Xem Nhiều 12/2022 #️ Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả, Bền Vững / 2023 # Top 13 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 12/2022 # Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả, Bền Vững / 2023 # Top 13 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả, Bền Vững / 2023 mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Quận Nam Từ Liêm:

Năm 2019, toàn quận Nam Từ Liêm có 420 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 0,90%; hộ cận nghèo là 711 hộ, chiếm tỷ lệ 1,53% hộ dân. Một số phường có tỷ lệ hộ nghèo cao như: Tây Mỗ 127 hộ (2,18%), Xuân Phương 37 hộ (1,33%), Phú Đô 29 hộ (1,2%), Mễ Trì 56 hộ (1,02%).

Quận Nam Từ Liêm tổ chức bàn giao nhà Đại đoàn kết cho gia đình ông Nguyễn Thế Thi là hộ nghèo thuộc tổ dân phố số 4, phường Xuân Phương. (Ảnh: Trần Thuý).

Ngoài ra, các đoàn thể còn tặng sổ tiết kiệm và hỗ trợ bằng hiện vật với tổng giá trị hơn 100 triệu đồng; Ngân hàng Chính sách Xã hội cho hội viên vay vốn để giải quyết việc làm cho gần 3.000 lượt hội viên vay với số tiền hơn 50 tỷ đồng.

Trong năm 2019, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, góp phần đảm bảo an sinh và phúc lợi xã hội, quận Nam Từ Liêm đã thực hiện nhiều giải pháp khuyến khích các hộ nghèo tự vươn lên thoát nghèo, giảm nghèo hiệu quả, bền vững.

Cụ thể, quận thực hiện đầy đủ các chế độ chính sách cho hộ nghèo, hộ cận nghèo theo quy định; phấn đấu đến hết năm trên địa bàn quận không còn hộ nghèo (trừ hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội).

Trong nhiều giải pháp đưa ra, Uỷ ban nhân dân quận ưu tiên hỗ trợ hộ nghèo được vay vốn tín dụng ưu đãi làm kinh tế góp phần tăng thu nhập vươn lên thoát nghèo. Đảm bảo 100% hộ nghèo có nhu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đều được vay từ nguồn vốn do Ngân hàng Chính sách Xã hội quản lý với mức lãi suất và mức phí ưu đãi theo qui định.

Bên cạnh đó, quận cũng hỗ trợ học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn là thành viên hộ gia đình nghèo, hộ gặp khó khăn về tài chính (do tai nạn, bệnh tật, hỏa hoạn, thiên tai, dịch bệnh) vay vốn tín dụng ưu đãi tại Ngân hàng Chính sách Xã hội để góp phần trang trải chi phí học tập, sinh hoạt trong thời gian theo học tại trường.

Quận Nam Từ Liêm cũng phối hợp tuyên truyền, thông báo thông tin các phiên giao dịch việc làm tại Trung tâm Dịch vụ việc làm Hà Nội, Điểm giao dịch việc làm vệ tinh đặt tại số 18 Nguyễn Cơ Thạch, phường Cầu Diễn để tạo điều kiện cho người nghèo tìm việc làm, tăng thu nhập.

Cùng với đó là tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia vào quá trình thực hiện công tác giảm nghèo của quận góp phần đảm bảo an sinh xã hội, bằng các hình thức như: Hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo hoặc dạy nghề, tiếp nhận con em hộ nghèo vào làm việc tại doanh nghiệp. Ngoài ra, tổ chức biểu dương, khen thưởng, nhân rộng các gương điển hình làm tốt công tác trợ giúp người nghèo, kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh thoát nghèo, làm giàu với nhiều hình thức đa dạng, phù hợp với hộ nghèo…

Ông Trần Thanh Long – Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, Trưởng Ban chỉ đạo giảm nghèo đánh giá cao nhiều các biện pháp giảm nghèo được đề ra cùng với nỗ lực của 10 phường trên địa bàn quận nhằm hoàn thành mục tiêu thoát nghèo.

Uỷ ban nhân dân quận cũng phối hợp với Uỷ ban nhân dân các phường rà soát số hộ nghèo và cận nghèo, tổ chức các đoàn đi thẩm định kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo của từng phường trên địa bàn. Ông Long cũng yêu cầu các phường thường xuyên nắm bắt tình hình các hộ khó khăn trên địa bàn, xây dựng kế hoạch đến năm 2020 phấn đấu giảm 30% – 50% hộ cận nghèo.

P.B

Nguồn :

Quảng Ninh Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững / 2023

Trong những năm qua, công tác giảm nghèo đã được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo sâu sát, quyết liệt và có sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Hàng năm, UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo và rà soát, điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo để đánh giá kết quả. Song song với đó, Ban Chỉ đạo giảm nghèo bền vững các địa phương thường xuyên được củng cố, kiện toàn, giao nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên phụ trách, giúp đỡ trực tiếp các hộ nghèo trong việc phát triển kinh tế, tạo việc làm, nâng cao thu nhập.

Đồng thời, Ban Chỉ đạo tổ chức giao ban định kỳ đánh giá kết quả thực hiện công tác giảm nghèo, chỉ ra tồn tại, nguyên nhân để kịp thời rút kinh nghiệm và có giải pháp tổ chức thực hiện hiệu quả.

Đồng chí Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh thăm mô hình trồng hoa lan huyện Hoành Bồ.

Công tác giảm nghèo đã được cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp và nhân dân trong toàn tỉnh tích cực tham gia. Các chính sách, dự án về giảm nghèo đã được thực hiện đồng bộ, hiệu quả, phủ rộng trên địa bàn tỉnh; người nghèo ngày càng được tạo điều kiện tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội như: y tế, giáo dục, văn hóa, tín dụng… Bộ mặt nông thôn tiếp tục có nhiều đổi mới, đặc biệt các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng bãi ngang ven biển đã có sự thay đổi mạnh mẽ về cơ sở hạ tầng và việc tổ chức phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Người dân đã biết lựa chọn loại hình sản xuất cây, con chủ lực, gắn với yếu tố thị trường; mạnh dạn hơn trong việc ứng dụng giống mới, công nghệ mới vào sản xuất… góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống.

Từ giai đoạn 2011 – 2015, Quảng Ninh giải quyết việc làm mới bình quân đạt trên 2,7 vạn lao động/năm. Tỷ lệ lao động thất nghiệp khu vực thành thị giảm từ 4,2% năm 2010 xuống còn 1,8% năm 2015; đào tạo nghề cho 21.000 lao động nông thôn, với tổng kinh phí thực hiện trên 100 tỷ đồng. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 7,68% năm 2010 xuống còn 1,55% năm 2015, trung bình cả giai đoạn giảm 1,2%/năm.

Đoàn viên, thanh niên huyện Tiên Yên giúp dân xóa nhà ở tạm.

Ðể tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh và bền vững, thời gian tới, Quảng Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền về công tác giảm nghèo; tổ chức các lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ xã, thôn về thực hiện công tác giảm nghèo; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách, chương trình hỗ trợ hộ nghèo như học nghề, giải quyết việc làm, cho vay ưu đãi giúp hộ nghèo phát triển sản xuất. Ðặc biệt vận động hộ nghèo có các biện pháp khắc phục vươn lên thoát nghèo bằng nội lực của bản thân và sự trợ giúp của Nhà nước, cộng đồng; nhân rộng các mô hình, kinh nghiệm giảm nghèo hiệu quả.

Với những giải pháp thiết thực và đồng bộ, công tác giảm nghèo trên địa bàn tỉnh sẽ đạt được những chỉ tiêu đặt ra, góp phần nâng cao đời sống của nhân dân và thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh ngày càng phát triển.

Quyết tâm cao, giải pháp cụ thể cho công tác thoát nghèo bền vững

Hiện nay, Quảng Ninh là một trong những địa phương trong cả nước làm tốt công giảm nghèo. Phát huy những thành quả đạt được trong 5 năm qua, nhiệm kỳ tới, Quảng Ninh đang đặt quyết tâm giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 0,7%/năm (theo tiêu chí mới).

Để đạt được mục tiêu này, Quảng Ninh đã đề ra các giải pháp quan trọng, trong đó tập trung phát triển kinh tế đi đối với bảo đảm an sinh, phúc lợi và tiến bộ, công bằng xã hội; tập trung cơ cấu lại kinh tế, chuyển đổi phương thức phát triển theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển bền vững.

Nhờ nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước, nhiều hộ dân chăn nuôi lợn ở các xã vùng sâu, vùng xa đã xóa được đói, giảm được nghèo.

Một giải pháp mang tính tổng thể trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo mà Quảng Ninh quan tâm đó là: các cấp, các ngành, hệ thống chính trị trong toàn tỉnh cần tiếp tục quan tâm, xác định đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo.

Bên cạnh đó, các cấp, các ngành trong toàn tỉnh tiếp tục quan tâm hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, từ đó huy động xã hội hóa cho công tác này; đặc biệt, làm cho bản thân người nghèo tự biết vươn lên thoát nghèo là yếu tố quyết định. Đồng thời thực hiện nghiêm quy trình đánh giá hộ nghèo, cận nghèo một cách chính xác, trên cơ sở đó để phân loại người nghèo, xác định rõ nguyên nhân nghèo, từ đó có tác động phù hợp với từng nhóm để tạo hiệu quả thật sự vững chắc.

Cùng với đó, Quảng Ninh đẩy mạnh công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động, đặc biệt lao động vùng sâu, vùng xa, dân tộc miền núi nhằm tạo việc làm tại chỗ, cung ứng lao động cho các khu công nghiệp trong và ngoài tỉnh, tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu lao động…

Một lần nữa có thể khẳng định, chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá của Quảng Ninh trong nhiệm kỳ qua là chặng đường hết sức khẩn trương với những nỗ lực, quyết tâm cao nhất từ Đảng bộ, chính quyền cùng ban, ngành chức năng của tỉnh. Xen kẽ giữa những kết quả đã đạt được trước đó, đây cũng được xem là giai đoạn bản lề để Quảng Ninh hoàn thành các chỉ tiêu trên tất cả các mặt trong một nhiệm kỳ mới. Điều này mang ý nghĩa lớn đó là xét trên góc độ bao quát hơn, chương trình giảm nghèo, tăng hộ khá trên địa bàn tỉnh không đơn thuần hỗ trợ cho đối tượng hộ nghèo mà còn dần nâng tiêu chuẩn cuộc sống cho mọi tầng lớp nhân dân trong toàn tỉnh lên một bước mới./.

Nhiều Giải Pháp Góp Phần Giảm Nghèo Bền Vững / 2023

Theo Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bến Tre Nguyễn Hữu Lập, sau ba năm triển khai thực hiện đề án phát triển đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, nhận thức của cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp trong tỉnh có sự chuyển biến tích cực. Bước đầu, công tác phát triển đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững được xác định là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó có vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp.

Bên cạnh đó, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được tập trung thực hiện, triển khai kịp thời các dự án, chính sách hỗ trợ người nghèo về vốn vay ưu đãi, các mô hình sinh kế, hỗ trợ dạy nghề, giới thiệu việc làm, xuất khẩu lao động; các chính sách trợ giúp của nhà nước về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin thực hiện kịp thời.v.v.. Qua đó, đã tạo điều kiện cho hộ nghèo, hộ cận nghèo phát triển sinh kế, cải thiện các chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, vươn lên thoát nghèo. Theo kết quả rà soát, bình nghị hộ nghèo cuối năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh còn 6,08% (giảm 1,84%), đạt chỉ tiêu NQ năm và Nghị quyết nhiệm kỳ (NQ giảm 1,5%/năm).

Bà Nguyễn Thị Bé Mười, Giám đốc – Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre cho biết: Đề án phát triển đa dạng sinh kế, thoát nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020, sau 03 năm triển khai đã có 15.858 hộ tham gia, đạt 100% so với kế hoạch; có 9.920 hộ tiếp cận vốn vay để thực hiện phát triển sinh kế; triển khai xây dựng 166 mô hình giảm nghèo, cho 1.365 hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia, chủ yếu là phát triển sản xuất chăn nuôi, trồng trọt, trong đó các xã bãi ngang ven biển thực hiện 85 mô hình. Các mô hình kết hợp giữa chăn nuôi, trồng trọt và giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động mang lại hiệu quả cao. Qua đó, năm 2018 trong tổng số 6.800 hộ thoát nghèo toàn tỉnh, có 3.880 hộ tham gia Đề án sinh kế thoát nghèo, trong đó có 2.758 hộ thoát nghèo bền vững.

Sáu tháng đầu năm, công tác giảm nghèo được tập trung thực hiện với nhiều giải pháp, đã triển khai kế hoạch thực hiện công tác giảm nghèo năm 2019; kiểm tra, khảo sát 28 mô hình giảm nghèo; mua bảo hiểm y tế 295.891 người nghèo, người cận nghèo và người dân các xã bãi ngang ven biển ; hỗ trợ vốn vay 12.536 lượt hộ, kinh phí 394,9 tỷ đồng; tổ chức hội nghị triển khai Đề án sinh kế giảm nghèo tại 19 xã điểm với 158 đại biểu tham dự; tổ chức họp mặt, đối thoại người nghèo, nghèo cận nghèo tại 19 xã điểm và 30 xã dự án AMD, với 1.600 đại biểu tham dự. Bà Nguyễn Thị Bé Mười cho hay.

Chính sách đến với hộ nghèo

Ông Nguyễn Hữu Lập cho biết, thời gian tới, ngành chức năng tỉnh Bến Tre thực hiện đa dạng các giải pháp truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi, khơi dậy khát vọng thoát nghèo cho người dân. Cùng với đó, tỉnh thực hiện tốt chính sách dạy nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động và tạo điều kiện cho người nghèo khai thác tối đa nguồn lực hiện có về đất đai, lao động, để tăng thêm thu nhập, giúp họ vươn lên thoát nghèo.

Bên cạnh đó, tỉnh hướng dẫn người nghèo tiếp cận và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn, gắn với việc hướng dẫn và chuyển giao kỹ thuật vào sản xuất; hỗ trợ liên kết, tiêu thụ sản phẩm cho người nghèo.

Từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được Trung ương phân bổ năm 2016-2019, tỉnh đã xây dựng 202 dự án phát triển sản xuất và nhân rộng mô hình giảm nghèo, với 1.511 hộ tham gia. Các mô hình sản xuất gắn với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương và hộ gia đình, như: buôn bán nhỏ, các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu (nuôi bò, dê, dê, dệt thảm, bó chổi…), với tổng kinh phí hơn 24,7 tỷ đồng. Các mô hình giải quyết việc làm tại chỗ cho 1.678 lao động nghèo, tạo điều kiện tăng thu nhập cho hộ nghèo và kiến thức, kỹ năng trong sản xuất, chăn nuôi, trồng trọt của người dân từng bước được nâng lên.

Các hộ nghèo tham gia đề án được nâng cao năng lực về chuyển giao khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất nông nghiệp; hộ nghèo, hộ cận nghèo được bồi dưỡng nâng cao tay nghề theo đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đến nay, 589 hộ nghèo đã được tập huấn chuyển giao kỹ thuật trên lĩnh vực khuyến nông, khuyến ngư và định hướng thị trường, tạo đầu ra tiêu thụ sản phẩm.

Ngoài ra, ngân hàng chính sách xã hội tỉnh đã giải ngân hơn 353 tỷ đồng hỗ trợ cho 12.775 lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo phát triển sản xuất. Đề án còn hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường…

Đáng chú ý, qua 3 năm triển khai thực hiện chương trình khởi nghiệp thoát nghèo, toàn tỉnh có 721 hộ tham gia, trong đó có 198 hộ sản xuất nông nghiệp, 173 hộ sản xuất phi nông nghiệp. Ngoài ra, 549 lao động đã tham gia khởi nghiệp bằng con đường xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, với mức thu nhập bình quân 30 triệu đồng/tháng.

PHA LÊ

Giải Pháp Giảm Nghèo Bền Vững / 2023

1. Giải trình tính cấp thiết của nội dung ý tưởng cần đề xuất:

Trong thời gian qua, công tác giảm nghèo của tỉnh Bắc Giang đã đạt được kết quả khá tích cực, đến năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh còn 7,5%; trung bình, mỗi năm giảm được hơn 2%; ở các xã đặc biệt khó khăn, hộ nghèo giảm gần 5%/năm.

Tuy nhiên theo chuẩn nghèo mới tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và kết quả điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo tỉnh Bắc Giang năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh đã tăng lên gần 14% (60.745 hộ nghèo), tình trạng tái nghèo còn cao, giảm nghèo chưa bền vững. Nếu so sánh tỷ lệ hộ nghèo ở thời điểm năm 2010 (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010) là 10%, thì cho thấy tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Bắc Giang có xu hướng tăng.

Việc nâng chuẩn nghèo cho từng giai đoạn để dần tiệm cận với chuẩn quốc tế là rất cần thiết, nhằm đánh giá đúng mức sống của người dân để có những quyết sách phù hợp, nhưng nếu không có những giải pháp mang tính đột phá, thì chắc chắn số hộ nghèo ngày càng tăng hơn so với giai đoạn trước, do chuẩn nghèo ngày càng nâng cao hơn, mặt bằng mức sống của hộ nghèo là quá thấp, tự mình không đủ khả năng vươn lên thoát nghèo.

Tuy đã có sự hỗ trợ của Nhà nước, tỉnh và huyện nhưng mới chỉ dừng ở mức giúp hộ nghèo đỡ khó khăn hơn. Nguyên nhân chính là thiếu cú huých, tạo điều kiện để hộ nghèo có đủ thực lực, tự bảo đảm cuộc sống, vươn lên thoát nghèo.

2. Nội dung cụ thể của ý tưởng: 2.1. Phân công mỗi tổ chức hội cơ sở của các đoàn thể (Cựu chiến binh, Công đoàn, Thanh viên và Phụ nữ) giúp đỡ một hộ nghèo; đồng thời huy động sự hỗ trợ của cơ quan, tổ chức, đơn vị tạo điều kiện cho tổ chức hội cơ sở tham gia hoạt động giúp đỡ hộ nghèo.

– Toàn tỉnh hiện nay có khoảng 3.000 tổ chức hội cơ sở của 4 đoàn thể trên; thực hiện phân công mỗi tổ chức hội cơ sở giúp đỡ 01 hộ nghèo trong thời hạn 01 năm. Như vậy, mỗi một năm, toàn tỉnh sẽ có 3.000 hộ nghèo được giúp đỡ.

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị có tổ chức hội cơ sở cần tạo mọi điều kiện để tổ chức hội cơ sở của mình tham gia giúp đỡ hộ nghèo; hỗ trợ về xe đi lại, cơ sở vật chất cho hoạt động giúp đỡ hộ nghèo của tổ chức hội cơ sở.

– Mục tiêu đặt ra là trong thời hạn 1 năm, phải giúp đỡ được hộ nghèo có đủ khả năng, điều kiện và thực lực để tự vươn lên thoát nghèo.

2.2. Thực hiện hỗ trợ về trí lực, nhân lực và vật lực nhằm tạo “cú huých” giúp hộ nghèo thoát nghèo bền vững.

– Về trí lực: huy động trí tuệ tập thể của toàn thể đoàn viên, hội viên của tổ chức hội cơ sở, cơ bản đều là những người có trình độ và kinh nghiệm sẽ cùng nghiên cứu, bàn với gia đình hộ nghèo để đưa ra phương án thúc đẩy phát triển kinh tế của hộ nghèo. Tùy theo năng lực của từng thành viên tổ chức hội cơ sở có thể dạy nghề, truyền đạt, cung cấp thông tin các kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi…

– Về nhân lực: thực hiện mỗi tháng toàn thể đoàn viên, hội viên của tổ chức hội cơ sở dành 1 ngày nghỉ cuối tuần để lao động giúp đỡ hộ nghèo, thông qua các hoạt động giúp đỡ sản xuất như: trồng trọt, chăn nuôi…

3. Phương pháp triển khai thực hiện ý tưởng:

– Lựa chọn 01 địa bàn để triển khai, tập trung vào nơi khó khăn nhất như 13 xã nghèo của huyện Lục Ngạn, hiện có 6.644 hộ nghèo hoặc huyện Sơn Động, hiện có 9.665 hộ nghèo; trước mắt triển khai trong năm 2017.

– Sở Lao động, Thương Binh và Xã hội phối hợp với các đoàn thể và các huyện thực hiện phân công phù hợp tổ chức hội cơ sở giúp đỡ 01 hộ nghèo cụ thể, theo hướng tổ chức hội cơ sở ở địa bàn huyện nào thì giúp đỡ hộ nghèo ở địa bàn huyện đó. Riêng các tổ chức hội cơ sở ở các cơ quan Trung ương đóng trên địa bàn và các cơ quan, ban, ngành cấp tỉnh thì phân công xuống giúp đỡ địa bàn đã lựa chọn Lục Ngạn hoặc Sơn Động.

– Các tổ chức đoàn thể cấp tỉnh có kế hoạch triển khai thực hiện; thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra hoạt động giúp đỡ hộ nghèo của các tổ chức hội cơ sở thuộc hội mình; định kỳ có báo cáo kết quả với UBND tỉnh.

– Mỗi năm, dành một phần ngân sách của tỉnh và các nguồn xã hội hóa để hỗ trợ cây, con giống cho các hộ nghèo đã lựa chọn phân công các tổ chức hội giúp đỡ.

– Cuối năm 2017, tổ chức đánh giá tổng kết, rút kinh nghiệm trước khi nhân rộng. Có chế độ khen thưởng xứng đáng đối với các tổ chức hội cơ sở hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giúp đỡ hộ nghèo thoát nghèo.

4. Tính khả thi, khả năng áp dụng và nhân rộng của ý tưởng

Trong điều kiện của tỉnh hiện nay, ý tưởng không khó để thực hiện; có tính khả thi và khả năng áp dụng ở các tỉnh, thành khác. Nếu thực hiện quyết liệt và tập trung từ 3-5 năm vào một địa bàn cụ thể, thì khả năng xóa nghèo bền vững tại địa bàn đó là rất khả thi.

5. Dự kiến hiệu quả của ý tưởng khi triển khai

– Về khoa học: Làm rõ cơ sở khoa học của việc giảm nghèo chưa bền vững; do đầu tư hỗ trợ chưa hiệu quả, mới dừng ở mức giảm bớt khó khăn, chưa phải là tạo thực lực để hộ nghèo có đủ khả năng vươn lên thoát nghèo. Đồng thời, đề xuất được giải pháp giảm nghèo bền vững và khi triển khai thực hiện ý tưởng trên cũng góp phần đổi mới phương thức hoạt động của các tổ chức đoàn thể đi vào thực chất, hiệu quả.

– Về hiệu quả kinh tế: Việc đầu tư nguồn lực của tỉnh cho công tác giảm nghèo hằng năm là rất lớn, nhưng chưa hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo và tái nghèo còn cao. Nếu tập trung thực hiện nhiệm vụ trên, huy động được nguồn lực và xã hội hóa là chủ yếu để giảm nghèo, mỗi năm giảm bền vững thêm từ 2 – 3 nghìn hộ nghèo; nếu so sánh với cách làm cũ thì phải đầu tư từ ngân sách hàng trăm tỷ đồng mỗi năm; đồng thời, kinh tế hộ phát triển, thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

– Về hiệu quả xã hội: Huy động sự vào cuộc của các cấp, các ngành và các đoàn thể trong công tác giảm nghèo, tạo hiệu ứng tốt trong xã hội, góp phần thực hiện vượt chỉ tiêu giảm hộ nghèo mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII đã đặt ra; đồng thời, tăng cường sự gắn bó giữa các cơ quan nhà nước, đoàn thể với nhân dân, tăng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền.

Người đề xuất ý tưởng

Bạn đang xem bài viết Thực Hiện Nhiều Giải Pháp Giảm Nghèo Hiệu Quả, Bền Vững / 2023 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!