Xem Nhiều 5/2022 # So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa # Top Trend

Xem 11,286

Cập nhật thông tin chi tiết về So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa mới nhất ngày 23/05/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 11,286 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Của Nhà Thơ Nguyễn Duy
  • Nghệ Thuật Đặc Sắc Trong Bài Thơ Tre Việt Nam Nguyễn Duy
  • Các Đề Văn Về Bài Thơ Vội Vàng
  • Bài Tập Tự Luyện Vội Vàng
  • Phân Tích Giá Trị Biện Pháp Tu Từ Được Sử Dụng Trong Khổ 1 Và 5 Của Bài Ánh Trăng
  • So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1.

    Lí do chọn đề tài

    Với lịch sử hơn 4000 năm văn hiến, Việt Nam đã có một kho tàng thơ ca phong

    phú và đa dạng. Thơ ca như dòng sữa mẹ nuôi dưỡng tâm hồn con người Việt Nam từ

    ngàn xưa đến nay. Người ta yêu thơ, biến thơ thành những câu nói ví von, thành ca

    dao, dân ca hay thậm chí rút ra thành thành ngữ, hò, vè,…

    Tuy nhiên, để biến một bài thơ thành một bài hát là điều không dễ, ngoài việc

    các nhạc sĩ thay đổi về thanh điệu cho hài hòa để phổ chúng thành nhạc thì bản thân

    bài thơ cũng phải độc đáo và có âm điệu dễ hát. Cho đến nay đã có nhiều bài thơ được

    phổ nhạc nói về tình yêu như: Cô hàng xóm của Nguyễn Bính, Màu tím hoa Sim của

    Hữu Loan, Hai sắc hoa Ti-gon của TTKh, Hương thầm của Phan Thị Thanh Nhàn,…

    Cũng là một dạng thơ được biến thành bài hát, nhưng thơ Trần Đăng Khoa

    mang một sắc thái hoàn toàn khác, những bài thơ của ông được đa số trẻ con yêu mến

    mà tiêu biểu nhất là bài thơ đã được nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ thành nhạc:

    “Hạt gạo làng ta

    Có vị phù sa

    Của sông Kinh Thầy

    Có hương sen thơm

    Của hồ nước đầy

    ……………

    Giọt mồ hôi sa

    Những trưa tháng Sáu

    Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ”

    …………

    (Hạt Gạo Làng Ta)

    Vì sao thơ Trần Đăng Khoa lại được đa số các trẻ nhỏ yêu mến như vậy? Bởi

    những tác phẩm thơ của ông rất gần gũi với tâm lí trẻ thơ, vần điệu ngắn gọn dễ nhớ,

    giàu ý nghĩa và hình ảnh đầy sức sống.

    1

    Trần Đăng Khoa là người đã tạo cho mình một phong cách thơ không lầm

    lẫn với bất kì nhà thơ nào, ông sáng tác còn rất sớm: khi mới lên tám tuổi! So với

    các trẻ con khác, nếu sáng tác trong độ tuổi này thì sẽ không tránh khỏi sự vụng về,

    non nớt trong suy nghĩ… nhưng đối với Trần Đăng Khoa, ông đã đạt được sự chín

    chắn trong tư duy, độc đáo trong việc thể hiện suy nghĩ, sử dụng các biện pháp tu

    từ điêu luyện và có sự trau chuốt trong cách chọn lọc từ ngữ.

    Đến với thơ Trần Đăng Khoa, người đọc có cảm giác như được trở về với tuổi

    thơ. Hình ảnh thơ mộc mạc, ngôn ngữ giản dị, dễ hiểu nên đã để lại ấn tượng sâu sắc

    trong lòng người đọc. Hầu hết các bài thơ đều là những bức tranh tái hiện lại cuộc

    sống ở làng quê. Từ những âm thanh trong cuộc sống đến “những năm bom đạn”

    trong chiến tranh, được thể hiện trong thơ một cách đầy đủ và rõ nét.

    Người xưa quan niệm, thơ không nhất thiết cầu kì, thơ cần nhất sự dung dị,

    Lưu Đại Khôi đã nói: “Văn chương quý ở chỗ giản dị. Phàm viết văn và cả làm thơ

    nữa, những cây bút già dặn thì giản dị, vị thanh đạm thì giản dị, khí đầy đủ thì giản

    dị, thần cao xa mà hàm chứa khôn cùng thì giản dị. Vì vậy, giản dị là cảnh giới tận

    cùng của văn chương vậy”. Bởi vì giản dị thì không cầu kì, câu chữ lại có tính triết

    lí, ý tứ sâu xa lại hàm chứa tư tưởng khôn cùng. Thơ của Trần Đăng Khoa hấp dẫn

    như loại rượu vang nho nhẹ không gây sốc, không nồng nhưng uống rồi sẽ ngấm, sẽ

    say lâu và khó bỏ.

    Thơ của Trần Đăng Khoa được đưa vào chương trình Tiếng Việt trong Sách

    giáo khoa do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành để giảng dạy cho học sinh Phổ thông

    trung học từ rất sớm. Chúng được đánh giá rất cao và chiếm vị trí quan trọng trong

    mảng văn học thiếu nhi.

    Một lí do nữa khiến cho người viết chọn đề tài này là: tuy so sánh tu từ là biện

    pháp nghệ thuật đơn giản nhưng có vai trò vô cùng quan trọng. Thiếu so sánh trong

    giao tiếp hằng ngày thì lời nói của chúng ta trở nên khô khan, thiếu gợi hình, thiếu sinh

    động. Còn trong văn chương, nếu thiếu so sánh tu từ thì sẽ không thể nào diễn tả hết

    được cảm xúc của tác giả muốn gửi đến người đọc người nghe. Ví như câu ca dao

    “Công cha như núi Thái Sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” nếu chỉ nói

    một cách đơn thuần không có ví von, so sánh thì người phát ngôn chỉ có thể nói “Tình

    cảm của cha mẹ lớn lao không gì có thể tả được” chứ không lột tả hết sự vất vả, gian

    lao, tình yêu thương vô bờ bến của cha mẹ đối với con cái. Thông qua so sánh tu từ

    2

    3

    4

    Việc chọn đề tài này giúp người viết hiểu biết thêm về lối so sánh độc đáo và

    sáng tạo của thần đồng thơ. Mặt khác, còn trang bị cho người viết một chìa khóa cần

    thiết để thâm nhập, tiếp cận với những tác phẩm khác. Tuy nhiên trên tinh thần tiếp

    nối, kế thừa và học hỏi những công trình đi trước, người viết muốn qua công trình này

    góp thêm một phần nhỏ vốn hiểu biết của mình vào những cách nhìn lớn mang tính

    toàn diện đối với đề tài: “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa”. Và cũng từ đề tài

    này sẽ tìm hiểu, khám phá ra được những cái hay, cái đẹp mang giá trị của nghệ thuật

    so sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa.

    3. Mục đích nghiên cứu

    Việc chọn đề tài “So sánh tu từ trong thơ Trần Đăng Khoa” sẽ giúp người viết

    thấy được được tình cảm hết sức sâu đậm của tác giả đối với quê hương, đất nước.

    Hàm chứa trong mỗi câu thơ, bài thơ là nỗi niềm tâm sự, lòng trắc ẩn của nhà thơ khi

    đất nước đang trong thời kì mưa bom, bão đạn. Từ đó khẳng định: ngoài nội dung tư

    tưởng được truyền tải thì các biện pháp tu từ cũng góp một phần không nhỏ vào thành

    công chung của toàn bộ tác phẩm.

    Nghiên cứu đề tài này giúp cho người viết hiểu một cách sâu sắc hơn về các

    biện pháp tu từ mà đặc biệt là so sánh tu từ, tìm hiểu những quan niệm khác nhau của

    các nhà nghiên cứu về so sánh. Trên cơ sở đó thấy được khả năng vận dụng so sánh tu

    từ đầy sáng tạo và hết sức độc đáo của Trần Đăng Khoa.

    Hơn thế nữa, khi thực hiện đề tài này người viết sẽ nâng cao được khả năng vận

    dụng phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học ở góc độ so sánh tu từ, đó là cơ sở

    tiền đề giúp người viết có thể thực hiện những công trình nghiên cứu sau này.

    4. Phạm vi nghiên cứu

    Do không tìm được nhiều tài liệu nghiên cứu về Trần Đăng Khoa và thời gian

    nghiên cứu có hạn nên người viết không phân tích hết các tác phẩm của ông mà chỉ

    dừng lại ở ba tập thơ:

    1. Góc sân và khoảng trời (Nhà Xuất Bản Văn Học 2006)

    2. Trần Đăng Khoa thơ tinh tuyển ( Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, 2001)

    3. Thơ Trần Đăng Khoa (Nhà Xuất Bản Thanh Niên,1999)

    Thông qua những tác phẩm trong ba tập thơ để chúng ta thấy được tài năng sử

    dụng ngôn ngữ một cách linh hoạt và sáng tạo. Bằng khả năng sử dụng so sánh tu từ

    hết sức độc đáo của nhà thơ đã góp phần vào thành công chung của toàn bộ tác phẩm.

    5

    Có thể nói từ trước đến nay, chưa một “nhà thơ trẻ con” nào lại có nhiều bài thơ sâu

    sắc và thành công đến thế. Trần Đăng Khoa xứng đáng với danh hiệu: “Thần đồng thơ

    ca” mà nhiều người ban tặng.

    6

    CHƯƠNG 1

    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SO SÁNH TU TỪ

    1.1.

    Khái niệm về so sánh

    Trong giao tiếp hàng ngày chúng ta vẫn hay sử dụng hình thức so sánh để câu

    nói thêm phần thuyết phục như:

    “Lan cao hơn mẹ”

    “Mưa như trút nước

    ” Em ngoan hơn anh”

    … … … … … …

    Thậm chí, trong kho tàng thành ngữ Việt Nam từ lâu đã tồn tại nhiều thành ngữ

    dưới dạng so sánh:

    “Xấu như ma”

    “Cao như tre miễu”

    “Đen như cột nhà cháy”

    … … … … … …

    Việc dùng thủ pháp so sánh trở giúp người tiếp nhận hiểu sâu sắc hơn về những

    phương diện nào đó của sự vật, sự việc, từ đó có cái nhìn khái quát hơn về vấn đề

    được đề cập đến. Người ta chia so sánh ra làm hai loại: so sánh tu từ và so sánh luận lí.

    1.1.1. So sánh luận lí

    So sánh luận lí là đối chiếu hai đối tượng có quan hệ tương đồng. Ở so sánh

    luận lí thì cái được so sánh và cái so sánh là các đối tượng cùng loại, mục đích của sự

    so sánh là sự xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng.

    Ví dụ:

    “10+10=15+5”

    ” Nó cao như bố nó”

    “Tôi thương bậu như chồng bậu thương”

    7

    Khi ta nói “10+10= 15+5” là chính xác, hợp lô-gích không thể chối cãi được

    vì trong biểu thức tương đương của toán học thì hai vế đều bằng 20.

    “Nó cao như bố” là chuyện bình thường vì nó và cha nó xảy ra hiện tượng di

    truyền, kiểu gen giống nhau thì chuyện cao giống nhau là điều dễ hiểu.

    Còn đối với chuyện hai chàng trai cùng thương một cô gái với mức độ tình cảm

    ngang nhau, suy cho cùng, cũng không phải là không hợp lí, là trái với quy luật tình

    yêu. Dạng so sánh này đơn thuần mang phần tin thông báo chứ không tạo ra hình ảnh

    nghệ thuật hay mang giá trị biểu cảm.

    1.1.2. So sánh tu từ

    Tác giả Cù Đình Tú trong quyển “Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng

    Việt” viết: “So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng

    có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc

    điểm của đối tượng”.

    Tác giả Nguyễn Văn Nở trong quyển “Giáo trình phong cách học tiếng Việt”

    đưa ra định nghĩa: “So sánh tu từ (comparison) là đối chiếu hai hay nhiều đối tượng

    (hoặc sự vật) có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên

    trong để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người

    đọc, người nghe”.

    Tác giả Hữu Đạt trong quyển “Phong cách tiếng việt hiện đại” quan niệm rằng:

    “So sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật, hiện tượng này giải thích

    cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác”.

    Quan niệm của Lê Anh Hiển, trong quyển “Phong cách học tiếng Việt” viết:

    “So sánh (hình ảnh) là sự đối chiếu hai đối tượng có một dấu hiệu chung nào đấy

    nhằm biểu hiện một cách hình tượng đặc điểm của một trong hai đối tượng đó”.

    , độ ngắt nhịp hay ngữ điệu của câu. Cần phân biệt

    dạng thức này với hình thức đối dựa trên cơ sở cân xứng, hài hòa về số lượng âm tiết,

    ngữ điệu, thanh điệu, ngữ pháp… Còn so sánh tu từ dựa trên cơ sở so sánh những nét

    tương đồng.

    2.2.1.2.

    Quan niệm của tác giả Hữu Đạt

    Ông đưa ra mô hình khái quát của phép so sánh là AxB với:

    A: là cái chưa biết được đem ra so sánh.

    B: là cái đã biết đem ra so sánh.

    x : là phương tiện so sánh.

    Dựa trên mặt cấu trúc và ngữ nghĩa, tác giả Hữu Đạt chia ra làm 5 loại hình thức so

    sánh:

    – Loại 1: So sánh có từ so sánh

    14

    Mô hình: AxB

    Biến thể: AxB1xB2

    A, B1 B2

    A, B1x A2, B2

    Ví dụ:

    “Sống chết một lần thôi

    Con sẽ chết như những người đã chết

    Và những người đang chết”.

    (Trần Quang Long)

    “Ta yêu những gì tha thiết

    Như tre, dừa làng xóm quê hương

    Như những con người biết mấy yêu thương”.

    (Lê Anh Xuân)

    – Loại 2: So sánh không có từ so sánh.

    Mô hình: A – B

    Biến thể: A – B1B2; A1A2 – B; A1A2 – B1B2

    Ví dụ:

    “Bác ngồi đó lớn mênh mông,

    Trời cao biển rộng, ruộng đồng nước non”.

    (Tố Hữu – Sáng Tháng Năm)

    – Loại 3: So sánh ngang bằng.

    Ví dụ:

    “Qua cầu ngã nón trông cầu,

    Cầu bao nhiêu nhịp thương mình bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    – Loại 4: So sánh bậc cao nhất, bậc tuyệt đối.

    Ví dụ:

    “Đội thanh niên xung phong đi lấp hố bom

    Áo em hình như trắng nhất”.

    (Phạm Tiến Duật)

    – Loại 5: So sánh bậc hơn kém.

    Ví dụ:

    15

    “Kiều càng sắc sảo mặn mà,

    So bề tài sắc lại là phần hơn.

    Làn thu thủy nét xuân sơn,

    Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    2.2.1.3.

    Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú

    Tác giả căn cứ vào hình thức và từ so sánh, đã chia ra thành các dạng thức.

    – A như (chừng như, tựa như…) B

    Ví dụ:

    ” Em đến với anh như tia nắng ấm

    Giữa những ngày mây phủ bốn phương trời

    Cơn gió lạnh mỗi giờ mỗi thấm

    Nắng lên đi đẹp quá nắng ơi”!

    (Tế Hanh – Em Đến Với Anh)

    – A là B

    Ví dụ:

    “Chúng chị là hòn đá tảng trên trời

    Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lai”.

    (Ca dao)

    – A bao nhiêu, B bấy nhiêu

    Ví dụ:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà,

    Bao nhiêu nuộc lạt thương ông bà bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    2.2.1.4.

    Quan niệm của tác giả Bùi Tất Tươm

    Theo ông thì so sánh tu từ có những kiểu so sánh sau:

    – Kiểu so sánh AxB và các biến thể của nó (x: như, tựa như, giống, hơn).

    Ví dụ:

    “Thân em như hạt mưa sa,

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày”.

    16

    (Ca dao)

    – Kiểu A là B

    Ví dụ :

    “Cả một đời lo toan

    Lưng bà giờ như gẫy”

    (Trần Đăng Khoa – Bà Và Cháu)

    – Kiểu so sánh A bao nhiêu B bấy nhiêu.

    Ví dụ:

    “Qua đình ngã nón trông đình,

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”.

    (Ca dao)

    2.2.2. So sánh nổi và so sánh chìm

    So sánh là một biện pháp tu từ tiếng Việt được cấu tạo theo mối quan hệ dựa trên

    cơ sở liên tưởng tương đồng; cho nên, chúng ta dựa trên nét tương đồng này mà phân

    so sánh tu từ ra làm hai loại: so sánh chìm và so sánh nổi.

    2.2.2.1. So sánh chìm

    Là kiểu so sánh mà nét tương đồng không được bộc lộ, thể hiện ra bằng những từ

    ngữ cụ thể. So sánh chìm làm cho những nét tương đồng lẩn khuất bên trong hai vế

    của phép so sánh cho nên người đọc tự tìm ra nét tương đồng ấy. Muốn hiểu được thì

    người đọc phải tư duy, phải liên tưởng, mà đặc biệt là hiểu được đối tượng, để xác

    định mức độ giống nhau một cách chính xác.

    Ví dụ:

    “Còn duyên như tượng tô vàng,

    Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa”.

    (Ca dao)

    “Anh như chỉ gấm thêu cờ,

    Em như rau má lờ mờ giếng khơi”.

    (Ca dao)

    “Tình anh như nước dâng cao,

    Tình em như dãy lụa đào tẩm hương”.

    (Ca dao)

    17

    “Công hoài thai như biển,

    Nghĩa dưỡng dục tựa sông”.

    (Ca dao)

    Nói “công hoài thai như biển” khiến ta liên tưởng đến công ơn sinh thành dưỡng

    dục bao la, rộng lớn, khoan dung hết mực của cha mẹ. Chính điều này làm cho sự liên

    tưởng trong so sánh chìm trở nên phong phú hơn. Nói như tác giả Cù Đình Tú: “Nó

    kích thích sự làm việc của trí tuệ và tình cảm nhiều hơn so sánh nổi”.[tr.276]

    2.2.2.2. So sánh nổi

    Là kiểu so sánh mà nét tương đồng được bộc lộ, được nêu ra ở phép so sánh bằng

    những từ ngữ cụ thể. Trong loại so sánh này thì nét tương đồng của hai vế được bộc lộ

    một cách rõ ràng. Hay nói cách khác, so sánh nổi tác động một cách trực tiếp vào các

    giác quan của con người.

    Ví dụ:

    “Thẳng như ruột ngựa”

    “Ốm như cây tre miễu”

    “Trắng như tiên không phải duyên, anh chẳng tiếc,

    Đen như cục than hầm duyên hợp anh ưng”.

    “Một vũng nước trong, con cá vùng cũng đục,

    Đỏ như cục son tàu, gần mực cũng đen”.

    “Ngỡi nhân nay giận mai hờn,

    Lòng em thẳng cứ như đờn lên dây”.

    1.3. GIÁ TRỊ CHỨC NĂNG CỦA SO SÁNH TU TỪ

    1.3.1. Giá trị của so sánh tu từ

    Tiếng Việt có nhiều biện pháp tu từ khác nhau, ở mỗi biện pháp đều có một giá trị

    riêng. So sánh tu từ là một cách tu từ cho nên nó cũng mang những giá trị chung như các

    biện pháp tu từ khác. Trên thực tế, dù tiếng Việt khá phong phú và đa dạng so với một số

    ngôn ngữ khác trên thế giới nhưng nó cũng có giới hạn nhất định. Trong khi đó, đời sống

    của con người ngày càng phát triển, nhu cầu diễn đạt, bộc lộ tâm tư tình cảm càng cao nên

    nảy sinh ra các dạng thức tu từ làm giàu thêm vốn ngôn ngữ, khiến cách diễn đạt thêm

    phần thuyết phục. Cùng với các biện pháp tu từ khác, so sánh tu từ trở nên vô cùng cần

    thiết cho sự diễn đạt, đối với cùng một đối tượng, ta có nhiều từ ngữ để biểu thị hơn và

    làm cho sự diễn tả trở nên sâu sắc, đa dạng, phong phú, mang nhiều nét nghĩa.

    18

    Ví dụ:

    “Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình”…(1)

    (Lòng Mẹ)

    “Mẹ là nải chuối, buồng cau”… (2)

    (Bông Hồng Cài Áo)

    Khi sử dụng biện pháp so sánh ta có rất nhiều cách để nói về hình ảnh người mẹ.

    Trong lời bài hát (1), thì cách so sánh ” lòng mẹ” như biển “Thái Bình” là một

    cách so sánh độc đáo. Biển chiếm khoảng 70% diện tích bề mặt trái đất, trong tất cả

    các biển thì biển Thái Bình là biển lớn nhất. Từ đó, người nghe có thể thấy được rằng

    tình mẹ hết sức rộng lớn, dường như không gì có thể so sánh được trên trái đất này.

    Cách so sánh ấy làm người nghe có thể suy ra một điều rằng mẹ vừa là cội nguồn, là

    tình yêu thương vừa là sự bao la, dung dị lúc nào cũng như biển cả rộng lớn mở rộng

    vòng tay đón những đứa con vào lòng.

    Lời bài hát (2) là lời người Nam Bộ hết sức mộc mạc, chân tình. Họ không thích

    phô trương tình cảm bằng những đối tượng so sánh cao sang, cầu kì, xa rời thực tế.

    Hình ảnh người mẹ trong bài hát Bông hồng cài áo được ví với “nải chuối”, “buồng

    cau” – những thứ hết sức giản dị và gần gũi với cuộc sống. Chính cách so sánh này đã

    làm cho bài hát dễ đi vào lòng người, êm ái và ngọt ngào bởi những hình ảnh thân

    thuộc của quê hương.

    1.3.2. Chức năng của so sánh tu từ

    So sánh tu từ có hai chức năng chính đó là: chức năng nhận thức và chức

    năng biểu cảm.

    1.3.2.1. Chức năng nhận thức

    Vì so sánh là dựa trên những nét nghĩa tương đồng giữa các đối tượng cho nên

    so sánh tu từ là sự phát hiện, đối chiếu những nét tương đồng ấy. Muốn được như

    thế thì người sử dụng phải có sự nhạy bén trong các giác quan, sự tế nhị trong tâm

    hồn. Từ đó, phát hiện ra những điều mà người khác chưa để ý đến. Vì vậy, chức

    năng nhận thức giúp cho chúng ta hiểu một cách đầy đủ, cặn kẽ những hàm ý ẩn

    chứa bên trong câu chữ.

    Ví dụ:

    ” Trong như tiếng hạc bay qua

    Đục như nước suối mới sa giữa trời

    19

    Tiếng khoan như gió thoảng ngoài

    Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”.

    (Nguyễn Du – Truyện Kiều)

    Bốn câu thơ như là bốn bức tranh, vừa thể hiện cái tài, vừa thể hiện cái tình. Cách

    so sánh mới mẻ, độc đáo, không lẫn vào đâu được. Nguyễn Du đã sử dụng thành thạo

    vốn ngôn ngữ của cha ông và thể hiện rất thành công trong tác phẩm. Chính điều này

    đã giúp tác phẩm trở thành tinh hoa và niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

    1.3.2.2. Chức năng biểu cảm

    Qua các hình ảnh so sánh tu từ, người nói thể hiện ít nhiều tình cảm: yêu, ghét,

    buồn, vui, khen, chê, khinh, trọng… đối với đối tượng và qua đó tác động đến người

    nghe. Chính vì thế so sánh tu từ còn có chức năng biểu cảm. Muốn thấy rõ được chức

    năng biểu cảm thì chúng ta phải khai thác những nét nghĩa hàm ẩn, chứ không chỉ là

    sự liên tưởng đến những nét chung nhất. Ta thử xét một vài ví dụ để minh chứng:

    “Thơ, thơ đong từng ngao nhưng tác bể,

    Là cân nhỏ xíu lại cân đời” (1)

    (Chế Lan Viên)

    “Anh như con một nhà giàu,

    Em như tờ giấy bên Tàu mới sang”. (2)

    (Ca dao)

    Ở câu (2) thông qua những hình ảnh được so sánh, so sánh tu từ đã góp phần tạo

    nên sự đối lập của hai nhân vật “anh” và “em”. Qua đó, bài ca dao bộc lộ quan niệm

    trọng nam khinh nữ vốn rất đè nặng trong xã hội phong kiến. Nhờ vậy chúng ta có thể

    hiểu rõ hơn về thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa, một xã hội mà quan hệ giữa

    nam và nữ có sự bất bình đẳng.

    Chung quy lại, chức năng biểu cảm là chức năng quan trọng nhất. Hiển nhiên,

    một phép so sánh nào cũng chứa đựng một lượng thông tin, từ lượng thông tin ta có

    thể ta có thể nhận ra một ý nghĩa nào đó. So sánh tu từ có chức năng vừa là công cụ

    nhận thức, vừa là phương tiện giúp chúng ta bày tỏ tình cảm, thái độ trước những

    vấn đề của xã hội. Mặt khác, nó còn giúp cho chúng ta tư duy, như lời nhận xét của

    tác giả Lê Đình Tuấn: “Trong tiếng Việt, sánh tu từ được sử dụng nhiều nhất so với

    các phương thức tu từ từ vựng khác: ẩn dụ, nhân hóa, thậm xưng, chơi chữ, phúng

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Vẻ Đẹp Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta Của Trần Đăng Khoa
  • Phân Tích Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta (Lớp 5)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Hai Đứa Trẻ Ngắn Gọn
  • Thời Gian Và Không Gian Được Miêu Tả Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ Như Thế Nào? Ấn Tượng Của Anh/chị Về Cái Bóng Tối Trong Đêm Phố Huyện?
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Hai Đứa Trẻ
  • Bạn đang xem bài viết So Sánh Tu Từ Trong Thơ Trần Đăng Khoa trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100