuyết đã đề xuất qua một số ví dụ cụ thể để khẳng định đó là kiến thức, kĩ năng mới. Bước 6: Rút ra kiến thức mới: Sau khi kiểm tra và khẳng định giả thuyết đó là đúng, Giáo viên cho học sinh phân tích tìm ra kết luận chung về kiến thức, kĩ năng mới. II.3.3. Một số lưu ý khi thực hiện cách dạy để học sinh tự tìm tòi, khám phá kiến thức mới. – Phải chú ý ngay từ việc soạn giáo án. Phải tập trung vào việc thiết kế các hoạt động của học sinh trước, trên cơ sở đó mới xác định các hoạt động chỉ đạo, tổ chức của Giáo viên. – Số lượng hoạt động và mức độ tư duy trong mỗi tiết học phải phù hợp với trình độ học sinh để có đủ thời gian tổ chức hoạt động tìm tòi, khám phá. – Nghiên cứu kĩ nội dung bài học, tìm kiếm các tinh huống có vấn đề, tạo cơ hội cho học sinh tìm tòi, khám phá. II.3.4. Một số ví dụ: II.3.4.1. Ví dụ 1: Tuần 1 – Bài: Phân số thập phân (trang 8 SGK) I. Mục tiêu. – Giúp học sinh nhận biết được các phân số thập phân. – Giúp các em biết được một số phân số có thể viết thành phân số thập phận và biết cách chuyển những phân số đó thành phân số thập phân. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu. 1. Kiểm tra bài cũ: (5 – 6 phút) – Kiểm tra viết tất cả học sinh trong lớp ( có thể dùng phiếu kiểm tra). (1 học sinh lên bảng làm , yêu cầu học sinh này trình bày ở bảng bên trái.) Đề bài Đáp án (Học sinh làm) a) So sánh với = = = = b) với = = = = 2. Bài mới a) Giới thiệu bài: Dựa vào các bài làm trên bảng, giáo viên dùng thước để chỉ vào những phân số nói đến: Để so sánh với ta so sánh hai phân số tương đương là với , để so sánh với ta so sánh 2 phân số tương ứng là với , những phân số này…… và phân số (giáo viên dùng phấn màu đóng khung 5 phân số đó) gọi là phân số thập phân. Từ đó giáo viên giới thiệu tên bài mới VD: Phân số thập phân b. Giới thiệu về phân số thập phân: ( 15 – 18 phút) *) Nhận biết phân số thập phân. – Dựa vào 5 phân số trên, mỗi học sinh trong lớp viết vào giấy nháp 2 phân số thập phân và hai phân số không phải là phân số thập phân (1 học sinh A lên bảng viết). – Tất cả lớp, dùng bút đánh dấu đặc điểm của phân số thập phân (học sinh A cũng làm tương tự ở bảng). – Ba, bốn học sinh nêu đặc điểm mà minh đánh dấu (trong đó có học sinh A) – Giáo viên tổng kết theo phần a (SGK) và yêu cầu cả lớp cầm bút gạch 1 gạch dưới 3 chữ: Có mẫu số và gạch 2 gạch dưới các số 10;100,1000;… (trong SGK) – Giáo viên viết sẵn 5 phân số (ở bài 3 trang 8) vào băng giấy rồi gắn lên bảng. Gọi 1 học sinh lên bảng, yêu cầu dùng bút hãy xoá những phân số không phải là phân số thập phân trong 5 phân số ở băng giấy đó – tất cả học sinh còn lại cũng dùng bút xoá tương tự ở bài 3 trang 8 SGK. – Cũng từ bài làm kiểm tra của học sinh ở trên (đáp án). Giáo viên chỉ và nói tiếp: Khi so sánh với ta đã chuyển thành và chuyển thành , … thế là ta đã làm 1 việc là chuyển từ 1 phân số thành 1 phân số thập phân. *) Chuyển 1 phân số thành phân số thập phân. Dựa theo cách chuyển như bài kiểm tra trên. – Từng em trình bày trong giấy nháp, chuyển và thành phân số thập phân. – Gọi 1 học sinh lên bảng làm. – Cả lớp sửa lại câu trên thành 1 câu đúng. (gọi 1 học sinh lên bảng viết câu đúng đó). – Giáo viên tổng kết và gắn lên bảng băng giấy đã viết sẵn cách chuyển. Cách chuyển: Tìm một số khi nhân với mẫu số để được 10, 100, 1000… rồi nhân số ấy với cả tử số và mẫu số sẽ được phân số thập phân. c. Thực hành ( 12 – 15 phút). Bài 1: Đọc phân số thập phân. Từng em trong lớp (gọi một học sinh lên bảng làm) ghi lời đọc cho từng phân số thập phân ở dưới phân số thập phân đó trong SGK. Theo mẫu. ; ; ; ; Chín phần mười Bài 2: Viết phân số thập phân. Tiến hành tương tự như trên. Theo mẫu: Bảy phần mười; hai mươi phần trăm; bốn trăm bảy mươi lăm phần nghìn; một phần triệu. Bài 4. Chuyển phân số thành phân số thập phân. + Tất cả học sinh điều làm bài ngay trong sách giáo khoa hoặc vào giấy nháp (gọi 2 học sinh lên bảng). Giáo viên chú ý kèm cặp, giúp đỡ những em còn yếu làm bài. II.3.4.2- Ví dụ 2: Tuần 15 – Bài: Giải toán về tỉ số phần trăm (trang 75 SGK) I. Mục tiêu. Giúp học sinh: – Biết cách tìm tỷ số phần trăm của hai số. – Biết vận dụng để giải các bài toán đơn giản có nội dung tìm tỷ số phần trăm của hai số. II. Các hoạt động dạy học chủ yếu * Hoạt động 1: Tổ chức cho học sinh nhắc lại khái niệm tỉ số phần trăm. chẳng hạn: GV nêu bài toán tương tự ví dụ 2 trang 74 trong SGK, ghi tóm tắt lên bảng: Số HS toàn trường: 400 Số học sinh nữ: 208 Sau đó hỏi học sinh: Tỉ số phần trăm của số học sinh nữ và số học sinh toàn trường là bao nhiêu? Hay: Số HS nữ chiếm bao nhiêu phần trăm số HS toàn trường? (Kết quả là 52%). * Hoạt động 2: Giới thiệu hoặc hướng dẫn HS cách tìm tỉ số phần trăm của hai số 315 và 600. – Gợi ý để HS có thể viết tỷ số của số HS nữ và số HS toàn trường (315 : 600). – Giao việc cho HS làm thế nào để đưa tỉ số (315 : 600) về tỉ số phần trăm. Từ đó xuất hiện vấn đề cần phải giải quyết. – Giúp HS tự tìm đọc cách giải quyết là thực hiện phép chia. Nếu không thì yêu cầu HS thực hiện phép chia (315 : 600 = 0,525). – Hướng dẫn để HS tự tìm thấy được là để chuyển tỉ số về tỉ số phần trăm thì phải nhân kết quả đó với 100 và chia cho 100. 0,525 x 100 : 100 = 52,5 : 100 = 52, 5%. – Từ đó dẫn dắt giúp học sinh nêu được quy tắc: + Chia 315 cho 600. + Nhân thương đó với 100 và viết kí hiệu % vào bên phải tích vừa tìm được. * Hoạt động 3: Hướng dẫn HS vận dụng để giải bài toán có nội dung tìm tỉ số phần trăm. – GV đọc bài toán hoặc gọi HS đọc bài toán trong SGK và giải thích: Khi 80 kg nước biển bốc hơi hết thì thu được 2,8 kg muối. Tìm tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển. – Hướng dẫn học sinh trình bày lời giải bài toán: Bài giải Tỉ số phần trăm của lượng muối trong nước biển là: 2,8 : 80 = 0,035 0,035 = 3,5 % Đáp số : 3,5 % * Hoạt động 4: Tổ chức cho HS luyện tập thực hành qua 3 bài tập. Bài 1: Cho HS nêu bài toán, GV giới thiệu mẫu. Yêu cầu HS làm vào vở, sau đó trao đổi kết quả với nhau. 0,3 = 30%; 0,234 = 23,4 %; 1,35 = 135 %. Bài 2: Giáo viên giới thiệu mẫu (cho HS thực hiện tính 19 : 30, dừng lại ở 4 chữ số sau dấu phẩy, viết 0,6333… = 63,33%). Cho HS tự làm bài, gọi 1 vài HS trình bày trên bảng rồi chữa bài. Kết quả là: 45 : 61 = 0,7377… = 73,77 %; 1,2 : 26 = 0,0461 … = 4,61 %. Bài 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu đề bài, tóm tắt bài toán, làm vào vở. GV chú ý giúp đỡ học sinh còn lúng túng. Có thể cho HS trao đổi theo nhóm để giải toán. Gọi HS trình bày trên bảng hoặc bảng phụ. Bài giải Tỉ số phần trăm của số HS nữ và số HS của lớp học là. 13 : 25 = 0,52. 0,52 = 52% Đáp số: 52% II.3.4.3- Ví dụ 3: Tuần 18 – Bài: Diện tích hình tam giác (trang 87 SGK) I/- Mục tiêu. – HS tự hình thành được công thức tính diện tích của hình tam giác. – Biết vận dụng công thức để tính diện tích hình tam giác. II/- Các hoạt động dạy học chủ yếu Hoạt động 1: Hình thành công thức tính diện tích hình tam giác. Bước 1: Tạo tình huống có vấn đề. GV: Đưa hình tam giác chuẩn bị sẵn (như hình vẽ 1), yêu cầu HS tính diện tích của hình tam giác (xem hình 1). 3cm 4cm Bước 2: Tổ chức cho HS phát hiện và tìm hiểu vấn đề (hoạt động theo nhóm nhỏ). – GV gợi ý để HS phát hiện được: Vấn đề được đặt ra là gì? (tính diện tích của hình tam giác). HS tìm cách giải quyết vấn đề? Bước 3: Tổ chức cho học sinh hoạt động giải quyết vấn đề. Cắt tam giác ghép thành hình chữ nhật (hình 2). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình bình hành (hình 3). Sử dụng hai tam giác bằng nhau, ghép thành hình chữ nhật (hình 4). Hoặc đếm số ô vuông nằm trọn trong tam giác (hình 1). Hình 2 Hình 3 Hình 4 – Các nhóm trình bày cách giải quyết vấn đề của nhóm mình và trao đổi ý kiến về các cách đó để tự rút ra được: Có 2 cách là thuận lợi hơn cả, đó là: Cách 1: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau ghép thành 1 hình bình hành. Cách 2: Sử dụng 2 tam giác bằng nhau cắt, ghép thành hình chữ nhật. (các cách khác nhau không thuận lợi bằng). GV có thể hướng dẫn: Theo cách 1: Dùng 2 tam giác bằng nhau ghép lại để tạo thành hình bình hành ABCD (như hình vẽ) A H H Cho học sinh so sánh, đối chiếu các yếu tố hình học trong hình để thấy: Hình bình hành ABCD gổm 2 hình tam giác bằng nhau ghép lại nên có diện tích gấp 2 lần diện tích hình tam giác ABC. Hình bình hành ABCD và hình tam gíc ABC có chung đáy BC và đường cao AH. Tính diện tích hình bình hành ABCD bằng cách: lấy đáy x chiều cao, tức là BC x AH. Rút ra cách tính diện tích hình tam giác ABC là: Từ đó nêu quy tắc và công thức tính như SGK Theo cách 2 (là cách trong SGK): Sử dụng mô hình chuẩn bị trước: Lấy ra 2 tam giác bằng nhau (trong đó có một tam giác đã chia làm hai mảnh) rồi ghép thành hình chữ nhật. Hoặc sử dụng giấy (đã chuẩn bị sẵn ở trên ), cắt đồng thời 2 tam giác bằng nhau (gấp đôi mảnh giấy, cắt theo hình tam giác đã vẽ), rồi cắt một tam giác (theo đường cao) được 2 tam giác nhỏ ghép vào tam giác kia để được hình chữ nhật. Bước 4: Tổ chức cho HS phân tích vấn đề và khái quát hoá vấn đề (hoạt động cá nhân kết hợp hoạt dộng chung cả lớp). + GV mô tả hoạt động cắt, ghép trên bằng hình vẽ: Đường cắt 1 2 1 2 + GV hướng dẫn HS so sánh, đồi chiếu các yếu tố hình học trong hình vừa ghép để nhận thấy: Chiều rộng của hình chữ nhật bằng chiều cao của hình tam giác, chiều dài của hình chữ nhật bằng cạnh đáy của hình tam giác. Từ đó, GV có thể gợi ý: * Viết ngắn gọn cách tính diện tích của hình chữ nhật? (Chiều cao x đáy). * So sánh diện tích của hình tam giác với diện tích của hình chữ nhật và rút ra cách tính diện tích của hình tam giác (chiều cao x đáy: 2); + GV nhận xét kết quả làm việc của HS, hướng dẫn HS khái quát hoá: S = a x b : 2, trong đó a là độ dài đáy, h là chiều cao tương ứng với đáy a (a và h có cùng đơn vị đo) S là diện tích (kèm hình vẽ). h a * Lưu ý HS: Cần ghi nhớ công thức, cách thành lập công thức để vận dụng trong những trường hợp khác sẽ gặp sau này. + Học sinh áp dụng công thức (vừa thành lập) để tính diện tích tam giác đã nêu trong bước 1 (3 x 4 : 2 = 6 (cm2)) Hoạt động 2: : Thực hành Bài 1: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo. + HS tự làm và nêu kết quả. HS khác nhận xét (cách tính và kết quả). 8 x 6 : 2 = 24 cm2; 2,3 x 1,2 : 2 = 1, 38 dm2. + GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. Nhận xét về đơn vị đo (đáy và chiều cao đều có đơn vị đo là cm (dm)), diện tích có đơn vị đo là cm2 (dm2). Bài 2: Tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao không có cùng đơn vị đo (1 bài) và 1 bài tính diện tích hình tam giác mà độ dài đáy và chiều cao có cùng đơn vị đo, số đo là số thập phân nhưng số chữ số ở phần nguyên khác nhau. + HS tự làm và nêu kết quả? HS khác nhận xét. a) 5m = 50 dm; hoặc 24 dm = 2,4 m. 50 x 24 : 2 = 600 (dm2); hoặc 5 x 2,4 : 2 = 6 (m2). b) 42,5 x 5,2 : 2 = 110,5 (m2) + HS phát hiện thêm vấn đề: số đo độ dài đáy và chiều cao không cùng đơn vị đo (câu a).+ GV tổ chức cho HS khá, giỏi giúp đỡ bạn. GV nhận xét, kết luận và nêu vấn đề: trước khi áp dụng công thức tính diện tích hình tam giác cần lưu ý điều gì? (đổi số đo độ dài đáy và chiều cao về cùng số đo) III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Kết quả đạt được: Lớp 5A GIỎI KHÁ TRUNG BÌNH YẾU SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) SL TL(%) Sĩ số:31 Nhờ vận dụng những biện pháp tạo tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán ở trên tôi thấy chất lượng môn Toán của lớp tôi tăng lên rất nhiều. Tôi đã đối chiếu bài kiểm tra cuối học kỳ II với bài kiểm tra Khảo sát đầu năm học năm như sau: IV. KẾT LUẬN Các biện pháp tạo ra tình huống có vấn đề trong tiết dạy Toán là rất quan trọng, nó mang lại rất nhiều lợi ích cho giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học. – Về nhận thức: đa số giáo viên trong nhà trường đều hiểu và xác định được vai trò và sự cần thiết của việc đổi mới phương pháp dạy học trong quá trình lên lớp. giáo viên, tổ chuyên môn đều xây dựng các giờ dạy thử, các giờ dạy mẫu nhằm định hình cho mình một phương pháp dạy học phù hợp trong từng bài dạy, tiết dạy. nếu trước kia giáo viên đổi mới phương pháp dạy học chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của bản thân thì nay dựa vào cơ sở khoa học và định hướng của đề tài mà giáo viên có một cách nhìn tổng thể để đổi mới phương pháp dạy học, nhờ đó mà thực hiện dễ dàng và hiệu quả hơn. Cách dạy này có một số ưu điểm sau: + Học sinh nắm chắc được kiến thức trọng tâm của bài. + Phát huy được tính chủ động, tích cực trong học tập. + Giáo viên không phải nói nhiều mà thay vào đó học sinh sẽ được thực hành nhiều. + Các tồn tại của những năm học trước đã được khắc phục ở năm học này. + Tiết học đảm bảo đúng thời gian quy định (không kết thúc sớm), tránh được sự đơn điệu trong bài học, thu hút sự chú ý của học sinh. Tôi xin trân thành cảm ơn Người viết Nguyễn Ngọc Ánh V. KIẾN NGHỊ 1. Đối với nhà

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Tự Học

gặp bạn bè. Nhưng ở các em biết tự học còn có thêm nhiều niềm vui nữa. Đó là: hiểu bài, biết thêm nhiều tri thức mới, tự tạo ra sản phẩm, cảm thấy mình lớn khôn hơn, Đöùng tröôùc tình hình hoïc sinh chưa biết tự học, Toâi mong muoán laøm sao tìm ñược nguyeân nhaân vaø ñeà ra höôùng khaéc phuïc vì ñaây laø vaán ñeà caáp thieát. Vaø sau 10 naêm giaûng daïy, toâi ñaõ vaän duïng nhieàu phöông phaùp vaøo giaùo duïc cho caùc em, giuùp caùc em thaáy ñöôïc vieäc töï hoïc taäp laø caàn thieát, thaày coâ chæ laø ngöôøi hoã trôï maø thoâi. Keát quaû laø nhöõng naêm hoïc ñoù, hoïc sinh lôùp toâi ñeàu naém baét ñöôïc baøi hoïc moät caùch töï giaùc. Töø ñoù, toâi ñöa ra quyeát ñònh choïn ñeà taøi: "MOÄT SOÁ BIEÄN PHAÙP GIUÙP HOÏC SINH TÖÏ HOÏC" ñeå nghieân cöùu. II. NHỮNG BIỆN PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: A. Những vấn đề chung: a) Giáo viên tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu và nhu cầu của các em: Đây là vấn đề đầu tiên khi tiến hành các giải pháp thực hiện. Biết được nguyên nhân và nhu cầu của đối tượng thì mới có những biện pháp tác động đúng đắn. Tôi tìm hiểu nguyên nhân theo các cách sau: quan sát thực tế học sinh của 5 lớp 5, lấy danh sách học sinh yếu của các lớp khác, phát phiếu kiểm, bảng hỏi, rồi phỏng vấn trực tiếp các em học sinh yếu. Với sự bùng nổ thông tin như hiện nay, các em có thể tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và được nhiều môi trường tác động đến - tốt có, xấu có, trái chiều cũng có. Bản thân các em học sinh ngày càng thể hiện cá tính mạnh mẽ Làm sao để các em tin tưởng mình? Làm thế nào phát huy tính tích cực của các em, phát huy vốn kiến thức sẵn có? Đó cũng là nghệ thuật. Dạy học sinh tự học, người giáo viên phải biết vai trò chủ đạo của mình là cần phải làm gì. b) Rèn luyện ý chí cho học sinh: Theo tôi, người giáo viên cần phải gần gũi, thương yêu học sinh và đôi lúc cũng nên để các em tự bơi, tự lội. Có thể các em sẽ bị vấp ngã trong những bước đi đầu tiên nhưng không sao. Vì lần vấp ngã này nằm trong tầm quan sát của chúng ta, các em sẽ tự đứng dậy được và ý chí thêm mạnh mẽ. Dạy cho học sinh biết con đường thành công phải trải qua gian nan, lắm khi thất bại chứ không phải dễ dàng đạt được - Đường đời còn dài - Thất bại là mẹ thành công. Việc này, giúp các em bỏ đi tính chủ quan và mơ tưởng của mình (không phải năm trước khá thì năm nay cũng được khá, mỗi năm phải có sự thay đổi cho phù hợp. Làm như vậy, chúng ta đang xây dựng lại tư tưởng mới, suy nghĩ mới cho học sinh. Giáo viên không chỉ dạy tri thức theo sách giáo khoa mà còn phải dạy cách học, dạy cách tiếp cận tri thức, dạy cách suy nghĩ, và dạy các kỹ năng. Ví dụ: Cần phải phối hợp nhuần nhuyễn giữa hướng dẫn cách giải ở một bài cụ thể rồi suy rộng ra cách giải ở dạng điển hình (các bài tương tự các em sẽ tự làm được). Theo cách dạy mới này, bóng dáng của người thầy xem qua thì thấy có vẻ mờ nhạt hơn, bởi vì người thầy không tác động nhiều, chỉ chiếm khoảng 30%. Nhưng nghĩ kỹ, nó lại là phần then chốt. Giáo viên đã tác động bàn tay vô hình của mình vào học sinh đến nỗi các em không biết được thầy đã dạy những gì mà mình vẫn lĩnh hội được tri thức. Tôi rất tâm đắc với lời đánh giá sau: Người thầy dạy giỏi là người thầy biết giải thích; Người thầy xuất sắc là người thầy biết minh họa; Người thầy xuất chúng là người thầy biết truyền cảm hứng. Một biện pháp đơn thuần không thể có được hiệu quả cao và cũng không phải chỉ phải có thực hiện ở một lớp mà chúng ta cần phải thực hiện đồng bộ trong toàn trường, toàn xã hội và bền bỉ tác động; cần phải kết hợp chặt chẽ giữa ba môi trường giáo dục. B. Những biện pháp cụ thể 1. Xây dựng niềm tin và hứng thú học tập: Trong khi tiến hành một công việc, yếu tố tinh thần rất quan trọng, càng vào những lúc khó khăn, con người ta mới biết mình cần phải làm gì. Việc học tập của học sinh cũng vậy. Học quả là khó khăn và gian khổ. Nếu không tìm thấy được niềm vui, không thấy được ý nghĩ của việc học thì không thể nào học tốt được. Scheckov đã từng đưa ra tổng kết về con đường thành công trong việc học tập, nghiên cứu của mình bằng câu: "Nghệ thuật học là: Ý CHÍ - TRÌNH TỰ - THỜI GIAN" Thực tế cho thấy: Học sinh có ý chí sẽ luôn tìm cách vươn lên và trong quá trình học tập, các em sẽ tự đúc rút ra kinh nghiệm cho bản thân mình. Như vậy là đã có sự thành công. Đầu tiên, tôi tạo cho học sinh một sức ép, một tâm thế thôi thúc, chuẩn bị cho việc học tập. Tôi kiểm tra, khảo sát một cách kĩ lưỡng, đưa ra những điểm số chính xác về mức độ hoàn thành bài tập của học sinh để cho các em thấy được kết quả của mình (trên thực tế điểm số rất thấp, ngay cả đối với nhiều em khá giỏi ở năm học trước). Làm như vậy để các em thấy mình cần phải bỏ công suy nghĩ thì mới đạt kết quả cao và kết quả này cho các em biết thực chất mình đang đứng ở đâu, đạt được mức độ nào. Tình cảm của các em sẽ được hun đúc nên từ những tấm gương trong những câu chuyện kể. Những câu chuyện cảm động dễ đi vào lòng các em hơn là những mệnh lệnh. Tôi đã kể cho các em nghe về tấm gương hiếu học như: Bông sen trong giếng ngọc - Cuộc đời của Mạc Đỉnh Chi; Cậu bé viết thuê của A-mi-xi - Một cậu bé con nhà công nhân thức khuya để viết thay cha, truyện kể về ý chí, cách học tập, làm việc của Bác Hồ và nhiều vĩ nhân khác trên thế giới. Giảng cho học sinh hiểu ý nghĩa của việc học tập bằng những câu danh ngôn. Chẳng hạn: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người; Học để xây dựng quê hương đất nước Quan trọng hơn, tôi đã dựa vào thực tế trong làng xóm. Nếu không học, ta sẽ không có việc làm, không có cuộc sống ổn định. Và tôi cũng lấy chính những lời tâm sự của mẹ cha các em về cuộc đời mình: Không học buồn tủi lắm; Hối hận vì ngày xưa không tiếp tục đi học; Mình như vậy nên bây giờ cũng cố gắng tạo điều kiện cho con mình học hành đầy đủ Tôi động viên tinh thần cho học sinh cảm lớp bằng cách viết lên góc bảng trong khi học sinh làm bài những cụm từ như: Cố lên; Tự suy nghĩ mới thông minh; 1 điểm của mình = 10 điểm do người khác cho; Kết quả, học sinh cũng hiểu ra được mình cần phải tự cố gắng, nếu trông chờ các bạn thì điểm cao cũng không có ý nghĩa gì. Viết lên bảng như vậy, học sinh tập trung hơn và còn có một khoảng thời gian tuy không dài nhưng cũng đủ để tĩnh tâm suy xét, chuẩn bị cho hoạt động mới một cách nhẹ nhàng, không hối hả. Phải tùy hoàn cảnh cụ thể, tạo khung cảnh giáo dục tốt làm cho học sinh ngồi trong lớp học thấy vui tươi, thích thú không nặng nề, sợ sệt. Tôi luôn lưu ý xem tài sản lớp học, chăm sóc lớp như nhà của mình để cùng nhau trang trí, là học sinh lớp 5 tôi tự cho học sinh chọn những tranh vui tươi treo trên tường có tính cách giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Giờ ra chơi, tôi tổ chức vui chơi tập thể để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và sự gần guõi thân mật giữa học sinh với giáo viên. Trong chương trình giảng dạy tôi tổ chức những buổi vui học cuối tuần trong tiết sinh hoạt với hình thức đố vui, ôn tập, hái hoa để chuẩn bị cho các kỳ khảo sát và kiểm tra học kỳ. Trong những năm qua, bằng hình thức này tôi đã ôn tập cho các em thi đạt kết quả cao, và các em cũng vui thích tham gia tích cực cho phong trào của lớp sôi động trong các hoạt động ngoại khóa như thi kể chuyện, thời trang, vẽ tranh, hát . Vì vậy cứ đến ngày cuối tuần là các em rất buồn vì sắp phải xa không khí học tập, hứng thú ấy và mong gặp nhau trong những tuần học tới. 2. Lập nhật ký học tập: Học tập cũng phải mang tính khoa học, cần phải có trình tự, cần phải có sự đánh giá kết quả và đưa ra hướng học tập mới thích hợp. Ai là người đánh giá quá trình học của các em? - Đó là giáo viên, là bạn bè, là phụ huynh. Nhưng quan trọng hơn đó là chính bản thân các em. Bởi vì các em là chủ thể của hoạt động. Khi các em biết đánh giá chính bản thân mình thì không còn điều gì khó khăn trong học tập nữa, các em sẽ tự điều chỉnh mình. Đó là vấn đề mà các lực lượng giáo dục đang mong mỏi. Tôi cho học sinh viết "Nhật ký học tập". Việc làm này có nhiều em rất thích bởi vì các em đó có sự tự tin. Nhưng nhiều em ban đầu rất sợ viết vì trong đó có nêu cả những việc chưa làm được của chính mình rồi từ đó khắc phục. Sau một thời gian, các em biết cách ghi và có nhiều tiến bộ. Các em biết mình còn thiếu kiến thức nào rồi tìm cách học lại kiến thức đó. Khi đến trường, các em tự tin hơn, không phải thụ động như trước mà chủ động tiếp thu kiến thức và thực hành. Tôi động viên các em viết nhật ký hàng ngày. Cuối mỗi tuần, các em đưa cho cha mẹ xem rồi nộp lại cho tôi nhận xét. Những lời nhận xét ngắn gọn nhưng rõ ràng, đúng trọng tâm vấn đề có tác dụng rất lớn. Trong nhiều năm đi dạy, tôi thấy: ghi nhận xét và lời động viên ra giấy để các em đọc có tác dụng và hiệu quả hơn lời nói trực tiếp. Các em vui mừng trao cho nhau đọc những lời nhận xét; và cũng có nhiều em xấu hổ không dám để các bạn đọc. Cả hai đều có tác dụng tốt, tạo động lực cho các em phấn đấu. Nhật ký học tập Trang 1: Điều kiện học tập của em: Trang 2: Kế hoạch học tập (Dựa vào thời khóa biểu trong ngày để lên kế hoạch; ghi thời gian nghỉ ngơi, phụ giúp gia đình) 3. Hướng dẫn cách học tốt cho từng môn Mỗi môn học có những yêu cầu riêng và cần phải có cách học riêng thì mới có hiệu quả. Bất cứ một môn học nào, tôi cũng cố gắng tạo một hứng thú, một bất ngờ về nội dung mà nó cung cấp để cho các em thấy nội dung thật lý thú, chứ không phải là dạy xong nội dung này rồi sang nội dung khác. Việc củng cố nội dung ở từng bài tập cũng được tôi áp dụng trước khi chuyển sang bài tập khác. * Phân môn tập làm văn: Cả lớp cùng nhận xét bài văn để rút kinh nghiệm; hoặc có khi tôi viết một câu văn hay của một học sinh nào đó lên bảng rồi mỗi em viết thêm một câu khác sao cho mạch nội dung được liên tục. Làm được điều này, học sinh sẽ rất nhanh trí và phải tích cực động não, các em học được nhiều cái hay ở mỗi bạn. * Ở các môn Khoa học, Địa Lý, Lịch sử: Tôi thường ghi một câu lệnh lên bảng. Chẳng hạn: Tự nghiên cứu vấn đề này trong 5 phút; và tôi thường nêu những câu hỏi trước để cho học nghiên cứu. Làm như thế, tất cả học sinh đều phải tự mình làm việc. Dần dần, học sinh sẽ rèn được kĩ năng đọc - đọc là phải hiểu, phải nắm bắt được những yếu tố trọng tâm. * Ở môn Toán: Do học sinh quên nhiều kiến thức cũ nên tôi đã ôn lại cặn kẽ các kiến thức ấy. Ở những dạng toán có lời văn, tôi thường hay ghi đề bài lên bảng và hỏi học sinh: Chúng ta cần chú ý vào những từ ngữ nào? Tôi cũng ghi lên góc bảng cách suy nghĩ một bài toán: Bài toán hỏi gì? Bài toán cho biết điều gì, mối quan hệ? Muốn tìm được điều này thì ta tìm điều gì trước và bằng cách nào? Tôi hướng học sinh tập trung chú ý vào những từ ngữ then chốt, dựa trên những từ ngữ này mà giải bài tập chứ tôi không vội vàng giảng giải các bước. Và dần dần, học sinh cũng biết cách đọc đề, cũng biết suy luận. 4. Phối hợp cùng phụ huynh, tạo môi trường giáo dục tốt: Gia đình là nơi gần gũi với các em nhất, việc biết cách dạy con của cha mẹ đóng góp một phần quan trọng cho việc thành công. Đổi mới nội dung cuộc họp phụ huynh là điều cần thiết. Cha mẹ học sinh sẽ thực sự là một lực lượng giáo dục quan trọng và hiệu quả. Cho nên, trong những cuộc gặp mặt, những lần họp phụ huynh, tôi đều lồng ghép nội dung, cách giáo dục con em họ. Cụ thể là: ñònh höôùng cho phuï huynh veà caùch giaùo duïc tình caûm, cách quaûn lyù thôøi gian ôû nhaø cuûa con em mình; cách dạy tự học và lồng ghép các yêu cầu của thời đại, câu chuyện giáo dục ở một số nước tiên tiến Tôi cũng đề nghị phụ huynh nên tạo không gian tự học tại nhà cho học sinh. Đó là một nơi yên tĩnh, thoáng mát. Ngồi tĩnh tâm mới có thể tập trung suy nghĩ và rèn luyện được trí nhớ. 5. Giáo dục kĩ năng tư duy độc lập, tư duy nhóm. Học sinh có nhiều nguồn tri thức khác nhau lấy từ thực tế cuộc sống, từ gia đình, bạn bè, xã hội nên tôi đã chú ý tới việc học theo nhóm tại nhà. Đầu tiên, tôi hướng dẫn cách học theo nhóm, hướng dẫn cách hướng dẫn cho các bạn. Vì tôi hiểu: "Học thầy không tày học bạn", "Biết dạy người khác là học hai lần". Dạy học sinh rèn luyện kĩ năng nói, kĩ năng diễn giải. Tôi gọi học sinh lên lớp giảng giải về vấn trong đề bài học. Qua quan sát, tôi thấy các em có hứng thú hơn khi tôi trực tiếp giảng. Em học sinh đứng lên giảng sẽ rèn được tính tự tự tin còn các em ở dưới mong ước mình cũng giảng bài được như bạn, từ đó mà cố gắng phấn đấu. Các em học kém, yếu có tâm trạng sợ sệt, không tự tin làm bài. Sau khi kiểm tra chất lượng đầu năm nắm được tình hình học tập của từng em trong lớp mình, tôi phân cụ thể cho những em học giỏi hỗ trợ các em yếu kém cùng tiến bộ tạo thành một phong trào "Đôi bạn cùng tiến" Khi phân công làm việc này, tôi phải liên hệ gia đình các em để nhờ sự hỗ trợ, kiểm soát việc học tập của các em ở nhà, tôi lập phiếu theo dõi và đưa ra những hướng dẫn , biện pháp để các em học tập ở nhà dưới sự quản lý của nhóm trưởng. Hàng tháng đều phải đúc kết việc phong trào "Đôi bạn cùng tiến" baèng moät baøi kieåm tra daønh cho hoïc sinh yeáu. III. KẾT QUẢ VÀ HIỆU QUẢ PHỔ BIẾN ỨNG DỤNG NỘI DUNG VÀO THỰC TIỄN 1. Kết quả : Trong 10 năm đầu tôi đi dạy, có khi tôi dạy hai lớp trong một năm, học sinh lớp tôi đã biết tự học và sẵn sàng học ở các lớp sau. Đó là điều thành công lớn nhất và tôi cảm thấy thích điều này. Phụ huynh cũng hiểu được cách dáo dục con cái từ đó mà nhân rộng ra toàn xã hội. Đồng thời cũng tạo được sự tin tưởng ở phụ huynh. Vì bây giờ, trong ngành Giáo dục cũng có nhiều đáng phải bàn. 2. Bài học kinh nghiệm : Muốn việc giáo dục tự học được thành công, giáo viên cần phải kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, với Đoàn thể, với địa phương, tạo những điều kiện, môi trường giáo dục tốt. Quan trọng hơn là phối hợp giáo viên toàn trường để có được phương pháp dạy đồng bộ. Phải tạo sự đoàn kết, yêu thương giúp đỡ của học sinh trong lớp qua các phong trào. Tạo cho các em động cơ ham học, trong việc uốn nắn các em, giáo viên chủ nhiệm phải luôn giữ thái độ bình tĩnh, không nóng vội, không dùng lời lẽ nặng nề với các em, hòa hợp với các em, biết lắng nghe ý kiến học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp . Nên tổ chức vui chơi tập thể trong các giờ ra chơi, giờ sinh hoạt lớp để tạo sự gắn bó thương yêu trong học sinh và giáo viên. Trong chương trình giảng dạy nên tổ chức những buổi vui học, học vui dưới hình thức ôn tập. 3. Hướng phát triển của đề tài: Tôi tin rằng đề tài của tôi hoàn toàn có thể áp dụng đặc biệt là về phía phụ huynh. Phụ huynh hoàn toàn có thể tham gia vào việc giáo dục con em mình theo các cách mà tôi đã nêu. Như vậy là ta đã có thêm một lực lượng tham gia vào giáo dục có hiệu quả. IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ: Phía nhà trường cần phải có những kế hoạch cho tất cả giáo viên thực hiện một cách đồng bộ. Vì cả trường thực hiện thì sẽ thành công hơn. Đối với ngành, sau này, khi thay sách, đổi mới chương trình cần đưa những nội dung giáo dục tình cảm là chính. Mặc dù đó là những câu chuyện quá cũ không hiện đại nhưng đối với học sinh đó vẫn là một điều mới mẻ. Hơn nữa, tiểu học là bậc nền tảng, chúng ta chỉ cần xây dựng vững chắc nền tảng là đã thành công, sự phát triển sẽ dành cho ở các bậc học, cấp học sau. Khi học sinh đã được hun đúc những tình cảm, ý chí thì tự các em sẽ tìm hiểu nền tri thức của nhân loại để phát triển mà không cần chúng ta phải khổ công hướng dẫn. Cùng với việc thay đổi nội dung sách giáo khoa. Chúng ta cần thay đổi thời gian dạy học. Vẫn chia thành 4 kì. Học xong mỗi kì, ta sẽ ôn tập 2 tuần rồi mới thi. Hiện nay, chúng ta đã tăng thời gian học lên rất nhiều bằng cách học ngày 2 buổi. Vậy ta chỉ tăng thêm 2 tuần thì có ý nghĩa gì hay không? Theo tôi là rất lớn. Học sinh đến trường trong 2 tuần này sẽ có một tâm thế khác. Vì nội dung học các em chưa biết trước - do giáo viên tự quyết định kế hoạch giảng dạy của mình: có thể là kể chuyện, tâm sự, thầy trò vui vây bên nhau, có thể là giáo dục kĩ năng sống, có thể là tự suy nghĩa về những gì mình học được, làm được, chưa làm được để đưa ra phương hướng cho kì học tiếp theo, cũng có thể là ôn tập, Các em không bị áp lực. Đây là khoảng thời gian các em hồi tĩnh - rất cần thiết - không ai có thể tiến lên mà không ngừng lại nghỉ ngơi. Hơn nữa, giáo viên chủ nhiệm là người hiểu học sinh của mình nhất, hiểu các em còn khuyết chỗ nào, mạnh chỗ nào và cần những gì, Từ đó đưa ra nội dung ôn tập phù hợp. Như vậy là học sinh sẽ có thời gian tự học. Phía xã hội và phía phụ huynh nên coi sự nghiệp giáo dục cũng là việc của mình. Trong các cuộc họp khu phố, thôn xóm nên cùng nhau bàn bạc, lồng ghép nội dung, cách thức giáo dục con em mình. Phước Dân, ngày 16 tháng 3 năm 2015 NGƯỜI VIẾT Phaïm Huy Chöông Nhận xét của Hội Đồng Sáng kiến cơ sở Trường Tiểu học Vĩnh Thuận Chủ tịch ------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------ -------------------------------------------------------------------------------------------------

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Trẻ 5

g ban đầu để đi đến kết luận. Với các thí nghiệm phải tiến hành trong thời gian dài, cô cần lựa chọn những thời điểm thích hợp để hướng dẫn trẻ ghi lại kết quả quan sát sự thay đổi của vật làm thí nghiệm bằng hình vẽ, biểu đồ, kết hợp với các câu hỏi gợi ý để trẻ so sánh kết quả thí nghiệm với trạng thái ban đầu, cùng trẻ giải thích nguyên nhân của sự thay đổi và kết quả thí nghiệm. 4.1: Thí nghiệm 1 : Quả trứng thần bí. * Mục đích: - Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán. - Kích thích tính tìm tòi, ham hiểu biết. * Chuẩn bị: - 2 quả trứng sống, 2 cốc thủy tinh, Nước ngọt, nước muối. * Cách tiến hành. - Cô hỏi trẻ các đồ dùng cô đã chuẩn bị, trẻ đoán xem cô sẽ làm gì với những đồ dùng này - Trẻ đánh dấu thứ tự 2 cốc nước ( Cốc 1 và 2), sau đó thả cả 2 quả trứng vào 2 cốc nước ngọt, trẻ nhận xét khi thả trứng vào thì trứng sẽ nổi lên trên mặt nước. Cô mời trẻ cho muối vào cốc nước thứ nhất, khuấy đều, sau đó thả quả trứng vào. Quả trứng sẽ từ từ nổi lên trên mặt nước. - Cô cho trẻ quan sát và rút ra kết luận: Quả trứng trong cốc nước muối sẽ nổi lên trên mặt nước vì trứng nặng hơn nước muối, nhưng quả trứng sẽ chìm trong nước ngọt vì nó nặng hơn nước ngọt. 4.2. Thí nghiệm 2. Làm nổi một vật chìm. * Mục đích yêu cầu.- Rèn luyện sự quan sát chú ý, tư duy thông qua thí nghiệm " Làm nổi một vật chìm" - Kích thích tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ. - Có ý thức giữ gìn đồ dùng đồ chơi. * Chuẩn bị: - Một vài đồ chìm trong nước như: thìa ilốc, thìa nhôm, gạch đồ chơi, lon côca, chai nước, cốc thủy tinh.... - Một chậu nước. - Băng dính, đất nặn, túi bóng.... * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ xem viên bánh trôi nước khi sống, thả xuống nước. Viên bánh trôi sẽ chìm xuống nước. Hỏi trẻ làm thế nào để viên bánh trôi có thể nổi lên? ( Trẻ nêu ý kiến) - Cô đặt một đồ chơi đã chuẩn bị vào chậu nước và cho trẻ quan sát, nhận xét ( Các đồ chìm trong nước). Cô hỏi trẻ. Làm thế nào để vật đó có thể nổi lên được? - Cô hỏi trẻ ngoài cách như vậy thì còn cách nào khác để cho các vật nổi có thể nổi lên được? - Cho trẻ về các nhóm nhỏ để làm thí nghiệm với các đồ cô đã chuẩn bị. Cô quan sát, bao quát trẻ và hỏi. Làm sao cho vật nổi được? vì sao vật đó lại nổi lên được? ( Mỗi nhóm sẽ có cách riêng của trẻ. Có trẻ đổ nước ở trong lon nước ra, có trẻ dùng túi bóng buộc vào cái thìa, có trẻ lấy băng dính bịt chặt miệng cốc...những đồ đó sẽ nổi lên được). Nếu trẻ không làm vật đó nổi được, cô phải xem và xử lý kịp thời hoặc có thể giải thích cho trẻ. 5.3. Thí nghiệm 3: Cuộc chạy đua của ba cây nến. * Mục đích: - Trẻ nhận biết được không khí xung quanh. - Trẻ biết nến cháy nhờ khí ôxy. Khí ôxy hết thì nến sẽ tắt. - Trẻ rút ra được nhận xét: Cây nến nào cháy lâu nhất? Tại sao? * Chuẩn bị:- 3 cây nến, bật lửa - 2 cốc thuỷ tinh lớn và nhỏ cho mỗi nhóm. * Cách tiến hành; - Cho trẻ quan sát và gọi tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị. - Hỏi trẻ gắn cây nến lên đĩa bằng cách nào? Cô gắn cho từng nhóm để trẻ quan sát. - Sau khi gắn xong đặt 1 đĩa nến ở ngoài, 1 đĩa còn lại được đậy bởi 1 cái cốc thủy tinh nhỏ. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cây nào cháy lâu hơn? - Cô tiếp tục đốt một cây nến nữa và úp lên bởi 1 cốc thủy tinh lớn. Cô hỏi trẻ: Hiện tượng gì xảy ra? Cho trẻ dự đoán xem cây nến nào cháy lâu nhất trong 3 cây nến? - Cho trẻ quan sát cho đến khi 2 cây nến ở trong cốc tắt dần 4.4: Thí nghiệm 4: Có thể trồng cây bằng gì? * Mục đích. - Giúp trẻ hiểu được ngoài cách trồng cây bằng hạt, người ta có thể trồng cây bằng cành, bằng lá hoặc bằng củ. * Chuẩn bị. - 4 chậu đất để trồng cây. - Một số dây khoai lang hoặc cành hoa trạng nguyên. - Một số lá bỏng. - Một số cành hoặc lá cây khác mà không thể trồng bằng cành hoặc bằng lá. * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ chơi trò chơi " Gieo hạt, nảy mầm" - Hỏi trẻ: Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cách nào? - Cho trẻ nói tên 1 số loại cây và lá mà cô đã chuẩn bị. - " Hôm nay chúng ta sẽ giâm, trồng một số cành cây khoai lang, trạng nguyên, lá bỏng....và thử xem điều gì sẽ xảy ra" - Cô cho trẻ dự đoán chậu nào sẽ có các mầm cây mọc lên. - Hàng ngày, cô cùng trẻ tưới nước đủ độ ẩm để cây phát triển, cho trẻ theo dõi sự thay đổi diễn ra trong các chậu cây trồng. - Khi thí nghiệm kết thúc, cô trò chuyện với trẻ về điều xảy ra và rút ra kết luận. Ngoài cách trồng cây bằng hạt, ta có thể trồng cây bằng cành, hoặc bằng lá. Song không phải cây nào cũng trồng được bằng cành hoặc bằng lá và chỉ cho trẻ thấy rễ và mầm sinh ra từ các mắt của cành hoặc các mép lá. 4.5 . Thí nghiệm với nước: Các lớp chất lỏng. * Mục đích: - Trẻ biết phân biệt lớp chất lỏng khác nhau: Dầu, nước, sirô. - Nhận biết lớp sirô nặng hơn nước nên chìm xuống dưới, lớp dầu nhẹ hơn nước và siro nên nổi lên trên cùng. Còn lớp nước ở giữa. - Nhận biết một số chất liệu: Nhựa, gỗ, kim sắt, cao su- nổi ở lớp chất lỏng nào: Nước, siro, dầu, để rút ra kết luận. * Chuẩn bị: - 1 chai dầu ăn, 1 chai nước, 1 chai sirô. - 3 ly thủy tinh, khay. - Các vật liệu: Cao su, sỏi, đồ nhựa, sắt. - Các thẻ màu đỏ, trắng, vàng. * Tiến hành. - Cho trẻ quan sát và gọi tên 3 chai chất lỏng: Dầu, nước, siro. - Mỗi chất lỏng cô dùng một miếng nhựa màu tương ứng với màu chất lỏng: Miếng nhựa đỏ, vàng, trắng. - Cho trẻ chọn chất lỏng thứ 1 đổ vào ly trước và chọn miếng nhựa có màu tương ứng gắn lên bảng. - Cô cho trẻ chọn chất lỏng thứ 2 và đổ vào ly. Trẻ tự đoán nó sẽ đứng ở chỗ nào trong cái ly. Chọn thẻ nhựa có màu tương ứng gắn tiếp lên bảng. Cô cho trẻ quan sát lớp chất lỏng thứ 2 nó đứng ở vị trí nào trong cái ly có đúng như dự đoán của trẻ không. - Làm tương tự với chất lỏng thứ 3. - Cho trẻ quan sát vị trí các lớp chất lỏng ở trong ly để rút ra kết luận. ( Lớp siro nặng hơn nước nên chìm xuống dưới cùng. Lớp nước nhẹ hơn siro nhưng nặng hơn dầu nên ở giữa. Lớp trên cùng là lớp dầu vì nhẹ hơn lớp nước và lớp siro) - Cho trẻ chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm tự chọn vị trí xếp thẻ nhựa khácvới lúc đầu. Mỗi nhóm sẽ đổ thứ tự các lớp chất lỏng theo như đã chọn và mang ly chất lỏng vừa đổ lên cùng quan sát xem các lớp chất lỏng có đứng ở đúng vị trí đó không? - Trẻ tự rút ra kết luận: Chất lỏng dù đổ loại nào trước thì nó vẫn đúng theo thứ tự siro, nước, dầu. và trẻ gắn lại thứ tự thẻ nhựa theo đúng vị trí các chất lỏng trong ly. * Mở rộng: cho trẻ thả một số vật: Cao su, nhựa, sỏi, gỗ, sắt và quan sát xem nó nổi hoặc chìm ở lớp chất lỏng nào và tự rút ra kết luận. 4.6: Thí nghiệm: Nhuộm màu hoa. * Mục đích: - Trẻ biết bông hoa hút màu qua những ống hẹp trong cuống hoa và có khả năng biến đổi thành màu đó - Trau dồi óc quan sát, khả năng phán đoán, suy luận và chú ý. * Chuẩn bị: - Bình thủy tinh hoặc lọ hoa trong suốt. - Nước. - Thực phẩm màu ( Màu nước) - Hoa cúc hoặc hoa cẩm chướng sáng màu. * Cách tiến hành. - Cho trẻ quan sát và gọi tên các dụng cụ. trẻ có thể đoán xem cô sẽ làm gì với các dụng cụ này. - cho trẻ đánh dấu 2 lọ nước, sau đó đổ màu vào lọ nước thứ 2, sau đó đặt 2 bông hoa vào 2 lọ nước. - Cô cho trẻ quan sát sau nhiều giờ, cuối cùng các cánh của bông hoa đặt trong lọ thứ hai sẽ chuyển sang màu của nước trong lọ. * Mở rộng: có thể làm những bông hoa nhiều màu bằng cách chẻ đôi cuống hoa và ngâm mỗi nửa cuống hoa vào một lọ nước màu khác nhau. 4.7 : Thí nghiệm: Táo, lê đổi màu. * Mục đích: - Giúp trẻ phát hiện được sự thay đổi màu sắc của táo, lê sau khi gọt vỏ. Hình thành cho trẻ kỹ năng tạo ra những miếng táo ngon hơn, sạch hơn và đẹp hơn. * Chuẩn bị: - 2 quả táo hoặc lê. - Đĩa đựng hoa quả. - Dao. - 1 bát nước muối loãng đun sôi để nguội. - Giấy bút để ghi lại kết quả thí nghiệm. * Cách tiến hành. - Cô cho trẻ nói tên các đồ dùng cô đã chuẩn bị. - Cô pha một chút muối vào bát nước sôi đã chuẩn bị. - Cô cùng trẻ bổ 2 quả táo( hoặc lê), một quả cắt thành miếng bày ra đĩa, còn quả kia cắt thành miếng ngâm vào bát nước muối loãng. - Cho trẻ dự đoán điền gì sẽ xảy ra với các miếng táo bày ở đĩa và các miếng táo ở trong bát nước muối pha loãng. - cho trẻ quan sát sau 5-7 phút, ghi lại kết quả trẻ quan sát được. + Tại sao nước muối ngâm làm táo không đổi màu? -Cô giải thích: Vì trong táo và một số loại quả như cà, hồng, lê....có loại chất Tanin nên khi bổ ra, chúng tiếp xúc với không khí, và khiến cho quả đó chuyển thành màu nâu. Còn nước muối ngâm quả táo kia chuyển thành nâu vì nhựa trong quả táo thôi ra ở trong nước muối. Vớt những miếng táo được ngâm trong nước muối loãng cho trẻ quan sát, so sánh với những miếng táo không ngâm và hướng dẫn trẻ cách làm cho táo, lê trắng ngon khi bổ ra. Biện pháp 5. Phôí kết hợp với phụ huynh. Giáo dục mầm non là bậc học đặc biệt cần có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ. Với mong muốn trẻ có thể ghi nhớ lâu hơn và nắm chắc những kiến thức đã học trên lớp nên ngay từ đầu năm khi họp phụ huynh tôi đã thông qua chương trình giáo dục, thời khóa biểu ở lớp với các chủ điểm, tôi còn thông báo với phụ huynh về yêu cầu cần đạt của từng môn học để phụ huynh hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục trẻ theo đúng độ tuổi và có hướng rèn các cháu ở nhà để trẻ có một tâm thế tốt trước khi vào lớp 1. - Đặc biệt với bộ môn " Khám phá khoa học", tôi giải thích rõ cho phụ huynh về nội dung và sự cần thiết của môn học trong sự phát triển toàn diện của trẻ, giải thích cho họ hiểu khoa học không chỉ là kiến thức mà còn là quá trình, hay là con đường tìm hiểu, khám phá thế giới vật chất. Khoa học với trẻ nhỏ là quá trình tìm hiểu, khám phá tự nhiên và là quá trình tích cực tham gia hoạt động thăm dò, tìm hiểu thế giới tự nhiên từ đó kích thích ở trẻ tính tò mò, ham hiểu biết. Tôi tuyên truyền tới phụ huynh về một số kinh nghiệm để có thể cùng với trẻ khám phá. " Trẻ nhỏ học bằng cách thực hành, thử làm những ý tưởng mới lạ và những thử thách chưa vượt qua được. Điều này không phải chỉ diễn ra tại trường học. Các phụ huynh có thể giúp trẻ học bằng cách cung cấp cho trẻ một những kinh nghiệm học tập thú vị trong môi trường an toàn với nhiều sự khích lệ. Là bố mẹ, có thể tạo hứng thú học cho trẻ bằng cách mà không ai có thể làm ngoại trừ bạn. Đam mê học tập, tìm hiểu là chìa khóa thành công của trẻ. Nếu bạn chọn cách cùng làm việc với trẻ, hãy nhớ rằng giúp trẻ học không có nghĩa là bạn không thể tỏ thái độ buồn cười hay nghiêm trọng" . Ngoài ra tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh vào các giờ đón trả trẻ về tình hình sức khỏe và tình hình học tập của trẻ ở lớp để cùng với phụ huynh giúp trẻ tiến bộ hơn. - Ngoài ra tôi thường lên một số tiết có sự tham dự củaphụ huynh,Phụ huynh rất vui khi thấy các con mình thật sự được học và chơi, được trải nghiệm và họ không ngờ các con mình lại có thể thông minh như vậy. Sau khi áp dụng biện pháp này, tôi thấy mối quan hệ giữa tôi và phụ huynh trở nên gần gũi và phụ huynh cũng rất nhiệt tình, vui vẻ khi có những lời đóng góp từ phía giáo viên. 4/ KẾT QỦA * Đối với cô: Trong những năm học trước việc cho trẻ " Khám phá khoa học" ở trường tôi nói chung và ở lớp tôi nói riêng vẫn chưa được sáng tạo, một số giáo viên vẫn chưa mạnh dạn cho trẻ thực hiện các thí nghiệm, vì vậy trẻ còn thụ động, chưa nhanh nhẹn tìm tòi khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Sau khi tiến hành áp dụng biện pháp trên, tôi thấy tự tin hơn, và đã tổ chức tiết học khám phá một cách linh hoạt, không gò bó ,thụ động, không ngại ngùng trước các trải nghiệm thí nghiệm. * Đối với trẻ. Qua các biện pháp trên, trong quá trình thực hiện, tôi thấy trẻ ở lớp tôi rất hứng thú, phát triển khả năng tư duy cao. Trẻ tò mò, thích khám phá các sự vật hiện tượng xung quanh. Trẻ biết đặt ra những câu hỏi " Tại sao" trước những hiện tượng tượng lạ, từ đó thu nhận được những hiểu biết, những vốn kinh nghiệm nhất định để áp dụng trong đời sống hàng ngày. Hầu hết tất cả các trẻ đều háo hức chờ đón những giờ thí nghiệm, tập trung cao độ để quan sát hiện tượng xảy ra, kiên nhẫn chờ đón kết quả. Qua đó khơi gợi ở trẻ nhu cầu khám phá, trẻ bắt đầu để ý những biến đổi của sự vật hiện tượng xung quanh, biết tự khám phá bằng nhiều giác quan và có sự trao đổi giữa cô và bạn. Chính vì thế tôi đã hình thành cho trẻ một số kỹ năng, thao tác thử nghiệm trong khoa học. Trẻ lớp tôi ngày càng có kỹ năng quan sát tốt, biết suy đoán, phán đoán nhằm tìm ra một kết quả chính xác. * Về phía phụ huynh Qua các biện pháp trên, qua thực tế các hoạt động ở lớp năm học 2016- 2017 vừa qua trẻ lớp tôi đã đạt được kết quả như sau Lớp mẫu giáo lớn Đầu năm ( Chưa áp dụng SKKN) Hết học kì I( Sau khi áp dụng SKKN) Tăng ( + ) Giảm ( - ) So với đầu năm Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Số trẻ Tỷ lệ % Sĩ số lớp 32 100 32 100 32 100 Trẻ đạt 12 27 32 100 20 63 Trẻ chưa đạt 20 63 0 0 20 63 Qua kết quả khảo sát học sinh giữa học kỳ II so với đầu năm học, sau khi đã áp dụng các biện pháp tổ chức trong sáng kiến kinh nghiệm, tôi thấy trẻ lớp tôi có tiến bộ rất nhiều. Nhờ có sáng kiến mà tôi đã tạo cho trẻ được tìm tòi, khám phá về thế giới xung quanh trẻ ở mọi lúc mọi nơi. Không chỉ khám phá trong góc khoa học hoặc trong các hoạt động khoa học mà trẻ lớp tôi còn khám phá, áp dụng và phát hiện được rất nhiều điều qua các môn học khác. III/KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 1. KẾT LUẬN Từ những kết quả đạt được như trên, tôi rút ra được một số bài học kinh nghiệm như sau. Giáo viên cần khích lệ trẻ khám phá, hướng sự quan tâm chú ý của trẻ tới đối tượng quan sát, tạo ra thói quen tìm hiểu về thế giới xung quanh ở trẻ bằng cách tạo ra những tình huống bất ngờ, mang tính ngẫu nhiên để lôi kéo trẻ vào hoạt động khám phá. Hãy để cho trẻ có thời gian, không gian và tự do để khám phá. Ở trẻ sẵn có niềm đam mê khám phá và nhạy cảm với thế giới xung quanh với hàng loạt câu hỏi: " Tại sao con cá bơi trong nước lâu như vậy mà không ngạt thở" " Tại sao chim có thể đứng yên một chỗ trên trời mà khỏngơi xuống" "Con giun này chân nó ở đâu" " Tại sao cùng đốt 2 cây nến mà có 1 cây nến bị tắt, 1 cây vẫn cháy".........Vì vậy giáo viên cần tạo cho trẻ cơ hội tiếp xúc tìm hiểu khám phá, thể hiện cảm xúc của mình. Các câu hỏi trẻ thường tìm đến cô để tìm lời giải đáp. Cô đừng từ chối mà hãy tận dụng cơ hội này gọi các trẻ khác đến cùng chia sẻ để tạo niềm hưng phấn và thói quen tìm hiểu thế giới xung quanh. Nên cho thời gian để trẻ suy nghĩ. Khuyến khích trẻ sáng tạo, cố gắng htể hiện, tìm ra cách làm, cách giải quyết khác với bạn, lựa chọn cách tốt hơn. Các câu trả lời hoặc những cách làm của trẻ đúng hay sai không quan trọng bằng việc biết được trẻ suy nghĩ, tìm ra câu trả lời bằng cách nào. Chú ý tới những trẻ nhút nhát, có khó khăn và khuyến khích bằng những câu hỏi dễ hơn, những yêu cầu đơn giản hơn, tạo cho trẻ cảm giác thành công trong công việc mà dần dần bạo dạn, tự tin vào bản thân. Giáo viên phải xử lý tình huống một cách linh hoạt, mềm dẻo và ph ù hợp Tích cực nghiên cứu làm đồ dùng đồ chơi tự tạo cho trẻ hoạt động, giáo viên phải tìm tòi và nghiên cứu xem học liệu nào trẻ sẽ dùng để trẻ có thể thực hiện các thí nghiệm, các hoạt động. Việc lựa chọn này cũng rất quan trọng để trẻ đạt được các yêu cầu đề ra. Trẻ phải được thao tác bằng tay với các nguyên vật liệu đã chuẩn bị. Giáo viên nên tận dụng các nguyên vật liệu sẵn có của địa phương, tái sử dụng các đồ dùng gia đình, các phế liệu. Tận dụng các nguyên vật liệu thiên nhiên ( đá, sỏi, vỏ sò, vỏ hến...) và sử dụng những thứ có sẵn trng môi trường ( Cây cối, cỏ , hoa, lá.....) Không ngừng học hỏi, tiếp thu những cái mới từ bạn bè, đồng nghiệp, từ các phương tiện thông tin, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc, đến gần công nghệ thông tin ngay từ bậc học mầm non. Với giáo viên mầm non việc dạy trẻ môn khám phá khoa học là rất cần thiết. Khi nghe đến từ " Khoa học" chúng ta thường có cảm giác căng thẳng vì trong chúng ta luôn sẵn có một suy nghĩ rằng khoa học là cái mà luôn cần đến nhiều tri thức và phải vắt óc suy nghĩ, thế nhưng khi tôi làm bản sáng kiến này thì thật sự không phải vậy. Thông qua những hoạt động khoa học, trẻ có thể giải quyết một cách rất sáng tạo bằng tính tò mò bẩm sinh những vấn đề, hiện tượng vốn luôn xuất hiện không ngừng trong cuộc sống hàng ngày. Việc vừa mang lại niềm vui và sự quan tâm về khoa học một cách tự nhiên, vừa chuẩn bị một nền tảng suy nghĩ khoa học đang trở thành mục tiêu lớn trong ngành giáo dục mầm non. Thông qua các hoạt động khoa học, trẻ mầm non tìm hiểu thế giới xung quanh và biểu hiện các suy nghĩ của mình một cách tự nhiên. Tôi đã phát huy những mặt thuận lợi và khắc phục những khó khăn ở trường ở lớp. Chủ động tham mưu với ban giám hiệu nhà trường và phối kết hợp với phụ huynh đầu tư thêm cơ sở vật chất cho công tác tổ chức khám phá khoa học. Chính vì vậy trẻ ở lớp tôi rất hào hứng, tự tin tham gia vào các hoạt động khám phá khoa học và các hoạt động khác. II/ NHỮNG KHUYẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. Sau khi thực hiện thành công sáng kiến kinh nghiệm này, tôi cũng xin có một vài khuyến nghị đề xuất nhỏ với các cấp lãnh đạo như sau. * Đối với phòng giáo dục: - Tạo điều kiện cho giáo viên được tham gia nhiều tiết kiến tập khám phá khoa học và các môn học khác. * Đối với nhà trường: - Tiếp tục đầu tư thêm cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho học tập và hoạt động của trẻ Tôi xin chân thành cảm ơn!

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Giúp Học Sinh Yếu Học Tốt Toán 11

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. MÔ TẢ SÁNG KIẾN Mã số: .. 1. Tên sáng kiến: Giải pháp giúp học sinh yếu học tốt toán 11. 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chất lượng chuyên môn giáo dục. 3. Mô tả bản chất của sáng kiến: 3.1. Tình trạng giải pháp đã biết: Hiện tượng học sinh yếu kém bộ môn toán trong trường THPT ở bất cứ địa phương nào, năm học nào, khối học nào cũng có. Nguyên nhân thì rất nhiều, có em do khả năng hạn chế của bản thân, có em do sự lười học lâu ngày mà thành hỏng kiến thức, có em do không đủ kiến thức, kĩ năng làm toán từ cấp THCS, và còn nhiều nguyên nhân khác. Vậy làm thế nào để học sinh vừa lấy lại được kiến thức cơ bản ở lớp dưới, vừa hình thành những kĩ năng giải toán và cao hơn là đem lại sự tự tin cho các em trong học tập. Do đó, việc có phương pháp đúng đắn để giúp các em học sinh yếu học tốt toán 11 để nâng cao chất lượng học tập của bộ môn là điều rất cần thiết. Tuy nhiên, nhiều giáo viên dạy toán thường gặp nhiều khó khăn khi dạy đối tượng học sinh yếu; Phương pháp giảng dạy hạn chế, kết quả giảng dạy chưa theo ý muốn, chưa đáp ứng yêu cầu chung của bộ môn và của trường. 3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến: – Mục đích của giải pháp: Nhằm giúp cho giáo viên có phương pháp đúng để giúp học sinh yếu tiếp thu được và vận dụng tốt kiến thức để nâng cao chất lượng bộ môn. – Nội dung giải pháp: * Điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm: Giáo viên có thể giúp học sinh yếu học tốt kiến thức của môn toán thông qua một số hoạt động rất bình thường, rất gần gũi với học sinh. * Sự khác biệt của giải pháp mới so với giải pháp cũ: Sáng kiến kinh nghiệm này đã hệ thống các phương pháp có thể áp dụng trong tiết dạy nhằm rèn luyện cho học sinh yếu tính tự tin và chủ động, tạo hứng thú học tập của các em, từ đó giúp các em tiếp thu và vận dụng tốt kiến thức đã học. * Cách thức thực hiện: + Trao đổi với đồng nghiệp. + Liên hệ thực tế trong nhà trường, áp dụng đúc rút kinh nghiệm qua quá trình giảng dạy. + Thông qua việc giảng dạy trực tiếp trên lớp. * Các bước thực hiện của giải pháp mới: 3.2.1. Phân loại học sinh, giúp đỡ , động viên kịp thời: Vào đầu năm học, khi nhận lớp giảng dạy tôi thường kiểm tra kiến thức chung của các em. Căn cứ vào kết quả này và kết quả năm học trước để phân loại học sinh yếu kém để trong quá trình giảng dạy sẽ chú ý giúp đỡ các em này nhiều hơn. Bên cạnh đó trong thời gian giảng dạy tôi luôn cố gắng quan sát cách thể hiện của từng học sinh trên lớp, từ đó bản thân sẽ tập trung được vào những học sinh thực sự yếu và không có năng lực. Thiết nghĩ làm giáo dục và đào tạo không chỉ dạy cho các em kiến thức môn học mà còn phải biết kết hợp giáo dục đạo đức, tìm hiểu tâm lý của các em. Giáo viên có thể trò chuyện, gần gũi, tìm hiểu hoàn cảnh của các em để có thể kịp thời giúp đỡ sẽ khích lệ tinh thần học tập của các em. Tâm lý của các em trong độ tuổi học sinh rất hiếu động nhưng do mặc cảm mình học yếu và không tiếp thu được kiến thức nêu thường rất thụ động. Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần có những câu hỏi nhỏ, những yêu cầu đơn giản mà các em có thể trả lời được để động viên, khích lệ tinh thần của các em. Ví dụ khi thấy các em làm bài được giáo viên có thể khen:” Hôm nay các em có tiến bộ,cần cố gắng thêm”, giáo viên có thể tìm những điểm tốt khác của các em để khen ngợi. Sự khen ngợi đó sẽ giúp các em tự tin hơn vào bản thân và có hứng thú hơn trong học tập. học có hiệu quả: Với các em học sinh yếu, ta không thể đòi hỏi các em phải nhớ thật nhiều kiến Ví dụ: Khi dạy phần tìm giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng tôi thường nhắc lại cách tìm giao tuyến giữa hai mặt phẳng: Trong mặt phẳng () cho tứ giác có các cặp cạnh đối không song song và điểm . a. Xác định giao tuyến của và (SBD) b. Xác định giao tuyến của (SAB) và (SCD) c. Xác định giao tuyến của (SAD) và (SBC) Giải a. Xác định giao tuyến của (SAC) và (SBD) Ta có : S là điểm chung của (SAC) và (SBD) Trong (a), gọi O = AC Ç BD · O Î AC mà AC Ì (SAC) Þ O Î (SAC) · O Î BD mà BD Ì (SBD) Þ O Î (SBD) Þ O là điểm chung của (SAC) và (SBD) Vậy : SO là giao tuyến của (SAC) và (SBD) b. Xác định giao tuyến của (SAB) và (SCD) Ta có: S là điểm chung của (SAC) và (SBD) Trong (a) , AB không song song với CD Gọi I = AB Ç CD · I Î AB mà AB Ì (SAB) Þ I Î (SAB) · I Î CD mà CD Ì (SCD) Þ I Î (SCD) Þ I là điểm chung của (SAB) và (SCD) Vậy : SI là giao tuyến của (SAB) và (SCD) Các kiến thức trên rất đơn giản nhưng nhắc lại thường giúp các em có thể vận 3.2.3. Kiến thức truyền thụ cho học sinh yếu, giáo viên cần phân tích thành từng dạng, mỗi dạng cần có các bước thực hiện cụ thể, rõ ràng để học sinh dễ nhớ, dễ vận dụng: Một trong những hoạt động cơ bản của học sinh trong học tập môn toán ở trườngTHPT là hoạt động giải toán nhưng học sinh yếu toán thường gặp khó khăn trong hoạt động này. Lí do là các em bị mất kiến thức cơ bản từ các lớp dưới nên tiếp thu kiến thức rất chậm, khi vận dụng vào bài thì các em không biết bắt đầu từ đâu, sử dụng kiến thức nào đã học, sử dụng như thế nào và thực hiện theo con đường nào. Sách giáo khoa thường chỉ trình bày chung, hạn chế các bước thực hiện nên học sinh yếu kém không thể tự học theo sách được. Vì vậy khi dạy học sinh yếu kém, tôi nghiên cứu soạn kỉ lại từng bước thực hiện của từng dạng toán cơ bản trong chương trình, giúp các em tiếp cận được từng dạng toán và từng bước giải để các em có thể vận dụng dễ dàng hơn trong hoạt động giải toán. Ví dụ: Khi dạy dạng bài tập giải phương trình asinx + bcosx = c có thể thực hiện các bước sau: Bước 1: Tính Bước 2: Chia hai vế phương trình cho Bước 3: Đưa phương trình về dạng sinf(x)= hoặc cosf(x)= Bước 4: Giải phương trình sinf(x)= hoặc cosf(x)= tìm x Tất cả các dạng bài tập toán cơ bản trong chương trình tôi đều nghiên cứu phân chia từng bước thực hiện cho phù hợp để học sinh có thể dễ dàng thực hiện. Khi vận dụng vào giải toán tôi thường cho các em xác định dạng toán đang giải là toán gì, từng bước thực hiện như thế nào. Có thể nhắc lại các bước giải nhiều lần để quen với cách làm, từ đó giúp cho các em hiểu được với từng dạng bài tập mình sẽ thực hiện từng bước như thế nào và vận dụng được từng bước giải theo thứ tự và có hiệu quả. 3.2.4. Rèn luyện kĩ năng giải bài tập: Đối với môn toán để rèn luyện học sinh yếu kém thì giáo viên phải luyện tập thường xuyên giúp cho các em nắm vững phương pháp giải và biết cách trình bày từng dạng bài tập toán. Bằng cách mỗi dạng bài tập giáo viên đều có phương pháp và cách trình bày riêng hoàn chỉnh làm mẫu để hướng dẫn các em giúp các em có cơ sở và biết cách trình bày tương tự khi học. Sau khi thực hành bài tập mẫu giáo viên cần đưa ra một số bài tập tương tự để các em tự làm theo mẫu, sau đó thay đổi các yêu cầu để tập cho các em suy nghĩ và vận dụng phần đã có vào bài tập mới. Điều này giúp các em thấy bản thân mình có thể làm được một số yêu cầu của bài, củng cố cho các em lòng tự tin vào khả năng của mình từ đó các em tích cực suy nghĩ để giải quyết các yêu cầu mới còn lại trong bài. Khi thấy các em không giải quyết được một yêu cầu mới nào đó tôi kịp thời có câu hỏi gợi ý để dẫn dắt các em phát hiện đưa những yêu cầu mới về cái tương tự mà mình đã học, đã làm được. Những yêu cầu mới có thể thay đổi dần từ ít đến nhiều, từ thấp đến cao cho phù hợp với từng nội dung kiến thức cần dạy cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy phần tìm giới hạn tôi thường nêu phương pháp giải và làm bài tập mẫu cho từng dạng toán như sau: 1. Dạng : a) L = với P(x), Q(x) là các đa thức và P(x0) = Q(x0) = 0 Phân tích cả tử và mẫu thành nhân tử và rút gọn. VD: b) L = với P(x0)= Q(x0) = 0 và P(x), Q(x) là các biểu thức chứa căn cùng bậc Sử dụng các hằng đẳng thức để nhân lượng liên hợp ở tử và mẫu. VD: c) L = với P(x0) = Q(x0) = 0 và P(x) là biểu thức chứa căn không đồng bậc Giả sử: P(x) = . Ta phân tích P(x) = . VD: = 2. Dạng : L = với P(x), Q(x) là các đa thức hoặc các biểu thức chứa căn. – Nếu P(x), Q(x) là các đa thức thì chia cả tử và mẫu cho luỹ thừa cao nhất của x. – Nếu P(x), Q(x) có chứa căn thì có thể chia cả tử và mẫu cho luỹ thừa cao nhất của x hoặc nhân lượng liên hợp. VD:a) b) 3. Dạng ¥ – ¥: Giới hạn này thường có chứa căn Ta thường sử dụng phương pháp nhân lượng liên hợp của tử và mẫu. VD: 4. Dạng 0.¥: Ta cũng thường sử dụng các phương pháp như các dạng ở trên. VD: Sau đó tôi đưa các bài tập tương tự để học sinh giải: Tìm các giới hạn sau: a) b) c) d) e) f) g) Tìm các giới hạn sau: a) b) c) d) e) f) g) h) 3.2.5. Cho các em tự nhận xét, đánh giá kết quả bài làm của mình, của bạn để khắc sâu kiến thức đã học: Thông thường khi giải bài tập, từng bài tôi đều cho học sinh lên bảng trình bày bài làm của mình. Sau khi trình bày xong cho học sinh tự nhận xét bài giải của mình từ cách trình bày, kiến thức sử dụng xem đã hoàn chỉnh hay chưa; cho học sinh khác nhận xét bài làm của bạn chỗ nào đúng, chỗ nào chưa đúng, cần bổ sung thế nào để bài làm được hoàn chỉnh. Nếu học sinh không phát hiện chỗ sai thì tôi có thể gợi ý để các em nêu cách sửa, sau đó tôi chốt lại thật kỉ để các em nhớ và vận dụng trong bài sau. Việc cho các em học sinh yếu tự kiểm tra, đánh giá kết quả bài làm của mình của bạn giúp các em tự phát hiện ra cái sai của mình để khắc phục, thấy cái sai của bạn để tránh né, điều này giúp các em khắc sâu kiến thức đã học và cảm thấy tự tin hơn, tích cực hơn tham gia hoạt động khi học và cảm thấy việc học toán không khó đối với bản thân mình, mình có thể học tốt hơ nhiều nếu có cố gắng. 3.2.6. Dùng những việc làm, những hình ảnh thực tế để lồng ghép vào bài học giúp các em có thể dễ nhớ kiến thức: Để xây dựng khái niệm chỉnh hợp tôi lấy ví dụ từ thực tế như: Một nhóm học tập có 5 bạn A, B, C, D, E. Hãy liệt kê ra vài cách phân công 3 bạn làm trực nhật: một bạn quét nhà, một bạn lau bảng và một bạn sắp xếp bàn ghế Khi dạy hình học không gian về hai mặt phẳng song song tôi nêu ví dụ như: hai mặt phẳng là tầng nhà và nền nhà song song nhau Qua các ví dụ, các hình ảnh thực tế sẽ giúp học sinh dễ dàng tiếp thu và khắc sâu kiến thức hơn. 3.3. Khả năng áp dụng của giải pháp: Sáng kiến kinh nghiệm này được nghiên cứu và áp dụng cho việc giảng dạy toán, đối tượng là học sinh yếu kém trong tất cả các trường THPT. Tuy nhiên, các giải pháp của sáng kiến có thể áp dụng cho việc giảng dạy các môn học khác. 3.4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp: Qua một thời gian thực hiện theo các kinh nghiệm trên chất lượng học sinh học tập bộ môn toán của chúng tôi giảng dạy có nâng lên rõ rệt. Phần đông các em học sinh yếu đều tiếp thu được kiến thức, vận dụng lí thuyết giải được các dạng toán cơ bản trong chương trình, không còn e ngại khi học toán mà phần nào ham thích học toán. Học sinh yếu không còn nhút nhác như trước mà mạnh dạn phát biểu, biết nêu lên những thắc mắc của mình khi chưa hiểu, từ đó chất lượng học tập của các em ngày càng được nâng lên, các em tỏ ra tự tin khi làm bài tập. Nhiều học sinh yếu kém toán đã có học lực trung bình, khá. 3.5. Tài liệu kèm theo: Không có. Bến Tre, ngày 18 tháng 03 năm 2015

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Dạy Học Toán 5 Giúp Học Sinh Tự Tìm Tòi, Khám Phá Kiến Thức trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!