Xem Nhiều 5/2022 # Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Dân Tộc Tại Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong # Top Trend

Xem 13,959

Cập nhật thông tin chi tiết về Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Dân Tộc Tại Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong mới nhất ngày 19/05/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 13,959 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tòa Nhà Thông Minh
  • Tòa Nhà Thông Minh Giải Pháp Thời Đại Mới Với Smart Building
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 7 Mô Hình Trường Học Mới
  • Báo Cáo Chuyên Đề Toán Thcs
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Tạo Hứng Thú Cho Học Sinh Học Môn Hình Học 8
  • SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    PHẦN MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………3

    1.

    Lý do chọn đề tài………………………………………………………………………………………….3

    2.

    Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài………………………………………………………………………..3

    3.

    Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………………………………4

    4.

    Giới hạn phạm vi nghiên cứu………………………………………………………………………..4

    5.

    Phương pháp nghiên cứu………………………………………………………………………………4

    II. PHẦN NỘI DUNG…………………………………………………………………………………………..4

    1.

    2.

    3.

    Cơ sở lý luận………………………………………………………………………………………………..4

    1.1.

    Cơ sở thực tiễn………………………………………………………………………………………4

    1.2.

    Cơ sở lý luận khoa học…………………………………………………………………………..5

    Thực trạng…………………………………………………………………………………………………..5

    2.1.

    Thuận lợi và khó khăn…………………………………………………………………………..5

    2.2.

    Thành công và hạn chế………………………………………………………………………….6

    2.3.

    Mặt mạnh và mặt yếu…………………………………………………………………………….7

    2.4.

    Các nguyên nhân, các yếu tố tác động……………………………………………………..8

    2.5.

    Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng và đề tài đã đặt ra……………………..8

    2.5.1.

    Khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa………………………………………………………8

    2.5.2.

    Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc…………….9

    2.5.3.

    Khó khăn của đội ngũ giáo viên………………………………………………………..11

    Giải pháp, biện pháp…………………………………………………………………………………..11

    3.1.

    Mục tiêu của giải pháp, biện pháp…………………………………………………………11

    3.2.

    Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp…………………………….12

    3.2.1.

    Tìm hiểu tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em học sinh dân tộc…….12

    3.2.2.

    Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng…………………………12

    3.2.3.

    Quan tâm đến những khó khăn của học sinh……………………………………….15

    3.2.4. Tạo cơ hội cho học sinh chia sẻ trách nhiệm, giúp đỡ nhau trong học tập, rèn

    luyện ở lớp, ở nhà………………………………………………………………………………………..20

    3.2.5. Tôn trọng bản sắc văn hóa dân tộc, nhất là phong tục tập quán…………………22

    1

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    3.2.6. Rèn luyện các thói quen và hành vi văn minh………………………………………….26

    3.5.7. Phối hợp kịp thời với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường…….28

    3.3.

    Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp……………………………………………….29

    3.4.

    Mối liên hệ giữa các giải pháp, biện pháp………………………………………………29

    Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu….29

    PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………………………………………………30

    1.

    Kết luận…………………………………………………………………………………………………….. 30

    2.

    Kiến nghị…………………………………………………………………………………………………… 31

    BẢNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT

    DTTS

    Dân tộc thiểu số

    HSDTTS

    Học sinh dân tộc thiểu số

    TCTV

    Tăng cường tiếng việt

    GDTH

    Giáo dục tiểu học

    HS

    Học sinh

    GV

    Giáo viên

    2

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    I. PHẦN MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    Một trong những điều kiện có ý nghĩa quyết định vị thế cùng sự bình đẳng giữa các

    quốc gia, dân tộc trong cùng khu vực hay trên thế giới là chất lượng nguồn nhân lực. Việc

    tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực có trình độ khoa học – kỹ thuật và kỹ năng làm

    việc cao, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong xu thế quốc tế

    hoá, toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới như hiện nay là một đòi hỏi khách quan.

    Để đáp ứng yêu cầu khách quan ấy, giáo dục – đào tạo là công cụ quan trọng bậc nhất,

    có ý nghĩa quyết định trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Vai trò quan

    trọng của giáo dục – đào tạo thể hiện ở chỗ nó phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực

    không chỉ trên bình diện xã hội rộng lớn, mà còn có khả năng tiếp cận đến từng cá nhân, từ

    đó, giáo dục và đào tạo đóng vai trò tạo nguồn trực tiếp về mặt chủ thể cho các quá trình

    phát triển kinh tế – xã hội và đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế – xã hội của mỗi

    quốc gia, mỗi dân tộc.

    Trong thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta, cơ hội học tập và

    nâng cao trình độ của đồng bào các dân tộc thiểu số ngày càng nhiều hơn. Đến nay, các tỉnh

    miền núi đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và chống tái mù chữ. Tuy nhiên chất

    lượng giáo dục của học sinh dân tộc thiểu số nhìn chung còn thấp so với mặt bằng của cả

    nước.

    Ở địa bàn huyện KrôngAna nói chung và trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng

    tỷ lệ số học sinh dân tộc thiểu số khá cao, đặc biệt tại Phân hiệu Buôn Đrai. Bản thân tôi là

    một giáo viên đã nhiều năm gắn bó với nghề, với trường nên tôi nhận thức được rất rõ chất

    lượng giáo dục cũng như các điểm hạn chế của các em học sinh dân tộc thiểu số.

    Để củng cố và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm trong việc nâng cao chất lượng giáo

    dục cho các em học sinh dân tộc, tôi chọn nghiên cứu và xây dựng đề tài ” Một số biện

    pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh dân tộc tại trường Tiểu học Lê Hồng

    Phong”.

    2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

    – Xác định được thực trạng về chất lượng giảng dạy của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật

    chất, chất lượng của các em học sinh dân tộc thiểu số của nhà trường.

    – Đưa ra được một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục cho các em học sinh dân

    tộc thiểu số trong nhà trường.

    3

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    3. Đối tượng nghiên cứu

    – Nghiên cứu một số phương pháp truyền thống, phương pháp mới mà giáo viên nhà

    trường đã thực hiện trong quá trình giảng dạy những năm học vừa qua đối với học

    sinh trường Tiểu học Lê Hồng Phong, một số hoạt động ngoài giờ lên lớp có liên

    quan đến việc nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh DTTS.

    – Học sinh DTTS ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong, chất lượng và hiệu quả đào tạo

    của nhà trường trong những năm gần đây, những thuận lợi – khó khăn và điều kiện

    dạy học của nhà trường.

    – Chất lượng đội ngũ giáo viên trường Tiểu học Lê Hồng Phong.

    – Thực trạng về cơ sở vật chất của nhà trường, đặc điểm kinh tế và xã hội của khu vực.

    4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

    Nghiên cứu một số phương pháp dạy và học, những thành tựu trong việc đổi mới

    phương pháp dạy học đối với học sinh dân tộc thiểu số ở tất cả các khối từ lớp 1 đến lớp 5

    đặc biệt là kết quả của việc nâng cao chất lượng học sinh dân tộc thiểu số của các giáo viên

    đứng lớp và các giáo viên bộ môn ở trường Tiểu học Lê Hồng Phong.

    5. Phương pháp nghiên cứu

    – Tổng hợp số liệu về thực trạng chất lượng học sinh dân tộc thiểu số ở trường Tiểu học

    Lê Hồng Phong, tổng hợp các số liệu về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất.

    – Phân tích, so sánh chất lượng, hiệu quả đào tạo trước khi thực hiện biện pháp và sau

    khi áp dụng các biện pháp mới.

    – Tham khảo ý kiến của giáo viên và học sinh về những thuận lợi, khó khăn, hiệu quả

    đạt được và những hạn chế khi thực hiện những giải pháp để nâng cao chất lượng

    giáo dục học sinh DTTS.

    II.PHẦN NỘI DUNG

    1. Cơ sở lý luận

    1.1. Cơ sở thực tiễn

    Nâng cao chất lượng học sinh DTTS là một yêu cầu trọng tâm trong đường lối phát

    triển giáo dục của nước ta hiện nay. Chính phủ và Nhà nước đã và đang đưa ra nhiều đường

    lối, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các em học sinh dân tộc thiểu số được

    học tập, được nâng cao chất lượng giáo dục. Giáo dục tiểu học đối với các em học sinh dân

    tộc thiểu số là một nền tảng vô cùng quan trọng để các em tiếp cận tốt hơn với kho tàng tri

    thức của nhân loại. Giai đoạn tiểu học sẽ là bước để các em tiếp thu ngôn ngữ Tiếng Việt,

    các kiến thức cơ bản và là một bước để các em thay đổi tư duy vốn có về mục đích và ý

    nghĩa của việc học tập.

    1.2. Cơ sở lý luận khoa học

    4

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Giáo dục là hoạt động hướng tới con người, bằng những biện pháp hướng

    tới truyền thụ: Tri thức và khái niệm, kỹ năng và lối sống, tư tưởng và đạo

    đức. Từ đó hình thành năng lực, phẩm chất, nhân cách, phù hợp với mục đích, mục tiêu, hoạt

    động lao động, sản xuất và lối sống xã hội.

    Chất lượng giáo dục là sự đáp ứng mục tiêu đề ra của giáo dục: Là nhằm

    đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức

    khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã

    hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu

    cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    2. Thực trạng

    2.1. Thuận lợi và khó khăn

    a. Thuận lợi:

    Đảng và nhà nước luôn quan tâm coi trọng công tác dân tộc và giáo dục dân tộc có

    đường lối chính sách rõ ràng, pháp luật rõ ràng, các văn bản dưới luật chi tiết cụ thể.

    Các cấp quản lí ngành Giáo dục luôn quan tâm chỉ đạo sát sao, đặc biệt là chất lượng

    giáo dục HSDTTS.

    Công tác xã hội hóa giáo dục ở thôn buôn được nâng cao, các tổ chức đoàn thể tham

    gia nhiệt tình.

    Đội ngũ giáo viên nhiệt tình đa số có năng lực và tâm huyết đối với chất lượng giáo

    dục nói chung và chất lượng HSDTTS nói riêng.

    Bản thân sống gần gũi với người dân Ê đê, có hiểu biết về ngôn ngữ, phong tục tập

    quán, lối sống, thông thạo địa bàn.

    Về cộng đồng dân cư đồng bào DTTS và HSDTTS. Ngày nay, hoạt động kinh tế xã

    hội, phong tục tập quán, một số nếp sống trong cộng đồng dân cư đã thay đổi theo

    hướng tiến bộ làm cho cha mẹ học sinh và HSDTTS xóa bản tính tự nhiên, dựa vào

    thiên nhiên mà họ đã có nhu cầu phải học, trước hết là học để biết “cái chữ”.

    Về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt và TCTV cho HSDTTS

    ngày càng được trường và các cấp quan tâm đầu tư. Đặc biệt là ở 2 điểm trường buôn

    Eana và Buôn Drai.

    b. Khó khăn:

    5

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Có sự bất đồng về ngôn ngữ giữa giáo viên với học sinh; giữa giáo viên với phụ

    huynh.

    Nhận thức và nhu cầu học tập của một bộ phận không nhỏ đồng bào dân tộc thiểu số

    cò thấp, tỉ lệ chuyên cần của HSDTTS vẫn chưa cao.

    Phong tục tập quán, đặc điểm tâm lí, văn hóa dân tộc cũng tác động, ảnh hưởng đến

    chất lượng học tập của các em.

    Đời sống kinh tế của đồng bào dân tộc Ê-đê ở hai buôn Eana và buôn Drai còn gặp

    nhiều khó khăn cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng học tập của các em.

    2.2. Thành công và hạn chế

    a. Thành công:

    HSDTTS được huy động đến trường cao. Trường Tiểu học Lê Hồng Phong nói riêng

    và xã Eana nói chung được cấp trên công nhận đạt Phổ cập GDTH đúng độ tuổi.

    HSDTTS có cơ hội học tập và hòa nhập nhiều hơn.

    Cộng đồng người đồng bào dân tộc đã có thay đổi nhận thức về việc học và nhu cầu

    được học.

    Chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt cho HSDT ngày càng được nâng cao, hầu hết

    các em đều đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học, đa số các em có vốn tiếng Việt đủ

    để làm phương tiện tìm hiểu kiến thức các môn học khác.

    Khi nghiên cứu đề tài này bản thân tôi nhận được nhiều sự giúp đỡ hợp tác của đồng

    nghiệp, HSDTTS và ban tự quản.

    b. Hạn chế:

    Tuy với sự nỗ lực của thầy và trò, các em đều đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học

    theo quy định nhưng vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục:

    Học sinh hạn chế về hưởng nền giáo dục gia đình và cộng đồng nơi cư trú, có ít cơ

    hội được giao tiếp tiếng Việt ở cộng đồng .

    Phụ huynh chưa tích cực giúp con em mình giao tiếp và sử dụng tiếng Việt.

    Chất lượng sử dụng tiếng Việt của các em HS DTTS chưa cao.

    Tiếng Việt thuộc ngữ hệ Việt – Mường có nhiều đặc điểm khác hẳn so với tiếng Êđê

    thuộc ngữ hệ Môn – Khơ Me về cấu trúc, cú pháp, … nên các em HSDT tiếp thu

    tiếng Việt rất khó.

    6

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    2.3. Mặt mạnh và mặt yếu

    a. Mặt mạnh:

    Bản thân đã nhiều năm phụ trách lớp có tỷ lệ HSDTTS cao, giao tiếp trực tiếp với

    HSDTTS và phụ huynh nên nắm bắt được nhiều thông tin phản hồi từ phía gia đình

    học sinh.

    Đội ngũ giáo viên được tập huấn đầy đủ về TCTV và có tinh thần tích cực học tập,

    bồi dưỡng thường xuyên; có tình thương yêu đối với học sinh, luôn nhiệt tình, trách

    nhiệm trong công tác giáo dục HSDT và TCTV cho HSDT.

    Bản thân sống gần gũi với cộng đồng người Ê-đê, tìm hiểu, học tập được ngôn ngữ,

    phong tục tập quán, đời sống của người dân Ê-đê nên thuận tiện nhiều trong việc giáo

    dục học sinh dân tộc Ê-đê.

    Công tác thông tin tuyên truyền về giáo dục cũng được thực hiện thường xuyên.

    Trường có giáo viên chuyên dạy tiếng Ê-đê.

    Các hoạt động ngoài giờ lên lớp để tạo sự gần gũi giữa giáo viên và các học sinh dân

    tộc thiểu số chưa đạt hiệu quả cao.

    Chất lượng học tập của các học sinh dân tộc thiểu số chưa đạt được kết quả tốt nhất

    2.4. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động

    Các nguyên nhân, các yếu tố tác động dẫn đến những thành công là:

    Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước luôn đề cao coi trọng công tác giáo dục

    dân tộc.

    Được sự quan tâm, chỉ đạo thường xuyên của các cấp quản lí giáo dục.

    Đội ngũ giáo viên có tinh thần trách nhiệm cao, có ý thức tích cực đổi mới phương

    pháp dạy học và trăn trở với chất lượng HSDT.

    7

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Một số tập tục lạc hậu trong cộng đồng dân tộc bị bãi bỏ, điều kiện tự nhiên không

    còn ưu đãi cho cuộc sống tự nhiên mà yêu cầu sản xuất, phát triển kinh tế, giao lưu

    văn hóa,.. cần phải biết thông tin, khoa học kĩ thuật cũng là yếu tố tác động khiến

    đồng bào DTTS thay đổi nhận thức và có nhu cầu cần phải học.

    Nguyên nhân, các yếu tố tác động làm cho chất lượng học tập tiếng Việt của HSDT

    còn hạn chế là:

    Nội dung chương trình học chưa thực sự phù hợp, người dạy thì hạn chế về ngôn ngữ,

    văn hóa, tâm lí,… của học sinh nên khó có biện pháp TCTV.

    Người học cũng học bằng ngôn ngữ thứ hai nên gặp nhiều rào cản.

    2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề thực trạng và đề tài đã đặt ra.

    2.5.1. Khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa.

    Giáo dục ngôn ngữ ở các tỉnh miền núi luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, dạy

    học tiếng Việt cho học sinh Tiểu học người dân tộc ở các tỉnh Tây Nguyên luôn là nhiệm vụ

    hàng đầu của những người đang giảng dạy tại nơi đây. Đó là việc dạy học tiếng Việt với tư

    cách là ngôn ngữ thứ hai cho học sinh dân tộc thiểu số đang cư trú tại dải đất này, các dân

    tộc như Jrai, Bahnar… Mục đích của việc giáo dục ngôn ngữ này là nhằm cung cấp cho các

    em một công cụ giao tiếp, một phương tiện tư duy, nhanh chóng hòa nhập cộng đồng, cùng

    sống dưới mái nhà chung Việt Nam, cùng chung tiếng nói, cùng sử dụng một ngôn ngữ, phát

    huy sức mạnh của toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng mới. Thế nhưng xét về mặt chất

    lượng, hiệu quả giáo dục ngôn ngữ hiện nay ở các tỉnh Tây Nguyên, như Gia Lai, KonTum,

    ĐăkLăk vẫn còn thấp.

    Khác với học sinh người kinh, trước khi đến trường, đa số học sinh người dân

    tộc thiểu số chưa biết sử dụng tiếng Việt. Thực tế cũng có số ít các em được trải qua sự chăm

    sóc của vườn trẻ, nhưng vốn kiến thức ban đầu về tiếng Việt, như những mẫu hội thoại đơn

    giản mang tính bắt đầu, những kỹ năng cơ bản như nghe, nói mà trường Mầm Non đã trang

    bị cho các em, vì những lý do khách quan khác nhau đã không còn theo các em bước vào

    lớp1. Bởi trong sinh hoạt gia đình, cộng đồng, người dân ở đây, cũng như các em chỉ sử

    dụng tiếng mẹ đẻ nên khi bước ra thế giới bên ngoài, vào môi trường giáo dục phổ thông,

    tiếng Việt lúc bấy giờ là ngôn ngữ thứ hai của các em. Việc giao tiếp thông thường với thầy

    cô giáo đã khó khăn, và cũng có khi là không thể, việc nghe giảng những kiến thức về các

    môn học khác nhau bằng tiếng Việt lại càng khó khăn hơn đối với các em. Đến trường, đến

    lớp là các em bước đến một môi trường sinh hoạt hoàn toàn xa lạ, tâm lý rụt rè, e sợ luôn

    thường trực trong các em, làm giảm tốc độ bước chân các em đến trường.

    8

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Mặc dù một số ít học sinh đã trải qua các lớp ở bậc Mầm non nhưng đối với các em,

    trường Tiểu học vẫn là một môi trường hoàn toàn mới, tiếng Việt là một ngôn ngữ hoàn toàn

    xa lạ. Sự tồn tại của tình trạng này trong đời sống các em là do điều kiện sử dụng ngôn ngữ

    trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, là do tâm lý sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ rất tự nhiên, bản

    năng. Những buổi sinh hoạt cộng đồng, những lần hội họp, người địa phương chỉ sử dụng

    ngôn ngữ mẹ đẻ. Họ ngại sử dụng tiếng Việt, có lẽ vì vốn kiến thức về tiếng Việt ở họ quá ít

    ỏi, cũng có lẽ vì bản năng ngôn ngữ mẹ đẻ thường trực trong họ. Chính vì thế, mỗi lần các

    cán bộ xã, huyện về chủ trì một cuộc họp nào đó ở buôn, làng, họ phát biểu bằng tiếng Việt

    rất khó khăn. Thói quen này trong sử dụng ngôn ngữ sẽ ảnh hưởng vào trong đời sống gia

    đình của mỗi cá nhân, học sinh vẫn sử dụng tiếng mẹ đẻ khi rời trường, rời lớp. Dần dà các

    em không thể sử dụng tiếng Việt, quên ngay những kiến thức về tiếng Việt đã học trên lớp,

    từ đó, đã khiến cho các em thụ động, thiếu linh hoạt khi ở môi trường giao tiếp lớn hơn, vượt

    khỏi môi trường cộng đồng dân cư nhỏ hẹp.

    2.5.2. Hạn chế về điều kiện kinh tế và nhận thức của đồng bào dân tộc.

    Tiếp xúc, quan sát học sinh dân tộc thiểu số, tôi nhận thấy rằng, các em học sinh ở

    đây đã biết ý thức về nguồn gốc của mình. Cái nghèo luôn nhắc nhở con người sống trong

    cảnh khốn cùng cần hiểu sâu sắc về nguồn gốc, về điều kiện, hoàn cảnh sống của bản thân.

    Nghèo đã giúp con người ta vươn lên nhưng nghèo cũng làm cho con người luôn mặc cảm,

    tự ti, bằng lòng với cuộc sống hiện tại. Mặc cảm số phận đã khiến con người không thể thoát

    khỏi những thiếu thốn vật chất, không thể vươn xa hơn không gian sống hiện tại. Những học

    sinh tiểu học người dân tộc thiểu số nơi đây không có sự hồn nhiên của tuổi trẻ, không chỉ

    có “ngày hai buổi đến trường”, các em còn phải miệt mài trên nương rẫy trỉa lúa, trồng

    ngô,…lo cho cuộc sống vật chất. Nghe những đồng nghiệp tâm sự, rằng “chúng tôi phải vào

    tận buôn lùng sục các em, đưa các em đến trường.”; cũng có nhiều giáo viên chia sẻ, “Tôi

    phải dùng tiền lương của mình để mua quà ăn, đồ dùng học tập cho các em, rồi mới đưa các

    em trở lại trường. Nhưng có lúc cũng không thành công!”,… Theo tôi, cái gốc rễ của vấn đề

    là ở chỗ, cái nghèo truyền kiếp đã quy định trách nhiệm của các em đối với gia đình. Cái ăn

    từng bữa còn chưa có, chưa đủ thì học chữ để làm gì, suy nghĩ của các em và gia đình của

    các em là vậy! Họ không hiểu rằng, chính cái chữ sẽ giúp con người thoát khỏi cuộc sống

    nghèo khó hiện tại, giúp con người hoạch định tương lai. Cho nên vào thời điểm mùa màng,

    số lượng học sinh trên lớp học rất ít. Một số học sinh có ý thức học tập, đến mùa màng, cũng

    xin phép giáo viên chủ nhiệm, nhà trường nghỉ phép vài hôm, nhưng rồi các em cũng quên

    trở lại trường khi mùa hái cà phê kết thúc. Giáo viên lại phải nhọc công tìm đến tận nhà, vận

    động các em đến trường.

    9

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Con người là chủ thể nhận thức. Nhận biết về bản thân, về mọi vật xung quanh là sự

    sống bản năng của con người. Người dân tộc thiểu số luôn ý thức về nguồn gốc, về điều kiện

    sống, hoàn cảnh sống của mình. Chính điều này đã khiến cho học sinh Tiểu học dân tộc

    thiểu số tiếp nhận những kiến thức về tiếng Việt khó khăn, tạo rào cản ngăn cách hoạt động

    sống của các em với môi trường xã hội rộng lớn, làm cho các em khó tiếp xúc, hòa nhập

    cộng đồng. Nhìn ra được cái hạn chế, điều tốt đẹp của bản thân là con người đã phát triển ở

    một mức nào đó về nhận thức. Nghĩa là con người đã biết đặt mình trong nhiều mối quan hệ

    trong xã hội. Ý thức là nguồn động viên cho sự vươn lên thoát khỏi hoàn cảnh thực tại

    nhưng cũng có ý thức tạo cho con người tính mặc cảm, tự ty thân thế, số phận, làm thui chột

    hao mòn năng lực, tri thức bản thân. Học sinh Tiểu học dân tộc thiểu số đến trường trong

    tâm thế “hèn mọn” đó. Các em cũng đã biết nhìn ngắm những trang phục của các bạn học

    sinh người Kinh, nhìn lại trang phục của mình. Nhiều em học sinh đến trường bằng những

    đôi dép cũ kỹ, hoặc trong trang phục không lành lặn, hay với những đồng phục bắt buộc

    nhàu nát mà các em không chỉ dành cho đến trường, hay cùng với những cuốn tập bị bỏ

    quên ngay sau khi rời lớp. Tâm tư ấy cũng phần nào làm cho tinh thần học tiếng Việt của các

    em học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số bị suy giảm.

    Như đã phân tích ở trên, chính điều kiện sống như thế đã không tạo cho các em

    một môi trường học tập, một góc học tập cá nhân, lại càng không thể xây dựng trong các em

    ý thức học tập, rèn luyện. Vốn kiến thức về tiếng Việt ở các em hạn chế, ít ỏi là điều hiển

    nhiên. Chính vì thế, các em rất ngại phải giao tiếp bằng tiếng Việt, lo sợ phải phát biểu xây

    dựng bài trong giờ học, lo ngại phải giao tiếp với giáo viên ngoài giờ học, đặc biệt là các em

    rất khó tiếp thu bài ở những môn học khác. Điều này đồng nghĩa với việc kiềm hãm sự phát

    triển tư duy ở các em, khó tạo ra một môi trường giáo dục thân thiện! Học sinh đã bắt đầu lo

    lắng cho mỗi giờ đến lớp, “sợ” phải đến trường. Học tập lúc này là công việc quá khó khăn

    đối với các em. Đối với người dân tộc Ê-đê, không gian sống của họ rất đặc trưng, không có

    ranh giới giữa không gian sinh hoạt gia đình và đương nhiên sẽ không có không gian sống cá

    nhân. Đây chính là đặc trưng văn hóa của người dân tộc Tây Nguyên. Không gian sống đặc

    thù này của người Tây Nguyên khắc sâu trong các em về truyền thống văn hóa, về cội

    nguồn. Chúng ta nhận biết không gian sống đặc biệt ấy qua kiến trúc nhà ở của họ, một

    không gian chung cho tất cả những người trong gia đình. Chính vì vậy, việc tạo một không

    gian học tập cho học sinh là điều không thể. Hoạt động sống này đã không tạo điều kiện học

    tập cho các em, mà còn làm cho chất lượng học tập của các em ngày càng giảm sút. Đối với

    các em, tự học là chủ yếu, bởi vì anh chị, cha mẹ, người thân trong gia đình hoặc không có

    khả năng hướng dẫn, hoặc không có ý thức trách nhiệm đôn đốc nhắc nhở quản lý, hay do

    10

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    11

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    không nên ép buô êc các học sinh đó phải trả lời. Có thể tìm hiểu về những học sinh này qua

    các bạn cùng lớp, cùng địa bàn. Cần kiên trì trong mô êt số trường hợp cụ thể.

    3.2.2. Tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái và tôn trọng

    Môi trường tâm lý thoải mái trong học tập và hoạt động sẽ tạo điều kiện cho HS tham

    gia hiệu quả hơn vào bài học và các hoạt động của lớp học nói chung. Nó còn góp phần kiến

    tạo nên một bầu không khí tâm lý, tinh thần hài hòa, cân bằng trong lớp học, giúp HS được

    làm quen với một “xã hội thu nhỏ” lành mạnh, có văn hóa, có sự tôn trọng và chia sẻ của

    mọi thành viên. Điều này không chỉ giúp ích cho quá trình học tập trong nhà trường, mà còn

    mang lại lợi ích thiết thực về sau khi các em gia nhập cuộc sống của những người trưởng

    thành, thực sự tham gia vào môi trường xã hội rộng lớn.

    GV cũng thu nhận được nhiều lợi ích nếu cùng HS tạo ra được một môi trường tâm lí

    thuận lợi cho việc học tập, như: dễ dàng hơn trong quản lý hành vi và hoạt động của HS, huy

    động được HS tham gia tốt hơn vào quá trình học tập, HS đạt được kết quả học tập tích cực

    hơn, xây dựng được tập thể lớp đoàn kết, giúp đỡ, giúp GV quản lý lớp hiệu quả hơn,…

    Về phía nhà trường nói chung, một môi trường học tập thoải mái, tin cậy, và hứng thú

    mà các lớp học kiến tạo được sẽ mang lại cho nhà trường một bầu không khí sư phạm lành

    mạnh, tạo điều kiện lý tưởng nhất cho mọi hoạt động của HS, GV, cán bộ nhà trường cũng

    như sự tham gia của phụ huynh HS. Đây chính là một trong những điều kiện cốt lõi để thực

    hiện chủ trương “trường học thân thiện, HS tích cực”, làm cho mỗi một ngày tới trường của

    cả HS và GV đều là một ngày hứng thú, hiệu quả.

    Một số cách thức tạo môi trường tâm lý an toàn, thoải mái, tin tưởng, tôn trọng trong

    lớp học:

    – Nỗ lực xây dựng, duy trì lòng tin của HS với GV và với tập thể lớp ngay từ những

    ngày đầu tiếp cận lớp học: Lòng tin là một trong những cơ sở quan trọng cho bất kỳ hoạt

    động tập thể, hoạt động nhóm nào giữa các cá nhân. Một số GV, do vị trí và quyền lực nhất

    định của mình, có thể làm cho HS cảm thấy sợ và nể, nhưng không được các em tin tưởng,

    yêu quí, và ngược lại, có những GV hết sức bình thường nhưng luôn được các em tìm đến

    chia sẻ mọi điều khó khăn, khúc mắc. Vì vậy, có thể nói tạo dựng được lòng tin của HS đối

    với mình tức là GV đã xây dựng được nền tảng quan trọng nhất của công việc quản lý lớp

    học và kiến tạo bầu không khí tâm lý, tinh thần thoải mái, tin cậy trong tập thể lớp. Thiếu sự

    tin tưởng ở GV, HS sẽ chỉ thực hiện các yêu cầu, nhiệm vụ GV đề ra vì trách nhiệm hoặc sự

    phục tùng mà thiếu vắng yếu tố nhiệt huyết, tình yêu và sự tận tụy đối với công việc được

    giao.

    12

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    13

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    – Cá nhân hóa quá trình dạy học và GD, đặc biệt lưu tâm đến những điểm đặc trưng

    về văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh… của HSDTTS. Việc cá nhân hóa hoạt động dạy học và

    GD phải dựa trên cơ sở hiểu biết về phong cách học tập của những HS khác nhau cũng như

    hoàn cảnh, điều kiện sống của từng em. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh kết quả học tập và

    khả năng lĩnh hội kiến thức của HS phụ thuộc một phần đáng kể vào phong cách học tập cá

    nhân, như có em học tốt nhất với hình ảnh, biểu tượng, có em lại thể hiện ưu thế với ngôn

    ngữ, cách diễn đạt, v.v. Nếu nắm bắt được những đặc điểm này của từng nhóm HS trong lớp,

    GV có thể tạo điều kiện tốt nhất cho mỗi em phát triển khả năng, thế mạnh của mình trong

    học tập cũng như hoạt động tập thể, giúp các em tự tin và ngày càng tiến bộ hơn.

    Bên cạnh đó, những hiểu biết của GV về đặc điểm văn hóa, tinh thần, tín ngưỡng…

    của các DTTS trong địa phương cũng sẽ là một thế mạnh giúp GV tiếp cận HS của mình tốt

    hơn, quản lý lớp học hiệu quả hơn, tạo được sự tin cậy và chia sẻ đối với nhóm HSDTTS

    trong lớp. Việc tìm hiểu này đương nhiên sẽ tốn thời gian và công sức của GV, song hiệu quả

    mang lại đối với lớp và với bản thân công tác quản lý lớp học của người GV thì không thể

    phủ nhận.

    – Bài trí, sắp xếp không gian và bối cảnh lớp học theo phong cách thân thiện với

    người học, tích cực, sáng tạo. Không chỉ đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động học tập hàng

    ngày, không gian lớp học tác động không nhỏ tới tâm lý, tinh thần, động cơ và hứng thú học

    tập của HS. Bàn ghế trong lớp nên bố trí theo các nhóm với khoảng từ 4-6 người để HS dễ

    dàng thực hiện các hoạt động học theo nhóm nhỏ. Bố trí những góc trưng bày nho nhỏ ở

    cuối lớp như góc thư viện, góc trò chơi, góc cây xanh, huy động HS tự cung cấp sản phẩm

    của mình để trang trí, bày biện cho các góc này, hoặc GV tìm cách liên hệ với các đơn vị

    trong trường như Đoàn thanh niên, thư viện trường… để yêu cầu hỗ trợ về nguồn tài liệu.

    GV nên hỏi ý kiến của chính HS trong việc bài trí lớp học và tôn trọng nguyện vọng, sáng

    kiến, ý tưởng riêng của các em trong sự hài hòa với điều kiện và qui định của nhà trường.

    Một không gian lớp học sinh động, hấp dẫn sẽ làm cho HS yêu quí lớp của mình hơn và cảm

    thấy vui thích, phấn khởi mỗi khi đến trường.

    – Kết hợp việc dạy học hàng ngày với các hoạt động “khởi động”, “thư giãn” nhỏ

    hoặc trò chơi đơn giản để tạo hứng thú học tập và tăng cường tinh thần đồng đội, tính hợp

    tác cũng như rèn luyện nhiều kỹ năng khác nhau cho HS. Một số thầy cô giáo chúng ta

    thường chỉ coi trọng chất lượng giờ giảng dạy trên lớp mà không chú ý nhiều đến những

    dạng hoạt động “xây dựng tinh thần nhóm” hoặc mang tính “khởi động”, “thư giãn”, giúp

    HS tạo cảm giác thỏai mái, hứng thú trước, trong, hoặc giữa các tiết học. Đó có thể là những

    trò chơi nho nhỏ, một vài động tác thể dục vui đơn giản, đôi ba câu đố vui/đố mẹo… được

    14

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    15

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Việc GV phát hiện ra những trở ngại, khó khăn của HS trong lớp và hỗ trợ các em

    vượt qua chúng sẽ tạo cho HS có cảm giác được bảo vệ, chăm sóc và quan tâm, giúp các em

    có thêm nghị lực vượt khó. Bên cạnh đó, khi được GV chú ý đến những vấn đề khó khăn của

    mình, bản thân HS có thêm động lực để cố gắng hơn trong học tập và rèn luyện. Đồng thời,

    GV cũng được HS thêm yêu mến, tin cậy để có thể sẵn lòng chia sẻ nhiều hơn những khó

    khăn, khúc mắc của mình trong cuộc sống hoặc học tập.

    Quan tâm đến khó khăn của HS còn góp phần giúp GV xây dựng và duy trì được một

    tập thể lớp đoàn kết, tương trợ, nơi HS cảm thấy mình là một phần có ý nghĩa của cộng đồng

    lớp học và tích cực tham gia các hoạt động chung. Từ đó, từng bước hình thành, củng cố tinh

    thần trách nhiệm và ý thức tập thể cho HS. Điều này càng có ý nghĩa đối với nhóm thiểu số

    HS dân tộc thường hay mặc cảm, tự ti và ngại giao tiếp trong một tập thể có đông HS người

    Kinh hơn.

    Một số cách thức thực hiện việc quan tâm đến những khó khăn của học sinh

    – Lập hồ sơ chi tiết của từng HS và thường xuyên cập nhật, bổ sung. Hồ sơ HS ở đây

    không chỉ thuần túy là một bản ‘trích ngang’ những thông tin về hoàn cảnh cá nhân, gia đình

    của HS như quan niệm truyền thống, mà còn bao gồm cả các sản phẩm trong quá trình học

    tập và hoạt động của HS như bài tập/bài thi các môn học, các bản thu hoạch, tranh vẽ sáng

    tác, bài thơ dự thi, bài báo tường, các nhận xét của những GV khác về HS, bằng chứng về

    việc khen thưởng/kỷ luật, v.v. Túi hồ sơ hoàn thiện của một HS chính là “cửa sổ để quan sát

    tư duy và quá trình học tập của HS”, mà GV thông qua đó có thể nhìn rõ hơn bức tranh sinh

    động, chân thực về các HS của mình bao gồm cả những thuận lợi, khó khăn mà em đó gặp

    phải trong học tập và cuộc sống.

    Việc xây dựng, quản lý và cập nhật hồ sơ HS có thể hiệu quả hơn nếu GV huy động

    được sự tham gia của hội đồng tự quản lớp trong công việc này, vì hơn ai hết, HS hiểu rõ

    hoàn cảnh và một số khó khăn, trở ngại trong cuộc sống của bạn bè mình. Hội đồng tự quản

    lớp hoặc một số HS có trách nhiệm trong lớp học có thể cung cấp những nguồn thông tin xác

    thực, cập nhật nhất về hoàn cảnh, điều kiện, những thay đổi trong cuộc sống của các thành

    viên trong lớp, giúp GV hiểu rõ hơn về tập thể HS của mình và những khó khăn mà các em

    phải đối mặt.

    Dựa trên thông tin có được về từng HS, GV có thể đánh dấu những hồ sơ, trường hợp

    đặc biệt cần sự quan tâm riêng để có sự hỗ trợ sau này trong quá trình giảng dạy, tiếp cận em

    16

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    17

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    – Tăng cường sự tham gia và ý thức trách nhiệm của hội đồng tự quản và tập thể HS

    để HS có ý thức tự quan tâm đến thành viên lớp mình và tìm cách hỗ trợ nhau. Trong một số

    trường hợp nhất định, HS tự giúp nhau sẽ hiệu quả và thiết thực nhất.

    Giao trách nhiệm cụ thể cho Ban cán sự lớp trong việc tìm hiểu hoàn cảnh một số HS

    đặc biệt trong lớp để có hướng giúp đỡ hiệu quả. Tuy nhiên việc tìm hiểu cần tế nhị, tránh

    gây tổn thương, mặc cảm đến em HS đang gặp khó khăn. Bên cạnh đó, GV cũng không thể

    phó mặc hoàn toàn việc này cho Ban cán sự lớp, mà cần thường xuyên theo dõi, đôn đốc và

    giám sát công việc của các em để có những chỉ dẫn hoặc can thiệp kịp thời.

    – Chú trọng xây dựng và duy trì bầu không khí tập thể lớp học đoàn kết thân ái, luôn

    tương trợ giúp đỡ nhau. Muốn vậy, trước hết bản thân GV phải làm gương tốt cho HS bằng

    cách luôn cư xử đúng mực với người khác, tận tình giúp đỡ người gặp khó khăn bất kể đó là

    đồng nghiệp, HS, hay những hoàn cảnh không may khác xung quanh mình. HS rất có ấn

    tượng với cách cư xử, lối sống hàng ngày của GV, do vậy một gương GV nhân ái, luôn biết

    quan tâm giúp đỡ những người xung quanh sẽ là bài học ‘sống’ giá trị nhất để tác động tới

    các em. Mặt khác, GV có thể phối hợp với Đoàn thanh niên và Ban cán sự lớp để phát động

    những phong trào, hoạt động tương thân tương ái trong lớp, trường hoặc có phạm vi rộng

    hơn nhà trường như: thu gom và trao đổi đồ dùng học tập, quần áo cũ; tiết kiệm tiền ‘bỏ ống’

    cho các bạn khó khăn; tổ chức thăm hỏi, tặng quà định kì những gia đình có hoàn cảnh éo le,

    bất hạnh; tham gia hoặc khởi xướng các hoạt động phục vụ lợi ích cộng đồng như trồng cây,

    giúp đỡ người già, người neo đơn, giúp nạn nhân chất độc da cam, lao động công ích trong

    các công trình công cộng,…

    Thông qua các hoạt động thiện nguyện trợ giúp những người khó khăn trong lớp,

    trường của mình cũng như ngoài xã hội như vậy, HS sẽ phát triển được những nét tính cách

    nhân ái, bao dung, biết quan tâm giúp đỡ người khác. Đồng thời, việc cùng nhau tổ chức

    hoạt động tập thể còn giúp các em tăng cường tinh thần đồng đội, hợp tác hiệu quả – những

    yếu tố quan trọng giúp xây dựng một tập thể lớp thân ái, đoàn kết.

    – Trang bị cho HS, và Hội đồng tự quản lớp những kỹ năng sống quan trọng để biết

    cách giao tiếp, ứng xử phù hợp và quan tâm đến người khác, như các kỹ năng giao tiếp, tự

    nhận thức, hợp tác, thương lượng, làm việc nhóm, ra quyết định, giải quyết vấn đề, lãnh đạo

    nhóm… Để làm được điều đó, trước hết GV cũng phải có hiểu biết, tự trang bị cho mình

    những kiến thức, kỹ năng này, hoặc phải tham gia vào những khóa tập huấn chuyên sâu về

    kỹ năng sống, sau đó biết cách tổ chức các hoạt động cụ thể để huấn luyện lại cho HS.

    18

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    19

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    GV: Thái Thị Luận

    Tổ chức các nhóm học tâ êp, đôi bạn cùng tiến

    Học nhóm là một phần quan trọng để tạo ra một lớp học hiệu quả. Tuy nhiên, đây

    không chỉ là học sinh “làm việc cùng nhau” đơn thuần mà là cùng hợp tác học tập dưới hình

    thức học nhóm. Mục tiêu chính yếu của học nhóm là giúp học sinh chủ động học tập để đạt

    được một mục tiêu học tập chung. Việc tạo nhóm học tập như vậy cho phép học sinh làm

    việc cùng nhau để tối ưu hóa việc học tập của mình và của các bạn khác trong nhóm.

    Thông qua việc học nhóm người học có thể được:

    – Kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tạo cảm giác thoải mái cho người học:

    Xuyên suốt quá trình học nhóm là các hoạt động học tập mang tính hợp tác. Khi học theo

    nhóm, người học cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc học một mình. Các em

    nhận được sự hỗ trợ, hợp tác của những người trong nhóm nên sẽ trở nên tự tin hơn và vì

    thế, việc học của các em sẽ đạt hiệu quả cao hơn.

    – Phát triển kỹ năng giao tiếp: Bên cạnh việc đạt được mục tiêu học tập là phát triển

    kỹ năng ngôn ngữ, người học tham gia vào các hoạt động học tập của nhóm còn có điều kiện

    để phát triển kỹ năng giao tiếp. Các em sẽ học được cách trình bày và bảo vệ quan điểm của

    mình, biết cách thuyết phục và thương lượng trong việc giải quyết vấn đề. Các em trở nên

    mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp. Kỹ năng giao tiếp của các em vì thế mà ngày càng

    được hoàn thiện đáng kể.

    – Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn

    đề: Trong khi học nhóm, người học phải tham gia vào các hoạt động như thuyết trình, thảo

    luận, tranh luận, giải quyết vấn đề,… Các hoạt động này đòi hỏi người học phải sáng tạo,

    lôgic, linh hoạt và nhạy bén. Người học còn phải đánh giá các hoạt động mà nhóm mình

    thực hiện để có những điều chỉnh hợp lý.

    Các hoạt động nêu trên đã giúp người học phát triển tư duy sáng tạo cũng như khả

    năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề.

    Để việc học nhóm của học sinh có hiệu quả, trước hết giáo viên cần giúp từng học

    sinh xác định trách nhiệm của bản thân, ngoài ra các thành viên trong nhóm cần có ý thức tự

    giác: tự giác về thời gian, bài vở, tự giác “phát biểu”…

    – Hãy hoàn thành tất cả các bài tập có thể, dàn ý bài học thuộc và các bài đọc tham

    khảo, đối với các môn xã hội.

    – Trình bày những gì mình đã chuẩn bị và biết đặt ra các câu hỏi

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Trường Th Đắk Dục: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh (Tiểu Học) Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Cho Học Sinh Tiểu Học Vùng Dân Tộc Thiểu Số
  • Một Số Giải Pháp Để Thực Hiện Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Địa Lý Lớp 9
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn Skkn Nang Cao Chat Luong Dayhoc Mon Ngu Vanthcs Doc
  • Bạn đang xem bài viết Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Cho Học Sinh Dân Tộc Tại Trường Tiểu Học Lê Hồng Phong trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100