Xem Nhiều 2/2023 #️ Sáng Kiến Kinh Nghiệm # Top 4 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Sáng Kiến Kinh Nghiệm # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Sáng Kiến Kinh Nghiệm mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Những nguyên nhân kể trên đều có phần đúng nhưng chưa đầy đủ mà có thể kể thêm một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do trong thời gian qua, công tác giáo dục đạo đức, tuyên truyền tư tưởng đạo đức chưa được xem trọng. Vì vậy, tăng cường giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ (thế hệ tương lai của đất nước) là việc làm hết sức cấp thiết. Nhằm giúp cho học sinh hình thành cho mình những thói quen đạo đức, từ đó các em sẽ có những hành vi đạo đức phù hợp trong cuộc sống hằng ngày. Chính vì thế mà tôi chọn nghiên cứu và thực nghiệm đề tài “Hình thành thói quen đạo đức cho học sinh lớp 2”. PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI Với vai trò là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rằng: muốn có những công dân tốt có ích cho xã hội, có ích cho nước, có lợi cho nhà thì trước tiên cần phải giáo dục đạo đức cho học sinh. Đặc biệt, là học sinh ở bậc học tiểu học, vì đây là bậc học nền tảng, bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân. Bậc tiểu học tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên những bậc trên, hình thành những cơ sở ban đầu của nhân cách. Những gì thuộc về tri thức kỹ năng, về hành vi con người … được hình thành và định hình ở học sinh tiểu học sẽ theo suốt cuộc đời mỗi người. Mặt khác, học sinh tiểu học dễ tiếp thụ sự nuôi dưỡng, sự giáo dục. Chính vì vậy, muốn hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức cần bắt đầu từ bậc tiểu học. Đồng thời, ở lứa tuổi này các em bắt đầu được tiếp thu các kiến thức về tự nhiên, về xã hội và bước đầu đã có ý thức. Trong hoạt động nhận thức, lứa tuổi này có tâm sinh lý riêng dễ bắt chước, chưa ý thức rành mạch việc gì đúng, việc gì sai, việc gì nên làm và việc gì không nên làm. Vì vậy, giáo viên cần phải nắm rõ những đặc điểm tâm sinh lý của lứa tuổi này sẽ giúp các em có ý thức hành động đạo đức đúng đắn chuẩn mực. Việc giáo dục đạo đức cho học sinh lớp 2 không chỉ đơn thuần là những bài học đạo đức ở trên lớp; những lý thuyết chung chung học mà không hành. Do vậy, lời nói việc làm của người lớn (ông, bà, cha, mẹ, thầy cô giáo …) trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày là khuôn mẫu, là gương sáng cho trẻ em ở bậc tiểu học. Để làm được điều đó, giáo viên chủ nhiệm không nên làm một mình mà cần tích cực kết hợp với phong trào đoàn thể trong nhà trường như phong trào Đội, sinh hoạt sao, các bậc phụ huynh và các phong trào đoàn thể ngoài nhà trường. Như vậy, từ việc giáo dục đạo đức, chúng ta sẽ hình thành cho trẻ những thói quen đạo đức thông qua giờ dạy đạo đức, các hoạt động ngoại khóa, tham quan du lịch Ngoài ra, nội dung các môn học khác trong chương trình học đều có chứa đựng nội dung giáo dục và hình thành những thói quen đạo đức nếu như ta biết khai thác. Ví dụ: Môn tiếng Việt với nhiều bài thơ, bài văn phong phú, đa dạng nói về quê hương, đất nước, con người, về cách ứng xử của các nhân vật khác nhau, nhờ đó mà có thể giáo dục hình thành cho các em tình yêu quê hương, đất nước, yêu lao động yêu con người, biết cách ứng xử trong các mối quan hệ xã hội và biết tỏ thái độ đối với các sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Môn toán với hệ thống các bài học về bốn phép tính được mở rộng nâng cao dần từ đầu đến cuối chương trình học, các bài học về hình học, đặc biệt các bài toán có lời văn đều có ý nghĩa trong việc giúp học sinh hình thành những biểu tượng đạo đức và một số phẩm chất đạo đức tích cực như cần cù, chăm chỉ, kiên trì, chính xác, tôn trọng sự thật. Hoặc như môn thủ công, ngoài kỹ năng khéo léo, tỉ mỉ, giáo viên còn giúp học sinh yêu quý những sản phẩm mình bỏ công sức làm ra, biết giúp đỡ ban bè khi cần thiết, vừa làm vệ sinh lớp học. Từ đó, sẽ giúp các em hình thành nên những thói quen đạo đức lâu dài. Điều này phải cần thiết phù hợp, đúng lúc, đúng nơi, đúng chỗ. PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH 1. Thuận lợi: – Được sự quan tâm của chính quyền địa phương, Phòng GD & ĐT, của Ban giám hiệu nhà trường, giúp cho tôi an tâm công tác và cố gắng nỗ lực hết sức mình vào sự nghiệp giảng dạy và giáo dục học sinh. – Ban giám hiệu nhà trường đặc biệt quan tâm, chỉ đạo đến công tác giáo dục đạo đức cho học sinh. – Môn học đạo đức gắn liền với thực tiễn cuộc sống nên được sử dụng thường xuyên, có những ví dụ cụ thể trong cuộc sống hằng ngày để giáo dục và từ đó hình thành nên những thói quen, chuẩn mực hành vi cho các em. – Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy nhiều năm ở bậc tiểu học. 2. Khó khăn: – Đa số các em học sinh là con em nông dân, công nhân nên thiếu sự quan tâm của gia đình, đồ dùng học tập còn thiếu, chưa được trang bị đầy đủ. – Tuy rằng hiện nay, Đạo đức là một trong những môn học chính nhưng thời lượng của môn học này chưa nhiều, chỉ 01 tiết / tuần. – Chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành. – Trình độ học sinh không đồng đều, kiến thức thực tế để xây dựng hành vi đạo đức cho các em còn hạn chế. PHẦN IV: NỘI DUNG THỰC HIỆN Nhờ đó, học sinh có cơ hội tham gia hoạt động, được luyện tập thực hành, trải nghiệm để hình thành các kĩ năng hành vi ứng xử và bày tỏ thái độ của mình khi áp dụng vào thực tiễn, đồng thời cũng tránh được hiện tượng học sinh đã nắm vững kiến thức, thuộc lòng các chuẩn mực hành vi đạo đức theo yêu cầu bài học nhưng trong cuộc sống vẫn không có được kĩ năng hành vi tương ứng. Dạy học theo sách vở, theo chương trình là chưa đủ mà cần phải giáo dục và hình thành đạo đức cho học sinh thông qua các hoạt động tập thể như hoạt động Đội, sao nhi đồng; thông qua các buổi lao động, các buổi tham quan du lịch, các hoạt động văn nghệ, TDTT… Và đặc biệt, không thể bỏ qua sự tự giáo dục đạo đức của mỗi cá nhân học sinh . PHẦN V: BIỆN PHÁP TIẾN HÀNH 1/ Giáo dục, hình thành thói quen đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức : Để thực hiện tốt việc giáo dục và hình thành nên những thói quen hành vi chuẩn mực đạo đức cho học sinh thông qua môn Đạo đức, tôi luôn thực hiện đầy đủ và nghiêm túc các bài dạy đạo đức, không mang tâm lý xem nhẹ môn học này vì cho rằng đó là môn phụ và không phải thi cử nên có tâm lý chủ quan, dạy qua loa, chiếu lệ. Đối với 3 tiết dạy dành cho địa phương, tôi tiến hành khảo sát xem những vấn đề nào cần phải tăng cường giáo dục để từ đó biên soạn các tiết dạy này cho sát với tình hình thực tế ở địa phương. Khi giảng dạy môn đạo đức, tôi thường xuyên đổi mới phương pháp, hình thức dạy học để tạo hứng thú cho các em khi tham gia học tập. Bên đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá là một khâu quan trọng, nó ảnh hưởng sâu sắc đến chất lương và hiệu quả dạy học. Việc đánh giá kết quả học tập có nhiều hình thức khác nhau như: quan sát thái độ học tập, kiểm tra vấn đáp, trắc nghiệm, bày tỏ thái độ Từ đó, học sinh có điều kiện thể hiện được bản thân và đặc biệt thực hiện được hành vi đạo đức của mình trong cuộc sống hằng ngày. Do đó, việc đánh giá phải được thể hiện trên tất cả các mặt: kiến thức, tình cảm thi độ và kỹ năng hành vi ứng xử của các em ở gia đình, nhà trường, cộng đồng. Năm học 2005 – 2006, Bộ GD – ĐT đã ra quyết định số 30/2005/BGD&ĐT về việc ban hành quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học trong đó môn đạo đức không đánh giá bằng định lượng (điểm số) mà được đánh giá bằng nhận xét theo hai hình thức: hoàn thành tốt (xếp loại A+) – hoàn thành (xếp loại A) và hình thức thứ hai là chưa hoàn thành (xếp loại B). Vì thế, giáo viên cần có kỹ năng và tinh thần thái độ tích cực trong việc vận dụng các tiêu chí, các chứng cứ biểu hiện mới để đánh giá kết quả học tập của học sinh cho đúng và chính xác. 2/ Giáo dục hình thành thói quen đạo đức thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: – Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Để giúp các em bớt thời gian chơi vô bổ. Ngoài những giờ học, vào giờ ra chơi nên tổ chức cho học sinh vui chơi với các trò chơi dân gian như: nhảy dây, bắn bi, bịt mắt bắt dê, thi kể chuyện, thi chạy nhanh, thi hát hay múa dẻo, ô ăn quan, chơi chuyền… Hoặc tập cho học sinh những bài tập thể dục với gậy, vòng để rèn luyện thân thể vui chơi nhưng bổ ích. Các em không còn thời gian để gây gổ hay chửi thề. – Ngoài giờ học chính khóa, tổ chức các hoạt động ngoại khoá cho học sinh tham gia. Chẳng hạn, tổ chức cho học sinh thăm các di tích lịch sử, di tích văn hoá để học sinh học tập các tấm gương của các danh nhân hoặc đến thăm các danh lam thắng cảnh, các khu vui chơi giúp các em có cơ hội vận dụng những điều đã học vào thực tế. – Ở trường Tiểu học, hoạt động ngoài giờ lên lớp rất phong phú, đa dạng. Trong đó, có những hoạt động được tổ chức thực hiện theo tiến độ thời gian hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng. Ví dụ: hoạt động 15 phút truy bài đầu giờ, đọc báo, văn nghệ; 30 phút ra chơi thì bao gồm thể dục giữa giờ, vui chơi giải trí; chào cờ đầu tuần; sinh hoạt Sao; hoạt động thi đua trong tháng; hoạt động hè ở địa phương…, có những hoạt động được tổ chức theo chủ điểm để kỷ niệm các ngày lễ lớn như: Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; mời các vị lão thành cách mạng hoặc các vị có chức trách trong chính quyền địa phương đến ôn lại truyền thống của bộ đội nhân ngày 22/12.. Ngoài ra, Giáo viên chủ nhiệm phối hợp với Liên đội hình thành các câu lạc bộ, đội nhóm sở thích như Câu lạc bộ cờ vua, Đôi bạn cùng tiến, Nói lời hay làm việc tốt, Hoa bé ngoan, Nét chữ nết người hướng các em đến các hoạt động vui chơi bổ ích và giúp nhau cùng tiến bộ. Qua hoạt động ngoài giờ lên lớp, học sinh có cơ hội được vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn luyện các phẩm chất đạo đức, các giá trị nhân văn và kĩ năng ứng xử trong cuộc sống… Do đó, có thể khẳng định hoạt động ngoài giờ lên lớp là một hình thức quan trọng để giáo dục học sinh. Để tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp đạt được kết quả như mong muốn, việc xây dựng kế hoạch là rất cần thiết, bao gồm kế hoạch hoạt động cho từng ngày, từng tuần, từng tháng, từng chủ điểm, từng học kì và từng năm học. Trong đó cần nêu rõ nội dung giáo dục đạo đức được thể hiện trong từng hoạt động được tổ chức. Vì thế muốn tổ chức tốt hoạt động ngoài giờ lên lớp tôi phải học hỏi, tìm hiểu thu thập thông tin về thực tế cuộc sống, tình hình chính trị xã hội để cung cấp triển khai nội dung cho các em học sinh. Tuy nhiên, để có được bản kế hoạch khoa học, phù hợp với đặc điểm nhà trường thì cần phối hợp chặt chẽ giữa tổng phụ trách đội , nhà trường, nên thiết kế và tổ chức một số hoạt động mẫu có lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức để học sinh học tập. Có thể chọn hoạt động hàng ngày, hàng tuần, hoặc hoạt động theo chủ điểm để làm hoạt động mẫu. Ví dụ: chọn hoạt động theo mẫu ở chủ điểm tháng 11: “Biết ơn thầy cô giáo”. Nội dung của chủ điểm bao gồm nhiều hoạt động đa dạng như thi đua nề nếp học tập tốt, giờ học tốt, giành nhiều điểm 10 kính tặng thầy cô, mit – tinh kỉ niệm và biểu diễn văn nghệ, thi viết chữ đẹp, thi kể chuyện… Mục tiêu của các hoạt động này nhằm giáo dục ý thức “Tôn sư trọng đạo”. Điều đó được thể hiện bằng lòng tôn kính, chăm chỉ học tập giành nhiều điểm tốt, vâng lời thầy cô… Về cách thức tổ chức, điều kiện thực hiện, thời gian,… cần phải được thiết kế, lên kế hoạch khoa học, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của nhà trường. Trong quá trình thực hiện nên phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo điều kiện về mọi mặt để tổ chức tốt hoạt động. Khi đánh giá, cần xây dựng tiêu chí, chuẩn mực đánh giá cho mỗi hoạt động cụ thể và sử dụng nhiều hình thức kiểm tra nhằm thực hiện cho việc đánh giá kết quả hoạt động một cách khách quan, công bằng, chính xác, tạo tâm lý phấn khởi, tích cực thi đua hoạt động ở học sinh. Ví dụ: hình thức kiểm tra từ trên xuống, kiểm tra chéo, kiểm tra của đội sao đỏ, lớp trực tuần…). Hàng ngày, học sinh thực hiện hành vi đạo đức theo mẫu các chuẩn mực được học ở mọi lúc, mọi nơi trong các mối quan hệ, các tình huống khác nhau. Nhờ việc thực hiện thường xuyên như vậy hành vi của các em sẽ trở thành kỹ xảo thói quen bền vững (như lễ phép với người lớn tuổi, đi thưa về chào, bỏ rác đúng nơi quy định, giữ gìn trật tự vệ sinh nơi công cộng) Khi luyện tập hành vi đạo đức cho học sinh có thể sử dung biện pháp tạo tình huống giáo dục, tức là chủ động tạo ra tình huống đạo đức một cách tự nhiên, đặt ra cho học sinh một cách “tình cờ”. Trước tình huống đó, các em tự lựa chọn cách ứng xử xho mình. Khi đó, việc thực hiện hành vi của trẻ không do thầy cô, cha mẹ, bạn bè ép buộc mà hoàn toàn theo ý thức, thái độ tự giác của các em. Từ đó, học sinh biết lựa chọn hành vi sao cho phù hợp chuẩn mực đạo đức, trên cơ sở luyện tập các hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng sẽ hình thành nên những thói quen tích cực và bền vững. Mặt khác, phương tiện quan trọng để tập thói quen hành vi là chế độ giờ giấc. Việc tuân thủ theo chế độ giờ giấc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 nói riêng, vì ở chúng, ý chí chưa hình thành đầy đủ. Với chế độ giờ giấc nghiêm ngặt, chặt chẽ sẽ giúp trẻ củng cố các hành động tích cực, điều khiển ước muốn của mình, tạo ra các thói quen tích cực. Ngoài những việc làm trên, chúng ta có thể sử dụng thêm những gương danh nhân, những gương đạo đức thực tế trong cuộc sống sẽ trở nên cụ thể hơn, sinh động hơn và có sức thuyết phục hơn để kích thích các em bắt chước theo. Bên cạnh đó, kết quả giáo dục đạo đức của học sinh còn chịu sự ảnh hưởng của gia đình. Vì thế, trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, tôi phải thực hiện liên kết với gia đình các em để tìm hiểu, nắm vững hoàn cảnh sống , đặc điểm về thể chất, tâm sinh lý của các em. Nhờ đó, mà giúp các em phát huy những mặt mạnh của bản thân như giúp đỡ bạn, nhân hậu, vị tha khi bạn không phải với mìnhĐồng thời, tôi cũng trao đổi với gia đình qua điện thoại, hoặc gặp trực tiếp thông báo về trường hợp học sinh có những biểu hiện cá biệt để cùng phối hợp giáo dục đạo đức đạt kết quả tốt hơn. Qua đó, tôi sẽ làm công tác tư vấn giúp cha mẹ các em hiểu rõ về giáo dục đạo đức cho học sinh với những vấn đề cơ bản sau: – Trách nhiệm của gia đình trong việc phối hợp với nhà trường để giáo dục đạo đức cho con em họ . – Do khả năng nhận thức của học sinh còn hạn chế, nặng về cảm tính, chưa biết độc lập phân tích và đưa ra những đánh giá, nhận xét của riêng mình về các hiện tượng diễn ra trong cuộc sống, vì vậy gia đình cần hiểu và thống nhất với nhà trường về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục học sinh. Nếu thiếu sự thống nhất đó thì rất dễ dẫn tới việc sai lầm các giá trị đạo đức ở các em . – Ngoài ra, gia đình cũng cần tạo điều kiện thuận lợi (Phương tiện dụng cụ học tập, thời gian học tập, vui chơi giải trí…) cho con em mình học tập và rèn luyện, đồng thời dành sự quan tâm chăm sóc và tạo bầu không khí gia đình đầm ấm, hạnh phúc * Phối hợp với chính quyền địa phương và các đoàn thể xã hội: Thực chất đây là sự liên kết giáo dục giữa nhà trường với xã hội. Các lực lượng xã hội gồm: chính quyền địa phương, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Chữ thập đỏ cùng liên kết để giáo dục các em. Trên cơ sở đó, tổ chức các hoạt động như: tuyên truyền công tác bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng, an toàn giao thông, nghe nói chuyện về truyền thống đấu tranh cách mạng ở địa phương, tham quan di tích lịch sử Điều đặc biệt quan trọng là mỗi thành viên của lực lượng xã hội khi tham gia công tác phải thực sự gương mẫu, là tấm gương về lao động, công tác, nhân ái, vị tha, văn minh trong quan hệ ứng xử với mọi ngườiđó là những tấm gương sống động và mạnh mẽ sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành nhân cách của các em và đây cũng chính là môi trường tốt và lành mạnh để các em thể hiện rõ hành vi của mình. Giáo viên là yếu tố cốt lõi, là người khởi xướng và thực hiện, là tấm gương sáng tự học và tự rèn cho học sinh noi theo. Mọi cử chỉ lời nói của giáo viên đều có ảnh hưởng sâu sắc đến học sinh lớp mình chủ nhiệm cho nên nếu các hành vi đó không mẫu mực cũng sẽ làm cho học sinh dễ bắt chước theo. Mọi cử chỉ nói năng, ăn mặc, đi đứng, thái độ biểu hiện của giáo viên đều có ảnh hưởng nhất định đến nhân cách học sinh. Chính vì thế, mà tôi luôn không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trau dồi phẩm chất đạo đức, luôn mẫu mực trong cuộc sống, thiết lập mối quan hệ thường xuyên, thân thiết quan tâm gần gũi với các em như một người chị, người mẹđể dẫn lối chỉ đường nhằm hoàn thiện nhân cách đạo đức cho các em. Kỹ năng thể hiện hành vi của các em là quan trọng nhất và cũng là khó khăn nhất, nên trong công tác giảng dạy tôi luôn cố gắng hướng các em vào những việc làm, hành động cụ thể để các em thực hiện được những hành vi tích cực đó trong cuộc sống hằng ngày. PHẦN VI: KẾT QUẢ Sau một thời gian thực hiện các kinh nghiệm trên, lớp tôi dạy (sĩ số 32 học sinh) đã đạt kết quả như sau: – Loại hoàn thành tốt (A+) đạt 18 em, chiếm tỉ lệ: 56,25%. – Loại hoàn thành (A) đạt 14 em, chiếm tỉ lệ: 43,75%. – Không có học inh xếp loại chưa hoàn thành. Trong thực tế áp dụng các kinh nghiệm trên, tôi nhận thấy học sinh do lớp mình phụ trách có những bước tiến triển sau: – Hình thành cho các em ý thức về những chuẩn mực hành vi đạo đức (tri thức và niềm tin) tạo nên những già trị đạo đức phù hợp với những chuẩn mực quy định. – Hình thành được cho các em những kỹ năng, hành vi phù hợp với các chuẩn mực và trên cơ sở đó rèn luyện thành thói quen đạo đức tích cực. – Vận dụng những thói quen đạo đức trong cuộc sống hàng ngày của học sinh. Nói chung mỗi hành vi thói quen đạo đức của học sinh đều đòi hỏi người giáo viên phải có sự kiên trì, nhẫn nại dẫn dắt học sinh trong từng bài học, tình huống, hành vi hoạt động cụ thể nhất là khâu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống hằng ngày để rèn luyện nó trở thành thói quen tích cực và bền vững. PHẦN VII: BÀI HỌC KINH NGHIỆM. Trong quá trình dạy và áp dụng những kinh nghiệm trên nhằm góp phần hình thành nên những thói quen đạo đức cho học sinh ở lớp 2, tôi cũng đã đọc kỹ và tìm hiểu nội dung chương trình môn học Đạo đức của lớp 2. Điều này rất có ích để tôi giáo dục đạo đức tốt hơn cho học sinh. Bên cạnh đó tôi cũng rút ra được một vài kinh nghiệm trong việc dạy học, tổ chức các hoạt động trong việc hình thành những thói quen đạo đức cho học sinh tiểu học. 1. Người giáo viên phải thực sự có lòng yêu nghề, mến trẻ, kiên trì, nhẫn nại, nhiệt tình trong công tác, không ngại khó, ngại khổ.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Gdcd

MỤC LỤC A-PHẦN MỞ ĐẦU: 1-Lí do chọn đề tài : 1 2-Đối tượng nghiên cứu: 23- Mục tiêu nghiên cứu : 3 4-Phương pháp nghiên cứu: 4 5- Nhiệm vụ nghiên cứu: 5 B-NỘI DUNG 1-Cơ sở lí luận: 62-Thực trạng vấn đề: 73Nội dung nghiên cứu: 94-Kết quả: C-KẾT LUẬN. D-Tai lieu tham khao

A-1-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:a-Lí do khách quan: Hiện nay, đất nước ta đang “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước,tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa” (NQ -TW Đảng KhóaIX), cùng với sự kiện trên, hệ thống giáo dục nói chung , bậc học nói riêng, ra sức phấn đấu thực hiện có hiệu quả đổi mới chương trình sách giáo khoa , đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng giáo dục theo chủ trưông của Đảng và Nhà nước, nhằm mục đích nâng cao trình độ hiểu biết của học sinh về mọi mặt, đáp ứng ” mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện” (Luaät -GD). . Xác định được nhiệm vụ trên, Bộ môn giáo dục công dân, ở trường trung học cơ sở có một vị trí vai trò quan trọng trong việc góp phần trực tiếp đào tạo nhân cách con người, có được phẩm chất đạo đức cần thiết, trong giảng dạy làm thế nào tạo cho được sự hứng thú học tập bộ môn,huy đọâng sự tham gia tích cựccủa HS , từ đó mới nâng cao GDCD bậc THCS. b-Lí do quan: Là giáo viên dạy GDCD, được dự các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nhất là các lớp thay sách giáo khoa, ñổi mới phöông pháp giảng dạy,bản thân có vốn kiến thức cũng như kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy và cũng có mong muốn đáp ứng mục tiêu của và Nhà nước, góp phần đào tạo thế hệ trẻ có nhân cách hoàn chỉnh phù hợp với thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.Từ đó tôi chọn đề tài :“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bộ môn Giáo Dục Công Dân ở THCS” .2-ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUchọn học sinh khối: 6 ,7 ,8 và 9 làm đối tượng nghiên cứuThuận lợi :-Có bộ sách giáo khoa GDCD 6,7, 8,9,sách giáo viên GDCD 6,7,8 9và bộ tranh GDCD6, một số tranh lớp 7, lớp 9.-Có sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám Hiệu,Tổ chuyên môn -Có sự kết hợp giáo dục đồng bộ của :Gia đình ,nhà trường và xã hội.Khó khăn:-Tài liệu tham khảo quá ít .-Dụng cụ trực quan cung cấp chưa đầy đủ nên với mỗi bài phải tự thiết kếâ thêm hoặc sưu tầm, để minh họa cho tiết dạy .-Sách giáo khoa không có màu đặc trưng. Ví dụ như:Các biển báo thông dụng ,trong bài 14 :”Thực Hiện An Toàn Giao Thông”…3-MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:-Môn GDCD,nhằm giáo dục học sinh ,các chuẩn mực đạo đức phù hợp với quy định xã hội, qua đó hình thành nhân cách con người. Trong giảng dạy, từng bước phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, học sinh tham gia tích cực quá trình học tập, để tự phát hiện và chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng và thái độ .-Giúp học học sinh nhận thức được: “Học phải đi đôi với hành”; “Lí luận gắn liền với thực tiễn”, giúp học hứng thú trong học tập bộ môn GDCD.-Người giáo viên phát huy được tính tích cực chủ đôïng, sáng tạo học tập của học sinh, qua sự vận dụng sáng tạo các phương pháp đặc trưng bộ môn.Bao gồm phương pháp mới kết hợp với phương pháp cổ truyền.4-NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU :-Giúp học sinh hiểu, nắm chắc và tin tưởng vào tính đúng đắn của các chuẩn mực đạo đưcù, pháp luật, đặc biệt là hiêûu được vai trò, ý nghĩa và cách rèn luyện các chuẩn mực .-Xây dựng và từng bước hình thành ở học sinh những thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn, trong tất cả các mối quan hệ với người xung quanh .Xuất phát từ nhiệm vụ trên, đểû đạt hiệu quả chất lượng bộ môn GDCD cần có một số biện pháp giảng dạy tích cực gây hứng thú

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm môn Toán lớp 1

Sáng kiến kinh nghiệm – Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy – học môn Toán ở lớp 1 đua ra một số kinh nghiệm về cải tiến phương pháp dạy học môn Toán ở lớp một nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở môn học này. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Lưu ý: Nếu không tìm thấy nút Tải về bài viết này, bạn vui lòng kéo xuống cuối bài viết và dùng máy tính để tải về.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY – HỌC MÔN TOÁN Ở LỚP 1

I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1. Cơ sở lý luận:

Bậc tiểu học được coi là bậc học nền tảng của cả hệ thống giáo dục, trong đó lớp Một chính là phần móng của cái nền tảng ấy. Nền móng chắc thì mới đảm bảo cho phần kiến trúc bên trên được bền vững. Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp Một nói riêng luôn là vấn đề thời sự, nó được các cấp giáo dục từ Trung ương đến cơ sở hết sức quan tâm và đặt lên nhiệm vụ hàng đầu. Tuy nhiên, để nâng cao được chất lượng dạy và học thì ngoài việc áp dụng những quan điểm lý luận, những hướng dẫn mang tính định hướng về nội dung và phương pháp dạy – học của các nhà khoa học giáo dục, còn đòi hỏi người giáo viên trực tiếp đứng lớp luôn phải tự tìm tòi, nghiên cứu và sáng tạo để không ngừng cải tiến phương pháp dạy – học sao cho vừa phải phù hợp với đối tượng học sinh ơ ûtừng vùng miền, từng lớp, từng thời điểm…, vừa phải đạt được những yêu cầu chung được đặt ra về mặt kiến thức. Việc cải tiến phương pháp dạy – học càng đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay, khi mà bậc tiểu học vừa hoàn thành xong việc triển khai chương trình sách giáo khoa mới và đang cần rất nhiều những đóng góp mang tính thực tiễn từ phía giáo viên trực tiếp đứng lớp để nội dung và phương pháp dạy – học theo chương trình mới được hoàn thiện ở mức cao nhất.

Là một người giáo viên, bản thân tôi cũng luôn mong muốn góp những kinh nghiệm nhỏ bé của mình vào cái Đại dương mênh mông kiến thức về phương pháp dạy – học của nền giáo dục nước nhà. Trong phạm vi nhỏ hẹp của đề tài này, tôi muốn đưa ra để trao đổi với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm về cải tiến phương pháp dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở môn học này.

Trước hết, chúng ta cùng xác định một cách tổng quát về mục tiêu dạy – học môn Toán ở lớp Một.

Theo nghiên cứu của tôi về chương trình, sách giáo khoa mới thì tôi nhận thấy việc dạy – học Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:

Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phép đếm các số tự nhiên trong phạm vi 100 và phép cộng , phép trừ không nhớ trong phạm vi 100; về đo độ dài trong phạm vi 20cm; về tuần lễ, các ngày trong tuần lễ; về đọc đúng giờ trên mặt đồng hồ; về một số hình học (đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về gải toán có lời văn…

Hình thành và rèn luyện các kỹ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạmvi 100; cộng và trừ không nhớ các số trong phạm vi 100; đo và ước lượng độ dài đoạn thẳng (với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20cm); nhận biết hình vuông, hình tròn, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm; vẽ đoạn thẳng có độ dài 10cm; giải một số toán đơn về cộng, trừ; bước đầu biết diễn đạt bằng lời, bằng ký hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành; tập so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.

Học sinh chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú trong học tập.

Để học sinh có thể đạt được những yêu cầu đã đặt ra ở trên không phải là khó nhưng cũng hề dễ nếu giáo viên không có những cải tiến thích hợp về phương pháp dạy – học. Đó cũng chính là điều làm tôi luôn băn khoăn, trăn trở tìm cách để nâng cao chất lượng dạy – học, nâng dần trình độ tiếp thu của học sinh.

Với thực tế kinh nghiệm của 18 năm liên tục được phân công giảng dạy ở lớp Một và sau 6 năm thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, tôi đã có một số biện pháp hữu hiệu để khi học xong lớp Một các em phải biết:

Tính cộng và trừ trong phạm vi 100.

Đo độ dài đoạn thẳng trong phạm vi 10 cm.

Tuần lễ và các ngày trong tuần lễ.

Biết đọc giờ trên mặt đồng hồ.

Giải một số bài toán đơn về cộng, trừ.

Biết so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.

2. Thực trạng và nguyên nhân:

Trong 1-2 năm đầu thực hiện chương trình sách giáo khoa mới, chất lượng môn Toán ở lớp do tôi phụ trách nói riêng và trong toàn khối Một nói chung còn nhiều hạn chế. Các em thường xuyên sai ở một số điểm sau:

Lúng túng trong việc so sánh giá trị các số.

Chưa thành thạo khi tìm thành phần chưa biết của phép cộng, trừ.

Giải toán có lời văn còn nhầm lẫn hoặc chưa viết được câu lời giải.

Chất lượng kiểm tra định kỳ cuối kỳ II môn Toán ở lớp do tôi phụ trách trong hai năm học 2002 -2003 và 2003 -2004 như sau:

Giáo viên chưa thực sự nắm bắt được phương pháp giảng dạy mới để phát huy tính tích cực của học sinh.

Trình độ học sinh không đồng đều: có em đã được học qua lớp Mẫu giáo, có em chưa bao giờ biết đến mặt chữ, sách vở trước khi vào lớp Một; có em chỉ dạy qua một lần, thậm chí chỉ nói sơ qua đã biết, nhưng cũng không ít học sinh giáo viên dạy đi dạy lại nhiều lần vẫn chưa hiểu hoặc hiểu rồi lại quên ngay.

II/ ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH:

Năm học 2008-2009 tôi tiếp tục được phân công dạy lớp Một, lớp có 28 học sinh; trong đó có 14 học sinh nữ. Trong quá trình giảng dạy, tôi gặp một số khó khăn và thuận lợi sau:

1. Thuận lợi:

– Bản thân tôi đã trực tiếp giảng dạy lớp Một được 19 năm nên ít nhiều cũng đã tích luỹ được một số kinh nghiệm dạy học, trong đó có kinh nghiệm dạy học môn Toán ở lớp Một; có khả năng tự làm một số đồ dùng dạy học đơn giản phục vụ cho việc dạy học.

– Hoàn cảnh gia đình có nhiều thuận lợi cho công tác giảng dạy, nghiên cứu tài liệu: chồng tôi cũng là một đồng nghiệp và là lãnh đạo trong nhà trường nên anh đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong giảng dạy; các con tôi đã khôn lớn; kinh tế gia đình tạm ổn định…

– Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đến công tác đổi mới phương pháp dạy – học nhằm nâng cao chất lượng mọi mặt của nhà trường.

– Nhiều học sinh học tập tích cực.

2. Khó khăn:

– Một số gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn, làm nghề lao động phổ thông vất vả cả ngày nên ít có thời gian và sức lực để chăm sóc con cái về mọi mặt.

– Một số học sinh gia đình có hoàn cảnh khó khăn phải phụ giúp công việc gia đình như: trông em, mót điều, mót mủ cao su… không có thời gian chuẩn bị bài ở nhà nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới kết quả học tập, trong đó có môn Toán.

– Địa bàn xã rộng, học sinh ở rải rác trong nhiều thôn; thậm chí có những em nhà ở trong rẫy, trong bưng, đường đi lại khó khăn nên việc gặp gỡ trực tiếp giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh còn hạn chế.

– 1/3 số học sinh trong lớp chưa được học qua trường Mẫu giáo nên còn nhút nhát, hạn chế về mặt tiếp thu kiến thức (do chưa được làm quen với mặt chữ, số).

– Lớp có 2 học sinh lưu ban, trong đó 1 em đã lưu ban 3 năm lớp Một.

III/ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: A- PHÂN LOẠI HỌC SINH:

Như tôi đã trình bày ở phần trên, tuy trường tôi ở thị tứ, là trung tâm của cụm gồm 5 xã nhưng tình hình học sinh vẫn rất đa dạng, có em đã học qua Mẫu giáo và cũng còn nhiều em chưa được học qua bậc học này, thậm chí có những em lưu ban nhiều năm ở lớp Một; trình độ tiếp thu do vậy cũng rất khác nhau. Vào đầu mỗi năm học, sau khi tựu trường khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: Giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập ( dựa vào vở Bài tập Toán) có yêu cầu kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

Trong năm học đầu tiên khi áp dụng thử nghiệm đề tài, sau khi phân loại học sinh và chuẩn bị được một số lượng bài tập đủ để dạy cho ít nhất 1 chương (các chương còn lại tôi sẽ tiến hành soạn tiếp trong những khoảng thời gian rảnh rỗi và những năm học tiếp theo sau đó tôi chỉ cần điều chỉnh, bổ sung thêm cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng năm học), tôi tiến hành các biện pháp cụ thể để áp dụng đề tài.

B- BIỆN PHÁP CỤ THỂ:

Trước hết, tôi tranh thủ trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu họ mua sắm cho học sinh đầy đủ các dụng cụ cần thiết tối thiểu cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ ghép Toán…, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh trang bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm thêm một số bài mà các em chưa thông thạo về kiến thức (bài tập do giáo viên biên soạn). Việc làm này sẽ có tác dụng củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn kiến thức mình vừa phát hiêïn được, đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết cho học sinh.

Khi học sinh đã có đủ các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết, tôi bắt đầu áp dụng đề tài cụ thể cho từng dạng Toán như sau:

1. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối vơí học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Đối với những học sinh trung bình, yếu, kém; kiến thức về nhiều hơn, ít hơn các em chỉ được nghe khi vào học lớp Một vì những học sinh này thường ít được sự quan tâm, hướng dẫn của cha mẹ từ những sinh hoạt, vui chơi hàng ngày; hơn nữa, cha, mẹ của các em cũng vì lo bươn chải làm lụng để mưu sinh nên cũng ít chăm lo đến học tập của con cái mình. Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Tác Nghiệp Trong Thẩm Định Sáng Kiến

1 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc BÁO CÁO GIẢI PHÁP TÁC NGHIỆP (Đề nghị tặng thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở) I. SƠ LƢỢC BẢN THÂN: - Họ và tên: Phạm Tấn Thành; - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Nội vụ Ea H'Leo; - Ngày, tháng, năm sinh: 28/4/1988; - Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Cử nhân Công nghệ thông tin. - Chức năng, nhiệm vụ được phân công: Thi đua-Khen thưởng; QLNN về Thanh niên; Dân vận Chính quyền; Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Công nghệ thông tin. II. NỘI DUNG GIẢI PHÁP 1. Tên giải pháp: "Giải pháp tác nghiệp trong thẩm định sáng kiến". 2. Căn cứ hình thành giải pháp - Luật Thi đua-Khen thưởng số 15/2003/QH11, ngày 26/11/2003 của Quốc hội; Luật số 39/2013/QH13, ngày 16/11/2013 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua- Khen thưởng của Quốc hội; - Chỉ thị số 34-CT/TW, ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng; - Chỉ thị số 07/CT-TTg, ngày 19/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phòng, chống tiêu cực trong công tác quản lý công chức, viên chức và thi đua, khen thưởng; - Chỉ thị số 35/CT-TTg, ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước chào mừng Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đại hội thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ IX và các ngày lễ lớn trong năm 2015; - Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng; - Nghị định số 13/2012/NĐ-CP, ngày 02/3/2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến; - Nghị định số 65/2014/NĐ-CP, ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng năm 2013; - Thông tư số 07/2014/TT-BNV, ngày 29/8/2014 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ-CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thi đua-Khen thưởng và Luật sửa đổi bổ sung 2 một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng, Nghị định số 39/2012/NĐ-CP, ngày 27/4/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 42/2010/NĐ- CP, ngày 15/4/2010 của Chính phủ và Nghị định số 65/2014/NĐ-CP, ngày 01/7/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua- Khen thưởng năm 2013; - Chỉ thị số 32-CT/TU, ngày 09/10/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng và đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước của tỉnh; - Chỉ thị số 02/CT-UBND, ngày 06/3/2014 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng và phong trào thi đua yêu nước của tỉnh; - Quyết định số 11/2015/QĐ-UBND, ngày 03/3/2015 của UBND tỉnh Đăk Lăk về việc ban hành quy định công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh; - Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk Về việc ban hành Quy định xét công nhận phạm vi ảnh hưởng của thành tích, sáng kiến, giải pháp công tác, đề tài nghiên cứu trong khen thưởng các danh hiệu thi đua; 3. Thực trạng nhiệm vụ, công tác trƣớc khi áp dụng giải pháp - Quy trình thẩm định đối với SKKN, GPCT của cán bộ, công chức hành chính Nhà nƣớc: Hồ sơ sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác (SKKN, GPCT) của các cá nhân được Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị tổng hợp, trình đề nghị UBND huyện công nhận, gửi nộp về UBND huyện thông qua Phòng Nội vụ. Chuyên viên Phòng Nội vụ tiếp nhận, thẩm định sơ bộ sau đó đưa ra Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét, bỏ phiếu kín với tỷ lệ phiếu từ 70% thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện công nhận tại cuộc họp. Sau đó, Phòng Nội vụ sẽ tổng hợp tham mưu trình Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định công nhận những SKKN, GPCT đã được các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện công nhận. - Quy trình thẩm định đối với SKKN, GPCT của công chức quản lý, viên chức ngành Giáo dục theo năm học: Hồ sơ SKKN, GPCT của cá nhân được nộp về Phòng Giáo dục và Đào tạo. Chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo tiếp nhận, tổng hợp, thẩm định trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục xét, chấm điểm theo Công văn số 76/SGDĐT-VP, ngày 16/01/2013 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc Hướng dẫn viết, đánh giá SKKN từ năm 2013 đến năm 2016: (Loại Tốt (A): Từ 86 đến 100 điểm tr ng đ ti u chu n t đi trở n ti u chu n t đi trở n; Loại Khá (B): Từ 75 đến 85 điểm tr ng đ ti u chu n đạt đi trở n; Loại Trung bình (C): 60 đến 74 điểm; Dưới 60 điểm: Không xếp ại). Sau đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo lập Tờ trình gửi nộp hồ sơ Phòng Nội vụ. Do Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện và Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục là ngang nhau vì cùng do Chủ tịch UBND huyện Quyết định thành lập nên Phòng Nội vụ chỉ kiểm tra thể thức, số lượng hồ sơ mà không thẩm định lại và căn cứ Tờ trình của Phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định công nhận mà không tham mưu Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét. - Thực trạng: Như vậy, có thể thấy trong một năm để xét, thẩm định các SKKN, GPCT thì huyện cần phải tổ chức 02 Hội đồng khác nhau: Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện (xét ch cán bộ công chức hành chính Nhà nước the nă công tác) và Hội đồng 3 xét duyệt sáng kiến ngành giáo dục (xét cho công chức quản ý vi n chức ngành Giá dục the nă học). Trong đó, điểm hạn chế là Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục cũng do Chủ tịch UBND huyện Quyết định thành lập nhưng qua mỗi năm học thì thành viên Hội đồng chưa được ổn định, phải kiện toàn thay đổi thành viên mới. Nhiều khi cũng SKKN, GPCT đã được thành viên Hội đồng công nhận trong năm học 2013-2014 nhưng thành viên Hội đồng năm học 2014-2015 vẫn tiếp tục công nhận do thành viên mới không biết được giải pháp đó là của năm trước. Một phần cũng là do khâu lưu trữ, quản lý SKKN, GPCT của công chức làm công tác thi đua, khen thưởng ngành Giáo dục chưa sàn lọc, làm tốt khâu thẩm định ban đầu. - Các thành viên Hội đồng sáng kiến thì làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, bận công việc chuyên môn ở cơ quan nên nhiều lúc không có thời gian xem xét được hết các nội dung của sáng kiến. - Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk ban hành đã lâu, không có bảng chấm điểm, khi xét chấm dựa trên 03 điều kiện (Tính ới tính khả thi; phạ vi ảnh hưởng) còn chung chung chưa cụ thể làm cho thành viên Hội đồng khó mường tượng để chấm. Do đó, việc tham mưu Chủ tịch UBND huyện công nhận SKKN, GPCT còn gặp nhiều khó khăn, nhất là việc công nhận trùng lặp SKKN, GPCT; tình trạng sao chép SKKN, GPCT, sao chép trên mạng chưa được phát hiện do chỉ một đầu mối xem xét là 01 Hội đồng xem xét thẩm định; lãng phí tài chính của Nhà nước chi cho công tác xét duyệt sáng kiến, trong khi SKKN, GPCT không mang lại hiệu quả thực chất. 4. Những yếu tố khách quan, chủ quan của những giải pháp đƣợc đề xuất trong thực hiện nhiệm vụ, công tác a) Những yếu tố khách quan: - Đảng và Nhà nước luôn quan tâm sâu sát công tác thi đua, khen thưởng. Đồng thời, xuất phát từ việc nghiên cứu các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Trong đó theo Chỉ thị số 34 của Bộ Chính trị cần đổi mới công tác thi đua khen thưởng với 06 nội dung chính. Tiếp đến là Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua - Khen thưởng năm 2013; - Được sự quan tâm của tập thể và sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Phòng Nội vụ trong công tác thi đua-khen thưởng đã tác động, thôi thúc bản thân tôi phải trằn trọc, suy nghĩ để làm sao cho việc khen thưởng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cơ sở phải đúng thực chất. b) Những yếu tố chủ quan: Năm 2015 là năm diễn ra nhiều sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, của tỉnh Đăk Lăk cũng như huyện nhà. Trong đó, bản thân đã xác định là năm có nhiều công việc cần phải tập trung giải quyết đó là: Đại hội thi đua yêu nước huyện lần II; Huyện Ea H'Leo giữ đương chức Cụm trưởng Cụm thi đua số 2 của tỉnh năm 2015. Do đó, bản thân cũng ý thức được trách nhiệm nặng nề và quyết tâm nổ lực lao động sáng tạo hoàn thành công việc được giao. 4 Qua nhiều năm công tác, tham mưu Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét các sáng kiến nhưng bản thân gần như còn nhầm lẫn, hiểu nhầm sáng kiến là một mảng khác và giải pháp là một mảng khác. Nhưng thực chất thì giải pháp công tác là một thành phần cấu thành sáng kiến. 5. Nội dung của giải pháp 5.1. Giải pháp thứ nhất: Nâng cao năng lực tác nghiệp của công chức làm công tác Thi đua-Khen thưởng về chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ. Như vậy, trong quy trình thì khâu thẩm định sơ bộ của chuyên viên không quyết định công nhận hay không công nhận SKKN, GPCT nhưng cũng là khâu quan trọng và vất vả vì số lượng hồ sơ SKKN, GPCT nhiều. Hơn nữa, để thẩm định được SKKN, GPCT thì yêu cầu chuyên viên cần phải tự nổ lực từ bản thân để có thể có: Kỹ năng, trình độ chuyên môn của chuyên viên làm công tác thẩm định phải đạt chuẩn nhất định; Vốn kiến thức sâu rộng; Có tư duy tốt; Am hiểu nhiều lĩnh vực nghiên cứu khoa học, công nghệ; Phải đọc nắm rõ văn bản quy phạm pháp luật quy định về công tác thi đua - khen thưởng và SKKN, GPCT nhất là phải nắm rõ "điều kiện để công nhận SKKN, GPCT". Từ đó: Để có thể áp dụng vào việc thẩm định, tổng hợp, báo cáo, gợi ý kết quả thẩm địnhtham mưu lãnh đạo cơ quan đưa ra trước Hội đồng xem xét trình Chủ tịch UBND huyện quyết định công nhận hoặc không công nhận. 5.2. Giải pháp thứ hai: Xây dựng tiêu chuẩn, điều kiện để công nhận SKKN, GPCT. Từ thực tiễn và qua 04 năm kinh nghiệm thẩm định SKKN, GPCT (t nă 0 đến 0 5) bản thân đúc rút ra "Điều kiện để công nhận SKKN, GPCT" trong phạm vi cấp huyện bao gồm 03 điều kiện cơ bản, đó là: Một là, không trùng với các sáng kiến đã được công nhận; Hai là, có tính mới trong phạm vi cơ quan hoặc trong phạm vi cấp huyện; Ba là, đã được áp dụng tại cơ quan, đơn vị hoặc cấp huyện làm tăng năng suất lao động, hiệu quả công tác. 5.3. Giải pháp thứ ba: Phân loại SKKN, GPCT để thuận tiện, dễ dàng trong việc thẩm định đưa ra Hội đồng xem xét Căn cứ theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP, ngày 02/3/2012 của Chính phủ ban hành Điều lệ sáng kiến đã định nghĩa: Sáng kiến là giải pháp kỹ thuật, giải pháp quản lý, giải pháp tác nghiệp, hoặc giải pháp ứng dụng tiến bộ kỹ thuật (gọi chung là giải pháp). Từ định nghĩa đó, bản thân tôi đã nghiên cứu, áp dụng Thông tư số 18/2013/TT- BKHCN, ngày 01/8/2013 và trăn trở suy nghĩ, cần sắp xếp, phân loại các sáng kiến của các cá nhân đã nộp về thành 03 loại giải pháp chính (the Điều của Thông tư 18/2013/TT-BKHCN) cần thẩm định để trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét (vì giải pháp cấu thành n n sáng kiến): - Giải pháp kỹ thuật: Giải pháp kỹ thuật là cách thức kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nhằm giải quyết một nhiệm vụ ( ột vấn đề) xác định, bao gồm: + Sản phẩm, dưới các dạng: Sản phẩm công nghệ (dụng cụ áy c thiết bị inh 5 kiện ); chất liệu hóa học (vật iệu chất iệu thực ph dược ph ỹ ph ...); vật liệu sinh học (chủng vi sinh chế ph sinh học gen thực vật động vật biến đổi gen; giống cây trồng giống vật nuôi); sản phẩm phi vật thể (các công trình đề tài dự án nghi n cứu thuộc ĩnh vực kh a học xã hội - nhân văn). + Quy trình thực hiện (công nghệ ch n đ án dự bá ki tra xử ý kỹ thuật chăn nuôi trồng trọt chữa bệnh ch người động vật và thực vật..; ứng dụng và công tác xây dựng định hướng quy h ạch quản ý điều hành phát tri n kinh tế - xã hội...). - Giải pháp quản lý: Giải pháp quản lý là cách thức tổ chức, điều hành công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, trong đó có: + Phương pháp tổ chức công việc (bố trí nhân ực áy c thiết bị dụng cụ nguy n iệu vật iệu...). + Phương pháp điều hành, kiểm tra, giám sát công việc. - Giải pháp tác nghiệp: Bao gồm các phương pháp thực hiện các thao tác kỹ thuật, nghiệp vụ trong công việc thuộc bất kỳ lĩnh vực hoạt động: + Phương pháp thực hiện các thủ tục hành chính giúp giảm thời gian, giảm phiền hà cho người dân, tăng hiệu suất thực hiện (tiếp nhận xử ý hồ sơ đơn thư tài iệu...) + Phương pháp thẩm định, giám định, tư vấn, đánh giá... + Phương pháp tuyên truyền, đào tạo, giảng dạy, huấn luyện... + Phương pháp huấn luyện động vật... 5.4. Giải pháp thứ tƣ: Tham mưu UBND huyện kiện toàn Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện đảm bảo đủ số lượng, thành phần, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cần thiết cho việc xét duyệt. Có thể tham khảo theo hình vẽ sau: Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện (d Chủ tịch UBND huyện QĐ thành ập) Hội đồng xét duyệt sáng kiến Phòng Giáo dục (do Trưởng Phòng Giá dục Quyết định thành ập) Thẩm định về chuyên môn theo Hướng dẫn của Sở Giáo dục & ĐT Các trường học có cá nhân viết SKKN, GPCT Xem xét điều kiện để công nhận SKKN, GPCT (the giải pháp thứ hai) Nộp hồ sơ SKKN, GPCT Các cơ quan, đơn vị, xã, thị trấn Nộp hồ sơ SKKN, GPCT (SK đạt) Nộp hồ sơ SKKN, GPCT (SK ko đạt) Thông báo hoặc tùy theo mức độ sai phạm có thể kiểm điểm hoặc phê bình theo quy định của pháp luật Chủ tịch UBND huyện T h am m ư u (đủ đk) Công nhận (ko đủ đk) Thông báo hoặc phê bình nếu sai phạm tùy theo mức độ 6 Xác định Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện là Hội đồng quan trọng duy nhất trong việc xét duyệt sáng kiến. Do đó, không tổ chức thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến ngành Giáo dục hay bất kỳ Hội đồng nào khác ngang cấp với Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện để xét sáng kiến mà tiến hành tham mưu UBND huyện chỉ đạo Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo quyết định thành lập Hội đồng xét duyệt sáng kiến theo phân cấp thứ bậc từ thấp đến cao hoặc Thủ trưởng cơ quan tiến hành họp cơ quan lấy ý kiến, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc xác nhận sáng kiến đó. 5.5. Giải pháp thứ năm: Xây dựng thang bảng điểm theo tiêu chuẩn nhất định để các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến có thể chấm điểm song song với việc bỏ phiếu kín ( ấy tỷ ệ phiếu t 0% trở n). Bảng chấm điểm cũ được bản thân làm để áp dụng năm 2014 theo Quyết định số 3157/QĐ-UBND, ngày 07/12/2011 của UBND tỉnh Đăk Lăk: Cũng trên cơ sở bảng chấm điểm cũ năm 2014, bản thân tôi nghiên cứu và sáng tạo xây dựng thang bảng điểm mới, cụ thể bảng điểm đã được tôi xây dựng cải tiến thêm trong giải pháp này như sau: 7 5.6. Giải pháp thứ sáu: Làm tốt công tác quản lý Nhà nước về sáng kiến. Hiện tại, bản thân tôi đã ứng dụng công nghệ thông tin để lưu các Quyết định công nhận sáng kiến kinh nghiệm cho các cá nhân có tham gia viết đã được công nhận từ năm 2012 tới 2014, năm học 2011-2012 đến năm học 2014-2015. Việc lưu trữ tốt Quyết định vừa tuân thủ cơ sở pháp lý theo Luật Lưu trữ, Thông tư số 09/2011/TT-BNV, ngày 03/6/2011 của Bộ Nội vụ và theo dõi được tên sáng kiến, giải pháp đã được công nhận để thẩm định các sáng kiến, giải pháp mới không để xảy ra tình trạng trùng lặp. Đối với các giải pháp khối cơ quan hành chính nhà nước khi tiếp nhận hồ sơ, bản thân tôi luôn nhắc nhở đề nghị gửi hồ sơ qua Email hoặc sao chép USB hoặc đôi lúc phải cầm USB đi xin file tệp tin về để lưu. Căn cứ những Quyết định công nhận cho các giải pháp, tiến hành làm tốt công tác nhân rộng, phổ biến sáng kiến thông qua trang web của cơ quan hoặc các phương tiện khác. 6. Khả năng áp dụng, phạm vi áp dụng sáng kiến đƣa ra. Nếu đã đƣợc áp dụng thì nêu sơ lƣợc về hiệu quả của sáng kiến mang lại. a) Khả năng áp dụng, phạm vi áp dụng: - Áp dụng được cho công tác thẩm định sáng kiến, giải pháp công tác nhất là áp dụng vào xem xét, thẩm định sáng kiến, giải pháp ngành Giáo dục vì số lượng khá nhiều. - Về phạm vi: Tất cả công chức làm công tác thi đua khen thưởng, thẩm định sáng kiến, giải pháp công tác thuộc Phòng Nội vụ các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk có thể áp dụng. Ngoài ra, cũng có thể áp dụng để công chức kiêm nhiệm làm công tác thi đua-khen thưởng ở các cơ quan, đơn vị trong địa bàn huyện, công chức Văn phòng-Thống kê ở các xã, thị trấn trong địa bàn huyện làm căn cứ thẩm định sơ bộ 8 để giúp Trưởng phòng, Chủ tịch UBND xã, thị trấn xem xét và trình lên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét bước tiếp theo. Góp phần giảm thời gian, nâng cao chất lượng các sáng kiến, giải pháp công tác. b) Hiệu quả từ thực tiễn: So sánh số liệu xét duyệt SKKN, GPCT giữa năm 2013 và năm 2014; Nội dung Năm 2013 Năm 2014 Số SKKN, GPCT được công nhận 06 12 Số SKKN, GPCT không được công nhận 03 02 Tổng số SKKN, GPCT các cơ quan, đơn vị đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét 09 14 So sánh số liệu giữa năm học 2013-2014 và năm học 2014-2015. Nội dung Năm học 2013-2014 (do HĐ xét duyệt SKKN ngành giá dục xét đề nghị công nhận) Năm học 2014-2015 (d HĐ xét duyệt sáng kiến huyện xe xét) Số SKKN, GPCT được công nhận 66 112 Số SKKN, GPCT không được công nhận 92 07 (83: HĐ Phòng Giá dục xét ại ra) Tổng số SKKN, GPCT các cơ quan, đơn vị đề nghị Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét 158 202 Trong năm 2014: Trong 02 SKKN không được công nhận, chuyên viên thẩm định phát hiện 01 SKKN (không đủ điều kiện công nhận) có sao chép chỉnh sửa một số câu từ, đoạn văn của sáng kiến năm 2013. Trong năm học 2014-2015: Nhờ áp dụng phương pháp mới, xét duyệt theo sự phân cấp từ trường học, cơ quan mới đến Hội đồng huyện. Có 07 SKKN, GPCT không được công nhận thì có phát hiện không đủ điều kiện để công nhận như giải pháp này đã 9 đề ra, cụ thể là các cá nhân tham gia viết sáng kiến đã vi phạm các lỗi: Sao chép trên mạng internet; sao chép của các năm học trước; sao chép của các cá nhân trường khác đã được công nhận ở các năm học trước * Hiệu quả khi tiếp tục áp dụng sáng kiến trong thời gian tới: - Các cá nhân khi viết SKKN, GPCT vừa có chất lượng vừa có thể dễ dàng cho Hội đồng xem xét vì viết đủ điều kiện để công nhận, viết có sự lựa chọn theo phân loại sáng kiến, giải pháp - Các thành viên Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện có thể dễ dàng hơn trong việc chấm điểm theo bảng điểm, bình bầu theo phân loại sáng kiến, dễ dàng vận hành, hoạt động theo quy chế, quy trình * Tóm lại, thông qua giải pháp này thì người thực thi việc thẩm định sáng kiến có thể hiểu rõ hơn, làm tốt hơn công tác thẩm định sáng kiến và nhất là có thể tự trả lời được các câu hỏi đặt vấn đề như sau: - Sáng kiến là gì? - Có bao nhiêu loại sáng kiến? - Quy trình để công nhận sáng kiến? - Điều kiện để công nhận sáng kiến? - Cơ quan nào có thẩm quyền công nhận sáng kiến? - Làm thế nào để thẩm định sáng kiến đạt yêu cầu? - Làm thế nào để thẩm định được sáng kiến trùng lặp, sao chép từ cá nhân khác, sao chép internet,..v.v.? - Làm thế nào để tham mưu các thành viên Hội đồng có căn cứ xét, chấm điểm sáng kiến đạt chất lượng, hiệu quả? - Xét duyệt, công nhận sáng kiến sáng để làm gì? III. Các danh hiệu đƣợc ghi nhận: Năm Danh hiệu thi đua Số, ngày, tháng, năm của quyết định công nhận danh hiệu thi đua; cơ ban hành quyết định 2013 Lao động tiên tiến QĐ số 333/QĐ-UBND, ngày 19/02/2014 của UBND huyện Ea H'Leo 2014 Lao động tiên tiến QĐ số 405/QĐ-UBND, ngày 03/3/2015 của UBND huyện Ea H'Leo 10 kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác mà bản thân đã nghiên cứu triển khai thực hiện có hiệu quả trong năm 2015. Kính trình Hội đồng xét duyệt sáng kiến huyện xem xét. THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ Ea H'Le , ngày 03 tháng 12 nă 015 (ký t n đ ng dấu) Ngƣời báo cáo (Đã ký) Phạm Tấn Thành

Bạn đang xem bài viết Sáng Kiến Kinh Nghiệm trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!