Xem Nhiều 2/2023 #️ Thu Hút Đầu Tư Vào Nông Nghiệp Nông Thôn # Top 11 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thu Hút Đầu Tư Vào Nông Nghiệp Nông Thôn # Top 11 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thu Hút Đầu Tư Vào Nông Nghiệp Nông Thôn mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Với 316.210 ha đất sản xuất nông nghiệp, phân bổ ở nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, trải dài từ độ cao 200 – 1.500 m so với mực nước biển trên đất Lâm Đồng sẽ là lợi thế để phát triển nông nghiệp, nông thôn, mà bài toán thu hút đầu tư đóng vai trò quan trọng. 

Thu hút đầu tư sản suất nông nghiệp công nghệ cao không chỉ thúc đẩy phát triển nông nghiệp mà còn mở rộng xuất khẩu. Ảnh: H.Sa

Từ nhận diện được điều kiện tự nhiên, diện tích canh tác rộng lớn, có khả năng hình thành các vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng, chất lượng đảm bảo nên thật dễ hiểu khi Lâm Đồng xác định thu hút đầu tư là động lực phát triển nông nghiệp nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Bởi, nếu không thu hút được các nguồn lực vào phát triển nông nghiệp, một bộ phận lớn người dân sống ở nông thôn mà sinh kế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp khó có thể vươn lên làm giàu trên mảnh đất của mình. Để định hướng cũng như hoạch định cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn, Tỉnh ủy Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết 05 về “phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững, hiện đại”. Trong đó đáng chú ý nhấn mạnh đến việc “đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn” nhằm tạo ra nguồn lực lớn cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Điều này không chỉ tạo bước đột phá phát triển nền nông nghiệp của tỉnh mà còn có tính chất quyết định đến việc phát triển mối liên kết sản xuất, thúc đẩy sự gắn kết giữa sản xuất và thị trường, làm cơ sở để hình thành các vùng chuyên canh với nhiều chủng loại cây trồng, vật nuôi chất lượng, phong phú.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng, bên cạnh hai khu công nghiệp Lộc Sơn và Phú Hội với diện tích 359 ha và 10 cụm công nghiệp có tổng diện tích được quy hoạch gần 345 ha, tỉnh đã triển khai thiết lập các khu quy hoạch để thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Các khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao này bao gồm: Ấp Lát và Đạ Đeum tại huyện Lạc Dương với diện tích 518 ha, đi vào hoạt động từ năm 2004; khu quy hoạch nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao của tỉnh với diện tích 221 ha và gần đây là khu quy hoạch nông nghiệp Tân Phú, Đức Trọng có diện tích 323 ha. Bên cạnh đó, hiện nay Lâm Đồng đang tiếp tục quy hoạch thêm 5 khu nông nghiệp công nghệ cao mới tại Đà Lạt và vùng phụ cận với tổng diện tích sử dụng khoảng 1.400 ha. Đúng như tên gọi của các khu quy hoạch trên, Lâm Đồng sẽ ưu tiên thu hút dự án đầu tư cho sản xuất nông nghiệp với hàm lượng ứng dụng công nghệ cao và các dự án đầu tư nhà máy sơ chế, chế biến, bảo quản nông sản. Đồng thời kỳ vọng các doanh nghiệp sẽ trở thành đầu tàu, hạt nhân trong việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, xây dựng những mô hình thiết thực, hiệu quả để chuyển giao cho nông dân, góp phần đẩy mạnh tiêu thụ nông sản cho các vùng sản xuất và hình thành các liên kết sản xuất mang tính bền vững, hiệu quả. Riêng đối với các dự án đầu tư nước ngoài (FDI), Lâm Đồng nhấn mạnh vào yếu tố sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, giống cây trồng, vật nuôi chất lượng, thiết bị canh tác, đầu tư chế biến và xuất khẩu… để mở đường thu hút đầu tư nguồn vốn FDI. Bởi, thông qua hoạt động của các doanh nghiệp FDI, trên thực tế đã giúp cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh có cơ hội đi tắt, đón đầu các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại trên thế giới du nhập và tham gia sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Đánh giá thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn những năm qua, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Lâm Đồng nhận định: Hoạt động thu hút đầu tư của tỉnh đạt được nhiều kết quả quan trọng. Theo đó, tính đến thời điểm này, Lâm Đồng đã thu hút 72 doanh nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp với tổng vốn đăng ký 314,3 triệu USD. Đáng chú ý trong đó có các dự án lớn mà điển hình là Dự án sản xuất giống rau của Tập đoàn tài chính Bejo với mức đầu tư 11,5 triệu USD, đặt ra mục tiêu sản xuất giống rau xuất khẩu lớn nhất Đông Nam Á; hay Dự án nhân giống hoa cao cấp lớn nhất Việt Nam có mức đầu tư lên đến 25 triệu USD của Công ty TNHH Agrivina… Tương tự, nguồn vốn đầu tư trong nước cũng “hội tụ” về Lâm Đồng tham gia thực hiện các dự án phát triển nông nghiệp nông thôn. Hiện có 1.425 doanh nghiệp, trong đó 959 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực trồng trọt, 400 doanh nghiệp đầu tư vào trồng trọt và chăn nuôi, 60 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chăn nuôi trên địa bàn tỉnh. 

Thông qua hoạt động của các dự án đầu tư trong và ngoài nước đã tạo việc làm cho trên 50.000 lao động, đặc biệt hàng năm đóng góp khoảng 18 – 20% GRDP – tổng sản phẩm trên địa bàn của tỉnh. 

Để tạo ra lượng giá trị hàng hóa này, trong thời gian qua các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện đầu tư trên 6.000 tỷ đồng cho sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, chiếm tới 26% tổng nguồn vốn đầu tư của toàn xã hội vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Mặt khác, trong xây dựng nông thôn mới, hàng năm các doanh nghiệp cũng đồng hành cùng chương trình với khoản đầu tư 1.000 tỷ đồng, tương đương khoảng 15% tổng vốn đầu tư cho chương trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh. Trên thực tế “hoạt động của các doanh nghiệp đã đem lại nguồn lực lớn cho phát triển nông nghiệp nông thôn và xây dựng nông thôn mới tại Lâm Đồng” – một lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận xét. 

Tuy nhiên, nếu cần chỉ ra một số hạn chế trong việc thu hút đầu tư vào nông nghiệp nông thôn trong thời gian qua, thật dễ dàng nhìn ra vấn đề tồn tại lây nay đó là thiếu quỹ đất sạch có quy mô lớn, đầu tư cơ sở hạ tầng các khu quy hoạch còn thiếu nguồn lực dẫn tới ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thực hiện các hoạt động thu hút đầu tư. Và để tăng nhanh số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, bên cạnh các hoạt động tiếp tục thu hút đầu tư, Lâm Đồng đề ra giải pháp chú trọng phát triển doanh nghiệp tại chỗ theo hướng phát triển các trang trại, hộ kinh doanh cá thể, hình thành mạng lưới doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ trên địa bàn tỉnh.

http://baolamdong.vn/

HỒ XUÂN TRUNG

Thu Hút Đầu Tư Vào Nông Nghiệp: Giải Pháp Nào?

– Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của nông nghiệp và nông thôn. Những năm qua, tỉnh Thanh Hóa luôn quan tâm, tạo điều kiện, đặc biệt ban hành nhiều chính sách ưu đãi và cơ chế mở cửa cho doanh nghiệp tham gia đầu tư vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, số doanh nghiệp đầu tư vẫn còn khá khiêm tốn, làm thế nào để thu hút là bài toán khó hiện nay.

Thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn nhiều khó khăn. Chính sách ưu đãi lớn nhưng còn nhiều vướng mắc

Song song với các chính sách hỗ trợ của Trung ương, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh, nhiều doanh nghiệp đã có bước đầu tư hiệu quả vào lĩnh vực nông nghiệp.

Nhiều năm qua, Công ty Cổ phần Giống cây trồng Thanh Hóa đã phối hợp với các địa phương trong tỉnh xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn và trình diễn các giống lúa mới, giúp nông dân nâng cao năng suất, giá trị trong nông nghiệp. Việc công ty cung ứng giống, tăng cường liên kết với các địa phương, xây dựng các mô hình trình diễn, mô hình cánh đồng lớn, sẽ tạo điều kiện giúp người nông dân có nhiều cơ hội lựa chọn các giống lúa mới, có năng suất chất lượng cao, đồng thời tăng giá trị thu nhập từ việc tổ chức sản xuất theo quy mô lớn.

Công ty CP Mía đường Lam Sơn đã thực hiện mô hình sản xuất lúa theo công nghệ hữu cơ SRI và SRI2 tại thị trấn Vạn Hà (Thiệu Hóa) với diện tích 100 ha. Đây được xem là mô hình mẫu trong việc thu hút doanh nghiệp đầu tư sản xuất lớn vào lĩnh vực nông nghiệp. Không những được sản xuất theo cánh đồng mẫu lớn, áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, sản xuất theo quy trình nghiêm ngặt, không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đảm bảo môi trường và vệ sinh an toàn thực phẩm, mà còn là mô hình sản xuất theo chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ.

Đến nay số lượng doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn khá khiêm tốn. Cụ thể, tính đến thời điểm này, Thanh Hóa chỉ có khoảng hơn 770 doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm đến 90%. Tại hội nghị UBND tỉnh đối thoại với doanh nghiệp năm 2019, nhiều đại diện các doanh nghiệp cũng đã nêu những khó khăn trong việc hưởng ưu đãi của chính sách, cụ thể là chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn vì trình tự, thủ tục, hồ sơ khá phức tạp.

Theo ông Hồ Sỹ Lương – đại diện hợp pháp Công ty Thương mại Sao Khuê cho biết: “Hiện nay, yếu tố về quỹ đất cũng đang là nguyên nhân lớn đối với các doanh nghiệp khi muốn đầu tư hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Theo đại diện của nhiều doanh nghiệp, đầu tư vào nông nghiệp thì phải cần quỹ đất lớn, tuy nhiên trên địa bàn tỉnh khó tìm được quỹ đất có diện tích liền lên đến 100 ha”.

Thực tế cho thấy, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp chưa hấp dẫn các doanh nghiệp do không thu được lợi nhuận nhanh, quay vòng vốn chậm, việc đầu tư luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh, giá cả, thị trường. Thêm vào đó, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn còn yếu kém, nhất là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, làm hạn chế sức cạnh tranh và thu hút đầu tư; quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún. Bên cạnh đấy, hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách còn nhiều bất cập, các chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.

Giải pháp căn cơ thu hút doanh nghiệp

Năm 2018, sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển ổn định và đạt kết quả khá toàn diện theo hướng sản xuất hàng hóa, tỷ trọng ngành nông, lâm, thủy sản chiếm 12,72% trong tổng GRDP toàn tỉnh; tốc độ tăng trưởng ngành nông, lâm, thủy sản bình quân giai đoạn 2010 – 2019 đạt 2,3%/năm (năm 2018 tăng 2,68%, ước năm 2019 tăng 2,7%). Sản xuất trồng trọt đạt kết quả cao, sản lượng lương thực hàng năm đạt trên 1,6 triệu tấn. Phát triển chăn nuôi đã có sự chuyển biến rõ nét về tổ chức sản xuất, chuyển mạnh sang chăn nuôi tập trung, quy mô lớn, công nghệ cao. Sản xuất thuỷ sản, lâm nghiệp phát triển khá. Kinh tế hợp tác, liên kết trong nông nghiệp được đẩy mạnh. Toàn tỉnh hiện có 637 hợp tác xã nông nghiệp.

Hoạt động của doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã góp phần quyết định vào phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu, tăng thu ngân sách và giải quyết vấn đề việc làm cho lao động trong tỉnh. Cùng với đó, tỉnh Thanh Hóa đã ban hành nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Mặc dù vậy, sản xuất nông nghiệp trong tỉnh vẫn cần được quan tâm hơn nữa, để khắc phục những hạn chế về năng lực cạnh tranh, năng suất lao động, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, hiệu quả đầu tư và khả năng tiêu thụ sản phẩm để thu hút thêm nhiều doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

Để sản xuất nông nghiệp hiệu quả, bền vững, tỉnh Thanh Hóa đang thực hiện Chiến lược phát triển ngành nông nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2016 – 2020, xác định mục tiêu tổng quát là triển khai thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới. Tạo chuyển biến căn bản về quy mô, năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông, lâm, thủy sản mà tỉnh có tiềm năng, lợi thế, có thị trường tiêu thụ trên cơ sở tạo đột phá về tổ chức sản xuất, hình thành các chuỗi giá trị hàng hóa, các thương hiệu sản phẩm có khả năng cạnh tranh trong nước và quốc tế. Đồng thời, tạo bước đột phá về ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đột phá về chất lượng sản phẩm, đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn nhằm đảm bảo tăng trưởng nông nghiệp với tốc độ cao và bền vững.

Tiềm Năng, Cơ Hội Và Định Hướng Giải Pháp Thu Hút Dn Đầu Tư Vào Nông Nghiệp

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước, như chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai; khuyến khích doanh nghiệp liên kết sản xuất với nông dân, gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư xây dựng khu, vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch và các quy định về đầu tư hợp tác công tư (PPP) trong nông nghiệp, nông thôn.

Các chính sách đó được triển khai thực hiện ngay từ khi được ban hành và tiếp tục hoàn thiện theo hướng tạo môi trường ngày càng thuận lợi để khai thác tiểm năng, cơ hội đầu tư nhằm thu hút ngày càng nhiều nguồn vốn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

1. Tiềm năng và cơ hội đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

Một là, Việt Nam là nước có lợi thế cạnh tranh về phát triển nông nghiệp nhiệt đới với điều kiện sinh thái đa dạng, số giờ nắng nhiều, nguồn nước dồi dào, nông dân có kỹ năng, cần cù chịu khó và giá ngày công lao động tương đối thấp. Đây chính là điều kiện tiền đề để các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn tạo ra những bước phát triển vượt bậc trong đảm bảo an ninh lương thực, thúc đẩy sản xuất hàng hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu và tạo ra sự quan tâm của doanh nghiệp đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam đạt mức trung bình 3,5%/năm trong giai đoạn 1986-2017. Nhiều mặt hàng có năng suất cao, chi phí sản xuất thấp, có lợi thế cạnh tranh cao và đang từng bước chiếm lĩnh thị trường thế giới. Năng suất lúa gạo cao nhất trong khu vực Đông Nam Á đạt 5,6 tấn/ha, gần gấp đôi so với Thái Lan và gấp 1,5 lần so với Ấn Độ; năng suất cà phê đạt 2,6 tấn nhân xô/ha, cao gấp 1,5 lần so với Brazil, gấp 3 lần so với Colombia, Indonesia; năng suất hồ tiêu đạt 2,6 tấn/ha, gấp 3 lần so với Indonesia và 1,3 lần của Ấn Độ; năng suất cá tra bình quân đạt 209 tấn/ha, có ao nuôi đạt 300-400 tấn/ha, cao nhất thế giới; năng suất tôm sú đạt 0,45 tấn/ha, tôm thẻ chân trắng đạt 3.91 tấn/ha, cao hơn so với Ấn Độ (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,5 tấn/ha) và Thái Lan (tôm thẻ chân trắng năng suất 3,6 tấn/ha).

Hai là, thị trường trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi cho doanh nghiệp nông nghiệp phát triển. Do quá trình tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số và đô thị hóa, nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm trong nước tăng lên rõ rệt đối với hầu hết các nông sản, từ các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu như lúa gạo, rau quả, thịt lợn đến các sản phẩm có giá trị cao hơn như thịt bò, thủy sản và cả các sản phẩm cao cấp như đồ gỗ nội thất, hoa, cây cảnh, rau quả hữu cơ, dược liệu, sữa… Giai đoạn 2011-2015, thị trường thực phẩm của Việt Nam ngày càng lớn và có tốc độ tăng trưởng cao nhất (15,4%/năm) so với các nước trong khu vực ASEAN (tăng ở mức dưới 10%/năm). Từ nay đến năm 2020, thị trường tiêu dùng thực phẩm của Việt Nam cũng được dự báo tăng trưởng cao nhất so với các nước trong khu vực.

Hội nhập quốc tế mạnh mẽ và việc tham gia các hiệp định thương mại quốc tế, các FTAs giúp Việt Nam phát huy được lợi thế cạnh tranh, mở rộng thị trường, tăng khối lượng xuất khẩu. Tổng kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2013 – 2017 đạt 157,07 tỷ USD, bình quân đạt 31,5 tỷ USD/năm; tính riêng 6 tháng đầu năm 2018 đạt 19,4 tỷ USD, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm 2017[1]. Đã có 10 nhóm mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu từ 1,0 tỷ USD trở lên (trồng trọt: Lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả; thủy sản: Tôm, cá tra; lâm nghiệp: Gỗ và sản phẩm từ gỗ), trong đó có 5 mặt hàng (trồng trọt: Trái cây, hạt điều, cà phê; tôm; đồ gỗ) đạt kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD. Nông sản Việt Nam hiện có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có những thị trường lớn như Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, EU… Xuất khẩu nông sản Việt Nam đứng thứ 2 Đông Nam Á và đứng thứ 13 thế giới. Năng lực cạnh tranh và vị thế của nông nghiệp Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Ba là, nông nghiệp Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển, đặc biệt là phát triển các sản phẩm chế biến, các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và các sản phẩm ứng dụng công nghệ cao. Trình độ khoa học trên thế giới ngày càng phát triển và hội nhập mạnh mẽ cũng tạo cơ hội tốt cho các doanh nghiệp nông nghiệp có thể tăng cường đầu tư nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả. Những công nghệ giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt, giảm chi phí giá thành trong sản xuất; công nghệ chế biến bảo quản ngày càng phát triển giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị hàng nông sản. Ngành chế biến và phân phối hàng nông lâm thủy sản được coi là một trong những ngành có nhiều tiềm năng và dư địa về thị trường để thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Đây là cơ hội cho ngành nông nghiệp tạo thêm nhiều giá trị gia tăng mới, tạo việc làm và nâng cao thu nhập, đời sống cho người dân nông thôn.

Bốn là, cơ chế chính sách và khung pháp lý ngày càng được hoàn thiện, thu hút, tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Thời gian qua, Nhà nước đã xây dựng khung pháp lý ngày một thông thoáng và ban hành nhiều chính sách ưu đãi thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài nước vào nông nghiệp, nông thôn. Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư, Luật Doanh nghiệp sửa đổi, Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bộ Nông nghiệp và PTNT đã xây dựng hoặc tham gia xây dựng, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều chính sách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, như chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn (các Nghị định số: 210/2013/NĐ-CP, 57/2018/NĐ-CP), chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định số 55/2015/NĐ-CP), chính sách bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018), chính sách đầu tư theo hình thức đối tác công tư (các Nghị định số: 15/2015/NĐ-CP, 63/2018/NĐ-CP), chính sách hỗ trợ doanh nghiệp trong hợp tác, liên kết sản xuất quy mô lớn (Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP), chính sách hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp (Quyết định số 68/2013/QĐ-TTg), chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao (theo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: số 1895/QĐ-TTg ngày 17/12/2012, số 575/QĐ-TTg ngày 04/5/2015, số 66/2015/QĐ-TTg ngày 25/12/2015, số 19/2018/QĐ-TTg ngày 19/4/2018 và chính sách khuyến khích hoạt động đổi mới sáng tạo; Chương trình tín dụng khuyến khích phát triển nông nghiệp cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/03/2017 của Chính phủ (“Gói tín dụng 100.000 tỷ”).

Đặc biệt, trong 5 năm 2014 – 2018 Chính phủ đã ban hành 5 Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014, số 19/NQ-CP ngày 12/03/2015, số 19-2016/NQ-CP ngày 28/4/2016, số 19-2017 ngày 06/02/2017, số 19-2018/NQ-CP ngày15/5/2018 về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nghị quyết 35/2015/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ doanh nghiệp đến năm 2020 và gần đây nhất là các Nghị định của Chính phủ: số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 về phát triển ngành nghề nông thôn, số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 về bảo hiểm nông nghiệp, số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 về chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, đã có nhiều ưu đãi, hỗ trợ cho doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Các Nghị định mới tập trung vào các cơ chế chính sách ưu đãi về sử dụng, thuê đất đai, mặt bằng kinh doanh, ưu đãi về thuế, hỗ trợ tín dụng, đào tạo lao động, phát triển thị trường, đầu tư cơ sở hạ tầng đến hàng rào doanh nghiệp, ưu tiên hỗ trợ một số dự án đầu tư vào nông nghiệp nhất là các dự án về liên kết, chế biến sâu, ứng dụng khoa học công nghệ cao. Giảm thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; đẩy mạnh phân cấp về địa phương. Đây là những cơ hội tốt tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khi đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

2. Tình hình thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn

a) Những kết quả chủ yếu

– Về gia tăng số lượng doanh nghiệp nông nghiệp: Thời gian gần đây, ngành nông nghiệp thu hút ngày càng nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn trong nước quan tâm tìm hiểu và đã đầu tư với quy mô lớn, đặc biệt là các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Trong giai đoạn 2005 – 2016 số lượng các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong khu vực nông lâm thủy sản tăng từ 2.217 doanh nghiệp lên 4.400 doanh nghiệp, bình quân tăng 6,4%/năm. Năm 2017, có 1.955 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong lĩnh vực nông nghiệp, đưa số lượng doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đạt trên 5.661 doanh nghiệp. Tính đến Quý II/2018 có khoảng 7.600 doanh nghiệp nông nghiệp; nếu tính cả doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và doanh nghiệp thương mại hàng lương thực thực phẩm, số lượng đã tăng từ 12.113 doanh nghiệp năm 2005 lên 42.000 doanh nghiệp.

Bên cạnh sự tăng lên của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp, một số doanh nghiệp tập đoàn lớn ngoài lĩnh vực nông lâm thủy sản cũng đẩy mạnh đầu tư vào nông nghiệp, như tập đoàn Vingroup, MaSan, Himlam, Viettel, FLC, Hoàng Anh Gia Lai, Pan group… Những đơn vị này cũng áp dụng nhiều quy trình sản xuất hiện đại, áp dụng công nghệ mới và đã cho những kết quả ban đầu khá tốt. Với các dự án đầu tư bài bản, các doanh nghiệp đã bước đầu tạo được hiệu ứng lan tỏa, thu hút thêm nhiều nhà đầu tư mới, thắp lửa tinh thần khởi nghiệp cho nông dân trở thành doanh nhân trên chính mảnh đất của họ.

– Về quy mô vốn và hiệu quả đầu tư: Trong vòng 10 năm (2005-2015), tổng vốn đầu tư vào khu vực nông nghiệp của doanh nghiệp tăng gấp 4 lần (từ mức 44.273,1 tỷ đồng lên mức 231.334 tỷ đồng). Quy mô vốn bình quân trong các doanh nghiệp nông nghiệp trong nước năm 2016 là 35,8 tỷ đồng/doanh nghiệp (vốn bình quân doanh nghiệp cả nước là 72,82 tỷ đồng/doanh nghiệp). Nếu tính riêng doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản là hơn 73,1 tỷ đồng/doanh nghiệp, cao hơn bình quân cả nước và gấp gần 3 lần so với năm 2005.

Mặc dù là ngành chịu nhiều rủi ro về thời tiết, biến đổi khí hậu và thị trường, nhưng các doanh nghiệp nông nghiệp vẫn cho hiệu quả ổn định và có phẩn cao hơn so với các doanh nghiệp khác. Tính toán cho cả giai đoạn đủ dài 2007 – 2015, hiệu suất sinh lợi trên tài sản (ROA), được tính bằng lợi nhuận trước thuế/tổng tài sản của doanh nghiệp nông nghiệp luôn đạt trên 10% so với mức 3,4% của các doanh nghiệp nói chung. Bên cạnh đó, hiệu suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE – được tính bằng lợi nhuận trước thuế/vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nông nghiệp) đạt bình quân trên 15% trong cả giai đoạn 2007 – 2015, mức cao nhất trong tất cả các ngành. Điều này cũng cho thấy nông nghiệp là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và có nhiều doanh nghiệp hoạt động tốt (Báo cáo doanh nghiệp năm 2016 của VCCI).

– Về sử dụng lao động: Sự phát triển của các doanh nghiệp nông nghiệp có vai trò quan trọng và đóng góp nhiều trong việc thúc đẩy sản xuất, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo việc làm cho lao động nông nghiệp, nông thôn và góp phần phát triển kinh tế, ổn định xã hội. Tổng số lao động thường xuyên hiện đang làm việc trong các doanh nghiệp nông nghiệp năm 2017 là hơn 300 nghìn người (chiếm 2,3% tổng số lao động trong khu vực doanh nghiệp cả nước). Bình quân mỗi doanh nghiệp nông nghiệp sử dụng hơn 30 lao động/doanh nghiệp, cao hơn so với số lao động bình quân trong doanh nghiệp chung cả nước (28 lao động/doanh nghiệp).

b) Những tồn tại, hạn chế

– Mặc dù số lượng doanh nghiệp nông nghiệp tăng lên nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ (khoảng trên 1%) trong tổng số các doanh nghiệp của cả nước. Nếu tính thêm cả doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản và doanh nghiệp thương mại các mặt hàng lương thực thực phẩm, số doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm khoảng 8% trong tổng số doanh nghiệp cả nước. Bên cạnh đó, có tới trên 95% số doanh nghiệp nông nghiệp có quy mô vừa và nhỏ đang là thách thức lớn trong nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp.

– Trình độ áp dụng khoa học công nghệ của các doanh nghiệp nông nghiệp còn thấp. Theo báo cáo của VCCI, có tới 75% doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam đang sử dụng máy móc hết khấu hao. Các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ vẫn loay hoay không thể thoát ra được những máy móc có công nghệ lạc hậu 2 – 3 thế hệ.

– Hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp nông nghiệp chưa cao. Theo Tổng cục Thống kê, doanh thu bình quân người lao động trong doanh nghiệp nông nghiệp bằng khoảng 1/5 so với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khác.

– Năng lực liên kết hợp tác và phát triển các chuỗi giá trị của doanh nghiệp nông nghiệp còn hạn chế. Khả năng liên kết với các đối tác, tìm kiếm và tiếp cận thông tin thị trường, các rào cản kỹ thuật, các quy định thương mại quốc tế còn hạn chế. Doanh nghiệp mới chỉ chú trọng đến khâu sản xuất, các khâu chế biến và marketing còn kếu kém. Mối liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân hay các tổ chức đại diện cho nông dân (hợp tác xã/tổ hợp tác) thiếu bền vững, chưa gắn kết được lợi ích và trách nhiệm của các bên với nhau.

3. Một số định hướng giải pháp ưu tiên thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn thời gian tới

Thứ nhất, thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới; trong đó, Bộ Nông nghiệp và PTNT xác định các ưu tiên phát triển ngành theo ba trục sản phẩm chính, bao gồm:

Các sản phẩm chủ lực quốc gia (các sản phẩm có giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD/năm:lúa gạo, cao su, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, sắn, rau quả, tôm, cá tra, gỗ và sản phẩm từ gỗ; các ngành hàng có quy mô thị trường nội địa lớn như thịt lợn, thịt gia cầm). Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô lớn, đóng vai trò hạt nhân, dẫn dắt, phát triển chuỗi giá trị đồng bộ. Tập trung thu hút đầu tư vào các cụm liên kết ngành cấp vùng, gắn với các vùng chuyên canh lớn của các doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (gồm trung tâm nghiên cứu khoa học công nghiệp, tài chính, thương mại, logistic) và các vệ tinh gồm các khu/cụm công nghiệp dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.Các vùng ưu tiên thu hút đầu tư cho các sản phẩm chiến lược này là: lúa gạo ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng đồng bằng sông Cửu Long; cà phê, cao su, hạt tiêu, hạt điều ở vùng Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ; chè ở vùng Trung du, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên; cây ăn quả ở Trung du miền núi Bắc Bộ, đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền trung, Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long); cá da trơn ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tôm và hải sản ở vùng Duyên hải Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ và vùng đồng bằng Sông Cửu Long; gỗ ở miền núi phía Bắc, vùng Duyên hải Trung Bộ và Tây Nguyên.

Chuỗi giá trị các sản phẩm chủ lực cấp tỉnh (như các sản phẩm đủ lớn có tổng giá trị xuất khẩu từ 500 triệu USD/năm). Ưu tiên thu hút doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với sản phẩm có lợi thế của địa phương, tập trung thu hút vào các cụm liên kết ngành cấp tỉnh, gắn với vùng nguyên liệu của doanh nghiệp, kết nối giữa khu hạt nhân của cụm (khu/vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại các tỉnh) và các khu/cụm công nghiệp – dịch vụ hỗ trợ nông nghiệp cấp tỉnh.

Chuỗi giá trị đặc sản địa phương (chuỗi giá trị sản phẩm đặc thù vùng miền) có quy mô nhỏ, gắn với chỉ dẫn địa lý cụ thể, được xây dựng và phát triển cùng với xây dựng nông thôn mới theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm”. Ưu tiên thu hút đầu tư của doanh nghiệp quy mô cực nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, các hợp tác xã, hộ sản xuất kinh doanh đối với các mặt hàng đặc sản của địa phương theo mô hình “Mỗi xã một sản phẩm” (one commune one product – OCOP), gắn với các tiểu vùng có sản phẩm đặc sản vùng miền.

Thứ hai, ưu tiên các doanh nghiệp đầu tư, nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng vào các nhóm lĩnh vực, ngành nghề sau:

– Đầu tư, phát triển vùng sản xuất tập trung trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản.

– Sản xuất, phát triển giống cây trồng, vật nuôi, giống cây lâm nghiệp, giống thủy sản. Sản xuất đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi và thủy sản, chế phẩm sinh học, thuốc thú y chăn nuôi và thủy sản.

– Ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa và các công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản.

– Đầu tư vào lĩnh vực chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản, dược liệu, tinh chế muối; sản xuất máy, thiết bị, chất phụ gia, phụ trợ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, máy chế biến thực phẩm; công nghệ giết mổ, bảo quản chế biến gia súc, gia cầm, tập trung, công nghiệp; sản xuất hàng thủ công; sản phẩm văn hóa, dân tộc truyền thống.

– Thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, nước thải sinh hoạt tại nông thôn; thu gom xử lý chất thải làng nghề; Đầu tư hệ thống cấp nước sạch, thoát nước, công trình thủy lợi và hệ thống tưới tiên tiến, tiết kiệm nước.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, đẩy mạnh cải cách hành chính để thu hút mạnh mẽ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Trong thời gian tới, doanh nghiệp nông nghiệp được coi là lực lượng dẫn dắt các chuỗi giá trị nông nghiệp và tạo hiệu ứng lan tỏa cho phát triển kinh tế – xã hội. Để có thể thu hút và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh trong nông nghiệp, thực hiện tốt các cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp theo các Nghị Định của Chính phủ: số 52/2018/NĐ-CP, số 57/2018/NĐ-CP, số 58/2018/NĐ-CP, số 98/2018/NĐ-CP. Đồng thời, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận có thời hạn lâu dài với đất đai, phù hợp vớicác quyền sử dụng hợp pháp của nhà đầu tư; tăng cường đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư thực hiện các dự án; xây dựng cơ chế khuyến khích mạnh mẽ hơn các nhà đầu tham gia xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn theo nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP). Thực hiện Nghị định 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp cũng sẽ khuyến khích doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân sản xuất trong ngành nông lâm thủy sản chủ động khắc phục và bù đắp thiệt hại về tài chính do các rủi ro xảy ra trong quá trình sản xuất. Các cá nhân, doanh nghiệp tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường được hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp. Bên cạnh đó, Chính phủ tiếp tục hoàn thiện các chính sách nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật nông nghiệp, giúp giảm chi phí đào tạo ban đầu cho các nhà đầu tư, đặc biệt cho các lĩnh vực ưu tiên thu hút đầu tư./.

(Bộ NN&PTNT) Nguồn: http://baochinhphu.vn

Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Công Trình Nông Nghiệp, Nông Thôn Tỉnh Bạc Liêu

Đồng thời, nhóm tác giả tiến hành khảo sát ý kiến chuyên gia để đưa ra giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn ở tỉnh Bạc Liêu.

Trong công tác quản lý đầu tư xây dựng nói chung và lĩnh vực Nông nghiệp và phát triển nông thôn nói riêng, giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thẩm định dự án, thực hiện đầu tư, quản lý tiến độ, chất lượng công trình và nghiệm thu thanh quyết toán hoàn thành công trình là những công việc quan trọng của quản lý đầu tư xây dựng. Tại tỉnh Bạc Liêu, hầu hết các dự án thuộc lĩnh vực Nông nghiệp cơ bản đảm bảo được công năng sử dụng theo yêu cầu thiết kế, không có sai sót lớn về kỹ thuật và phát huy được hiệu quả kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn một số dự án khiếm khuyết về chất lượng hoặc để xảy ra sự cố kỹ thuật, chậm tiến độ gây lãng phí và bức xúc trong dư luận xã hội, làm giảm hiệu quả, mục tiêu đầu tư.

Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu trong quá trình hoạt động nói chung còn tồn tại một số hạn chế như: Lực lượng nhân sự quản lý dự án còn thiếu tính chuyên nghiệp; bản lĩnh; tính độc lập; sáng tạo chưa cao; công nghệ áp dụng chưa hiện đại; hệ thống văn bản pháp quy chưa rõ ràng, chồng chéo; quy trình quản lý chưa được hoàn thiện, chưa thực hiện đúng các quy chế, quy trình quản lý dự án. Quy trình quản lý chưa thực sự phù hợp với thực tế thi công, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai dự án. Vì vậy, vấn đề hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu là vấn đề cần xem trọng.

Công tác quản lý dự án xây dựng các công trình nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bạc Liêu

Giai đoạn 2013 – 2017, Ban Quản lý dự án xây dựng công trình nông nghiệp nông thôn tỉnh Bạc Liêu đã tập trung đẩy mạnh thực hiện những nhiệm vụ được UBND Tỉnh giao, kết quả đạt được khá tích cực. Bộ máy tổ chức của Ban, hoạt động ổn định nề nếp.

Số lượng công trình mà Ban Quản lý dự án xây dựng công trình nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bạc Liêu được giao quản lý trong giai đoạn 2013 – 2017 là 230 công trình (bao gồm các công trình do Ban làm chủ đầu tư và tư vấn cho các chủ đầu tư). Ban đã thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý và sử dụng vốn của Nhà nước để đầu tư xây dựng các công trình trên từng lĩnh vực theo quy định của pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư xây dựng. Việc tổ chức thực hiện dự án từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư đến hoàn thành dự án đưa vào khai thác sử dụng bước đầu được thực hiện nhịp nhàng, bài bản theo đúng các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng.

Quá trình quản lý dự án xây dựng các công trình chưa xảy ra hiện tượng công trình bị chậm tiến độ nghiêm trọng. Ban Quản lý dự án thường xuyên tổ chức họp giao ban với đơn vị thi công, đơn vị tư vấn giám sát để tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện thi công.

Nhìn chung, các dự án đều được đầu tư đúng mục đích, phục vụ đời sống an sinh xã hội. Việc quản lý dự án cho từng công trình cơ bản tuân thủ các quy định của pháp luật về xây dựng cơ bản. Mặc dù, tiến độ thực hiện của một số công trình bị chậm so với kế hoạch của dự án, song vẫn nằm trong khả năng kiểm soát và đã được gấp rút triển khai. Kế hoạch vốn được giao hàng năm cho Ban Quản lý dự án làm chủ đầu tư đều thực hiện giải ngân đạt từ 92% so với kế hoạch cấp trên giao.

Tình hình giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản công trình nông nghiệp

Giai đoạn 2013 – 2017, Ban Quản lý dự án đã thực hiện tốt công tác quản lý dự án, từ khâu lựa chọn tư vấn thiết kế cho đến khâu thẩm tra, thẩm định; lựa chọn nhà thầu thi công; lựa chọn tư vấn giám sát và thanh toán các khối lượng công việc hoàn thành trong 03 giai đoạn đầu tư, từ chuẩn bị dự án, thực hiện dự án và kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng. Các công trình đều đảm bảo tiến độ thi công, đạt chất lượng, đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả đầu tư.

Tồn tại trong khâu khảo sát, lập dự án đầu tư: Chất lượng hồ sơ thiết kế, dự toán còn nhiều hạn chế, thiếu chuẩn xác. Trong công tác thiết kế, còn chưa đưa ra được giải kế phù hợp với điều kiện cụ thể của công trình. Thiết kế dựa vào các số liệu khảo sát chưa chính xác dẫn đến nhiều chi tiết thiếu khả thi, phải thiết kế điều chỉnh, bổ sung, làm chậm tiến độ, gây lãng phí, hiệu quả công trình thấp.

Một số dự án bản vẽ thiết kế thi công chất lượng còn chưa đạt yêu cầu, nhiều chi tiết thiếu kích thước, mặt cắt, quy cách cấu tạo, dự toán lập không chính xác, tính sai khối lượng, áp sai đơn giá và chế độ chính sách làm tăng chi phí đầu tư. Hoạt động giám sát của đơn vị tư vấn chưa nghiêm túc, trách nhiệm chưa cao.

Tồn tại trong khâu thẩm tra dự án: Độ chính xác của công tác thẩm tra chưa cao do chất lượng hồ sơ dự án cũng như thiết kế, tổng dự toán chưa đề cập hết các nội dung của một dự án theo quy định về số liệu khảo sát, nghiên cứu hiện trạng, công tác dự báo… Cơ quan thẩm tra cũng chưa tập trung xem xét kỹ các nội dung của dự án và chủ quan tin tưởng hồ sơ do chủ đầu tư cung cấp và sự giám sát của đơn vị tư vấn, chỉ tập trung vào kiểm tra các thủ tục pháp lý. Điều này dẫn tới tình trạng, nhiều dự án được tư vấn, thẩm tra sơ sài, khi triển khai lại phải điều chỉnh thiết kế – dự toán làm tăng tổng mức đầu tư.

Một số đơn vị tư vấn thẩm tra còn thiếu tinh thần trách nhiệm, trong quá trình thẩm tra không phát hiện ra các sai sót của tư vấn khảo sát thiết kế, dự toán. Khâu đóng dấu thẩm tra không thực hiện kiểm soát hồ sơ dẫn đến còn có những bất hợp lý trong thiết kế, hoặc có sự không thống nhất giữa các bản vẽ và dự toán.

Tồn tại trong khâu triển khai đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thi công: Nhận thức, hiểu biết của những người làm công tác đấu thầu còn chưa đúng, chưa đầy đủ. Việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu không được chỉ dẫn cụ thể, thiếu đào tạo cơ bản, điều này dẫn đến tình trạng lạm dụng quyền để thực hiện các hành vi như gạt bỏ các nhà thầu không mong muốn và tạo cơ hội thắng thầu cho các nhà thầu có chủ định.

Các quy định về điều kiện tiên quyết đối với các nhà thầu được áp dụng một cách tuỳ tiện, dẫn đến tình trạng coi những điều kiện không cơ bản trở thành điều kiện tiên quyết để gạt nhà thầu và ngược lại chuyển điều kiện cơ bản thành điều kiện không tiên quyết để tạo cơ hội cho các nhà thầu không đủ tiêu chuẩn lọt vào danh sách, thậm chí thắng thầu.

Chất lượng nhiều công trình đưa vào sử dụng kém, không mang lại hiệu quả do năng lực nhà thầu yếu: Rất nhiều nhà thầu thi công không thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng thi công về năng lực máy móc thiết bị, khả năng ứng vốn, tiến độ thi công. Nhiều hạng mục thi công không đúng thiết kế được duyệt nhưng vẫn nghiệm thu, thanh toán đúng như bản vẽ thi công được duyệt. Việc lập hồ sơ hoàn công cũng không đúng quy định: ghi nhật ký, lập bản vẽ hoàn công không đúng thực tế thi công (thường lấy bản vẽ thiết kế làm bản vẽ hoàn công).

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án xây dựng công trình nông nghiệp, nông thôn

Để phát huy các kết quả đạt được trong công tác quản lý dự án xây dựng công trình nông nghiệp, nông thôn, khắc phục những tồn tại, hạn chế, thời gian tới, Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng tỉnh Bạc Liêu cần tập trung thực hiện các giải pháp về tổ chức quản lý dự án xây dựng dự án, nâng cao công tác lựa chọn và quản lý nhà thầu thiết kế, công tác thẩm tra dự án, đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thi công… Cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện tổ chức quản lý dự án xây dựng: Cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chuyên môn của Ban Quản lý dự án; nghiên cứu và bố trí cán bộ sao cho đúng chuyên môn nghiệp vụ, có hiệu quả. Đặc biệt, cần tiêu chuẩn hóa cán bộ và tổ chức tốt công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng như xác định chính thức chức danh kỹ sư quản lý dự án để có cơ sở tiêu chuẩn hóa nhân lực. Cán bộ quản lý dự án xây dựng phải có đầy đủ chứng chỉ hành nghề theo quy định. Cần hoàn thiện bộ máy quản lý đồng bộ thống nhất trong việc tổ chức thực hiện dự án và điều hành quản lý dự án. Đây là yêu cầu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển của xã hội.

Để quản lý có hiệu quả, vấn đề chuyên môn hóa bộ máy quản lý là cần thiết, tránh chồng chéo trong công tác quản lý. Các cán bộ quản lý phải có chứng chỉ hành nghề quản lý, có trình độ năng lực chuyên môn phù hợp, có phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt và đặc biệt là am hiểu về pháp luật. Trách nhiệm của từng tổ chuyên môn làm công tác tổ chức và quản lý cần được phân công rõ ràng, thống nhất trong chỉ đạo và hướng dẫn, không để xảy ra tình trạng chồng chéo gây khó khăn cho từng tổ chuyên môn. Đồng thời, cần từng bước thiết lập bộ máy Quản lý dự án chuyên nghiệp và đạt hiệu quả. Đây là giải pháp mang tính tổng hợp, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các tổ chuyên môn trong đơn vị.

Thứ hai, nâng cao công tác lựa chọn và quản lý nhà thầu thiết kế: Cụ thể là cần lựa chọn nhà thầu thiết kế có đủ tư cách pháp nhân, đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ tư vấn thiết kế các dự án theo đúng ngành nghề đã đăng ký; Phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư, trước pháp luật về sản phẩm tư vấn xây dựng mà đơn vị lập ra.

Đồng thời, thay đổi cách tính chi phí thiết kế không theo hướng xác định theo tỷ lệ dự toán công trình để tránh việc nhà thầu tư vấn thiết kế nâng giá công trình để được hưởng chi phí chênh lệch thiết kế, giảm trách nhiệm đối với sản phẩm, gây lãng phí vốn đầu tư và kéo theo nhiều vấn đề tiêu cực khác.

Tư vấn thiết kế khi nhận thiết kế cho công trình hay một dự án yêu cầu phải có ít nhất 3 phương án thiết kế, có giải pháp tối ưu về mặt kỹ thuật và kinh tế để chủ đầu tư chọn một trong các phương án đó. Hồ sơ thiết kế – dự toán công trình phải được cơ quan chuyên môn quản lý nhà nước về xây dựng tổ chức thẩm tra, thẩm định và phê duyệt theo quy định. Đối với các dự án lớn, phức tạp cần mời tư vấn độc lập kiểm tra và phản biện, để có được phương án tối ưu và đạt hiệu quả cao.

Nên có quy định cụ thể tỷ lệ được phép sai sót của tư vấn thiết kế khi lập bản vẽ kỹ thuật và dự toán. Nếu vượt quá tỷ lệ thì phải quy định mức bồi thường cụ thể (có thể bằng với số tiền vượt tỷ lệ). Những đơn vị tư vấn có năng lực yếu kém, đề xuất các cơ quan quản lý nhà nước hoạt động lĩnh vực xây dựng nên mạnh dạn rút giấy phép hành nghề, công bố trên trang thông tin đấu thầu và không cho tham gia các dự án tại địa phương.

Thứ ba, nâng cao công tác thẩm tra dự án: Tổ chức, cá nhân khi tham gia hoạt động thẩm tra phải có đủ điều kiện năng lực phù hợp với công việc thực hiện; có hệ thống quản lý chất lượng và chịu trách nhiệm về chất lượng các công việc do mình thực hiện trước chủ đầu tư và trước pháp luật. Cùng với đó, đầu tư đào tạo và nâng cao trình độ, năng lực của công tác thẩm tra hồ sơ thiết kế. Tuân thủ các quy định của pháp luật về Quản lý dự án đầu tư xây dựng, quản lý chất lượng công trình xây dựng trong quá trình thực hiện công tác thẩm tra. Đặc biệt, cần chú trọng các điểm sau: Đề xuất ứng dụng các các giải pháp thiết kế phù hợp, đảm bảo an toàn, tiết kiệm, tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành; Đảm bảo sự phù hợp giữa khối lượng dự toán và hồ sơ thiết kế; đơn giá định mức công việc so với biện pháp thi công; giá cả vật liệu phù hợp với thị trường và yêu cầu sử dụng để tránh lãng phí, thất thoát trong quá trình triển khai dự án.

Thứ tư, nâng cao chất lượng công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu thi công: Trong công tác lập hồ sơ mời thầu, phải ban hành các tiêu chí rõ ràng, cụ thể và công khai nhằm tránh tình trạng hạn chế số lượng nhà thầu tham gia dự thầu do những tiêu chí đánh giá đưa ra quá cao. Quy định cụ thể hơn nữa tiêu chuẩn đối với thành viên tổ chuyên gia, số lượng chuyên gia xét thầu, đảm bảo quá trình xét thầu, tổ chuyên gia phải độc lập với các nhà thầu.

Ngoài ra, cần có những chế tài cụ thể xử phạt nghiêm minh hiện tượng thông thầu, chống phá giá trong đấu thầu. Đồng thời, gắn với trách nhiệm của chủ đầu tư trong quá trình thực hiện công tác đấu thầu. Đối với các gói thầu có giá trúng thầu thấp hơn giá gói thầu được phê duyệt trên 10%, cần có quy định cụ thể tăng mức tiền bảo lãnh thực hiện hợp đồng để ràng buộc và nâng cao trách nhiệm của nhà thầu trúng thầu và nâng cao chất lượng công trình xây dựng.

Bên cạnh đó, cần rà soát lại tất cả các nhà thầu có năng lực yếu kém, thi công công trình không đạt chất lượng trước đây để có chế tài thích hợp. Đối với những nhà thầu có hình thức gian lận trong đấu thầu như mượn pháp nhân, mượn các nguồn năng lực của nhà thầu khác để tham gia đấu thầu hoặc đấu thầu xong rồi bán thầu… tùy theo mức độ cần có hình thức xử lý thật thích đáng. Nặng thì cấm tham gia hoạt động đấu thầu vĩnh viễn, nhẹ thì cấm tham gia trong 5 năm, đồng thời công khai thông tin về sai phạm đó.

Thứ năm, nâng cao chất lượng công tác giám sát thi công: Các đơn vị tư vấn giảm sát cũng như chủ đầu tư khi phân công cán bộ giám sát phải có sự lựa chọn cá nhân tham gia quản lý giám sát thi công có trách nhiệm, năng lực đúng với chuyên môn, có kinh nghiệm thực tế phong phú, nhanh nhẹn, nhạy bén trong quá trình xử lý công việc, có phẩm chất đạo đức tốt và phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định. Song song đó, cần cử cán bộ của đơn vị mình tham gia các lớp tập huấn nhằm nâng cao kỹ năng giám sát, nắm bắt được các quy định pháp luật mới về giám sát thi công công trình để tổ chức thực hiện đúng. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của dự án.

Thứ sáu, phương hướng hoàn thiện khâu thanh, quyết toán công trình: Thời gian nghiệm thu, thời gian thanh toán phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng giao nhận thầu thi công, vốn đầu tư trong năm phải nghiệm thu xác nhận khối lượng, giá trị thực hiện trong năm làm cơ sở thanh, quyết toán vốn đầu tư năm đó.

Như vậy, mới nâng cao trách nhiệm đối với chủ đầu tư, tránh tình trạng chủ đầu tư không làm thủ tục, gây khó khăn, không nghiệm thu kịp thời cho các nhà thầu. Trường hợp chủ đầu tư không làm hoặc chần chừ trong thực hiện các thủ tục nghiệm thu thanh quyết toán cho nhà thầu khi nhà thầu đủ điều kiện thì phải quy trách nhiệm vật chất cho chủ đầu tư.

Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng theo hướng tăng mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm kỷ luật lập và phê duyệt báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng hoàn thành nhằm chấm dứt tình trạng chậm quyết toán vốn đầu tư đang diễn ra phổ biến hiện nay.

Cụ thể, quy định mức phạt đối với nhà thầu, chủ đầu tư khi lập và gửi báo cáo quyết toán công trình chậm, có thể là 0,2% so với giá trị quyết toán hạng mục công trình, công trình, dự án hoàn thành cho một ngày gửi chậm báo cáo quyết toán vốn đầu tư đến cơ quan thẩm tra.

Đồng thời, chủ đầu tư phải kiểm điểm quy rõ trách nhiệm cá nhân của đơn vị trong việc lập, gửi báo cáo quyết toán chậm và cá nhân đó phải bồi thường để cá nhân đó rút kinh nghiệm trong những công trình sau.

Bên cạnh đó, cần công khai quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, công khai quyết toán. Kho bạc Nhà nước chủ động hướng dẫn các chủ đầu tư hoàn tất các hồ sơ pháp lý để làm cơ sở tạm ứng và kiểm soát thanh toán vốn đầu tư; Niêm yết công khai quy trình kiểm soát thanh toán vốn đầu tư theo hướng dẫn của Bộ Tài chính.

Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25/3/2015 về quản lý chi phí đầu tư xây dựng;

Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng;

Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 về quản lý dự án đầu tư xây dựng;

Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 về quy định quyết toán dự án hoàn thành thuộc vốn nhà nước;

Phạm Phú Cường (2016), “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý dự án chuyên ngành giao thông vận tải”, Tạp chí giao thông vận tải…

Bạn đang xem bài viết Thu Hút Đầu Tư Vào Nông Nghiệp Nông Thôn trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!