Xem Nhiều 2/2023 #️ Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ # Top 7 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ # Top 7 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ tư, 16 Tháng 5 2018 11:46

7063 Lượt xem

(LLCT) – Trong thời kỳ đổi mới, thành phố Cần Thơ đã sớm nhận thức rõ vị thế,tiềm năngvà thế mạnh của địa phươngtrong phát triểndu lịch nên đã tập trungđầu tư phát triển, thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia, tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội của thành phố. Tuy nhiên,bên cạnh những kết quả đạt được thì ngành du lịch Cần Thơ cũng còn không ít những hạn chế, bất cập, đòi hỏi phải có các giải pháp khắc phục đểphát triển một cách bền vững.

1. Thực trạng phát triển du lịch thành phố Cần Thơ những năm qua

Với những lợi thế về vị trí địa lý, tiềm năng du lịch và điều kiện cơ sở hạ tầng, sau 10 năm phát triển (2006 – 2017), du lịch Cần Thơ đã đạt những kết quả quan trọng:

Lượng khách du lịch đến thành phố Cần Thơ không ngừng tăng lên, năm 2017 tăng 2,5 lần so với năm 2010. Thu nhập từ dịch vụ du lịch từng bước được nâng cao, năm 2016 thu nhập từ hoạt động du lịch (HĐDL)thuần túy đạt 1.826 tỷ đồng, tăng 6,7 lần so với năm 2006, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơ cấu kinh tế – xã hội của thành phố Cần Thơ(1).

Tỉnh đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch, tạo động lực phát triển và góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng khu vực và toàn thành phố; tạo được nhiều việc làm, nâng cao đời sống nhân dân và góp phần xóa đói giảm nghèo. Thị trường du lịch ngày càng được mở rộng, sản phẩm du lịch dần được đa dạng hoá và nâng cao chất lượng.

Từ thực tế phát triển du lịch, Cần Thơ xác định phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn và tập trung đầu tư khai thác những tiềm năng du lịch của thành phố để phát huy vai trò trung tâm du lịch vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Hệ thống cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư phát triển đã thúc đẩy sự phát triển HĐDLtrên địa bàn. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như các khu du lịch, các khách sạn nhà hàng, khu vui chơi giải trí… được chú trọng đầu tư, xây dựng tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng các chỉ tiêu phát triển du lịch, góp phần tạo nên diện mạo mới cho thành phố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, du lịch trên địa bàn thành phố Cần Thơ còn những hạn chế, yếu kém sau:

Ngành du lịch Cần Thơchưa phát huy, khai thác hết lợi thế, tiềm năng du lịch của thành phốtrực thuộc Trung ương,thiếu những khu vui chơi giải trí tầm cỡ, hiện đại, những công trình tạo điểm nhấn nhằm thu hút khách du lịch. Sản phẩm du lịch của thành phố còn thiếu tính độc đáo, hấp dẫn, phân bố không đồng đều, chưa phong phú.Dịch vụ du lịch chưa đa dạng, phong phú, một số tuyến, điểm du lịch mới hình thành nhưng chưa bổ sung dịch vụ thu hút du khách.

Kết quả khảo sát thực tế đánh giá về loại hình sản phẩm du lịch cho thấy, các hoạt động vui chơi giải trí, du lịch làng nghề còn hạn chế, tỷ lệ đánh giá tốt chỉ đạt 20,6% và 25,2% tương ứng. Về giá và phí dịch vụ cũng chưa được đánh giá cao, mức độ phù hợp với nhu cầu của du khách, tính cạnh tranh và cung cấp thông tin đầy đủ về giá dịch vụ cho du khách còn thấp(2). Theo khảo sát của tác giả, khách du lịch quốc tế đánh giá về sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, hấp dẫn và hoạt động vui chơi, giải trí ở Cần Thơ, hầu hết đều cho là bình thường hoặc không tốt, chỉ 34% và 32% đánh giá tốt tương ứng từng vấn đề. Đối với du khách trong nước đánh giá về vấn đề này cao hơn (48,5%, 56,5%)(3).

Khảo sát cũng cho thấy, các HĐDLđược du khách yêu thích bao gồm: du lịch sông nước chợ nổi (khách quốc tế: 92%, khách trong nước: 90%); Trải nghiệm cuộc sống người dân (khách quốc tế: 86%, khách trong nước: 62,5%); Thưởng thức ẩm thực địa phương (khách quốc tế: 79%, khách trong nước: 70%); Thăm các di tích lịch sử (khách quốc tế: 74%, khách trong nước: 61%).

Quảng bá xúc tiếnvàtổ chức HĐDLcòn thiếu tính chuyên nghiệp, sức cạnh tranh của doanh nghiệp du lịch (DNDL)còn yếu. Sự liên kết giữa các quận, huyện trong khai thác tuyến, điểm du lịch chưa chặt chẽ. Việc gắn du lịch với các làng nghề truyền thống chưa được quan tâm đúng mức.Qua khảo sát thực tế du khách quốc tế cho thấy, chỉ có 34% là thích thăm quan làng nghề(4).

Đào tạo,bồi dưỡng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu, tỷlệ lao động qua đào tạo chuyên ngành còn thấpso với nhu cầu ngày càng phát triển. Đội ngũ hướng dẫn viêndu lịch của thành phố còn thiếu và yếu về chuyên môn, nghiệp vụ.Các quận, huyện trên địa bàn thành phố gặp khó khăn về nhân sự chuyên trách du lịch và kinh phí HĐDL.Khảo sát thực tế cho thấy, đánh giá của du khách về sự chuyên nghiệp, tận tình và ngoại ngữ của nhân viên: ở mức tốt có tỷ lệ thấp (khách trong nước: 39,5% chuyên nghiệp, tận tình; 21,5% ngoại ngữ. Khách quốc tế: 38% và 23% tương ứng). Qua khảo sát 500 đối tượng, đánh giá ở mức tốt cũng có tỷ lệ thấp: 23% chuyên nghiệp, 7,4% ngoại ngữ.

Ngành du lịch thành phố vẫn còn chậm chuyển biến trong việc thu hút đầu tư vào các dự án lớn, chưa có những dự án quy mô, đột phá.Nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch còn hạn chế, chưa đủ mạnh để thúc đẩy sự phát triển. Việcđầu tư xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của thành phố triển khai còn chậm, nhất là tuyến du lịch đường sông liên quận, huyện, tỉnh, thành,… Môi trường du lịch tuy được cải thiện nhưng một số nơi vẫn còn nhiều bất cập, nhất là vệ sinh môi trường.

2. Một số giải pháp phát triển du lịch thành phố Cần Thơ

Một là, tăng cường đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng du lịch

-Chú trọng đầu tư phát triển các khu, điểm du lịchvà sản phẩm du lịch

Để du lịch Cần Thơ phát triển, trở thành trung tâm du lịch của vùng ĐBSCL, cần phải chú trọng đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, các khu du lịch, tập trung cho các trọng điểm du lịch là giải pháp then chốt.

Xác định hệ thống các khu, điểm du lịch quan trọng nhất, có vị trí chiến lược đối với việc xây dựng hình ảnh và sản phẩm du lịch của Cần Thơ. Đầu tư, phát triển những sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu,phù hợp với tính chất đô thị trung tâm vùng.

Lựa chọn địa điểm để hình thành và phát triển khu vực tập trung phát triển các dịch vụ du lịch để thu hút du khách đến Cần Thơ với vai trò đô thị trung tâm của vùng ĐBSCL. Hình thành khu tập trung thu nhỏ trong đó tái hiện lại mô hình với nét lịch sử, văn hoá, đời sống sinh hoạt của người dân các địa phương trong vùngđể giới thiệu với du khách về các đặc điểm của vùng ĐBSCL.

Phát triển, hình thành khu vực tập trung là đầu mối giao thương, mua bán các đặc sản của các tỉnh trong khu vực ĐBSCL, đầu mối quảng bá, xúc tiến các chương trình, tour du lịch, các sản phẩm du lịch của các địa phương trong vùng. Hình thành đầu mối nông sản của vùngtrên cơ sở phát triển chợ nổi Cái Răng nhằm vừa phát triển vừa tái tạo và bảo tồn được văn hóa chợ nổi Cái Răng.

Phát triển nghệ thuật “Đờn ca tài tử”, di sản văn hóa phi vật thể. Tổ chức điểm phục vụ vừa bảo tồn được loại hình nghệ thuật này, vừa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu, thưởng thức của du khách.

Đầu tư thích hợp hệ thống các công trình văn hóa, thể thao lớn, bao gồm các bảo tàng, nhà hát, rạp chiếu phim, thư viện, công viên, các sân vận động và nhà thi đấu để đa dạng hóa sản phẩm, phát triển du lịch phù hợp với vai trò, vị trí của một đô thị trung tâm vùng.

Phát triển đa dạng các loại sản phẩm du lịch làm tăng thời gian lưu trú và mức chi tiêu của khách du lịch, tăng sự hấp dẫn cho du lịch. Đầu tư các công trình, sản phẩm du lịch để thu hút và giữ chân du khách như: xây dựng khu phức hợp nghỉ dưỡng, khu nghỉ dưỡng sinh thái có các hoạt động vui chơi giải trí, khu trung tâm mua sắm, công viên, quảng trường phục vụ cho hoạt động vui chơi giải trí, các sự kiện lớn của thành phố, khu cắm trại trên các cồn, cù lao, sân golf đẳng cấp quốc tế,…

– Gia tăng nguồn cung khách sạn

Tiếp tục đầu tư phát triển về số lượng và chất lượng hệ thống các cơ sở lưu trú đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du lịch. Đến năm 2020,cần thiết đầu tư xây dựng thêm khách sạn 5 sao, phát triển hệ thống khách sạn 3-4 sao để đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách hạng sang, nhất là khách kinh doanh, công vụ. Trong quá trình phát triển sản phẩm lưu trú du lịch, chính quyền cần có biện pháp tăng cường kỷ cương quản lý nhà nướcnhằm bảo đảm thực hiện đúng quy hoạch, bảo toàn được môi trường thiên nhiên, giữ gìn được bản sắc vănhóađịa phương.Trên góc độ thị trường, thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm xây dựng và duy trì hình ảnh sản phẩm lưu trú du lịch Cần Thơ lànơi nghỉ hấp dẫn và an toàn.

-Thu hút các nguồn lực đầu tư hạ tầng du lịch

Thành lập Quỹ Phát triển du lịch Cần Thơ; Chú trọng chính sách thực hiện xã hội hóa trong công tác đầu tư phát triển du lịch, hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực du lịch; xây dựng cơ chế, chính sách thông thoáng, đơn giản hóa các thủ tục hành chính vềđầu tư các hoạt động kinh doanh du lịch, hạ tầng du lịch; có chính sách ưu đãi tài chính,thuế cho các quận huyện nhằmthu hút đầu tư;tăng cường tính cạnh tranh trong quảng bá cơ hội đầu tư.

Hai là, tăng cường chính sách khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch

Việc khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở kinh doanh du lịch sẽgiúp tăng cường năng lực phục vụ du khách,từ đó làm tăng lượng du khách, thời gian lưu trú và mức chi tiêu.Đặc biệt, để thu hút nguồn vốn trong dân đầu tư phát triển du lịch, phải thể hiện rõ lợi ích người dân sẽ được hưởng khi tham gia trong thực tế hoặc có thể tồn tại được từ các HĐDL.

– Hỗ trợ về thủ tục hành chínhvà các hỗ trợ khác nhằm phát triển du lịch

Cần xây dựng “Trung tâm dịch vụ công”cung cấp các dịch vụ hành chính dành cho doanh nghiệp, người dân và các nhà đầu tư,…Khuyến khích các nhà đầu tư, người dân địa phươngthiết lập quan hệ đối tác và với các đối tác quốc tếtrong lĩnh vực du lịch (nhà hàng, khách sạn, lữ hành, vui chơi giải trí,…) đầu tư vào Cần Thơ.

Hỗtrợ, khuyến khích xây dựng khu tập trung kinh doanh món ăn đường phố của địa phương, dịch vụ dịch thực đơn cho các nhà hàng. Hỗ trợđào tạo hướng dẫn viên du lịch (chương trình đào tạo, cơ sở vật chất kỹ thuật,…). Xây dựng chương trình thanh tra, cấp chứng nhận nhà hàng, chứng nhận các dịch vụ du lịch khác và xây dựng đường dây nóng phục vụ du lịch.

-Hỗ trợ về đất đai và đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch

Kết hợp đa dạng các loại hình, phương thức đào tạo,bồi dưỡng, thu hút nguồn nhân lực để bảo đảm cho HĐDLCần Thơđến năm 2020 có đủ lực lượng lao động theo yêu cầu; tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cơ bản, ngắn hạndành cho các đối tượng lao động phổ thông, dân cư tại các điểm du lịch sinh thái, cộng đồng; hỗ trợ các doanh nghiệp, cơ sởdu lịch tự tổ chức các lớp truyền nghề, đào tạo tại chỗ,…

– Hỗ trợ xúc tiến du lịch

 Xây dựng chiến lược xúc tiến du lịch đến năm 2020, tầm nhìn 2030 với các mục tiêu, định hướng cho từng giai đoạn gắn với thị trường truyền thống và các thị trường có tiềm năng. Xây dựng kế hoạch, chương trình quảng bá, xúc tiến về du lịch hàng năm. Thiếp lập các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan,ban ngành của thành phố trong quảng bá du lịch.Liên kết chặt chẽ với các thành phố lớn và các địa phương trong vùng ĐBSCLđể lên kế hoạch và tổ chức các hoạt động xúc tiến quảng bá. Xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt với các cơ quan quan trọng, đặc biệt là Tổng cục Du lịch Việt Nam, đồng thời đặt gian hàng du lịch tại các địa điểm quan trọng trong và ngoài nước, ví dụ như các phòng du lịch nước ngoài tại các quốc gia thị trường mục tiêu.

Xây dựng hình ảnh du lịch Cần Thơ là một trong những thành phố lớn nhất nằm trực tiếp ngay bên dòng sông Mêkong. Xúc tiến chương trình dán nhãn sinh thái cho sản phẩm, dịch vụ du lịch Cần Thơ, nhãn du lịch bền vững Bông xen xanh.

Xây dựng bản sắc riêng biệt cho thành phố và các quận, huyệncủa Cần Thơ nhằm làm nổi bật giá trị văn hóa, lịch sử và môi trường của thành phốvà mỗi quận, huyện. Khách du lịch sẽ nắm rõ các sản phẩm khác nhau tốt hơn và đáp ứng nhu cầu của họ dễ dàng hơn. Phát triển các sản phẩm du lịch giúp quảng bá các điểm đặc trưng của địa phương (ví dụ, tour du lịch sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, tham quan cùng người dân ở các làng nghề du lịch, hành trình du lịch văn hóa miệt vườn).Đưa những điểm đặc trưng này vào các ấn phẩm quảng bá.

- Hỗ trợ về thông tin du lịch

- Khuyến khích hình thành các hiệp hội, mạng lưới nghề nghiệp

Ba là, đẩy mạnh hình thành và đa dạng các tour du lịch

Cần Thơ là trung tâm vùng ĐBSCL,điểm xuất phát của các tuyến du lịch nội vùng (Cần Thơ – Vĩnh Long – Tiền Giang – Bến Tre – Trà Vinh – Sóc Trăng – Cần Thơ; Cần Thơ – Sóc Trăng – Bạc Liêu – Cà Mau – Hậu Giang – Cần Thơ; Cần Thơ – Cà Mau – Kiên Giang – Cần Thơ ; Cần Thơ – Kiên Giang – An Giang – Đồng Tháp – Vĩnh Long – Cần Thơ). Ngoài ra, Cần Thơ nằm trên tuyến du lịch quốc gia, trục giao thông quốc gia liên vùng và kết nối ĐBSCL với Campuchia và các nước trong tiểu vùng sông Mekong mở rộng qua cửa khẩu Châu Đốc.

Để hình thành và đa dạng các tour du lịch thì giải pháp liên kết, kết nối là một trong những giải pháp then chốt để phát triển du lịch Cần Thơ thành trung tâm du lịch vùng. Liên kết phát triển sẽ có mục tiêu nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của du lịch Cần Thơ cũng như của cả vùng ĐBSCL, nâng cao hiệu quả công tác quảng bá, xúc tiến, góp phần hạn chế những yếu kém, bất cập hiện nay trong công tác xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù của các địa phương cũng như cả vùng.Cần Thơ cần liên kết để hình thành và đa dạng Tour du lịch như sau:

Hình thành các tour du lịch với sự kết hợp đa dạng loại hình di chuyển như đi ô tô, đi thuyền, đi xe đạp, đi xuồng, ghe… trong một chuyến du lịch nhằm tạo sự trải nghiệm,cảm nhận của du khách về sản phẩm du lịch.

Hình thành các tour du lịch với những sản phẩm du lịch tiềm năng chuyên biệt. Liên kết với các địa phương có thế mạnh,vận dụng những cơ sở và đặc thù của các ngành nông nghiệp, thủy sản thế mạnh của vùng ĐBSCL,để xây dựng các tour du lịch kết hợp mớinhưtham quan, tìm hiểu các quy trình đánh bắt, nuôi trồng, các cơ sở chế biển thủy sản nhằm thu hút đượcnhiều nhóm du kháchvà tăng sự đa dạng.

Hình thành các tour du lịch liên kết với các tỉnh trong vùng để phát triển sản phẩmtheo chuyên đề, có sự đơn giản hóa do sự tương đồng về tài nguyên, văn hóa và điều kiện phát triển. Ngoài ra, cách liên kết sản phẩm có thể thực hiện dọc các tuyến du lịch quốc gia, vùng theo các tuyến quốc lộ và các tuyến sông lớn của vùng. Với tính chất khá khác biệt của từng địa phươngtrong vùng ĐBSCL, việc thực hiện liên kết tạo ra sự bổ sung phù hợpvàtạo sức hấp dẫn.

Hình thành các tour du lịch bằng cách liên kết liên vùngnhằm tạo ra nhiều sản phẩm du lịch chuyên đề và tổng hợp khác nhau.Liên kết với Hà Nội, Đà Nẵng,thành phố Hồ Chí Minh,…và miền Đông Nam Bộ (du kháchhầu hết đều tập trung tại các nơi này) để thu hút khách đến Cần Thơ và điều phối khách cho toàn vùng.Sự liên kết này sẽ tạo ra sự kết hợp bổ sung, nhấn mạnh sự khác biệt và tăng tính hấp dẫn của vùng với cácsản phẩm khác nhau. 

Hình thành tour du lịch quốc tế với các liên kết sản phẩm quốc tế.Cần Thơ có thể trở thành tâm du lịch vùng ĐBSCL với sự thuận lợi ngày càng lớn trong giao thông đường bộ giữa các nước trong khu vựcđể hình thànhcác chương trình kết nối bằng đường bộ giữa ĐBSCL, Campuchia, Thái Lan và Myanmar.Có thể hình thành các tour du lịch quốc tế theo đường hàng không và đường thủy trên cơ sở phát huy tiềm năng sân bay quốc tế và cảng biển quốc tế của Cần Thơ. Đâycũng là thuận lợi lớn cho phát triển du lịch ĐBSCL cũng như cho việc phát triển các sản phẩm liên kết với các quốc gia trong khu vực.

Bốn là, đầu tư phát triển hạ tầng giao thôngphục vụ du lịch và bảo vệ môi trường

Tăng cường đầu tư, cải thiện các tuyến đường giao thông qua các tuyến du lịch quan trọng vùng ĐBSCL và Cần Thơ.Đầu tư phát triển các loại hình di chuyển đến Cần Thơ (đường bộ, đường sắt, đường không, đường thủy,…). Tăng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông các tuyến gắn với các điểm, cụm, trung tâm du lịch trên địa bàn Thành phố.Cơ sở hạ tầng giao thôngyếu kém chính là rào cản lớn đối với phát triển du lịch,những dự án nâng cấp giao thông sẽ làm tăng đáng kể khả năng kết nối, thu hút khách du lịch tới Cần Thơ.

Từ Cần Thơ xây dựng các tuyến du lịch đường thủy nội vùng kết nối với các địa phương khác. Tăng cường khai thác tiềm năng của Sân bay quốc tế Cần Thơ, cải thiện cơ sở hạ tầng dịch vụ xe khách, xe buýtvàcó các biện pháp giúp khách du lịch, đặc biệt là khách du lịchphương Tây đi lại bằng xe khách, xe buýt dễ dàng, thuận tiện.Phát triển các tuyến du lịch với các phương tiện đặc thù thân thiện với môi trường (du lịch bằng xe đạp, xe điện…)

Cải thiện công tác quản lý môi trường, rác thải tốt hơn, tăng cường kế hoạch chương trình kiểm tra tình trạng môi trường. Xây dựng chương trình thu gom và xử lý rác thải cho chợ nổi Cái Răng và các khu điểm du lịch.Thực hiện hợp tác công tư trong bảo vệ môi trường, có các chương trình, dự án như cùng với người dân, du khách thực các hoạt động vệ sinh môi trường, vớt rác trên sông, trồng cây xanh,…

(1) Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịchCần Thơ:Báo cáo tổng kết hoạt động du lịch năm 2016, 2017.

(2) Nguồn khảo sát thực tế của tác giả đối với 500 đối tượng, gồm: chuyên gia du lịch, doanh nghiệp du lịch, quan chức, người dân địa phương, đối tượng khác (truyền thông, hướng dẫn viên, lao động tại các doanh nghiệp du lịch,…

(3), (4) Nguồn khảo sát 300 du khách trong nước và quốc tế của tác giả.

ThS Ngô Nguyễn Hiệp Phước

Trường Cao đẳng Cần Thơ

 

Thực Trạng Và Giải Pháp: Phát Triển Du Lịch Đông Nam Bộ

Thực trạng và giải pháp: Phát triển du lịch Đông Nam bộ

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến 2020, tầm nhìn đến năm 2030; trong đó đã xác định Đông Nam Bộ là một trong bảy vùng du lịch phát triển du lịch có vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch cả nước. Vùng Đông Nam Bộ gồm thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh: Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh đây là vùng phát triển kinh tế năng động, dẫn đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, là hạt nhân then chốt của vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.

Thời gian qua, du lịch vùng Đông Nam Bộ đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế – xã hội; tạo nên nhiều công ăn việc làm, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo; củng cố quốc phòng – an ninh trên địa bàn… thể hiện qua các chỉ tiêu cơ bản như  đến năm 2013 đã đón được 4,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 18,8 triệu lượt khách du lịch nội địa; tổng thu từ khách du lịch đạt 65,4 ngàn tỷ đồng (tương đương 3 tỷ USD); tạo ra được 87,9 ngàn lao động trực tiếp và 160 ngàn lao động gián tiếp…    1. Đánh giá tiềm năng, điều kiện phát triển du lịch.    – Tiềm năng về tự nhiên. Vùng Đông Nam Bộ nằm trên vùng đồng bằng và bình nguyên rộng, chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ đến đồng bằng sông Cửu Long; vùng khí hậu cận xích đạo với nền nhiệt độ cao và hầu như ít thay đổi trong năm, các diễn biến thất thường về khí hậu quanh năm rất nhỏ, ít có thiên tai, không quá lạnh, ít ảnh hưởng của bão; là khu vực có các sông lớn và dài với mật độ phân bố tương đối thấp 0,5km/km2, có nhiều hồ lớn và hệ sinh thái rừng đa dạng…thuận lợi cho phát triển du lịch. Tài nguyên biển, đảo: Vùng ĐNB có chiều dài bờ biển gần 180km với thềm lục địa rộng trên 100.000 km2 có các bãi biển đẹp, nước trong tại Bà Rịa-Vũng Tàu; hệ sinh thái đất ngập mặt tại Cần Giờ… Tài nguyên du lịch sinh thái gắn liền với VQG, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn, các khu rừng ngập mặn như: Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, Khu dữ trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ đã được UNESCO công nhận, hệ thống VQG làCát Tiên (Đồng Nai), VQG.Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), VQG.Bù Gia Mập (Bình Phước), VQG.Lò Gò – Xa Mát (Tây Ninh). Tài nguyên du lịch gắn liền với cảnh quan núi có ý nghĩa đối với phát triển du lịch như: Núi Bà Đen (Tây Ninh), còn được công nhận là Quần thể di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng núi Bà; Núi Bà Rá; Núi Dinh; Núi Chứa Chan … Tài nguyên du lịch tự nhiên gắn liền với cảnh quan, hệ sinh thái sông, hồ như: sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai…; hồ Dầu Tiếng; hồ Trị An (Đồng Nai); hồ Thác Mơ (Bình Phước)…    – Tiềm năng về tài nguyên nhân văn. Đông Nam Bộ là vùng địa linh nhân kiệt, nôi của phong trào cách mạng trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm nên đã để lại rất nhiều tài nguyên di tích lịch sử, văn hóa cách mạng, trong đó nhiều di tích lịch sử được công nhận cấp quốc gia đặc biệt gồm: Khu di tích Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh), di tích Dinh Độc Lập (TP.Hồ Chí Minh), di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), di tích lịch sử Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh (huyện Lộc Ninh, Bù Gia Mập – Bình Phước… Các di tích lịch sử – văn hóa, kiến trúc nghệ thuật, khảo cổ: Có 150 loại di tích lịch sử – văn hóa, công trình kiến trúc có giá trị trên địa bàn đã được công nhận cấp quốc gia và địa phương, trong đó có 01 di sản văn hóa phi vật thể được công nhận cấp quốc tế như: Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ nói chung và ĐNB nói riêng được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Quần thể di tích lịch sử, văn hóa và danh thắng núi Bà tại Tây Ninh được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, di chỉ khảo cổ di chỉ văn hóa Óc Eo, Bưng Bạc, Bưng Thơm… tại Bà Rịa – Vũng Tàu.. Lễ hội văn hóa dân gian gồm: Lễ hội, tâm linh và tín ngưỡng của các tôn giáo như: lễ hội Phật Giáo, Thiên chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo…; lễ hội gắn liền với phong tục tập quán của các cộng đồng dân tộc Kinh, Chăm, Hoa, Tà Mun, S’tiêng, Mạ…; lễ hội gắn liền nghề biển như lễ hội Cầu Ngư tại các làng chài ven biển, lễ lên rẫy, lễ vào mùa…, trong đó lễ hội đang thu hút khách du lịch là lễ hội tại Toàn Thánh Cao Đài Tây Ninh, chàu Ông Cậu Bình Dương… Ẩm thực vùng ĐNB được thể hiện qua các món ăn truyền thống như:  bánh canh, báng tráng phơi sương Trảng Bàng (Tây Ninh); ẩm thực biển  (Bà Rịa-Vũng Tàu); gỏi măng cụt Lái Thiêu, bánh bèo bì (Bình Dương), chè bưởi Tân Triều (Đồng Nai), rau rừng Bình Phước. Nghề thủ công truyền thống đang được phục vụ du lịch và thu hút khách là nghề gốm tại xã Tân Vạn, nghề dệt thổ cẩm Tài Lài; tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có nghề đúc đồng xã Anh Nhứt, rượu Hòa Long, bánh cuốn An Ngãi; tỉnh Bình Dương có làng nghề sơn mài Tân Bình Hiệp, nghề gốm Bình Dương; tỉnh Tây Ninh có làng nghề báng tráng phơi sương Trảng Bàng, nghề đồng…    – Điều kiện về hạ tầng, vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Hàng không. Có hệ thống cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất và cảng hàng không nội địa Côn Sơn và Vũng Tàu (Bà Rịa – Vũng Tàu), cảng hàng không Biên Hòa (Đồng Nai). Đường bộ. Vùng có 13 đường quốc lộ kết nối với hệ thống đường quốc gia và quốc tế như đường quốc lộ 22, 22B và 13 nối với Campuchia qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát (Tây Ninh) và Hoa Lư (Bình Phước), đường mòn Hồ Chí Minh; đường bộ nối với các vùng du lịch như: Quốc lộ 1A, 50. N2 nối các tỉnh vùng du lịch Nam Trung Bộ, duyên hải và Tây Nam Bộ, quốc lộ 20, 14, 13, 14C nối với vùng du lịch Tây Nguyên; đường bộ nối các tỉnh, đô thị, các khu vực trong vùng và hệ thống đường đến các khu tuyến điểm du lịch; nói chung tiêu chuẩn kỹ thuật hệ thống giao thông đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Hệ thống đường thủy. Tuyến đường biển nối biển Đông với vùng ĐNB qua Vũng Tàu đến cảng Sài Gòn qua các sông Soài Rạp, Cái Mép, sông Tiền; tuyến đường thủy liên tỉnh; tuyến đường thủy nội vùng trên sông Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông, sông Đồng Nai… thuận lợi cho việc bố trí các tuyến điểm du lịch cho khách tham quan du lịch. Đường sắt và nhà ga.Tuyến đường sắt quốc gia đi qua các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương và TP.Hồ Chí Minh với chiều dài 110km có 13 nhà ga đạt tiêu chuẩn để phục vụ hành khách và khách du lịch.    2. Hiện trạng phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ.    2.1. Hiện trạng về khách du lịch Nguồn khách đến tham quan vùng phụ thuộc rất nhiều số lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh là do chúng tôi là đầu mối giao thông  và tập trung các hãng lữ hành quốc tế, TP.Hồ Chí Minh là địa điểm thu hút khách du lịch quốc tế đến tham quan và TP.Vũng Tàu là nơi khách du lịch nội địa chọn nghỉ dưỡng biển. Sau đây, phân tích một số chỉ tiêu khách du lịch. Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch toàn vùng giai đoạn 2000 – 2013 đạt 11,2%, trong đó tăng trưởng khách du lịch quốc tế là 10,4%, khách du lịch nội địa là 11,4%;  năm 2000 đón được 5,9 triệu lượt khách, đến năm 2013 đạt 23,3 triệu lượt khách Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch quốc tế giai đoạn 2000 – 2013 đạt 10,4%; năm 2000 đón được 1,2 triệu lượt khách, đến năm 2013 đón được 4,5 triệu lượt khách tăng gấp 4 lần so với đầu; Cụ thể: du lịch TP.Hồ Chí Minh đón được hơn 4,009 triệu lượt khách quốc tế chiếm 89% số lượt khách Vùng, du lịch Bà Rịa – Vũng Tàu đón được 380 ngàn lượt khách, du lịch Bình Dương đón được 54 ngàn lượt khách và du lịch Đồng Nai đón được 50 ngàn lượt khách… Phân tích thành phần khách đến: về độ tuổi thì số lượng khách du lịch có độ tuổi cao chiếm ưu thế vào các thị trường khách các nước Châu Âu và Châu Mỹ; phân tích điểm xuất phát thì khách từ các nước Châu Á và vùng lãnh thổ có số lượng khách cao nhất. Phân tích cửa khẩu và phương tiện nhập cảnh: Cửa khẩu quốc tế sân bay Tân Sơn Nhất chiếm đến 76% lượng khách du lịch quốc tế đến vùng ĐNB, các cửa khẩu đường bộ Mộc Bài, Xa Mát (Tây Ninh) chiếm 12% lượng khách; ngoài ra, khách đến vùng ĐNB qua các cửa khẩu quốc tế của các vùng du lịch khác hoặc thông qua hệ thống đường bộ, đường sắt, tàu biển góp phần quan trọng tăng số lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh và trên địa bàn. Tốc độ tăng trưởng trung bình khách du lịch nội địa giai đoạn đạt 11,4%, cụ thể: năm 2000 lượt khách đến đạt 4,5 triệu lượt khách, đến năm 2013 khách đến Vùng đạt 18,8 triệu lượt khách. Đặc điểm thị trường khách du lịch nội địa đến vùng ĐNB chủ yếu là khách du lịch nghỉ dưỡng kết hợp tham quan các điểm du lịch gắn liền với di tích lịch sử cách mạng, di tích văn hóa tại TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh. Sản phẩm du lịch lễ hội gắn với tâm linh thu hút khách du lịch nội địa vào dịp nghỉ lễ tết, ngày lễ của các dân tộc, tôn giáo như: lễ hội chùa Bà (Tây Ninh), chùa Thái Sơn-Núi Cậu (Bình Dương.    Về ngày lưu trú trung bình và ngày khách Tốc độ tăng trưởng bình quân về ngày lưu trú đối với khách du lịch quốc tế trong giai đoạn là 0,4%/năm; năm có ngày lưu trú trung bình cao nhất là 2,36 ngày/khách; năm 2013 đạt 2,32 ngày/khách, đạt 10.464 ngàn ngày khách; năm thấp nhất là 1,89 ngày/khách (2003). Tốc độ tăng trưởng bình quân về ngày lưu trú đối với khách du lịch nội địa trong giai đoạn là 2,5%/năm; năm có ngày lưu trú trung bình cao nhất là 1,83 ngày/khách; năm 2013 có ngày lưu trú trung bình là 1,80 ngày/khách, đạt 33.844 ngàn ngày khách; năm thấp nhất là 1,30 ngày/khách (2000). Chi tiêu bình quân của khách du lịch và tổng thu từ khách du lịch Đối với khách du lịch quốc tế từ 80 – 130USD/ngày khách, đối với khách du lịch nội địa từ 25 – 55 USD. Tổng thu từ khách du lịch. Từ ngày khách và mức chi tiêu trên cho thấy tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 23%, mức tăng dần trong các năm, từ năm đầu kỳ nghiên cứu đạt 4 ngàn tỷ đồng, đến năm cuối kỳ 2013 đạt mức 65,3 ngàn tỷ đồng, trong đó tổng thu từ khách du lịch tại TP.Hồ Chí Minh chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Vùng với chiếm 94% tổng thu từ khách du lịch toàn vùng đạt gần 61,2 ngàn tỷ đồng trong năm 2013. Cơ cấu thu từ khách du lịch bị chi phối bởi thu từ khách du lịch của TP.Hồ Chí Minh nơi tập trung số lượng khách du lịch lớn nhất nước, dịch vụ lưu trú có xu hướng tăng dần trong các năm đạt 12-15%/năm và chiếm 50-58% chi tiêu trung bình của khách, dịch vụ ăn uống nhà hàng chiếm 20-28%; doanh thu từ kinh doanh lữ hành chiếm 14-21%; còn lại là kinh doanh vận chuyển, vui chơi giải trí, mua sắm…, đối với dịch vụ vui chơi giải trí (VCGT) có xu hướng giảm.    2.2. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở lưu trú. Tốc độ tăng trưởng trung bình số lượng cơ sở lưu trú đạt 11,73%/năm, mức tăng đều trong các năm và đến năm 2013 tổng số cơ sở trên địa bàn có 3.624 cơ sở; tốc độ tăng trưởng trung bình về buồng đạt 9,64%/năm và đến 2013 có 72 ngàn buồng, mức tăng giảm không đều trong các năm, nhiều cơ sở có số lượng phòng dưới 20 buồng/01 cơ sở. Theo địa bàn thì TP.Hồ Chí Minh có 1.980 cơ sở chiếm 54% số lượng cơ sở, với 45,95 ngàn buồng chiếm 63% về số lượng buồng; tiếp đến Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây Ninh và Bình Phước. Về chất lượng buồng từ 1-5 sao có 1.098 cơ sở, chiếm 30% số lượng cơ sở hiện có với 36.984 buồng, chiếm 51% số lượng buồng trong vùng. Phân loại chất lượng sao: loại 01 sao có 746 cơ sở, chiếm 68% số cơ sở được phân loại với 12.430 buồng; loại 2 sao có 231 cơ sở, chiếm 21% với 8.870 buồng; loại 3 sao có 92 cơ sở, chiếm 8,4% số cơ sở được phân loại với 6.952 buồng; loại 4 sao có 31 cơ sở với 6.952 buồng; loại 5 sao có 18 cơ sở, chiếm 1,6% số cơ sở được phân loại với 4.856 buồng. Công suất sử dụng buồng tại TP.Hồ Chí Minh, TP.Vũng Tàu đạt cao nhất trên 65%/năm, một số tỉnh Bình Phước, Tây Ninh có công suất sử dụng buồng hạn chế 30-32%. Tính chung toàn vùng chỉ đạt 52%. Dịch vụ ăn uống. Cơ sở đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Các cơ sở này đều ở các trung tâm du lịch, thường có 02 loại cơ bản là các cơ sở nhà hàng ăn uống trong các khách sạn từ 3 sao trở lên tại các thành phố, thị xã, tại quận 1,3,5 (TP.Hồ Chí Minh); Bãi Trước, Bãi Sau (TP.Vũng Tàu); TP.Biên Hòa (Đồng Nai); TP.Thủ Dầu Một (Bình Dương)… Cơ sở nhà hàng ăn uống đạt tiêu chuẩn trung bình (bình dân) có số lượng đạt nhiều nhất trong vùng, chủ yếu phục vụ khách nội địa có số lượng đông, chất lượng sản phẩm ở mức trung bình. Dịch vụ vui chơi giải trí. Tập trung tại các bãi biển; trên sông nước, hồ; tại các công viên, VQG, khu bảo tồn; trong các cơ sở lưu trú…tại TP. Hồ Chí Minh: Khu công viên văn hóa Đầm Sen tại Q.1; Khu du lịch Văn hóa Suối Tiên tại Q.9; Khu du lịch sinh thái Vàm Sát tại Cần Giờ; Bình Dương: Khu du lịch Văn hiến Đại Nam; Tây Ninh: Các dịch vụ vui chơi giải trí tại khu du lịch núi Bà Đen, khu du lịch Long Điền Sơn, khu văn hóa thể thao Thiên Sơn…    2.3. Lao động ngành du lịch Tốc độ tăng trưởng lao động trực tiếp đạt 21,9%, với 87,9 ngàn lao động (2013); TP. Hồ Chí Minh có mức tăng trưởng nhanh nhất đạt 32% với 59 ngàn lao động chiếm 68% lao động trong Vùng; Đồng Nai đạt 23,9% với 7,3 ngàn lao động; tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có mức tăng trưởng đạt thấp là 13% do đã có quá trình phát triển các năm trước  với số lượng lao động đến năm 2013 là 15 ngàn lao động đứng thứ 2 sau TP. Hồ Chí Minh. Về lao động gián tiếp cung cấp sản phẩm du lịch trên địa bàn ước khoảng 160 ngàn lao động của các ngành. Cơ cấu lao động trực tiếptrong các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú và nhà hàng chiếm trên 58-62% lao động toàn ngành, doanh nghiệp vận chuyển chiếm 15%; doanh nghiệp lữ hành chiếm 8%; doanh nghiệp dịch vụ vui chơi giải trí có tỷ lệ thấp nhất. Về chất lượng đội ngũ lao động trên địa bàn không đều, TP.Hồ Chí Minh và Vũng Tàu có chất lượng tương đối cao còn các khu vực khác còn thấp.   3. Thực trạng thị trường khách và sản phẩm du lịch Thị trường khách du lịch quốc tế bị chi phối bởi cơ cấu thị trường khách du lịch tại TP.Hồ Chí Minh thông qua đường hàng không qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chiếm đến 68%, đường tàu biển khoảng 3-6%, tiếp đến chi phối bởi cơ cấu thị trường khách du lịch đường bộ qua cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát (Tây Ninh) khoảng 15-20%, ngoài ra đường bộ và đường sắt chiếm 2-5%. Lượng khách đến TP.Hồ Chí Minh, sau đó đi tham quan các điểm du lịch chiếm 85-88% số lượng khách quốc tế, còn lại 15-20% khách du lịch đến các tỉnh trong Vùng, sau đó đi du lịch đến các tỉnh còn lại. Nguồn khách du lịch quốc tế đến từ các nước thuộc Châu Á, Bắc Mỹ, Châu Âu và một số nước ở Châu Đại Dương chiếm đến 55% lượng khách, cụ thể: Từ các nước và vùng lãnh thổ như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Công chiếm tỷ trọng lớn chiếm 26,3%;  thị trường Mỹ và Canada (Bắc Mỹ) chiếm tỷ trọng từ 8-11%;  thị trườngh Úc, NewZealand (Châu Đại Dương) chiếm từ 5-6%; thị trường các ASEAN chiếm từ 7-12% thị trường khách du lịch TP.Hồ Chí Minh, trong đó khách Malaysia, Singapore, Brunây chiếm từ 8-9% thị phần, khách Thái Lan có xu hướng giảm. Thị trường khách du lịch nội địa nội vùng chiếm tỷ trọng nhiều nhất, ngoài ra khách từ các vùng du lịch khác lân cận và các tỉnh phía bắc. Sản phẩm du lịch đặc trưng chính là sản phẩm du lịch MICE gắn với các đô thị, du lịch văn hóa lịch sử, du lịch nghỉ dưỡng biển, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề; sản phẩm du lịch gắn liền với tham quan các công trình văn hóa, các di tích lịch sử; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên biển, đảo, suối nước nóng thu hút khách đi du lịch nghỉ; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên hệ sinh thái tại các VQG, KBTTN; sản phẩm du lịch gắn liền với tài nguyên văn hóa phi vật thể như: tâm linh, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội của các dân tộc, tôn giáo Hạn chế và nguyên nhân phát triển du lịch – Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch là 11,2%/năm, mức tăng trưởng này cao nhất nước nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và điều kiện của vùng; tỷ trọng khách du lịch quốc tế còn thấp, chiếm 17% tổng số lượt khách. – Số ngày lưu trú trên địa bàn thấp dẫn đến tổng thu từ khách du lịch không cao. – Thị trường khách du lịch không ổn định, số lượng khách du lịch chủ yếu tập trung ở địa bàn TP.Hồ Chí Minh; các tỉnh khác chưa có thị trường tiềm năng về khách du lịch quốc tế. – Sản phẩm du lịch trên địa bàn còn trùng lặp, đơn điệu gây ra nhàm chán cho khách du lịch; chất lượng sản phẩm du lịch không cao chưa đủ sức hút khách du lịch và cạnh tranh với sản phẩm du lịch trong khu vực. Sản phẩm là dịch vụ vui chơi giải trí tại nhiều tỉnh chưa chưa được đầu tư xây dựng nên mức độ lôi kéo khách du lịch kéo dài ngày tham quan trên địa bàn rất hạn chế, chưa có sản phẩm du lịch nào mang thương hiệu cho du lịch Vùng. – Công tác đầu tư vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm, trọng điểm nên chưa định hình được khu điểm du lịch có đầy đủ các yếu tố cần thiết cho việc  thu hút khách du lịch. Một số khu, điểm du lịch có tiềm năng tài nguyên du lịch nổi trội chưa định hướng đầu tư và ưu tiên đầu tư rõ rệt nên sản phẩm du lịch này vẫn dưới dạng tiềm năng. – Công tác quy hoạch chi tiết một số khu du lịch trên địa bàn tỉnh chưa kịp thời, ảnh hưởng tới việc triển khai các dự án đầu tư xây dựng sản phẩm du lịch mới hấp dẫn hơn. – Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn phần lớn là các doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh chủ yếu là cơ sở lưu trú, nhà hàng; chất lượng dịch vụ chưa đạt tiêu chuẩn quy định. Mặt khác, công ty lữ hành của địa phương còn thiếu về số lượng, chưa đủ khả năng và trình độ để cạnh tranh, vươn ra thị trường quốc tế. – Công tác đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực tuy đã có cố gắng nhiều song vẫn chưa theo kịp yêu cầu đặt ra cả về số lượng và chất lượng; trình độ năng lực của cán bộ quản lý nhà nước và doanh nghiệp còn thiếu và yếu; chưa có đội ngũ chuyên gia giỏi nghề trên địa bàn. – Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch của một số tỉnh, doanh nghiệp chưa đủ tầm vươn ra thị trường quốc tế; nội dung tuyên truyền quảng bá còn đơn điệu; kinh phí đầu tư cho công tác quảng bá, xúc tiến chưa nhiều, nội dung xúc tiến quảng bá chưa hiệu quả trong việc tìm kiếm thị trường khách du lịch…; một số tỉnh công tác xúc tiến, quảng bá du lịch trực thuộc Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại và Du lịch của tỉnh nên phần nào bị hạn chế. – Công tác liên kết cùng phát triển du lịch chưa hiệu quả rõ rệt, chưa rõ khả năng liên kết của các doanh nghiệp du lịch.    3. Định hướng phát triển du lịch Đông Nam Bộ    3.1 Quan điểm phát triển du lịch Phát huy cao nhất những lợi thế so sánh về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng tài nguyên du lịch để phát triển các sản phẩm du lịch hội  nghị, hội thảo; du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, trong đó lấy du lịch hội  nghị, hội thảo là sản phẩm chủ đạo. Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, huy động mọi nguồn lực để phát triển du lịch bền vững, hài hòa với các mục tiêu phát triển về kinh tế – xã hội, an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Tăng cường liên phát triển du lịch giữa các địa phương trong Vùng để phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh về du lịch chung cho toàn Vùng.    3.2. Mục tiêu phát triển    Mục tiêu tổng quát Phát triển du lịch vùng Đông Nam Bộ với vai trò động lực phát triển du lịch Việt Nam, với hệ thống sản phẩm du lịch đa dạng, độc đáo, có thương hiệu và sức cạnh tranh với các nước trong khu vực.    Mục tiêu cụ thể.    a) Về tổ chức lãnh thổ: Phát triển du lịch TP. Hồ Chí Minh trở thành trung tâm và hạt nhân của Vùng. Đầu tư phát triển đô thị Vũng Tàu trở thành các đô thị du lịch biển hiện đại. Đầu tư phát triển 04 khu du lịch quốc gia, 05 điểm du lịch quốc gia với cơ sở dịch vụ cao cấp. Nâng cấp các tuyến du lịch quốc gia, tuyến du lịch liên vùng và nội vùng. Xây dựng và phát triển các khu, điểm du lịch địa phương để làm tăng tính đa dạng sản phẩm du lịch Vùng để tạo ra động lực phát triển du lịch cho toàn Vùng.    b) Các chỉ tiêu về phát triển ngành    + Về số lượng khách Phấn đấu đến năm 2015, đón được khoảng 25 triệu lượt khách, trong đó có 5 triệu lượt khách du lịch quốc tế . Đến năm 2020, đón được khoảng 30 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 6 triệu lượt; Đến năm 2025, đón được khoảng 37 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 8 triệu lượt; Đến năm 2030, phấn đấu đón được khoảng 43 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 10 triệu lượt.    + Về ngày lưu trú Ngày lưu trú trung bình khách du lịch quốc tế: Năm 2015 đạt khoảng 3,8 ngày; năm 2020 đạt khoảng 4,2 ngày; năm 2025 đạt khoảng 4,3 ngày và năm 2030 đạt khoảng 4,4 ngày. Ngày lưu trú trung bình khách du lịch nội địa: Năm 2015 đạt khoảng 2,2 ngày; năm 2020 đạt khoảng 2,4 ngày; năm 2025 đạt khoảng 2,5 ngày và năm 2030 đạt khoảng 2,6 ngày.    + Về mức chi tiêu Mức chi tiêu trung bình khách du lịch quốc tế: Năm 2015 khoảng 2.400.000 VNĐ (114 USD); năm 2020 khoảng 2.500.000 VNĐ (120 USD); năm 2025 khoảng 2.600.000 VNĐ (124 USD) và năm 2030 khoảng 2.700.000 VNĐ (126 USD). Mức chi tiêu trung bình khách du lịch nội địa: Năm 2015 khoảng 655.000 VNĐ (31USD); năm 2020 khoảng 1.000.000 VNĐ (48 USD); năm 2025 khoảng 1.250.000 VNĐ (59 USD) và năm 2030 khoảng 1.300.000 VNĐ (60 USD).    + Về tổng thu từ khách du lịch Năm 2015 đạt khoảng 68.000 tỷ đồng, tương đương 3,2 tỷ USD; năm 2020 đạt khoảng 123.000 tỷ đồng, tương đương 5,8 tỷ USD; năm 2025 đạt khoảng 176.000 tỷ đồng, tương đương 8,3  tỷ USD; năm 2030 đạt khoảng 221.000 tỷ đồng, tương đương 10,5 tỷ USD.    + Đóng góp của du lịch trong GDP: . Năm 2015 đạt 53.900 tỷ đồng, tương đương 2,2 tỷ USD; . Năm 2020 đạt 85.800 tỷ đồng, tương đương 4,0 tỷ USD; . Năm 2025 đạt 123.000 tỷ đồng, tương đương 5,8 tỷ USD; . Năm 2030 đạt 154.900 tỷ đồng, tương đương 7,3 tỷ USD.    + Về cơ sở lưu trú Năm 2015, nhu cầu buồng là 79.300 buồng, trong đó tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 22%; năm 2020 nhu cầu buồng là  86.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 25%; năm 2025 phát triển 109.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt 25%; năm 2030 phát triển khoảng 146.000 buồng khách sạn, tỷ lệ buồng 3 sao đến 5 sao đạt khoảng 30%.    + Về nhu cầu vốn đầu tư cho du lịch Đến năm 2015 nhu cầu vốn khoảng 59.000 tỷ đồng, tương đương  2,8 tỷ USD; đến năm 2020 nhu cầu vốn cho cả giai đoạn là 160.000 tỷ đồng, tương đương 7,5 tỷ USD; đến năm 2025 nhu cầu vốn cho cả giai đoạn là 162.201 tỷ đồng, tương đương 7,7 tỷ USD và đến năm 2030 nhu cầu vốn đầu tư cho cả giai đoạn là 167.792 tỷ đồng, tương đương 8,0 tỷ USD.    + Chỉ tiêu việc làm Đến năm 2015 là 278.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 88.000 lao động); đến năm 2020 là 390.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 130.000 lao động); đến năm 2025 là 870.000 lao động (trong đó lao động trực tiếp là 290.000 lao động) và đến năm 2030 khoảng 1 triệu lao động (trong đó lao động trực tiếp là 360.000 lao động).    4. Các giải pháp phát triển du lịch vùng Đông Nam Bô Để thực hiện các nội dung định hướng phát triển du lịch vùng ĐNB có hiệu quả đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, cần triển khai các nhóm giải pháp sau:1) Chính sánh, cơ chế phát triển du lịch; 2) Về Đầu tư và huy động vốn đầu tư; 3) Về Phát triển nhân lực; 4) Về Hợp tác, liên kết; 5) Về Quy hoạch và quản lý quy hoạch; 6) Về Xúc tiến quảng bá; 7) Về Ứng dụng khoa học và công nghệ; 8) Về Phát triển thị trường; 9) Về Phát triển sản phẩm và xây dựng thương hiệu; 10) Về Bảo vệ tài nguyên môi trường; 11) Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh. Trong đó các nhóm giải pháp về Chính sách, cơ chế, về Đầu tư, về Phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò then chốt.    a) Nhóm giải pháp cơ chế chính sách phát triển du lịch – Xây dựng chính sách về thuế cho phát triển du lịch. – Cơ chế, chính sách xã hội hóa du lịch. – Cơ chế chính sách về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch. – Cơ chế chính sách đầu tư cho du lịch.    b) Giải pháp đầu tư và huy động vốn đầu tư cho phát triển du lịch –  Đầu tư du lịch + Xúc tiến đầu tư để thu hút nguồn vốn cho phát triển du lịch vùng thông qua các diễn đàn xúc tiến đầu tư du lịch; xây dựng chương trình, lộ trình và kinh phí xúc tiến đầu tư du lịch trong vùng; tạo ra sự liên kết, phối hợp các doanh nghiệp, các địa phương để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn vùng. + Cải thiện môi trường đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch.  Xây dựng và điều chỉnh các chủ trương, chính sách, quy hoạch, kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình đặc điểm của vùng, có cơ chế mở để cho các địa phương vận dụng phù hợp với từng địa bàn cụ thể; có chính sách ưu tiên cho các địa phương còn khó khăn, chưa đủ năng lực phát triển du lịch; tổ chức định kỳ Hội nghị phát triển du lịch vùng nhằm thu hút được nhiều ý kiến từ các nhà quản lý, các chuyên gia, các nhà nghiên cứu và các doanh nghiệp. – Huy động nguồn vốn cho du lịch + Huy động nguồn lực tài chính trong nhân dân, tiềm lực tài chính của các tổ chức trong và ngoài nước để đảm bảo đủ nguồn vốn đầu tư cho du lịch. + Mở rộng, đa dạng hóa các hình thức thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước như các hình thức BOT, BTO, BT, PPP. + Đẩy mạnh xúc tiến, thu hút và có cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thu hút nguồn vốn đầu tư từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài. + Tăng cường xã hội hóa đầu tư để thu hút nguồn vốn đầu tư cho bảo vệ, tôn tạo di tích, thắng cảnh; bảo tồn và phục dựng các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề phục vụ phát triển du lịch. + Đa dạng nguồn vốn đầu tư thông qua xã hội hóa các loại hình và sản phẩm du lịch; tạo môi trường thuận lợi cho huy động nguồn vốn cho du lịch.    c) Giải pháp phát triển nguồn nhân lực – Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên của các cơ sở đào tạo nghề du lịch; chú trọng đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo; tăng cường công tác đào tạo tại chỗ đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của từng địa phương và phù hợp với hội nhập quốc tế… – Phát triển đội ngũ nhân lực du lịch đủ về số lượng theo yêu cầu, cân đối về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo, đảm bảo về chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch cao và bền vững của vùng. – Nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý nhà nước du lịch, cán bộ quản lý các doanh nghiệp du lịch và quản lý các khu du lịch tại các địa phương trong vùng. Tăng cường năng lực chuyên môn về xúc tiến quảng bá cho các cán bộ của các Trung tâm xúc tiến du lịch tại các địa phương trong vùng.    d) Giải pháp liên kết phát triển du lịch – Tăng cường trao đổi kinh nghiệm về phát triển du lịch giữa các địa phương trong vùng. Phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương trong việc khai thác tài nguyên, xây dựng sản phẩm du lịch, xây dựng chương trình du lịch và xúc tiến, quảng bá du lịch thống nhất. – Tăng cường trao đổi, phối hợp và hỗ trợ cung cấp dịch vụ giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn vùng, đặc biệt là liên kết cung cấp dịch vụ giữa các công ty lữ hành với các doanh nghiệp kinh doanh lưu trú, vận chuyển khách… trong việc  đón, phục vụ khách du lịch. –  Mở rộng liên kết vùng hoặc các địa phương trong vùng với các vùng khác liền kề và với các trung tâm du lịch phát triển như: Đà Nẵng, Huế, Hà Nội.    đ) Giải pháp quy hoạch và quản lý quy hoạch vùng – Thực hiện đồng bộ các quy hoạch + Trên cơ sở nội dung quy hoạch, các tỉnh; thành phố trong vùng Đông Nam Bộ cần rà soát, điều chỉnh hoặc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch phù hợp. + Nhanh chóng triển khai xây dựng quy hoạch các khu du lịch quốc gia, đô thị du lịch trên địa bàn. + Cập nhật và đánh giá tiềm năng tài nguyên du lịch trên địa bàn để có thông tin cung cấp cho các nhà đầu tư. + Triển khai xây dựng quy hoạch cụ thể các khu du lịch chức năng và các dự án đầu tư cho từng khu vực cụ thể. – Tăng cường công tác quản lý quy hoạch + Tổ chức phổ biến quy hoạch du lịch đến mọi tầng lớp xã hội, cộng đồng, tôn giáo, dân. + Tiến hành cắm mốc giới, chỉ giới cho các dự án đã được xác định hoặc đã có nhà đầu tư và để bảo vệ đất và tài nguyên du lịch. + Tổ chức giám sát nội dung các chỉ tiêu về kinh tế du lịch, tiêu chuẩn về bảo vệ tài nguyên môi trường… + Quản lý tổng hợp các dự án đầu tư của các ngành khác trong khu vực đã được quy hoạch phát triển du lịch. + Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên môn chuyên sâu về quản lý quy hoạch, tài nguyên và môi trường du lịch thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.    e) Giải pháp xúc tiến quảng bá du lịch – Khẩn trương kiện toàn bộ máy tổ chức về xúc tiến, quảng bá du lịch và xây dựng chương trình, lộ trình cho hoạt động xúc tiến ở từng địa phương trong vùng. – Nghiên cứu xây dựng cơ chế xúc tiến, quảng bá du lịch chung cho toàn vùng. Đẩy mạnh xã hội hóa trong hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch và đa dạng các hình thức quảng bá. – Phát huy vai trò hỗ trợ xúc tiến, quảng bá của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài cho du lịch vùng Đông Nam Bộ. – Đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch tại các thị trường tiềm năng để nâng cao hình ảnh du lịch vùng.    f) Giải pháp ứng dụng khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế – Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu và công tác thống kê về du lịch trên địa bàn. – Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực du lịch để nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong quá trình quản lý và khai thác tài nguyên du lịch, thống kê du lịch, đánh giá môi trường, biến đổi khí hậu.    g) Giải pháp phát triển thị trường và sản phẩm du lịch – Khuyến khích xây dựng các hãng lữ hành có thương hiệu mạnh và có năng lực trong việc thu hút các thị trường khách du lịch, trong đó chú trọng lữ hành quốc tế. – Xây dựng chiến lược về thị trường khách để phát triển du lịch một cách ổn định và mang tính bền vững. – Ưu tiên xây dựng và hình thành các khu, điểm du lịch quốc gia để tạo sức lan tỏa phát triển du lịch cho toàn vùng. – Tập trung phát triển “Du lịch hội nghị, hội thảo” thành sản phẩm du lịch chủ đạo của vùng Đông Nam Bộ; Phát triển sản phẩm du lịch gắn với tài nguyên du lịch biển, đảo, sông, hồ và các tài nguyên du lịch nhân văn để đa dạng hóa các loại hình du lịch. – Đầu tư và phát triển các khu dịch vụ vui chơi giải trí có chất lượng cao để tăng chi tiêu và kéo dài ngày lưu trú của khách.    h) Giải pháp bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch và ứng phó với biến đổi khí hậu – Giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về vai trò, ý nghĩa của du lịch, của tài nguyên và môi trường đối với hoạt động du lịch. – Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật để kiểm soát các vấn đề về môi trường, để quản lý và phát triển tài nguyên. – Khuyến khích các hoạt động du lịch thân thiện với môi trường; khuyến khích và hỗ trợ cộng đồng tham gia đầu tư phát triển du lịch, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm trong việc khai thác tài nguyên phục vụ phát triển du lịch. – Xây dựng các giải pháp kỹ thuật hữu hiệu nhằm bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. – Có các biện pháp phòng chống thiên tai hữu hiệu. – Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch phù hợp với kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng.    i) Giải pháp bảo đảm an ninh quốc phòng – Triển khai các dự án phát triển du lịch cần phải phối hợp với bảo vệ an ninh, quốc phòng gắn liền với chủ quyền quốc gia. – Tăng cường hợp tác quốc tế, đặc biệt là hợp tác, liên kết giữa các tỉnh có biên giới với nước bạn trong phát triển du lịch để góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.Bảng các phương án dự báo khách du lịch vùng ĐNB

TT Chỉ tiêu ĐV tính Hiện trạng Phương án 1 Phương án 2 Phương án 3

A Giai đoạn ngắn hạn

Năm 2013 Giai đoạn 2014 – 2015

1 Tổng số lượt khách Ngàn lượt 23.301,0 23.561,0 23.818,0 24.960,0

– Khách DL quốc tế Ngàn lượt 4.510,0 4.638,0 4.638,0 4.831,0

Mức tăng trưởng % 10,4 0,8 2,0 3,5

– Khách DL nội địa Ngàn lượt 18.791,0 19.180,0 19.180,0 20.129,0

Mức tăng trưởng % 11,4 0,5 2,5 3,5

B Giai đoạn 2016-2020

Năm 2015 Giai đoạn 2016 – 2020

1 Tổng số lượt khách Ngàn lượt 24.429,0 28.319,0 30.046,0 32.193,0

– Khách DL quốc tế Ngàn lượt 4.698,0 5.446,0 6.028,0 6.436,0

Mức tăng trưởng % 2,0 3,0 5,1 6,5

– Khách DL nội địa Ngàn lượt 19.731,0 22.873,0 24.018,0 25.757,0

Mức tăng trưởng % 2,5 3,0 4,0 5,0

C Giai đoạn 2021-2025

Năm 2020 Giai đoạn 2021 – 2025

Tổng số lượt khách Ngàn lượt 30.039,0 35.527,0 36.761,0 38.180,0

Khách DL quốc tế Ngàn lượt 6.026,0 7.690,0 7.961,0 8.256,0

Mức tăng trưởng % 5,1 5,0 5,7 6,5

Khách DL nội địa Ngàn lượt 24.013,0 27.837,0 28.800,0 29.924,0

Mức tăng trưởng % 4,0 3,0 3,8 4,5

D Giai đoạn 2026-2030

Năm 2025 Giai đoạn 2026 – 2030

Tổng số lượt khách Ngàn lượt 36.775,0 41.267,0 43.212,0 46.302,0

Khách DL quốc tế Ngàn lượt 7.965,0 9.459,0 9.873,0 10.409,0

Mức tăng trưởng % 5,7 3,5 4,1 5,5

Khách DL nội địa Ngàn lượt 28.810,0 31.808,0 33.339,0 35.902,0

Mức tăng trưởng % 3,8 2,0 3,0 4,5

Yêu cầu đáp ứng

Thị trường khách du lịch

Phát triển bình thường Cần phải tạo thêm thị trường tiềm năng Thị trường khách quốc tế chiếm ưu thế

Sản phẩm du lịch

Phát triển bình thường Xây dựng nhiều sản phẩm du lịch đặc thù Hàu hết các sản phẩm du lịch đạt chất lượng cao

Nguồn lực nội tại ( vốn, lao động, quản lý

Đáp ứng hơn Đáp ứng đầy đủ Đáp ứng tuyệt đối

Nguồn : Dự báo của các chuyên gia dự án

TS. Võ Quế – Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch

Phát Triển Du Lịch Ẩm Thực Trở Thành Sản Phẩm Riêng

Du lịch là ngành đang thụ hưởng trực tiếp những giá trị văn hóa của ẩm thực truyền thống để phục vụ thu hút khách du lịch, nâng cao và gia tăng giá trị của ngành. Đã có ý kiến chuyên gia đề xuất, cần phân tách du lịch ẩm thực thành loại hình riêng, không nằm trong du lịch văn hóa. Tổng thống Mỹ Obama thưởng thức bún chả Hà Nội trong chuyến công du Việt Nam năm 2016 (ảnh do đầu bếp Anthony Bourdain đăng tải trên Instagram) Nâng tầm giá trị ẩm thực

Phở, bún chả, nem…, những món ăn truyền thống Việt Nam đã nằm trong rất nhiều cuốn cẩm nang du lịch của nước ngoài, được nhiều website, tạp chí du lịch uy tín thế giới công nhận là những món ăn ngon, độc đáo hàng đầu thế giới. Không thể phủ nhận ẩm thực Việt Nam hấp dẫn khách du lịch, cả khách quốc tế và khách nội địa.

Do gắn bó với sự phát triển hàng ngàn năm của dân tộc nên ẩm thực Việt Nam rất phong phú và độc đáo, gắn với nhiều vùng văn hóa và đặc trưng của từng dân tộc khác nhau. TS. Lê Minh Lý – Ủy viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia cho rằng ẩm thực là di sản vì chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, trong đó có thể gắn với tri thức dân gian, nghi lễ, sáng tạo nghệ thuật… Tuy nhiên, điểm yếu trong phát triển ẩm thực trong du lịch hiện nay là những nghiên cứu rõ về ẩm thực dưới góc độ di sản còn rất ít.

Để phát triển du lịch nhanh và bền vững, việc xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, đặc biệt là các sản phẩm du lịch gắn với văn hóa truyền thống của dân tộc có vai trò quyết định. Trong các sản phẩm đó, ẩm thực đang nổi lên là một thế mạnh của du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, theo chúng tôi Vương Xuân Tình (Phó Chủ tịch Hội dân tộc học và Nhân học Việt Nam), vai trò của ẩm thực gắn với phát triển du lịch còn chưa được nhìn nhận đúng với giá trị của nó. Là người đang thực hiện bộ Bách khoa toàn thư Ẩm thực Việt Nam, chúng tôi Vương Xuân Tình nhận thấy mặc dù ẩm thực thuộc phạm trù văn hóa, song do đặc tính và hữu ích của nó nên cần tách thành loại hình riêng, không trong du lịch văn hóa. Từ đó mới có thể đề xuất phương án cần điều chỉnh, bổ sung chiến lược, quy hoạch phát triển du lịch đến năm 2020, 2025 và tầm nhìn 2030, trong đó cần đưa du lịch ẩm thực trở thành một loại hình du lịch ở nước ta, cũng như có định hướng phát triển rõ ràng, với sự chung tay của các cơ quan, ban ngành.

GS. Nguyễn Văn Đính cho rằng, để phát triển du lịch ẩm thực, cần đào tạo người nấu ăn giỏi. Cùng một chuỗi dịch vụ du lịch, nhưng không tập trung vào mảng ẩm thực thì cũng trở thành điểm trừ trong mắt du khách.

Còn nghệ nhân ẩm thực Ánh Tuyết nhìn nhận hệ thống khách sạn ở Việt Nam, đặc biệt là khách sạn 5 sao cần chú trọng tới không gian ẩm thực Việt, để “đồ Việt” không bị lép vế trước “đồ Âu” ngay trên sân nhà. Bà khẳng định: “Đó là một cách quảng bá ẩm thực Việt để lan tỏa được hồn cốt văn hóa Việt nhiều hơn nữa”. Bên cạnh đó, nghệ nhân Ánh Tuyết cũng đưa ra đề xuất về những tiêu chí cụ thể khi tôn vinh nhà hàng, địa chỉ ẩm thực uy tín, trong đó bên cạnh vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, chế biến ngon, có đặc trưng vùng miền thì còn phải đặt ra vấn đề thái độ phục vụ thân thiện, niềm nở… thay vì những thương hiệu “bún mắng, cháo chửi” như dư luận phản ánh.

Với quan điểm “Nếu phát triển du lịch mà không tôn vinh ẩm thực thì thiếu sự hấp dẫn”, theo ông Trương Minh Tiến, Phó Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao Hà Nội thì cần tập trung món ăn hấp dẫn nhất để thu hút khách, quảng bá tốt hơn, gắn với thương hiệu của một đất nước hay một địa phương cụ thể để nhắc tới món ăn đấy là biết địa danh cụ thể đó.

Theo Phó Tổng cục trưởng TCDL Ngô Hoài Chung, ẩm thực là một tài nguyên có giá trị, dư địa phát triển cho du lịch rất lớn, cần được khai thác để tạo ra loại hình du lịch nổi trội và khác biệt của Việt Nam. Trong thời gian tới, ngành Du lịch cũng sẽ bổ sung những nội dung và giải pháp phát triển loại hình du lịch ẩm thực trong quy hoạch và các chính sách phát triển để thực sự phấn đấu đưa Việt Nam trở thành “bếp ăn của thế giới”.

Về phía Hiệp hội Du lịch, ông Vũ Thế Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Việt Nam cũng cho biết, lực lượng đầu bếp chuyên nghiệp trong cả nước đã có trên 50.000 người. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển của ẩm thực Việt Nam, trở thành sản phẩm ẩm thực hấp dẫn, Hiệp hội Du lịch Việt Nam dự kiến triển khai Dự án “Xây dựng khu bảo tồn Ẩm thực truyền thống và tôn vinh Tổ nghề Đầu bếp Việt Nam”, với mục tiêu lâu dài để nâng cao hình ảnh của Ẩm thực Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, đưa ẩm thực trở thành một sản phẩm độc đáo của Du lịch Việt Nam.

Nguyễn Hương

Đề Tài: Tìm Hiểu Ẩm Thực Đường Phố Tại Tphcm Phát Triển Du Lịch

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận văn đồ án tốt nghiệp ngành du lịch với đề tài: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch, cho các bạn làm luận văn tham khảo

4. NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI 1. Nội dung và các yêu cầu cần giải quyết trong nhiệm vụ đề tài tốt nghiệp …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. 2. Các tài liệu, số liệu cần thiết …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. …………………………………………………………………………………. 3. Địa điểm thực tập tốt nghiệp Khách sạn DASOM 333 Văn Cao, Đằng Lâm, Hải An, Hải Phòng.

5. CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ĐỀ TÀI TỐT NGHIỆP Họ và tên : Đào Thị Thanh Mai Học hàm, học vị : ThS Cơ quan công tác : Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Nội dung hướng dẫn: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch Đề tài tốt nghiệp được giao ngày 24 tháng 12 năm 2018 Yêu cầu phải hoàn thành xong trước ngày 05 tháng 04 năm 2019 Đã nhận nhiệm vụ ĐTTN Đã giao nhiệm vụ ĐTTN Sinh viên Giảng viên hướng dẫn Nguyễn Thanh Hương ThS. Đào Thị Thanh Mai Hải Phòng, ngày 05 tháng 04 năm 2019 HIỆU TRƯỞNG GS.TS.NGƯT Trần Hữu Nghị

6. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc PHIẾU NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN TỐT NGHIỆP Họ và tên giảng viên: ThS. Đào Thị Thanh Mai Đơn vị công tác: Trường Đại học Dân lập Hải Phòng Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thanh Hương Chuyên ngành: Văn hóa du lịch Đề tài tốt nghiệp: Tìm hiểu ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh -phục vụ phát triển du lịch 1. Tinh thần thái độ của sinh viên trong quá trình làm đề tài tốt nghiệp  Thực hiện nghiêm túc các yêu cầu để phục vụ nội dung nghiên cứu.  Có ý thức kỷ luật tốt, chăm chỉ, chịu khó học hỏi.  Hoàn thành đề tài đúng thời hạn. 2. Đánh giá chất lượng của khóa luận – Về lý luận, tác giả đã nêu khái quát, phân tích và đưa ra các cơ sở lý luận về du lịch nông nghiệp. – Về thực tiễn, tác giả đã nêu và đánh giá thực trạng và có giải pháp để phát triển du lịch nông nghiệp. – Đề tài đáp ứng yêu cầu đề ra về lý luận và thực tiễn, đạt chất lượng tốt của khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Việt Nam học (Văn hóa du lịch). 3. Ý kiến của giảng viên hướng dẫn tốt nghiệp Được bảo vệ Không được bảo vệ Điểm hướng dẫn Hải Phòng, ngày 05 tháng 04 năm 2019 Giảng viên hướng dẫn ThS. Đào Thị Thanh Mai

7. MỤC LỤC Lời mở đầu …………………………………………………………………….. 1. Lý do chọn đề tài…………………………………………………………… 2. Mục đích, ý nghĩa của đề tài……………………………………………. 3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu……………………………………… 4. Phương pháp nghiên cứu ………………………………………………… 5. Bố cục của bài khóa luận………………………………………………… Chương 1: Tổng quan về loại hình du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố ……………………………………………………………….. 1.1. Cơ sở lý luận về loại hình du lịch ẩm thực …………………………. 1.1.1. Khái niệm về ẩm thực…………………………………………………. 1.1.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố…. 1.1.2.1. Khái niệm du lịch về ẩm thực ………………………………………. 1.1.2.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực đường phố………………………… 1.1.3. Mối quan hệ giữa Ẩm thực và Du lịch…………………………….. 1.2. GiớithiệudulịchẩmthựcđườngphốởViệtNamvàtrênthếgiới……… 1.2.1. Một số khu ẩm thực đường phố ở Việt Nam ……………………… 1.2.1.1. Ẩm thực đường phố ở Hà Nội………………………………………. 1.2.1.2. Ẩm thực đường phố ở Hải Phòng …………………………………. 1.2.1.3. Ẩm thực đường phố ở Đà Nẵng …………………………………… 1.2.1.4. Ẩm thực đường phố ở Đà Lạt ……………………………………… 1.2.2. Một số khu ẩm thực đường phố trên thế giới …………………….. 1.2.2.1. Ẩm thực đường phố ở Trung Quốc ………………………………… 1.2.2.2. Ẩm thực đường phố ở Mỹ…………………………………………… 1.2.2.3. Ẩm thực đường phố ở Australia ……………………………………. 1.2.2.4. Ẩm thực đường phố ở Anh………………………………………….. 1.3. Tiểu kết chương 1 ……………………………………………………….. Chương 2: Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố tại thành phố Hồ Chí Minh – phục vụ phát triển du lịch……………………………….. 1 1 2 3 3 3 4 4 4 5 5 6 7 8 8 8 9 10 11 12 12 12 13 13 14 15

8. 2.1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh………………………………. 2.1.1. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên…………………………………….. 2.1.1.1. Vị trí địa lý…………………………………………………………….. 2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên …………………………………………………….. 2.1.2. Lịch sử hình thành – tổ chức hành chính và kinh tế – xã hội….. 2.1.2.1. Lịch sử hình thành…………………………………………………… 2.1.2.2. Tổ chức hành chính………………………………………………….. 2.1.2.3. Kinh tế…………………………………………………………………. 2.1.2.4. Dân cư – xã hội……………………………………………………….. 2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh ……… 2.1.3.1. Tài nguyên vật thể ……………………………………………………. 2.1.3.2. Tài nguyên phi vật thể ……………………………………………….. 2.2. Tìm hiểu về ẩm thực đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh……….. 2.2.1. Một số món ăn phổ biến từ trước năm 1975… … … … … … … … 2.2.1.1. Sủi cảo…………………………………………………………………. 2.2.1.2. Phá lấu …………………………………………………………………. 2.2.1.3. Hủ tiếu …………………………………………………………………. 2.2.1.4. Bột chiên …………………………………………………………………. 2.2.1.5. Phở …………………………………………………………………….. 2.2.1.6. Bánh xèo……………………………………………………………….. 2.2.1.7. Bánh mỳ Sài Gòn …………………………………………………….. 2.2.1.8. Cơm Tấm ………………………………………………………………. 2.2.2. Một số món ăn phổ biến ngày nay ………………………………….. 2.2.2.1. Bánh tráng……………………………………………………………… 2.2.2.2. Ốc………………………………………………………………………. 2.2.2.3. Gỏi cuốn……………………………………………………………….. 2.2.2.4. Súp cua………………………………………………………………… 2.2.2.5. Bánh kếp Thái ………………………………………………………… 2.2.2.6. Bạch tuộc viên Nhật Bản……………………………………………. 15 15 15 16 19 19 19 20 22 23 23 32 35 35 35 35 36 36 37 37 37 38 38 38 39 39 40 40 41

9. 2.2.2.7. Kimbap Hàn Quốc…………………………………………………… 2.2.2.8. Kem…………………………………………………………………….. 2.3. Đánh giá thực trạng khai thác ẩm thực đường phố ở thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………………………….. 2.3.1. Đặc trưng của ẩm thực Thành phố Hồ Chí Minh………………… 2.3.2. Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố trên một vài địa điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh………………………………………………… 2.3.2.1. Chợ Bến Thành, Lê Lợi – quận 1…………………………………… 2.3.2.2. Con đường bán trái cây đĩa Nguyễn Cảnh Chân – quận 1……… 2.3.2.3. Đường Nguyễn Thượng Hiền – quận 3…………………………….. 2.3.2.4. Đường Cao Thắng – quận 3………………………………………… 2.3.2.5. Hẻm 14, Trần Bình Trọng – quận 4……………………………….. 2.3.2.6. Phố ốc Vĩnh Khánh – quận 4……………………………………….. 2.3.2.7. Đường An Dương Vương – quận 5………………………………… 2.3.2.8. Phố Sủi Cảo Hà Tôn Quyền – quận 11……………………………. 2.3.3. Sự giống và khác nhau ở một vài món ăn đường phố …………… 2.3.3.1. Cơm tấm Sài Gòn và Kimbap Hàn Quốc …………………………. 2.3.3.2. Bánh xèo và bánh kếp Thái Lan…………………………………… 2.3.4. Ưu điểm của ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch………………………………………………………. 2.3.5. Hạn chế của ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh trong phát triển du lịch………………………………………………………… 2.4. Tiểu kết chương 2 ………………………………………………………. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố phục vụ phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh……………. 3.1. Định hướng phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030……………………………………………………………………….. 3.1.1. Mục tiêu, chiến lược phát triển du lịch……………………………. 3.1.2. Tiềm năng, thế mạnh của ẩm thực đường phố trong chính sách phát triển du lịch ………………………………………………………………. 41 41 42 42 43 43 44 44 44 45 45 45 46 46 46 49 52 53 54 55 55 55 56

11. LỜI CẢM ƠN Em xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo của trường Đại học Dân Lập Hải Phòng bởi suốt quãng thời gian bắt đầu học tập tại giảng đường đại học đến nay, em đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ, đặc biệt là các thầy cô trong Khoa Du lịch đã tận tình truyền đạt kiến thức cho em trong những năm học vừa qua. Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học tập em tin rằng đó chính là hành trang quý báu cho con đường sự nghiệp của mình trong tương lai. Không chỉ vậy, để hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này, em xin tỏ lòng tri ân sâu sắc đến Thạc sĩ Đào Thị Thanh Mai. Cô đã tận tình hướng dẫn em trong việc lựa chọn đề tài nghiên cứu, hướng tiếp cận và giúp em chỉnh sửa những điều còn thiếu sót. Trong quá trình nghiên cứu, do trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế gây ảnh hưởng đến bài khóa luận, em rất mong sẽ nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô để em có thể hoàn thiện tốt hơn. Lời cuối cùng em xin kính chúc các thầy cô luôn dồi dào sức khỏe. Em xin chân thành cảm ơn !

12. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 1 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Nước Mỹ đã sinh ra những nhà hàng di động nhưng Việt Nam mới là thiên đường ẩm thực đường phố. Không đâu lại có văn hóa ẩm thực đa dạng như nơi này. Qua ẩm thực, một phần bản sắc văn hóa của Việt Nam đã được gìn giữ và phát huy trong quá trình hội nhập, giao lưu văn hóa quốc tế”. Đó là nhận định của tờ báo CNNGo (Mỹ) về ẩm thực Việt Nam.Văn hóa ẩm thực Việt Nam luôn độc đáo và phong phú trên mọi phương diện. “Một đất nước nhỏ bé mà thức ăn lại tinh tế và đa đạng đến đáng kinh ngạc. Mỗi thành phố, thậm chí mỗi ngôi làng đều có món đặc sản riêng”. Đây cũng là ấn tượng chung của nhiều du khách sau khi thưởng thức những món ăn dân dã tại Việt Nam.Và trong con mắt những du khách ấy, có một phần không thể bỏ qua đó chính là ẩm thực đường phố, đặc biệt là trên những con phố của mảnh đất Hồ Chí Minh. Cùng với đó, hãng thông tấn CNN đã đánh giá Thành phố Hồ Chí Minh là thủ đô ẩm thực của nước ta.Không chỉ vậy từ nhiều năm trước, ẩm thực đường phố ở Việt Nam nói chung và ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đã được rất nhiều tạp chí nước ngoài nhắc đến như: Tạp chí ẩm thực thế giới Food and Wine đã bình chọn Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những thành phố có món ăn đường phố ngon hàng đầu, trong đó món chả giò, bánh mì được nhiều tạp chí bình chọn là một trong 12 món ăn ngon nhất thế giới. Với thành tích trên, văn hóa ẩm thực có một vai trò đóng góp không nhỏ trong việc thu hút khách du lịch quốc tế và nội địa. Với cách tiếp cận kinh tế và giao lưu văn hóa vùng miền trong nước và quan hệ quốc tế, nghiên cứu văn hóa ẩm thực nói chung và văn hóa ẩm thực đường phố nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh là một vấn đề cấp thiết để phát triển du lịch trong quá trình đổi mới hiện nay và cho tương lai. Đặc biệt là ở các đô thị đông dân khi mà giá cả sinh hoạt tăng cao khiến nhiều người dân chấp nhận

15. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 4 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH ẨM THỰC VÀ DU LỊCH ẨM THỰC ĐƯỜNG PHỐ 1.1. Cơ sở lý luận về loại hình du lịch ẩm thực 1.1.1. Khái niệm ẩm thực Ngay từ khi những bước chân đầu tiên của con người in dấu trên Trái Đất, ngay từ thời kì bình minh của nhân loại, việc ăn uống đã được coi như là một nhu cầu cần thiết để duy trì sự sống của sinh vật sống nói chung và con người nói riêng. Tuy nhiên ở thời kì cổ đại đó, thực phẩm vẫn còn khan hiếm buộc con người không có quyền lựa chọn thức ăn. Sau này, trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa, thế giới ngày một văn minh hơn. Do đó, những tri thức cơ bản đầu tiên về lĩnh vực ăn uống được hình thành, tạo nên khái niệm đầu tiên về văn hóa ăn uống: ẩm thực. Nghĩa hẹp: theo nghĩa Hán Việt thì ẩm nghĩa là uống, thực nghĩa là ăn, nghĩa hoàn chỉnh là ăn uống, là một hệ thống đặc biệt về quan điểm truyền thống và thực hành nấu ăn, nghệ thuật bếp núc, nghệ thuật chế biến thức ăn, thường gắn liền với một nền văn hóa cụ thể. Nó thường được đặt tên theo vùng hoặc nền văn hóa hiện hành. Một món ăn chủ yếu chịu ảnh hưởng của các thành phần có sẵn tại địa phương hoặc thông qua thương mại, buôn bán trao đổi. Nghĩa rộng: ẩm thực có nghĩa là nền văn hóa ăn uống của một dân tộc, đã trở thành một tập tục, thói quen. Ẩm thực không chỉ nói về “văn hóa vật chất” mà còn nói về cả mặt “văn hóa tinh thần”. Những thực phẩm mang màu sắc tôn giáo cũng mang nhiều ảnh hưởng rất lớn tới ẩm thực.

17. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 6 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Tourism” với ý nghĩa du lịch tìm hiểu, đánh giá ẩm thực có tính văn hóacủa địa phương hay dân tộc. Do đó, du lịch ẩm thực là loại hình du lịch tổ chức và hướng dẫn du khách đến các điểm du lịch để tìm hiểu, thưởng thức, trải nghiệm đồ ăn, thức uống có tínhnghệ thuật và văn hóa đặc thù của địa phương, vùng miền, quốc gia. Thuật ngữ “Food Tourism” có thể được sử dụng để chỉ loại hình du lịch ẩm thực. Theo chúng tôi Phan Thị Thu Hiền, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh: Du lịch ẩm thực là quảng bá, tiếp thị, tổ chức, hướng dẫn du khách đến các điểm du lịch có ẩm thực đặc sắc, độc đáo của địa phương, vùng miền, quốc gia.(Theo Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang). 1.1.2.2. Khái niệm về du lịch ẩm thực đường phố Ẩm thực đường phố hay thức ăn vỉa hè, thức ăn lề đường là các loạithức ăn, đồ uống đã chế biến sẵn hay sẵn sàng chế biến và phục vụ tại chỗ theo yêu cầu của khách hàng được bày bán trên vĩa hè, lề đường ở các đường phố, khu phố đông người hoặc những nơi công cộng khác, chẳng hạn như một siêu thị, công viên, khu du lịch, điểm giải trí, khu phố ăn uống ngoài trời… thông thường thức ăn đường phố được bày bán trên các tiệm ăn di động, quán ăn tạm thời hay là từ một gian hàng di động cho đến các loại xe đẩy. Theo khái niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thức ăn đường phố là những đồ ăn, thức uốngđược làm sẵn hoặc chế biến, nấu nướng tại chỗ, có thể ăn ngay và được bày bán trên đường phố, những nơi công cộng. Du lịch ẩm thực đường phố là hành động du khách rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đi đến một nơi khác (có thể là một tỉnh thành khác hoặc thậm chí là một quốc gia khác) để kết hợp việc thưởng thức các món ăn đường phố với việc tậnhưởng kỳ nghỉ của họ nhằm tìm hiểu và khám phá tự nhiên, văn hóa, lịch sử,conngười tại nơi họ đến.

18. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 7 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.1.3. Mối quan hệ giữa ẩm thực và du lịch Du lịch ẩm thực nhiều hơn chỉ là thưởng thức một bữa ăn ngon, một chút bia hay một ly rượu vang trong suốt chuyến đi. Đó là cách chúng ta hòa mình vào nền văn hóa và di sản của một khu vực, tạo ra những kỷ niệm không thể quên theo một cách hoàn toàn khác biệt. Theo báo cáo toàn cầu về du lịch ẩm thực của Tổ chức du lịch thế giới, trung bình 1/3 ngân sách của khách du lịch được dành cho ẩm thực. Điều này chỉ ra rằng yếu tố này là một phần trải nghiệm của khách du lịch. Tuy nhiên, cũng phải nhấn mạnh rằng không phải tất cả khách du lịch chỉ đến đó để thưởng thức những đồ ăn ngon, cũng không phải tất cả các doanh nghiệp kinh doanh ẩm thực sẽ cung cấp dịch vụ này. Trong ẩm thực ẩn chứa những giá trị văn hóa phi vật thể cốt lõi của điểm đến và thông qua việc thưởng thức chúng, du khách có thể khám phá, cảm nhận rõ nét bản sắc văn hóa chính thống của người dân địa phương. Khi có cơ hội thưởng thức các món ăn mới lạ và hấp dẫn trong chuyến đi của mình, du khách sẵn sàng đón nhận, bởi lẽ đó là một trong những hoạt động trải nghiệm thú vị nhất gắn với tâm lý và sinh hoạt hàng ngày của mỗi con người. Bên cạnh các yếu tố có thể làm thỏa mãn nhu cầu khách như thời tiết, dịch vụ lưu trú, phong cảnh tham quan… thì ẩm thực góp phần gia tăng đáng kể giá trị cho chuyến đi của khách du lịch cũng như tạo dựng hình ảnh tốt đẹp về điểm đến đó. Đồng thời, ngoài việc là yếu tố tạo sức hấp dẫn, ẩm thực còn đóng vai trò vô cùng quan trọng, tạo dấu ấn khác biệt giữa quốc gia này với quốc gia khác. Bởi lẽ, bên cạnh bản sắc độc đáo của hương vị và nghệ thuật chế biến tinh tế của từng món ăn, khi quảng bá, chúng thường được đi kèm với tên thương hiệu của mỗi quốc gia. Ví dụ như: Ẩm thực Việt Nam, ẩm thực Pháp, ẩm thực Mê Xi Cô,… Điều này giúp dễ dàng khắc sâu vào tâm trí của du khách, dù đã từng hay chưa được trải nghiệm nhưng cũng khiến họ phải quan tâm tìm hiểu và lưu giữ được những cảm nhận ban đầu

19. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 8 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 khó quên về điểm đến du lịch, qua đó góp phần tạo thêm động lực để họ quyết định đi thăm cũng như quay trở lại điểm đến du lịch. 1.2. Giới thiệu ẩm thực đường phố ở Việt Nam và trên thế giớii 1.2.1. Một số khu ẩm thực đường phố ở Việt Nam 1.2.1.1. Ẩm thực đường phố ở Hà Nội Phố ẩm thực Hàng Buồm Phố Hàng Buồm được ví như một Hà Nội thu nhỏ hiện đại, tấp nập và đông đúc.Thực khách có thể thưởng thức đồ ăn tại quán hoặc mang đi, vừa dạo chơi phố cổ vừa nhâm nhi. Ngoài ra, cũng có nhiều loại chè hay nước ép trái cây cho thực khách lựa chọn. Do hoạt động trùng với chợ đêm Hà Nội nên phố ẩm thực Hàng Buồm thu hút rất nhiều các tín đồ ẩm thực trong nước và du khách quốc tế. Chợ Đồng Xuân Đây là ngôi chợ lâu năm, nổi tiếng và đông đúc vào bậc nhất đất Hà Thành. Không chỉ với người Hà Nội, chợ Đồng Xuân còn là địa chỉ ẩm thực yêu thíchcủa rất nhiều du khách. Vào bất kì thời điểm nào cũng có thể tới đây để tìm kiếm và thưởng thức vô vàn món ngon gồm cả bữa chính cùng các món trángmiệng béo ngậy, giòn tan. Sau đó là món bún chả kẹp que tre chuẩn chất Hà Nội, từ nguyên liệu tới cách chế biến đều cầu kì, tỉ mỉ. Nước chua gia giảm của quán không phải chế từ dấm mà là sấu dầm tự làm, vị dịu dàng vô cùng độc đáo. PhốLý Quốc Sư Một trong những thương hiệu phở nổi tiếng ở Hà Nội, được nhiều người biết đến nhất nằm trên phố Lý Quốc Sư. Phở ở đây chỉ chuyên về bò nhưng có đủ các loại tái, chín, nạm, gầu,.. tạo cho khách hàng mới đến lần

20. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 9 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đầu có nhiều sự lựa chọn và khách hàng trung thành sẽ không bị nhàm chán. Nước dùng phở rất đặc trưng, thơm mùi gia vị mà không bị béo. Ngoài ra phải kể đến trà chanh. Dễ thấy hình ảnh du khách tấp nập đi lại và các bạn trẻ tụ tập bên những quán trà chanh, nhất là những ngày cuối tuần.Trà chanh, me muối, mơ muối là lựa chọn phổ biến. Mùa nào thức đấy, những ly sấu đá hè có thể thay bằng ly ca cao, cà phê ấm nóng khi tiết trời Hà Nội chuyển lạnh. Phố Nhà Thờ Ở phố Nhà Thờ, bạn có thể vừa ăn kem dừa kiểu Thái, vừa thưởng thức món đồ ăn Nhật Bản, sau đó nhâm nhi một chiếc bánh pizza. Nếu không, cũng có rất nhiều các hàng quán đồ ăn Việt hấp dẫn.Khu phố này cũng có cả những quán cà phê kiểu Pháp xinh xắn, sang trọng, nằm ẩn mình dưới những tán cây già cỗi. Thưởng thức ly cà phê nóng bên ban công, lặng ngắm khu phố nhỏ, bạn sẽ có một buổi chiều thật tuyệt vời. 1.2.1.2. Ẩm thực đường phố Hải Phòng Phố Cầu Đất Là một trong những con đường trung tâm của thành phố Cảng, Cầu Đất được biết đến với món Bánh đa cua nổi tiếng. Du khách có thể đến quán Bánh đa cua Bà Cụ ở số 179 hay quán Bánh đa cua bể ở số 195, chắc chắn sẽ làm hài lỏng cả những người khó tính nhất. Ngoài ra thực khách cũng có thể thưởng thức món Bánh rán Bà Lạnghoặc nhiều loạibánh ngọt trong các cửa tiệm lâu đời như: Kim Thanh, Thanh Lịch, Lâm Hương,…trên dọc con phố này. Phố Văn Cao Người Hải Phòng hay nói vui rằng: “Muốn ăn lẩu hãy đến Văn Cao, muốn ăn nướng hãy đến Hoàng Minh Thảo”. Nói như vậy để thấy được rằng Lẩu chính là món ăn được bán phổ biến ở con phố này, đặc biệt là Lẩu cua

21. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 10 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đồng. Ngoài ra đây còn là nơi sinh sống của rất nhiều người nước ngoài nên đến đây du khách sẽ được trải nghiệm những món ăn độc đáo trong các nhà hàng Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản,… Chợ Cát Bi Là khu chợ nổi tiếng với ẩm thực phong phú, chợ Cát Bi chính là thiên đường ẩm thực của thành phố Hoa Phượng đỏ với khu nhà ăn rộng lớn ngay chính trung tâm của chợ. Tại đây du khách sẽ được thưởng thức rất nhiều món ăn hấp dẫn như: Giá bể xào, bánh đa, bánh bèo, cháo, ốc, các loại chè,…Từ tầm 3 giờ chiều trở đi là khoảng thời gian thích hợp nhất để du khách có thể thưởng thức tất cả các món ngon ở nơi đây. 1.2.1.3. Ẩm thực đường phố Đà Nẵng Khu ẩm thực Phạm Hồng Thái Khu phố ẩm thực Đà Nẵng này thường hoạt động náo nhiệt vào buổi chiều khoảng từ 5h chiều cho đến 11h đêm. Đây là khu phố rất tuyệt vời chonhững ai thích ăn khuya đa dạng nhiều món khác nhau vừa ngon bổ mà lại rẻ nữa. Khu phố hội tụ tất cả những đặc sản của miền Trung vô cùng hấp dẫn như: Bánh xèo, ốc hút, ram bắp,…Ngoài ra còn có những quán nhậu hải sản bình dân rất được lòng thực khách. Khu ẩm thực chợ Cồn Đây là khu chợ có quy mô lớn ở Đà Nẵng là một địa điểm tham quan mua sắm cũng như ăn uống tuyệt vời dành cho khách du lịch khi tới Đà Nẵng. Đến phố ẩm thực Đà Nẵng này bạn tha hồ thưởng thức những món ăn vặt nổi tiếng mực rim, ốc hút, chè, nem,..Bên cạnh đó khu chợ còn có rất nhiều gian hàng bán đặc sản dành cho du khách mang về làm quà.

22. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 11 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Khu ẩm thực Ngũ Hành Khu ẩm thực này được mở hàng ngày nhân dịp pháo hoa quốc tế. Đến đây bạn có thể tham gia trò chơi và thưởng thức các món ăn đặc sản của Đà Nẵng. Với diện tích rộng và có thể đáp ứng cho 4.000 khách hàng cùng sự góp mặt của nhiều đầu bếp nổi tiếng như Thanh Hòa, Minh Nhật,…của chương trình Master ChefViệt Nam, chắc chắn đây sẽ là một điểm dừng chân thú vị. Đường Bạch Đằng Con đường này là một trong những đường đẹp nhất của thành phố, nằm kề bên bờ sông Hàn. Du khách có thể lân la ở các quán ăn, quán cafe như quán souvenir & cafe nằm ở địa chỉ 34 Bạch Đằng, quận Hải Châu, Đà Nẵng. Bên cạnh đó còncó đặc sản dừa rất ngon ngọt, hay rau câu dừa, kem xôi dừa,…địa chỉ 198, Bạch Đằng, Đà Nẵng. 1.2.1.4. Ẩm thực đường phố Đà Lạt Khu ẩm thực truyền thống tại Đà Lạt Center Nằm ở tầng 2 của khu chợ mới Đà Lạt Center với 16 quầy hàng liền kề nhau là 16 mái nhà tranh. Ở đó phục vụ các món ăn như: Bún, phở, mì Quảng, cơm, cháo, xắp xắp, bánh tráng trộn, bánh tráng nướng, bánh cuốn, nem, bánh mì, hủ tiếu,…Tại khu ẩm thực truyền thống, ngoài các món ăn, du khách còn có thể lựa chọn các loại chè đa dạng hay nước giải khát, nước ép trái cây đặc trưng của Đà Lạt. Đó sẽ là lựa chọn khá lý tưởng để vừa tản bộ, vừa có nhiều thứ để nhâm nhi. Chợ đêm Đà Lạt Chợ đêm nhộn nhịp, thu hút rất nhiều khách du lịch tới tham quan, nơiđây luôn là một trong những địa điểm du lịch Đà Lạt được yêu thích. Du kháchđến đây có thể để mua sắm đồ lưu niệm, quần áo hay thưởng thức những mónăn vặt vừa ngon vừa rẻ làm nên danh tiếng của ẩm thực Đà Lạt

23. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 12 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 như: Bánh trángnướng, xiên nướng, sữa đậu nành, bánh bột lọc chén, bánh ướt lòng gà,… 1.2.2. Một số khu ẩm thực đường phố trên thế giới 1.2.2.1. Ẩm thực đường phố ở Trung Quốc Được UNESCO công nhận là “Thành phố ăn ngon” đầu tiên của Châu Á vào năm 2010, Thành Đô được biết đến nhiều nhất với món lẩu và món cay cùng loại gia vị địa phương hòa quyện với vị mặn, chua, ngọt vừa phải. Ngoài ra, du khách có thể thưởng thức ẩm thực đường phố với danh sách hơn 100 món ăn vặt tại các khu chợ Chendu Spice ( Thành Đô), chợ Lan Châu ( Cam Túc),…Hay địa danh Turpan (Tân Cương). Rất nhiều nhà hàng ngoài trời phục vụ khách dulịch bên cạnh khu nhà hàng sặc sỡ. Cừu kawop, ổ bánh mỳ siêu lớn xuất hiện ở bất kỳ quán ăn vỉa hè nào, cùng với các món ít phổ biến hơn như banshi – thịt cừu nấu với cà chua, đậu đen và rau mùi, hoặc thịt cừu chế biến với nghệ, sữa chua cho đến khi thịt chín mềm. Du khách có thể kết thúc bữa ăn với một chén sữa chua mát lành. 1.2.2.2. Ẩm thực đường phố ở Mỹ New Orleán thuộc bang Louisiana không chỉ tuyệt vời bởi di sản văn hóa đa dạng mà ẩm thực nơi đây cũng cực kỳ độc đáo với hương vị từ ẩm thực Mỹ bản địa hay người Pháp cho tớinhững người Châu Phi sinh sống ở nơi đây,…Những món ăn nổi tiếng có thể kể đến như: Sandwich Po-Boy với nguyên liệu tôm tươi rán hay thịt bò kẹp trong bánh mì Pháp. Món Gumbo quả mướp tây, một loại rau vùng Tây Mỹ ăn với cơm cùng với bánh rán vuông rán vàng phủ bột đường,… Ngoài ra phải kể đến Seattle thuộc bang Washington cũng hấp dẫn du khách với các đặc sản như: cà phê, quả anh đào, đồ nướng, hải sản đều nằm trong danh sách những món ăn địa phương nhất định phải thử một lần trong đời nếu có dịp thăm vùng đất xinh đẹp này.

24. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 13 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.2.2.3. Ẩm thực đường phố ở Australia Thành phố lớn thứ haicủa Australia là nơi có thể tìm thấy được mọi khẩu vị đến từ nhiều nơi trên thế giới. Với một lịch sử phong phú về những người nhập cư vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, Melbourne có các khu ẩm thực cùng những món ăn đặc sắc nhất của Châu Âu, Mỹ Latin, Châu Á và Châu Phi. Đi xuống đường Londsdale để thưởng thức một vài món Hy Lạp ngon khó cưỡng hay tới Lygon Street để thưởng thức món Ý hoặc lang thang tới các khu phố người Hoa lâu đời nhất nằm trong Little Bourke Street, nơi mà bạn sẽ tìm thấy những quán ăn được mở từ những năm 1860. 1.2.2.4. Ẩm thực đường phố ở Anh Vương quốc Anh là nơi tập trung văn hóa ẩm thực phong phú . Đầu tiên phải kể đến địa danh Stockbridge. Phố Stockbridge nằm ở trung tâm thung lũng Test, vốn là thị trấn chợ cổ và giờ đây là một điểm đến tuyệt vời cho những người yêu thích ẩm thực. Stockbridge không chỉ có quầy thịt, cửa hàng rượu tư,một số món cá ngon nhất nước Anh mà còn có một chuỗi quán rượu nổi tiếng. Đây chính là con phố ẩm thực số một của đất nước Sương mù. Ngoài ra thủ đô London cũng là một địa chỉ không thể bỏ qua bởi những khu chợ tấp nập như: Chợ Broadway được mệnh danh là thiên đường ẩm thực với hơn 100 quầy hàng ăn. Du khách có thể tìm thấy từ phô mai hảo hạng, đủ loại xúc xích, ô liu, thịt rừng và dưa muối tại khu chợ Broadway này hay chợ Borough là khu chợ rau và hoa quả cổ nhất ở London. Đây là một trong những điểm dừng chân lý tưởng hấp dẫn tất cả các đầu bếp, người nấu ăn, quản lý nhà hàng và những người yêu thích nấu nướng. Đến với khu chợ, du khách sẽ bị hấp dẫn bởi các loại thực phẩm, các quầy bán đồ ăn sẵn. Đặc biệt chợ Borough cũng nổi tiếng là nơi cung cấp các loại nông sản tươi của địa phương và những loại nguyên liệu tốt nhất trên thế giới.

25. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 14 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 1.3. Tiểu kết chương 1 Du lịch ẩm thực những năm vừa qua có vai trò quan trọng trong sự phát triển của đất nước, đóng góp lớn vào nguồn thu của ngành du lịch. Tiêu biểu là ẩm thực đường phố bởi trong đó, mỗi món ăn đều đem lại nhiều giá trị sâu sắc. Nó không chỉ là thực phẩm đáp ứng nhu cầu của con người mà ở đó mỗi món ăn còn là biểu tượng, là đặc sản vùng miền. Vi vậy ẩm thực đường phố ngày nay đang ngày càng phát triển trở thành một loại hình du lịch không chỉ ở Việt Nam mà còn cả trên thế giới. Từ châu Âu, châu Mỹ cho đến châu Á, châu Đại Dương, ẩm thực đường phố luôn đem đến sựhào hứng và bất ngờ cho mỗi vị khách du lịch. Ẩm thực đường phố là một kênh quảng bá tiềm năng và khá hiệu quả cho Du lịch Việt Nam. Nhiều kênh truyền hình và tạp chí ẩm thực thế giới đã làm phóng sự về ẩm thực Việt Nam như : Tạp chí Food and Wine, kênh truyền hình CNN, kênh NAT GEO Adventure…, trong đó ẩm thực đường phố được chú ý một cách đặc biệt bởi sự độc đáo và hấp dẫn. Những năm trở lại đây các khu ẩm thực đường phố được mở rộng ngày càng nhiều, thu hút lượng khách đông đảo đã góp phần đưa hình ảnh, đất nước con người Việt Nam gần hơn tới bạn bè quốc tế. Theo xu hướng phát triển của du lịch ẩm thực đặc biệt là ẩm thực đường phố, Hồ Chí Minh là một trong những thành phố năng động, hiện đại của nước ta có nhiều khu phố ẩm thực nổi tiếng, được du khách trong và ngoài nước biết đến, hứa hẹn là điểm đến không thể bỏ qua trong mỗi chuyến du lịch khi đến vùng đất Đông Nam Bộ.

26. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 15 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG KHAI THÁC ẨM THỰC ĐƯỜNG PHỐ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 2.1. Khái quát về thành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh (vẫn còn phổ biến với tên gọi cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất của Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất cả nước. Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc Trung ương, được xếp loại đô thị đặc biệt cùng với thủ đô Hà Nội. 2.1.1. Vị trí địa lý – Điều kiện tự nhiên 2.1.1.1. Vị trí địa lý Thành phố Hồ Chí Minh có toạ độ 10°22′ – 11°22′ Bắc và 106°01′ – 107°01′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây giáp tỉnh Long An, phía Nam giáp biển Đông và Tiền Giang. Nằm ở miền Nam Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cách Hà Nội 1.730 km theo đường bộ, trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí gần tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế. Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực: Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi. Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi. Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ. Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ.

27. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 16 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 2.1.1.2. Điều kiện tự nhiên Địa hình, địa chất Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hình thành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Vùng cao nằm ở phía Bắc – Đông Bắc và một phần Tây Bắc, trung bình từ 10 đến 25m. Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32m như đồi Long Bình ở Quận 9. Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía nam – Tây Nam và Ðông Nam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1m, nơi thấp nhất là 0,5m. Các khu vực trung tâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyện Hóc Môn và quận 12 có độ cao trung bình khoảng 5 tới 10m. Địa chất Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên bề mặt. Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố. Dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhóm đất đặc trưng riêng là đất xám. Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đất xám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng và hiếm hơn là đất xám gley. Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc: biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi… hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biển với 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha. Ngoài ra còn có một diện tích khoảng hơn 400 ha là “giồng” cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá ở vùng đồi gò. Thủy văn Về thủy văn, nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi và kênh rạch rất đa dạng. Sông Ðồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi

28. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 17 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 nhiều sông khác, có lưu vực lớn, khoảng 45.000 km². Với lưu lượng bình quân 20 – 500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³ nước, sông Đồng Nai trở thành nguồn nước ngọt chính của thành phố. Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80km. Sông Sài Gòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225m đến 370m, độ sâu tới 20m. Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành mở rộng. Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợp lưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái. Trong đó, ngả Gành Rái là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn. Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt như: Láng The, Bàu Nông, Rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ – Kênh Đôi, Tàu Hủ,… Hệ thốngsông, kênh rạch giúp Thành phố Hồ Chí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biển Ðông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạn chế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành. Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầm khá phong phú. Nhưng về phía nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn, nhiễm mặn. Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sự tốt nhưng vẫn được khai thác, chủ yếu ở ba tầng: 0 – 20 m, 60 – 90 m và 170 – 200 m (tầng trầm tích Miocen). Tại quận 12, huyện Hóc Môn và huyện Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào, thường được khai thác ở tầng 60 -90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng.

29. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 18 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Thời tiết, khí hậu Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, cũng như một số tỉnh Nam Bộ khác, Thành phố Hồ Chí Minh không có bốn mùa: xuân, hạ,thu, đông. Nhiệt độ cao đều và mưa quanh năm (mùa khô ít mưa). Trong năm, Thành phố Hồ Chí Minh có 2 mùa là biến thể của mùa hè: mùa mưa – khô rõ rệt. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô, nhiệt độ cao và mưa ít). Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng/tháng, nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C. Hàng năm, thành phố có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C. Lượng mưa trung bình của thành phố đạt 1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vào năm 1958. Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9. Trên phạm vi không gian thành phố, lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc. Các quận nội thành và các huyện phía bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại. Thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính là gió mùa Tây – Tây Nam và Bắc – Ðông Bắc. Gió Tây – Tây Nam từ Ấn Độ Dương, tốc độ trung bình 3,6 m/s, vào mùa mưa. Gió Bắc – Ðông Bắc từ biển Đông, tốc độ trung bình 2,4 m/s, vào mùa khô. Ngoài ra còn có gió mậu dịch theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình 3,7 m/s. Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão. Cũng như lượng mưa, độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%). Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm. Với những biến đổi khí hậu, Hồ Chí Minh thuộc danh sách 10 thành phố trên thế giới bị đe dọa vì nguy cơ mực nước biển dâng cao. Theo dự tính

30. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 19 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 của Liên Hiệp Quốc thì đến năm 2050 nước biển sẽ dâng 26 cm và 70% khu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh sẽ bị ngập lụt. Ngân hàng Phát triển Á châu ước lượng hậu quả là thiệt hại kinh tế lên đến hàng tỷ USD. 2.1.2. Lịch sử hình thành – tổ chức hành chính và kinh tế – xã hội. 2.1.2.1. Lịch sử hình thành Vùng đất này ban đầu được gọi là Prey Nokor, thành phố sau đó hình thành nhờ công cuộc khai phá miền Nam của nhà Nguyễn. Năm 1698,Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định, đánh dấu sự ra đời của thành phố. Khi Pháp vào Đông Dương, để phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa, thành phố được thành lập với tên gọi Sài Gòn và nhanh chóng phát triển, trở thành một trong hai đô thị quan trọng nhất Việt Nam. Sài Gòn cũng là thủ đô của Liên bang Đông Dương giai đoạn 1887 – 1901 (về sau, Pháp chuyển thủ đô Liên bang Đông Dương ra Hà Nội). Năm 1949, Sài Gòn trở thành thủ đô của Quốc gia Việt Nam, một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương và sau này là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa. Kể từ đó, thành phố này trở thành một trong những đô thị quan trọng nhất của miền Nam Việt Nam. Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, lãnh thổ nước ta được hoàn toàn thống nhất. Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội nước Việt Nam thống nhất quyết định đổi tên Sài Gòn thành Thành phố Hồ Chí Minh, theo tên vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 2.1.2.2. Tổ chức hành chính Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam. Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện. Trong đó có 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn. Hệ thống quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có 976 địa chỉ, trong đó 47 thuộc trung

31. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 20 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 ương, 73 thuộc thành phố, 549 thuộc các quận, huyện và 307 thuộc cấp phường xã. Các tổ chức đoàn thể, chính trị bao gồm cấp trung ương và thành phố có 291 địa chỉ, các đơn vị sự nghiệp có 2.719 địa chỉ. 2.1.2.3. Kinh tế Sau khi các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất trong tháng 12/2018 để chuẩn bị hàng dự trữ, phục vụ nhu cầu tiêu dùng Tết dương lịch và Tết nguyên đán, sang tháng 01/2019 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính chỉ bằng 92,39% so với tháng trước. Trong đó, hoạt động khai khoáng giảm 59,93%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 7,44%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,47%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,94%. Tuy nhiên, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng của năm 2018. Trong đó, ngành khai khoáng tăng 7,51%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,1%; ngành sản xuất và phân phối điện có mức tăng trưởng cao nhất 10,82%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,25%. Về 4 ngành công nghiệp trọng điểm: Chỉ số sản xuất công nghiệp của 4 ngành trọng điểm tháng 1 tăng 1,23% so với tháng trước và tăng 5,13% so với tháng cùng kỳ, cao hơn chỉ số chung toàn ngành. Ngành chế biến lương thực thực phẩm, đồ uống có mức tăng 3,91% so với cùng kỳ, trong đó sản xuất sữa và các sản phẩm từ sữa; sản xuất sản phẩm mì, phở, bún, miến cháo ăn liền tăng cao. Ngành hóa dược tăng chậm 1,37% so với cùng kỳ vì một số công ty sản xuất hóa chất đã chuyển nhà máy khỏi thành phố hoặc thu hẹp sản xuất để chuyển sang các tỉnh khác, mặt khác công ty ngành dược gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Ngành cơ khí tăng 3,55% so với cùng kỳ. Ngành sản xuất hàng điện tử tăng 17,73%, là ngành có chỉ số sản xuất tăng cao nhất do có thị trường tiêu thụ ổn định và các doanh nghiệp thường xuyên ứng dụng các công nghệ mới, hiện đại. Trong đó nổi bật là

32. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 21 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 những loại sản phẩm điện tử sử dụng chip thương hiệu Việt (bo mạch điều khiển chiếu sáng đường, khóa xe container…) và một số sản phẩm đầu cuối đã được đưa vào sản xuất đại trà được các công ty khu công nghệ cao của thành phố thực hiện. Ngoài ra vốn đầu tư xây dựng thuộc ngân sách thành phố tháng 1/2019 ước thực hiện 415,6 tỷ đồng, bằng 93,3% so với cùng kỳ năm trước. Cấp thành phố ước thực hiện 329,2 tỷ đồng, chiếm 79,2%; cấp quận huyện ước thực hiện 185,4 tỷ đồng, chiếm 20,8%. Từ ngày 1/1/2019 đến ngày 20/1/2019, trên địa bàn thành phố đã có 68 dự án có vốn nước ngoài được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký đạt 32,7 triệu USD. Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài có 59 dự án, vốn đầu tư 20,9 triệu USD, liên doanh 9 dự án, vốn đầu tư 11,8 triệu USD. Điều chỉnh vốn đầu tư có 11 dự án (bao gồm các dự án tăng và giảm vốn), số vốn tăng 4,7 triệu USD. Tổng vốn đầu tư cấp phép mới và điều chỉnh vốn đến ngày 20/1/2019 đạt 37,4 triệu USD, bằng 39,4% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, thành phố đã có 191 dự án góp vốn, mua cổ phần, mua lại phần vốn góp là 452,7 triệu USD, tăng gấp 3,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất khẩu bao gồm dầu thô ước thực hiện tháng 01/ 2019 đạt 2.848,7 triệu USD, tăng 2,2% so tháng trước và giảm 7,4% so cùng kỳ. Loại trừ dầu thô ước tính tháng 1 đạt 2.619,7 triệu USD, giảm 7,6% so cùng kỳ. Chia ra: Thành phần kinh tế nhà nước đạt 359,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 12,6%, tăng 15,9%. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước đạt 892,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 31,3%, giảm 17,6%. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.596,4 triệu USD, chiếm tỷ trọng 56,0%, giảm 5,1%. Thị trường xuất khẩu chủ yếu: đứng đầu là Trung Quốc với 558,7 triệu USD, chiếm tỷ trọng 19,6%, giảm 0,6% so cùng kỳ; vị trí thứ 2 là Hoa Kỳ với 498,8 triệu USD, chiếm 17,5%, giảm 6,0%; vị trí thứ 3 là Nhật Bản với 282,5 triệu USD, chiếm 9,9%, tăng 3,0%; vị trí thứ 4 là Hồng Kông với

33. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 22 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 135,3 triệu USD, chiếm 4,7%, giảm 12,4%; vị trí thứ 5 là Hàn Quốc với 130,3 triệu USD, chiếm 4,6%, giảm 13,2% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch nhập khẩu tháng 01/2019 ước đạt 3.838,7 triệu USD, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 7,9% so cùng kỳ. Chia ra: Thành phần kinh tế nhà nước đạt 126,2 triệu USD, chiếm tỷ trọng 3,3%, giảm 22,0%. Thành phần kinh tế ngoài nhà nước đạt 2.079,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 54,2%, tăng 3,7%. Thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 1.632,5 triệu USD, chiếm tỷ trọng 42,5%, tăng 17,4%; Thị trường nhập khẩu chủ yếu: đứng đầu là Trung Quốc với 1.363,9 triệu USD, chiếm tỷ trọng 35,5%, tăng 30,0% so cùng kỳ; vị trí thứ 2 là Singapore với 352,4 triệu USD, chiếm 9,2%, giảm 3,8%; vị trí thứ 3 là Hàn Quốc với 289,5 triệu USD, chiếm 7,5%, giảm 8,7%; vị trí thứ 4 là Thái Lan với 239,5 triệu USD, chiếm 6,2%, giảm 16,4%; vị trí thứ 5 là Hoa Kỳ với 197,3 triệu USD, chiếm 5,1%, tăng 16,0% so cùng kỳ. 2.1.2.4. Dân cư – Xã hội Theo kết quả tổng hợp sơ bộ do Ban chỉ đạo Tổng điều tra thành phố công bố, dân số của thành phố đến thời điểm 23/01/2019 là 8.859.688 người, tăng 64.823 người so với thời điểm 30/6/2018 (số liệu dân số của thành phố đến thời điểm 30/6/2018 là 8.794.865 người). Như vậy trong thời kỳ khoảng 10 năm 2009 – 2019 tốc độ tăng dân số bình quân của thành phố là 2,15% năm. Bình quân một năm thành phố tăng khoảng 170.000 người. Trong các thập niên gần đây, thành phố Hồ Chí Minh luôn có tỷ số giới tính thấp nhất Việt Nam, luồng nhập cư từ các tỉnh khác vào Thành phố Hồ Chí Minh luôn có số nữ nhiều hơn số nam. Thành phố Hồ Chí Minh gặp phải tình trạng quá tải dân số, tạo áp lực lớn lên nền kinh tế và đời sống người dân. Sự phân bố dân cư ở Thành phố Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một số quận như 4, 5, 10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000 người/km², thì huyện ngoại thành như Cần Giờ có mật độ tương đối thấp 98 người/km.

34. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 23 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Những năm gần đây,dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Những khu vực tập trung nhiều người nước ngoài hay Việt kiều sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo thành một nét rất riêng đó là những khu chợ, cửa hàng,dịch vụ, món ăn đặc sản của nước đó. Có thể kể đến: Phố Mã Lai tập trung người Mã Lai, người Chăm tại đường Nguyễn An Ninh; phố Hàn Quốc tại đường Hậu Giang đến các đường lân cận thuộc Phường 4, quận Tân Bình; phố Nhật Bản tại giao lộ Thái Văn Lung – Lê Thánh Tôn thuộc phường Bến Nghé, quận 1, khu đô thị Phú Mỹ Hưng (Năm 2018, Phú Mỹ Hưng có trên 30.000 người sinh sống, chiếm hơn 50% là người nước ngoài đến từ hàng chục quốc gia, đông hơn cả vẫn là công dân các nước và vùng lãnh thổ châu Á, nhiều nhất đến từ Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc,…) 2.1.3. Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thành phố Hồ Chí Minh 2.1.3.1. Tài nguyên vật thể Cho đến tháng 5/2017, thành phố đã có 172 di tích được xếp hạng gồm: 56 di tích quốc gia, trong đó có 24 di tích lịch sử, 30 di tích kiến trúc nghệ thuật, 2 di tích quốc gia đặc biệt và 114 di tích cấp thành phố. Trong đó tiêu biểu là các công trình, di tích sau đây: Di tích Giồng Cá Vồ Giồng Cá Vồ là một di tích khảo cổ nằm ở ấp Hòa Hiệp, xã Long Hòa, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đây nằm trên một giồng đất đỏ, có diện tích khoảng 7.000 mét vuông, cao hơn khoảng 1,5 mét so với mặt đất hiện tại, phần chân giồng thường xuyên bị ngập mặn.

35. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 24 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Cách cửa biển 5km, Cần Giờ có nhiều gò nổi, người dân địa phương gọi là Giồng. Một số Giồng có diện tích lớn như: Giồng cá vồ, Giồng phệt, Giồng cá trăng,… Cá Vồ là một Giồng đất đỏ rộng 7. 000m2 , cao 1,5m nằm tả ngạn sông Hà Thanh, cách bờ sông chừng 100m. Các nhà khảo cổ đã phát hiện năm 1993. Đến năm 1994, tiến hành khai quật 230m2 diện tích. Tầng văn hoá dày đến 1,50m, gồm 4 lớp: đất canh tác đến độ sâu 0,3m; đất đỏ bazan từ 0,3-0,7m; đất đen xốp lẫn nhiều gốm than tro từ 0,7 -0,9m; đất đỏ vàng nhiều gốm từ 0,9m-1,5m. Qua 2 lần đào thám sát và khai quật, các nhà khảo cổ bước đầu xác nhận đây là di chỉ cư trú sản xuất gốm là khu mộ táng của người xưa và phát hiện có 38 ngôi mộ chum trong đó 23 mộ có di cốt người. Bên cạnh đó còn phát hiện được nhiều đồ tùy táng bằng gốm, đá, thủy tinh, vỏ nhuyễn thể, sắt,… hiện vật chủ yếu là đồ trang sức. Ngày 2 tháng 4 năm 1994, Bộ Văn hóa Thông tin đã ban ban hành giấy phép số 181/VHQĐ để kịp thời bảo vệ di tích trước sự phá hủy của tự nhiên và quá trình canh tác ở địa phương. Từ ngày 26 tháng 4 năm 1995 đến ngày 21 tháng 6 năm1995, các nhà Khảo cổ học Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh, Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di tích này. Hiện đã tìm thấy gần 350 mộ chum và 10 mộ đất. Di vật trong mộ là hài cốt người, đặc biệt trong các mộ chum còn khá nguyên vẹn. Phần lớn di cốt trong chum được người cổ mai táng theo tư thế ngồi bó gối. Chum mai táng ở Giồng Cá Vồ có hai loại mộ cổ và mộ đất, trong đó mộ đất chiếm ưu thế trên 90% và hai loại này đều chưa thấy trong bất kỳ một di tích mộ chum nào ở Đông Nam Á. Số lượng chum nhiều, với sự thống nhất của phương thức và đồng nhất của loại hình chum mai táng cho thấy táng thức của cư dân Giồng Cá Vồ đã tồn tại khá lâu dài và ổn định như một truyền thống độc đáo ở khu vực Đông Nam Á. Các nhà khảo cổ xác định: đây là khu mộ táng thuộc văn hoá tiền khảo cổ học Sa Huỳnh, chủ nhân là cư dân bản địa, thể hiện rõ nét của chủng Mongoloid. Hiện nay, các di vật từ cuộc khai quật khảo cổ di tích ở nơi đây đang được lưu giữ và trưng

36. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 25 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 bày tại một số bảo tàng lớn như Bảo tàng Lịch sử quốc gia ở Hà Nội, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Thành phố Hồ Chí Minh và Bảo tàng Lịch sử-Văn hóa Nam bộ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhằm giới thiệu về lịch sử Việt Nam trong giai đoạn tiền sơ sử trong những thế kỷ cuối TCN. Ngày 13 tháng 4 năm 2000, giồng Cá Vồ được công nhận là di tích khảo cổ học cấp quốc gia theo Quyết định số 06/2000-QĐ-BVHTT của Bộ Văn hóa Thông tin. Dinh Thống Nhất Đây là một trong những di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến định hướng phát triển của thành phố. Dinh Độc Lập (tên gọi trước đây là dinh Norodom, ngày nay còn gọi là dinh Thống Nhất hay hội trường Thống Nhất) là một công trình kiến trúc, tòa nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh. Nó từng là nơi ở và làm việc củaTổng thống Việt Nam Cộng hòa. Hiện nay, nó đã được chính phủ Việt Namxếp hạng di tích quốc gia đặc biệt. Công trình được thiết kế xây dựng trên diện tích 4.500 m², trên khuôn viên đất rộng 120.000 m², gồm: 1 tầng nền, 3 tầng chính, 1 sân thượng, 2 gác lửng, 1 tầng hầm kiên cố gồm 100 phòng: phòng làm việc của Tổng thống, phòng khánh tiết, phòng họp hội đồng nội các, phòng làm việc, phòng trình ủy nhiệm thư, phòng đại yến,… Ngoài tòa nhà chính, dinh còn có hồ sen bán nguyệt, bồn hoa, vườn cây cảnh. Dinh cao 26m, tọa lạc trong khuôn viên rộng 12 ha rợp bóng cây. Giữa những năm 1960, đây là công trình có quy mô lớn nhất miền Nam và có chi phí xây dựng cao nhất (khoảng 150.000 lượng vàng). Địa đạo Củ Chi Đây là một trong những di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược của quân và dân ta. Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng

37. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 26 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 70km về hướng tây- bắc, nằm giữa sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông. Hệ thống này được Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Namđào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống bí mật này được đào từ năm 1948 với khoảng 17km. Sau năm 1960, hệ thống tiếp tục được củng cố và phát triển dài hơn 200 km. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là “đất thép thành đồng”, nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công vào Sài Gòn. Địa đạo đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ. Không khí được lấy vào địa đạo thông qua các lỗ thông hơi. Các khu vực khác nhau của địa đạo có thể được cô lập khi cần. Ðường hầm sâu dưới đất từ 3 – 10m, chiều cao chỉ đủ cho một người đi lom khom. Căn hầm đầu tiên ở ngay bìa rừng có giếng ngầm cung cấp nguồn nước uống và sinh hoạt cho toàn khu vực địa đạo. Hệ thống địa đạo gồm 3 tầng, từ đường “xương sống” toả ra vô số nhánh dài, nhánh ngắn ăn thông nhau, có nhánh trổ ra tận sông Sài Gòn. Tầng một cách mặt đất 3m, chống được đạn pháo và sức nặng của xe tăng, xe bọc thép. Tầng 2 cách mặt đất 5m, có thể chống được bom cỡ nhỏ. Còn tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

38. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 27 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Năm 2015, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động do có thành tích đặc biệt xuất sắc trong lao động, sáng tạo. Trong 20 năm hoạt động, khu di tích đón hơn 20 triệu lượt khách trong và ngoài nước tới tham quan, tìm hiểu. Ngày 12 tháng 2 năm 2016, khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi đón nhận Bằng xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt. Ngày nay, địa đạo Củ Chi còn khoảng 120 km được bảo vệ và đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho du khách đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Du khách, đặc biệt là các vị lãnh đạo Đảng, nguyên thủ Quốc gia của Việt Nam và các nước cùng nhiều cựu chiến binh,… thường chọn điểm tham quan này khi đến thăm Thành phố Hồ Chí Minh. Bưu điện Thành phố Bưu điện trung tâm Sài Gòn là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, tọa lạc tại số 2, Công trường Công xã Paris, quận 1. Đây là tòa nhà được người Pháp xây dựng vào năm 1886 đến năm 1890 thì khánh thành với phong cách châu Âu theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Villedieu cùng phụ tá Foulhoux. Đây là công trình kiến trúc mang phong cách phương Tây kết hợp với nét trang trí phương Đông.Nếu hệ thống cửa sổ của khối nhà hai bên đều có hình vòm cung hoặc hơi vòm thì riêng tại khối nhà giữa, các cửa sổ lại có hình chữ nhật. Trên các ô có đắp hình các nam nữ đội vòng nguyệt quế, trên vòng cung ngôi nhà có chiếc đồng hồ lớn. Những đường viền, đường chỉ hay hoa văn chạy ngang như muốn kéo thấp tòa nhà Bưu điện Trung tâm Thành phố, tạo thành những đường trang trí khỏe khoắn và đăng đối, gợi nhớ đến những nhà ga xe lửa ở châu Âu. Vào phía trên trong, hai bên tường cao là hai bản đồ lịch sử mang tên: Saigon et ses environs, 1892 và Lignes télégraphiques du Sud Vietnam et du Cambodge, 1936.Tại đây hiện có 35 quầy phục vụ khách hàng với đủ các dịch vụ bưu phẩm cùng mạng lưới điện báo rộng khắp đến các địa phương trong nước và các nước trên thế giới. Trần nhà hình vòm

39. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 28 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 cung tương ứng với cửa ra vào được nâng đỡ bởi hai hàng trụ và hệ thống vĩ kèo bằng sắt, nổi bật với thiết kế công phu có các đấu nối là những hoa văn đẹp. Hệ thống cột, trụ của phần mặt tiền đều có kết cấu hình khối vuông vắn, trên đầu trụ có gắn những mảng phù điêu với hoa văn đắp nổi rất công phu. Riêng ở phần trụ khoảng giữa tầng hai và tầng trệt của tòa nhà Bưu điện Trung tâm Thành phố, các mảng phù điêu lại ôm trọn phiến đá hình chữ nhật, trên mỗi phiến đá ghi tên một nhà khoa học đã có những đóng góp to lớn cho nền văn minh nhân loại trong lĩnh vực điện và điện tín. Trải qua hơn trăm năm tồn tại, tòa nhà Bưu điện Trung tâm Sài Gòn hiện vẫn là một công trình kiến trúc đẹp và ấn tượng, tạo nên điểm nhấn độc đáo cho thành phố Hồ Chí Minh. Nhà thờ Đức Bà Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn – tên chính thức: Vương cung thánh đường chính tòa Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội là nhà thờ chính tòa củaTổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, một trong những công trình kiến trúc độc đáo đối với du khách trong và ngoài nước. Công trình được khởi công xây dựng ngày 7/10/1877 và được khánh thành vào ngày 11/4/1880 với tổng kinh phí là 2,5 triệu Phờ-răng. Nội thất thánh đường được thiết kế thành một lòng chính, hai lòng phụ tiếp đến là hai dãy nhà nguyện. Toàn bộ chiều dài thánh đường là 133m. Chiều ngang nơi rộng nhất là 35 m. Chiều cao của tháp là 57 m, sáu đại hồng chung nặng 25,850kg đặt dưới 2 lầu chuông. Sức chứa của thánh đường có thể đạt tới 1.200 người. Nội thất thánh đường có hai hàng cột chính hình chữ nhật, mỗi bên sáu chiếc tượng trưng cho 12 vị thánh tông đồ. Bàn thờ nơi Cung Thánh làm bằng đá cẩm thạch nguyên khối có hình sáu vị thiên thần khắc thẳng vào khối đá đỡ lấy mặt bàn thờ, bệ chia làm ba ô, mỗi ô là một tác phẩm điêu khắc diễn tả thánh tích. Ngay sau hàng cột chính là một hành lang và kế đó là nhiều nhà nguyện nhỏ với những bàn thờ về các thánh (hơn 20 bàn

40. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 29 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 thờ) cùng các bệ thờ 14 chặng Đàng Thánh Giá làm bằng đá trắng khá tinh xảo. Trên tường được trang trí nổi bật 56 cửa kính mô tả các nhân vật hoặc sự kiện trong Thánh Kinh, 31 hình bông hồng tròn, 25 cửa sổ mắt bò bằng kính nhiều màu ghép lại với những hình ảnh rất đẹp. Tất cả các đường nét, gờ chỉ, hoa văn đều tuân thủ theo hình thức Roman và Gôtich, tôn nghiêm và trang nhã. Tuy nhiên, trong số 56 cửa kính này hiện chỉ còn bốn cửa là nguyên vẹn như xưa, còn các cửa kính màu khác đều đã được làm lại. Mặt trước thánh đường là một công viên với bốn con đường giao nhau tạo thành hình thánh giá. Trung tâm của công viên là bức tượng Đức Mẹ Hòa bình (hay Nữ vương Hòa bình). Bức tượng cao 4,6 m và nặng 8 tấn, làm bằng đá cẩm thạch trắng của Ý, được tạc với chủ đích để nhìn từ xa nên không đánh bóng, vì vậy mà toàn thân tượng, kể cả vùng mặt vẫn còn những vết điêu khắc thô. Tượng Đức Mẹ trong tư thế đứng thẳng, tay cầm trái địa cầu, trên trái địa cầu có đính cây thánh giá, chân Đức Mẹ đạp đầu con rắn, mắt Đức Mẹ đăm chiêu nhìn lên trời như đang cầu nguyện cho Việt Nam và cho thế giới được hoà bình. Chùa Giác Lâm Chùa Giác Lâm là một trong những ngôi chùa cổ nhất củaThành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế Tông ở miền Nam Việt Nam. Chùa tọa lạc tại số 565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, thuộc phường 10, quận Tân Bình và đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa – Thông tin) công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988. Chùa Giác Lâm hiện nay có lối kiến trúc chữ Tam (Ξ) gồm ba dãy nhà ngang nối liền nhau: chính điện, giảng đường và nhà trai. Chùa nguyên thủy không có cổng tam quan (cổng tam quan chỉ mới được xây dựng vào năm 1955), mái chùa gồm 4 vạt và các sống mái đều thẳng. Năm 2007, khởi

41. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 30 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 công xây dựng khu giảng đường và tăng xá. Chính điện với kiểu nhà dân gian truyền thống một gian hai chái, bốn cột chính hay còn gọi là tứ trụ. Bên trong điện khá rộng và sâu, có 56 cột to hơn vòng tay ôm màu nâu sẫm. Cột nào cũng được chạm khắc câu đối, thiếp vàng công phu. Giữa các hàng cột là các cửa võng, cũng được thiếp vàng, chạm trổ các đề tài trang trí truyền thống như tứ linh, tứ quý, hoa điểu,…Trong chính điện bày trí theo kiểu “tiên bái Phật, hậu bái Tổ”. Phía trước chính điện thờ các tượng A Di Đà, Thích Ca, Di Lặc. Hai bàn thờ hai bên phải trái, có tượng Quan Thế Âm và Thế Chí. Ngoài ra, ở đây còn có tượng Cửu Long, dọc hai bên tường có bộ tượng Thập Bát La Hán, bộ tượng Thập Điện Diêm Vương, tượng Tổ Bồ Đề Đạt Ma và tượng Long Vương. Đằng sau chính điện là bàn thờ Tổ, thờ các vị Hòa thượng đã trụ trì tại chùa Giác Lâm. Đối diện với bàn thờ Tổ là các bàn thờ: Phật Chuẩn Đề, Phật A Di Đà và sau cùng là bàn thờ Thập Điện Diêm Vương.Ở gian này, vào thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, được dùng làm cơ sở hậu cần, nuôi chứa cán bộ, làm công tác trinh sát nội thành. Trước chùa là bảo tháp xá lợi gồm bảy tầng hình lục giác. Tháp được khởi công xây dựng từ năm 1970 theo bản vẽ của kiến trúc sư Vĩnh Hoằng, đến năm 1975 thì tạm ngưng cho đến 1993 mới được tiếp tục. Bên trái của chùa là khu mộ tháp của các vị hòa thượng đã trụ trì ở đây, trong số ấy có tháp Tổ Phật Ý-Linh Nhạc, tháp Thiền sư Tổ Tông-Viên Quang. Ngoài ra, trước sân chùa có đặt tượng Quan Thế Âm Bồ Tát dưới bóng cây bồ đề. Cây do Đại đức Narada mang từ Sri Lanka (Tích Lan) sang trồng vào ngày 18 tháng 6 năm 1953. Trên các cột chính của chùa đều có khắc câu đối (gồm 86 câu) thếp vàng công phu. Đáng chú ý có câu đối của Hiệp trấn Trịnh Hoài Đức (treo ở gian thờ Tổ) và câu đối của Mộc Ân đệ tử phụng cúng vào năm Gia Long thứ 3 (1804).

42. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 31 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Khu du lịch văn hóa Đầm Sen Công viên Văn hoá Đầm Sen là công viên giải trí nằm trên đường Hòa Bình, quận 11. Công viên có diện tích 50 hecta gồm 20% là mặt hồ và 60% cây xanh và vườn hoa, giáp đường Lạc Long Quân và Hòa Bình. Toàn công viên trải dài trên một diện tích rộng gồm 30 khu vực: Khu trò chơi điện tử, Sân khấu cổ tích, Lâu đài cổ tích, Sân khấu quảng trường, Hồ Tây thu nhỏ, Nam tú thượng uyển, Non bộ – thủy cung, Ðảo khiêu vũ, Khu trò chơi thiếu nhi, Ðèn tạo hình, Cầu cửu khúc, Nhà ga Monorail,… Hòn non bộ cao 22m với nhiều thác ghềnh mà tầng hang động lớn nhất được bố trí thành thủy cung với đủ các loài cá nhiều màu. Rồi Nam tú thượng uyển với một hệ thống vườn phong lan phong phú và đa dạng. Với đối tượng thiếu niên ưa hiếu động trong công viên có khá nhiều sân chơi hấp dẫn: sân trượt patanh, xe ô tô điện, tàu trượt cao tốc, công viên nước… Ngồi trên tàu chạy trên cao 5m so với mặt đất và với chiều dài gần 2.000m du khách có thể quan sát toàn bộ cảnh trí công viên Ðầm Sen với góc nhìn đẹp nhất. Công trình gây ấn tượng nhiều nhất có lẽ là vườn châu Âu – Quảng trường La Mã: đây là hệ thống vườn hoa kiểu châu Âu được tạo dáng bằng các bồn hoa hồng nhiều màu sắc, các cột trụ La Mã uy nghi, những tượng đá duyên dáng và sân khấu nhạc nước gồm 3.000 chỗ ngồi. Sân khấu Laser Nhạc Nước được xây dựng năm 2005 với số vốn đầu tư 12 tỷ đồng, vị trí nằm phía sau vườn hoa châu Âu, sân khấu có mái che với sức chứa 3.000 chỗ ngồi. Sân khấu Laser Nhạc Nước là một loại hình nghệ thuật độc đáo, hiện đại duy nhất tại Việt Nam mà các kỹ sư Đầm Sen đã học được từ mô hình nhạc nước ở đảo Sentosa (Singapore). Đây là sự kết hợp giữa chương trình ca nhạc với sân khấu thiết kế chuyên biệt có hệ thống phun nước và đèn laser, chiếu phim trên màn hình nước cao 28m. Phối hợp yếu tố nghệ thuật với kỹ thuật, những vòi phun nước chuyển động huyền ảo với ánh sáng, màu sắc và âm nhạc. Đầm Sen là một trong những khu du lịch

43. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 32 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 lớn đặc sắc nhất nước Việt Nam. Kiến trúc được kết hợp một cách hoàn mĩ nền văn hóa Đông – Tây và một chút vẻ đẹp thời La Mã. Ngoài những khu vui chơi, Đầm Sen còn có những nhà hàng, khách sạn và hàng chục các loại hình khác để phục vụ khách du lịch. Đầm Sen là nơi vui chơi giải trí rất hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. 2.1.3.2. Tài nguyên phi vật thể Nghệ thuật đờn ca tài tử Đờn ca tài tử Nam bộ là dòng nhạc dân tộc của Việt Nam đã đượcUNESCOcông nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Đờn ca tài tử xuất hiện hơn 100 năm trước, là loại hình diễn tấu có ban nhạc gồm bốn loại là đàn kìm, đàn cò, đàn tranh và đàn bầu (gọi là tứ tuyệt), sau này có cách tân bằng cách thay thế độc huyền cầm bằng cây guitar phím lõm. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, đề án nhằm bảo tồn giá trị của Nghệ thuật Đờn ca tài tử về bài bản cũng như phong cách trình diễn, sinh hoạt và mục đích hoạt động nghệ thuật của nghệ nhân, tài tử. Đồng thời thử nghiệm, tìm tòi xây dựng những hình thức trình diễn mới phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – văn hóa và du lịch của Thành phố, phát huy các hình thức sinh hoạt, truyền nghề, thi đua sáng tạo, tranh tài nghệ thuật để không ngừng nâng cao chất lượng đờn ca và sáng tạo ra các giá trị mới cho Đờn ca tài tử. Sở Văn hóa và Thể thao sẽ triển khai các hoạt động giới thiệu, quảng bá, tuyên truyền về nghệ thuật Đờn ca tài tử đến mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là học sinh, sinh viên và công nhân, truyền dạy thí điểm ở một số quận, huyện hiện có hoạt động này phát triến mạnh điển hình, vận động sáng tác, tố chức trại sáng tác, tố chức đi thực tế các cơ sở kinh tế, giáo dục, đi về nguồn cho nghệ nhân, nhạc sĩ hưởng ứng tham gia vận động sáng tác, ưu tiên sáng tác lời mới cho các bài bản nhạc cổ,… Cuối năm 2018, toàn Thành phố có 221 câu lạc bộ Đờn ca tài tử đang hoạt động, với số thành viên là 2.677 người ở hầu hết các quận-huyện, duy trì sinh hoạt và biểu diễn phục vụ nhân dân.

44. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 33 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 Ngoài ra, Uý ban Nhân dân Thành phố cũng sẽ ban hành chế độ chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần cho lực lượng hoạt động Đờn ca tài tử; nghiên cứu, ban hành chính sách đãi ngộ, tôn vinh những cá nhân đã có những đóng góp cho nghệ thuật Đờn ca tài tử. Hằng năm, trung tâm Văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh thường tổ chức các chương trình liên hoan Đờn ca tài tử như: giải “Hoa sen vàng”, ” Búp sen vàng”,…giành cho mọi lứa tuổi nhằm phát triển loại hình nghệ thuật này. Lễ hội nghinh Ông Hàng năm,từ ngày 15 dến 17 tháng 8 âm lịch tại lăng Ông Thủy tướng được vua Tự Đức ban sắc phong: “Nam Hải tướng quân” thuộc Xã Cần Thạnh, huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh đều diễn ra lễ tế rất trang trọng của ngư dân Cần Giờ để tưởng nhớ công ơn cá “Ông”. Lễ hội còn có các tên gọi khác như: Lễ rước cốt Ông, Lễ cầu ngư, Lễ tế cá Ông, Lễ cúng Ông, Lễ nghinh Ông, Lễ nghinh Ông Thủy tướng… Nhưng tất cả đều có chung một quan niệm rằng cá “Ông” là thần bảo trợ nghề cá và các nghề trên biển nói chung, và từ đó trở thành tín ngưỡng của ngư dân. Ngày 15/8 không khí lễ hội đã diễn ra nhộn nhịp ở bên ngoài lăng với nhiều hoạt động văn hoá sôi nổi. Sang ngày 16/8, các vị trong hội lăng trong trang phục chỉnh tề làm lễ rước kiệu của Nam hải Tướng quân xuống thuyền rồng ra biển. Đoàn ghe nghinh xuất phát tại bến đò Cần Giờ. Dọc theo đường rước, ngư dân sống trên biển và bà con hai bên phố bày lễ vật nghênh đón, khói nhang nghi ngút. Cùng với thuyền rồng rước thuỷ tướng, có hàng trăm ghe lớn nhỏ, trang hoàng lộng lẫy, cờ hoa rực rỡ tháp tùng ra biển nghênh ông. Trước mũi ghe là hương án và mâm lễ vật. Trên các ghe lớn nhỏ này có chở hàng ngàn khách và bà con tham dự đoàn rước. Đoàn rước đi khoảng hai giờ thì quay về bến nơi xuất phát, rước Ông về lăng ông Thuỷ tướng. Tại bến một đoàn múa lân, sư tử, rồng đã đợi sẵn để đón ông về lăng. Khi rước ông vào lăng, các nghi thức đón và tế diễn ra trang trọng, đúng với

45. Khóa luận tôt nghiệp Trường Đại học Dân lập Hải Phòng 34 SV: Nguyễn Thanh Hương – Lớp: VH1802 nghi thức cổ truyền. Các lễ cầu an, xây chầu đại bội, hát bội diễn ra tại lăng ông Thuỷ tướng. Ngoài lăng, có các hoạt động văn hoá văn nghệ. Sáng 17/8 tại lăng ông Thuỷ tướng diễn ra lễ tôn vương ông Thuỷ tướng theo sắc phong. Lễ cúng có hát thờ. Sau phần lễ tôn ông theo sắc phong cũng là lúc chấm dứt lễ hội.  Một số làng nghề thủ công truyền thống Làng nem Thủ Đức Đất Thủ Đức là để chỉ các quận Thủ Đức, quận 2, quận 9 bây giờ. Để đáp ứng cho nhu cầu của khách đối với món nem danh tiếng, xứ Thủ Đức đã từng có tới hàng trăm lò nem, mà điểm tập trung đông nhất là ven chợ Thủ Đức. Mỗi lò nem có bí quyết riêng, nhưng cũng có những nguyên tắc chung để có thể cùng nhau giữ gìn thanh danh làng nghề. Nhiều lò nem dựng gần nhau, tạo thành một làng nghề, gọi là làng nem Thủ Đức. Người ta tới Thủ Đức, thường ghé vô các quán này ăn nem, lại còn phải mua mấy đùm về làm quà biếu, để chứng tỏ với bà con là cái món mà mình và các bậc tiền bối vẫn hay ca ngợi kia không phải hữu danh vô thực. Làng hoa Gò Vấp Danh gọi “Làng Hoa Gò Vấp” xuất phát từ những gia đình nghệ nhân lâu đời về hoa Kiểng. Trải qua hàng trăm năm, trồng hoa và làm hoa kiểng với đủ thế dáng có thu nhập cao đã trở thành một nghề truyền thống mang tính uyên bác đầy tài năng, thể hiện vẻ đẹp nghệ thuật trong tâm hồn vốn yêu thiên nhiên của người dân Gò Vấp, khiến nơi đây trở thành vùng cung cấp hoa kiểng chủ lực cho Thành phố. Hoa Gò Vấp qua sự mở rộng làm ăn của các gia đình làm nghề đã du ngoạn không chỉ trong Thành phố mà còn đến khắp các vùng miền đất nước, thậm chí giao lưu với cả những xứ sở nổi tiếng về hoa trên thế giới như: Pháp, Hà Lan, Đài Loan, Singapo, Nhật, Thụy Sĩ,… Các nhà sản xuất hoa của nước bạn thường đặt mối hợp tác với

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Du Lịch Thành Phố Cần Thơ trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!