Xem Nhiều 2/2023 #️ Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc # Top 4 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc # Top 4 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1.1. Lí do chọn đề tài Chúng ta biết rằng trẻ ở lứa tuổi mầm non là thế hệ tương lai của đất nước. Ở độ tuổi này trẻ cần được quan tâm chăm sóc và giáo dục thật tốt để trẻ phát triển một cách toàn diện. Mọi sự phát triển của trẻ ở lứa tuổi này đều là nền tảng cho sự phát triển của trẻ về sau. Bên cạnh viêc giáo dục trẻ phát triển nhận thức thì việc rèn luyện và phát triển nhân cách của trẻ qua những hành vi thói quen hàng ngày cũng hết sức cần thiết. Xã hội ngày nay đã và đang làm thay đổi cuộc sống của con người, nhiều vấn đề phức tạp liên tục nảy sinh. Bên cạnh những tác động tích cực còn có những tác động tiêu cực gây nguy hại cho con người đặc biệt là trẻ em. Do đó việc hình thành kỹ năng sống cho trẻ em đang trở thành nhiệm vụ quan trọng đối với người quản lí giáo dục và giáo viên. Giáo dục kỹ năng sống phải được đo bằng sự vận dụng những kinh nghiệm đó trong cuộc sống mỗi cá nhân để sống tích cực, sống hạnh phúc, sống có ý nghĩa. Nghiên cứu về sự phát triển của não trẻ cho thấy rằng khả năng giao tiếp với mọi người, khả năng biết tự kiểm soát, biết cách ứng xử phù hợp với các yêu cầu, biết cách giải quyết các vấn đề của bản thân một cách tự lập có ảnh hưởng rất quan trọng đối với kết quả học tập của trẻ tại trường. Để đáp ứng được yêu cầu của giáo dục mầm non hiện nay thì mỗi nhà trường, mỗi nhóm lớp cần tăng cường sự tham gia một cách có hứng thú của học sinh vào các quá trình hoạt động giáo dục ở nhà trường, ở cộng đồng một cách tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo theo quan điểm giáo dục “ lấy trẻ làm trung tâm”. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là điều rất cần thiết để giúp trẻ khám phá thế giới tâm hồn mình một cách có định hướng, khiến trẻ biết quý trọng bản thân, nuôi dưỡng những giá trị sống nền tảng và hình thành những kỹ năng sống tích cực trong trẻ, giúp trẻ cân bằng cuộc sống trên các lĩnh vực: Thể chất, ngôn ngữ, nhận thức, tình cảm xã hội và thẩm mỹ. Từ đó, chúng ta xây dựng cho trẻ những kỹ năng sống hòa nhập với thế giới xung quanh. Ở mỗi lứa tuổi thì trẻ cần có những sự tác động khác nhau đến kỹ năng sống của trẻ. Chăm sóc và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn tinh thần, là nền tảng giúp cho quá trình học tập lâu dài của trẻ sau này. Thế nhưng trong thực tế hiện nay, có không ít giáo viên chưa hiểu nhiều về nội dung phải dạy trẻ lứa tuổi mẫu giáo những kỹ năng sống cơ bản, chưa biết vận dụng từ những kế hoạch định hướng chung để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. Mặt khác với yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp dạy học, giáo viên thường lãng quên các trò chơi dân gian, các hoạt động tập thể mang tính lành mạnh. Kỹ năng sống của trẻ ở trường tôi còn nhiều hạn chế: trẻ chưa mạnh dạn tự tin khi đứng trước đám đông, chưa có kỹ năng tự chăm sóc bản thân, kỹ năng hoạt động nhóm và giải quyết vấn đề còn chậm, không linh hoạt. Nội dung dạy kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo đã triển khai được một số năm học, tuy nhiên kết quả đạt trên trẻ chưa cao và chưa đồng đều giữa các trẻ. Đó là do giáo viên chưa nắm rõ kiến thức, nội dung và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Nếu giáo viên thực hiện chuyên sâu và có phương pháp giáo dục phù hợp thì kết quả trên trẻ sẽ có bước tiến bộ nhanh chóng. Xuất phát từ những vấn đề trên, bản thân là một cán bộ quản lý, tôi suy  nghĩ rằng việc dạy kỹ năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc  làm rất cần thiết và cực kỳ quan trọng nên tôi quyết địnhlựa chọn đề tài “ Một số biện pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Xuân Lộc” làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2018-2019. 1. 2. Mục đích nghiên cứu – Nghiên cứu đề tài để tìm ra một số biện pháp chỉ đạo giáo viên thực hiện các hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trườngmầm non Xuân Lộc đạt kết quả cao. 1. 3. Đối tượng nghiên cứu – Trẻ mẫu giáo ở trường mầm non Xuân Lộc 1. 4. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin – phương pháp kiểm tra, đánh giá – Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp 2. NỘI DUNG 2. 1. Cơ sở lí luận. Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi mầm non là hết sức cần thiết. Các bé ở lứa tuổi này nhận thức cũng như hành động đều trong sáng như tờ giấy trắng, khi gieo vào các em những gì thì nó sẽ hình thành thói quen sau này cho các em như vậy. Một trong những nhiệm vụ để thực hiện chương trình giáo dục mầm non có hiệu quả đó là chú trọng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ. Để giáo dục kỹ năng sống cho trẻ đòi hỏi mỗi giáo viên phải suy nghĩ, sáng tạo trong việc lựa trọn nội dung, phương pháp dạy học theo giáo trình mầm non hiện nay. Đặc biệt chú trọng tìm năng lực cá nhân của trẻ, lấy trẻ và năng lực cá nhân của trẻ làm trung tâm. Để rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ, giáo viên, gia đình thường xuyên trò chuyện Với trẻ để trẻ mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với bạn bè, bố mẹ và người lạ. Người lớn không những phát huy thế mạnh ở trẻ mọi lúc mọi nơi, đây là cơ sở để trẻ phát huy tính tích cực của mình.Từ đó trẻ sẽ hứng thú hơn khi tham gia vào các hoạt động khác. Trong mỗi đứa trẻ đều có những tài năng thiên bẩm. “Sự chuẩn bị kỹ càng từ lúc đầu đời, chính là chìa khóa thành công cho tương lai mỗi cháu”. Chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ từ lứa tuổi mầm non chính là cơ sở giúp trẻ hoàn thiện về thể chất, tình cảm trí tuệ, thẩm mỹ là nền tảng cho qúa trình học tập xuốt đời của bé. Vậy rèn luện kỹ năng sống cho trẻ là gì? Và rèn luyện kỹ năng sống như thế nào là vấn đề có nhiều câu hỏi đặt ra. Kỹ năng sống được hiểu là kỹ năng và hành động. Để có được kỹ năng sống ở trẻ cần hình thành ở trẻ ý thức về việc làm nào đóTrẻ được hành động nhiều lần sẽ trở thành thói quen, tạo nên ý thức ở trẻ. Kỹ năng sống là khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”(Theo định nghĩa Tổ chức Y tế Thế giới) Lứa tuổi mầm non là giai đoạn học – tiếp thu – lĩnh hội giá trị sống để phát triển nhân cách. Kỹ năng sống là những kỹ năng nền tảng để hình thành nhân cách trẻ. Phát triển về các mặt thể chất, tình cảm-xã hội, ngôn ngữ, nhận thức, giúp trẻ  sẵn  sàng đi học lớp một ở trường phổ thông sau này. Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thực  hành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọng  đến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho trẻ. Bố mẹ luôn bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan  tâm đến người khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Điều đó gây khó khăn cho trẻ trong việc có tình huống bất ngờ xảy ra. Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin tự lập, tò mò khả năng thấu hiểu và giao tiếp bị hạn chế. Với các bạn khác trong lớp, biết chia sẻ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt ý của mình trong nhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giới thiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào, thích cái gì và điạ chỉ nhà mình ở đâu. Nhận biết các ưu khuyết  điểm của bản thân. Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cánh lắng  nghe mọi người và đối đáp. Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ  an toàn cho mình nơi công cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài  phố, khi gặp người lạ,) 2.2. Thực trạng của vấn đề * Thuận lợi: – Nhà trường luôn được sự quan tâm của phòng giáo dục và đào tạo huyện Hậu Lộc và ban lãnh đạo địa phương nên đã có những thay đổi đáng kể về cơ sở vật chất, đồ dùng đồ chơi và trang thiết bị dạy học. Trường đã được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia mức độ một năm 2017. – Nhà trường có đội ngũ cán bộ giáo viên trẻ khỏe, luôn năng nổ, nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, và có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 100%. – Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trình giáo dục mầm non với trang thiết bị tương đối đầy đủ.  - Phụ huynh học sinh đã thay đổi nhiều về nhận thức trong việc phối kết hợp với nhà trường trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ. * Khó khăn: – Giáo viên còn phụ thuộc nhiều vào tài liệu chỉ chú trọng dạy các hoạt động học mà chưa chú ý đến việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ hàng ngày. Giáo viên còn thiếu kỹ năng tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng sống cho trẻ. – Trẻ bị ảnh hưởng bởi cuộc sống phát triển hiện đại như: Internet, tivi, các trò chơi điện tửTrẻ được sống trong môi trường quá bao bọc khiến trẻ quen dựa dẫm, không có tính tự lập, ích kỷ, lãnh cảm với môi trường xung quanh. – Một số gia đình còn nuông chiều con thái quá, luôn sẵn sàng phục vụ trẻ nên con có thái độ ngang bướng, ỷ lại, hay làm nũng bố mẹ. Mặc dù rất quan tâm đến con nhưng đa số phụ huynh là công nhân nên ít có thời gian dành cho con, phần lớn đều nhờ cậy ông bà. Vì vậy việc thống nhất quan điểm, biện pháp chăm sóc giáo dục trẻ giữa giáo viên và phụ huynh còn gặp nhiều khó khăn. * Kết quả của thực trạng: Bảng 1: Khảo sát năng lực giáo dục kỹ năng sống của giáo viên Tổng số giáo viên Hiểu và nắm vứng kiến thức giáo dục KNS cho trẻ Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục KNS cho trẻ Công tác tuyên truyền phụ huynh tham gia giáo dục KNS cho trẻ. Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu 16 4 6 6 0 3 4 7 2 3 4 7 2 Tỷ lệ 25 37,5 37,5 0 18,7 31,2 43,8 12,5 18,7 25 43,8 12,5 Bảng 2: Khảo sát thực trạng kỹ năng sống của trẻ Độ tuổi Tổng số trẻ Trẻ có kỹ năng sống tự tin, giao tiếp tình cảm,ứng xử Trẻ có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm Trẻ có kỹ năng tò mò, ham khám phá Kỹ năng tự phục vụ, tự bảo vệ và giải quyết vấn đề Tốt Khá TB Yêu Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yếu Tốt Khá TB Yêu 3-4 tuổi 75 12 15 37 11 11 14 38 12 10 16 35 14 17 18 27 13 4-5 tuổi 77 15 18 35 9 13 20 34 10 12 18 35 12 18 20 27 12 5-6 tuổi 80 18 21 34 7 16 22 34 8 15 20 36 9 20 22 28 10 Tổng số 232 45 54 106 27 40 56 106 30 37 54 106 35 55 60 82 35 Tỷ lệ 19,4 23,3 45,7 11,6 17,2 24,1 45,7 12,9 15,9 23,3 45,7 15 23,7 25,8 35,3 15 Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy kỹ năng sống của còn nhiều hạn chế. Kỹ năng mạnh dạn tự tin trong giao tiếp, kỹ năng hợp tác, hoạt động theo nhóm; kỹ năng tò mò, ham khám phá; Kỹ năng tự phục vụ, tự bảo vệ và giải quyết vấn đề ở trẻ mức độ trung bình và yếu còn chiếm tỷ lệ khá cao. Điều đó cho thấy chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo ở trường còn thấp. Nguyên nhân là do một số giáo viên còn chậm trong việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ, chưa nắm rõ được các nội dung cũng như phương pháp giáo dục kỹ năng sống cho trẻ nói chung và trẻ mẫu giáo nói riêng. Phụ huynh học sinh chưa chú trọng việc giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, còn nuông chiều và làm thay trẻ nhiều. 2. 3. Các biện pháp thực hiện. Biện pháp 1: Bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên và xây dựng kế hoạch thực hiện. *Tổ chức bồi dưỡng cán bộ giáo viên: Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thường  xuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của ban giám hiệu nhà  trường. Muốn nâng cao chất lượng kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thì trước tiên giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dung dạy trẻ. Để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thể thiếu. Đầu năm học ban giám hiệu nhà trường đã thành lập tổ chuyên môn, chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch hoạt động của tổ trong năm học và kế hoạch hàng tháng. Tôi đã chỉ đạo tổ chuyên môn sinh hoạt theo định kỳ đều đặn hàng tháng và có kế hoạch nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ, được ban giám hiệu nhà trường duyệt  * Bồi dưỡng về thực hành giáo dục kỹ năng sống cho giáo viên   Cho giáo viên tập thực hành các thao tác để dạy trẻ giống như trong đĩa (giáo viên tự quan sát lẫn nhau và cùng sửa chữa cho nhau để toàn bộ giáo viên phải thao tác thật chính xác). Đây được coi là biện pháp then chốt, bởi vì đội ngũ giáo viên là những người trực tiếp xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, là những tấm gương cho trẻ học tập và noi theo, là lực lượng quyết định chất lượng chăm sóc giáo dục của nhà trường. Để giáo viên hình dung được một cách cụ thể hình thức và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ, tôi đã lựa chọn và chỉ đạo giáo viên giỏi, có kinh nghiệm dạy tiết mẫu để tất cả giáo viên được dự và học tập rút kinh nghiệm. Tôi chỉ đạo các đồng chí trong tổ chuyên môn xây dựng hoạt động dạy theo các độ tuổi với các hoạt động khác nhau để cho giáo viên được học hỏi nhiều hơn. Sauk hi tiến hành các hoạt động dạy mẫu tôi tổ chức họp chuyên môn để giáo viên nhận xét đánh giá về hoạt động đó và rút kinh nghiệm. Qua đó tôi cũng nhấn mạnh lại các nội dung, phương pháp tổ chức một hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho trẻ để giáo viên khắc sâu hơn. (Ảnh 1:Giáo viên tham dự tiết dạy mẫu dạy trẻ kỹ năng tự bảo vệ) * Xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: Ngay từ đầu năm học tôi đã lên kế hoạch thực hiện chuyên đề “ Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ và coi đây là chuyên đề trọng tâm của năm học gắn với chuyên đề giáo dục lấy trẻ làm trung tâm một cách cụ thể, sát với thực tế của nhà trường cũng như của địa phương. Sau khi xây dựng kế hoạch xong tôi đưa ra tập thể sư phạm nhà trường bàn bạc, bổ sung, thống nhất khẳng định mục tiêu, giải pháp và thời gian thực hiện. Tôi chỉ đạo cho các tổ chuyên môn họp và giáo viên nêu nhiệm vụ trọng tâm của tổ trong năm học. Trong đó nhấn mạnh đến việc lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vào các hoạt động giáo dục đặc biệt chú ý đến yếu tố cá nhân của trẻ. * Tổ chức hội thảo về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ: Ví dụ: Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là gì? Vì sao lại phải giáo dục kỹ năng sống cho trẻ?Tầm quan trọng của việc giáo dục kỹ năng sống đối với trẻ. Giúp trẻ hứng thú lĩnh hội được các kỹ năng sống bạn phải làm gì..? ( Ảnh 2: Cán bộ, giáo viên tham dự hội thảo) Biện pháp 2. Xác định các nội dung để giáo viên dạy kỹ năng sống cho trẻ. Để thực hiện có hiệu quả việc nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ mẫu giáo thì trước hết mỗi giáo viên cần phải xác định được nội dung giáo dục kỹ năng sống gồm những gì? Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ có kế hoạch cụ thể và trọng tâm hơn khi tiến hành các hoạt động giáo dục phù hợp với từng lứa tuổi mà mình phụ trách. Đối với tâm sinh lý trẻ mẫu giáo thì có nhiều kỹ năng quan trọng mà trẻ cần phải biết trước khi tập trung vào học văn hoá. Thực tế kết quả của nhiều nghiên cứu đều cho thấy các kỹ năng quan trọng nhất trẻ phải học chính là những kỹ năng sống như: Kỹ năng giao tiếp mạnh dạn, tự tin; kỹ năng học tập ham khám phá; kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tự phục vụ và tự bảo vệ… Tôi đã cụ thể hóa nội dung của những k

Một Số Biện Pháp Giúp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Trong Trường Mầm Non

Một số biện pháp giúp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sốngcho Trẻ trong trường mầm nonI. ĐẶT VẤN ĐỀ1. Lý do chọn đề tài:Như chúng ta đã biết, kỹ năng sống là những kỹ năng cần có cho hành vilành mạnh cho phép bạn đối mặt với những thách thức của cuộc sống hằng ngày,kỹ năng sống bắt nguồn từ cuộc sống, nhưng không phải chỉ là những kỹ năng đểsống mà là công cụ để một người đạt đến thành công trong cuộc sống cá nhân,công việc và cuộc sống xã hội và cách mỗi người sử dụng công cụ ấy sẽ tạo ra sựkhác biệt.Có ai đã nói ” Gieo hành vi, gặt được thói quen “Ở lứa tuổi mầm non hànhvi nhận thức của trẻ giống như tờ giấy trắng. Khi gieo lên đó những mầm nhâncách nào thì nó sẽ hình thành thói quen đó cho trẻ sau này, muốn trẻ hình thànhđược thói quen tích cực thì phải thông qua hoạt động trải nghiệm và thích nghi.Ngày nay cuộc số tấp nập hơn cha mẹ mải lo kiếm thật nhiều tiên mà họ đã quênmất đến việc chăm sóc và dạy con cái. Họ thuê giúp việc chăm sóc con họ và yêucầu giúp việc bón cơm , tăm rửa mặc quần áo….. mặc dù những công việc đó conhọ có thể tự làm được. Chính vì vậy mà khi gặp khó khăn con họ sẽ không tự giảiquyết được vấn đề.Đối với trẻ Mầm non, chúng ta muốn con trẻ lớn lên trở thành những conngười tốt, sống có sức khỏe, bản lĩnh, có đủ phẩm chất và năng lực làm việc, trước

hết chúng ta phải nhìn nhận lại bản thân mình trước khi dạy trẻ: bản thân chúng ta

1

cần gì? thiếu gì? dựa vào cái gì để thành công? … thì hãy dựa vào đó mà dạy chonhững đứa trẻ của chúng ta những điều y như thế.Việc xây dựng kỹ năng sống cho trẻ không gì hơn là tạo cho trẻ có cơ hội đểtrẻ được trải nghiệm, khám phá, thích nghi và hướng dẫn cho trẻ cách tự thể hiệnmình. Có như thế thì chúng ta mới có thể có những đứa trẻ tự chủ động, tích cực,hòa đồng và đầy đặc biệt như chúng ta hằng mong đợi.Xuất phát từ những vấn đề trên nên bản thân tôi là cán bộ quản lý, tôi suynghĩ rằng việc dạy kỷ năng sống cho trẻ ngay từ lứa tuổi mầm non là một việc làmrất cần thiết và cực kỳ quan trọng nên tôi lựa chọn đề tài “Một số biện pháp chỉđạo nâng cao chất lượng GD kỹ năng sống cho trẻ mầm non trong trường mẫugiáo số 5″ làm đề tài nghiên cứu trong năm học 2015-2016.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:Toàn thể giáo viên 10 lớp và 580 học sinh trong độ tuổi đang học tại trườngmẫu giáo số 5Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường Mầm non hiện nay vàmột số giải pháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng giáo dụckỹ năng sống cho trẻtrong trường mẫu giáo số 5.3. Mục đích nghiên cứu:Trên cơ sở thực trạng kỹ năng sống của trẻ trong độ tuổi Mầm non hiện nayảnh hưởng lớn đến việc phát triển toàn diện của trẻ sau này, chăm sóc cho đứa trẻtrở thành con người có ích cho xã hội, bản thân tôi đã tìm tòi và đề ra các giải phápdạy kỹ năng sống cho trẻ mầm non nhằm tạo được sự chuyển biến tích cực về cácmặt phát triển của trẻ ở trường mẫu giáo số 5 nói riêng và góp phần phát triển thế2

hệ trẻ lứa tuổi mầm non nói chung trở thành con người vừa có đạo đức vừa có trítuệ, sức khỏe để trở thành những chủ nhân tương lai của đất nước.4. Giả thiết nghiên cứu:Nhận thức được những vấn đề bồi dưỡng, giáo dục kỹ năng sống cho trẻMầm non nhằm góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giáo dục trẻ một cáchtoàn diện là một vấn đề rất quan trọng, vì vậy trong thời gian tới trường mẫu giáosố 5 chúng tôi sẽ có những cách làm mới, nâng cao hiệu quả việc thực hiện giáodục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non, là việc làm cần thiết để nâng cao chấtlượng trong nhà trường được tốt hơn.

Nếu thực sự được sự quan tâm và cộng đồng chia sẻ, hợp tác thì công tácgiáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong độ tuổi mầm non sẻ trở thành một nhiệm vụrất cần thiết và cấp bách trong việc giáo dục thế hệ trẻ nói chung và trẻ trong độtuổi mầm non nói riêng.5. Phương pháp nghiên cứu– Phương pháp điều tra, nghiên cứu.– Phương pháp luyện tập, thực hành.– Phương pháp kiểm tra, đánh giá.– Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp.– Phương pháp tổng kết và rút kinh nghiệm6. Dự báo những đóng góp của đề tàiGiáo dục kỹ năng sống cho trẻ lứa tuổi Mầm non nhằm góp phần hình thànhnhân cách của trẻ, đào tạo những chủ nhân tương lai của đất nước phát triển mộtcách toàn diện.3

Công tác giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non là quá trình tác động đếnđứa trẻ, tạo cơ hội cho trẻ tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, khám phá và từđó rút ra được những kinh nghiệm cho bản thân, góp phần hình thành nhân cáchcon người mới xã hội chủ nghĩa.Làm tốt được công tác nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻtrong trường mầm non thì tôi chắc chắn rằng trong thời gian tới các cấp trongngành giáo dục đã đang và sẽ rất quan tâm đến công tác giáo dục kỹ năng sống chotrẻ, đưa công tác giáo dục kỷ năng sống vào một môn học chính khóa. Góp phầnđào tạo thế hệ trẻ trở thành thế hệ vàng son, trở thành những con người đủ cácphẩm chất về thể chất, đạo đức, tinh thần và trí tuệ, tạo thành một thế hệ hùng hậucho Tổ quốc.

II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ1. Cơ sở khoa học:1.1. Cơ sở lý luận:Đất nước đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi nguồn nhân lực trí tuệcao, quá trình hội nhập khu vực và quốc tế với xu thế toàn cầu hóa đang là mộtthách thức với nước ta, đòi hỏi nhà nước và ngành giáo dục phải có một chiến lượcphát triển nhân tài. Trong hệ thống giáo dục, giáo dục Mầm non có một vị trí đặcbiệt quan trọng trong việc đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mầm non tốt có tác dụng rất lớn đếnchất lượng giáo dục ở bậc học tiếp theo.

4

Giáo dục mầm non có mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng nhằm giáo dục toàndiện cho trẻ về thể chất, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ là cơ sở để hình thànhnên nhân cách con người mới XHCN Việt Nam và chuẩn bị những tiền đề cần thiếtcho trẻ bước vào trường tiểu học được tốt.Như Bác Hồ kính yêu đã nói: “Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho mộtnền giáo dục tốt”. Trường mầm non có nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccác cháu, bồi dưỡng cho các cháu trở thành người công dân có ích.Kỹ năng sống là cách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn,khỏe mạnh và hiệu quả. Giáo dục kỹ năng sống có tác dụng nâng cao nhận thức,trang bị thái độ sống và hành vi tích cực, lành mạnh cho trẻ. Vì vậy, giáo dục kỹnăng sống là một hình thức can thiệp sớm, có tác dụng tích cực trong việc ngănngừa những hành vi lệch lạc của trẻ em, đặc biệt là trẻ dưới 6 tuổi. Kỹ năng sống làcách ứng xử tích cực, cần thiết để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh và hiệu quả.Theo tổ chức y tế thế giới (WHO 2003), đó là kỹ năng mang tính tâm lí xãhội, là các khả năng thích ứng và là hành vi tích cực cho phép các cá nhân giảiquyết có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày. Kỹ năng sốngcần thiết cho mọi người, đặc biệt là trẻ nhỏ. Nó giúp cho mọi người thể hiện kiếnthức, thái độ và các giá trị, hành vi lành mạnh nhằm giảm thiểu các nguy cơ có hạicho sức khỏe và cải thiện cuộc sống của mình, chẳng hạn, biết đặt mục tiêu chocuộc sống, thể hiện sự kiên định trước những cám dỗ không có lợi cho sức khỏe …Những năm gần đây, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, những canthiệp dựa trên giáo dục kỹ năng sống giúp cho việc thay đổi hành vi đạt hiệu quảcao hơn so với các phương pháp tiếp cận chỉ cung cấp thông tin, nâng cao nhận5

thức. Ở Việt Nam, những năm gần đây, việc giáo dục kỹ năng sống ngày càngđược nhân rộng về nội dung chương trình và bước đầu đã có những kết quả đángghi nhận.Vì vậy, trường mầm non có nhiệm vụ giáo dục trẻ có được những thói quenhọc tập, sinh hoạt hàng ngày.Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ MN nhằm giúp trẻ có kinh nghiệm trongcuộc sống, biết được những điều nên làm và không nên làm.Giáo dục “Kỹ năng sống” cho trẻ là giáo dục cách sống tích cực trong xãhội hiện đại. Giáo dục cho trẻ những kỹ năng mang tính cá nhân và xã hội nhằmgiúp trẻ có thể chuyển kiến thức, thái độ, cảm nhận thành những khả năng thựcthụ, giúp trẻ biết xử lý hành vi của mình trong các tình huống khác nhau trongcuộc sốngGiáo dục kỹ năng sống cho trẻ mầm non, mẫu giáo, đó là những hoạt độngtích cực, hướng vào những hoạt động cá nhân hoặc một nhóm trẻ với mục đíchgiúp trẻ có thể ứng phó hiệu quả với các tình huống, thách thức trong cuộc sốnghàng ngày. Định hướng của giáo dục kỹ năng sống cho trẻ là giúp trẻ làm chủ bảnthân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nângcao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộcsống. theo một số nghiên cứu cho thấy, các kỹ năng sống khác nhau theo địa lý,thời gian…ví dụ như trẻ em vùng biển thì có một số kỹ năng sống khác với trẻ emvùng núi, kỹ năng sống của trẻ em thành phố khác với kỹ năng sống trẻ em nôngthôn, kỹ năng sống của trẻ em ngày xưa khác với kỹ năng sống trẻ em bây giờ…Tuy nhiên có thể thấy rất rõ ràng là kỹ năng sống luôn gắn bó với các giá trị. Các6

Về nhận thức: giáo dục kỹ năng sống giúp cho trẻ có một nền tảng kiếnthức, ham mê hiểu biết, khám phá, xây dựng cho trẻ niềm ham mêm học tập suốtđời.Giáo dục kỹ năng sống giúp trẻ có bước đệm chuẩn bị sẵn sàng cho giaiđoạn tiểu học: việc giáo dục kỹ năng sống từ sớm giúp trẻ có khả năng thích nghivới sự thay đổi môi trường sống, khả năng hòa nhập nhanh, giúp trẻ tự tin bướcvào lớp 1.Kỹ năng sống của trẻ bao gồm rất nhiều kỹ năng : Kỹ năng giao tiếp ứng xử,kỹ năng vệ sinh, kỹ năng thích nghi với môi trường sống, kỹ năng hợp tác chiasẻ…..Dạy kỹ năng sống cho trẻ là truyền cho trẻ những kinh nghiệm sống củangười lớn. Nhằm giúp trẻ có những kỹ năng đương đầu với những khó khăn trongcuộc sống. Trẻ biết vận dụng, biến những kiến thức của mình để giải quyết nhữngkhó khăn trong cuộc sống cho phù hợp.1.2. Cơ sở thực tiễn:Một cá nhân nếu có đầy đủ kiến thức trong cuộc sống nhưng lại chưa có kỹnăng cuộc sống (Bao gồm rất nhiều kỹ năng) và biết sử dụng linh hoạt kỹ năng nàythì không đảm bảo cá nhân đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý, giao tiếp cóhiệu quả và có mối quan hệ tốt với mọi người. Kỹ năng sống chính là năng lực tâmlý xã hội để đáp ứng và đối phó những yêu cầu và thách thức trong cuộc sống hàngngày.Một nghiên cứu gần đây về sự phát triển trí não của trẻ cho thấy khả nănggiao tiếp, khả năng biết tự kiểm soát, thể hiện các cảm giác của mình, biết cách8

ứng xử phù hợp và biết tự cách giải quyết các vấn đề cơ bản một cách tự lập rấtquan trọng đối với trẻ. Chính vì vậy, việc đi sâu lồng ghép dạy kỹ năng sống chotrẻ phù hợp với từng độ tuổi từ lứa tuổi Mầm non vô cùng cần thiết và quan trọnghàng đầu.Muốn vậy, người lớn phải tạo cho trẻ có môi trường để trải nghiệm, thựchành. Nhưng trên thực tế, trong xã hội hiện nay các gia đình thường chú trọngđến việc học kiến thức của trẻ mà không chú ý đến phát triển các kỹ năng cho trẻ.Luôn bao bọc, nuông chiều, làm hộ trẻ khiến trẻ ỷ lại, ích kỷ, không quan tâm đếnngười khác và các kỹ năng trong cuộc sống rất hạn chế. Khó khăn cho trẻ trongviệc có tình huống bất ngờ xảy ra.Sự hợp tác, tự kiểm tra, tính tự tin, tự lập, tò mò, khả năng thấu hiểu và giaotiếp. Học cách có được những mối liên kết mật thiết với các bạn khác trong lớp,biết chia sẽ, chăm sóc, lắng nghe, trình bày và diễn đạt được ý của mình trongnhóm bạn. Giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin khi tiếp nhận các thử thách mới. Biết giớithiệu về bản thân và gia đình mình trước đám đông, biết mình đang học lớp nào,thích cái gì và điạ chỉ nhà mình ở đâu. Nhận biết các ưu khuyết điểm của bản thân.Biết cách ứng xử với mọi người xung quanh. Học cánh lắng nghe mọi người và đốiđáp. Nhận biết những hoàn cảnh không an toàn, cách giữ an toàn cho mình nơicông cộng (trong sân trường, công viên, siêu thị, ngoài phố, khi gặp người lạ,…)Chúng ta chỉ dạy trẻ: Nên hay Không nên, những hành vi này sẽ được tíchlũy trong quá trình hướng dẫn của giáo viên.2. Thực trạng:2.1. Thuận lợi:9

Là trường Mầm non nằm ở địa phường Ngọc Hà tương đối thuận lợi cho trẻđi lại và đảm bảo các điều kiện cho trẻ được học tập, vui chơi, trải nghiệm…Điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị tương đối đầy đủ theo quy địnhcho các độ tuổi.Đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo, luôn năng nổ,nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ, có nhiều kỹ năng tốt để hướng dẫn trẻ trong quá trìnhhọc tập.Trẻ được phân chia học theo độ tuổi 100% và được thực hiện chương trìnhGiáo dục Mầm non.Phụ huynh có hiểu biết về Giáo dục Mầm non và rất quan tâm đến công tácchăm sóc và giáo dục trẻ của nhà trường.2.2. Khó khăn:Số học sinh tương đối đông, vượt chỉ tiêu biên chế số trẻ/lớp đối với các độtuổi.Học sinh đa số được phụ huynh nuông chiều quá mức nên ảnh hưởng rất lớnđến công tác giáo dục các kỹ năng sống cho trẻ.Đội ngũ giáo viên trẻ đông, số mới ra trường nhiều nên vốn kinh nghiệm đểdạy trẻ còn nhiều hạn chế.Một số phụ huynh chỉ quan tâm đến việc học văn hoá của con mà không quantâm đến việc dạy các kỹ năng sống cho trẻ nên một số trẻ rất ương bướng và khó bảo.2.3. Khảo sát thực trạng chất lượng trước khi thực hiện đề tài:

10

Để việc nghiên cứu đạt hiệu quả, ngay từ đầu năm học tôi có làm một cuộckhảo sát nhằm đánh giá vốn kỹ năng sống hiện tại của trẻ trước khi thực hiện đề tàivà mức độ kiến thức dạy kỷ năng sống cho trẻ của giáo viên.Bảng 1. Kết quả khảo sát học sinh về vốn kỹ năng sống (Số học sinhđược khảo sát 580 trẻ)Kết quả

Nội dung khảo sát

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Trẻ mạnh dạn, tự tin

266/580

45,5%

Trẻ có ý thức hợp tác, chia sẻ

267/580

46%

Kỹ năng giao tiếp, lễ phép

365/580

61,3%

Kỹ năng vệ sinh cá nhân và tự lập

205/580

35,5%

Kỹ năng thích khám phá học hỏi

250 /580

43,1%

Nhìn vào bảng khảo sát ta thấy số trẻ đến trường mầm non chưa thật sự tựtin, trẻ còn nhút nhát, chưa mạnh dạn, các kỹ năng về giao tiếp, kỹ năng hợp tácchia sẻ, kỹ năng tự lập ( Kỹ năng tự phục vụ còn hạn chế rất nhiều)Bảng 2. Kết quả khảo sát đội ngũ giáo viên về kiến thức dạy kỷ năng sốngcho trẻ trước khi thực hiện đề tài: (Số giáo viên được khảo sát 33 người)Kết quả

Nội dung khảo sát

Số lượng

Nắm một cách vững vàng các kỹ năng sống 25/33

cơ bản đối với trẻ mầm nonBiết tổ chức các hoạt động lồng ghép giáo 13/33

39,3%

dục kỷ năng sốngMạnh dạn, tự tin trong giao tiếp trước đám đông

27/33

81,8%

Đội ngũ giáo viên : Số giáo viên nhiều tuổi thì công tác dạy không nhiều vàcòn hạn chế trong việc đổi mới phương pháp giáo dục trẻ, số giáo viên trẻ thì còn11

thiếu kinh nghiệm, chưa mạnh dạn, chưa dám đề xuất các giải pháp để nâng caochất lượng giáo dục trẻ về kỹ năng sống.Đứng trước tình hình thực trạng của đơn vị tôi. Tôi luôn suy nghĩ làm thếnào để nâng cao được chất lượng giáo dục kỹ năng sống( Đặc biệt là kỹ năng tựphục vụ cho trẻ. Chính vì vậy Tôi đã mạnh dạn đề xuất ” Một số biện pháp chỉ đạonâng cao chất lượng kỹ năng sống cho trẻ trong trường mẫu giáo số 5″.3. Giải pháp thực hiện:Sau khi được đồng chí Đinh Thị Bích Thủy phó trưởng phòng sở giáo dụcmầm non thành phố Hà Nội bồi dưỡng chuyên môn về nội dung hướng dẫn trẻ kỹnăng tập làm một số công việc tự phục vụ trong đó có 31 kỹ năng cơ bản cần cótrong trường mầm non. Chỉ đạo các nhà trường lồng ghép các kỹ năng tự phục vụvào các hoạt động trong ngày cho trẻ mầm non.3.1: Chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm họcHọp tổ giáo viên nêu nhiêm vụ trong tâm của sở giáo dục trong năm học2015- 2016 trong đó nhấn mạnh đến việc đưa 31 kỹ năng dạy trẻ tập làm một sốcông việc tự phục vụ cho trẻ mầm non và chú ý yếu tố cá nhân của đứa trẻ .3.2. Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao nhận thức về kỹ năng sống:Việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên trong nhà trường là việc làm thườngxuyên, liên tục theo kế hoạch hàng tháng, hàng tuần của Ban giám hiệu nhà trường.Xác định được việc muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống chohọc sinh thì trước tiên giáo viên phải có nhận thức hơn ai hết về những nội dungdạy trẻ, để giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ

12

năng sống cho trẻ thì việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là một việc làm không thểthiếu. Chính vì vậy mà chúng tôi đặc bồi dưỡng cho giáo viên như sau:+ Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ kỹnăng sống trong trường mầm non.+ Bồi dưỡng về lý thuyết: Qua khảo sát học sinh về các kỹ năng sông. Tôinhận thấy trẻ của trường mình một số kỹ năng còn hạn chế . Vì vậy tôi đã tậpchung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ còn yếu đểgiáo viên có kiến thức dạy trẻ.Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế nào là dạy kỹ năng sống. Kỹ năng sốnglà dạy cho trẻ những kỹ năng gì? Dạy kỹ năng sống là dạy trẻ vào thời điểm nào làhiệu quả nhất.Đặc biệt nhấn mạnh đến nhưng kỹ năng:Kỹ năng lao động tự phục vuKỹ năng hợp tác, chia sẻKỹ năng giao tiếp lễ giáoKhả năng thích tìm tòi khám phá và học hỏiKỹ năng mạnh dạn tự tinTôi đã cụ thể hóa nội dung giáo dục kỹ năng sống cho trẻ Mầm non gồm cócác nội dung sau để bồi dưỡng cho đội ngỹ giáo viên+ Kỹ năng sống tự tin: Một trong những kỹ năng đầu tiên mà giáo viên cầnchú tâm là phát triển sự tự tin, lòng tự trọng của trẻ. Ngày từ khi đến lớp giáo viênnên khuyến khích động viên trẻ giới thiệu tên của mình với các bạn trong lớp .Nghĩa là giúp trẻ cảm nhận được mình là ai, cả về cá nhân cũng như trong mốiquan hệ với những người khác. Kỹ năng sống này giúp trẻ luôn cảm thấy tự tin13

trong mọi tình huống ở mọi nơi, mọi lúc. Nếu trẻ không mạnh dạn tự tin thì sẽ rấtkhó khăn trong việc giao tiếp sau này.+ Kỹ năng lao đông tự phục vụ: Đối với trẻ Mầm non trước khi trẻ học cáchtự phục vụ thì trẻ đang còn rất vụng về, khi cho trẻ ăn có thể bố, mẹ hoặc cô giáothấy trẻ lúng túng thì lại đút cho trẻ ăn để tránh rơi vãi,hoặc lầ khi đến lớp bố mẹkhông để cho con cất giầy dép, cở bớt áo khoác, cất ba lô mà lại làm giúp cho con.Vì thế giáo viên phải xác định rằng phaỉ dạy cho trẻ có kỹ năng. Đó là cách trẻ họclàm người lớn, để cho trẻ tự cần thìa xúc cơm ăn,tự mặc quần áo, ……. lúc đầu cóthể chưa quen nhưng sau đó dần dần trẻ sẽ thành thục trong việc tự phục vụ chomình trong ăn uống. Biết cách sử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uốngmột cách đúng đắn, ăn uống gọn gàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gâytiếng ồn, ngậm miệng khi nhai thức ăn, biết mời trước khi ăn, ngồi ngay ngắn, ănhết suất, biết cảm ơn sau khi ăn, biết tự dọn, cất đúng chỗ bát, chén, thìa..+ Kỷ năng vệ sinh cá nhân: Giúp cho giáo viên dạy trẻ có thể tự súc miệng,đánh răng và rửa mặt. Dạy trẻ cách rửa tay trước mỗi bữa ăn và nhận biết khi nàothì quần áo của mình bị bẩn cần phải giặt. Đối với các bé gái, việc chải chuốt làmđiệu cũng rất quan trọng. Giáo viên phải biết để dạy trẻ thói quen tóc tai luôn gọngàng và chọn trang phục phù hợp với từng hoàn cảnh, hoặc biết giúp người lớn dọndẹp, không làm ảnh hưởng đến người xung quanh.+ Kỹ năng sống hợp tác: Giúp cho giáo viên hiểu kỹ năng hợp tác chia sẻ làmột kỹ năng không kém phần quan trong. Khi day trẻ kỹ năng hợp tác giúp trẻhiểu có những công việc một mình sẽ không thể làm được.VD Cùng bê một chiếc

14

Bài 3: Ngôi sao bình yênBài 4: Bàn tay yêu thươngBài 5: Giải quyết bất hoàCHỦ ĐỀ 2: GIÁ TRỊ TÔN TRỌNGBài 6: Gương soi tôn trọngBài 7: Tôn trọng sự khác biệtBài 8: Thể hiện sự tôn trọngBài 9: Kỹ năng thể hiện sự tôn trọng khi nghe điện thoạiBài 10: Lắng nghe chân thànhCHỦ ĐỀ 3: GIÁ TRỊ YÊU THƯƠNGBài 11: Miếng bọt biển yêu thươngBài 12: Những trái tim yêu thươngBài 13: Kỹ năng thể hiện tình yêu thươngBài 14: Kỹ năng ứng xử khi bị lạcBài 15: Kỹ năng ứng xử khi người lạ đến đón trẻBài 16: Phòng tránh bị ốm do thời tiết.Bài 17: An toàn giao thôngBài 18: Thiệp yêu thươngCHỦ ĐỀ 4: GIÁ TRỊ TRÁCH NHIỆMBàiI 19: Hoàn thành nhiệm vụBài 20: Kỹ năng giúp mẹ gấp quần áoBài 21: Kỹ năng bảo quản đồ vật17

Bài 22: Lời hứa và trách nhiệm thực hiện lời hứaBài 23: Ứng xử lịch sự nơi công cộngCHỦ ĐỀ 5: GIÁ TRỊ HẠNH PHÚCBài 24: Hạnh phúc đến từ sự bình yên và yêu thươngBài 25: Kỹ năng cảm thông, chia sẻ với người khácBài 26: Kỹ năng tự nhận thứcCHỦ ĐỀ 6: GIÁ TRỊ HỢP TÁCBài 27: Hợp tácBài 28: Hợp tác là hiểu được giá trị của mìnhBài 29: Mình có thể giúp bạn khôngBài 30: Kỹ năng tạp dựng sự hợp tác

CHỦ ĐÈ 7: GIÁ TRỊ TRUNG THỰCBài 31: Người trung thựcBài 32: Giá trị trung thựcBài 33: Kỹ năng thể hiện sự trung thựcCHỦ ĐỀ 8: GIÁ TRỊ KHIÊM TỐNBài 34: Người khiêm tốnBài 35: Biểu hiện của sự khiêm tốnBài 36: Kỹ năng rèn luyện sự khiêm tốnBài 37: Tác hại của không kiêm tốnCHỦ ĐỀ 9: GIÁ TRỊ KHOAN DUNG18

Bài 38: Người khoan dungBài 39: Chấp nhận sự khác biệt của người khácCHỦ ĐỀ 10: GIÁ TRỊ GIẢN DỊBài 40: Gía trị giản dịBài 41: Tiết kiệmBài 42: Tiết kiệm điệnBài 43: Tiết kiệm nướcCHỦ ĐỀ 11: GIÁ TRỊ ĐOÀN KẾTBài 44: Giá trị đoàn kếtBài 45: Kỹ năng thể hiện sự đoàn kếtBài 46: Rèn luyện tinh thần đoàn kếtBài 47: Tác hại của không đoàn kết

Thực hành 31: Hướng dẫn trẻ kỹ năng tập làm một số công việc tự phục vụ1. Đi cầu thang

17.Cách gấp khăn lại

2. Cách đóng mở cửa

18.Cách rót nước

3. Cởi giầy và đi giầy, cất dép

19.Cách sử dụng thìa

4. Cất ba lô

20.Chải tóc

5. Cách đứng lên và ngồi xuống ghế

21.Cách sử dụng đũa

6. Cách bê ghế

22.Khóa kéo

7. Cách rửa tay

23.Cách cắt móng tay

8. Cách xúc miệng nước mũi

24.Cách quét rác trên sàn19

9. Cách lấy nước uống

25.Cách lau chùi nước

10.Cách xử lý khi ho

26.Đóng mở đai da

11.Cách xử lý hỉ mũi

27.Chuẩn bị đồ ăn nhẹ

12.Cách mặc áo, cởi áo (móc quần áo)

28.Cách mời trà và rửa cốc

13.Cách mặc áo, cởi áo (gấp áo)

29.Cách cắt dưa chuột

14.Cách cài khuy áo

30.Vắt khăn ướt

15.Cách cầm dao, kéo, đĩa

31.Đánh giầy

16.Cách sử dụng kéo

Hình ảnh: Đĩa dạy kỹ năng tự phục vụHướng dẫn giáo viên tự thiết kế các bộ học cụ.

20

Cho giáo viên tập thực hành các thao tác để dạy trẻ giống như trong đĩa(Các giáo viên tự quan sát lẫn nhau và cùng sửa chữa cho nhau để toàn bộ giáoviên phải theo tác thật chính xác)Thông qua các hình thức bồi dưỡng này để giúp cho giáo viên nhận thứcđúng đắn về : Yêu cầu- Nội dung – Hình thức cũng như phương pháp giáo dục trẻkĩ năng sống để áp dụng vào dạy trẻ kĩ năng sống hàng ngày đạt hiệu quả cao.3.3. Chỉ đạo giáo viên lồng ghép giáo dục kĩ năng sống cho trẻ thông qua cáchoạt động trong ngày cụ thể như :Thông qua giờ đón và trả trẻ : Giúp cho giáo viên nhận thấy rằng việc dậykỹ năng chủ yếu ở hoạt động này là kỹ năng tự phục vu và kỹ năng giáo dục lễgiáo : Cất gầy dép, ba lô, chào cô, chào bố mẹ.Ngoài ra giáo viên trò chuyện hoặckể cho trẻ nghe các câu chuyện thông quá đó giáo dục và khắc sâu các kĩ năngsống cho trẻ : Ví dụ : Cô hỏi trẻ : kĩ năng ứng sử : Hôm qua nghỉ ở nhà con làmgì ? Ở nhà chơi như thế nào là an toàn nhất ? Khi đi thăm người ốm cùng bố mẹcon phải như thế nào ….Thông qua họat động học: Hướng dẫn giáo viện lựa chon những bài thơ câuchuyện có mang tính giáo dục kỹ năng sống như : Tích Chu, ba cô gái , bác gấuđen và 2 chú Thỏ, Nhổ củ cải,,VD: Giáo dục trẻ kỹ năng hợp tác thông qua câuchuyện ” Nhổ củ cải” Một mình ông lão thì không thể nhổ được củ cải khổng lồmà phải cần sự hợp tác của các thành viên trong gia đình thì mới nhổ được.Thông qua hoạt động ngoài trời và tham quan dã ngoại: Thông qua hoạtđộng này chỉ đạo giáo viên bằng các đối tượng trẻ được quan sát, cô tận dụng các21

cơ hội để giáo dục kĩ năng sống cho trẻ . Ví dụ : Khi cho trẻ thăm quan khu di tíchlịch sử Chùa một cột, Lăng Bác, Hồ B52, Đình Hữu tiệp, Bảo tàng B52 .. Qua cáchoạt động này giúp giáo viên cung cấp cho trẻ biết tri ân các anh hùng liệt sĩ,không vứt rác thải các nơi công cộng, không ngắt lá bẻ cành cây các khu vui chơi ,khu di tích …( Một số hình ảnh)

Hình ảnh: Trẻ đang thăm quan dã ngoại tại khu bảo tàng B -52

Hình ảnh: Trẻ tham quan dã ngoại khu chùa Một Cột

22

Hình ảnh: Trẻ tham quan dã ngoại công viên Bách ThảoThông qua hoạt động ăn chủ yếu sử dụng : Kỹ năng tự phục vụ bằng cáchtập cho trẻ những việc vừa sức như: Sắp bàn ăn, xếp ghế, lau bàn, tự thay quần áo,gấp quần áo,. Biết tự rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, chỉ ăn uống tại bàn ăn, biết cáchsử dụng những đồ dùng, vật dụng trong ăn uống một cách đúng đắn, ăn uống gọngàng, không rơi vãi, nhai nhỏ nhẹ không gây tiếng ồn, biết tự dọn, cất đúng chỗ,biết giúp người lớn dọn dẹp, ngồi ngay ngắn. không làm ảnh hưởng đến ngườixung quanh, biết giúp cô những công việc vừa sức. …. Đây là một trong những kỹnăng quan trọng nhất cần có ở trẻ vào giai đoạn này. Giáo viên cần hiểu rõ tâm lýcủa trẻ cũng như sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để hình thành nơi trẻ kỹ năngsống. Chỉ đạo giáo viên rèn cho trẻ khả năng tự phục, nhất là tự phục vụ trong ănuống bằng cách: Tập cho trẻ cùng cô sắp bàn ăn, sắp chén muỗng, sắp khăn lautay, khăn lau miệng. Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn và nhỡ tập cho cháu tự lấy đồ ăntheo khả năng và sở thích của mình, với sự chỉ dẫn của Cô. Đồng thời tập cho trẻcách sử dụng khăn lau miệng khi ăn như thế nào cho đẹp, đúng. Ăn xong cất Bátthìa ở vị trí nào, để như thế nào cho đúng, gọn gàng và tiện lợi nhất. Song song với23

việc tập cho trẻ khả năng tự phục vụ trong bữa ăn là tập cho trẻ tự vệ sinh cá nhânnhư rửa tay đúng quy trình, lau mặt đúng kỹ năng, biết thay quần áo, gấp quầnáo…, biết sử dụng đồ dùng ăn uống cách đúng mức.

Hình ảnh: Trẻ tự ăn cơm

Hình ảnh: Trẻ tự rửa tay bằng xà phòng.

24

25

Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mầm Non

Trong số này, Tạp chí GDTĐ xin giới thiệu SKKN đoạt giải B cấp ngành năm học 2015-2016 của cô giáo Trần Thị Hồng Loan trường Mầm non số 5 Ngọc Hà – Ba Đình với đề tài “Một số biện pháp giúp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho trẻ trong trường mầm non”.

là hoạt động giúp trẻ có thể làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với cộng đồng và xã hội, thích nghi, học tập hiệu quả, nâng cao sức khỏe tinh thần và thể chất, ứng phó tích cực trong các tình huống của cuộc sống. Để nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho tr ẻ cần thực hiện một số giải pháp:

Chỉ đạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của năm học

Họp tổ giáo viên nêu nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong năm học trong đó nhấn mạnh đến việc đưa các kỹ năng dạy trẻ tập làm một số công việc tự phục vụ, chú ý yếu tố cá nhân của trẻ.

Bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nâng cao nhận thức về kỹ năng sống

Muốn nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, trước tiên giáo viên phải có nhận thức về những nội dung dạy trẻ, đ ể giúp giáo viên có vốn kinh nghiệm nhận thức sâu sắc về việc dạy kỹ năng sống cho trẻ thì cần xây dựng kế hoạch bồi dưỡng cho giáo viên bao gồm:

Cung cấp tài liệu cho giáo viên tham khảo về những hoạt động dạy trẻ kỹ năng sống.

Tập trung bồi dưỡng cho giáo viên về lý thuyết những nội dung mà trẻ còn yếu để giáo viên có kiến thức dạy trẻ.

Bồi dưỡng cho giáo viên hiểu rõ thế nào là dạy kỹ năng sống. Dạy kỹ năng sống là dạy cho trẻ những kỹ năng gì? Dạy kỹ năng sống cho trẻ vào thời điểm nào là hiệu quả nhất. Đặc biệt nhấn mạnh đến những kỹ năng: lao động tự phục vụ; hợp tác, chia sẻ; giao tiếp, lễ giáo; khám phá, học hỏi; mạnh dạn tự tin.

+Bồi dưỡng về thực hành cho giáo viên:

M uốn giáo viên dạy được trẻ các kỹ năng sống thì đòi hỏi thao tác của giáo viên phải chuẩn mực và có sự thống nhất, những kỹ năng này phải được các cô giáo hướng dẫn giống nhau không có sự lệch lạc mỗi lớp hướng dẫn một kiểu thì sẽ rất khó cho việc kế thừa từ lớp nhỏ đến lớp lớn.

Cho giáo viên tập thực hành các thao tác để dạy trẻ giống như trong đĩa (giáo viên tự quan sát lẫn nhau và cùng sửa chữa cho nhau đ ể toàn bộ giáo viên phải thao tác thật chính xác).

Kiểm tra đột xuất các giờ đón và trả trẻ.

Kiểm tra đánh giá học sinh vào đợt kiểm tra định kỳ .

Đánh giá giáo viên qua các đợt hội giảng.

Tuyên truyền cho các bậc cha mẹ và cộng đồng về kỹ năng sống

Cha mẹ có thể giúp trẻ phát triển kỹ năng cảm xúc và xã hội bằng cách tạo ra các mối liên kết bạn bè tại gia đình. Cha mẹ hãy hỏi trẻ muốn mời ai về nhà chơi? Mối quan hệ này được trẻ duy trì khi đến trường, khi có được mối liên kết với một trẻ nào đó trong lớp, các mối quan hệ khác sẽ hình thành tiếp theo một cách dễ dàng hơn.

Trong gia đình, việc dạy trẻ những nghi thức văn hóa trong ăn uống rất cần thiết. Để trẻ có được những kỹ xảo, thói quen sử dụng đồ dùng một cách chính xác, thuần thục và khéo léo, không chỉ đòi hỏi trẻ phải thường xuyên luyện tập, mà còn phải đáp ứng được những nhu cầu của trẻ, đó là cung cấp cho trẻ những mẫu hành vi văn hóa, những hành vi đúng, đẹp, văn minh của chính cha mẹ và những người xung quanh.

Cho trẻ đi t ham quan dã ngoại tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh. Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh.

Trong lớp, chỉ đạo giáo viên trang trí các góc mở cho trẻ được trải nghiệm và tham gia hoạt động. Tổ chức các buổi biểu diễn văn nghệ, tổ chức giao lưu các lớp với nhau, tổ chức mừng sinh nhật một nhóm trẻ … thông qua các hoạt động đó nhằm giáo dục kỹ năng sống cho trẻ một cách nhẹ nhàng và có hiệu quả.

Tác giả: BBTNguồn tin: Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số tháng 9/2016

Skkn Một Số Giải Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh

NỘI DUNG TRANG I. MỞ ĐẦU: 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục đích nghiên cứu: 4 3. Đối tượng nghiên cứu 4 4. Phương pháp nghiên cứu 4 5. Những điểm mới của SKKN 4 II. NỘI DUNG 5 1. Cơ sở lý luận 5 2. Thực trạng về giáo dục Kỹ năng sống tại trường Tiểu học Nga Điền I – Nga Sơn – Thanh Hóa. 6 3. Các giải pháp chỉ đạo các hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường Tiểu học Nga Điền I. 9 3.1. Tuyên truyền làm rõ hơn về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của GDKNS. 9 3.2. Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ, giáo viên. 10 3.3.Tổ chức buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần thành sân chơi bổ ích. 12 3.4.Tổ chức việc giáo dục kỹ năng sống thông qua các hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa. 13 3.5 Đổi mới hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng sống qua các môn học và thăm quan, trải nghiệm.. 15 3.6 Tổ chức giáo dục lao động cho học sinh 16 3.7 Tổ chức giáo dục sức khỏe, hướng dẫn học sinh vui chơi đúng cách, phòng tránh tai nạn thương tích. 18 3.8 Phối hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. 19 4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: 21 III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 23 Tài liều tham khảo 24 Phụ lục 1 25 Phụ lục 2 27 Phụ lục 3 28 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SKKN BCH Ban chấp hành CBQL Cán bộ quản lý CMHS Cha mẹ học sinh CSVC Cơ sở vật chất giáo viên GD&TĐ Giáo dục và đào tạo GDKNS Giáo dục kỹ năng sống GV Giáo viên GVCN Giáo viên chủ nhiệm HĐGD Hoạt động giáo dục HĐGDNGLL Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp HĐTN Hoạt động trải nghiệm HS Học sinh HS – SV Học sinh – sinh viên KNS Kỹ năng sống NGLL Ngoài giờ lên lớp NQ – CP Nghị quyết – chính phủ TH Tiểu học UBND Ủy ban nhân dân XH Xã hội I. MỞ ĐẦU Lý do chọn đề tài: Chúng ta biết rằng kĩ năng sống là nhân tố quan trọng để con người vươn lên gặt hái thành công. Tuy nhiên kĩ năng sống không phải tự nhiên mà có. Kĩ năng sống là kết quả của quá trình học tập và rèn luyện bản thân mỗi con người. Ở tất cả các bậc học, giáo dục kĩ năng sống đều cần phải được quan tâm giáo dục, đặc biệt là đối với học sinh tiểu học. Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ là giúp trẻ rèn luyện những hành vi có trách nhiệm với bản thân và cộng đồng; giúp trẻ có khả năng bảo vệ, phòng ngừa và giảm thiểu các hành vi có nguy cơ gây hại cho sức khỏe, sự phát triển thể chất và tinh thần của trẻ. Kĩ năng sống còn giúp trẻ ứng xử kịp thời với các tình huống. Nó giúp trẻ có cách thức tích cực để đối phó với những thách thức trong cuộc sống. Xét từ góc độ xã hội, sự hình thành và phát triển kỹ năng sống đã trở thành một yêu cầu quan trọng trong nhân cách con người hiện đại. Đặc biệt là đối với các công dân trẻ Việt Nam hiện nay, khi cuộc sống ngày càng có nhiều biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn trong một bộ phận hoc sinh, sinh viên như vấn đề nạn bạo lực học đường, sự lạnh lùng vô cảm trước nỗi đau của người khác, sự ỷ lại, thiếu thích nghi, thiếu nghị lực sống, không biết quý trọng bản thân. Nhận thức được tầm quan trọng của kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống cho thế hệ trẻ nhưng thực tiễn công tác triển khai giáo dục kỹ năng sống trong các nhà trường vẫn gặp những trở ngại nhất định. Thứ nhất, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh chưa thành môn học, chưa có trong thời khóa biểu của các nhà trường, mới chỉ dừng lại ở việc lồng ghép, tích hợp giáo dục kỹ năng sống vào các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp. Qua việc dự giờ và kiểm tra thực tế việc thực hiện nội dung giáo dục này trong hoạt động chuyên môn của trường thì trong thời gian qua tuy đã được giáo viên chú trọng trong việc soạn giảng và thể hiện khá tốt trong các tiết dạy trên lớp. Về cơ bản các tiết giảng có tích hợp nội dung giáo dục KNS được giáo viên thực hiện đạt các mục tiêu đề ra song vẫn còn một số thầy cô thực hiện theo kiểu đối phó,còn lơ là xem nhẹ công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Thứ hai, Hiện nay, phần lớn phụ huynh và xã hội vẫn chưa có sự thay đổi cách nhìn vẫn có những suy nghĩ cố hữu: “ tập trung vào việc học là chính” nên dù ở nông thôn hay thành thị các bậc phụ huynh vẫn hết mực ưu tiên cho lịch học văn hóa của con em mình, vô hình chung các em như những robot được lập trình với những thời khóa biểu học chính khóa, học tăng buổi, học phụ đạo Thứ ba, Việc tổ chức các hoạt động giáo dục NGLL chưa có chiều sâu đặc biệt là việc lồng ghép giáo dục KNS thông qua hoạt động giáo dục NGLL chưa đạt được hiệu quả mong muốn; kỹ năng thực hành của một số học sinh trong các hoạt động thường ngày chưa tốt; một số giáo viên còn lơ là, xem nhẹ vai trò của nội dung giáo dục này dẫn đến chưa nhiệt tình, năng nổ trong việc phối hợp thực hiện; đặc biệt là các trường ở các vùng khó khăn như Nga Điền, thiếu thốn về cơ sở vật chất, kinh phí hạn hẹp,. Việc tổ chức các hoạt động cho học sinh thiếu sự sáng tạo, chưa có sự đồng thuận của cha mẹ học sinh. Tuy nhiên, qua thực tế trải nghiệm cùng học sinh trong một số hoạt động do Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên phát động, như hội diễn văn nghệ, TDTT, giao lưu vẽ tranh, thi báo tường, báo ảnh. Các giáo viên và ban giám hiệu nhà trường đều nhận thấy, ngoài việc tham gia hoạt động học tập ở trường đa số học sinh đều có nhu cầu muốn được thể hiện, muốn khám phá năng lực bản thân và muốn phát triển những năng lực, sở trường của mình về một số lĩnh vực nào đó nhưng do chưa có môi trường thích hợp để thể hiện và phát huy khả năng của mình hoặc chưa có sân chơi thường niên.[2] Để giúp giáo viên trường Tiểu học Nga Điền 1 – huyện Nga Sơn có nhận thức và kiến thức đúng trong việc thực hiện hoạt động GDKNS qua trải nghiệm cho HS, từ đó nâng cao chất lượng GDKNS cho HS Tiểu học, giúp các em phát triển toàn diện, hài hòa cả đức, trí, thể, mỹ, thực hiện tốt mục tiêu GD Tiểu học. Đó cũng là lí do tôi chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về giáo dục KNS qua hoạt động trải nghiệm, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục. 3. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động giáo dục KNS cho học sinh ở trường tiểu học Nga Điền 1 – Nga Sơn. Chỉ đạo hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường tiểu học qua hoạt động trải nghiệm. 4. Phương pháp nghiên cứu – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các tài, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về vấn đề QLGD, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học. – Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, nhằm tìm hiểu thực trạng của việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tìm hiểu các kỹ năng sống cần thiết nhất cho học sinh tiểu học ở và thực trạng việc giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động trải nghiệm. – Phương pháp quan sát: Quan sát cách tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, công tác giáo dục KNS cho học sinh qua hoạt động trải nghiệm. – Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:Tìm hiểu kinh nghiệm của cán bộ quản lý các trường bạn về việc quản lý và tổ chức cũng như sử dụng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống qua hoạt động trải nghiệm. 5. Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm. Năm học 2015 – 2016, tôi đã nghiên cứu và đưa vào vận dụng sáng kiến kinh nghiệm “Một số giải pháp chỉ đạo giáo dục Kỹ năng sống cho HS trường TH Nga Điền 1 – Nga Sơn” và đã được Hội đồng Khoa học Sở Giáo dục & Đào tạo Thanh Hóa đánh giá xếp loại B. Sau 3 năm áp dụng SKKN vào thực tế, công tác rèn kỹ năng sống cho học sinh tại trường Tiểu học Nga Điền 1 đã đem lại nhiều hiệu quả nhất định, trường đã được công nhận trường đạt chuẩn Quốc gia mức độ 1 vào năm 2017. Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tốt của học sinh vẫn còn một số những biểu hiện chưa tốt của học sinh về kỹ năng sống như: kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng tự học ở nhà, kỹ năng đặt mục tiêu, kỹ năng lập kế hoạch. Kỹ năng tư duy sáng tạo Trước thực trạng của công tác giáo dục Kỹ năng sống cho HS trường TH Nga Điền 1 – Nga Sơn và yêu cầu giáo dục kỹ năng sống trong giai đoạn hiện nay để hội nhập quốc tế. Năm học 2015 – 2016 trong sáng kiến kinh nghiệm tôi tập trung đưa ra các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua các hoạt động xã hội, đền ơn đáp nghĩa, qua các buổi sinh hoạt tập thể đầu tuần, cuối tuần.. tôi nhận thấy: HĐTN là hoạt động giáo dục, trong đó, từng cá nhân học sinh được trực tiếp hoạt động thực tiễn trong môi trường nhà trường cũng như môi trường gia đình và xã hội dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó phát triển tình cảm, đạo đức, phẩm chất nhân cách, các năng lực thực tiễn, từ đó tích lũy kinh nghiệm riêng cũng như phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình [1]. Chính vì thế mà năm học 2018 – 2019 tôi mở rộng phạm vi nghiên cứu, đưa thêm một số giải pháp trong đề tài đó là: Nâng cao nhận thức, bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, tổ chức thăm quan, trải nghiệm thực tế. Sau một năm áp dụng, tôi đã thu được những kết quả nhất định. Từ đó, tôi đã tiếp tục đúc rút kinh nghiệm và tiếp tục nghiên cứu“Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”. II. NỘI DUNG Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm: Giáo dục kỹ năng sống cho thanh thiếu niên là vấn đề được hầu hết các quốc gia trên thế giới quan tâm, chú ý. Ở Việt Nam, thời gian gần đây vấn đề giáo dục KNS cho HS là vấn đề được Đảng, Nhà Nước rất quan tâm điều đó thể hiện ở Nghị quyết hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 2, lần thứ 5 khoá VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng CSVN lần thứ IX, Nghị quyết đại hội đại biểu Đảng toàn quốc các khóa X và XI; Chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2011-2020. Nghị quyết số 05/2005/NQ – CP ra ngày 18/4/2005 của Chính phủ, Luật giáo dục 2005, Luật Giáo dục sửa đổi 2009, Điều lệ trường tiểu học do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2011 đã chỉ ra: Ngành GD&ĐT phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống và kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Sự quan tâm của Đảng, Nhà Nước và những áp lực của XH về tình trạng đi xuống về mặt đạo đức của một bộ phận không nhỏ HS-SV, đòi hỏi ngành GD&ĐT cần tăng cường việc giáo dục KNS cho HS. Bộ GD&ĐT đã gửi các công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học đối với giáo dục tiểu học. Các hướng dẫn đã nhấn mạnh: “Giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh thông qua các môn học, hoạt động giáo dục và xây dựng quy tắc ứng xử văn hoá. Nhà trường chủ động phối hợp với gia đình và cộng đồng trong giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho học sinh.”[3] Có thể khẳng định: Kỹ năng sống là một bài học quan trọng, giúp các em học sinh tự tin khi bước vào cuộc sống tương lai. Dạy trẻ kĩ năng sống là điều rất cần thiết đặc biệt đối với trẻ tiểu học, khi bắt đầu đi học cũng là lúc trẻ bắt đầu tiếp xúc với xã hội, rất cần hoàn thiện và phát triển các kĩ năng sống cho riêng mình. Chính  những kĩ năng sống các em tiếp nhận được những năm đầu tiên đi học sẽ theo các em suốt cả cuộc sống sau này. Nếu ngay từ tiểu học các em đã có được những kĩ năng tốt, cuộc sống sau này sẽ rộng mở với các em hơn. Nếu ngược lại sau này các em sẽ rất khó khăn để sửa chữa những kĩ năng không tốt và gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy việc dạy kỹ năng sống cho học sinh giúp các em biết làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; Rèn cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, đảm bảo mục tiêu giáo dục KNS cho học sinh trong  cộng đồng; Mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn. Việc giáo dục kỹ năng sống góp phần giải quyết tình trạng trẻ thụ động, không biết ứng phó trong những hoàn cảnh nguy cấp, không biết cách tự bảo vệ bản thân trước nguy hiểm, thậm chí không biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ… Bên cạnh đó, các bài học về kỹ năng sống sẽ giúp trẻ hình thành những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống. Đó là những kỹ năng chúng ta phải biết để có được sự điều chỉnh, ứng xử phù hợp với những thay đổi diễn ra hằng ngày, hàng giờ. Qua học tập và rèn luyện các kỹ năng sống các em sẽ cảm nhận, thấu hiểu và trân trọng những giá trị căn bản của cuộc sống. Ở lứa tuổi của Tiểu học, nếu chỉ dạy kỹ năng sống thông qua các môn học, qua lý thuyết suông thì chưa đủ. Hãy gắn các em vào những hoạt động bổ ích, những việc làm phù hợp với những hình thức linh hoạt, sáng tạo để thu hút trẻ, đó sẽ là điều kiện là cơ hội tốt cho trẻ tự thể hiện bản thân, được trải nghiệm cuộc sống bằng những việc làm của mình[4]. 2. Thực trạng về giáo dục Kỹ năng sống tại trường Tiểu học Nga Điền I – Nga Sơn – Thanh Hóa. Trong các giờ sinh hoạt dưới cờ đầu tuần các nội dung giáo dục kỹ năng sống cũng được lồng ghép triển khai. Cụ thể như việc tuyên truyền giáo dục về thực hiện an toàn giao thông, việc thực hiện bảo vệ môi trường của các lớp, việc vui chơi của các em trong tuần Các hoạt động ngoài giờ lên lớp do Đội thiếu niên tổ chức như : thi vẽ tranh tuyên truyền về ma túy – HIV, bảo vệ môi trường, trò chơi dân gian Tuy nhiên qua thực tế nhiều hoạt động còn chưa có chiều sâu: Ví dụ: Trong giáo dục an toàn giao thông: Giáo viên tổng phụ trách thực hiện trong giờ chào cờ đầu tuần của thì chủ yếu là dùng lời nói để vận động mà chưa có những tiểu phẩm, chưa tổ chức được các cuộc thi, các tình huống thực tế để giáo dục các em; Giáo viên chủ nhiệm sau khi dạy học sinh các tiết an toàn giao thông trên lớp chưa tổ chức thực hành được cho các em bằng các tình huống cụ thể ngoài giờ lên lớp. Ví dụ: Trong giáo dục lao động cho học sinh của một số lớp: Đôi khi giáo viên suy nghĩ đây là những việc đơn giản em nào cũng biết làm rồi giao khoán cho các em thực hiện như việc lau bàn ghế, quét dọn lớp học, lau sàn lớp học .mà không hướng dẫn các em cách làm sao cho đúng cách dẫn đến có trường hợp các em lau cửa xong mà vẫn không sạch. Thực tế không phải học sinh nào cũng biết làm những công việc này, thậm chí có em từ nhỏ đến khi học tiểu học các em chưa bao giờ phải cầm tới cái chổi, chưa từng phải quét nhà. Ví dụ: Việc hướng dẫn học sinh đi vệ sinh đúng cách: Hầu hết giáo viên chỉ thực hiện bằng lời nói mà rất ít giáo viên dẫn các em vào nhà vệ sinh để hướng dẫn cụ thể các em thực hiện việc đi vệ sinh đúng cách. Nói tóm lại: Việc giáo dục giáo dục kỹ năng sống của giáo viên bên cạnh những ưu điểm cũng còn có những mặt hạn chế nhất định mà khâu yếu nhất của giáo viên trong giáo dục kỹ năng sống đó là còn mang nặng tính lý thuyết, cụ thể là giáo viên chưa trú trọng đến giáo dục hành vi thực tế ngoài cuộc sống cho các em học sinh dẫn đến khả năng thực hành của các em trong một số trường hợp còn hạn chế. Trong quá trình theo dõi thực tế sinh hoạt và việc tham gia các hoạt động của các em học sinh tại trường thông qua quan sát thực tế thì về cơ bản các em học sinh đều ngoan ngoãn vâng lời thầy cô, cha mẹ, lắng nghe và tiếp thu khá tốt những nội dung tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện của giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, nội qui, quy định của nhà trường. Các em tham gia khá nhiệt tình các hoạt động xã hội, từ thiện, văn hóa, văn nghệ Đa số các em biết vui chơi đúng cách không để xảy ra tai nạn thương tích. Mặc dù vậy trong thực tế một số em còn có những hạn chế nhất định trong việc thực hiện các nội dung . Cụ thể như hầu hết khi hỏi các em học sinh “ Để giữ gìn trường lớp sạch, đẹp em phải làm gì?” thì các em đều trả lời được là không được vứt rác bừa bãi, vẽ bậy lên tường tuy nhiên thực tế các em biết nhưng một số em vẫn không thực hành những nội dung các em đã trả lời. Ví dụ: Một số em ăn quà xong bỏ vỏ ni lông vào bồn hoa thay vì bỏ vào thùng rác, một số em còn vẽ bậy lên tường, ăn kẹo cao su nhả bã kẹo bừa bãi. . tương tự như vậy trong việc thực hiện Luật giao thông đường bộ, khi hỏi các em là “ Em hãy cho biết đi bộ tham gia giao thông như thế nào là đúng?” , các em trả lời đúng hết và rất nhanh tuy nhiên khi ra các đường các em vẫn đi theo hàng hai, hàng ba, đùa nghịch trên đường Một số em đi vệ sinh bỏ giấy không đúng nơi quy định, không xả nước khi đi vệ sinh xong Một số em còn mua những đồ chơi nguy hiểm để chơi mà các em không biết được sự nguy hiểm khi chơi các trò chơi này ví dụ như súng bắn đạn cao su, kiếm, gươm hoặc những loại có thể gây thương tích, mất an toàn khi chơi. Một số em còn mua các loại bánh kẹo màu mè, không có nhãn mác của Trung Quốc hoặc của những cơ sở không đảm bảo chất lượng. Các em chưa có khả năng nhận biết để bảo vệ sức khỏe bản thân. Đi sâu vào tìm hiểu việc giảng dạy và học tập bộ môn này thì cũng còn có điều bất cập như giáo viên chưa thực sự dành nhiều thời gian cho môn học này, việc giảng dạy còn nặng về lý thuyết, chưa dành nhiều thời gian thực hành, luyện tập cho học sinh v.v. Hình thức tổ chức câu lạc bộ rèn kỹ năng sống cũng được chú trọng, nhà trường đã chú trọng nâng cao chất lượng câu lạc bộ, giúp học sinh tích cực tự giác tham gia các hoạt động có tác dụng tốt trong việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh. Song việc tổ chức câu lạc bộ rèn kỹ năng sống cần xây dựng nội dung chương trình cụ thể, giáo dục riêng về kỹ năng sống[6]. Để có những nhận xét đánh giá tương đối chính xác về thực trạng vấn đề, tôi đã tiến hành khảo sát giáo viên và học sinh tại trường Tiểu học Nga Điền I thông qua một số phiếu hỏi( Nội dung phiếu hỏi ở phần phụ lục). Kết quả khảo sát như sau: Đánh giá về các biểu hiện kỹ năng sống của học sinh Tiểu học đầu năm học 2018 – 2019. Các KNS của học sinh Tổng số HS Được khảo sát Mức độ nhận thức Số học sinh chưa có nhận thức Số học sinh còn mơ hồ Số học sinh có nền tảng để phát triển kỹ năng sống SL % SL % SL % Kỹ năng tự học 311 164 52,7 91 29,3 56 18 Kỹ năng tự giải quyêt 311 131 42,1 150 56,94 30 0.96 Kỹ năng tự phục vụ, tự quản 311 125 40,2 143 46 43 13,8 Kỹ năng hợp tác 311 110 35,4 154 49,5 47 15,1 Kỹ năng thể hiện sự tự tin 311 120 38,6 129 41,5 62 19,9 Kỹ năng giao tiếp 311 195 62,7 80 25,7 36 11,6 Kỹ năng tư duy sáng tạo 311 155 49,5 121 38,9 35 11,6 Nguyên nhân là do việc xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống của CBQL cũng như giáo viên chưa thật sát sao, chi tiết; các nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng sống chưa thật sáng tạo, chưa thu hút được sự quan tâm của học sinh; việc phối kết hợp với các tổ chức, đoàn thể ngoài nhà trường còn chưa phát huy được hết tiềm năng, việc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật còn cả nể, chưa kịp thời v.v. Một nguyên nhân nữa đó là cuộc sống của người dân được nâng cao, kinh tế gia đình phát triển nên các em được chiều chuộng hơn, dễ dẫn tới ỷ lại vào cha mẹ. Việc chăm chút con cái của cha mẹ khiến một số em quá thụ động, ích kỷ, lười lao động, kỹ năng tự phục vụ bản thân còn hạn chế. Một số khác lại quá bận rộn làm ăn buôn bán, bỏ mặc con cái, buông lỏng việc quản lý, giáo dục các em để các em quá tự do phát triển, khi được tiếp xúc với cuộc sống năng động song có khi xô bồ mà chính các em chưa đủ khả năng sàng lọc cái được, cái mất, các em dễ a dua và mắc phải sai lầm. Cũng có gia đình còn coi nhẹ chuyện học hành, rèn luyện đạo đức hoặc không quan tâm riêng đến con cái v.v. Sự thái quá hay thờ ơ của gia đình, nề nếp của gia đình cũng ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lý, đạo đức, kỹ năng sống của các em. Với thực tiễn như trên, là người cán bộ quản lí nhà trường, tôi đã có nhiều trăn trở, suy nghĩ tìm các biện pháp khắc phục bằng cách nỗ lực tôi đã tiến hành nghiên cứu tài liệu, và đã đưa ra “Một số giải pháp chỉ đạo nâng cao chất lượng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh”. 3. Các giải pháp chỉ đạo các hoạt động giáo dục kỹ

Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Chỉ Đạo Nâng Cao Chất Lượng Dục Kỹ Năng Sống Cho Trẻ Mẫu Giáo Ở Trường Mầm Non Xuân Lộc trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!