Xem Nhiều 3/2023 #️ Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Kế Hoạch Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Ở Trường Mầm Non # Top 11 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 3/2023 # Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Kế Hoạch Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Ở Trường Mầm Non # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Kế Hoạch Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Ở Trường Mầm Non mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

I. MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Như chúng ta đã biết mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời. Việc xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là một quan điểm giáo dục tiến bộ về vị trí của trẻ em và vai trò của giáo viên. Nó góp phần định hướng cho quá trình hoạt động và môi trường giáo dục trong trường mầm non. Mỗi con người chỉ thích nghe những cái mà bản thân chưa biết, khám phá những điều chưa hiểu, trẻ em cũng thế chỉ tích cực khám phá, tìm tòi, thích học cái chưa có. Nên muốn trẻ học tập tích cực giáo viên không dạy trẻ cái mà trẻ đã biết mà phải dạy cái trẻ cần, điều mà trẻ thích nghe. Đòi hỏi nhà giáo dục phải xây dựng kế hoạch giáo dục phải hướng vào trẻ, lấy trẻ làm trung tâm của quá trình giáo dục. Trong quá trình giáo dục trẻ em vừa là đối tượng của hoạt động vừa là chủ thể của hoạt động. Do đó hoạt động giáo dục có hiệu quả nhất khi trẻ được tham gia trải nghiệm, giao tiếp, chia sẻ với bạn bè. Để nâng cao chất lượng giáo dục thì trước hết: Chúng ta phải nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên giỏi về chuyên môn, vững vàng về nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức tốt, có phong cách sư phạm tự tin gần gũi trẻ. Biết ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác những thông tin để áp dụng vào các hoạt động thiết thực một cách hợp lý và mang tính giáo dục cao. Biết phối hợp chặt chẽ với phụ huynh để nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục trẻ. Tăng cường tổ chức các hoạt động cho trẻ theo phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Ngày nay việc nâng cao chất lượng giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xã hội. Trong bối cảnh toàn ngành giáo dục và đào tạo, đang nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học, theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong hoạt động học tập, mà phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của giáo viên, trong việc tổ chức hoạt động học tập, nhằm giúp học sinh chủ động đạt được các mục tiêu dạy học. Do đó đội ngũ giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục. 1

Nhiệm vụ năm học 2016-2017 của ngành học mầm non chỉ đạo là tiếp tục thực hiện chương trình giáo dục mầm non. (Ban hành theo thông tư số 17/2009/TTBGDĐT ngày 25/7/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) và tổ chức tốt các hoạt động giáo dục cho trẻ theo phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Thực tế hiện nay, nhiều cán bộ quản lý và giáo viên mầm non đang trăn trở mong muốn đổi mới phương pháp giáo dục trẻ nhưng trong quá trình thực hiện còn hạn chế lúng túng. Chính vì vậy mà việc dạy học truyền thống cô nói – trẻ nghe, cứng nhắc, dập khuôn, máy móc vẫn đang còn tồn tại hiên nay. Để có được chất lượng giáo dục như mong đợi theo chương trình giáo dục mầm non được Bộ GD&ĐT ban hành thì vai trò của người giáo viên được khẳng định là vô cùng quan trọng trong phong trào đổi mới về phương pháp dạy học, đó là làm gì để phá vỡ sự thụ động của người học, phá vỡ kiểu dạy truyền thống của giáo viên: Cô giáo nói, trẻ lĩnh hội và làm theo. Mỗi cán bộ quản lý, giáo viên cần hiểu được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ từ đó chúng ta nhận thấy cần thiết phải đổi mới để đáp ứng được yêu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội hiện nay. Trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, trẻ em được xem như những người tham gia tích cực trong việc học của mình. Khả năng, sở thích và nhu cầu của mỗi trẻ cần được hiểu, tôn trọng và đáp ứng. Nhận thức được tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo lớp công dân tý hon đáp ứng với yêu cầu và xu thế hội nhập của toàn ngành giáo dục hiện nay. Thực hiện chủ trương đổi mới phương pháp giảng dạy trong toàn ngành Giáo dục nói chung và bậc học mầm non nói riêng. Là một hiệu phó chỉ đạo chuyên môn trong nhà trường, tôi muốn vận dụng vốn kiến thức đã học được tiếp thu qua chuyên đề, qua nghiên cứu tài liệu, kỹ năng sư phạm, qua thực tế công tác chỉ đạo chuyên môn ở trường mình đang công tác. Đồng thời qua đề tài này, bản thân mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới giáo dục mầm non nên tôi luôn trăn trở để tìm ra hướng đi, giải pháp phù hợp với đặc điểm của nhà trường. Để việc đổi mới phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm không chỉ là phong trào, không chỉ được nhìn thấy trên bề nổi mà thực sự đi vào mỗi giáo viên trở thành kỷ năng sư phạm của mỗi giáo viên. Chính vì vậy mà tôi đã lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường Mầm non” để áp dụng đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường hiện nay. 2. Mục đích nghiên cứu: 2

– Tìm ra một số biện pháp tối ưu nhất góp phần nâng cao nghiệp vụ chuyên môn của giáo viên, để hướng dẫn giáo viên thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường Mầm non. 3. Đối tượng nghiên cứu: – Tập trung nghiên cứu một số biện pháp để chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non Phú Yên năm học 2016 – 2017 – Rút ra bài học kinh nghiệm về cách lập kế hoạch theo phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 4. Phương pháp nghiên cứu: – Phương pháp nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý thuyết; – Phương pháp đàm thoại; – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế; – Phương pháp thu thập thông tin; II. NỘI DUNG 1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm. Mỗi đứa trẻ là một cá thể riêng biệt, chúng khác nhau về thể chất và tâm lý. Do đó, mỗi trẻ em có hứng thú, cách học và tốc độ học tập khác nhau và chúng đều có thể thành công. Trẻ học bằng chơi tốt nhất khi có người lớn hỗ trợ và mở rộng những gì chúng đang hứng thú và đang thực hiện. Do đó với trẻ mầm non, giờ học được tiến hành dưới sự tổ chức, hướng dẫn sư phạm của giáo viên nhằm giúp trẻ lĩnh hội các tri thức mới, củng cố, hệ thống hóa các tri thức đã có, đồng thời hình thành và rèn luyện các kỹ năng nhận thức, kỹ năng xã hội cho trẻ. Dạy học lấy trẻ làm trung tâm khác với dạy học truyền thống là giáo viên không truyền đạt kiến thức cho trẻ mà tạo ra các điều kiện, các cơ hội để mọi đứa trẻ được chủ động, sáng tạo, tích cực hoạt động, tự chiếm lĩnh kiến thức, kinh nghiệm. Để đạt được điều này, giáo viên cần nắm được hứng thú, nhu cầu, trình độ, khả năng của từng trẻ trong lớp, trên cơ sở đó lựa chọn được nội dung, phương pháp phù hợp với từng nhóm, từng cá nhân trẻ. – Trẻ tiếp thu kiến thức không phải chỉ thông qua kênh nghe, kênh nhìn mà còn phải được tham gia thực hành ngay trên lớp hoặc được vận dụng, trao đổi thể hiện suy nghĩ, chính kiến của mình. Những kết quả nghiên cứu khoa học hiện đại cũng đã cho thấy, Nếu chỉ nghe nhìn thì thông tin kiến thức thu nhận được 20%, nếu trẻ được trao đổi, chia sẻ ý kiến với nhau trong nhóm bạn thì khả năng tiếp thu sẽ là 55%. Khả năng thu nhận kiến thức sẽ tăng lên 90% khi trẻ sử dụng kiến thức đã có 3

Việc xây dựng kế hoạch giáo dục là rất cần thiết, giúp giáo viên dự kiến kế hoạch, chủ động tổ chức các hoạt động giáo dục một cách hiệu quả. Do đó khi xây dựng kế hoạch không nên mang tính hình thức và đối phó. Đối với trường mầm non Phú Yên là trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, có nhiều thành tích trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục trẻ. Nằm trong tốp đầu về chất lượng giáo dục của huyện Thọ Xuân trong các năm qua. Có nhiều giáo viên dạy 4

giỏi cấp huyện, tỉnh. Trong năm học 2016-2017 có 02 giáo viên giỏi cấp huyện; 01 giáo viên giỏi cấp tỉnh. – Về đội ngũ giáo viên trong trường: + Tổng số CBGVNV: 24 cô; BGH: 03; GV: 16; NV: 5 + Trình độ chuyên môn: Đại học:11 cô; Cao đẳng: 01 cô; Trung cấp: 12 cô (Đang theo học ĐH: 03cô). – Tổng số nhóm, lớp là: 9; Tổng số cháu là: 230 cháu . Trong đó: + Nhà trẻ 3 nhóm =

61 cháu

– Vẫn có những giáo viên trẻ mới ra trường năng lực chuyên môn còn hạn chế chưa có kinh nghiệm thực tế lúng túng, chưa hiểu được phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm phát triển năng lực của trẻ, chưa kiên trì sáng tạo trong các hoạt động giáo dục cho trẻ trên lớp cũng như mọi lúc, mọi nơi. – Một số giáo viên tuổi cao việc ứng dụng công nghệ thông tin hạn chế khi thiết kế hoạt động cho trẻ. c. Kết quả kháo sát thực trạng * Khảo sát các hoạt động xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm của 14 giáo viên trực tiếp đứng lớp đầu năm. NỘI DUNG

SL

SL

SL

1. Nắm vững lý thuyết tổ chức hoạt động cho trẻ theo hướng 14 4 29 6 43 3 17 1 7 lấy trẻ làm trung tâm. 2. Bố trí môi trường hoạt động trong nhóm lớp. 14 5 36 6 43 2 14 1 7 3. Biết thiết kế giáo án tổ chức các hoạt động cho trẻ theo 14 5 36 5 36 2 14 2 14 hướng lấy trẻ làm trung tâm theo các lĩnh vực phát triển 4. Kết quả giờ dạy 14 4 29 5 36 3 21 2 14 – Qua khảo sát tình hình thực tế của giáo viên qua các hoạt động tôi nhận thấy rằng cần phải có những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên. Bản thân là một hiệu phó phụ trách chuyên môn trực tiếp chỉ đạo hướng dẫn giáo viên thực hiện việc xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, tôi đã trăn trở để tìm ra những phương pháp, biện pháp hữu hiệu để bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên trong nhà trường như sau. 3. Các giải pháp thực hiện xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. 3.1: Triển khai bồi dưỡng về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống cho giáo viên: – Trong yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, giáo viên không chỉ nắm vững về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ mà cần phải có bản lĩnh chính trị chuyên môn vững vàng nhận thức đúng đắn về đường lối của Đảng chính sách pháp luật của 6

9

một cách vui vẻ. Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp. Tổ chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp với độ tuổi của nhóm /lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của trẻ và với điều kiện thực tế. 3. 5. Hướng dẫn giáo viên tạo môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm nhằm khuyến khích trẻ hoạt động tích cực. Để nâng cao khả năng sẵn sàng đi học của trẻ cần phải xây dựng môi trường giáo dục học thông qua chơi và lập kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là môi trường hoạt động mà trẻ tham gia xây dựng cùng giáo viên, bổ sung thêm học liệu, đồ chơi, sắp xếp và vệ sinh góc chơi. Phong phú các góc hoạt động trong lớp và ngoài trời. Học liệu đa dạng, hấp dẫn, khuyến khích trẻ có thể sử dụng theo nhiều cách sáng tạo khác nhau. Tận dụng nguyên vật liệu sẵn có của địa phương. Có nhiều cơ hội cho trẻ lựa chọn học liệu và hoạt động. Giáo viên trò chuyện và chơi với trẻ, kích thích trẻ tư duy. Trẻ có thể chủ động, tích cực: vui chơi, tìm tòi khám phá, trải nghiệm, thực hành, sáng tạo, hợp tác, trò chuyện và chia sẻ ý tưởng. Khi tạo môi trường giáo dục giáo viên cần lưu ý: – Môi trường giáo dục phải đảm bảo an toàn về mặt tâm lý cho trẻ và trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh. Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo. – Môi trường vật chất trong lớp, ngoài lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho tất cả các trẻ có thể chơi mà học, học bằng chơi, phù hợp với điều kiện thực tế. – Thiết kế các khu vực trong nhà trường quy hoạch theo hướng tận dụng các không gian để cho trẻ hoạt động phù hợp, linh hoạt, đa dạng, phong phú, các góc hoạt động trong lớp và ngoài lớp mang tính mở, tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng tự lựa chọn và sử dụng sự vật, đồ vật, đồ chơi để thực hành, trải nghiệm. – Giáo viên khuyến khích trẻ có thể hoạt động theo nhiều cách khác nhau, tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá dưới nhiều hình thức khác nhau để phát triển toàn diện. Tận dụng hoàn cảnh, tình huống thật cho trẻ hoạt động trải nghiệm, khám phá trong môi trường an toàn. 3.6. Tổ chức các tiết dạy mẫu để nhân ra diện rộng. 11

– Hàng tháng theo kế hoạch đã lên đầu năm tôi tiến hành xây dựng tổ chức dạy mẫu các hoạt động mỗi tháng 2- 3 hoạt động chú trọng việc xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Ví dụ: Tháng 9 xây dựng 3 hoạt động dạy mẫu như: Âm nhạc, tạo hình, toán. Tháng 10 xây dựng 3 hoạt động: Phát triển ngôn ngữ, khám phá khoa học, phát triển vận động tương tự các tháng 11,12 vv….. – Theo như kế hoạch đã dự kiến các tiết dạy mẫu hàng tháng thông qua để giáo viên nắm bắt được.Trước khi dạy mẫu tôi bố trí cho giáo viên dạy chuẩn bị giáo án và đồ dùng trang thiết bị, đưa ra tham khảo ý kiến của ban giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, sau đó cho giáo viên chuẩn bị các điều kiện đưa ra trong kế hoạch và tổ chức dạy để rút kinh nghiệm. – Biện pháp này giúp cho giáo viên trực tiếp dạy có thêm những kinh nghiệm trong chuyên môn và những giáo viên được dự giờ học tập được ở đồng nghiệp rất nhiều kinh nghiệm thực tế . 3.7. Chỉ đạo lớp điểm về mô hình xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Chỉ đạo lớp điểm là đòn bẩy thúc đẩy phong trào, là cơ sở để nâng cao năng lực cho giáo viên và chất lượng giáo dục toàn diện cho trẻ. Từ đó để nhân ra diện rộng về chất lượng giáo dục trong toàn trường. Trong năm học tôi đã tham mưu với hiệu trưởng đã chỉ đạo 2 lớp điểm. Đó là: 1lớp mẫu giáo lớn 5-6 tuổi A1, và 1lớp mẫu giáo nhỡ 4-5 tuổi B1, các lớp chỉ đạo điểm nhà trường đã có kế hoạch chỉ đạo ngay từ đầu năm học, đầu tư về CSVC, đồ dùng trang thiết bị dạy học, đồ chơi. Công tác chỉ đạo trang trí phòng nhóm lớp, tạo môi trường giáo dục theo góc mở, thân thiện, gần gủi, ấm cúng, an toàn phù hợp với trẻ. Qua chỉ đạo điểm, giáo viên đã thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở nhóm lớp phụ trách để từ đó giúp giáo viên nhân ra diện rộng. 3.8. Bồi dưỡng giáo viên thông qua các hội thi: – Hội thi là đỉnh cao của phong trào thi đua: “dạy tốt, học tốt’. Qua đây để đánh giá chất lượng giáo dục của cô và trẻ. Vì vậy phải có kế hoạch chỉ đạo thực hiện một cách nghiêm túc và khoa học các hội thi ở trường. Hội thi không chỉ dừng lại ở việc đánh giá xếp giải nhất, nhì mà hội thi phải được xem như đó là ngày hội của cô và trẻ, thông qua đó để tuyên truyền đến mọi người, mọi cơ quan, đoàn thể quần chúng nhân dân quan tâm nhận thấy vai trò của ngành học mầm non đồng 12

– Việc đánh giá sự phát triển của trẻ, bổ sung những thiếu sót, kịp thời chấn chỉnh, bồi dưỡng cho giáo viên cách đánh giá, phát hiện những cháu có kiến thức còn hạn chế để bồi dưỡng, ôn luyện thêm. Giáo viên phải nắm được đặc điểm của từng trẻ để đánh giá và có biện pháp thích hợp như: + Đánh giá đúng khả năng của mỗi trẻ để có những tác động phù hợp và tôn trọng những gì trẻ có. Đánh giá kết quả giáo dục trẻ phải được dựa trên cơ sở sự thay đổi của từng trẻ, không kỳ vọng giống nhau với tất cả trẻ. + Đánh giá sự tiến bộ của từng trẻ dựa trên mức độ đạt so với mục tiêu, trên cơ sở đó sử dụng kết quả đánh giá để xây dựng kế hoạch giáo dục, điều chỉnh kế hoạch giáo dục và tổ chức các hoạt động giáo dục tiếp theo cho phù hợp với khả năng, nhu cầu, sở thích, kinh nghiệm sống của trẻ và điều kiện thực tế của trường, lớp. + Tôn trọng sự khác biệt của mỗi đứa trẻ về cách thức và tốc độ học tập và phát triển riêng. Chú trọng và thúc đẩy tiềm năng của mỗi trẻ. 3.10. Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị: Cơ sở vật chất, trang thiết bị rất cần thiết cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên cũng như chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường. Để làm tốt việc này hàng năm tôi tham mưu với hiệu trưởng, ban liên lạc phụ huynh đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để huy động nguồn lực cho nhà trường, có kế hoạch mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho dạy và học của cô và trẻ như: Mua sắm trang thiết bị đồ dùng bàn ghế, làm các bảng biểu, các đồ dùng phục vụ cho dạy và học của cô và trẻ trị giá: 45.600 000đ. Làm sân vân động, lát lại sân chơi, bố trí khu vực hoạt động ngoài trời trị giá: 53.000.000đ, để trẻ được hoạt động đảm bảo môi trường sạch sẽ để trẻ tham gia các hoạt động ngoài trời. 3.11. Xây dựng nội dung tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc thực hiện: “Xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” – Nhà trường chú trọng công tác tuyên truyền phối hợp với phụ huynh nhằm tạo sự thống nhất về nội dung phương pháp giáo dục trẻ nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ quản lý, giáo viên mầm non về việc”Xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”. Phối hợp với cha mẹ và cộng đồng tham gia xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Tạo điều kiện để các bậc cha mẹ tham gia vào hoạt động của trường, nhóm lớp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc – giáo dục trẻ. Kịp thời thông tin đến gia đình về những tiến bộ hoặc những khó khăn của trẻ. Có

14

biện pháp khuyến khích sự chia sẻ của gia đình về đặc điểm tâm lí của trẻ để thống nhất các biện pháp thúc đẩy sự tiến bộ của trẻ. – Thông qua họp phụ huynh, thông qua góc tuyên truyền tại trường mầm non. – Thông qua hoạt động tập thể, ngày lễ ngày hội của trường như: “Ngày hội bé đến trường”; “Ngày Tết Trung Thu”, qua hội “hội khỏe, bé mầm non”…., do nhà trường tổ chức nhằm tuyên truyền sâu rộng tới các bậc phụ huynh và cộng đồng trong việc nâng cao chất lượng GDPTVĐ, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng chăm lo GDPTVĐ cho trẻ. Thông qua hội thi thu hút được sự quan tâm của các cấp, các ngành các đoàn thể xã hội về giáo dục mầm non. -Trao đổi thông qua ban liên lạc hội phụ huynh nhà trường tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục huy động các nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất xây dựng phòng học, sân chơi mua sắm thiết bị trong lớp đồ chơi ngoài trời …. Phục vụ hoạt động giáo dục của trẻ. 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường Sau một năm nghiên cứu và ứng dụng sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” đã mang lại hiệu quả rất lớn trong việc dạy và học: Trẻ tích cực hoạt động, tự khám phá bằng các giác quan, chú trọng đến giáo dục cá nhân, kết hợp giáo dục trong nhóm giữa hoạt động có chủ định và hoạt động góc, tăng cường giao tiếp giữa cô và trẻ. Giáo viên linh hoạt, sáng tạo không bị gò bó khi tổ chức các hoạt động cho trẻ nhất là hoạt động chung có mục đích học tập và hoạt động góc chơi, giáo viên có thể sử dụng tối đa nguồn nguyên vật liệu sẵn có ở địa phương, để làm phong phú các hoạt động của trẻ, trẻ ham học nghiên cứu tìm tòi khám phá giao tiếp ngôn ngữ tình cảm. Đối với giáo viên biết cách sắp xếp môi trường giáo dục phù hợp, chất lượng chuyên môn của bản thân và đồng nghiệp được nâng lên rõ rệt, giáo viên nắm vững phương pháp dạy học lấy trẻ làm trung tâm, hình thức các tiết dạy linh hoạt sáng tạo, tác phong sư phạm tốt, biết lồng ghép đan xen giữa các hoạt động để giáo dục trẻ phù hợp với nội dung. * Kết quả cuối năm đạt được các hoạt động xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm của 14 giáo viên như sau: NỘI DUNG

15

1. Nắm vững lý thuyết tổ chức hoạt động cho trẻ theo hướng lấy trẻ 14 làm trung tâm 2. Bố trí môi trường hoạt động trong nhóm lớp. 14 3. Biết thiết kế giáo án tổ chức các hoạt động cho trẻ theo hướng lấy trẻ làm trung 14 tâm theo các lĩnh vực phát triển. 4. Kết quả giờ dạy 14

8

57

6

43

0

0

0

0

7

50

7

50

0

0

0

0

7

50

7

50

0

0

0

0

7

50

7

50

0

0

0

0

Tôi xin chân thành cảm ơn! 18

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ

Thọ Xuân ngày 04 tháng 3 năm 2017 Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác Người viết

Nguyễn Thị Duyên

Nguyễn Thị Vân

Néi dung I. më ®Çu 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu

Môc lôc

II.NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2.Thực trạng vấn đề 3. Các giải pháp đã thực hiện 3.1. Tổ chức học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ cho GV 3.2. Đánh giá chất lượng, phân công giáo viên đứng lớp hợp lý phù hợp. 3.3. Hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch 3. 4. Hướng dẫn giáo viên thiết kế môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm nhằm khuyến khích trẻ hoạt động tích cực. 3.5. Tổ chức các tiết dạy mẫu để nhân ra diện rộng 3.6. Chỉ đạo lớp điểm về mô hình xây dựng kế hoạch giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. 3.7. Bồi dưỡng giáo viên thông qua các hội thi 3.8.Đánh giá sự phát triển của trẻ 3.10. Xây dựng nội dung tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ trẻ và cộng đồng trong việc thực hiện: “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân ,đồng nghiệp và nhà trường III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Bài học sư phạm 2. Kiến nghị

Néi dung i. më ®Çu 1. Lý do chọn đề tài 2. Mục đích nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu

3.9.Tăng cường cơ sở vật chất trang thiết bị

Môc lôc

14

Trang

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 1.Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 2.Thực trạng vấn đề 3. Các giải pháp đã thực hiện 20

Một Số Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Cá Biệt Ở Trường Thpt Hồng Quang

Trong những năm gần đây, khi xu thế toàn cầu hoá, hội nhập với thế giới, mở ra cho nước ta những thời cơ, vận hội mới. Nền kinh tế đã có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được nâng lên. Công tác giáo dục đã được Đảng và Nhà nước quan tâm chăm lo hơn. Trong nhà trường, các tổ chức đoàn thể cũng có nhận thức đúng về tầm quan trọng của đạo đức và công tác giáo dục đạo đức học sinh, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao. Bên cạnh những thành tựu của ngành Giáo dục và Đào tạo như: Số học sinh học giỏi, khá, học sinh có hạnh kiểm tốt, khá ngày càng nâng lên, đã góp phần tạo nên những thành quả quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu của Ngành: “Nâng cao dân trí – Đào tạo nhân lực – Bồi dưỡng nhân tài” cho đất nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan, đây đó, còn có những hiện tượng suy thoái về đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, thích chạy theo lối sống thực dụng, thậm chí những hành động phạm pháp của “người lớn” đã tác động xấu trực tiếp đến học sinh. Các tệ nạn xã hội có lúc, có nơi đã xâm nhập vào trong trường học; tình trạng một số ít học sinh lún sâu vào tệ nạn xã hội, thậm chí đánh thầy, gây án, giết người, cướp của, rượu chè bê tha, cờ bạc, có lối sống tha hóa, buông thả, số này tuy không phổ biến nhưng có xu hướng gia tăng, làm băng hoại đạo đức, tha hoá nhân cách, tác động xấu tới các giá trị đạo đức truyền thống, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác giáo dục đạo đức học sinh, đến an ninh trật tự xã hội, gây nỗi đau, và là vấn đề đáng lo ngại cho các bậc cha mẹ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nhân dân ta cũng có câu: “Tiên học lễ, hậu học văn” Các câu nói trên đều khẳng định vai trò cực kỳ quan trọng của phẩm chất đạo đức trong sự nhìn nhận, đánh giá, sự tồn tại và phát triển của mỗi người nói riêng và xã hội nói chung. Mục tiêu cơ bản của giáo dục là xây dựng một thế hệ trẻ có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ học vấn cao, có thể chất cường tráng, có tâm hồn trong sáng lành mạnh, có khả năng thích ứng và kỹ năng sống cao. Bởi vậy, bất kỳ cơ sở giáo dục nào cũng rất quan tâm về giáo dục hạnh kiểm cho học sinh.

Ở nước ta, sự nghiệp giáo dục đào tạo đang được toàn Đảng toàn dân quan tâm. Vai trò của người giáo viên trong nhà trường gắn liền với hai nhiệm vụ: Vừa giảng dạy vừa làm công tác giáo dục. Mục đích là đào tạo ra những học sinh vừa có kiến thức văn hóa, vừa có nhân cách làm người. Hiện nay, trên các phương tiện thông tin báo chí, truyền hình đã lên tiếng khá nhiều về tình hình học sinh cá biệt (HSCB). Vấn đề này đã trở thành mối quan ngại của dư luận, nhất là với gia đình và nhà trường.

HSCB, trường nào cũng có. HSCB không nhiều, song lại là “lực cản” rất lớn, thậm trí là thế lực đen” đe dọa, khống chế những nhân tố tích cực dám đấu tranh bảo vệ lẽ phải ở trong lớp, trong trường.

Giáo dục là khoa học nhưng cũng là nghệ thuật. Trước những vụ bạo lực học đường liên tiếp xảy ra gần đây đặt giáo viên và các nhà quản lý giáo dục trước thực tế: làm thế nào để cảm hóa và giáo dục học sinh cá biệt có hiệu quả là một vấn đề khá nan giải, phức tạp và hết sức nhạy cảm. Công việc này đã và đang trở thành một thách thức lớn với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là ngành giáo dục nói riêng, trong đó có trường THPT Hồng Quang- Lục Yên- Yên Bái.

sinh cá biệt tại lớp chủ nhiệm. 3. Một số biện pháp giáo dục HSCB trong nhà trường. 3.1. Đối với GVCN lớp có học sinh cá biệt. - Bản thân người GVCN phải là tấm gương sáng biết tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách của mình. Người GVCN hơn ai hết cần phải có trí tuệ, có lương tâm, có uy tín, sống mẫu mực, tự trọng và biết giữ chữ tín. - Hiểu biết tâm lý lứa tuổi của học sinh mình chủ nhiệm vì cuộc sống nội tâm của học sinh ở lứa tuổi này còn nhiều mặt dễ biến đổi do các quá trình tâm lý chưa ổn định và sự tác động rất lớn của xã hội, hoàn cảnh sống .... - Người GVCN phải có tinh thần trách nhiệm cao yêu nghề, yêu thương học sinh và luôn luôn xác định phương châm "Vì sự nghiệp trăm năm trồng người" và "Tất cả vì học sinh thân yêu". - Biết tự kiềm chế, bình tĩnh trong mọi tình huống, kiên định thực hiện thiên chức của người kỹ sư tâm hồn. - Có sự nhạy cảm sư phạm, biết dùng yếu tố tình cảm như một nghệ thuật sư phạm để cảm hóa học sinh cá biệt. Nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục HSCB, chúng ta cần làm những việc như là: + Xác định đúng đối tượng thông qua phản ảnh của lớp, của GV bộ môn và của dư luận. + Phân loại: Học sinh cá biệt về học tập hay học sinh cá biệt về đạo đức, lối sống + Tìm hiểu nguyên nhân. Tìm hiểu sở trường, tính cách, hoàn cảnh của HS. Chúng ta nên tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh đó như: thu nhập hàng ngày của gia đình, quan hệ giữa các thành viên trong gia đình như thế nào? Có êm ấm hạnh phúc hay không? Có nhiều ý kiến bất đồng hay không... mục đích là để hiểu rõ học sinh này. + Lựa chọn phương pháp, lên kế hoạch thực hiện mục tiêu giúp HS từ cá biệt trở về bình thường thậm chí là tốt. + Thực hiện kế hoạch, rút kinh nghiệm. 3.1.1. Những điều nên tránh - Không cô lập học sinh cá biệt đối với tập thể. - Không xúc phạm và làm tổn thương danh dự của học sinh trước tập thể.Một lời nói cũng cần phải thận trọng. - Không quá khắt khe xử lý mạnh tay bằng những hình thức kỷ luật nặng nề, đe dọa, thành kiến. Không dùng lời lẽ nặng nề dao to búa lớn, nói như một nhà sư phạm "không cần dùng búa để mổ một con gà". - Một điều tối kỵ đối với học sinh cá biệt, đó là không được đánh học sinh- dù chỉ là một cái tát tay. Bởi theo lời giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn, thì "Quả đấm không phải là khoa học". - Không bỏ mặc và phủ nhận những chuyển biến của học sinh cá biệt. Những thay đổi theo chiều hướng tích cực của học sinh- dù nhỏ cũng đáng trân trọng và phải ghi nhận. 3.1.2. Những điều nên làm 3.1.2.1. Dùng tình cảm để cảm hóa các em Tránh đối xử thô bạo, trách móc các em. Hãy tôn trọng nhân cách của các em. Hãy đem đến cho các em hơi ấm của tình người, để các em biết người tốt chung quanh ta, nhiều lắm! các em cần được đối xử tử tế, cần được yêu thương và tôn trọng. Không ai được ngược đãi các em vì các em học chậm. Các em có quyền được đặt câu hỏi và yêu cầu thầy cô giáo giải thích cho em hiểu. Chính vì vậy mới cần có trường học. Và đó là lý do tại sao cần có thầy cô giáo... Để hiểu học sinh "cá biệt", trước hết phải biết chấp nhận các em vô điều kiện. Luôn đứng về phía các em, quan tâm điều các em nghĩ, bàn về những đề tài các em thích. Thỉnh thoảng, sử dụng "thuật ngữ" của các em. Đó là cách mang các em đến gần mình hơn. Khi mối quan hệ đủ thân thiện, khi niềm tin đủ lớn, người thầy sẽ thuận lợi trong việc uốn nắn hành vi, khai sáng tư duy, định hướng nhận thức... Nên xử lý mềm mỏng, thậm chí dịu ngọt đối với học sinh cá biệt này, nếu không sẽ không có hiệu quả, có khi gặp phản ứng không tốt ngược trở lại về phía học sinh. Tuy nhiên cũng có đôi lúc ta cũng phải cứng rắn: chẳng hạn trong vấn đề xử phạt "mềm nắn, rắn buông". Nếu học sinh có thói hư tật xấu phạm lỗi trầm trọng cũng có thể tùy trường hợp hay tùy đối tượng mà xử lí, nhưng không nên xử lí một cách cứng nhắc. Dù lỗi lầm lớn nhưng nếu em đó biết nhận lỗi và sửa lỗi thì chúng ta hãy tạo cho học sinh đó cơ hội tự làm chủ bản thân, có niềm tin nghị lực để vươn lên. Còn đối với những học sinh lỗi vi phạm không đáng kể nhưng lại vi phạm thường xuyên thì ta không thể bỏ qua mà xử lí một cách linh động tùy theo từng đối tượng. Dù các em vi phạm ở mức độ lỗi lớn hay nhỏ, cũng cần xử lí trên cơ sở giáo dục các em, để các em biết nhận lỗi và tạo những việc làm cụ thể, giao cho em đó thời gian thử thách, cho em đó có cơ hội chuộc lỗi, làm một việc tốt. 3.1.2.2. Kiên trì tạo niềm tin Chúng ta hãy thử hòa mình vào phong cách sống của các em! Để điều hành được học sinh "cá biệt", người thầy phải sắm đủ các vai. Khi thì nhà mô phạm nghiêm khắc, lúc lại là cái vai cho các em gục đầu vào. Khi thì nhà tâm lý, lúc lại là bác sĩ trị liệu, khi thì ông trọng tài, lúc khác lại là người cố vấn... Cứ như thế, kiên trì cho đến khi các em tự nhận ra tại sao mình phải thay đổi. Từ cảm giác được thầy cô không chối bỏ mình, không chê mình, luôn khen ngợi, động viên và tặng trái tim, ghi điểm thưởng..., các em dần phát hiện ra giá trị của bản thân, cảm thấy mình hữu ích và được việc... Thế là tinh thần học tập được nhân lên, tạo ra sự tương tác và cộng hưởng đối với tập thể lớp, từng bước hòa mình vào tập thể, góp phần đưa tập thể lớp tyheem nhiều tiến bộ. Giáo viên nên thường xuyên trò chuyện, quan tâm, gần gũi, nhắc nhở, động viên học sinh học tập, có thái độ thân thiện với học sinh. Tạo cho học sinh nhìn mình là cảm thấy gần gũi, chứ không phải gặp mình là sợ la, sợ bị mắng khiến cho học sinh sẽ có tâm lý bất cần "Thầy cô kệ thầy cô, ta là ta". Ta phải làm sao tạo cho học sinh có cảm giác giáo viên như là một người bạn thân, bạn tâm tình, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của mình, khi mình vui, buồn đều có thể chia sẻ với thầy cô, thầy cô sẵn sàng khích lệ, động viên mình khi mình gặp khó khăn trong gia đình, cuộc sống cũng như những bế tắc trong học tập. GVCN cần giáo dục từng bước, chậm rãi từ những công việc nhỏ. Chẳng hạn ban đầu là phải thức dậy sớm hơn một chút để không phải đi học muộn, mình học yếu thì nên chịu khó, chăm chỉ làm bài tập hơn các bạn. Khi học, nếu mệt hoặc không thấy vào đầu thì nên giải lao để tinh thần thoải mái rồi học tiếp, không nên cố gắng quá sức. Như vậy, giáo viên không nên giáo dục ào ạt chưa hỏi han lý do gì hết mà đã la mắng học sinh cho dù học sinh đó vi phạm nhẹ, như vậy sẽ mất hiệu quả giáo dục bởi vì đấy là những học sinh cá biệt, tính tình ương ngạnh, tâm lý bất cần, học hay không đối với bản thân học sinh không quan trọng mà học sinh vào lớp là chỉ được "lãnh lương" hàng ngày, không phải làm những việc nặng nhọc bằng tay chân ở nhà. 3.1.2.3. Biết chấp nhận và yêu thương Frank McCourt, một thầy giáo người Mỹ trong hồi ức "Người thầy" đã kể: Trường hướng nghiệp nơi thầy dạy được xem là "bãi rác" cho những học sinh không đủ trình độ vào trường trung học bình thường. Ngày nhận lớp cũng là ngày thầy đứng quan sát chúng quậy phá, la ó... đủ kiểu. Cao điểm là lấy bánh mì ném nhau và một học sinh lên tiếng: "Để xem tay thầy giáo mới này sẽ làm gì?". Frank McCourt nói ông cố nghĩ về những kiến thức được học ở Trường ĐH Sư phạm New York để tìm cách đối phó. Tiếc là chỉ có những triết lý giáo dục, các mệnh lệnh đạo đức và luân lý, mà không có cách giải quyết tình huống... "ném bánh mì". Cuối cùng, ông quyết định... ăn chiếc bánh. Ông viết: "Đó là hành xử đầu tiên của tôi trong lớp. Cái miệng đầy bánh của tôi thu hút sự chú ý của cả lớp. Chúng trố mắt nhìn tôi đầy nét thán phục... Tôi nghĩ, tôi đã nắm được chúng trong tay...". 3.1.2.4. Giáo viên phải biết làm mới tiết dạy của mình Giáo dục HSCB còn một yêu cầu quan trọng, thầy, cô phải giỏi nghề. Thầy, cô luôn cải tiến, đổi mới phương pháp giảng dạy. Tiết sau "mới" hơn tiết trước. Sau một tiết học, trò học được nhiều tri thức bổ ích tạo nên sự đam mê học hỏi, khám phá tự tin, khẳng định mình. Thầy, cô biết "cuốn" học sinh vào trò chơi học tập, việc làm đó sẽ "lấp đầy" khoảng thời gian "chết", trò không "nhàn cư" nghịch, đánh cờ ca rô, nhắn tin ngay trong tiết học. Giáo viên cần hướng dẫn cụ thể những yêu cầu về bài tập ở nhà. Hoặc trả lời tỉ mỉ, cụ thể những câu hỏi hay những thắc mắc của các em, tránh để học sinh cảm thấy mình lạc lõng, cảm giác vì mình học dở nên không ai quan tâm, ai cũng khinh rẻ mình, không ai thèm chơi, để ý đến mình, Cả thầy cô giáo cũng ghét mình, coi mình là người thừa trong tập thể lớp. Giáo dục HSCB là một nghệ thuật, nghệ thuật dạy trẻ. Thầy, cô đứng trên bục giảng phải đóng nhiều vai: Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên, cả khán giả- tức học sinh ngồi nghe giảng trên lớp. Làm thầy, nhưng phải hiểu trò đang nghĩ gì, làm gì trong giờ học. Bài giảng là một "món ăn", nếu nhàm chán, học trò sẽ bỏ ăn- bỏ học. 3.1.2.5. Phải biết tác động vào động cơ học tập Tác động vào động cơ học tập để các em thấy rõ tầm quan trọng của việc học. Có thể đưa ra một số tranh ảnh về nạn thất học- chỉ mới mấy tuổi đầu không được đến trường, phải làm những việc nặng nhọc của người lớn rồi lại bị bạn bè khinh thường, xa lánh, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc. Ngược lại những em có học thì làm việc thuận lợi dễ dàng, càng ngày càng tiến thân, bạn bè ngưỡng mộ phải trầm trồ khen ngợi, cha mẹ được nở mày, nở mặt. 3.1.2.6. Phải biết động viên kịp thời, đúng lúc, đúng chỗ, đúng đối tượng Giáo viên phải biết trân trọng những gì là tốt dù rất nhỏ của HS. Một lời động viên khích lệ kịp thời khi các em chỉ có một việc làm tốt rất nhỏ cũng đủ làm cho các em thấy tự tin hơn, thấy mình thực sự có ích. Hãy mạnh dạn giao việc cho chúng, hướng dẫn các em để chúng làm theo định hướng của mình nhưng vẫn phải để "đất" cho các em thể hiện tính sáng tạo, tuyệt đối không được áp đặt. 3.1.2.7. Phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong xã hội Chúng ta cần biết sử dụng và phát huy hợp lí giá trị, tác dụng của dư luận xã hội. Phát huy vai trò của ban đại diện hội cha mẹ HS. Tổ chức các buổi ngoại khóa tuyên truyền giáo dục học sinh trong các giờ sinh hoạt lớp hoặc các giờ học tự chọn. Thường xuyên thăm gia đình HS để tìm hiểu hoàn cảnh, tạo sự gần gũi giữa giáo viên, HS và PHHS. Không nên chỉ khi các em có khuyết điểm mới đến thăm gia đình. 3.2. Đối với giáo viên bộ môn Mỗi một giáo viên bộ môn, hãy cố gắng dạy tốt môn học của mình, hãy chú ý đến mọi đối tượng học sinh, đặc biệt là học sinh cá biệt, học sinh yếu, kém, học sinh có hoàn cảnh gia đình khó khăn để tận tình giúp đỡ các em, giúp cho các em tiếp thu tốt nhất kiến thức mà mình đã truyền đạt. Tích cực nâng cao chất lượng tiết dạy, chú ý ứng dụng công nghệ thông tin một cách có hiệu quả để kích thích sự ham học, hứng thú của học sinh đối với tiết học, chú trọng việc lồng ghép nội dung giáo dục đạo đức học sinh thông qua các môn học như: Văn học, Lịch sử, Địa lý, Sinh học và đặc biệt là môn Giáo dục công dân có vị trí quan trọng đối với việc trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản về phẩm chất, đạo đức, về quyền và nghĩa vụ công dân, sẽ giúp học sinh có thái độ tích cực và thực hiện những hành vi đúng đắn phù hợp với những chuẩn mực đạo đức xã hội. 3.3. Đối với Đoàn thanh niên Tăng cường công tác quản lý nề nếp học sinh trong các buổi đầu giờ, giữa giờ và tan ca. Có mặt ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm có thể xảy ra đối với học sinh. Thành lập các đội Thanh niên cờ đỏ nhằm đôn đốc nhắc nhở các trường hợp hoạc sinh vi phạm, theo dõi các lượt vi phạm của học sinh các lớp trừ điểm, đánh vào thi đua Thường xuyên tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, các buổi sinh hoạt tập thể, các hoạt động phong trào nhân dịp chào mừng các ngày lễ lớn trong năm. Từ đó, lôi kéo các em tham gia để các em nhận thấy"Mỗi ngày đến trường là một ngày vui" từ đó tạo niềm hứng khởi cho các em trong hoạt động và học tập. 3.4. Đối với Ban đại diện cha mẹ học sinh Cần quan tâm thường xuyên đến việc học tập của con cái cả ở trường và ở nhà. Thường xuyên giữ mối lien lạc với GVCN hoặc qua các kênh thong tin để nắm tình hình học tập của con, từ đó có biện pháp nhắc nhở, uốn nắn, xử lý cho kịp thời, phù hợp. Có thể thấy, việc giáo dục HSCB không phải chỉ là trách nhiệm của một người mà cần có sự kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. 4. Hiệu quả của SKKN Sau một thời gian áp dụng các biện pháp trên trong công tác chủ nhiệm (Từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 12 năm 2015) tôi đã thu được nhiều kết quả đáng mừng từ công tác chủ nhiệm: - Tập thể lớp liên tục đạt được tuần học tốt, xếp thứ 1,2,3 trong khối đại trà. - Được tuyên dương và nhận thưởng trong các đợt tổng kết phong trào thi đua chào mừng các ngày lễ lớn trong năm do Đoàn Thanh niên và Nhà trường phát động. - Đạt giải trong Hội chợ Ẩm thực chào mừng ngày Thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, làm tập san chào mừng Ngày Nhà giáo Việt Nam 20- 11. - Nhiều em tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao. Trong đó có cả những HSCB. - Trong số các học sinh cá biệt, đã có nhiều em vươn lên đạt nhiều thành tích trong học tập và rèn luyện. Có em đã đạt học sinh tiên tiến và mạnh dạn đăng ký tham gia ôn đội tuyển HSG. - Tập thể lớp không còn hiện tượng học sinh đi học muôn, vi phạm các nội quy của nhà trường, của Đoàn thanh niên và của tập thể lớp đề ra. - Không còn hiện tượng học sinh vi phạm đạo đức, tham gia đánh nhau, không có học sinh bị ra Hội đồng kỷ luật của nhà trường. Kết quả cụ thể như sau: * Kết quả đối chứng: Kết quả giáo dục Trí dục và đức dục lớp 10A4- Học kỳ I- Năm học 2013- 2014: SL Học lực Hạnh kiểm Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % 39 9 23 27 69,2 3 7,8 18 46,1 17 43,5 3 7,8 1 2,6 * Kết quả thể nghiệm: Kết quả giáo dục Trí dục và đức dục lớp 10A4- Năm học 2013- 2014. SL Học lực Hạnh kiểm Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % 39 10 25,6 28 71,8 1 2,6 20 51,3 17 43,5 2 5,3 0 0 Kết quả giáo dục Trí dục và đức dục lớp 11A4- Học kỳ I- Năm học 2014- 2015. SL Học lực Hạnh kiểm Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu SL % SL % SL % SL % SL % SL % SL % 38 12 31,6 24 63,2 2 5,2 18 47,4 19 50 1 2,6 0 0 PHẦN THỨ BA: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ KẾT LUẬN Như chúng ta đã biết, giáo dục học sinh cá biệt là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn, phức tạp và rất khó thành công trong một thời gian ngắn. Nó đòi hỏi một quá trình dài lâu, có sự gắn kết, thật sự trách nhiệm của các giáo viên chủ nhiệm từ cấp dưới đến cấp trên, cùng sự quan tâm chia sẻ thường xuyên từ phía phụ huynh, gia đình. Có thể nói, giáo dục đạo đức cho học sinh là một bộ phận của quá trình giáo dục tổng thể nên phải đảm bảo chặt chẽ của quy trình quản lý giáo dục. Quy trình giáodục đạo đức học sinh là một quy trình mang tính toàn vẹn và thống nhất từ: Lập kế hoạch đến tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá kết quả. Tuy rằng mỗi chức năng có vai trò khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, đan xen và bổ sung cho nhau; thực hiện tốt chức năng này sẽ tạo cơ sở, điều kiện cho các chức năng tiếp theo. Để thực hiện hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh thì bên cạnh việc xây dựng những nội quy kỷ luật học sinh, cần phải xây dựng nội quy kỷ luật lao động của giáo viên, cần tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực trong nhà trường, giáo viên có quan hệ đồng nghiệp thân thiết, tương trợ, đoàn kết lẫn nhau, có môi trường sống lành mạnh, sự mẫu mực trong sinh hoạt, lối sống của giáo viên sẽ là tấm gương soi sáng và có tác dụng giáo dục rất lớn đối với học sinh. Công tác giáo dục đạo đức học sinh trong giai đoạn hiện nay càng đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ cao hơn, cần thiết hơn khi toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ ChíMinh". Nó sẽ là nguồn lực tinh thần to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước. Giáo dục đạo đức học sinh là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó giáo dục ở nhà trường có vai trò định hướng. Đó là sứ mệnh lịch sử, là vinh dự và trách nhiệm mà xã hội giao cho nhà trường và mỗi chúng ta nói riêng, ngành giáo dục và đào tạo nói chung. KIẾN NGHỊ Để áp dụng sáng kiến kinh nghiệm của tôi có hiệu quả tôi xin có một vài ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo như sau: Thứ nhất, về phía Nhà trường: - Đẩy mạnh và đổi mới các hoạt động tập thể, xây dựng môi trường thân thiện, xây dựng CSVC, khu vui chơi giải trí, thể thao. Tổ chức các buổi hoạt động tham quan dã ngoại để lôi cuốn các em đến trường, làm cho các em thực sự thấy " Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". - Xây dựng chuyên đề về giáo dục học sinh cá biệt trong nhà trường. - Tổ chức đa dạng các hoạt động ngoài giờ lên lớp. Sưu tầm và đưa các trò chơi dân gian, có thể sáng tạo các trò chơi dân gian cho phù hợp với thời đại ngày nay vào trong nhà trường. - Tăng cường đưa giáo dục pháp luật, giáo dục giới tính, giáo dục sức khỏe vị thành niên, giáo dục kĩ năng sống vào nhà trường để các em có đủ hành trang bước vào cuộc sống, không bị bỡ ngỡ, bất ngờ. Khi gặp phải những tình huống bất ngờ các em biết bình tĩnh xử lí hiệu quả nhất. Thứ hai, về phía Giáo viên chủ nhiệm: - Cần thực hiện hết chức năng và nhiệm vụ của mình. - Phải có lòng vị tha và hết lòng yêu thương học sinh như người cha đối với con cái. Cố gắng xây dựng tập thể lớp tự quản tốt. Thứ ba, về phía Đoàn thanh niên: cần phát động nhiều phong trào để thu hút học sinh tham gia và phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Thứ tư, về phía Gia đình học sinh: - Cha mẹ, ông bà nên sống mẫu mực để làm gương cho con cháu. - Cha mẹ, ông bà cần phải quan tâm đến con cháu nhiều hơn từ tâm tư, nguyện vọng đến việc học và hãy bỏ tư tưởng phó mặc con mình cho nhà trường. Tôi xin chân thành cảm ơn! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Giáo trình TCLLCT-HC. 2. Đảng Cộng Sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc cáckhóa VIII, XI. 3. Tài liệu bồi dưỡng công tác chủ nhiệm trường trung học, tác giả chúng tôi Thị Tố Oanh, trường Cán bộ quản lý giáo dục thành phố Hồ Chí Minh- năm 2012. 4. Hướng dẫn số 30/HD-SGDĐT của Sở giáo dục và đào tạo Yên Bái. 5. Thông tư số 13/2012/TT-BGDĐT ban hành quy định về tiêu chuẩn đánh giá trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường trunghọc phổ thông có nhiều cấp học. 6. Thông tư số: 08/TT ngày 21/03/1988 của Bộ giáo dục hướng dẫn về việc khen thưởng và thi hành kỷ luật học sinh. 7. Thông tư số: 58/2011/TT-BGDĐT, thông tư ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông. ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRÊN

Một Số Biện Pháp Xây Dựng Môi Trường Học Tập Giúp Trẻ 5 6 Tuổi Hoạt Động Tích Cực Ở Trường Mầm Non

Một số biện pháp xây dựng môi trường học tập giúp trẻ 5-6 tuổi hoạt độngtích cực ở trường mầm non

1.Phần mở đầu1.1. Lí do chọn đề tài:Trong những năm gần đây, giáo dục mầm non đã có nhiều đổi mới trong cáchnghĩ, cách làm, mạnh dạn bỏ đi những gì không phù hợp. Giáo dục mầm non đãtiến hành đổi mới toàn diện các mặt: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thứctổ chức, môi trường hoạt động và cách đánh giá. Như vậy, đổi mới môi trường hoạtđộng được coi là bước tiến lớn, đòi hỏi các nhà giáo dục phải tìm kiếm cách thứctổ chức môi trường tích cực bởi môi trường hoạt động là một trong ba yếu tố ảnhhưởng đến sự phát triển của trẻ mầm non (bản thân trẻ, người lớn, môi trường).Với trẻ mầm non chỉ học ở hoạt động học thôi chưa đủ, để trẻ phát triển hếtkhả năng, năng lực của mình mà trẻ chỉ thực sự học, thực sự được trải nghiệm khitham gia hoạt động tích cực ở các giờ chơi và mọi lúc mọi nơi. Vì thế việc tạo môitrường trong lớp cho trẻ hoạt động tích cực là việc làm hết sức cần thiết, nhằm tạođiều kiện cho trẻ hoạt động cá nhân nhiều hơn, khám phá theo ý thích, khả năngcủa mình giúp trẻ phát hiện nhiều điều mới và hấp dẫn. Đồng thời giúp trẻ được

làm quen, củng cố kiến thức, bỗi dưỡng kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống hàng

Đề tài sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp xây dựng môi trường học tậpgiúp trẻ 5-6 tuổi hoạt động tích cực ở trường mầm non” được thực hiện trong nămhọc 2013-2014. Đề tài có thể áp dụng rộng rãi trong trường mầm non của huyệnnhà nói chung và đối với lớp mẫu giáo 5-6 tuổi nói riêng.

2. Phần nội dung2.1. Thực trạng:Năm học 2013-2014 bản thân tôi trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 5-6 tuổi vớitổng số là 42 cháu.

Bước vào thực hiện đề tài này lớp chúng tôi có được những

thuận lợi và gặp một số khó khăn sau:2.1.1. Thuận lợi:– Hoạt động của lớp được sự quan tâm chỉ đạo chặt chẽ của Phòng GD-ĐT LệThủy, ban giám hiệu nhà trường và tổ chuyên môn.– Trường tôi là một trong những đơn vị được đầu tư xây dựng cơ sở vật chấtkiên cố, trang thiết bị khá đầy đủ đảm bảo việc học tập và sinh hoạt của trẻ.

– Bản thân tôi luôn tận dụng những nguồn nguyên vật liệu phế thải rồi xử lý

sạch để có thể biến chúng thành những dụng cụ học tập và đồ chơi đơn giản giúptrẻ được học, được khám phá và khắc sâu kiến thức.– Đa số phụ huynh nhận thức được tầm quan trọng đối với bậc học mầm non,tích cực hỗ trợ nhà trường, lớp về tinh thần cũng như vật chất để xây dựng môitrường trong và ngoài lớp cho trẻ học tập.2.1.2. Khó khăn:Số lượng cháu trong lớp khá đông, nhiều cháu còn nhút nhát, không chủđộng tham gia các hoạt động tập thể.Trang thiết bị dạy học tuy đã được đầu tư mua sắm qua hàng năm khá đầy đủsong còn thiếu tính đồng bộ, ảnh hưởng phần nào đến việc chăm sóc giáo dục trẻ.Việc lựa chọn nguồn nguyên vật liệu, nơi cất giữ và bảo quản để đảm bảo sảnphẩm có độ bền cao, sử dụng lâu ngày còn khó khăn.Kết quả trẻ tham gia vào các hoạt động tích cực còn hạn chế, chưa hứng thúvào môi trường trong lớp; cụ thể qua đợt khảo sát đầu năm như sau:2.1.3. Khảo sát thực tế trẻ:

T

Thỉnh Tỷ lệ Thường Tỷ lệ Ghithoảng

%

xuyên

%

chú

Trẻ hoạt động tích cực1

vào môi trường đã tạo

16/42 38,1

19/42

45,2

7/42

16,6

16/42 38,1

20/42

47,6

6/42

14,2

24/42

57,1

8/42

19,0

trong lớpKỹ năng sử dụng môi2trường trong lớpHứng thú tham gia các

10/4

3

23,8hoạt động

2

2.1.4. Nguyên nhân:– Địa bàn trường đóng ở trung tâm nên con em của cán bộ công nhân viênchức đến tạm trú và học tại trường đông.– Trang thiết bị tuy đã được đầu tư qua hàng năm song vẫn chưa đáp ứng yêucầu của chương trình giáo dục mầm non mới.

việc sử dụng đèn chiếu, máy tính, bảng tương tác điện tử và còn đóng mới tủ nhômkính đựng các đồ dùng cá nhân trẻ phù hợp với số lượng trẻ ở lớp.2.2.2. Làm tốt công tác tự bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ:Phải nói rằng việc tự học hỏi để nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp làđiều đặt lên hàng đầu cho mỗi giáo viên. Hiểu rõ điều đó, bản thân tôi đã tranh thủmọi cơ hội, điều kiện có thể để tìm tòi, học hỏi, sáng tạo bằng nhiều cách khácnhau: Tham quan trường bạn, dự giờ, tìm hiểu qua sách, báo, các phương tiệnthông tin đại chúng đặc biệt mạng internet là một kênh thông tin phong phú để tôikhám phá tìm hiểu, học hỏi kinh nghiệm cho bản thân.Luôn nắm vững đặc điểm tâm sinh lý độ tuổi của trẻ để có các phương pháptác động phù hợp, kích thích tính tò mò, hứng thú ở trẻ.Nghiên cứu chương trình GDMN mới để nắm vững mục tiêu, nội dung,phương pháp giáo dục nhằm xây dựng môi trường cho trẻ phù hợp.Tham gia đầy đủ các buổi sinh hoạt chuyên đề của trường, của phòng, của sở,của Bộ GD&ĐT. Tham gia lớp học nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.Luôn có ý thức học hỏi chị em đồng nghiệp trong trường, trong cụm như dựgiờ, tham quan để rút những kinh nghiệm cho bản thân trong công tác chăm sócgiáo dục trẻ.

Ở phòng đón trẻ, từ đầu năm học tôi đã thay đổi các mảng tuyên truyền vớihình thức đẹp, nội dung phong phú cập nhật thông tin cần thiết gần gũi với trẻ, vớiphụ huynh như mảng dành góc sinh nhật bé trong tháng, mảng dành cho bản tincủa lớp về chương trình giảng dạy, lịch sinh hoạt, mảng dành cho gia đình và bé.* Xây dựng góc hoạt động trong lớp.Hoạt động góc là một hình thức hoạt động đặc biệt trong đời sống của trẻmầm non, đó là nơi trẻ thỏa mãn sở thích, nhu cầu vui chơi, nhận thức và cảm nhậnvề thế giới xung quanh. Hoạt động góc giúp trẻ rèn luyện, củng cố kiến thức đãhọc, là nơi trải nghiệm, khám phá những cái mới và phát huy khả năng sáng tạocủa trẻ. Vì vậy, tôi đã bố trí các góc trong lớp phù hợp như:– Góc yên tĩnh xa góc ồn ào hoặc các góc có thể sắp xếp cạnh nhau như:+ Góc phân vai xa góc học tập, góc sách.+ Góc xây dựng và góc phân vai kề nhau tạo sự liên kết các nhóm chơi ởtrong hai góc, góc xây dựng tránh nơi đi lại.+ Góc thiên nhiên Tôi đã tận dụng khoảng hiên ngoài lớp cho trẻ hoạt độngthoải mái tránh sự ồn ào cho các góc khác.

Khi chơi, tôi chú ý bao quát, động viên, hướng dẫn trẻ triển khai nội dungchơi, chú ý những trẻ rụt rè nhút nhát. Có thể nhập vai cùng trẻ để gợi ý nội dungchơi khi trẻ lúng túng hay gợi ý trẻ sáng tạo nên các nội dung chơi mới dựa trên ýtưởng của trẻ.Ví dụ: Chủ đề: “Côn trùng”Góc nghệ thuật: Các nguyên vật liệu tôi chuẩn bị sẵn như cánh hoa, vỏ sò, lácây, cỏ, vỏ thạch dừa, keo dán, keo hai mặt, bìa đã phun màu nền. Khi chơi, trẻ đếngóc đã chọn nhưng còn lúng túng chưa biết làm gì với những nguyên vật liệu cô đãchuẩn bị sẵn. Tôi đến và hỏi trẻ: Những cánh hoa hồng này con thấy giống cánhcon côn trùng nào mà cháu từng thấy. Nếu lấy cánh hoa làm cánh (bướm, chuồnchuồn..) thì cháu sẽ chọn gì để làm mình? Cháu sẽ ghép và dán ở đâu? (trên giấy).Cô nghĩ chắc chắn những con côn trùng cháu làm sẽ rất đẹp, rất ngộ nghĩnh và dễthương.Trong giờ chơi, tôi luôn giáo dục trẻ chơi cùng bạn, không giành đồ chơi củabạn, cất dọn đồ chơi gọn gàng vào chỗ cũ sau khi chơi xong.– Muốn quản lý trẻ tốt, tôi đã làm kí hiệu ở các góc hoạt động để theo dõi trẻnhằm giúp trẻ chơi ở tất cả các góc trong năm học. Kí hiệu của trẻ ở các góc trùngvới các ký hiệu của trẻ ở đồ dùng cá nhân trẻ.

* Ở hoạt động mọi lúc mọi nơi.Song song với việc tổ chức hoạt động học, hoạt động ở các góc chơi tôi luônchú ý để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.Trong các ngày lễ, ngày hội tôi tổ chức các hoạt động chiều, hoạt động theo ýthích…cho trẻ tham gia, qua đó giáo dục trẻ biết chia sẽ quan tâm và chăm sócngười thân. (Ví dụ: Ngày 8/3 tổ chức cho trẻ làm thiệp tặng mẹ, tặng bà, tặng côgiáo khơi gợi ở trẻ lòng biết ơn và kính trọng mẹ, bà, cô giáo qua những sản phẩmtrẻ tự làm).Tổ chức các lễ hội có nội dung phong phú, gẫn gũi đời sống trẻ: “Giai điệumùa xuân”, “Ngày hè”, “Mừng sinh nhật”. Các buổi đó trẻ không chỉ múa hát, đọcthơ, kể chuyện mà còn được chơi các trò chơi dân gian: ném còn, đua thuyền, đuavịt, đi chợ quê với quang gánh, rau, củ, quả, những đặc sản quê hương như bánhđúc, bánh tráng…Tất cả được trang trí trong một khung cảnh quê hương có cây tre,bụi chuối, trẻ được mặc áo quần bà ba, tứ thân, váy yếm, khăn đóng áo dài…. Quađó, trẻ được tăng cường mối quan hệ giao tiếp giữa trẻ với trẻ, trẻ và cô, trẻ vớingười lớn….Điều này giúp trẻ tự tin khẳng định mình, biết cùng nhau hoạt độngtrong nhóm, biết chia sẽ ý tưởng để hoàn thành sản phẩm. Ở các ngày lễ hội tổchức trong lớp, trẻ không còn “chơi” chỉ để chơi nữa mà chơi thật trong cuộc sống.

* Kết quả đạt được.Qua quá trình thực hiện với những biện pháp và cách làm trên, việc tạo môitrường ở lớp tôi đạt được những kết quả đáng phấn khởi, cụ thể:– Đối với giáo viên:Trình độ chuyên môn được nâng lên rõ rệtXác định được vai trò định hướng các hoạt động cho trẻ, luôn tạo cơ hội chotrẻ phát huy tính tích cực và độc lập, rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ; có kinhnghiệm trong việc tổ chức môi trường giáo dục cho trẻ theo tinh thần đổi mới.Các tiết dự giờ, thao giảng thanh kiểm tra của trường đều đạt kết quả tốt.

+ Chủ đề “Nghề nghiêp”: Bộ đồ chơi góc thiên nhiên: cuốc, cào, bình tướinước, xẻng; Bộ tranh chơi trò chơi góc học toán, 5 cái đàn ghi ta bằng gỗ, 10 cáIquạt bằng mo cau, 20 cái cào, 20 cái liềm, 30 hình ảnh các nguyên vật liệu và dụngcụ các nghề. 10 quyển tranh sưu tầm tranh về công cụ và sản phẩm các nghề.+ Chủ đê: “Thế giới động vật”: 40 con rùa, 40 con cua (làm vằng võ ngao,gáo dừa), 40 con bướm, 20 con lợn, 20 con gà, 25 con chó, 40 mũ múa các con vật,40 bộ bảng học toán tách gộp hai nhóm đối tượng trong phạm vi 4.+ Chủ đề: “Thế giới thực vật”: 10 cây ăn quả, 20 quả su hào, 20 củ cà rốt, 20củ cải trắng, 30 hoa sen, 15 cây hoa các loại.+ Chủ đề: “Quê Hương- Đất Nước- Bác Hồ- Trường tiểu học”: 10 thuyền nan,1 cây cầu, 1 trường tiểu học, 1 hồ sen, 1 lăng Bác Hồ cho trẻ lắp ghép, 3 chiếc nónkỳ diệu cho trẻ chơi trò chơi chữ cái, 10 cặp sách– Đối với trẻ:Hình thành những mối quan hệ tốt với trường lớp, với gia đình, bạn bè và xãhội; phát triển kiến thức về môi trường xung quanh và những kinh nghiệm trongđời sống; đảm bảo an toàn về thể chất, tâm lý và đáp ứng nhu cầu trẻ.

Trẻ hứng thú tích cực tham gia hoạt động; kiến thức, kỹ năng được củng cố,nhiều trẻ tỏ ra mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, khả năng sáng tạo được bộc lộ rõrệt, thể hiện rõ trong bản điều tra trẻ cuối học kỳ 1 vừa qua:

TT

Tiêu chí

Chư

Tỷ

Thỉnh

Tỷ

Thườn Tỷ lệ Ghi

a có lệ % thoảng

lệ

g xuyên

%

Trẻ hoạt động tích cực1

0

0

3/42

7,1

39/42

92,9

0

0

4/42

9,5

38/42

90,4

0

0

0

42/42

100

vào môi trường đã tạotrong lớp

2

Kỹ năng sử dụng môi2

trường trong lớp

3 Hứng thú tham gia các3

hoạt động– Đối với phụ huynh:

0

chú

Nhờ đó, bản thân đã rút được những bài học kinh nghiệm quý sau:– Làm tốt công tác tham mưu với Ban giám hiệu nhà truờng trong việc muasắm các trang thiết bị, các loại đồ dùng đồ chơi phục vụ việc dạy và học.– Tăng cường công tác tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệpvụ và tay nghề cho bản thân.– Tích cực chủ động tìm tòi, học hỏi, sưu tầm các nguyên vật liệu khác nhauđể xây dựng môi trường học tập cho trẻ sạch, đẹp, an toàn, thân thiện nhằm thựchiện tốt chương trình giáo dục mầm non mới và phong trào thi đua: “Xây dựngtrường học thân thiện, học sinh tích cực”.– Tổ chức tốt cho trẻ hoạt động với môi trường học tập trong lớp.– Xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa giáo viên và giáo viên, giáoviên và trẻ; đoàn kết, gắn bó với phụ huynh trong việc tuyên truyền phối hợp nângcao chất lượng CS-GD trẻ và hỗ trợ lớp về vật chất cũng như tinh thần trong cáchoạt động CS – GD trẻ.– Tổ chức các hoạt động tập thể gần gũi vui tươi lành mạnh cho trẻ.Kết quả của việc tạo môi trường học tập trong lớp cho trẻ hoạt động tích cực ởlớp mẫu giáo 5-6 tuổi do tôi trực tiếp giảng dạy trong năm học 2013 -2014 bước

đầu có những hiệu quả tích cực đối với giáo viên, đối với trẻ và phụ huynh nhưngbản thân thân nhận thấy vần còn nhiều vấn đề cần tiếp tục học hỏi, tìm kiếm giảipháp, đúc rút kinh nghiệm ở các đơn vị bạn để làm thế nào xây dựng môi trườnghọc tập trong lớp cho trẻ 5-6 tuổi nói riêng và trẻ mẫu giáo trong trường nói để trẻnhư được sống cuộc sống thực của mình. Bản thân rất mong nhận được sự góp ý,trao đổi ý kiến của Hội đồng khoa học nhà trường và Hội đồng khoa học Phònggiáo dục va Đào tạo Lệ Thủy để giúp tôi có kinh nghiệm tốt hơn trong việc xâydựng môi trường học tập cho trẻ hoạt động tích cực.3.2. Kiến nghị, đề xuất:* Đối với nhà trường:– Tham mưu với các cấp để có nguồn kinh phí mua sắm các loại đồ dùng, đồchơi, trang thiết bị phù hợp phục vụ các hoạt động trong nhóm, lớp.– Tổ chức cho giáo viên được đi tham quan trường bạn để học tập kinhnghiệm trong việc xây dựng môi trường học tập cho trẻ hoạt động tích cực.– Tổ chức tập huấn cho giáo viên chuyên đề xây dựng môi trường học tập chotrẻ hoạt động tích cực.* Đối với Phòng giáo dục & Đào tạo Lệ Thủy:

Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Sinh Thcs

Để nâng cao chất lượng bộ môn Sinh học THCS bạn có thể áp dụng những thay đổi trong công tác giảng dạy như sau để tạo sự hứng thú cho học sinh của mình. giúp cho bài giảng có được hay, thu hút hơn và đem lại những kết quả tốt nhất.

Thay đổi cách kiểm tra bài cũ

Thông thường, phần kiểm tra bài cũ được giáo viên tiến hành ở đầu giờ. Đây là việc làm theo đúng tiến trình dạy học.Tuy nhiên, sự lặp đi lặp lại cách làm đó sẽ khiến học sinh nhàm chán, đôi khi gây áp lực, tạo sự căng thẳng cho học sinh trong suốt tiết học hôm đó. Theo tôi giáo viên có thể lồng ghép các câu hỏi kiểm tra kiến thức đã học trong quá trình dạy bài mới để làm giảm bớt đi sự căng thẳng không đáng có.

Ví dụ : Khi dạy mục I bài 29. Hấp thụ chất dinh dưỡng và thải phân , giáo viên có thể treo tranh phóng to về Cấu tạo trong của ruột non. Sau đó yêu cầu học sinh nhắc lại cấu tạo của ruột non phù hợp với chức năng tiêu hóa; kiểm tra kiến thức của học sinh về cấu tạo của ruột non, sau đó nhận xét và cho điểm.

Thay đổi cách đặt vấn đề vào bài mới

Trong một giờ học, nếu ngay từ phần vào bài giáo viên đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh, chắc chắn trong những phút tiếp theo, các em sẽ hào hứng hơn với những hoạt động do giáo viên tổ chức.

Do đó phần vào bài có vai trò quan trọng đến hoạt động dạy cũng như kích thích quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh trong một tiết dạy.

Kinh nghiệm của tôi để có cách dẫn dắt vào bài mới hấp dẫn hơn là: Mở đầu bằng một câu chuyện vui; mở đầu bằng một đoạn phim hay hình ảnh; hay mở đầu bằng một câu chuyện li kì, hấp dẫn…

Một điều cần lưu ý là: đặt vấn đề hay góp phần làm tăng tính hấp dẫn cho bài học, tạo hứng thú cũng như làm cho không khí học tập trở nên thoải mái hơn. Tuy nhiên, giáo viên cũng cần chú ý đến thời gian cho phần vào bài để tránh ảnh hưởng đến thời lượng dành cho bài mới.

Thay đổi cách giao tiếp

Trong hoạt động dạy học luôn đòi hỏi sự tương tác qua lại thường xuyên giữa thầy và trò. Một trong những điều kiện để học sinh có thể học sâu là các em phải có cảm giác thoải mái.

Trong quá trình giao tiếp với học sinh, giáo viên cần có thái độ nhẹ nhàng, vui vẻ, tạo cho học sinh cảm giác được yêu thương, nhưng khi cần vẫn phải nghiêm khắc để học sinh hiểu được giới hạn của sự thoải mái. Vì nếu quá dễ dãi, học sinh không kính nể sẽ rất khó dạy; quá nghiêm khắc, học sinh sẽ bị ức chế khó tiếp thu bài học.

Hơn ai hết, giáo viên phải nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên đối với công tác giáo dục. Khi cảm thấy mình được tôn trọng có nghĩa là các em sẽ thêm phần tự tin vào bản thân mình, sẽ đáp lại bằng thái độ tôn trọng, yêu quý đối với thầy cô, nhờ đó mà cũng sẽ yêu thích hơn bộ môn những thầy cô giáo đó đang giảng dạy.

Bên cạnh đó, người giáo viên cũng cần quan tâm đến những học sinh chậm tiến của lớp, quan tâm nhắc nhở các em học bài và chỉ cách học bài cho học sinh; kịp thời khen ngợi khi học sinh tiến bộ.

Ví dụ, có em học sinh chậm tiến lần thứ nhất kiểm tra bài cũ chỉ được 3 điểm, nhưng lần thứ hai được 5 điểm, giáo viên cần khen ngợi để học sinh cảm thấy mình có tiến bộ, từ đó sẽ cố gắng nhiều hơn.

Đổi mới cách thức soạn bài và thiết kế các hoạt động dạy học

Trước hết, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung của bài học trong sách giáo khoa, kết hợp nghiên cứu những tài liệu tham khảo khác như sách giáo viên, sách giải bài tập sinh học, chuẩn kiến thức kĩ năng,… để chỉ ra được mục tiêu chính là những yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ cần hướng học sinh tìm hiểu và đạt được.

Tiếp theo, giáo viên xác định số lượng hoạt động, hình thức tổ chức và nội dung các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu ở trên.

Tuy nhiên, để hướng đến sự thích thú, say mê của học sinh với mỗi hoạt động đó thì giáo viên cần lựa chọn cách tổ chức phù hợp nhất, làm sao để học sinh phát huy tối đa khả năng và hiểu biết của bản thân, đồng thời có sự liên kết chặt chẽ với tập thể.

Trong quá trình thiết kế, giáo viên nên có sẵn những dự kiến và phương án giải quyết cho những tình huống không theo ý muốn có thể xảy ra để có thể chủ động điều chỉnh nhằm tránh sự lúng túng, kéo dài thời gian, thậm chí là không đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Chuẩn bị đồ dùng dạy học chu đáo cho các tiết dạy

Trong quá trình tổ chức các hoạt động dạy học, giáo viên không thể bỏ qua vai trò của các đồ dùng, phương tiện dạy học. Việc lựa chọn được những đồ dùng phù hợp và có chất lượng không chỉ làm tăng hiệu quả của việc khai thác, phát hiện kiến thức mà còn tạo ra sự thích thú cho học sinh.

Trong nhiều trường hợp, giáo viên có thể giao nhiệm vụ cho học sinh chuẩn bị những đồ dùng nhất định. Khi được tự chuẩn bị, học sinh sẽ phải nghiên cứu tài liệu để hiểu về vấn đề được giao tức là các em đã được học tập thêm một lần nữa.

Ví dụ: Khi sử dụng tranh vẽ “Thí nghiệm về hoạt động của enzim trong nước bọt” (hình 26- SGK, trang 85, sinh 8) để khai thác phát hiện kiến thức mới, giáo viên phải hướng học sinh chỉ ra được: Vì sao ống A lại có độ trong không đổi? Vì sao ống B lại có độ trong tăng lên và vì sao ống C và D lại có độ trong không đổi!  Từ đó, hướng học sinh đến kết luận về hoạt động của enzim trong tuyến nước bọt.

Tổ chức các hoạt động dạy học

Một số cách tổ chức các hoạt động học tập

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Khăn phủ bàn”: Để tiến hành kĩ thuật này, giáo viên chia học sinh thành nhóm (4 người/nhóm), mỗi người ngồi vào một vị trí đã được sắp xếp. Mỗi nhóm được nhận một tờ giấy có chia các ô dành cho hoạt động của từng cá nhân, ở giữa là ô trống dành cho kết quả chung của nhóm sau khi đã thống nhất ý kiến.

Tổ chức dạy học theo nhóm sử dụng kĩ thuật “Các mảnh ghép”: Để thiết kế, giáo viên cần lựa chọn nội dung/chủ đề phù hợp, xác định một nhiệm vụ phức hợp cần giải quyết ở vòng 2 dựa trên các nhiệm vụ khác nhau đã thực hiện ở vòng 1. Học sinh được chia thành các nhóm, giao nhiệm vụ cụ thể cho mỗi thành viên trong nhóm.

Trong quá trình tiến hành, ở vòng 1 giáo viên tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm 3 hoặc 4 người, mỗi nhóm được giao một nhiệm vụ, đảm bảo mỗi thành viên trong nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao, mỗi thành viên đều trình bày được kết quả câu trả lời của nhóm.

Ở vòng 2, giáo viên hình thành nhóm 3 hoặc 4 người mới là sự kết hợp giữa mỗi thành viên trong mỗi nhóm trên, các câu trả lời và thông tin của vòng 1 được các thành viên nhóm mới chia sẻ đầy đủ với nhau. Sau khi chia sẻ xong thông tin ở vòng 1, nhiệm vụ mới sẽ được giao cho nhóm vừa lập để giải quyết. Các nhóm mới trình bày, chia sẻ kết quả nhiệm vụ ở vòng 2.

Tuy nhiên, điều quan trọng là thiết kế và tổ chức như thế nào để mọi thành viên đều phát huy được năng lực cá nhân cũng như biết cách phối hợp với tập thể nhằm tăng cường sự liên kết và khả năng thu nhận, tích lũy kiến thức.

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học

Khi được hỗ trợ bởi công nghệ thông tin thì khả năng truyền tải ý tưởng của giáo viên cũng dễ dàng và phong phú hơn.

Để có thể sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong dạy học, giáo viên cần phải đầu tư nhiều thời gian để học tập, nghiên cứu cho thành thạo cách thiết kế bài giảng, cách khai thác các ứng dụng khác.

Đồng thời, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung bài dạy để thiết kế những hoạt động dạy học phù hợp, có kế hoạch sắp xếp và khai thác hợp lí các tranh, ảnh, mô hình, băng hình,… sưu tầm được theo trật tự nhất định phù hợp với nội dung kiến thức từng phần.

Trong quá trình dạy học phải gắn kiến thức với thực tiễn

Sự gần gũi của kiến thức lí thuyết với thực tế giúp học sinh dễ dàng kiểm chứng, liên hệ đã trở thành một trong những yếu tố thúc đẩy tính tích cực của học sinh.

Bồi dưỡng học sinh năng khiếu bộ môn                      

Tiến hành phân loại học sinh trên cơ sở bài khảo sát đầu năm và thông qua quá trình giảng dạy từ đó sẽ chọn lọc ra những học sinh năng khiếu để tiến hành bồi dưỡng vào thời gian trái buổi hoặc vào ngày chủ nhật.

Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, phụ huynh học sinh chặt chẽ để truy bài cho các em vào những buổi chiều hoặc ngày chủ nhật nhằm giúp các em nắm kiến thức trọng tâm và nâng cao của từng bài học cụ thể. Thường xuyên liên lạc với phụ huynh, kết hợp với phụ huynh hướng dẫn về biện pháp để giúp con em học tập để có kết quả cao.

AZtest là hệ thống tạo lập website thi trắc nghiệm trực tuyến do CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN VÀ DỊCH VỤ NGUỒN MỞ THUẬN ĐỨC phát triển. Với AZtest, người dùng có thể dễ dàng sở hữu một website tổ chức ôn tập, thi trắc nghiệm trực tuyến hoàn toàn miễn phí, độc lập, được cá nhân hóa theo yêu cầu của người quản trị.

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Giáo Viên Xây Dựng Kế Hoạch Giáo Dục Lấy Trẻ Làm Trung Tâm Ở Trường Mầm Non trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!