Xem Nhiều 1/2023 #️ Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 # Top 7 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu – nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề hợp lý…”.

Qua gần 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội góp phần quan trọng bảo đảm ổn định xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; các cơ hội phát triển được mở rộng cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư. Sức mạnh tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục phát triển nhanh, bền vững. Những thành tựu đó chứng tỏ đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp thực tiễn Việt Nam.

Tuy nhiên, chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức về suy thoái kinh tế toàn cầu, về những vấn đề nảy sinh mới của kinh tế thị trường, về chiến tranh thương mại Mỹ – Trung… và những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề; nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao đã tác động trực tiếp đến việc phát triển việc làm bền vững, nâng cao thu nhập cho người lao động, bảo đảm an sinh xã hội cho người dân, nhất là người về hưu, người cao tuổi, người khuyết tật, người nghèo, người yếu thế và người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Hơn nữa, Việt Nam cũng đang phải đối mặt nhiều vấn đề phức tạp như chênh lệch về mức sống gia tăng, nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số, người nghèo đô thị và di cư tự do, chất lượng nguồn nhân lực còn rất hạn chế và việc bảo đảm công bằng, tiến bộ xã hội chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới của đất nước. Điều đó đòi hỏi Đảng ta phải đặt vấn đề về quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là nội dung tất yếu của quá trình đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước trong tình hình mới.

Về phương diện lý luận và nguyên tắc để phát triển xã hội được thể hiện qua việc xây dựng và thực thi các chính sách xã hội. Còn quản lý phát triển xã hội là những hoạt động bảo đảm cho xã hội phát triển theo đúng quy luật của nó và phải đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản, đó là: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, để xã hội hoạt động có kỷ cương và các tổ chức xã hội thực hiện, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thông qua hoạt động giám sát việc thực thi pháp luật và nhân dân thượng tôn pháp luật.

Để thực hiện được những yêu cầu đó phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa quản lý phát triển xã hội, bảo đảm công bằng, tiến bộ và bình đẳng xã hội trong quá trình phát triển của đất nước. Đây là vấn đề rất phức tạp, đan xen nhiều mối quan hệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xét về nội dung, bản chất của quản lý phát triển xã hội là phải thật sự bảo đảm phát triển chất lượng cuộc sống của nhân dân; coi nhân dân là chủ thể phát triển của xã hội và quyền làm chủ đó phải được tôn trọng và bảo vệ. Gia đình là tế bào của xã hội phải hòa thuận, cộng đồng hài hòa; môi trường xã hội an toàn, lành mạnh; con người phát triển toàn diện, có cơ hội được cống hiến và hưởng thụ thành quả của sự phát triển, tiến bộ. Chính vì vậy, mục tiêu quản lý phát triển xã hội là phải thể hiện được tinh thần tự đổi mới, tự hoàn thiện, củng cố, phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Cần nghiên cứu, dự báo sự biến đổi về cơ cấu, các giai tầng trong xã hội để điều chỉnh; tạo sự đồng thuận xã hội thông qua giải pháp tiếp xúc, đối thoại, thương lượng, truyền thông; dân chủ hóa; tăng cường kỷ cương pháp luật và đề cao trách nhiệm của nhân dân là chủ thể phát triển xã hội trong thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Để giải quyết tốt vấn đề quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong những năm tới, cần quan tâm thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Một là, ngày 01/4/2019, tiến hành Tổng điều tra dân số và nhà ở trên phạm vi toàn quốc, cần phải phân tích thông tin chung về dân số, tình trạng di cư, hôn nhân, mức độ sinh – chết và phát triển dân số, tình trạng lao động, việc làm, tình trạng về nhà ở… gắn với việc đánh giá chính xác thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội, sự phân tầng xã hội của nước ta hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp thực hiện quản lý phát triển xã hội có hiệu quả; giải quyết hài hòa các mối quan hệ xã hội, phân hóa giàu nghèo, bảo đảm sự ổn định và phát triển xã hội bền vững nhằm khắc phục từng bước sự mất cân đối về cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư, ngành nghề, giàu nghèo; kiểm soát và xử lý các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội để bảo đảm mọi người dân đều được tự do, bình đẳng về cơ hội và điều kiện phát triển toàn diện. Điều này chỉ có thể thực hiện được khi Nhà nước tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về chính sách xã hội, an sinh xã hội, tạo hành lang pháp lý để kiến tạo mô hình hệ thống an sinh xã hội hiện đại với các chức năng, trụ cột chính là: Phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi ro.

Hai là, để đáp ứng những yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cùng với thị trường lao động sẽ có nhiều biến động, chất lượng cung và cầu lao động có tri thức và kỹ năng hiện đại cũng như cơ cấu lao động cũng thay đổi mạnh mẽ. Đồng thời với việc thay đổi của thị trường lao động là nhiều lĩnh vực công nghệ được tự động hoá thay thế con người sẽ xuất hiện tình trạng thất nghiệp hàng loạt ở tất cả các thị trường lao động, trong đó có Việt Nam, lúc bấy giờ người lao động chắc chắn phải cố gắng tìm mọi cách để thích ứng nhanh với sự thay đổi của sản xuất, nếu không sẽ bị đào thải khỏi thị trường lao động. Do đó, chúng ta phải có chính sách quốc gia về phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao để đáp ứng cho phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Cần chú trọng thực hiện đổi mới toàn diện giáo dục, đào tạo, đáp ứng mục tiêu phát triển toàn diện con người Việt Nam có phẩm chất và năng lực sáng tạo, sẽ tác động mạnh đến sự phát triển xã hội.

Ba là, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội là phải gắn kết chặt chẽ giữa chính sách tăng trưởng kinh tế với chính sách xã hội, phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm cho nhân dân được hưởng thụ ngày một tốt hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới và xây dựng CNXH. Thực hiện các cơ hội bình đẳng để giải quyết tốt vấn đề lao động, việc làm và thu nhập cho người lao động, tạo cơ hội để mọi người được học tập, học nghề, có việc làm và được hưởng tiền lương, thu nhập hợp lý, thỏa đáng; bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; chế độ nghỉ ngơi để đủ điều kiện tái sản xuất mở rộng sức lao động. Chú trọng giải quyết việc làm cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp do việc tích tụ ruộng đất hoặc thu hồi đất phát triển công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng, khuyến khích đầu tư xã hội để tạo mở ra nhiều việc làm.

Cải cách hệ thống chính sách về tiền lương trong đó tiến tới thực hiện mục tiêu tiền lương cơ sở, tiền lương tối thiểu vùng đáp ứng được nhu cầu sống tối thiểu của người lao động; gắn điều chỉnh tiền lương tối thiểu với tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh; đổi mới căn bản, toàn diện chính sách dạy nghề để đạt được “Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%”. Nhà nước phải có chính sách, cơ chế và giải pháp tích cực, hiệu quả để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu: “Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%”, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực có quan hệ lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.

Bốn là, công bằng xã hội là sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của con người trong mọi quan hệ xã hội và thiết chế xã hội, mà cốt lõi là sự bình đẳng về kinh tế, chính trị và pháp luật. Cho nên, cần nghiên cứu hoàn thiện chính sách phân phối và phân phối lại để bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, người lao động và doanh nghiệp. Thực hiện phân phối lại thông qua phúc lợi xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực y tế, giáo dục. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế. Mở rộng chính sách phúc lợi xã hội thành hệ thống chính sách an sinh xã hội đa tầng, đây là nguyện vọng chính đáng của nhân dân và cũng là một trong những chỉ báo quan trọng của một xã hội công bằng, văn minh và chính là mục tiêu và động lực của chủ nghĩa xã hội mà chúng ta phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân ta.

Năm là, bảo đảm tốt an sinh xã hội để mọi người dân có đời sống ấm no, hạnh phúc. Tiếp tục quan tâm nâng mức trợ cấp xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công, điều chỉnh lương của người về hưu có mức lương thấp, đời sống khó khăn; ban hành chuẩn nghèo mới theo phương pháp tiếp cận đa chiều để có cơ sở xây dựng chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững theo hướng tập trung chống tái nghèo và duy trì thành quả giảm nghèo bền vững. Đồng thời, tổ chức tốt hơn việc cung cấp các dịch vụ cơ bản về nhà ở, nước sạch, y tế, giáo dục, thông tin, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Sáu là, coi trọng chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác dân số và phát triển theo hướng bảo đảm công bằng, giảm chênh lệch mới về tiếp cận chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân giữa các địa bàn, các nhóm đối tượng. Đầu tư cho y tế là đầu tư cho phát triển; chuyển từ cơ chế đầu tư tài chính cho cơ sở y tế sang hỗ trợ trực tiếp cho người dân thông qua bảo hiểm y tế và thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân; bảo đảm để mọi người dân có điều kiện tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng; bình đẳng giữa y tế nhà nước và y tế tư nhân; thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực y tế nhưng đồng thời bảo đảm sự quản lý, điều tiết và đầu tư thích hợp của Nhà nước trong lĩnh vực này phù hợp với sự phát triển xã hội; có chính sách hỗ trợ cần thiết về chăm sóc sức khỏe đối với trẻ em, người nghèo, người dân tộc thiểu số, người cao tuổi, người khuyết tật và các đối tượng khó khăn, yếu thế khác.

Tăng cường chất lượng khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế ở tuyến y tế cơ sở; khắc phục tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến trên; cải cách thủ tục trong quản lý bảo hiểm y tế và khám, chữa bệnh; công khai quyền lợi của người có thẻ bảo hiểm y tế; tăng cường y đức; tăng cường quản lý nhà nước, tuyên truyền, giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm vi phạm về trục lợi bảo hiểm y tế đang gây bất bình trong nhân dân. 

Bảy là, để giải quyết tốt vấn đề quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội vì con người và phát huy nhân tố con người, bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, yêu cầu toàn bộ hệ thống chính trị phải vào cuộc và có trách nhiệm thực hiện, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về các chính sách an sinh xã hội và quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

Tăng cường và đổi mới công tác dân vận, thật sự gần dân, sát dân và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển quản lý xã hội. Chú trọng vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội đối với việc ban hành và thực hiện các chính sách xã hội và các chính sách an sinh xã hội phù hợp với các đối tượng trong sự phát triển bền vững của xã hội, góp phần xây dựng đất nước ta giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Tạp Chí Dân Vận Số 7/2015

Công tác dân vận có vị trí, vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Tác phẩm “Dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được coi là cương lĩnh của Đảng về công tác dân vận. Qua các thời kỳ cách mạng, Đảng ta đều có các nghị quyết chuyên đề về dân vận như nghị quyết về đại đoàn kết toàn dân tộc, về công tác dân tộc, tôn giáo, về công nhân, nông dân, trí thức, thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh, doanh nhân, người Việt Nam ở nước ngoài… để định hướng lãnh đạo, chỉ đạo công tác dân vận.

Trong hệ thống các ban chuyên môn của Trung ương Đảng, các cấp ủy đảng, Ban dân vận có vai trò, vị trí quan trọng và được xác định là ban xây dựng Đảng để tham mưu cho Trung ương, cấp ủy các cấp về công tác dân vận của Đảng.

1. Về chức năng của Ban dân vận

Theo Quyết định số 78-QĐ/TW ngày 10/4/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI), Quyết định số 219-QĐ/TW, Quyết định số 220-QĐ/TW ngày 27/12/2013 của Ban Bí thư (khóa XI): Ban Dân vận Trung ương là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, chính sách, giải pháp lớn về công tác dân vận. Ban Dân vận Tỉnh ủy và tương đương, huyện ủy và tương đương là cơ quan tham mưu của cấp ủy, trực tiếp và thường xuyên là Ban thường vụ, Thường trực cấp ủy về công tác dân vận của Đảng, trong đó có công tác dân tộc, công tác tôn giáo; đồng thời Ban dân vận là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác dân vận của cấp ủy.

Như vậy, chức năng chủ yếu của Ban dân vận là vừa tham mưu chủ trương, chính sách vừa tham mưu việc tổ chức, triển khai thực hiện công tác dân vận của Đảng. Hai nội dung này có quan hệ mật thiết với nhau: có tham mưu chủ trương đúng thì tham mưu triển khai tổ chức thực hiện công tác dân vận mới có hiệu quả; ngược lại, có tham mưu biện pháp, giải pháp sát đúng thực tiễn, sáng tạo thì mới tham mưu đưa được chủ trương, chính sách về dân vận vào cuộc sống.

2. Về nhiệm vụ của Ban dân vận

Cũng theo Quyết định số 78-QĐ/TW, ngày 10/4/2012 của Bộ Chính trị, Quyết định 219-QĐ/TW và Quyết định 220-QĐ/TW, ngày 27/12/2013 của Ban Bí thư, thì lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của Ban dân vận các cấp phải thực hiện tốt các nhiệm vụ:

Trước hết là nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu. Đây là nhiệm vụ quan trọng nhất của ban dân vận các cấp, đặc biệt là Ban Dân vận Trung ương.

Nội dung, phạm vi nghiên cứu của ban dân vận các cấp để tham mưu, kiến nghị cho Trung ương, cho cấp ủy là rất rộng lớn. Để nghiên cứu đạt kết quả tốt, ban dân vận phải khảo sát, điều tra, sơ kết, tổng kết thực tiễn, sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, tham khảo kinh nghiệm các địa phương, kể cả nước ngoài, gắn với nghiên cứu lý luận thì mới tham mưu, đề xuất có cơ sở khoa học và thực tiễn.

Trong tình hình mới, sự biến động về số lượng, chất lượng các tầng lớp nhân dân; nhất là những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, bùng nổ thông tin và sự phá hoại của các thế lực thù địch đang hàng ngày, hàng giờ ảnh hưởng đến các tầng lớp nhân dân như giai cấp công nhân, người lao động, đội ngũ trí thức, doanh nhân, thanh niên, phụ nữ… là rất lớn, đòi hỏi sự năng động, nhạy bén trong đánh giá, dự báo để tham mưu cho Trung ương lãnh đạo, chỉ đạo sát đúng, kịp thời, đặc biệt không để xảy ra “điểm nóng”, góp phần quan trọng ổn định chính trị. Nghiên cứu, đề xuất cho Trung ương, cho cấp ủy tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội trong từng giai đoạn cách mạng. Đặc biệt nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân. Đây là mối quan hệ được Đảng ta xác định là mối quan hệ “mật thiết”, mối quan hệ “cá nước”, mối quan hệ “máu thịt”, mối quan hệ sống còn vì Đảng ta từ nhân dân mà ra, vì lợi ích của nhân dân, có dân là có tất cả. Ban dân vận các cấp có nhiệm vụ thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng nghiên cứu, tham mưu, đề xuất cho cấp ủy những biện pháp, giải pháp để củng cố, tăng cường mối quan hệ “máu thịt” này.

Từ trước đến nay, Đảng ta rất quan tâm đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân nhưng để vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, tăng cường quốc phòng – an ninh thì ban dân vận các cấp phải có trách nhiệm tham gia, góp ý với các cơ quan chức năng để tiếp tục kiến nghị, đề xuất với Đảng, Nhà nước thể chế hóa phương châm “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và cơ chế “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành các văn bản quy phạm pháp luật để người dân được làm chủ trên thực tế tốt hơn.

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc, tôn giáo, vì thế nghiên cứu để phát huy văn hóa, truyền thống, để tham mưu xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân là nhiệm vụ rất quan trọng của hệ thống chính trị, trong đó ban dân vận có trách nhiệm chủ yếu.

Một nhiệm vụ được cấp ủy các cấp rất quan tâm là phối hợp theo dõi, tổng hợp tình hình nhân dân như tình hình dân tộc, tôn giáo, các giai tầng xã hội, các vấn đề bức xúc trong nhân dân để báo cáo, tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư (đối với Ban Dân vận Trung ương), cho cấp ủy (đối với ban dân vận các cấp) lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời. Hiện nay, người Việt Nam ở nước ngoài có trên 4,5 triệu người và có xu hướng ngày càng tăng nhanh, đòi hỏi việc tham mưu, tập hợp, vận động để bà con hướng về xây dựng đất nước phải làm tốt hơn. Ban Dân vận Trung ương được Bộ Chính trị giao chủ trì hoặc tham gia, phối hợp nghiên cứu, tham mưu, đề xuất vấn đề này là một nhiệm vụ mới mẻ, nặng nề.

Trên cơ sở làm tốt công tác nghiên cứu để đề xuất đưa mục tiêu, chương trình công tác dân vận vào dự thảo nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, tham mưu, đề xuất giúp cấp ủy ban hành các nghị quyết chuyên đề về công tác vận động quần chúng, đề xuất ban hành các quy định, quy chế, về chương trình công tác dân vận toàn khóa, về kế hoạch kiểm tra hằng năm và sơ kết, tổng kết các nghị quyết, các văn bản của Đảng, Nhà nước về dân vận sau 5 năm, 10 năm…

Về nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra, giám sát

Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận thì nhiệm vụ hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ công tác dân vận cho các cấp, các ngành là rất cần thiết để mọi người hiểu đúng, làm đúng.

Nội dung hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của ban dân vận các cấp chủ yếu là công tác dân tộc, công tác tôn giáo, công tác dân vận của chính quyền, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, hướng dẫn thực hiện hoặc sơ kết, tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, việc quản lý tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội, hội quần chúng… Đi đôi với việc hướng dẫn, phải tăng cường tham mưu cho cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng về dân vận như kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI), các nghị quyết chuyên đề về dân vận, Quyết định 290-QĐ/TW (khóa X), Quyết định 217-QĐ/TW, Quyết định 218-QĐ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI)… Đồng thời tham mưu cho cấp ủy kiểm tra các cơ quan nhà nước trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa các nghị quyết, quyết định của Đảng về công tác dân vận, về phát huy quyền làm chủ của nhân dân….

Để nội dung hướng dẫn ngắn gọn, dễ hiểu, dễ thực hiện thì ban dân vận các cấp phải nắm rất chắc nội dung cần hướng dẫn, đồng thời phải sát thực tế ở địa phương, cơ sở khi ban hành văn bản. Nhiệm vụ kiểm tra, giám sát có chất lượng cao hay thấp tùy thuộc vào xác định nội dung cần kiểm tra, giám sát để tham mưu cho cấp ủy chỉ đạo; đồng thời ban dân vận phải bố trí cán bộ có kiến thức, kinh nghiệm về lĩnh vực đó và tranh thủ ý kiến góp ý của chuyên gia, cán bộ chuyên ngành trước khi thực hiện kiểm tra, giám sát. Nếu thấy cần thiết, phải tham mưu cấp ủy để mời cán bộ có kiến thức, kinh nghiệm về nội dung cần kiểm tra, giám sát tham gia đoàn công tác thì kết quả sẽ tốt hơn.

Về nhiệm vụ thẩm định, thẩm tra

Để nội dung thẩm định, thẩm tra có chất lượng, hiệu quả, kịp tiến độ thời gian mà các tổ chức gửi văn bản thẩm định, thẩm tra đề nghị, ban dân vận các cấp cũng phải phân công chuyên gia, cán bộ am hiểu sâu về lĩnh vực đề án nghiên cứu, tham mưu góp ý cho lãnh đạo ban có ý kiến cuối cùng. Nếu đề án có nội dung khó, ban dân vận các cấp cần tổ chức tọa đàm, hội thảo để lấy ý kiến các chuyên gia, các ngành, đơn vị khác góp ý trước khi phúc đáp.

Về quan hệ với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội của ban dân vận các cấp là mối quan hệ phối hợp, nhưng ban dân vận có nhiệm vụ tham mưu trực tiếp cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư (đối với Ban Dân vận Trung ương), cho cấp ủy (đối với ban dân vận cấp ủy các cấp) để Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Ngoài nhiệm vụ phối hợp trên, Ban Dân vận Trung ương được Bộ Chính trị giao nhiệm vụ “định kỳ 6 tháng tổ chức giao ban công tác dân vận trong khối dân vận Trung ương và ban dân vận các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương”.

Về thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao

Ban Dân vận Trung ương được Bộ Chính trị, Ban Bí thư giao nhiệm vụ là cơ quan thường trực Hội đồng công tác quần chúng Trung ương. Hội đồng có chức năng tư vấn cho Ban Chấp hành Trung ương, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác quần chúng. Đồng thời cũng là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Ban có chức năng tham mưu cho Trung ương về những chủ trương, giải pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở các loại hình cơ sở.

Nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát, thẩm định và phối hợp có mối quan hệ mật thiết với nhau. Thực hiện tốt nhiệm vụ này là tạo điều kiện làm tốt nhiệm vụ kia và ngược lại.

Thước đo đánh giá ban dân vận các cấp là mức độ hoàn thành các nhiệm vụ được giao, là các đề án, các văn bản tham mưu, đề xuất Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, được cấp ủy thông qua, chấp nhận, được cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo hệ thống chính trị, các ngành, các cấp thực hiện.

Để có thể hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, trước hết cán bộ lãnh đạo, chuyên viên công chức, viên chức, người lao động của ban dân vận các cấp phải nỗ lực, phấn đấu, tâm huyết, trách nhiệm với công việc. Đặc biệt, lãnh đạo ban dân vận các cấp, nhất là đồng chí trưởng ban, phải chăm lo xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nghiên cứu chuyên sâu để đội ngũ này vừa nghiên cứu lý luận, vừa tổng kết thực tiễn nhằm tham mưu trực tiếp cho lãnh đạo ban có chất lượng, hiệu quả cao hơn.

Ngoài sự nỗ lực của ban dân vận các cấp, sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của cấp ủy đối với công tác dân vận có ý nghĩa quyết định; Trung ương Đảng, cấp ủy đảng cần tạo điều kiện, tăng cường cho ban dân vận các cấp cả về tổ chức bộ máy, cán bộ, kinh phí, phương tiện hoạt động. Xác định đúng ban dân vận là một ban xây dựng Đảng có chức năng tham mưu chủ yếu về công tác dân vận của Đảng – một nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới. Tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo một số nơi cấp ủy còn thiếu quan tâm công tác dân vận của Đảng.

Nhận thức đầy đủ, sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ của mình theo Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư là tiền đề quan trọng để Ban Dân vận Trung ương và ban dân vận các cấp làm tốt công tác tham mưu cho Đảng trên lĩnh vực quan trọng này.

1. Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI) về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”.

Chức Năng Nhiệm Vụ Của Tạp Chí Dân Tộc

Tạp chí Dân tộc là cơ quan báo chí, đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc giúp Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc ( sau đây gọi là Bộ trưởng, Chủ nhiệm) thực hiện chức năng cơ quan lý luận; thông tin quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; về cộng đồng các dân tộc Việt Nam thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc.

Tạp chí Dân tộc là đơn vị dự toán cấp III, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản riêng và có trụ sở đặt tại thành phố Hà Nội.

Nhiệm vụ và quyền hạn

1. Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm, dài hạn của Tạp chí trình Bộ trưởng, Chủ nhiệm phê duyệt và tổ chức thực hiện.

2. Tổ chức bài viết, biên tập, xuất bản, phát hành Tạp chí Dân tộc, các ấn phẩm, tài liệu chuyên đề nhằm cung cấp nghiên cứu, trao đổi thông tin lý luận và thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nước của Ủy ban Dân tộc; về công tác dân tộc, các quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; về vấn đề dân tộc trong nước và trên thế giới.

3. Biên tập, đăng tải bài viết của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nhà quản lý ở Trung ương và địa phương khẳng định, bảo vệ quan điểm, đường lối, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; đấu tranh phản bác lại những quan điểm, luận điệu sai trái nhằm xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc, phá hoại khối đoàn kết các dân tộc Việt Nam.

4. Lập diễn đàn trao đổi thông tin, nghiên cứu lý luận về lĩnh vực công tác dân tộc, vấn đề dân tộc với bạn đọc trong nước và quốc tế; trao đổi nghiệp vụ nghiên cứu lý luận với các cơ quan thông tấn báo chí, truyền thông đại chúng Trung ương và địa phương; tăng cường giao lưu, hợp tác trao đổi học tập kinh nghiệm với các cơ quan nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước.

5. Tham gia tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học về lĩnh vực công tác dân tộc, chính sách dân tộc; tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật trong nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích cơ quan báo chí; góp phần nâng cao kiến thức, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

6. Chủ trì hoặc phối hợp tham gia tổ chức hội nghị, hội thảo khoa học nhằm trao đổi, nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quản lý và tổ chức thực hiện công tác dân tộc.

8.Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế theo phân cấp của Bộ trưởng, Chủ nhiệm. Thực hiện việc nhận xét, đánh giá, theo dõi việc chấp hành nội quy và hiệu quả công tác của cán bộ, công chức, viên chức, biên tập viên, phóng viên thuộc Tạp chí Dân tộc.

9. Thực hiện các chế độ chính sách tiền lương,thi đua khen thưởng, kỷ luật; quản lý tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật.

10. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Bộ trưởng, Chủ nhiệm giao.

Tạp Chí Tài Nguyên Và Môi Trường

công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng về Bảo vệ môi trường (BVMT) là một nhiệm vụ trọng tâm, then chốt hiện nay. Trong những năm qua, Khoa Kỹ thuật Công binh, Trường Trung cấp Kỹ thuật Công binh thuộc Binh chủng Công binh đã không ngừng đẩy mạnh nhiệm vụ này và đạt được những kết quả quan trọng, đáng ghi nhận.

Nghị quyết 41-NQ/TW ngày 14/4/2004 của Bộ Chính trị về BVMT trong thời kỳ CNH, HĐH và Nghị quyết 16/2007/NĐ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) là tiền đề để Bộ Quốc phòng xây dựng kế hoạch hành động BVMT gắn với nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, phát triển bền vững. Kế hoạch này có một số nội dung cơ bản là: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, tri thức và trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng về BVMT. Trong đó có nội dung quan trọng là: lồng ghép giáo dục về BVMT trong chương trình đào tạo của các nhà trường, cơ sở đào tạo của Bộ Quốc phòng. Chính vì nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác BVMT nên Khoa Kỹ thuật Công binh, Trường Trung cấp Kỹ thuật Công binh đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao công tác BVMT tại đơn vị.

Lãnh đạo Khoa luôn chủ động, dám nghĩ, dám làm, phát động nhiều phong trào thi đua nhằm động viên, khích lệ tinh thần cán bộ trong Khoa giúp nâng cao hiệu quả công tác, chất lượng bài giảng như hưởng ứng phong trào ” Sống và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh“; ” Quân đội với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và khắc phục sự cố môi trường ” năm 2019. Các phong trào này đã được cán bộ trong Khoa hưởng ứng sôi nổi, nhiệt tình.

Các cán bộ Khoa kỹ thuật Công binh nhận thức rõ, BVMT là một trong các trụ cột phát triển bền vững ở nước ta hiện nay. Đây là vấn đề đang được sự quan tâm đặc biệt của cả hệ thống chính trị, mọi cấp, mọi ngành. Đặc biệt, trong quân đội, BVMT được xác định là một trong những vấn đề chiến lược, đã và đang được triển khai một các sâu rộng, toàn diện. Tuy nhiên, để công tác BVMT có được hiệu quả cao thì lãnh đạo Khoa cần đánh giá đúng thực trạng, tính đặc thù của đơn vị. Qua đó sẽ có những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác BVMT tại đơn vị, nơi cán bộ và chiến sĩ đang ngày đêm học tập và công tác.

Ngoài việc cán bộ trong khoa hiểu rõ, BVMT là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi đảng viên thì Khoa cũng thường xuyên biểu dương, khen thưởng những cá nhân có tinh thần trách nhiệm cao, ý thức tự giác trong công tác BVMT, qua đó giúp cho công tác BVMT trong toàn khoa đạt kết quả cao nhất. Lãnh đạo và đảng viên trong khoa luôn là người gương mẫu, đi đầu trong mọi hoạt động, là tấm gương cho cán bộ trong toàn khoa. Mặt khác, tập thể cán bộ trong khoa luôn tham gia đầy đủ các buổi vệ sinh khuôn viên của khoa, xây dựng môi trường làm việc văn hóa, lành mạnh, doanh trại quân đội chính quy, đơn vị xanh, sạch, đẹp, trồng cây trong khuôn viên của trường, khoa cũng cử cán bộ tham gia các phong trào tổng vệ sinh môi trường, dọn dẹp sau bão hoặc mỗi khi có dịch bệnh đối với địa phương nơi đóng quân.

Đạt được những kết quả trên, lãnh đạo Khoa đã có những chỉ đạo quyết liệt, chủ trương đưa công tác BVMT vào trong các Nghị quyết, kế hoạch hoạt động của khoa theo từng tháng, từng quý và coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị. Ví dụ, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ô nhiễm không khí là vấn đề khẩn cấp cho sức khỏe cộng đồng. Trong đó ô nhiễm do khói bụi từ khí thải ô tô, xe máy, khói thuốc lá…ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người. Chính vì hiểu được tác hại của ô nhiễm không khí nên 100% cán bộ, chiến sĩ trong Khoa đã đăng ký không hút thuốc lá nơi cộng cộng, tiến tới bỏ hoàn toàn thuốc lá. Mặt khác, khí thải từ ô tô, xe máy cũng là một tác nhân gây ảnh hưởng đến ô nhiễm không khí, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, do đó, trong giờ làm việc, tất cả cán bộ trong Khoa không đi xe máy, ô tô trong khuôn viên trường, trường hợp đặc biệt phải có ý kiến của lãnh đạo Khoa. Tất cả cán bộ trong Khoa ngay từ đầu năm phải Đăng ký thi đua và cam kết, trong đó lãnh đạo Khoa thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát, nhắc nhở khi có cán bộ vi phạm, tính vào điểm thi đua hằng năm của cá nhân hoặc tổ có cán bộ vi phạm. Trong các cuộc họp toàn khoa, lãnh đạo khoa luôn lồng ghép các nội dung về công tác BVMT, qua đó giúp cho cán bộ trong khoa hiểu rõ về Luật BVMT, đồng thời quán triệt rõ các Chỉ thị của Bộ trưởng về nhiệm vụ BVMT trong Quân đội cho các đối tượng. Về cơ bản, cán bộ trong khoa đã có ý thức tốt về một môi trường xanh, sạch, đẹp và đã có nhiều hành động thiết thực như trồng cây, vệ sinh nơi ăn chốn ở sạch sẽ, quy củ, ngăn nắp, góp phần làm cho môi trường ngày càng tốt hơn. Tuy nhiên công tác BVMT trong đơn vị cũng còn một số hạn chế do nguồn kinh phí hạn hẹp, vấn đề nguồn nước bị ô nhiễm vẫn chưa được khắc phục triệt để.

Trong thời gian tới, để làm tốt hơn nữa công tác BVMT, ứng phó với biến đổi khí hậu và sự cố môi trường, đơn vị cũng đề xuất một số giải pháp, cụ thể như sau:

Một là, cho ban hành thêm một số tài liệu, giáo trình, văn bản cho công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về BVMT cho từng đơn vị đặc thù. Qua đó có căn cứ để đánh giá, xếp loại đảng viên, cán bộ hằng năm.

Hai là, thường xuyên tổ chức các đợt bồi dưỡng, tập huấn, nghiên cứu về Luật môi trường, đồng thời cụ thể hóa các tiêu chí, các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Quân đội về hoạt động BVMT để cán bộ có thói quen, ý thức tốt hơn về nhiệm vụ BVMT cũng như xác định công tác BVMT là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, then chốt của đơn vị.

Ba là, hỗ trợ kinh phí để cải tạo nguồn nước sinh hoạt cho cán bộ trong khoa cũng như toàn trường.

Bốn là, thường xuyên phun thuốc, hóa chất định kỳ để khử trùng, phòng chống dịch bệnh khu vực làm việc, sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn trường.

Năm là, đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, phòng tập đa năng cho cán bộ trong toàn trường nhằm nâng cao thể trạng, sức khỏe cho cán bộ, nhằm đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của nhiệm vụ.

Sáu là, phát động các cuộc thi, sáng kiến về đề tài BVMT trong toàn đơn vị. Hỗ trợ kinh phí cho các sáng kiến, đề tài có tính thực tiễn cao sớm đi vào cuộc sống.

Bảy là, cho thành lập Đội phản ứng nhanh (cơ động) về ứng phó với biến đổi khí hậu và sự cố môi trường trong toàn đơn vị để đảm bảo giảm thiểu, hạn chế tối đa rủi ro khi có sự cố về môi trường xảy ra trong đơn vị.

Quyết Thắng

Bạn đang xem bài viết Tạp Chí Dân Vận Số 7/2019 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!