Xem Nhiều 3/2023 #️ Thực Trạng Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng An Toàn Người Bệnh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình # Top 3 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 3/2023 # Thực Trạng Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng An Toàn Người Bệnh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình # Top 3 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng An Toàn Người Bệnh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

MÃ TÀI LIỆU

 CAOHOC.2020.00318

Giá :

50.000đ

Liên Hệ

0915.558.890

Mặc dù số lượng sự cố y khoa xảy ra khá nhiều, gây nên những ảnh hưởng tiêu cực, nhưng ở nước ta các nghiên cứu về an toàn người bệnh, sự cố y khoa chưa nhiều [11]. Trong báo cáo của ngành y tế hàng năm chưa thông báo công khai, cụ thể về sự cố y khoa, thiếu thông tin đầy đủ dịch tễ về sự cố y khoa, như sự cố trong phẫu thuật, thủ thuật, sử dụng thuốc… Điều đó đã làm giảm sự hợp tác của người bệnh, người nhà người bệnh với thầy thuốc, làm tăng sự hoài nghi, hoang mang trong xã hội và gán tội, đổ lỗi khi có sự cố y khoa xảy ra [1], [12], [13]. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình là cơ sở khám chữa bệnh đa khoa tuyến cao nhất của tỉnh Thái Bình, năm 2007 được xếp hạng I, trực thuộc Sở Y tế [14]. Bệnh viện đã triển khai được nhiều kỹ thuật cao của tuyến trung ương. Tuy nhiên cũng giống như một số cơ sở y tế khác, tại bệnh viện vẫn còn xảy ra một số sự cố y khoa không mong muốn gây ảnh hưởng tiêu cực tới người bệnh cũng như ảnh hưởng tới uy tín trong hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện. Mặc dù Bệnh viện đã tập trung đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực và thực hiện một số giải pháp quản lý để tăng cường, cải thiện an toàn cho người bệnh nhưng kết quả đạt được chưa như mong muốn. Câu hỏi đặt ra là thực trạng sự cố y khoa và báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình như thế nào, kiến thức, thái độ của nhân viên y tế về đảm bảo chất lượng an toàn người bệnh ra sao, làm thế nào để nâng cao được chất lượng an toàn người bệnh tại bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đang là những câu hỏi cần được trả lời cấp bách. Trước thực tế đó chúng tôi nhận thấy cần phải có những nghiên cứu áp dụng một số giải pháp quản lý mới vào hoạt động khám chữa bệnh nhằm đảm bảo nâng cao chất lượng an toàn người bệnh.3 Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và hiệu quả một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình” với 2 mục tiêu: MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2015. 2. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2017

MỤC LỤC ĐẶT VẤN ĐỀ …………………………………………………………………………………….. 1 Chương 1: TỔNG QUAN……………………………………………………………………. 4 1.1. Thực trạng quản lý chất lượng an toàn người bệnh………………………….. 4 1.1.1. An toàn người bệnh và sự cố y khoa………………………………………………….4 1.1.2. Quản lý chất lượng an toàn người bệnh……………………………………………..8 1.1.3. Phòng ngừa sự cố y khoa. ……………………………………………………………….12 1.2. Giải pháp can thiệp nhằm nâng cao chất lượng an toàn người bệnh…. 15 1.2.1. Các phương pháp chất lượng cơ bản cấp quốc gia……………………………16 1.2.2. Các hoạt động cơ bản về quản lý chất lượng trong khám chữa bệnh. ..16 1.2.3. Các hoạt động khác trong quản lý chất lượng khám chữa bệnh…………21 1.2.4. Một số mô hình quản lý chất lượng bệnh viện………………………………….23 1.2.5. Các nghiên cứu về quản lý chất lượng bệnh viện, an toàn người bệnh 30 1.2.6. Tổ chức hệ thống các bệnh viện tại tỉnh Thái Bình…………………………..37 Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………. 38 2.1. Địa bàn, đối tượng và thời gian nghiên cứu…………………………………… 38 2.1.1. Địa bàn nghiên cứu…………………………………………………………………………38 2.1.2. Đối tượng nghiên cứu……………………………………………………………………..38 2.1.3. Thời gian nghiên cứu………………………………………………………………………40 2.2. Phương pháp nghiên cứu ……………………………………………………………. 40 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ………………………………………………………………………..40 2.2.2. Chọn mẫu và cỡ mẫu cho nghiên cứu………………………………………………42 2.2.3. Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu. …………………………………………..47 2.2.4. Cơ sở tiêu chuẩn đánh giá các chỉ số trong nghiên cứu. ……………………49 2.2.5. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin……………………………………..50 2.3. Các bước và tiến trình nghiên cứu. ………………………………………………. 51 2.3.1. Các bước tiến hành nghiên cứu. ………………………………………………………512.3.2. Giải pháp can thiệp. ………………………………………………………………………..52 2.3.3. Tiến trình thực hiện đề tài ……………………………………………………………….56 2.4. Xử lý số liệu……………………………………………………………………………… 62 2.5. Biện pháp khắc phục sai số trong nghiên cứu. ………………………………. 63 2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. ……………………………………………….. 63 2.7. Phạm vi và một số hạn chế trong nghiên cứu………………………………… 64 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……………………………………………….. 65 3.1. Thực trạng quản lý chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2015…………………………………………………….. 65 3.1.1. Kiến thức của NVYT về quản lý chất lượng ATNB…………………………65 3.1.2. Thái độ của NVYT về quản lý chất lượng ATNB. …………………………..68 3.1.3. Kiến thức của NVYT về 5S……………………………………………………………70 3.1.4. Thái độ của NVYT về thực hiện 5S…………………………………………………71 3.1.5. Thực trạng sự cố y khoa tại bệnh viện năm 2015……………………………..73 3.2. Hiệu quả một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2017……………………. 77 3.2.1. Hiệu quả về kiến thức của NVYT đối với quản lý chất lượng ATNB 77 3.2.2. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với quản lý chất lượng ATNB ….82 3.2.3. Hiệu quả thay đổi kiến thức của NVYT đối với 5S …………………………85 3.2.4. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với 5S ………………………………………86 3.2.5. Thực trạng và hiệu quả thực hiện báo cáo SCYK tại bệnh viện trước, sau can thiệp…………………………………………………………………………….88 3.2.6. Hiệu quả can thiệp đối với nhiễm khuẩn bệnh viện. …………………………93 3.2.7. Kết quả nghiên cứu định tính hiệu quả của các giải pháp can thiệp …..98 Chương 4: BÀN LUẬN……………………………………………………………………. 101 4.1. Thực trạng quản lý chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2015…………………………………………………… 101 4.1.1. Kiến thức của NVYT về quản lý chất lượng an toàn người bệnh…….1014.1.2. Thái độ của NVYT về quản lý chất lượng ATNB…………………………..109 4.1.3. Kiến thức của NVYT về 5S…………………………………………………………..111 4.1.4. Thái độ của NVYT về thực hiện 5S……………………………………………….112 4.1.5.Thực trạng về báo cáo SCYK, NKBV tại bệnh viện năm 2015 ..113 4.2. Hiệu quả một số giải pháp quản lý nâng cao chất lượng an toàn người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình năm 2017………………….. 115 4.2.1. Hiệu quả về kiến thức của NVYT đối với quản lý chất lượng ATNB115 4.2.2. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với quản lý chất lượng ATNB …121 4.2.3. Hiệu quả về kiến thức của NVYT đối với 5S …………………………………124 4.2.4. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với 5S……………………………………..125 4.2.5. Hiệu quả cải thiện về tình hình sự cố y khoa tại bệnh viện………………127 4.2.6. Hiệu quả cải thiện tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện ………………………131 4.3. Tính bền vững của các giải pháp can thiệp………………………………….. 135 KẾT LUẬN …………………………………………………………………………………….. 138 KIẾN NGHỊ……………………………………………………………………………………. 140 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 3.1. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về đặc điểm của SCYK. ………. 65 Bảng 3.2. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về SCYK trong sử dụng thuốc… 65 Bảng 3.3. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về SCYK trong phẫu thuật. ….. 66 Bảng 3.4. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về nhiễm khuẩn bệnh viện……. 67 Bảng 3.5. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về quản lý và trao đổi ………….. 67 Bảng 3.6. Kiến thức của NVYT về văn hóa an toàn người bệnh. ………….. 68 Bảng 3.7. Thái độ của NVYT về sự cần thiết thực hiện đảm bảo ………….. 68 Bảng 3.8. Thái độ của NVYT về tính khả thi thực hiện đảm bảo…………… 69 Bảng 3.9. Thái độ của NVYT về việc tham gia đảm bảo chất lượng ATNB 69 Bảng 3.10. Thái độ của NVYT về ý nghĩa hoạt động đảm bảo……………….. 70 Bảng 3.11. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về 5S. ………………………………… 70 Bảng 3.12. Tỷ lệ NVYT có kiến thức đúng về điều kiện thực hiện …………. 71 Bảng 3.13. Thái độ của NVYT về tính cần thiết thực hiện 5S. ……………….. 71 Bảng 3.14. Thái độ của NVYT về tính khả thi thực hiện 5S…………………… 72 Bảng 3.15. Thái độ của NVYT về việc tham gia thực hiện 5S………………… 72 Bảng 3.16. Phân bố báo cáo SCYK theo đối tượng thực hiện báo cáo …….. 73 Bảng 3.17. Phân bố SCYK được báo cáo theo nhóm sự cố…………………….. 74 Bảng 3.18. Phân bố SCYK được báo cáo theo hậu quả sự cố …………………. 75 Bảng 3.19. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với đặc điểm của SCYK ……………………………………………………………………………… 77 Bảng 3.20. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với SCYK trong sử dụng thuốc……………………………………………………………………….. 78 Bảng 3.21. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với SCYK trong phẫu thuật……………………………………………………………………….. 78 Bảng 3.22. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với nhiễm khuẩn BV . 79Bảng 3.23. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với SCYK người bệnh té ngã ………………………………………………………………………. 80 Bảng 3.24. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với quản lý và trao đổi thông tin chuyên môn ………………………………………………….. 81 Bảng 3.25. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với văn hóa ATNB81 Bảng 3.26. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với sự cần thiết thực hiện chất lượng ATNB……………………………………………………………… 82 Bảng 3.27. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với tính khả thi thực hiện chất lượng ATNB ……………………………………………………………………. 83 Bảng 3.28. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với việc tham gia đảm bảo chất lượng ATNB……………………………………………………………… 84 Bảng 3.29. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với ý nghĩa hoạt động đảm bảo chất lượng ATNB……………………………………………………….. 84 Bảng 3.30. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với 5S……………….. 85 Bảng 3.31. Hiệu quả về kiến thức đúng của NVYT đối với điều kiện thực hiện và lợi ích của 5S………………………………………………………… 86 Bảng 3.32. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với tính cần thiết thực hiện 5S.86 Bảng 3.33. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với tính khả thi thực hiện 5S .. 87 Bảng 3.34. Hiệu quả về thái độ của NVYT đối với việc tham gia thực hiện 5S… 88 Bảng 3.35. Hiệu quả về phân loại sự cố y khoa theo hình thức báo cáo …… 88 Bảng 3.36. Hiệu quả về phân loại sự cố y khoa theo nhóm khoa báo cáo…. 89 Bảng 3.37. Hiệu quả về phân loại báo cáo SCYK theo đối tượng thực hiện báo cáo ……………………………………………………………………………. 89 Bảng 3.38. Hiệu quả về phân loại báo cáo SCYK khoa theo nhóm sự cố…. 90 Bảng 3.39. Hiệu quả về phân loại SCYK theo nhóm đối tượng gây ra sự cố….. 91 Bảng 3.40. Hiệu quả về phân loại nguyên nhân gây SCYK do NVYT…….. 91 Bảng 3.41. Hiệu quả về phân loại SCYK theo hậu quả sự cố. ………………… 92 Bảng 3.42. Hiệu quả về nội dung ghi chép trong báo cáo SCYK…………….. 93Bảng 3.43. Hiệu quả can thiệp với viêm phổi bệnh viện ………………………… 94 Bảng 3.44. Hiệu quả can thiệp với VPBV ở NB có thực hiện thủ thuật……. 94 Bảng 3.45. Hiệu quả can thiệp với NKTN ở các khoa NB điều trị. …………. 95 Bảng 3.46. Hiệu quả can thiệp với nhiễm khuẩn tiết niệu ………………………. 96 Bảng 3.47. Hiệu quả can thiệp với nhiễm khuẩn vết mổ ………………………… 97 Bảng 3.48. Hiệu quả can thiệp với NKVM theo loại phẫu thuật……………… 9

Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Ninh Bình

BS.CKI.Phạm Sỹ Lộc – Phó trưởng khoa Truyền nhiễm – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình cho biết: “Sốt rét là một dạng bệnh lý nguy hiểm do kí sinh trùng sốt rét có tên Plasmodium gây nên, bệnh có khả năng lây từ người qua người thông qua các vết chích của muỗi Anophen. Các triệu chứng của sốt rét có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào loại kí sinh trùng người bệnh nhiễm phải, sức khỏe và tình trạng nhiễm của người bệnh.

– Do muỗi truyền: đây là phương thức chủ yếu.

– Do truyền máu có nhiễm ký sinh trùng sốt rét.

– Do mẹ truyền sang con qua nhau thai bị tổn thương (hiếm gặp). – Do tiêm chích: bơm tiêm dính máu có ký sinh trùng sốt rét, do tiêm chích ma tuý.

2. Triệu chứng của bệnh sốt rét:

Khi mới mắc bệnh biểu hiện ban đầu có thể thấy như sốt, ớn lạnh, vã mồ hôi, cơ thể nhức mỏi, thường xuyên buồn nôn và ói mửa; các triệu chứng tái phát sau mỗi 48-72 giờ, tùy theo cơ thể của từng bệnh nhân và độ nhiễm virut sốt rét.

Sốt rét thường có hai thể lâm sàng là sốt rét thể thông thường và sốt rét ác tính.

– Sốt rét thể thông thường: Là những triệu chứng thường gặp ban đầu khi mắc bệnh sốt rét và không đe dọa đến tính mạng người bệnh. Tùy cơ thể mỗi người mà có những biểu hiện sốt khác nhau (sốt điển hình và sốt không điển hình):

+ Sốt điển hình với ba giai đoạn: Rét run – Sốt – Vã mồ hôi.

+ Sốt không điển hình: Là những biểu hiện sốt không thành cơ, hay ớn lạnh, rét và nổi da gà (ở những bệnh nhân mắc bệnh tại vùng dịch), hoặc sốt liên tục, dao động (ở bệnh nhân là trẻ em, người bị sốt rét lần đầu).

– Sốt rét ác tính: là trường hợp bệnh nhân sốt rét trở nặng, có những biến chứng nguy hiểm đe dọa đến tính mạng người bệnh, với các biểu hiện đặc biệt như: sốt cao liên tục; rối loạn ý thức nhẹ (ngủ li bì, mơ sảng, nói lẩm bẩm…); rối loạn tiêu hóa: buồn nôn, tiêu chảy, bau bụng cấp, ói mửa…

3. Điều trị bệnh sốt rét:

Điều trị cắt cơn kết hợp với điều trị chống lây lan (diệt giao bào); điều trị chống tái phát và điều trị sốt rét biến chứng phải theo đúng y lệnh của bác sỹ.

Nếu trong vùng có dịch, bệnh nhân sốt rét không cần phải cách ly nhưng cần điều trị tại cơ sở y tế để đảm bảo điều trị sớm, đúng phác đồ và chuyển bệnh nhân lên tuyến trên kịp thời khi có dấu hiệu tiền ác tính hoặc ác tính.

4. Biện pháp phòng chống dịch:

Hiện nay khi chưa có vắc xin phòng ngừa sốt rét thì phương pháp phòng bệnh hữu hiệu nhất là phòng chống muỗi truyền bệnh.

– Phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh quanh nhà, làm nhà xa rừng và xa nguồn nước;

– Hạn chế bọ gậy: khơi thông dòng chảy, vớt rong rêu làm thoáng mặt nước. – Huy động sự tham gia của cộng đồng, các đoàn thể tham gia phòng chống sốt rét; tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của người dân về phòng chống sốt rét.

P.CTXH

Lần xem: 19598 Go top

Đề Án Nâng Cao Chất Lượng Bệnh Viện Công Tại Bệnh Viện Mắt Tỉnh Bà Rịa

TẠI BỆNH VIỆN MẮT TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

SỰ CẦN THIẾT VÀ CÁC CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN

Việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân đóng một vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Chất lượng khám chữa bệnh (KCB) tại các cơ sở y tế là vấn đề được cộng đồng xã hội hết sức quan tâm, bởi nó tác động trực tiếp đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của mọi người. Tại BR-VT, trong những năm qua ngành Y tế đã tập trung củng cố, xây dựng và phát triển mạng lưới từ tuyến tỉnh đến cơ sở, trong đó có Bệnh viện Mắt đã mang lại những kết quả tích cực trong công tác chăm sóc sức khỏe nói chung và chăm sóc mắt nói riêng cho nhân dân tỉnh nhà.

Đối với Bệnh viện Mắt tỉnh BR-VT, năm 2014 đã được nâng cấp từ Trung tâm Mắt thành Bệnh viện Mắt, tăng quy mô từ 30 giường bệnh lên 50 giường, tăng thêm biên chế lao động, sửa chữa tạm thời một phần cơ sở vật chất .v.v. . Trong những năm qua Bệnh viện đã nỗ lực vượt qua nhiều khó khăn, thiếu thốn và nhiều bất cập khác để hoàn thành nhiệm vụ, mang lại ánh sáng và sức khỏe cho nhân dân, đóng góp tích cực vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, công tác an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo của tỉnh.

Mặc dù vậy những kết quả đó mới chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu của người dân. Do cơ sở vật chất còn thiếu đồng bộ, trang thiết bị thiếu, nguồn nhân lực kỹ thuật cao còn hạn chế, nhiều mảng chuyên khoa sâu chưa được triển khai v.v. nên các dịch vụ kỹ thuật mới dừng lại ở mức cơ bản, một số lượng nhất định bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên, gây tốn kém khó khăn cho người bệnh, nhất là bệnh nhân ở các huyện xa, các xã nghèo, hải đảo.

Theo kết quả điều tra mù lòa quốc gia năm 2015, trên địa bàn tỉnh BR-VT hiện nay: tỷ lệ mù 2 mắt là 2,2%, mù 1 mắt là 6,8%, tương ứng với gần 13.300 người mù một hoặc hai mắt. Có 20.7% người trên 50 tuổi suy giảm thị lực nặng, tương ứng với trên 30.000 người trong cộng đồng.

Những rào cản khiến số người mù và thị lực thấp còn cao là do thiếu kinh phí đi mổ, thiếu thông tin về các dịch vụ chăm sóc mắt và nhận thức người dân còn hạn chế nên sợ không đi mổ. Mặt khác do bệnh viện không đủ cơ sở vật chất, thiếu trang thiết bị và nhân lực kỹ thuật cao, gây ảnh hưởng không nhỏ khi triển khai các hoạt động chuyên môn tại Bệnh viện cũng như các chương trình chăm sóc mắt tại cộng đồng.

Để từng bước nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và mở rộng các dịch vụ kỹ thuật chuyên môn tại Bệnh viện Mắt, đáp ứng nhu cầu khám chữa mắt ngày càng cao của nhân dân trên địa bàn tỉnh, việc xây dựng đề án nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh viện Mắt tỉnh BR-VT giai đoạn 2015 – 2020 là một trong những vấn đề ưu tiên và cần thiết.

Luật khám chữa bệnh Số 40/2009/QH12 được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 23/11/2009 và ban hành ngày 4/12/2009

Luật BHYT số 25/2008/QH12 ngày 14/11/2008 và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của luật BHYT số 46/2014/QH13 ngày 13/6/2014 của Quốc hội nước CHXHCN Việt nam

Quyết định số 1895/BYT-QĐ ngày 19/09/1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quy chế bệnh viện.

Quyết định số 1313/QĐ-BYT ngày 22/04/2013 của Bộ trưởng Bộ Y Tế về việc ban hành hướng dẫn quy trình khám bệnh tại khoa khám bệnh của bệnh viện.

Chỉ thị số 05/CT-BYT ngày 10/09/2012 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc tăng cường thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh sau khi điều chỉnh giá dịch vụ y tế.

Thông tư số 43/2013/ TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Thông tư số 41/2011/TT-BYT ngày 14/11/2011 của Bộ Y tế : Hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tai bệnh viện.

Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện.

Thông tư số 07/2014/TT-BYT ngày 25/2/2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về quy tắc giao tiếp ứng xử của công chức, viên chức, người lao động làm việc tại các cơ sở y tế.

Quyết định số 2151/QĐ-BYT ngày 4/6/2015 về việc phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện “Đổi mới phong cách thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh”

Quyết định số 3722/QĐ-UBND ngày 05/11/2009 của UBND tình Bà Rịa-Vũng Tàu v/v phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân tỉnh BR-VT đến năm 2015, định hướng đến năm 2020;

Quyết định số: 15/2015/QĐ-UBND ngày 06/03/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh BR-VT về việc ban hành đề án thí điểm thuê chuyên gia y tế trong nước để nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn trong khám chữa bệnh cho ngành y tế tỉnh bà rịa – vũng tàu, giai đoạn 2015-2017.

Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐND ngày 16/7/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh về nhiệm vụ trọng tâm phát triến kinh tế- xã hội- quốc phòng – an ninh 6 tháng cuối năm 2015 của Tỉnh BRVT.

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG KHÁM, CHỮA BỆNH

TẠI BỆNH VIỆN MẮT TỈNH BR-VT

Hiện nay Bệnh viện có 14 khoa phòng, đủ để đáp ứng nhu cầu chuyên môn của Bệnh viện. Cụ thể:

– Có 5 khoa lâm sàng gồm: Khoa Khám bệnh Cấp cứu; Khoa điều trị Bán phần trước; khoa điều trị Bán phần sau; Khoa Khúc xạ – Mắt trẻ em – Chấn thương và Tạo hình thẩm mỹ ; khoa Phẫu thuật Gây mê hồi sức.

– Có 4 khoa cận lâm sàng gồm: Khoa xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh; Khoa Dược; khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn; Khoa dinh dưỡng tiết chế.

– Có 5 phòng chức năng gồm: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng kế hoạch tổng hợp – vật tư thiết bị y tế; Phòng Điều dưỡng, Phòng quản lý chất lượng – CNTT; Phòng tài chính – kế toán.

Tính đến tháng 8/2016 Bệnh viện Mắt có 67 CBVC, trong đó 57 biên chế và 10 hợp đồng theo nghị định 68. Để đáp ứng nhu cầu công việc chuyên môn, Bệnh viện đã phải hợp đồng thêm một số lao động theo nghị định 85.

Về chất lượng cán bộ chuyên môn chưa đồng đều, đặc biệt là thiếu đội ngũ bác sỹ chuyên khoa sâu, điều dưỡng có tay nghề cao, lực lượng cán bộ chủ chốt chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý điều hành.

Năm 2006 Trung tâm Mắt tỉnh được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh, do chưa có trụ sở riêng nên được bố trí sử dụng chung một phần cơ sở vật chất của Trung tâm Phòng chống Bệnh xã hội.

Tháng 4/2015 UBND tỉnh đã có quyết định nâng cấp Trung tâm Mắt thành Bệnh viện Mắt với quy mô 50 giường bệnh, là bệnh viện chuyên khoa hạng II. Từ tháng 6/2015 Bệnh viện Mắt được UBND tỉnh ban hành quyết định giao toàn bộ trụ sở của TTPCBXH cũ tại địa chỉ 21 Phạm Ngọc Thạch, phường Phước Hưng, TP Bà Rịa. Tuy nhiên do quy mô xây dựng và mục đích sử dụng trước đây chủ yếu để phục vụ cho công tác dự phòng, thời gian sử dụng khá dài nên nhiều hạng mục đã xuống cấp, chưa phù hợp với một cơ sở điều trị nội trú.

Hiện nay Bệnh viện Mắt đang tiến hành công tác sửa chữa tạm thời để phục vụ nhu cầu chuyên môn trước mắt, đồng thời lập đề án xin cải tạo, nâng cấp thành Bệnh viện Mắt hoàn chỉnh, trình cấp thẩm quyền phê duyệt.

Do điều kiện kinh phí hạn hẹp, nên sau khi thành lập Trung tâm Mắt được Sở y tế điều chuyển một số trang thiết bị cơ bản từ khoa mắt của hai bệnh viện tỉnh, đến nay hầu hết đã hư hỏng và lạc hậu, thường xuyên phải sửa chữa, thay thế.

Trong quá trình hoạt động, đơn vị cũng đầu tư mua sắm thêm được một số trang thiết bị mới, chủ yếu từ nguồn kinh phí phát triển sự nghiệp của đơn vị, do hạn chế về kinh phí nên không thể đầu tư các trang thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao, và đồng bộ

Hiện nay các trang thiết bị hiện hữu tại Bệnh viện Mắt mới chỉ đáp ứng khoảng 50% nhu cầu phát triển chuyên môn. Bệnh viện còn thiếu rất nhiều trang thiết bị phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị, đặc biệt các chuyên khoa sâu như đáy mắt, Laser, chẩn đoán hình ảnh, phẫu thuật v.v.

Về hệ thống công nghệ thông tin: Hiện nay BV đang sử dụng phần mềm quản lý bệnh viện tự viết từ năm 2007, đến nay đã lạc hậu, quá tải không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển chuyên môn của bệnh viện.

Trong hơn 10 năm qua, BVM đã vượt qua những khó khăn thiếu thốn của một đơn vị mới thành lập về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực để hoàn thành nhiệm vụ và phát triển. Kết quả một số hoạt động chính tại BVM BR-VT trong 5 năm gần đây như sau:

Song song với các hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện, Bệnh viện Mắt còn triển khai hiệu quả những hoạt động phòng chống mù lòa và chăm sóc mắt cộng đồng như: phối hợp với hội người cao tuổi tổ chức khám sàng lọc cho hơn 50 ngàn lượt bệnh nhân, phẫu thuật từ thiện cho hơn 2.500 người. Khám sàng lọc khúc xạ học đường cho hơn 80.000 học sinh, cấp tặng hơn 7.000 cặp kính đeo mắt, xây dựng mạng lưới chăm sóc mắt tại 100% huyện thành phố, 100% trạm y tế xã phường, 100% trường THCS trên địa bàn tỉnh.

Những kết quả hoạt động trên cũng cho thấy sự quá tải của bệnh viện: Số bệnh nhân đến khám, điều trị nội trú và phẫu thuật đã tăng dần theo thời gian, có những nội dung đã tăng gần gấp đôi so với 5 năm trước, trong khi số giường bệnh và biên chế thì phát triển chưa tương xứng.

Mặt khác một số chuyên khoa sâu trong nhãn khoa chưa được triển khai như chẩn đoán điều trị bệnh lý bán phần sau, bệnh lý mắt trẻ em, laser nhãn khoa, tạo hình thẩm mỹ, chấn thương mắt, gây mê hồi sức v.v. do chưa có đủ trang thiết bị và nhân lực nên phải chuyển bệnh nhân lên tuyến trên.

Mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng thời gian qua Bệnh viện Mắt đã cố gắng thực hiện tốt công tác chăm sóc, phục vụ bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện. Hiện nay 100% các khoa lâm sàng đã tổ chức thực hiện công tác chăm sóc người bệnh toàn diện. Tổ chức tốt công tác an toàn người bệnh, chống té ngã, chống nhầm lẫn. Thực hiện tốt công tác dinh dưỡng như: thực hiện chế độ ăn bệnh lý, cung cấp nước uống miễn phí, 100% Bệnh nhân sau phẫu thuật được ăn 1 xuất cháo và sữa miễn phí .v.v.

Bệnh viện thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn và các hoạt động tuyên truyền giáo dục nhằm nâng cao y đức và giao tiếp ứng xử của nhân viên y tế. Tổ chức tốt hoạt động đường dây nóng, thùng thư góp ý. Triển khai bộ phận chăm sóc khách hàng và đội tình nguyện “Tiếp sức người bệnh” hoạt động hiệu quả. Thường xuyên tổ chức đánh giá độ hài lòng của người bệnh, kết quả trên 90% người bệnh đánh giá tốt về công tác chăm sóc người bệnh tại Bệnh viện.

Trong thời gian qua, Bệnh viện Mắt đã sử dụng kinh phí từ ngân sách và viện phí một cách hiệu quả, đúng theo quy định. Thực hiện tốt các biện pháp tiết kiệm, chống lãng phí, các chế độ của người lao động như BHYT, BHXH, thai sản, ốm đau.

Đã triển khai thực hiện chế độ phụ cấp theo Quyết định số 73/2011/QĐ-TTg, tăng mức phụ cấp trực và phẫu thuật, thủ thuật, cải thiện đáng kể thu nhập của CBCC và động viên CBVC và người lao động yên tâm công tác. Đã triển khai một số hoạt động xã hội hóa như: nhà thuốc, dịch vụ kính thuốc, căn tin tại bệnh viện để tăng thu nhập cho CBVC.

Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ một cách hợp lý, thu nhập tăng thêm bình quân đầu người khoảng 1.000.000đ/người /tháng

Nguồn nhân lực chất lượng cao thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, dẫn đến tình trạng bệnh nhân đến khám phải chờ đợi lâu, bệnh nhân đến phẫu thuật phải hẹn theo lịch v.v. Chưa triển khai được một số chuyên khoa sâu trong nhãn khoa nên nhiều bệnh nhân phải chuyển lên tuyến trên Công tác phát triển các dịch vụ xã hội hóa nhằm đáp ứng nhu cầu KCB ngày càng cao và đa dạng của nhân dân, còn yếu và nhiều bất cập.

Hạ tầng kỹ thuật và cơ sở vật chất chưa đồng bộ, xuống cấp, không đủ diện tích và chức năng để triển khai các hoạt động chuyên môn. Đặc biệt các công trình vệ sinh, hệ thống xử lý chất thải y tế chưa đáp ứng yêu cầu. Trang thiết bị y tế phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị còn thiếu về số lượng, không đồng bộ về chủng loại, một số thiết bị kỹ thuật cao chưa được đầu tư đúng mức. Hệ thống công nghệ thông tin, nhất là phần mềm quản lý bệnh viện đã lạc hậu, không đáp ứng được các yêu cầu phù hợp với thực tế mới của bệnh viện.

Mô hình bệnh tật diễn biến phức tạp, một số bệnh lý nhãn khoa có chiều hướng gia tăng như các bệnh nhiễm trùng, tật khúc xạ, đục thuỷ tinh thể, bệnh võng mạc tiểu đường, võng mạc trẻ đẻ non, thoái hoá hoàng điểm tuổi già v.v.

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại Bệnh Viện Mắt tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe về mắt cho nhân dân, góp phần phát triển hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh.

– Tăng cường sự tiếp cận của người dân với các dịch vụ chăm sóc mắt. Huy động sự tham gia của cộng đồng cho công tác chăm sóc mắt và phòng chống mù lòa

– Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đầu tư xã hội hóa một số dịch vụ y tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh chuyên khoa Mắt ngày càng cao và đa dạng của nhân dân trong tỉnh.

– Đổi mới phong cách, nâng cao tinh thần thái độ phục vụ và kỹ năng giao tiếp ứng xử của nhân viên y tế, nhằm tăng độ hài lòng của người bệnh khi tham gia khám chữa bệnh tại Bệnh viện Mắt.

– Cải cách các thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi khám chữa bệnh cho bệnh nhân. Đẩy mạnh công nghệ thông tin nhằm phát huy hiệu quả cao nhất từ việc tin học hóa phục vụ toàn diện các hoạt động của bệnh viện.

Phấn đấu trước năm 2020, Bệnh viện Mắt sẽ tăng quy mô giường bệnh lên 150 giường và tăng nguồn nhân lực, đủ tiêu chuẩn của bệnh viện chuyên khoa hạng II.

Năm 2020 Bệnh viện Mắt đạt chất lượng ở mức 4 theo bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế.

Có đủ ít nhất 90% cán bộ làm chuyên môn theo đề án việc làm. Có từ 70% trở lên Bác sỹ có trình độ sau đại học. Trong đó từ 20% trở lên có trình độ CK2, tiến sỹ; từ 50% trở lên Dược sỹ có trình độ đại học trong đó từ 20% trở lên Dược sỹ có trình độ sau đại học; từ 40% trở lên điều dưỡng, kỹ thuật viên có trình độ cao đẳng, đại học.

100% các trường hợp người bệnh đến khám chữa bệnh nội và ngoại trú được chẩn đoán và điều trị kịp thời, trong đó ít nhất 90% được chẩn đoán đúng.

Năm 2020 Bệnh viện Mắt thực hiện được 60% kỹ thuật chuyên khoa mắt thuộc tuyến trung ương (11/17 kỹ thuật), 95% kỹ thuật chuyên khoa mắt tuyến tỉnh (170/179 kỹ thuật) theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của Bộ y tế.

Mỗi năm BV Mắt triển khai ứng dụng ít nhất 5 kỹ thuật lâm sàng và 3 kỹ thuật cận lâm sàng mới.

Phấn đấu đạt 100% người bệnh đến khám chữa bệnh đều được nhân viên tiếp đón và hướng dẫn tận tình, chu đáo.

Hàng năm đạt trên 90% độ hài lòng của người bệnh đến khám chữa bệnh tại BV Mắt và trên 95% độ hài lòng của nhân viên làm việc tại Bệnh viện

Tất cả cán bộ viên chức và người lao động của bệnh viện, bệnh nhân, thân nhân và người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh tại bệnh viện là đối tượng thực hiện các hoạt động nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh theo đề án này.

Đề án được thực hiện trong thời gian 05 năm kể từ tháng 1/2016 đến tháng 12/2020.

Kinh phí thực hiện đề án do ngân sách nhà nước cấp và nguồn thu của bệnh viện cũng như các nguồn kinh phí hợp pháp khác.

Hiện nay Bệnh viện Mắt có 14 khoa phòng, đủ để thực hiện chức năng nhiệm vụ của Một bệnh viện chuyên khoa hạng II. Tuy nhiên để tăng cường hơn nữa công tác tổ chức và kiện toàn bộ máy, trong thời gian tới BV cũng sẽ quan tâm thực hiện một số nội dung sau:

– Trong giai đoạn 2015 – 2020 sẽ không thành lập thêm các khoa phòng mới mà tăng cường chức năng và nhiệm vụ của các khoa phòng trong bộ máy hiện hữu để hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên để đảm bảo đúng chức năng chuyên môn dự kiến sẽ đề xuất tách Khoa xét nghiệm – Chẩn đoán hình ảnh hiện hữu thành Khoa Xét nghiệm tổng hợp và Khoa chẩn đoán hình ảnh – Thăm dò chức năng

– Thực hiện Quyết định số 2151/QĐ-BYT ngày 4/6/2015 của Bộ Y tế , theo đó các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa phải thành lập phòng công tác xã hội để đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập. Do điều kiện hạn chế về nhân lực và cơ sở vật chất, Bệnh viện Mắt chủ trương thành lập bộ phận công tác xã hội, và chăm sóc khách hàng sẽ nằm trong phòng điều dưỡng của Bệnh viện.

– Bên cạnh đó BV cũng sẽ kiện toàn các hội đồng theo quy định để đáp ứng nhu cầu chuyên môn, trong đó đặc biệt quan tâm một số hội đồng như: Hội đồng Thuốc và điều trị, Hội đồng khoa học công nghệ, Hội đồng quản lý chất lượng, Hội đồng thi đua khen thưởng, hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn , Hội đồng điều dưỡng v.v.

Công tác đào tạo, đào tạo lại để cập nhật và nâng cao kiến thức và kỹ năng cho đội ngũ Y, Bác Sỹ, Dược Sỹ, kỹ thuật viên chuyên môn là một nội dung trọng yếu để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh tại đơn vị. Căn cứ vào nhu cầu phát triển, Bệnh viện và thông tư 22 của Bộ y tế về công tác đào tạo y khoa liên tục, bệnh viện sẽ xây dựng chương trình, kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực hàng năm, chỉ tiêu phấn đấu cụ thể:

– Tạo điều kiện và xây dựng đào tạo nâng cao tay nghề và trình độ cho CBVC. Phấn đấu tới năm 2020 100% trưởng khoa lâm sàng và 30% trưởng khoa cận lâm sàng có trình độ sau đại học

– Tranh thủ đề án thuê chuyên gia, đề án 1816, bệnh viện vệ tinh để tăng cường công tác đào tạo phát triển một số chuyên khoa sâu trong nhãn khoa

– Tích cực tổ chức hoạt động tự đào tạo tại chỗ để nâng cao kiến thức và tay nghề chuyên môn cho y bác sỹ, đặc biệt là đào tạo phẫu thuật viên Phaco để đáp ứng nhu cầu phòng chống mù lòa. Phấn đấu 2016 có thêm 2 phẫu thuật viên Phaco, năm 2018 nâng tổng số PTV Phaco thành thạo lên 5 người. Năm 2016 70% và 2018 100% các BS của bệnh viện có thể thực hiện thành thạo các phẫu thuật trung phẫu.

– Thực hiện chương trình đào tạo y khoa liên tục theo thông tư 22 của Bộ Y tế với các nội dung cụ thể: Đảm bảo mỗi cán bộ chuyên môn trình độ trung cấp trong 2 năm có ít nhất 24 giờ, trình độ đại học có 48 giờ đào tạo và sinh hoạt chuyên môn. Mặt khác Bệnh viện cũng xây dựng lộ trình đăng ký mã ngành đào tạo y khoa liên tục thuộc các lĩnh vực: pháp luật, kỹ năng và chuyên môn chuyên ngành nhãn khoa, khúc xạ, mắt kính v.v.

– Tích cực đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ của bệnh viện. Phấn đấu đến hết 2016 100% cán bộ chuyên môn được tham dự chương trình đào tạo quản lý chất lượng bệnh viện. 2016 có 50% và 2017 100% cán bộ chủ chốt có chứng chỉ quản lý bệnh viện và quản lý chất lượng bệnh viện. 2018 100% điều dưỡng trưởng có chứng chỉ quản lý điều dưỡng.

– Thực hiện công tác thu hút, tuyển dụng, đào tạo đội ngũ Bác sỹ đủ theo đề án việc làm, ưu tiên Bác sỹ và điều dưỡng có trình độ đại học trở lên. Phấn đấu đến năm 2020 mỗi Bác sỹ khám dưới 50 bệnh nhân/ 8g làm việc.

Để tăng cường, củng cố và nâng cao chất lượng các dịch vụ đang triển khai tại BV Mắt và mở rộng phạm vi chuyên môn, trong giai đoạn 2016 – 2020 sẽ triển khai phát triển một số mảng hoạt động. Cụ thể:

– Hoàn thành toàn bộ phác đồ điều trị và quy trình kỹ thuật áp dụng cho toàn tỉnh, thường xuyên cập nhật bổ sung quy trình chăm sóc mắt toàn diện.

– Thành lập phòng tư vấn trước phẫu thuật, đặc biệt với phẫu thuật Phaco là phẫu thuật phổ biến trong chuyên ngành mắt, có dải giá dịch vụ và vật tư rộng, để bệnh nhân có thêm thông tin, quyết định lựa chọn dịch vụ kỹ thuật và vật tư tiêu hao, thay thế phù hợp với khả năng.

– Năm 2016 sẽ triển khai 3 phòng khám ngoại trú cho 3 chuyên khoa mới đó là: Phòng khám bệnh lý bán phần sau, phòng khám và theo dõi Glaucoma, phòng khám và điều trị lé

– Năm 2016 – 2017 sẽ triển khai phòng tư vấn phẫu thuật tạo hình thẩm mỹ để tăng cường sự tiếp cận và thu hút bệnh nhân có nhu cầu đến khám và điều trị

– Tích cực chuẩn bị nhân lực trang thiết bị và các điều kiện cần thiết khác để năm 2017 có thể triển khai phẫu thuật có gây mê phục vụ bệnh nhân, nhất là các phẫu thuật mắt cho trẻ em.

– Phấn đấu đến quý IV năm 2016 sẽ triển khai được kỹ thuật tiêm kháng sinh và chống tân mạch nội nhãn, khám và phẫu thuật lé, sụp mi, tạo hình thẩm mỹ, Laser CO2, Chẩn đoán hình ảnh bán phần sau, Laser nội nhãn. Năm 2017 triển khai các phẫu thuật dịch kính võng mạc, phẫu thuật lệ bộ, khám sàng lọc võng mạc trẻ đẻ non; Từ 2018 – 2020 từng bước triển khai phẫu thuật Laser điều trị cận thị.

Tích cực triển khai Quyết định về đổi mới phong cách, thông tư 07 về quy tắc ứng xử trong các cơ sở y tế của Bộ Y tế. Đồng thời đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, hướng tới sự hài lòng của người bệnh, cụ thể:

– Tích cực triển khai các hướng dẫn, quy định của Bộ y tế về giao tiếp, ứng xử của nhân viên y tế thông qua các hình thức như: Mỗi năm triển khai ít nhất 2 lần tập huấn các kỹ năng giao tiếp, ứng xử cơ bản và nâng cao cho 100% CBVC; tổ chức thi giải quyết các tình huống thực tế thường gặp trong hoạt động bệnh viện, sau tập huấn có lượng giá chất lượng, đảm bảo 100% đạt yêu cầu.

– Tổ chức thực hiện “Đường dây nóng” và “thùng thư góp ý” theo Chỉ thị số 09/CT-BYT, đảm bảo thông tin theo 3 cấp: Bộ Y tế, Sở Y tế, Bệnh viện. Kết hợp rà soát lại hòm thư điện tử của Bệnh viện và đẩy mạnh công khai đường dây nóng, hòm thư điện tử thông qua hệ thống website của Bệnh viện.

– Xây dựng bộ quy tắc ứng xử của nhân viên Bệnh viện, các tiêu chí trong giao tiếp ứng xử, phong cách, thái độ phục vụ văn minh, thân thiện, không có tiêu cực với khẩu hiệu: ” Bệnh nhân đến đón tiếp niềm nở, bệnh nhân ở chăm sóc tận tình, bệnh nhân về dặn dò chu đáo”

– Đẩy mạnh các hoạt động “chăm sóc khách hàng” do phòng KHTH, ĐD làm đầu mối và “Tiếp sức người bệnh” do Chi Đoàn Thanh Niên phụ trách, nhằm hướng dẫn, hỗ trợ người bệnh, thân nhân những thông tin cần thiết trong quá trình thực hiện khám chữa bệnh hoặc khách đến quan hệ công tác

– Triển khai thực hiện công tác xanh – sạch – đẹp tại bệnh viện một cách hiệu quả và bền vững để xây dựng hình ảnh, thương hiệu của bệnh viện và nâng cao độ hài lòng của bệnh nhân

– Tổ chức tốt quy định họp Hội đồng bệnh nhân cấp khoa và cấp bệnh viện để tập hợp ý kiến phản ánh của bệnh nhân và thân nhân trong quá trình nằm điều trị nội trú nhằm cải tiến quy trình và tinh thần phục vụ của nhân viên y tế

– Tổ chức việc đánh giá độ hài lòng của bệnh nhân, và nhân viên y tế ở tất cả các khâu, các đối tượng một cách thường xuyên hàng quý và khi cần, để có những điều chỉnh phù hợp. Phấn đấu đạt sự hài lòng từ 90% trở lên (tiêu chí hài lòng và rất hài lòng trên thang đánh giá 5 bậc 2 chiều của Bộ Y tế).

– Ký cam kết thực hiện theo 3 cấp: giữa nhân viên với Trưởng khoa, phòng và giữa Trưởng khoa, phòng, Tổ trưởng công đoàn với Giám đốc bệnh viện và Chủ tịch công đoàn, giữa Giám đốc bệnh viện và Chủ tịch công đoàn với giám đốc sở Y tế và Chủ tịch công đoàn ngành.

– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm quy chế chuyên môn, quy tắc ứng xử…khen thưởng động viên kịp thời về tinh thần và vật chất cho cá nhân và tập thể thực hiện tốt , tiêu biểu, điển hình.

– Xây dựng tiêu chí “viên chức có phong cách, thái độ phục vụ tốt”, hàng quý tổ chức bình chọn đề xuất Giám đốc bệnh viện khen thưởng, cuối năm đề xuất Sở y tế khen thưởng tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến.

– Cải cách các thủ tục hành chính, giảm thời gian chờ đợi khám chữa bệnh cho bệnh nhân. Đẩy mạnh công nghệ thông tin nhằm phát huy hiệu quả cao nhất từ việc tin học hóa phục vụ toàn diện các hoạt động của bệnh viện.

Để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cập nhật các kỹ thuật mới, cần đầu tư mua sắm, bổ sung đủ trang thiết bị y tế thiết yếu có chất lượng để phục vụ công tác chuyên môn từ nguồn kinh phí hoạt động thường xuyên và quỹ phát triển sự nghiệp của đơn vị. Đặc biệt tập trung đầu tư mới một số trang thiết bị thiết yếu, cụ thể:

– Đề xuất với ngành và tỉnh, đồng thời đưa vào đề án cải tiến nâng cấp Bệnh viện Mắt giai đoạn 2016 – 2020 đầu tư một số trang thiết bị để phát triển các chuyên khoa sâu từ nguồn ngân sách nhà nước như: Chẩn đoán hình ảnh, Dịch kính võng mạc, Laser nhãn khoa, khám điều trị mắt trẻ em, tạo hình thẩm mỹ v.v. Phấn đấu tới năm 2020 Bệnh viện có đầy đủ máy cắt dịch kính, laser võng mạc, máy chụp mạch huỳnh quang, chụp OCT, Kính hiển vi phẫu thuật và một số thiết bị hỗ trợ gây mê hồi sức kỹ thuật cao khác để thực hiện được các phẫu thuật có gây mê và phẫu thuật mắt trẻ em.

– Đầu tư một số thiết bị hiện đại để thực hiện việc hội chẩn từ xa như sinh hiển vi khám bệnh có gắn Camera, máy chụp đáy mắt kết nối với trung tâm xử lý hình ảnh trong và ngoài nước, máy hiển vi phẫu thuật có truyền hình trực tiếp v.v. để có thể tranh thủ ý kiến chuyên gia, tham gia công tác đào tạo rút kinh nghiệm và giảm chi phí đi lại cho người bệnh.

– Về công tác dược: Tổ chức tốt hoạt động dược của bệnh viện theo quy chế hiện hành. Cung ứng đầy đủ thuốc, vật tư y tế cho hoạt động chuyên môn thông qua việc đấu thầu mua sắm theo quy định. Tổ chức tốt hoạt động nhà thuốc bệnh viện, tích cực thực hiện công tác theo dõi, báo cáo tác dụng có hại của thuốc, công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc. Từ năm 2017 BV Mắt có Dược sỹ được đào tạo dược lâm sàng.

– Trước hết trong năm 2016 sẽ triển khai sửa chữa cải tạo tòa nhà TTPCBXH cũ để triển khai phòng khám bệnh theo quy trình một chiều và hai khoa lâm sàng là: Điều trị bán phần sau và Khoa Khúc xạ – Mắt trẻ em – Chấn thương và Tạo hình thẩm Mỹ. Cải tạo một số hạng mục như phòng khoa phẫu thuật, hội trường, khu vực chẩn đoán hình ảnh, nhà giặt v.v. để đáp ứng nhu cầu phục vụ bệnh nhân trước mắt.

– Khẩn trương cải tạo đưa vào hoạt động hệ thống xử lý chất thải lỏng. Cải tạo hệ thống sân vườn, giao thông trong bệnh viện một cách thuận lợi theo tiêu chuẩn chất lượng hiện hành. Đặc biệt chú ý đến vấn đề phòng ngừa trượt ngã và tăng khả năng tiếp cận cho đối tượng bệnh nhân là người khuyết tật

– Từ năm 2016 – 2020 sẽ lập đề án xin nâng cấp thành bệnh viện Mắt hoàn thiện: Trong đó ưu tiên tăng diện tích để bố trí đủ giường cho các khoa lâm sàng. Xây mới khoa phẫu thuật gây mê hồi sức, khoa xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh đủ điều kiện an toàn sinh học cấp II, Khoa dược, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa dinh dưỡng tiết chế và cải tạo cảnh quan, khuôn viên bệnh viện sạch đẹp môi trường khám, điều trị phù hợp cho bệnh nhân, và môi trường làm việc thuận lợi cho CBVC.

– Tại bệnh viện: Đặc biệt chú trọng công tác cải tiến quy trình khám bệnh theo quyết định 1313 của Bộ Y tế. Tăng thêm bàn khám, giảm thiểu các thủ tục rườm rà, bố trí các khâu, các bước liên hoàn hợp lý để rút ngắn thời gian chờ đợi khám bệnh của bệnh nhân ngoại trú xuống dưới 1 giờ (không cận lâm sàng), giảm số bệnh nhân trên 1 bàn khám dưới 50 người /1 ngày. Kê thêm giường bệnh, đảm bảo bệnh nhân nội trú không phải nằm ghép sau 12h nhập viện.

– Tích cực xây dựng củng cố và nâng cao năng lực mạng lưới chăm sóc mắt tuyến cơ sở bao gồm: hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật theo đề án 1816 cho các khoa mắt tuyến huyện. Tập huấn và duy trì hoạt động màng lưới nhân viên chăm sóc mắt tuyến xã và thôn ấp

– Tiếp tục triển khai mô hình chăm sóc mắt toàn diện tại 100% xã phường thị trấn trên địa bàn tỉnh. Từng bước triển khai hoạt động quản lý bệnh võng mạc đái tháo đường và bệnh Glaucoma tại cộng đồng. Phối hợp chỉ đạo để duy trì bền vững hoạt động tại 5 đơn vị thị giác cộng đồng đã được thành lập, tiếp tục tìm nguồn để hỗ trợ triển khai tại 3 huyện, TP còn lại. Triển khai thí điểm mô hình xe thị giác lưu động để mang dịch vụ đến gần hơn với người dân vùng sâu, vùng xa.

– Đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc mắt học đường bao gồm: Truyền thông nói chuyện trước cờ; Tập huấn cho giáo viên và CBYT học đường; Tổ chức khám sàng lọc khúc xạ, cấp đơn kính và phối hợp với quỹ bảo trợ trẻ em cấp tặng kính cho học sinh nghèo. Xây dựng mô hình góc chăm sóc mắt học đường tại 100% các trường THCS vào năm 2020 và phát triển ở các cấp học khác trong các năm tiếp theo

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của bệnh nhân, song song với việc thực hiện tốt việc quản lý kinh tế y tế, đầu tư cải tạo cơ sở vật chất và trang thiết bị từ nguồn ngân sách, Bệnh viện chủ trương huy động thêm các nguồn lực tài chính khác để triển khai các hoạt động xã hội hóa, nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần nâng cao đời sống cho CBVC. Cụ thể các nội dung quản lý kinh tế y tế và đầu tư xã hội hóa trong giai đoạn 2016 – 2020 như sau:

– Xây dựng đề án tự chủ kinh phí hoạt động thường xuyên vào năm 2017 theo nghị định 16 của chính phủ để phát huy tối đa nguồn vốn được cấp, phát huy tối đa sự đóng góp của CBVC để mang lại những cơ hội tốt hơn cho bệnh nhân trong khám chữa bệnh và cho nhân viên y tế trong việc nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.

– Xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ một cách hợp lý, điều chỉnh bổ sung hàng năm cho phù hợp với điều kiện thực tế của bệnh viện. Thực hiện tốt việc quản lý các nguồn thu, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãnh phí trong tất cả các khâu để ổn định và tăng thu nhập cho CBVC

– Tiếp tục duy trì và mở rộng hoạt động nhà thuốc bệnh viện để cung ứng thuốc chuyên khoa cho các đối tượng bệnh nhân đến khám và điều trị bằng nguồn đóng góp của CBVC

– Tiếp tục duy trì và củng cố hiệu kính thuốc bệnh viện để cung cấp dịch vụ kính thuốc chất lượng cao, giá cả hợp lý từ nguồn hỗ trợ dự án phi chính phủ và đóng góp của CBVC

– Xây dựng đề án đầu tư một số trang thiết bị thuộc lĩnh vực chẩn đoán hình ảnh và Laser nhãn khoa. Xây dựng đề án hợp tác triển khai phòng khám và điều trị trong ngày theo yêu cầu, bao gồm các dịch vụ khám chọn BS theo yêu cầu, điều trị Laser thẩm mỹ vùng mắt và mặt, điều thị ngoại trú và phẫu thuật trong ngày chọn BS theo yêu cầu, tổ chức khoa dịch vụ, phòng dịch vụ. Nguồn vốn huy động từ sự đóng góp của CBVC, liên danh với các công ty trang thiết bị y tế và vay ưu đãi từ các ngân hàng, công ty tài chính.

– Nghiên cứu đề án phối hợp với các đơn vị y tế ngành, các cơ sở y tế tư nhân trong công tác chẩn đoán, điều trị phẫu thuật … giá dịch vụ thu theo qui định hiện hành, lợi nhuận chia theo thỏa thuận giữa các bên.

– Xây dựng đề án làm Bệnh viện Vệ tinh của Bệnh viện mắt TP HCM và thành lập khoa vệ tinh tại các TTYT huyện để chia sẻ người bệnh quá tải nếu có.

Tích cực triển khai các hoạt động quản lý chất lượng theo thông tư 19 của Bộ Y tế, duy trì hoạt động hiệu quả của hội đồng và mạng lưới quản lý chất lượng BV. Củng cố và tăng cường hoạt động của phòng QLCL. Các công việc cụ thể:

– Xây dựng quy trình chuyên môn và tác nghiệp. Phấn đấu năm 2016 có 80% và 2018 100% các hoạt động chính của BV sẽ được xây dựng quy trình. Đặc biệt ưu tiên các quy trình tại khoa khám bệnh, quy trình xuất nhập viện, quy trình cận lâm sàng, quy trình phẫu thuật, kiểm soát nhiễm khuẩn, dinh dưỡng, cung ứng thuốc và vật tư y tế v.v.

– Đầu tư xây dựng các quy trình kỹ thuật và phác đồ chuyên môn của Bệnh Viện dựa trên hướng dẫn của Bộ Y tế, các phác đồ điều trị của tuyến trên. Phấn đấu 2016 có 50%, 2018 có 80% và 2020 100% các quy trình kỹ thuật chuyên khoa mắt và phác đồ điều trị các bệnh mắt cơ bản được xây dựng.

– Triển khai tích cực các hoạt động kiểm soát sự cố y khoa và an toàn người bệnh, đưa quy trình thực hiện 5S vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của bệnh viện. Bám sát bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế để nâng cao toàn diện các mặt hoạt động. Phấn đấu mỗi năm tăng 10% mức điểm hiện hữu, năm 2020 đạt mức 4 trong bộ tiêu chí chất lượng.

– Năm 2017 100% Ban giám đốc và cán bộ chủ chốt của BV có chứng chỉ QLBV và chứng chỉ quản lý chất lượng BV. Các Bác sỹ đều phải có chứng chỉ quản lý chất lượng BV. Toàn thể nhân viện đều được tập huấn về công tác quản lý chất lượng bệnh viện.

– Đào tạo ngoại ngữ: phấn đấu đến năm 2020 Ban giám đốc, các trưởng phó phòng, trưởng phó khoa đều có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 4 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ của Bộ GDĐT (cấp độ B2 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu tương đương IELTS 5.5 – 6.5). Các Bác sỹ có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 3 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ của Bộ GDĐT (cấp độ B1 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu tương đương IELTS 5 – 5.5). Trưởng phòng điều dưỡng và các điều dưỡng trưởng khoa phải có Chứng chỉ quản lý điều dưỡng, có trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 3 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ của Bộ GDĐT (cấp độ B1 trở lên trong khung năng lực ngoại ngữ Châu Âu tương đương IELTS 5 – 5.5).

Tích cực ứng dụng công tác cải cách hành chính vào hoạt động của Bệnh viện góp phần giảm các bước, các giấy tờ, thủ tục rườm rà, giảm thời gian chờ đợi của bệnh nhân và khách đến giao dịch.

– Xây dựng bộ quy trình các hoạt động sự nghiệp tại đơn vị để thống nhất và chuẩn hóa theo đề án cải cách thủ tục hành chính của tỉnh, của ngành ở tất cả các khâu như hành chính, kế toán, kế hoạch tổng hợp v.v.

– Lắp đặt hệ thống lấy số tự động, hệ thống bảng biểu, niêm yết giá các dịch vụ y tế, nâng cao công tác tiếp đón bệnh nhân, hướng dẫn bệnh nhân làm các thủ tục hành chính. Phấn đấu trong giai đoạn 2016-2020 đạt tiêu chuẩn chất lượng theo chuẩn của Bộ Y tế.

– Đầu tư các thiết bị phần cứng cho hệ thống công nghệ thông tin của Bệnh viện, trong đó đặc biệt là máy chủ và hệ thống mạng nội bộ đủ dung lượng , đảm bảo duy trì hoạt động 24/7

– Đầu tư cải tiến hệ thống phần mềm quản lý bệnh viện với các tiện ích thông minh, phục vụ công tác quản lý điều hành và chuyên môn của toàn bệnh viện. Đặc biệt các tiện ích quản lý thông tin bệnh nhân, thanh toán viện phí, quản lý thuốc vật tư y tế v.v. phục vụ công tác nội và ngoại trú

– Năm 2016 sẽ triển khai dịch vụ đăng ký khám bệnh từ xa, năm 2017 sẽ triển khai phần mềm bệnh án điện tử, năm 2018 sẽ triển khai một số nội dung hội chẩn từ xa để nâng cao chất lượng dịch vụ và tiện ích cho người bệnh.

– Năm 2016 sẽ triển khai thí điểm phần mềm quản lý các tiêu chí chất lượng bệnh viện (QHSE), trong đó đặc biệt hệ thống báo cáo chứng cứ và hệ thống đánh giá chất lượng dịch vụ tự động tại tất cả các khâu trong dây chuyền dịch vụ bệnh viện .

– Đầu tư nâng cấp trang thông tin điện tử của bệnh viện về hình thức, nội dung và chất lượng thông tin để thực sự đây là một cửa ngõ vừa đón nhận thông tin, vừa giới thiệu cung cấp dịch vụ, kiến thức, giao lưu với bệnh nhân và cộng đồng. Từ đó thu hút hơn nữa sự quan tâm, hiểu biết, chia sẻ và đồng hành của bệnh nhân và xã hội với bệnh viện.

Để cập nhật kiến thức, đúc rút kinh nghiệm thực tiễn và tranh thủ các nguồn lực ngoài ngân sách, bệnh viện sẽ triển khai mạnh mẽ các hoạt động nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế. Cụ thể:

– Khuyến khích động viên các cán bộ chuyên môn tiến hành các đề tài nghiên cứu khoa học thuộc cả 3 lĩnh vực: Lâm sàng, cận lâm sàng, cộng đồng và quản lý. Phấn đấu mỗi khoa lâm sàng và cận lâm sàng ít nhất mỗi năm có 2 đề tài cấp cơ sở. Phấn đấu 5 năm bệnh viện đăng ký 2 đề tài cấp tỉnh

– Tích cực tham gia phong trào thực hiện các sáng kiến cải tiến phấn đấu mỗi mỗi CBVC hàng năm có ít nhất có 1 sáng kiến cải tiến được thực hiện, trong 5 năm có ít nhất 2 sáng kiến và 5 ý tưởng tham dự hội thi sáng tạo kỹ thuật và hội thi sáng tạo ý tưởng cấp tỉnh.

– Phối hợp với các đơn vị tuyến trên tổ chức ít nhất 1 lớp đào tạo về phương pháp nghiên cứu khoa học cho cán bộ chuyên môn.

– Tiếp tục duy trì hợp tác quốc tế với tổ chức BHVI về các dự án chăm sóc mắt trẻ em và chăm sóc tật khúc xạ học đường. Tìm kiếm cơ hội để phối hợp với các tổ chức phi chính phủ để triển khai đề án quản lý bệnh võng mạc đái tháo đường, quản lý bệnh Glaucoma, chăm sóc mắt người khuyết tật v.v.

Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân trong bệnh viện cũng như tại cộng đồng. Cụ thể:

– Đầu tư xây dựng chương trình truyền thanh thông qua hệ thống loa nội bộ, xây dựng đĩa DVD để thực hiện chương trình tư vấn cho bệnh nhân trước phẫu thuật, thiết kế các tờ rơi, tờ bướm, lời dặn để hướng dẫn bệnh nhân trong quá trình điều trị và chăm sóc mắt

– Tăng cường công tác truyền thông giáo dục chăm sóc mắt trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài phát thanh truyền hình, báo BR-VT để triển khai các bài nói chuyện chuyên đề, chuyên mục sức khỏe cho mọi người, giao lưu, hỏi đáp trực tuyến v.v.

– Tăng cường và đổi mới nội dung, hình thức website của bệnh viện để quảng bá hình ảnh đồng thời tuyên truyền đến người dân các thông tin chuyên môn .

– Hàng năm tổ chức các hoạt động hưởng ứng ngày thị giác thế giới và Glaucoma thế giới . Đây là dịp để tăng cường các hoạt động truyền thông, huy động các nguồn lực của xã hội và thu hút sự quan tâm của bệnh nhân và xã hội cho công tác chăm sóc mắt và phòng chống mù lòa

Công tác kiểm tra giám sát là hoạt động hết sức cần thiết để đảm bảo tính bền vững và hiệu quả khi triển khai thực hiện dề án. Các nội dung cụ thể như sau:

– Đối với các hoạt động chuyên môn: Đẩy mạnh hoạt động kiểm tra giám sát ở tất cả các bộ phận, các khâu. Trong đó đặc biệt kiểm tra giám sát việc thực hiện các quy chế chuyên môn như quy chế thường trực, hồ sơ bệnh án, kê toa, thực hiện quy trình chuyên môn kỹ thuật v.v. Xây dựng các bảng kiểm ở tất cả các nội dung để đánh giá kết quả hoạt động

– Đối với các hoạt động theo chuyên đề, kế hoạch v.v. cần theo dõi việc thực hiện theo tiến độ, kết quả đầu ra, định kỳ sơ kết đánh giá để điều chỉnh cho phù hợp và hiệu quả. Phát huy vai trò của ban thanh tra nhân dân, ban kiểm tra công đoàn trong việc giám sát thực hiện các chế độ chính sách với người lao động và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

– Đẩy mạnh công tác thi đua trong bệnh viện thông qua các chương trình, phong trào, hoạt động thiết thực. Các đợt thi đua cần xây dựng kế hoạch, có nội dung phù hợp, có chỉ tiêu đánh giá và tổng kết khen thưởng. Phát huy vai trò của các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, ban nữ công, Câu lạc bộ Thầy thuốc trẻ v.v. trong việc động viên các thành viên tham gia các phong trào thi đua.

– Chú trọng công tác đánh giá CBVC hàng năm để phân loại, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng và động viên khích lệ toàn thể nhân viên hoàn thành nhiệm vụ.

4.1.1 Ban giám đốc

Chỉ đạo các bộ phận chức năng xây dựng đề án. Tiến hành lấy ý kiến đóng góp từ các tập thể khoa, phòng và toàn thể CBVC bệnh viện trước khi báo cáo về Sở Y tế xét duyệt, chính thức triển khai thực hiện.

Trong quá trình triển khai, cần cụ thể hóa và đưa vào kế hoạch công tác của bệnh viện theo từng năm, từng chuyên đề.

Thực hiện việc theo dõi, giám sát, đánh giá, điều chỉnh bổ sung các nội dung đề án phù hợp với điều kiện của đơn vị tại từng thời điểm.

4.1.2 Các phòng chức năng

– Tổ chức theo dõi, giám sát, đánh giá, phối hợp hỗ trợ việc triển khai các hoạt động về quản lý chất lượng và các đề án bảo đảm cải tiến chất lượng tại các khoa phòng.

– Làm đầu mối thiết lập hệ thống quản lý sai sót, sự cố y khoa, an toàn người bệnh v.v. Tổng hợp phân tích từ đó đề ra giải pháp khắc phục.

– Tổ chức đánh giá chất lượng của bệnh viện dựa trên các bộ tiêu chí, tiêu chuẩn quản lý chất lượng do Bộ Y tế ban hành. Thực hiện đánh giá việc tuân thủ các quy định hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế, tổ chức việc lấy ý kiến và đánh giá độ hài lòng của bệnh nhân

– Bộ phận công nghệ thông tin xây dựng kế hoạch đổi mới hoạt động công nghệ thông tin trong Bệnh viện, từng bước nâng cấp phần cứng và phần mềm cho việc cải cách thủ tục hành chính và quản lý dữ liệu phục vụ công tác chuyên môn, thống kê báo cáo, thanh quyết toán. Tiến tới thực hiện Bệnh án điện tử theo lộ trình

– Phát triển và nâng cấp website của bệnh viện.

4.1.2.2 Phòng Kế hoạch tổng hợp- Vật tư thiết bị y tế

– Xây dựng nội dung Đề án theo chỉ đạo của Ban giám đốc, tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các khoa phòng và CBVC.

– Theo dõi, đôn đốc, triển khai, đánh giá hiệu quả việc thực hiện Đề án báo cáo ban giám đốc xem xét, chỉ đạo..

– Liên hệ với bệnh viện tuyến trên trong việc triển khai đề án 1816, đề án thuê chuyên gia, đề án bệnh viện vệ tinh.

– Tổng kết đánh giá công tác chuyên môn, từ đó lập các kế hoạch cụ thể để nâng cao hiệu quả công tác khám chữa bệnh của bệnh viện.

– Phối hợp với các bệnh viện đầu ngành của tỉnh, tăng cường nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế để không ngừng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh.

– Làm đầu mối trong việc tổ chức nội dung phát triển nguồn nhân lực, đào tạo, sắp xếp nhân sự hợp lý để đảm bảo chất lượng đội ngũ CBVC đủ năng lực đảm bảo công tác chuyên môn .

– Tham mưu cho giám đốc các chính sách động viên, khuyến khích, khen thưởng, kỷ luật đối với CBVC, đảm bảo chế độ chính sách cho người lao động. Thực hiện quy định về trang phục y tế. Cung ứng đầy đủ các điều kiện làm việc phục vụ hoạt động chuyên môn

– Triển khai thực hiện công tác giao tiếp, ứng xử, đổi mới phong cách và nâng cao y đức cho nhân viên y tế tại Bệnh viện.

– Tham mưu cho giám đốc việc đầu tư cải tạo nâng cấp cơ sở hạ tầng tại các khoa phòng, và khuôn viên của bệnh viện, đảm bảo công tác an ninh trật tự

– Phối hợp với các khoa phòng triển khai công tác chăm sóc người bệnh toàn diện, xây dựng các quy trình và cải tiến liên tục trong lĩnh vực điều dưỡng.

– Phối hợp với phòng quản lý chất lượng kiểm tra hồ sơ bệnh án, kiểm tra chéo giữa các khoa, phòng phát hiện những sai sót mang tính cá nhân và hệ thống trong công tác điều dưỡng và tham mưu các phương hướng giải quyết.

– Tổ chức việc học tập nâng cao kiến thức chuyên môn, kiểm tra tay nghề cho đội ngũ điều dưỡng , KTV của bệnh viện

– Giám sát hoạt động đổi mới phong cách nhân viên viên y tế và thực hiện quy định về trang phục của nhân viên trong bệnh viện

– Thực hiện tốt việc quản lý các nguồn thu chi của bệnh viện. Tham mưu xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, thực hiện tốt chức năng quản lý kinh tế y tế.

– Làm đầu mối xây dựng và thực hiện phương án tự chủ tài chính (Hoạt động thường xuyên) theo nghị định 16 của Chính phủ.

– Tham mưu cho giám đốc dự toán kinh phí thực hiện các nội dung nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tại bệnh viện theo đề án. Tham mưu và làm đầu mối triến khai các hoạt động xã hội hóa của đề án theo quy định.

– Thực hiện công tác thanh quyết toán BHYT và hướng dẫn các bộ phận phối hợp, rút kinh nghiệm, khắc phục các sai sót trong công tác triển khai chế độ BHYT trong bệnh viện.

4.1.3 Các khoa lâm sàng

– Thực hiện nghiêm các quy chế bệnh viện về khám điều trị ngoại trú. Có bảng công khai giờ khám bệnh, người khám, tổ chức bàn hướng dẫn khám bệnh, trả kết quả tại khu vực phòng khám.

– Xây dựng quy trình khám bệnh, quy trình cấp cứu nhanh chóng chính xác theo quy trình chuẩn của Bộ y tế, niêm yết công khai để bệnh nhân tham khảo.

– Ứng dụng công nghệ thông tin và tự động hóa quy trình tiếp nhận, khám bệnh, quản lý hồ sơ bệnh án, tiến tới áp dụng bệnh án điện tử.

– Sắp xếp bố trí các khâu trong quy trình khám bệnh hợp lý: phòng khám bệnh nhân mới, phòng khám bệnh nhân tái khám, lịch khám bệnh chuyên khoa v.v.

– Phấn đấu tới năm 2017 sẽ có phòng khám dịch vụ trong ngày theo yêu cầu và khám bệnh dịch vụ tại bệnh viện vào các ngày thứ 7, chủ nhật.

– Bố trí phòng chờ, ghế ngồi chờ cho bệnh nhân và thân nhân tới khám bệnh, đảm bảo thoáng mát vệ sinh, kết hợp dán pano, áp phích, tivi phát các chương trình về mắt để nâng cao sự hiểu biết của người dân với các bệnh về mắt.

– Tổ chức tốt công tác tiếp đón, phổ biến nội quy, quy chế bệnh viện và quy chế khoa phòng cho từng bệnh nhân. Tổ chức tốt các quy chế vào viện, ra viện, chuyển viện và làm thủ tục thanh toán viện phí được nhanh chóng.

– Không để tình trạng bệnh nhân nằm ghép giường, đảm bảo các phòng bệnh sạch sẽ, thoáng mát.

– Chẩn đoán và điều trị kịp thời các bệnh cấp tính về mắt. Tổ chức tư vấn các phương pháp phẫu thuật, lựa chọn vật tư y tế phù hợp cho từng đối tượng bệnh. Triển khai họp hội đồng bệnh viện theo quy định

– Đảm bảo cung ứng đủ thuốc, vật tư y tế cho người bệnh nội trú, không để xảy ra tình trạng thiếu thuốc.

– Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, ứng dụng các máy móc hiện đại và kĩ thuật mới vào điều trị các bệnh về mắt như máy cắt dịch kính, máy laser võng mac, máy chụp mạch huỳnh quang, OCT, khúc xạ, mắt nhi, thẩm mỹ v.v.

4.1.4 Các khoa cận lâm sàng

– Đảm bảo tiếp nhận, thực hiện kỹ thuật xét nghiệm và trả kết quả nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho BN hoàn thành việc khám điều trị trong thời gian sớm nhất

– Phát triển chuyên môn xét nghiệm, ngoài các xét nghiệm sinh hóa, huyết học thường quy sẽ tiến tới thực hiện các xét nghiệm sinh hóa thủy dịch, xét nghiệm vi sinh, xét nghiệm miễn dịch v.v.

– Cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị để chậm nhất đến cuối năm 2016 sẽ đủ điều kiện là phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II

– Phát triển các kỹ thuật hình ảnh và thăm dò chức năng như: X Quang kỹ thuật số, siêu âm mắt, OCT , chụp đáy mắt, chụp mạch huỳnh quang, chụp bản đồ giác mạc, các kỹ thuật tính công xuất thủy tinh thể hiện đại v.v. để tiến tới tách riêng Khoa Xét nghiệm tổng hợp và Khoa Chẩn đoán hình ảnh thăm dò chức năng

– Kiện toàn củng cố và tăng cường hoạt động Hội đồng thuốc và điều trị, công tác dược lâm sàng và thông tin thuốc. Tích cực triển khai công tác báo cáo tác dụng có hại của thuốc.

– Quản lý tốt Nhà thuốc bệnh viện, đảm bảo cung ứng đủ thuốc theo nhu cầu chuyên môn, niêm yết công khai bảng giá thuốc để người bệnh tiện đối chiếu, giám sát

– Đảm bảo triển khai công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong toàn bệnh viện theo chức năng nhiệm vụ

– Cung cấp dịch vụ vô khuẩn gồm dụng cụ, đồ vải cho tất cả các khoa lâm sàng, cận lâm sàng theo yêu cầu để phục vụ bệnh nhân

– Tổ chức giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện thông qua các hoạt động nghiệp vụ như cấy môi trường, nước, tay phẫu thuật viên và nhân viên y tế, theo dõi nghiên cứu tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện v.v.

– Phối hợp với khoa phòng khác triển khai tốt công tác dinh dưỡng tiết chế trong bệnh viện theo thông tư 08 một cách đầy đủ, khoa học, hiệu quả.

– Thực hiện công tác khám dinh dưỡng, chế độ ăn bệnh lý cho những bệnh nhân điều trị nội trú, tiến tới cung cấp xuất ăn cho toàn bộ bệnh nhân nội trú.

– Quản lý căn tin, bếp ăn dinh dưỡng, đảm bảo yêu cầu an toàn vệ sinh thực phẩm. Duy trì và kiểm soát chất lượng hoạt động cấp phát cháo, sữa miễn phí cho bệnh nhân hậu phẫu theo đúng quy định của BV.

– Tới 31/5/2016 xây dựng và lấy ý kiến của các khoa phòng và CBVC trong BV

– Tới 31/8/2016 đề án trình Sở y tế phê duyệt

– Từ 9/2016 – 2020 triển khai thực hiện đề án. Tiến hành sơ kết tiến độ thực hiện và mục tiêu đề ra theo từng năm .

– 6/2020 sẽ tổng kết đánh giá kết quả đề án

Thực hiện đề án nâng cao chất lượng bệnh viện công tại Bệnh viện Mắt sẽ là cơ hội để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật cho đội ngũ cán bộ y tế của bệnh viện. Tăng cường công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính theo lộ trình của ngành, của tỉnh và Chính phủ

Đề án được triền khai sẽ tăng cường sự tiếp cận của người dân với dịch vụ khám chữa mắt, đặc biệt các dịch vụ kỹ thuật cao, giúp cho người bệnh, nhất là người bệnh nghèo được khám chữa bệnh tại tỉnh; tránh tình trạng vượt tuyến không cần thiết, gây quá tải cho tuyến trên, rút ngắn được thời gian, chi phí khám, chữa bệnh, mang lại hiệu quả kinh tế cho người bệnh, gia đình và xã hội;

Việc triển khai thực hiện đề án là rất cần thiết, nó góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh và nâng cao sự hài lòng của người bệnh; từng bước xây dựng, củng cố lòng tin của nhân dân và người bệnh vào hệ thống khám, chữa bệnh tại hệ thống y tế trong tỉnh, tăng sự hợp tác phối hợp điều trị giữa người bệnh và nhân viên y tế, giảm đi những vấn đề bức xúc của xã hội, những mặt trái trong môi trường bệnh viện, giúp ngành y tế thực hiện thắng lợi công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân tại địa phương.

Việc triển khai thực hiện đề án cũng là một cơ hội để Bệnh viện Mắt BR-VT tìm kiến sự hỗ trợ hợp tác quốc tế và nguồn vốn xã hội hoá để nâng cao chất lượng dịch vụ, cải thiện điều kiện làm việc và thu nhập chính đáng cho CBVC và người lao động, động viên nhân viên tiếp tục gắn bó với bệnh viện và đóng góp cho công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

Đối với Bộ Y tế, BHXH và các bộ ngành Trung ương: Cần có những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh những bất cập hiện nay trong khám chữa bệnh, trong phối hợp liên ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở y tế được phát triển và hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn như: vấn đề chuyển tuyến BHYT, vấn đề thanh quyết toán, vấn đề tiêu chuẩn về bộ máy, nhân lực, trang thiết bị của BV chuyên khoa mắt, vấn đề thực hiện tự chủ tài chính trong các cơ sở y tế công lập.v.v.

Đối với UBND Tỉnh và Ngành Y tế: Cần hỗ trợ đầu tư kinh phí để cải tạo cơ sở vật chất, trang thiết bị; Sớm phê duyệt đề án vị trí việc làm để bổ sung nguồn nhân lực phục vụ công tác chuyên môn. Đặc biệt cần điều chỉnh quy định về đào tạo phát triển chuyên môn trong ngành y tế, vì đến nay Quyết định 2415/2011 đã hết thời hạn hiệu lực và có nhiều nội dung không còn phù hợp.

Nơi nhận GIÁM ĐỐC

– Sở y tế ( Trình phê duyệt);

– Các khoa phòng

PHỤ LỤC I: GIẢN ĐỒ GANTT – TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

PHỤ LỤC II: BỘ MÁY TỔ CHỨC HIỆN HỮU CỦA BỆNH VIỆN MẮT

PHỤ LỤC III : THỰC TRẠNG NHÂN SỰ TẠI BỆNH VIỆN MẮT

Bảng này chưa đúng, TCHC dò lại đi

PHỤ LỤC V : DANH MỤC CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT ĐƯỢC TRIỂN KHAI

Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Chất Thải Rắn Sinh Hoạt Tại Thị Trấn Đu, Huyện Phú Lương, Tỉnh Thái Nguyên

KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Khoa học Môi trường Sinh viên thực hiện: Lớp: KHMT K9 Khóa: 2011 – 2015 Người hướng dẫn khoa học: THÁI NGUYÊN, 2015 ThS. Nguyễn Thị Nhâm Tuất MỤC LỤC 1.1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt 3 1.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới 7 1.2.2. Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới 8 DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1. Lượng chất thải rắn phát sinh tại một số nước. 8 Bảng 1.2. Phương pháp xử lý CTR đô thị ở một số nước. 9 Bảng 1.3. Thành phần CTR từ hộ gia đình của một số thành phố. 14 Hoàng Ngọc Mai Bảng 3.1. Phân bổ các loại đất của thị trấn Đu huyện Phú Lương. 23 Bảng 3.2. Tỷ lệ phần trăm nguồn CTR phát sinh tại thị trấn Đu. 29 Bảng 3.3. Thành phần CTRSH tại thị trấn Đu. 31 Bảng 3.4. Nhân lực trong công tác quản lý môi trường. 32 Bảng 3.5. Các hình thức thu gom CTRSH của các hộ gia đình. 34 Bảng 3.6. Tỷ lệ phát sinh và thu gom CTRSH tại thị trấn Đu. 34 TẠI THỊ TRẤN ĐU, HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

======================================================

Bảng 3.14. Tỷ lệ đánh giá của người dân về mức độ ảnh hưởng của CTRSH đến môi trường, mỹ quan đường phố. 44

Bảng 3.7. Phương tiện thu gom, vận chuyển CTRSH trên địa bàn thị trấn Đu. 36

Bảng 3.16. Đánh giá mức thu phí VSMT trên địa bàn thị trấn Đu. 45 DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH Sơ đồ 1.1. Sơ đồ thể hiện nguồn gốc phát sinh chất thải rắn. 5 Sơ đồ 1.2. Mô hình quản lý CTRSH tại Việt Nam.. 7 Sơ đồ 1.3. Sơ đồ tổ chức quản lý CTR tại Singapore. 11 Sơ đồ 1.4. Sơ đồ tổ chức quản lý CTR tại Nhật Bản. 12 Sơ đồ 1.5. Hệ thống quản lý CTR tại một số đô thị lớn ở Việt Nam.. 15 Sơ đồ 3.1. Công nghệ xử lý CTRSH bằng công nghệ NFi – 05. 39 Sơ đồ 3.2. Quy trình công nghệ chế biến phân bón từ CTRSH.. 53 Hình 3.1. Bản đồ hành chính huyện Phú Lương. 21 Hình 3.2. Tỷ lệ phần trăm nguồn CTR phát sinh tại thị trấn Đu. 29

Bảng 3.8. Mức độ quan tâm của người dân đến công tác quản lý CTR sinh hoạt 37

Bảng 3.13. Đánh giá của cộng đồng dân cư về công tác quản lý CTR địa phương. 43

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT =====================================================================

Bảng 3.15. Tỷ lệ đánh giá của người dân về môi trường xung quanh khu xử lý CTR.. 45

Hình 3.3. Tỷ lệ phát sinh và thu gom CTRSH tại các tiểu khu của thị trấn Đu. 35

Hình 3.4. Tỷ lệ đánh giá của người dân về mức độ ảnh hưởng của CTRSH đến môi trường, mỹ quan đường phố………………………………………..44

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Ngày nay quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đã giúp cho tỉnh Thái Nguyên ngày càng phát triển hơn, một mặt tạo sự phát triển kinh tế, công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho người dân mặt khác đây cũng là nguy cơ làm giảm chất lượng môi trường. Hiện nay, ô nhiễm môi trường không còn xa lạ với chúng ta và nó đã trở thành một vấn đề của toàn cầu. Nếu chúng ta không có biện pháp bảo vệ môi trường kịp thời để ngăn chặn, phòng ngừa mức độ ô nhiễm môi trường thì sự suy thoái môi trường là điều không thể tránh khỏi.

Một trong những vấn đề môi trường cấp bách hiện nay ở nước ta đó là chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), một thách thức lớn đang được xã hội quan tâm.

Nền kinh tế phát triển, dân số gia tăng dẫn tới nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng theo, theo đó lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh cũng ngày càng nhiều và đặc biệt là CTR sinh hoạt. Việc bùng nổ CTR sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khoẻ cộng đồng, con người cũng như làm mất cảnh quan đô thị…

Hiện nay tình trạng CTR nói chung và CTR sinh hoạt nói riêng tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên chưa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn đến việc quản lý CTR gặp nhiều khó khăn và chưa phù hợp trong công tác bảo vệ môi trường.

Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Khoa học môi trường và Trái đất, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Nhâm Tuất, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”.

– Tìm hiểu thực trạng công tác quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

– Đề xuất một số giải pháp quản lý CTR sinh hoạt phù hợp với điều kiện quản lý môi trường một cách khoa học và bền vững, góp phần BVMT, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân tại khu vực nghiên cứu.

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1. Tổng quan về chất thải rắn sinh hoạt

– Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.

– Vận dụng và phát huy được tất cả các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.

– Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR sinh hoạt.

Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [15].

Chất thải là sản phẩm được phát sinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông, sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao thông đường bộ, đường thuỷ…[7].

Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải thông thường và chất thải rắn nguy hại.

Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác gọi là chất thải rắn công nghiệp.

Nguồn phát sinh chất thải rắn

Chất thải rắn nguy hại là chất thải rắn chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính: phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác [10].

Phần lớn chất thải ở thể rắn và ở khắp mọi nơi xung quanh ta như gạch, đá, xi măng, vôi, vữa, giấy, sắt vụn,… Loại chất thải này do các công trường, nhà máy, hộ gia đình thải ra rất lớn.

Chất thải rắn gồm các chất hữu cơ như: thức ăn thừa, giấy, cát tông, nhựa, vải, cao su, gỗ, xác động thực vật,… và các chất vô cơ như: thuỷ tinh, nhôm, đất cát, phế liệu, kim loại khác… [7].

– Từ sinh hoạt: Phát sinh từ hộ gia đình, các biệt thự và các căn hộ chung cư. Thành phần chủ yếu bao gồm: thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hoá (bằng giấy, gỗ, cát tông, plastic, thiếc, nhôm, thuỷ tinh…), đồ dùng điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, bóng đèn, đồ nhựa…), chất thải độc hại như chất tẩy rửa, bột giặt, chất tẩy trắng, thuốc diệt côn trùng…

– Từ khu thương mại: thương mại (nhà kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm xăng dầu, gara…): giấy, cát tông, plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại, các loại chất thải đặc biệt (dầu mỡ, lốp xe,…), các chất thải độc hại khác…

– Từ khu công sở: Cơ quan (trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính,…). Thành phần bao gồm: Giấy, cát tông, plastic, gỗ, thức ăn thừa, thuỷ tinh, kim loại… Ngoài ra CTR y tế phát sinh từ bệnh viện phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, điều trị bệnh vì vậy chất thải y tế trở thành phức tạp nó bao gồm các loại bệnh phẩm, kim tiêm, chai lọ chứa thuốc…

– Từ hoạt động giao thông: Phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải như: nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, xây dựng di dời nhà cửa… từ đó sinh ra các loại chất thải như đất, đá, bê tông, gạch ngói, gỗ, sắt thép…[9].

– Từ các hoạt động công nghiệp;

– Từ các hoạt động xây dựng đô thị;

– Từ trạm xử lý nước thải và từ các đường cống thoát nước của thành phố, khu, cụm dân cư.

Nguồn phát sinh CTR được thể hiện ở sơ đồ 1.1

+ Phân loại chất thải theo nguồn gốc phát sinh

– Chất thải sinh hoạt: Phát sinh hàng ngày ở đô thị, làng mạc, khu du lịch, nhà ga, trường học, công viên…

– Chất thải công nghiệp: Phát sinh trong quá trình sản xuất công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch…

+ Phân loại theo trạng thái tồn tại

– Chất thải rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà máy chế tạo máy, xây dựng (kim loại, da, hoá chất, nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng v.v..)

– Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước thải nhà máy sản xuất giấy và vệ sinh công nghiệp…

– Chất thải khí: Bao gồm khí thải các động cơ đốt trong, máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu…

+ Phân loại theo tính chất nguy hại

– Vật phẩm nguy hại sinh ra tại các bệnh viện trong quá trình điều trị người bệnh (các loại vật phẩm gây bệnh thông thường được xử lý ở chế độ nhiệt cao, từ 1150 oC trở lên, cá biệt có loại vi sinh vật gây bệnh bị tiêu diệt khi nhiệt xử lý lên tới 3000 o C…)

– Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp có thành phần As, Pb, Hg, Cd… là mầm mống gây bệnh ung thư cho con người.

Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra qua quá trình xử lý giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng năng lượng…

– Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau. Tuỳ theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trưng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô thị là bao quát hơn cả bao gồm các chất thải từ nhiều nguồn gốc khác nhau như sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, chất thải đường phố…

1.1.6. Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất thải rắn

Thành phần chủ yếu của chất thải rắn như sau:

+ Hỗn hợp có nguồn gốc hữu cơ cao (50,27% – 62,22%)

+ Chứa nhiều đất, cát, gạch vỡ…

+ Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900 cal/kg)

Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 về quản lý chất thải rắn:

– Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt động tập hợp, đóng gói, và tạm thời lưu giữ chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom.

1.2.1. Tình hình phát sinh CTR trên thế giới

– Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tư xây dựng bãi xử lý chất thải. Lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường.

Bảng 1.1. Lượng chất thải rắn phát sinh tại một số nước 1.2.2. Tình hình quản lý chất thải rắn trên thế giới

– Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật nhằm làm giảm, loại bỏ tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích.

Mô hình quản lý chất thải sinh hoạt tại Việt Nam từ trước đến nay hầu hết mới chỉ tập trung cho khu vực đô thị. Mô hình quản lý CTRSH tại Việt Nam được thể hiện cụ thể trong sơ đồ 1.2

1.2. Hiện trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới, tại Châu Á khu vực đô thị mỗi ngày phát sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn. Đến năm 2025, con số này dự kiến sẽ tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày. Đô thị hóa và phát triển kinh tế thường đi đôi với mức tiêu thụ tài nguyên và tỷ lệ phát sinh CTR tăng lên tính theo đầu người. Nói chung mức sống càng cao thì lượng chất thải phát sinh càng nhiều. Báo cáo cũng cho thấy tại các thành phố lớn như New York tỷ lệ phát sinh CTR là 1,8 kg/người/ngày, Singapore, Hongkong là 0,8 – 1,0 kg/người/ngày, Jakarta, Manila, Calcuta, Karhi là 0,5 – 0,6 kg/người/ngày.

* Singapore:

Tình hình phát sinh và khả năng xử lý CTR ở các nước khác nhau cũng rất khác nhau tùy thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế, hệ thống quản lý của mỗi nước. Ở các nước phát triển mặc dù lượng phát thải là rất lớn nhưng hệ thống quản lý môi trường của họ rất tốt, còn ở các nước kém phát triển dù lượng phát thải nhỏ hơn rất nhiều nhưng do hệ thống quản lý môi trường kém phát triển nên môi trường ở nhiều nước có xu hướng suy thoái nghiêm trọng.

Đối với các nước Châu Á, chôn lấp CTR vẫn là phương pháp phổ biến để tiêu hủy vì chi phí rẻ. Trung Quốc và Ấn Độ có tỷ lệ chôn lấp tới 90%. Tỷ lệ thiêu đốt chất thải của Nhật Bản và Đài Loan (Trung Quốc) vào loại cao nhất, khoảng 60 – 80%. Hàn Quốc chiếm tỷ lệ tái chế chất thải cao nhất khoảng trên 40%.

Đối với chất thải hữu cơ, ủ phân compost là phương pháp tiêu hủy chủ yếu. Ấn Độ và Philippines ủ phân compost tới 10% lượng chất thải phát sinh. Tại hầu hết các nước, tái chế chất thải đang ngày được coi trọng [21].

Là một nước nhỏ, không có nhiều diện tích đất chôn lấp chất thải rắn như những quốc gia khác nên đã kết hợp xử lý chất thải bằng phương pháp đốt và chôn lấp. Cả nước Singapore có 3 nhà máy đốt chất thải. Những thành phần CTR rắn không cháy được chôn lấp ở bãi chất thải ngoài biển. Đảo – đồng thời là bãi chất thải Semakau với diện tích 350 ha, có sức chứa 63 triệu m 3 chất thải, được xây dựng với kinh phí 370 triệu USD và hoạt động từ năm 1999. Tất cả CTR của Singapore được chất tại bãi này. Mỗi ngày, hơn 2000 tấn chất thải được đưa ra đảo. Dự kiến chứa được chất thải đến năm 2040. Bãi chất thải này được bao quanh bởi con đập xây bằng đá dài 7km, nhằm ngăn chặn sự ô nhiễm ra xung quanh. Đây là bãi CTR nhân tạo đầu tiên trên thế giới ở ngoài khơi và cũng đồng thời là khu du lịch sinh thái hấp dẫn của Singapore. Hiện nay, các bãi chất thải đã đi vào hoạt động, rừng đước, động thực vật trên đảo vẫn phát triển tốt, chất lượng không khí và nước vẫn tốt.

CTR từ các nguồn khác nhau sau khi thu gom được đưa đến trung tâm phân loại chất thải. Ở đây chất thải được phân loại ra những thành phần: có thể tái chế (kim loại, nhựa, sắt, vải, giấy…), các chất hữu cơ, thành phần cháy được và không cháy được. Những chất chất có thể tái chế thì chuyển tới các nhà máy để tái chế, những chất cháy được được chuyển tới nhà máy đốt chất thải, còn những chất thải mà không cháy được chở đến cảng trung chuyển, đổ lên xà lan và chở ra tới khu chôn lấp chất thải Semakau ngoài biển [20].

Các công đoạn trong hệ thống quản lý chất thải của Singapore hoạt động hết sức nhịp nhàng và ăn khớp với nhau từ thu gom, phân loại, vận chuyển đến khâu xử lý bằng phương pháp đốt cho đến cuối cùng là chôn lấp. Xử lý khí thải từ các lò đốt được thực hiện theo quy trình nghiêm ngặt để tránh sự chuyển dịch ô nhiễm từ dạng rắn sang dạng khí.

* Thái Lan:

Việc phân loại chất thải được thực hiện ngay từ nguồn. Người ta chia ra ba loại chất thải và bỏ vào ba thùng riêng: những chất có thể tái sinh, thực phẩm và các chất độc hại. Các loại chất thải này được thu gom và chở bằng các xe ép chất thải có màu sơn khác nhau.

Chất thải tái sinh sau khi được phân loại sơ bộ ở nguồn phát sinh được chuyển đến nhà máy phân loại chất thải để tách ra các loại vật liệu khác nhau sử dụng trong tái chế. Chất thải thực phẩm được chuyển đến nhà máy chế biến phân vi sinh. Những chất còn lại sau khi tái sinh hay chế biến phân vi sinh được xử lý bằng chôn lấp. Chất thải độc hại được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt.

1.3. Hiện trạng quản lý CTRSH ở Việt Nam

* Nhật Bản:

Theo số liệu của Cục Y tế và Môi sinh Nhật Bản, hàng năm nước này có khoảng 450 triệu tấn CTR, trong đó phần lớn là chất thải công nghiệp (387 triệu tấn). Trong tổng số CTR trên, chỉ có khoảng 5% được đưa tới BCL, trên 36% được đưa tới các nhà máy để tái chế. Số còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý chất thải. Chi phí cho việc xử lý chất thải hàng năm tính theo đầu người khoảng 300.000 Yên (khoảng 2.500 USD).

Nhật Bản quản lý CTR công nghiệp rất chặt chẽ. Các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng CTR của mình theo quy định các luật BVMT. Ngoài ra, Chính quyền tại các địa phương còn tổ chức các chiến dịch “Xanh, sạch, đẹp” tại các phố, phường nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Chương trình này đã được đưa vào trường học và đạt hiệu quả [22].

Bộ Môi trường có rất nhiều phòng ban trong đó có Sở Quản lý chất thải và tái chế có nhiệm vụ quản lý sự phát sinh chất thải, đẩy mạnh việc tái sử dụng, tái chế và sử dụng những nguồn tài nguyên có thể tái tạo một cách thích hợp với quan điểm là bảo tồn môi trường sống và sử dụng một cách có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh khoảng 15 triệu tấn chất thải rắn, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm tới 80% tổng lượng chất thải. CTRSH chủ yếu được phát sinh từ các đô thị, ước tính mỗi người dân đô thị phát thải 0,7 kg CTR mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người của vùng nông thôn.

Theo Cục BVMT, lượng chất thải rắn phát sinh hằng ngày tính trên người là:

Đô thị (toàn quốc): 0,7 kg/người/ngày.

Nông thôn (toàn quốc): 0,3 kg/người/ngày.

Thành phố Hồ Chí Minh: 1,3 kg/người/ngày.

Thành phố Hà Nội: 1,0 kg/người/ngày.

Đà Nẵng: 0,9 kg/người/ngày.

Bảng 1.3. Thành phần CTR từ hộ gia đình của một số thành phố [Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn]

Theo số liệu thống kê, hiện nay tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54%). Trong đó, tỷ lệ thu gom CTR tại các đô thị bình quân cả nước chỉ đạt khoảng 70 – 85%. Một điều đáng chú ý là cả nước có tới 52 bãi chôn lấp CTR gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, trong khi quỹ đất cho các bãi chôn lấp ngày càng hạn hẹp. Khi đặt ra vấn đề cần phải xử lý CTR như thế nào thì câu trả lời vẫn là…chôn lấp là chính. Chỉ tính riêng tại TP.Hồ Chí Minh, năm 2010 lượng CTRSH phát sinh 7.000 tấn/ngày, trong đó chỉ thu gom được 6.500 tấn/ngày.

* Mô hình quản lý chất thải rắn tại Việt Nam:

Theo dự báo đến năm 2015, tổng khối lượng CTR phát sinh tại vùng kinh tế trọng điểm ĐBSCL khoảng 4.600 tấn/ngày và con số này sẽ tăng lên 7.550 tấn/ngày vào năm 2020. Nguồn phát sinh CTR ở các đô thị ngày càng lớn, trong đó tỷ lệ thu gom trung bình của các thành phố trên chỉ đạt trên 90% và xử lý vẫn chủ yếu là chôn lấp.

Đáng lưu ý hiện nay, không chỉ ở các đô thị lớn mà các vùng nông thôn cũng đã bắt đầu… ngập rác; trong khi đó, những khu vực này lại thiếu nhiều bãi chôn lấp và công nghệ xử lý. Do đó, phần lớn chưa tổ chức thu gom, xử lý CTR, các CTR ở khu vực này chủ yếu vứt bừa bãi ra môi trường tự nhiên như ao, hồ, sông ngòi…[23].

Thành phần CTRSH phụ thuộc vào mức sống ở một số đô thị. Mức sống, thu nhập khác nhau giữa các đô thị đóng vai trò quyết định trong thành phần CTRSH. Trong thành phần rác thải đưa đến các bãi chôn lấp, thành phần rác có thể sử dụng làm nguyên liệu sản xuất phân hữu cơ rất cao từ 54 – 77%, tiếp theo là thành phần nhựa 8 – 16%, thành phầm kim loại đến 2%, chất thải nguy hại bị lẫn nhỏ hơn 1%.

Cùng với xu thế chung của thế giới, ở nước ta trong những năm gần đây Chính phủ rất coi trọng việc BVMT và các biện pháp để quản lý CTR. Mô hình quản lý CTR tại Việt Nam từ trước đến nay hầu hết mới chỉ tập trung cho khu vực đô thị.

* Những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam:

Công tác quản lý CTR ở Việt Nam bắt đầu khá muộn so với nhiều nước trên thế giới, nhưng khối lượng CTR lại tăng lên khá nhanh, nên công tác quản lý chất thải còn nhiều hạn chế:

+ Sự phân công trách nhiệm quản lý CTR giữa các ngành chưa rõ ràng, chưa có một hệ thống quản lý thống nhất riêng đối với CTR công nghiệp của thành phố.

+ Hệ thống văn bản pháp quy BVMT nói chung và quản lý CTR nói riêng còn thiếu, không đồng bộ.

+ Cơ chế thực hiện dịch vụ thu gom và quản lý vẫn còn mang nặng tính bao cấp mặc dù nhà nước ta đã có chính sách xã hội hóa công việc này.

+ Chưa có thị trường thống nhất về trao đổi và tái chế CTR nói chung và CTRSH nói riêng.

1.3.2. Tình hình xử lý chất thải rắn ở Việt Nam

+ Việc thu gom chất thải chủ yếu sử dụng lao động thủ công. Sử dụng sự tham gia của cộng đồng và của khu vực tư nhân vào việc thu gom và quản lý chất thải chưa rộng rãi.

+ Thiếu sự đầu tư thỏa đáng và lâu dài đối với các trang thiết bị thu gom, vận chuyển, phân loại, xây dựng các BCL đúng quy cách và các công nghệ xử lý chất thải phù hợp.

Bảng 1.4. Tình hình áp dụng các công nghệ xử lý CTR tại Việt Nam so với các nước [Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn]

+ Chưa có các công nghệ và phương tiện hiện đại cũng như vốn đầu tư để tái chế chất thải đã thu gom, còn thiếu kinh phí cũng như công nghệ để xử lý chất thải nguy hại.

+ Chôn lấp: Chôn lấp đơn thuần không qua xử lý, đây là phương pháp phổ biến nhất. Theo thống kê, nước ta có khoảng 149 bãi chất thải cũ không hợp vệ sinh, trong đó có 21 bãi chất thải thuộc cấp tỉnh – thành phố, 128 bãi chất thải cấp huyện – thị trấn. Được sự giúp đỡ của nước ngoài, Việt Nam đã xây dựng các bãi chôn lấp hợp vệ sinh ở các thành phố lớn như: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, TP. Hồ Chí Minh.

CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

+ Chế biến phân vi sinh: Phương pháp làm phân Compost có ưu điểm làm giảm lượng CTR hữu cơ cần chôn lấp, cung cấp phân bón phục vụ nông nghiệp, xây dựng các công trình mới. Thành phần của CTR xây dựng chủ yếu là: đất, gạch, sắt, thép, bê tông… Khối lượng chất thải xây dựng ngày một tăng do nhu cầu cải tạo, xây dựng các công trình ngày một nhiều. Một số nhà máy chế biến như Cầu Diễn (Hà Nội) có công suất 50.000 tấn/năm, nhà máy xử lý CTR Nam Định 250 tấn/ngày, công nghệ Dano – Đan Mạch tại Hóc Môn – TP. HCM công suất 240 tấn/ngày…

2.1.3. Thời gian nghiên cứu

+ Thiêu đốt: Được áp dụng để xử lý CTR bệnh viện. Các bệnh viện Lao, Viện 108 mới xây dựng lò đốt chất thải. Tại Hà Nội có lò đốt chất thải bệnh viện công suất 3,2 tấn/ngày đặt tại Tây Mỗ. Tại Tp. Hồ Chí Minh có lò đốt chất thải bệnh viện công suất 7,5 tấn/ngày. Phương pháp đốt chất thải còn được dùng để xử lý chất thải công nghiệp như lò đốt chất thải giày da tại Hải Phòng, lò đốt cao su 2,5 tấn/ngày tại Đồng Nai. Việc đốt chất thải công nghiệp này đều không đạt tiêu chuẩn môi trường.

+ Các công nghệ khác: Bộ quốc phòng và công ty TNHH Xuân Kiên nghiên cứu chế tạo lò đốt CTR y tế với công suất nhỏ. Công ty cổ phần PTCN môi trường xanh nghiên cứu thử nghiệm mô hình xử lý CTR theo công nghệ Seraphin tại nhà máy xử lý CTR Đông Vinh (Tp. Nghệ An) và nhà máy xử lý CTR sinh hoạt tại Sơn Tây.

=====================================================================

Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnhThái Nguyên.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

Thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên.

Từ tháng 11/2014 đến tháng 4/2015.

– Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tại thị trấn Đu,huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

– Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên.

– Đề xuất một số biện pháp quản lý CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên.

– Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình, cá nhân.

– Hình thức phỏng vấn:

+ Phát phiếu điều tra: Điều tra 120 hộ gia đình trên địa bàn 6 tiểu khu (20 hộ/tiểu khu) thuộc thị trấn Đu theo tiêu chí ngẫu nhiên, đồng thời có sự cân đối về trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi, đa dạng về nghề nghiệp.

Cụ thể : + Giới tính: 40 – 45% nam, 55 – 60% nữ; + Tuổi: từ 18 đến 55 tuổi. + Trình độ học vấn: Trung học cơ sở: 8 -10 %, Trung học phổ thông: 42 – 45%, Đại học, Cao đẳng: 45 -50%

+ Nghề nghiệp: hộ nông nghiệp: 35- 40%, hộ công chức: 45 – 50%, hộ buôn bán: 10 – 15%

– Nội dung phỏng vấn

+ Lượng rác phát sinh từ hộ gia đình

+ Thành phần, khối lượng của chất thải rắn sinh hoạt

+ Việc nộp lệ phí thu gom CTRSH của các đối tượng được tiến hành thu gom

+ Ý kiến của người dân về vấn đề môi trường

+ Thái độ làm việc của công nhân thu gom

Tiến hành điều tra khảo sát tại các địa điểm trong thị trấn.

2.3.4. Phương pháp chuyên gia

+ Khảo sát chợ Đu.

+ Khảo sát 1 trường trung học, 1 trường tiểu học và 1 trường mầm non trên địa bàn.

2.3.5. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu

+ Khảo sát 2,5 km đoạn đường Quốc lộ 3 chạy qua thị trấn.

+ Khảo sát một số cơ quan trên địa bàn thị trấn.

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1.1.1. Vị trí địa lý

+ Khảo sát CTRSH tại hộ gia đình.

Tham khảo ý kiến của nhà lãnh đạo: Các cán bộ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, UBND thị trấn Đu, Tổ, đội vệ sinh môi trường.

3.1.1.2. Địa hình địa mạo

Tham khảo ý kiến của các nhà khoa học: Các thầy cô giáo trong khoa Khoa học môi trường và Trái đất.

Tổng hợp số liệu sơ cấp và thứ cấp thu thập được để làm căn cứ đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện của thị trấn.

==========================================================================

Thị trấn Đu có giới hạn tọa độ địa lý từ khoảng 21 043′ đến 21 044′ vĩ độ Bắc và từ khoảng 105 042′ đến 105 0 43′ kinh độ Đông, có diện tích tự nhiên là 212,90 ha, địa giới hành chính của thị trấn tiếp giáp với xã Động Đạt ở các phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Phía Tây Nam giáp với xã Phấn Mễ.

3.1.1.3. Khí hậu

Thị trấn Đu là một đô thị của huyện Phú Lương:

– Vùng phía Tây: có nhiều dãy đồi núi liên tiếp, nơi cao nhất là đỉnh Đồi Cao, cao 97,2 m so với mặt nước biển, có độ dốc chủ yếu từ 10 0 – 15 0.

– Vùng phía Đông: có nhiều dãy đồi cao liên tiếp kéo dài mà đỉnh cao nhất là đồi Nạm Kho cao 87,6 m so với mặt nước biển, có độ dốc chủ yếu từ 15 0 – 25 0.

– Vùng phía Nam: có đỉnh cao nhất là 95,2 m so với mặt nước biển, với những dãy đồi thấp có độ dốc chủ yếu từ 10 0 – 15 0.

– Vùng phía Bắc: Có địa hình thung lũng bằng phẳng, với độ dốc chủ yếu từ 0 0 – 8 0.

3.1.1.4. Thuỷ văn.

Thị trấn Đu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm 4 mùa, song chủ yếu là 2 mùa chính: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.

Nhiệt độ trung bình trong năm khoảng 22 0 C.

Lượng mưa trung bình năm là 2.097 mm.

3.1.2. Các nguồn tài nguyên 3.1.2.1. Tài nguyên đất

Độ ẩm trung bình năm là 82%.

Bảng 3.1. Phân bổ các loại đất của thị trấn Đu huyện Phú Lương [Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) thị trấn Đu, huyện Phú Lương]

Hướng gió thịnh hành chủ yếu vào mùa mưa là gió Đông Nam và mùa khô là gió Đông Bắc.

– Với dòng sông Đu bắt nguồn từ phía Tây Bắc chảy qua địa bàn thị trấn ranh giới phía Tây của thị trấn với xã Động Đạt và cũng là ranh giới phía Nam – Tây Nam của thị trấn với xã Phấn Mễ dài khoảng 3,65 km.

– Suối Thác Lở bắt nguồn từ phía Bắc – Đông Bắc chảy qua địa bàn thị trấn từ điểm đầu Bắc – Đông Bắc chạy dọc theo phía Đông cắt ngang qua địa bàn thị trấn và hoà với sông Đu, dài khoảng 2,1 km.

– Tổng diện tích sông suối là 2,2 ha cùng 1,78 ha mặt nước chuyên dùng và 3,54 ha hồ, ao, đầm lớn nhỏ đã tạo nên mạng lưới thuỷ văn toàn thị trấn

3.1.2.2. Tài nguyên nước

Tài nguyên đất trên địa bàn của thị trấn khá phong phú và được thể hiện qua bảng 3.1.

Thị trấn Đu có tổng diện tích tự nhiên là 212,9 ha trong đó:

– Diện tích đất nông nghiệp là 111,78 ha.

3.1.2.3. Tài nguyên rừng

– Diện tích đất phi nông nghiệp là 95,76 ha.

– Diện tích đất chưa sử dụng là 5,36 ha.

Trên địa bàn thị trấn có 2 nguồn nước chủ yếu sử dụng cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân là nguồn nước mặt và nguồn nước ngầm.

– Nguồn nước mặt: Ngoài nguồn nước mưa còn có các nguồn nước do dòng sông Đu, suối Thác Lở, cùng các nhánh suối nhỏ khác và các hồ, ao, hệ thống kênh mương đảm bảo tưới tiêu cho gần 100% diện tích canh tác.

3.1.2.4. Tài nguyên nhân văn

– Nguồn nước ngầm: Có độ sâu từ 7m đến 12m, nguồn nước này được nhân dân địa phương khai thác chủ yếu với hình thức giếng khoan, giếng đào, giếng khơi.

3.1.2.5. Thực trạng môi trường

Thị trấn có khoảng 15,3 ha rừng trong đó:

– Diện tích rừng tự nhiên là 0,9 ha.

– Diện tích rừng trồng sản xuất là 14,4 ha.

Với thảm thực vật gồm cây thân gỗ như: bạch đàn, keo, trám, trẩu…, các cây họ tre, trúc, các cây thân leo và cây bụi v.v.., rừng nguyên sinh của thị trấn không còn.

3.1.3. Đặc điểm kinh tế – xã hội của thị trấn Đu 3.1.3.1. Sự phát triển kinh tế * Ngành nông nghiệp

Trên địa bàn Thị trấn có 9 dân tộc anh em cùng sinh sống bao gồm: dân tộc kinh chiếm 70%, còn lại là các dân tộc: Tày, Nùng, Hoa, Sán Chí, Sán Dìu, Mông, Dao.

Đu là một thị trấn miền núi của huyện Phú Lương, có nền công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa cao. Hiện trạng môi trường chưa có sự biến đổi lớn, nhưng phần nào đã chịu ảnh hưởng của CTR, phế thải nông nghiệp, ô nhiễm không khí do công nghiệp gây ra… ô nhiễm ở đây chỉ mạng tính chất cục bộ.

Vì vậy, đây là vấn đề cần quan tâm đúng mức trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Và trong thời gian tới khi mà sự phát triển của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ trên địa bàn Thị trấn tăng lên thì vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường cần phải quan tâm hơn nữa.

Ngoài tác động của con người thì thiên nhiên cũng gây ra những áp lực không nhỏ đối với môi trường. Hàng năm nơi đây phải gánh chịu nhiều đợt bão, lụt gây ảnh hưởng xấu đến con người và môi trường như lũ lụt làm sạt lở sông Đu, ngập úng nhiều diện tích canh tác….

Nhìn chung, hiện trạng môi trường Thị trấn hiện nay còn tương đối đảm bảo, chưa bị tác động nhiều. Trong xu thế tương lai ngày càng phát triển hoàn thiện về mọi mặt, đòi hỏi địa phương phải có chính sách, biện pháp cụ thể để kiểm soát và xử lý kịp thời tình trạng ô nhiễm môi trường, đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế xã hội mang tính chất bền vững

* Về dịch vụ – thương mại

– Vụ xuân gieo cấy được: 40 ha lúa, đạt 100 % KH diện tích gieo cấy, năng suất bình quân đạt 53.46 tạ/ha; sản lượng thóc đạt 216 tấn. Diện tích ngô vụ đông xuân trồng được 5 ha; năng suất đạt 43.8 tạ/ha; sản lượng đạt: 21.9 tấn;

* Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp

– Vụ mùa gieo cấy được 46 ha lúa, đạt 100 % KH diện tích gieo cấy, năng suất bình quân đạt 53 tạ/ha; sản lượng thóc đạt 243.8 tấn. Diện tích ngô mùa trồng được 4 ha; năng suất đạt 40 tạ/ha, sản lượng đạt: 28 tấn;

Tổng sản lượng cây có hạt: 510 tấn đạt: 100% KH.

* Tốc độ phát triển kinh tế

– Cây chè sinh trưởng phát triển tốt. Tổng diện tích chè toàn thị trấn 13 ha; chè búp tươi đạt 84 tấn, đạt 100,7% KH cả năm.

* Dân số, lao động

* Chăn nuôi – thú y: Tổ chức tốt công tác tiêm phòng cho đàn gia súc, gia cầm, tiêm bổ sung vaccin phòng dại cho đàn chó và tiêm phòng đợt 2 cho đàn gia súc, gia cầm. Đến nay, đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, tổng đàn gia cầm ước đạt 40.000 con; trâu, bò: 80 con; đàn lợn trên 1.700 con.

Hoạt động kinh doanh vẫn giữ được mức phát triển ổn định về quy mô, chủng loại hàng phong phú cơ bản đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng và nhìn chung đạt mức tăng trưởng khá. Trong năm giá trị kinh doanh trên địa bàn đạt: 13 tỷ đồng/12 tỷ đồng = 108% KH.Vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

* Công tác giáo dục:

Trong những năm qua sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn thị trấn có sự chuyển biến và phát triển mạnh, các cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp liên tục được đầu tư mở rộng cả về số lượng và quy mô. Do vậy, năng suất chất lượng sản phẩm được nâng cao, có khả năng canh tranh tốt trên thị trường tạo được những chuyển biến tích cực trong phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của địa phương. Trong đó chú trọng phát triển các ngành nghề có thế mạnh như: các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; sản xuất gia công cơ khí; chế biến gỗ và các dịch vụ sửa chữa, may mặc. Hàng năm, đã sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hóa phục vụ cho nhân dân trên địa bàn thị trấn và nhân dân các xã vùng lân cận trong huyện. Hiện nay toàn thị trấn có trên 60 cơ sở sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, thu hút trên 300 lao động làm việc thường xuyên và cho thu nhập bình quân đạt 20 triệu đồng/người/năm

Tổng giá trị ngành sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp hằng năm tăng từ 15 – 20%. Cụ thể: năm 2009 đạt 5,7 tỷ đồng, năm 2010 đạt 8,5 tỷ đồng, năm 2011 và 2012 đều đạt 11,5 tỷ đồng.

Trong những năm qua kinh tế của thị trấn Đu phát triển mạnh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch sang tiểu thủ công nghiệp, thương mại – dịch vụ, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm 20%; là đơn vị tự cân đối ngân sách, bình quân thu ngân sách hàng năm tăng 18 – 20% so với kế hoạch đề ra; năm 2012 thu ngân sách đạt 2.307.555.868 đồng (tăng 14% so với năm 2011); tổng doanh thu dịch vụ đạt 18 tỷ đồng (tăng 15% so với năm 2011).

Tính đến tháng 12 năm 2014 toàn thị trấn Đu có 5.455 người, sinh sống trên 6 tiểu khu. Dân cư phân bố không đồng đều rải chất thải theo các khu phố và dọc đường quốc lộ. Nhìn chung đời sống dân cư tương đối ổn định nên việc thực hiện các chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là chính sách pháp luật BVMT khá tốt.

Lao động của toàn Thị trấn với trình độ lao động chủ yếu là lao động phổ thông và phần lớn là lao động trong ngành tiểu thủ công nghiệp – thương mại dịch vụ. Sự phát triển của các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ đã và đang thu hút và giải quyết việc làm cho một số lượng lớn lao động. Thu nhập bình quân đầu người của thị trấn đạt 20 triệu/người/năm.

Năm học 2013 – 2014, các trường thực hiện tốt các nội dung chương trình, kế hoạch nhiệm vụ của năm học. Mọi hoạt động của nhà trường được duy trì nề nếp, hiệu quả, các phong trào thi đua trong nhà trường được đẩy mạnh, các trường đã quan tâm thực hiện các giải pháp để nâng cao chất lượng dạy và học. Với sự cố gắng nỗ lực của thầy và trò nhà trường đã đạt kết quả như sau:

– Trường THCS: Tổng số cán bộ Giáo viên; cán bộ CNVC: 37 Đ/c; Tổng số HS: 446/12 lớp; tỷ lệ ra lớp đạt: 100%; Số giáo viên đạt chuẩn là: 100%.

– Cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho việc dạy và học của trường đạt chuẩn Quốc gia.

– Các phong trào, chương trình công tác trong nhà trường được duy trì và phát huy, chất lượng dạy và học được nâng lên.

– Học sinh khá giỏi: 49,81%; Học sinh TB: 41,25%; học sinh yếu 7,8%; học sinh kém 1,14%. Tỷ lệ tốt nghiệp 99,13%.

– Về xếp loại đạo đức: Tốt 59,41%; khá 34,75%; TB 5,84%.

* Văn hoá, thông tin, thể thao

– Trường Tiểu học: Tổng số cán bộ giáo viên: 33 Đ/c; Tổng số HS: 418/16 lớp. Tỷ lệ phổ cập giáo dục đúng độ tuổi ngày càng cao năm 2010 là 98,6% năm 2014 là 99,5%. Cơ sở vật chất của nhà trường được quan tâm đầu tư xây dựng để trường đạt chuẩn Quốc gia theo kế hoạch.

+ Lực học: HS giỏi: 51%; HS khá: 32% tăng 1,8% so với năm học 2012 – 2013; TB 15,6% giảm 1,6 lần so với năm học 2012 – 2013; yếu 1,4% giảm 3,0 lần so với năm học 2012 – 2013.

* Công tác Y tế

+ Đạo đức: Thực hiện đầy đủ: 418/418 =100%

– Các trường đã tổ chức tốt việc tổng kết đánh giá năm học 2013 – 2014 và xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học 2014 – 2015, có thể đánh giá mọi hoạt động của các trường được duy trì nề nếp, hiệu quả. Giáo dục ngày càng đi vào chiều sâu chất lượng. Ba trường đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học 2013 – 2014, góp phần đưa sự nghiệp giáo dục đào tạo của địa phương ngày càng phát triển.

Các hoạt động văn hóa văn nghệ thể dục thể thao, thông tin tuyên truyền đa dạng phong phú và đạt được nhiều thành tích lớn. Đã tổ chức và tham gia nhiều chương trình văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, hội thi, hội thơ,… như: Tổ chức thành công đại hội thể dục – thể thao thị trấn lần thứ I, II; tham gia đại hội thể dục thể thao huyện đạt giải nhất toàn đoàn. Tổ chức tốt hội trại nhân ngày đại hội đoàn kết toàn dân, hội nghị an toàn giao thông; hội thi nông dân với kiến thức pháp luật, thi tiếng hát dân ca, nhà nông đua tài và rất nhiều chương trình khác được tổ chức có chất lượng, nhân kỷ niệm chào mừng các ngày lễ lớn, các sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, của địa phương.

* Thành phần CTRSH tại thị trấn Đu

Phong trào ” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ” tiếp tục được quan tâm chú trọng và thực hiện đạt kết quả cao. Hàng năm số hộ gia đình, tiểu khu, cơ quan được công nhận danh hiệu văn hóa đạt từ 70% đến 90%. Việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội, nề nếp văn minh nơi cơ quan công sở đã có nhiều chuyển biến tích cực.

Bảng 3.3. Thành phần CTRSH tại thị trấn Đu

– Công tác y tế: Đã thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia. Hoạt động khám chữa bệnh được duy trì thường xuyên, chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh. Tính đến hết tháng 12/2014 tổng số lượt người khám chữa bệnh là 1.130 lượt, khám các cháu trường Mầm Non; HS Trường tiểu học và các đối tượng thương bệnh binh và thân nhân gia đình có công với cách mạng, Nhà nước; khám tuyển nghĩa vụ quân sự và khám cho các cụ người cao tuổi.

Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Đu được tạo ta từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ hộ gia đình, công sở, trường học, đường phố, khu thương mại, chợ… Các nguồn phát sinh có khối lượng, thành phần, tỉ lệ khác nhau mang đặc trưng của từng khu vực. Hàm lượng và tỷ lệ % CTRSH phát sinh tại khu vự được thể hiện cụ thể trong bảng 3.2

Qua bảng 3.2 và hình 3.2 cho thấy lượng CTR sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu chủ yếu phát sinh từ các hộ dân và chợ.

3.2.2. Thực trạng công tác 3.2.3.1. Cơ cấu tổ chức Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương thu gom, vận chuyển, xử lý Bảng 3.4. Nhân lực trong công tác quản lý môi trường [Nguồn: Đề án thành lập Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện sinh hoạt tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên

– CTRSH từ hộ dân: Phát sinh từ các hộ gia đình, khu dân cư, khu trọ,…thành phần chủ yếu là thực phẩm, đồ hộp, túi nilon, kim loại, thủy tinh,… ngoài ra còn chứa một lượng chất thải độc hại như pin, bơm kim tiêm y tế đã qua sử dụng… Lượng CTRSH phát sinh từ các hộ dân trung bình của 6 tiểu khu là: 3,0 tấn/ngày; Trung bình tổng lượngCTRSH phát sinh tính theo đầu người là: 0,55 kg/người/ngày.

* Bộ máy quản lý môi trường của Thị trấn Đu

– CTR từ đường xá: Phát sinh từ các hoạt động đường phố, vui chơi giải trí và làm đẹp cảnh quan. Nguồn CTR này do những người đi đường và những hộ dân sống dọc hai bên đường vứt ra bừa bãi. Thành phần chủ yếu của chúng là cành cây, lá cây, giấy vụn, bao gói nilon của các đồ chế biến sẵn, xác động thực vật chết, ngoài ra còn một lượng gạch, đất cát do sửa chữa nhà cửa, dọn dẹp đổ ra đường. Do đặc điểm dân cư thị trấn tập trung chủ yếu dọc theo Quốc lộ 3 nên lượng CTR từ nguồn này chiếm tỷ lệ 8,69 % với 0,5 tấn/ngày.

– CTRSH khu thương mại: CTRSH phát sinh từ các hoạt động buôn bán cả các cửa hàng bách hóa, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng sửa chữa, may mặc… thành phần chất thải tại khu vực này chủ yếu là giấy tại các quán photo, hàng lưu niệm,… vải vụn từ các cửa hàng may mặc, thực phẩm, rau quả, cơm canh thừa, giấy lau,… từ các quán ăn, nhà hàng ăn uống,… gỗ thủy tinh, chai lo… Tỷ lệ CTRSH phát sinh từ nguồn này chiếm tỷ lệ nhỏ nhất với 4,35 %, khoảng 0,25 tấn/ngày.

– CTRSH phát sinh từ cơ quan, công sở: Trên địa bàn thị trấn Đu có 29 cơ quan, công sở có quy mô từ nhỏ đến lớn. CTRSH phát sinh từ nguồn này chiếm 6,95 % với 0,4 tấn/ngày, những rác này phần lớn có thể tái chế và tái sử dụng được chủ yếu là giấy vụn, túi nilon, chai, lon nước,…

Bảng 3.5. Các hình thức thu gom CTRSH của các hộ gia đình [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015] trên địa bàn thị trấn Đu

– CTRSH từ chợ: nguồn này phát sinh từ các hoạt động mua bán ở chợ, thành phần chủ yếu là rác hữu cơ như: rau, củ, quả hư hỏng, giấy gói, rơm, … Thị trấn đu có chợ Đu là chợ trung tâm của huyện nên lượng CTRSH phát sinh từ nguồn này tương đối lớn với 1,3 tấn/ngày, chiếm khoảng 22,6.

Bảng 3.7. Phương tiện thu gom, vận chuyển CTRSH [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015] trên địa bàn thị trấn Đu

Thành phần CTR sinh hoạt tại các nguồn phát sinh khác nhau nên thị phần CTR cũng khác nhau, mang đặc trưng của mỗi khu vực đó, mang tính chất công việc, ngành nghề sinh hoạt. Mặt khác thành phần CTR sinh hoạt này thay đổi theo mùa, thời gian, khu vực và cả mức sống của người dân. Theo kết quả điều tra cho thấy CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu thường chứa những thành phần chủ yếu được thể hiện ở bảng 3.3

Bảng 3.8. Mức độ quan tâm của người dân đến công tác quản lý CTR sinh hoạt [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015] 3.2.3.4. * Phân loại và tái chế Hiện trạng phân loại, tái chế và xử lý chất thải rắn sinh tại thị trấn Đu

Qua bảng số liệu 3.3 cho thấy lượng CTR hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ lệ rất lớn 70% vào mùa mưa. Loại CTR này bao gồm: thực phẩm, cơm, rau, củ, quả, lá cây, xác chết của động vật…

Trong các thành phần nêu trên CTR hữu cơ chiếm tỷ lệ cao nhất lại nhanh bị phân hủy bởi vi sinh vật nên dễ gây mùi hôi thối, khó chịu, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và môi trường. Mặt khác, CTR hữu cơ lại là nguồn tài nguyên quý giá cho sản xuất phân bón sử dụng trong nông nghiệp đạt hiệu quả cao mà không làm ô nhiễm môi trường. Vì vậy cần có các biện pháp xử lý lượng CTR này.

Bên cạnh đó còn có các thành phần khác như: phế thải sắt thép cùng với các loại giấy vụn, chai lọ, bìa carton, kim loại…là những rác thải có thể tái chế được đem lại giá trị kinh tế và lợi ích về môi trường nếu biết cách tận dụng triệt để nguồn rác thải này

* Tái sử dụng:

Hiện nay cơ quan chuyên trách về vấn đề vệ sinh môi trường của thị trấn Đu và các xã lân cận là Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương.

Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương là tổ chức sự nghiệp tự trang trải, do UBND huyện Phú Lương quyết định thành lập, chịu sự quản lý trực tiếp của Phòng Tài nguyên và Môi Trường huyện Phú Lương. Nhân lực của Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương trong công tác quản lý môi trường của huyện được thể hiện trong bảng 3.4.

Bảng 3.9. Kết quả điều tra nhận thức của người dân về các hình thức thu gom, phân loại và xử lý chất thải rắn sinh hoạt [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015]

Qua bảng 3.4 cho thấy, nguồn nhân lực của Ban quản lý gồm 15 người, trong đó có 1 cán bộ quản lý, 1 kế toán, 3 chuyên viên, 1 lái xe chất thải, 5 công nhân thu gom và 4 công nhân làm việc ở khu xử lý chất thải. Tuổi trung bình của công nhân là 40 tuổi, đa số là nam cho nên rất thích hợp cho công việc thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải… Lương tháng trung bình của công nhân thu gom và công nhân làm việc ở Khu xử lý CTR là 4.000.000 đồng/người/tháng. Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương hoạt động trên nguyên tắc tự thu – chi.

* Hiện trạng xử lý CTRSH tại thị trấn Đu

Mặc dù đã hoạt động rất tích cực, xong do nguồn kinh phí hạn chế, nhận thức của người dân chưa cao cho nên công tác thu gom CTR của BQL mới chỉ thực hiện được ở chợ Đu, 29 cơ quan nhà nước và 897 hộ gia đình/1.196 hộ.

Thị trấn Đu là Thị trấn trung tâm huyện lỵ, là nơi tập trung đông dân cư, xong công tác bảo vệ môi trường chưa được quan tâm đúng mức. Thị trấn chỉ có hai cán bộ về địa chính đồng thời phụ trách công tác tài nguyên và môi trường. Các hoạt động BVMT chưa được triển khai và thực hiện sâu rộng trên địa bàn thị trấn; việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường chưa thường xuyên. Do đó nhận thức về quản lý, sử dụng, khai thác tài nguyên và môi trường của thị trấn còn hạn chế.

Phương pháp đốt

3.2.3.2. Hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu

CTRSH được các gia đình thu gom tại nhà sau đó được công nhân vệ sinh môi trường thu gom, bốc lên xe vận chuyển đến khu xử lý tập trung. Tần suất hoạt động của xe chuyên dụng chở CTR được cố định tại lịch phân ca thu gom các tuyến của BQL Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương, theo đó tại thị trấn Đu có xe thu gom 4 lần/tuần, vào sáng thứ 4, các chiều thứ 2, 4, 6 hàng tuần.

Tỷ lệ thu gom toàn thị trấn Đu tương đối cao, đạt 75%. Tổng lượng CTRSH phát sinh là 5,75 tấn/ngày, trong đó tiến hành thu gom được 4,33 tấn/ngày. Tỷ lệ phát sinh và thu gom CTRSH của thị trấn Đu được thể hiện ở bảng 3.6 và hình 3.3:

Quy trình vận hành lò đốt NFi-05

Qua bảng 3.6 và hình 3.3 cho thấy, tỷ lệ thu gom CTR của các tiểu khu tương đối cao: tỷ lệ thu gom CTR cao nhất là ở tiểu khu Thái An (85%), thấp nhất là tiểu khu Thọ Lâm, Cầu Trắng (70%). Tỷ lệ CTR được thu gom chiếm 75% tổng lượng CTR phát sinh, lượng CTR chưa được thu gom còn lớn chiếm 25%.

Phương pháp chôn lấp CTR

Hiện nay, phương tiện thu gom của BQL còn thiếu nhiều đặc biệt là xe đẩy tay, thùng rác công cộng và thùng rác ở đầu các ngõ hẹp. 5 xe đẩy tay hiện nay chỉ tập trung để thu gom CTRSH tại chợ Đu. Với tình trạng CTRSH ngày càng tăng, BQL cần phải bổ sung thêm phương tiện để công tác thu gom đạt hiệu quả hơn.

Nhận thức của người dân về việc thu gom, phân loại và xử lý CTRSH là khá cao được thể hiện tại bảng 3.8. Tỷ lệ người dân quan tâm đến việc thu gom chất thải chiếm 88%, phân loại chất thải chiếm từ 37% đến 62%, xử lý từ 60 – 92% . Qua đó cho thấy mọi người đã nhận thức được ý nghĩa của việc thu gom, phân loại chất thải nhằm xử lý được nguồn chất thải sinh hoạt đang từng ngày gia tăng.

Đa số CTRSH tại thị trấn Đu chưa được phân loại tại nguồn mà thu gom lẫn lộn rồi chuyển đến khu xử lý CTR tập trung.

Hiện nay, tại thị trấn Đu có các hình thức thu gom CTR tái chế:

– Thu mua tại nhà: Các hộ gia đình thu gom những loại CTR có thể tái chế được như giấy, kim loại, quạt, ti vi, tủ lạnh hỏng… và bán cho những người mua ve chai, đồng nát.

– Thu gom tại các điểm tập kết CTR hoặc trong thùng đựng rác: một số người đến các nơi này để thu gom tất cả các loại CTR có thể tái chế được.

– Thu gom trong thời gian làm việc: khi đi thu gom rác tại các hộ gia đình, trên đường phố, các công nhân VSMT thường treo những túi ở bên cạnh xe đẩy tay của mình để đựng CTR tái chế.

– Thu gom tại khu xử lý tập trung: Những người nhặt rác đến khu xử lý bới rác để tìm kiếm, thu gom những loại CTR tái chế như dây điện, kim loại, đồ nhựa, giấy vụn,… còn sót lại.

Tái sử dụng là sử dụng lại nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lí của sản phẩm, có thể sử dụng lại với cùng mục đích hoặc mục đích tương tự. Thường thấy trong đời sống hiện nay, các hộ gia đình vẫn tái sử dụng các sản phẩm như các chai nước ngọt, nước cất y tế, hộp sữa,… vẫn được sử dụng đựng hạt khô, hạt giống trong nhà; các chai như chai bia, chai nước,… bằng thuỷ tinh sau khi sử dụng phải trả lại chai cho nhà sản xuất để họ khử trùng làm sạch và tiếp tục đưa vào đóng chai mới. Tái sử dụng nhằm kéo dài tuổi thọ của sản phẩm, giảm thiểu chất thải, giảm áp lực về nguyên liệu và năng lượng, đồng thời bảo vệ môi trường. Vì vậy nên khuyến khích các hình thức mang tính chất tái chế trong khu vực.

Qua quá trình điều tra phỏng vấn các hộ dân trên địa bàn thị trấn về công tác quản lý CTRSH đạt được kết quả tại bảng 3.9.

* Nguyên, nhiên vật liệu sử dụng

Hiện nay, tất cả CTRSH thu gom tại khu vực nghiên cứu được vận chuyển đến khu xử lý CTR tập trung được xây dựng tại xóm Vườn Thông, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, cách Quốc lộ 3 khoảng 2km về phía Tây Nam, có đường giao thông thuận tiện cho xe chở chất thải rắn ra vào.

Bảng 3.11. Nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng tại Khu xử lý* Hiệu quả xử lý CTRSH tại khu xử lý tập trung Bảng 3.12 Tỷ lệ % CTRSH được xử lý tại Khu xử lý CTR3.2.3.5. Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu [18] Bảng 3.13. Đánh giá của cộng đồng dân cư về công tác quản lý CTR địa phương [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015] [18]

Tại đây, CTRSH được xử lý bằng 2 phương pháp chính là phương pháp đốt và phương pháp chôn lấp.

Khu xử lý CTRSH tập trung đã đầu tư lắp đặt lò đốt chất thải sử dụng công nghệ lò đốt NFi-05, không sử dụng các loại năng lượng như điện, gas hay xăng dầu để hoạt động mà chỉ sử dụng chính chất thải khô làm mồi đốt kết hợp với các van điều chỉnh lưu lượng gió để tạo nhiệt lượng trong buồng đốt.

Lượng chất thải có thể xử lý ước đạt 7 – 8 tấn/ngày.

Trong quá trình hoạt động lò nhanh chóng đạt được nhiệt độ từ 650 – 1000 0 C có thể đốt cháy nhanh chóng toàn bộ CTR, kể cả CTR ẩm ướt. Lượng khí thải ra môi trường đã được kiểm định và nằm trong giới hạn an toàn không ảnh hưởng đến môi trường.

Bảng 3.15. Tỷ lệ đánh giá của người dân về môi trường xung quanh Khu xử lý CTR [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015] * Tình hình thu phí VSMT tại thị trấn Đu – huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên.

Làm vệ sinh ngăn buồng đốt bên dưới phía trước cửa lò, vệ sinh hết tro bụi và CTR còn đọng rớt lại.

Chuẩn bị các nguyên liệu như CTR khô, giấy, củi, bìa cát tông hoặc các đồ nhựa để mồi đốt lò.

Phân loại các CTR không cháy được trước khi đưa vào lò như: Đất, bùn, mảnh sành sứ, thủy tinh, gạch đá, sắt thép,… chú ý không cho các CTRSH dễ gây cháy nổ khi gặp nhiệt độ cao sẽ gây ảnh hưởng đến buồng đốt và người vận hành lò.

Bước vận hành lò đốt

Mở cửa buồng đốt cho CTR vào và sử dụng các vật liệu dễ cháy mồi lửa cháy để nhiệt độ trong lò tăng lên.

Bắt đầu đưa CTR vào cửa trên để đốt.

Điều chỉnh lưu lượng gió vào buồng đốt dưới. Để duy trì sự cháy và tăng nhiệt độ đốt trong lò phải cho CTR vào buồng đốt đều đặn và không gián đoạn. Khi nhìn ống khói không thấy có khói bay ra tức là lò đốt bắt đầu hoạt động ổn định.

Duy trì nhiệt độ cao trong buồng đốt một cách thường xuyên, tránh không để CTR quá ướt vào nhiều trong buồng đốt sẽ làm cho nhiệt độ trong buồng đốt bị hạ xuống, sinh ra khói. Nếu thấy khói, tạm thời ngưng không cho CTR vào buồng đốt và sử dụng công cụ chuyên dùng để cào đều CTR, tránh để bón cục khó cháy. Sau đó, đóng cửa lò trong ít phút để nhiệt độ trong buồng đốt tăng lên và sẽ hết khói, tiếp tục mở buồng đốt để cho CTR vào.

Nếu nhiệt độ trong buồng đốt hạ xuống thấp, phải điều chỉnh van để mở cửa gió đằng trước bên dưới để thúc đẩy quá trình tăng nhiệt độ trong buồng đốt.

Trong khi đốt, ta có thể mở cửa lò bên dưới đằng trước để xúc tro và CTR chưa cháy hết bị tồn đọng bên dưới sàng ra ngoài để tăng lưu lượng gió trong buồng đốt.

Hiện tại, khu xử lý chưa bố trí xây dựng được khu chôn lấp hợp vệ sinh mà chỉ là bãi chôn lấp lộ thiên. Một BCL hợp vệ sinh phải có hệ thống thu gom và xử lý nước rò rỉ, khí thải từ BCL. BCL hợp vệ sinh được thiết kế sao cho mức độ gây độc hại đến môi trường là nhỏ nhất. Tại đây CTRSH được đổ vào các ô chôn lấp của BCL, sau đó được nén và bao phủ một lớp dày khoảng 1,5 cm (hay vật liệu bao phủ) ở cuối mỗi ngày. Khi BCL đã hoạt động hết công suất thiết kế, một lớp đất sau cùng dày khoảng 60cm được phủ lên trên.

Bảng 3.16. Đánh giá mức thu phí VSMT trên địa bàn thị trấn Đu [Nguồn: Kết quả điều tra, 2015]

Tại khu xử lý, hiện nay, chủ yếu lượng CTRSH không xử lý hết qua lò đốt trải qua quá trình phân loại thủ công như gạch, đất, đá, thực phẩm, xác động thực vật… được chôn lấp trực tiếp, có bổ sung chế phẩm để tăng cường hiệu quả xử lý.

3.2.6.3. Nhận xét chung về công tác quản lý CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu * Thuận lợi

Đây là phương pháp chôn lấp cổ điển với ưu điểm: rẻ tiền, chỉ tốn chi phí cho công tác thu gom, vận chuyển CTRSH từ nơi phát sinh đến khu xử lý.

Tuy nhiên phương pháp này có nhiều nhược điểm như:

+ Đòi hỏi phải có diện tích chôn lấp lớn.

+ Những đống rác thải lộ thiên là môi trường thuận lợi cho các động vật gặm nhấm, các loài côn trùng gây bệnh sinh sôi nảy nở gây nghuy hiểm cho sức khỏe con người.

+ Nước rỉ rác từ BCL do không có biện pháp kiểm soát, không có hệ thống thu gom sẽ thấm vào đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm hoặc tạo thành dòng chảy gây ô nhiễm nước mặt.

+ BCL lộ thiên cũng gây ô nhiễm môi trường không khí do quá trình phân hủy CTRSH tạo thành các khí có mùi hôi thối.

Mặc dù phương pháp chôn lấp lộ thiên có nhiều nhược điểm nhưng do diện tích đất dành cho BCL khá rộng, xa khu dân cư và chưa có kinh phí xây dựng nên BQL Môi trường – Đô thị huyện vẫn tiến hành phương pháp này.

Chính vì vậy, đây có thể là nguyên nhân dẫn tới các tác động xấu đối với môi trường xung quanh khu xử lý CTRSH tập trung.

* Khó khăn

Máy móc thiết bị được trang bị cho công nhân làm việc ở Khu xử lý CTR khá đầy đủ, tuy nhiên BQL cần đầu tư hơn nữa để mua sắm các trang thiết bị mới đảm bảo hiệu quả và tính năng sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả thu gom và xử lý CTRSH tại địa phương.

Tại Khu xử lý CTRSH, nguồn nguyên nhiên liệu vận hành cho hoạt động xử lý chất thải bao gồm điện và nước.

Trong quá trình khảo sát địa bàn nghiên cứu, đề tài tiến hành điều tra thu thập ý kiến của các hộ dân, cơ quan, khu thương mại về hệ thống quản lý CTR sinh hoạt tại địa phương đã thu được kết quả như sau:

Bảng 3.13 cho thấy việc quản lý môi trường tại thị trấn Đu chỉ đạt mức trung bình, điều đó cho thấy việc bảo vệ môi trường chưa thực sự hiệu quả trong đó có một số lý do như:

– Trong quá trình thu gom chất thải làm rơi vãi trên đường làm mất cảnh quan đô thị, việc thu gom chất thải đi từ nơi này tới nơi khác cũng mang mầm bệnh theo.

– Thiếu phương tiện thu gom rác: xe đẩy tay, thùng rác công cộng nên công tác thu gom vận chuyển tiến hành chậm, chưa triệt để.

– Hình thức xử lý CTR tại khu xử lý chưa thực sự đạt hiệu quả, đặc biệt là phương pháp chôn lấp chưa tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật.

Điều này cho thấy khi đời sống của người dân được nâng cao, đồng nghĩa với việc chất thải phát sinh ngày càng nhiều, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường sống. Con người bắt đầu quan tâm đến môi trường sống xung quanh mình và ý thức được việc bảo vệ môi trường.

Hoạt động của công tác quản lý và xử lý CTRSH trên địa bàn hiện nay đang được người dân đánh giá là có nhiều mặt tích cực, xong vẫn còn một số mặt tồn tại.

3.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu -huyện Phú Lương – tỉnh Thái Nguyên

Hiện nay Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương tiến hành thu phí VSMT đối với tất cả các hộ gia đình cũng như các cơ quan mà Ban quản lý nhận thu gom. Phí VSMT để thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Hình thức thu phí được BQL áp dụng chủ yếu thông qua việc ký kết hợp đồng với các đơn vị tham gia.

+ Giải pháp kinh tế- xã hội.

Theo bảng số liệu 3.16 thì mức thu phí VSMT tại thị trấn Đu là hợp lý. Tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà có thể điều chỉnh mức phí cho phù hợp.

– Vấn đề môi trường trong những năm gần đây đang được các cấp, các ngành tại thị trấn Đu đặc biệt quan tâm chỉ đạo sâu, sát. Các vấn đề môi trường đang được đầu tư với nguồn vốn lớn nhằm giải quyết thực trạng về ÔNMT đặc biệt là ÔNMT do chất thải rắn sinh hoạt. Thị trấn đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cho các dự án thoát nước đô thị, thu gom và chôn lấp CTR, vv…

– Công tác thu gom chất thải có một số thuận lợi sau:

+ Thu gom chất thải được tiến hành thuận lợi do quy hoạch dân cư chủ yếu ở các trục đường chính, thuận lợi cho việc thu gom và vận chuyển chất thải tới bãi chôn lấp.

+ Tổ chức quản lý

+ Nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường khá tốt nên công tác thu gom được dễ dàng, việc đóng phí môi trường là trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi công dân nên đạt được hiệu quả cao.

+ Công tác quản lý và BVMT đã được đưa về các thị trấn, xã trực tiếp điều hành và giải quyết làm tăng tính xã hội hoá cho công tác vệ sinh môi trường, xây dựng môi trường xanh – sạch – đẹp. Việc xây dựng các điển hình trong công tác BVMT như từ các cá nhân, hộ gia đình, là tiêu chí xác nhận gia đình văn hoá đã làm cho công tác BVMT được bao phủ rộng khắp và đạt hiệu quả cao.

+ Mặt khác, hiện nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thông tin liên lạc được rộng khắp đã làm thay đổi nhận thức của người dân về công tác BVMT, nó không chỉ là việc của bất kỳ cơ quan, tổ chức nào mà của mỗi người dân. Chính nhờ sự tuyên truyền giáo dục trên diện rộng mà ý thức người dân về BVMT đã được nâng lên rõ rệt, người dân đã tự giác hợp tác với chính quyền địa phương bằng mọi hình thức làm giảm thiểu khả năng gây ô nhiễm và tạo điều kiện cho công tác thu gom, xử lý CTR sinh hoạt được tốt hơn.

+ Trong những năm gần đây, đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân thị trấn đã có nhiều thay đổi rõ rệt: Nhân dân đều được tiếp cận với thông tin văn hoá, xã hội. 100% được xem truyền hình, đài phát thanh, được phổ biến thông tin, chính sách pháp luật của Trung ương.

– Cán bộ làm công tác BVMT còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặc biệt là tại các khu vực nông thôn. Vai trò quản lý Nhà nước về môi trường ở cấp chính quyền địa phương cơ sở còn nhiều hạn chế và bất cập, thiếu cán bộ có chuyên môn về quản lý về môi trường…

– Công tác BVMT chưa thực sự là vấn đề mang tính quần chúng, người dân chưa thực sự tự giác trong các hoạt động BVMT. Hiện tại, nhận thức của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, cộng đồng dân cư về BVMT còn nhiều hạn chế, chưa đồng nhất. Nhiều doanh nghiệp còn chạy theo lợi ích về mặt kinh tế mà chưa nhìn nhận một cách đúng đắn ý nghĩa của việc BVMT. Mặt khác, các cấp quản lý hiện nay còn chú trọng phát triển kinh tế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức và người dân chưa cao. Chính vì vậy, các cấp chính quyền cần có biện pháp xây dựng tổng thể phát triển kinh tế xã hội của địa phương đi đôi với BVMT, nếu không sẽ gây khó khăn cho công tác BVMT trong tương lai.

– Việc phối hợp giữa các ban ngành trong công tác BVMT còn nhiều hạn chế, việc đùn đẩy trách nhiệm trong việc BVMT vẫn còn tồn tại. Chưa xây dựng được một hệ thống phong trào trong việc BVMT từ cấp quản lý đến các đoàn thể quần chúng, các trường học và cộng đồng dân cư.

– Ngân sách Nhà nước cấp cho công tác quản lý chất thải còn hạn hẹp, nguồn thu phí CTR không đủ cho việc thu gom, xử lý chất thải.

– Nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường còn chưa được giải quyết triệt để, đặc biệt các cơ sở thu mua chế biến chất thải, ô nhiễm CTR, CTR sinh hoạt làm cho vấn đề CTR và việc xử lý chúng càng thêm nan giải. Cần có sự thống nhất trong quản lý và xử lý chất thải.

– Phương tiện thu gom, vận chuyển chất thải của BQL còn rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn đặc biệt là xe đẩy tay. Nhiều vị trí có dân cư sinh sống, qua lại, các cơ quan, các khu vực vui chơi giải trí,… chưa được lắp đặt thùng đựng chất thải công cộng.

– Công tác thu gom, phân loại CTR sinh hoạt đặc biệt là phân loại CTR tại nguồn chưa được chú trọng. Hiện nay, Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương mới chỉ chú trọng thu gom CTR để chở đến khu xử lý chứ chưa có biện pháp phân loại CTR tại nguồn.

– Tại thị trấn Đu nói riêng và toàn huyện Phú Lương nói chung chưa có nhà máy chế biến CTR, vì vậy tỷ lệ CTR sinh hoạt được thu hồi và tái sử dụng là rất nhỏ. Chỉ có một số cơ sở tái chế chất thải chủ yếu thu gom vật liệu chất thải có thể tái chế được từ những người thu nhặt chất thải và mua bán ve chai…

3.3.5. Giải pháp về công nghệ

– Phấn đấu mở rộng diện tích thu gom đạt 100% diện tích toàn thị trấn. Nâng cao hiệu quả thu gom, giảm chi phí. Do điều kiện kinh tế – xã hội ngày càng nâng cao nên lượng CTR sinh hoạt phát sinh có xu hướng ngày càng tăng, cần áp dụng cách thu gom có phân loại từ nguồn.

– Cần bổ sung thêm về trang thiết bị đặc biệt là xe đẩy tay và thùng rác công cộng để công tác thu gom đạt hiệu quả tốt nhất.

– Cung cấp đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động cho công nhân thu gom, vận chuyển chất thải cũng như đào tạo nghiệp vụ chuyên môn. Có những chính sách ưu đãi và nâng cao thu nhập cho công nhân vệ sinh môi trường để họ có thêm động lực làm việc.

– Để ngăn chặn và chấm dứt tình trạng đổ CTR vô tổ chức, không đúng nơi quy định thì tại những nơi công cộng, ngõ hẻm, khu dân cư,… cần đặt các thùng chưa CTR. Thùng chứa chất thải có kích thước, hình dáng phù hợp với cảnh quan kiến trúc, địa hình nơi đặt. Đầu tư kinh phí và có thể ký hợp đồng với các tổ chức tập thể hoặc tư nhân để thu gom và kiểm soát được cơ bản nguồn CTR ở những khu vực ngõ hẻm trong thị trấn.

– Cần phải đầu tư trang thiết bị, phương tiện thu gom, vận chuyển theo công nghệ tiên tiến như máy kéo xe, xe tải, xe ép,… nhằm cải thiện công tác thu gom, giảm chi phí, tăng năng suất và mở rộng địa bàn thu gom ra toàn thị trấn.

– Thu gom CTR cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu tố như địa hình, đường phố, quy hoạch nhà ở, thời tiết, kinh phí đầu tư,… do vậy cần có kế hoạch thu gom hợp lý, thiết kế xây dựng mô hình thu gom sao cho đạt hiệu quả tốt nhất.

– Phân loại chất thải tại nguồn: Cung cấp túi thu gom màu sắc khác nhau để phân loại tại nguồn, sử dụng xe thu gom có nhiều khoang chứa khác nhau.

– Toàn bộ chất thải tái chế cần được phân loại tại nguồn kết hợp với việc phân loại tại nơi xử lý, phân loại bằng tay kết hợp với băng tải, phân loại tự động theo nhiều nguyên lý khác nhau

UBND thị trấn đã thực hiện các quy chế BVMT và trong đó cũng đã có quy hoạch về quản lý CTR sinh hoạt. Tuy nhiên, song song với việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho lĩnh vực này cần bổ sung các quy định, tiêu chuẩn để quản lý một cách hoàn thiện hơn.

KẾT LUẬN

– Ban hành các quy định, tiêu chuẩn quản lý chất thải tới các thị trấn, xã.

Hoàn thiện thu phí vệ sinh môi trường và điều chỉnh hợp lý mức phí vệ sinh môi trường.

– Bảo vệ môi trường là mục tiêu quan trọng nhất của chiến lược phát triển, tăng cường hiệu quả quản lý và năng lực của các cơ quan chức năng.

– Tăng cường năng lực của cán bộ có chuyên môn về môi trường.

– Xây dựng kế hoạch và lập thành quỹ cho chương trình phân loại chất thải ngay tại nguồn.

– Xây dựng các quy chế quản lý CTR nói chung và CTR sinh hoạt nói riêng.

– Khuyến khích sự tham gia của các công ty tư nhân trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.

– Phương hướng chung là kết hợp các doanh nghiệp nhà nước với các thành phần kinh tế tư nhân khác cùng tham gia vào quản lý CTR nói chung và CTR sinh hoạt nói riêng.

– Liên doanh có đầu tư trực tiếp với nước ngoài, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, đảm nhận xử lý CTR với công nghệ cao và vốn đầu tư lớn, các công nghệ thu hồi, tái chế hiện đại và tập trung.

– Trong nhà trường cần phát động phong trào BVMT xanh, sạch, đẹp bằng các hình thức quét dọn, tổng vệ sinh nhà trường cũng như ngoài đường phố. Đoàn, đội thường xuyên tích cực tổ chức các hoạt động vệ sinh môi trường, các buổi ngoại khoá nâng cao nhận thức và tuyên truyền về công tác BVMT.

– Tổ chức các buổi lao động tập thể, công ích quét dọn đường làng ngõ phố. Vừa đảm bảo vệ sinh môi trường vừa nâng cao nhận thức của người dân về trách nhiệm cũng như quyền lợi của mình về chính môi trường nơi mình đang sống.

– Thực hiện đặt các thùng chất thải tại các nơi công cộng và trong các ngõ hẻm của thị trấn nhằm phân loại CTR tại nguồn và tránh để CTR bị vứt bừa bãi, gây mất vệ sinh.

– Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý CTRSH cho các cán bộ chính quyền cơ sở của thị trấn.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho công nhân vệ sinh môi trường. Nâng cao cả về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ công nhân Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương.

Tóm lại, để việc tuyên truyền, giáo dục, đào tạo đạt hiệu quả cao chúng ta cần xây dựng những hình thức tuyên truyền, vận động hấp dẫn, thích hợp với trình độ, tập quán sinh hoạt, lứa tuổi của từng thị trấn, xã. Cần phối hợp tổ chức các hoạt động giữa các ban, ngành địa phương và quần chúng nhân dân trong lĩnh vực BVMT. Chính quyền địa phương cần hỗ trợ về phương tiện, tài liệu, tài chính và những quy định pháp chế nhất định.

Mua bán piano Nhật

– Vận động nhân dân xây dựng hầm Biogas để xử lý chất thải chăn nuôi, từ đó hạn chế tác động của hoạt động chăn nuôi trên địa bàn Thị trấn tới môi trường.

– Huy động nguồn tài chính từ nhân dân thị trấn, tranh thủ sự giúp đỡ về tài chính từ nguồn ngân sách tỉnh, các doanh nghiệp,v.v. để xây dựng bãi chôn lấp chất thải thị trấn đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường.

– Sử dụng thùng đựng chất thải tại những nơi công cộng như: trường học, chợ, cơ quan v.v…

– Sử dụng chế phẩm sinh học trong xử lý sơ bộ CTR, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

– Tăng cường trồng cây xanh quanh chợ, trường học, các cơ quan v.v… để cải tạo cảnh quan đô thị.

* Hướng xử lý CTRSH cho thị trấn Đu và các xã , thị trấn lân cận trên địa bàn huyện Phú Lương

– Dùng thùng nhựa quy định để đựng CTRSH: hiện nay các gia đình trong thị trấn thường dùng các thùng đựng chất thải lấy từ các thùng hỏng, các thùng tự mua hoặc túi bóng… Những thùng đựng chất thải này thường không có nắp đậy làm rơi vãi, bốc mùi, thoát khí, nước thải chảy gây ô nhiễm cho chính gia đình, mất mỹ quan đô thị. Vì vậy, cần khắc phục bằng việc thay thế các thùng đựng chất thải trên bằng các thùng đựng chất thải có nắp đậy đúng quy định. Để thực hiện ngay quá trình phân loại chất thải thì mỗi gia đình nên có ít nhất 2 thùng chất thải, 1 để đựng chất thải vô cơ, 1 để đựng chất thải hữu cơ.

– Chôn lấp hợp vệ sinh: với lượng CTR vô cơ sau khi phân loại có thể dùng để tái chế tiếp tùy theo từng loại khác nhau. CTR hữu cơ được chế biến thành phân hữu cơ, nếu không tái chế mà chôn lấp sẽ lãng phí, tốn không ít diện tích, gây ô nhiễm môi trường.

=======================================================

Qua thời gian tiến hành điều tra, khảo sát CTR sinh hoạt tại thị trấn Đu đề tài thu được một số kết quả như sau:

– Lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn Đu trung bình khoảng 5,75 tấn/ngày. Với hiệu suất thu gom như hiện nay mới chỉ đạt 75%, nguy cơ ô nhiễm môi trường còn cao. Vì vậy, rất cần có biện pháp thu gom, xử lý phù hợp theo hướng gắn hiệu quả kinh tế và BVMT.

– Công tác quản lý CTR sinh hoạt ở thị trấn Đu đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. BQL Môi trường – Đô thị chịu trách nhiệm thu gom chất thải rắn từ đường phố, chất thải rắn sinh hoạt từ các hộ gia đình và cơ quan, công sở,… Trong những năm qua, nguồn nhân lực và trang thiết bị thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải của BQL đã được quan tâm hơn. Tuy nhiên, một số trang thiết bị đã cũ và thường xuyên bị hư hỏng cần được thay thế.

– Thành phần CTR phát sinh tại thị trấn chủ yếu là chất hữu cơ chiếm 60%, giấy các loại chiếm 3,87%, nilon, nhựa chiếm 8%; còn lại là các chất khác. Tỷ lệ CTR hữu cơ cao do đó cần áp dụng các công nghệ xử lý nhằm tận dụng lượng chất hữu cơ này như dùng chế phẩm vi sinh, ủ phân sinh học phục vụ cho nông nghiệp. Ngoài ra, còn có thể tái chế, tái sử dụng vào các mục đích khác nhằm mục tiêu BVMT.

– Nhận thức của người dân về công tác quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn thị trấn khá tốt. Tỷ lệ người quan tâm đến các vấn đề môi trường nói chung và vấn đề quản lý CTR sinh hoạt nói riêng là khá cao. Những người nhận thức đúng đắn về việc thu gom, phân loại, xử lý chất thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao, đó là điều kiện giúp cho việc quản lý CTR sinh hoạt được dễ dàng hơn.

Với hiện trạng về quản lý chất thải rắn sinh hoạt nêu trên, đề tài đề xuất một số giải pháp nhắm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRSH tại khu vực nghiên cứu như sau:

– Chú trọng hơn công tác quản lý CTR từ cấp tỉnh, thành phố đến các thị trấn, xã, thôn, xóm,…

– Đầu tư trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR như xe đẩy tay, thùng rác công cộng… để công tác quản lý CTR đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân thị trấn.

– Phân loại chất thải ngay từ nguồn thải bằng cách dùng các dụng cụ như bao nilon, xô nhựa với màu sắc khác nhau để tách riêng từng loại CTR, phát dụng cụ cho mỗi hộ dân.

– Tăng cường năng lực quản lý về môi trường của Phòng tài nguyên và môi trường huyện cụ thể là BQL Môi trường – Đô thị. Xử phạt hành chính nghiêm minh những hành vi vi phạm về quy định đổ chất thải rắn, cho phép người thi hành công vụ được hưởng phần trăm theo quy định để gắn trách nhiệm cá nhân với công việc.

– Nâng cao nhận thức của người dân về BVMT, thông qua việc tuyên truyền, giáo dục trên các phương tiện thông tin đại chúng, đài, báo, ti vi,… mở các lớp tập huấn, gặp gỡ, giao lưu trực tiếp giữa cán bộ môi trường với người dân,… Đưa chương trình môi trường vào hệ thống giáo dục đào tạo từ mẫu giáo đến trung học cũng như các cơ quan công sở, tiểu khu, thị trấn,…

– Tổ chức làm vệ sinh hàng tuần tại cơ quan, đường phố với các hoạt động như vệ sinh môi trường cơ quan, quét dọn đường phố, khơi thông cống rãnh.

– Hướng dẫn người dân về việc xử lý chất thải hữu cơ thành phân hữu cơ bằng phương pháp EM.

– Khuyến khích việc nghiên cứu các chế phẩm sinh học để xử lý chất thải rắn.

Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Chất thải rắn, 2011.

GS.TS. Đặng Kim Chi, Bài giảng công nghệ môi trường, Viện khoa học và công nghệ môi trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Hà Nội.

PGS.TS. Hoàng Kim Cơ, Kỹ thuật môi trường, NXB Khoa học kỹ thuật, 1999.

Chi cục Thống kê huyện Phú Lương, Niên giám thống kê năm 2013.

Nguyễn Thuý Hà, Nghiên cứu về mức độ tận dụng rác thải hữu cơ trong sinh hoạt ở Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu giới, gia đình và môi trường trong phát triển (CGFED), Hà Nội, 2005.

Nguyễn Thị Anh Hoa, Môi trường và việc quản lý chất thải rắn, Sở Khoa học Công nghệ Môi trường Lâm Đồng, 2006.

GS.TS.Nguyễn Đình Hương, Giáo trình kinh tế chất thải, NXB Giáo dục, 2003.

Lê Văn Khoa, Khoa học môi trường, NXB Giáo dục, 2001.

Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn – Chất thải rắn đô thị, NXB Xây dựng, Tr. 14, 74, 75, 77, năm 2001.

Nghị định 59/2007/NĐ-CP, Nghị định về quản lý chất thải rắn, 2007.

Nghị định số 112/2009/NĐ – CP về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.

12. Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, Báo cáo kinh tế – kĩ thuật lò đốt chất thải rắn sinh hoạt thị trấn Đu, 2013.

Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Phú Lương, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm (2011 – 2015) thị trấn Đu, huyện Phú Lương.

Nguyễn Văn Phước, Giáo trình quản lý và xử lý chất thải rắn, Tr. 9, 11, 19, năm 2009.

Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005

Quyết định số 12/2014/QĐ- UBND, Quyết định Quy định điều chỉnh mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí vệ sinh trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Tạp chí Khoa học 2011, Quản lý tổng hợp chất thải rắn – Cách tiếp cận mới cho công tác bảo vệ môi trường, 2011.

UBND tỉnh Thái Nguyên, Đề án bảo vệ môi trường chi tiết Khu xử lý rác thải tập trung thị trấn Đu, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, năm 2013.

UBND huyện Phú Lương, Đề án thành lập Ban quản lý Môi trường – Đô thị huyện Phú Lương, năm 2013

http://www.dostbinhdinh.org.vn/HNKH7/T_luan11.htm

http://voer.edu.vn/attachment/m/7851

http://www.vysajp.org/news/v%E1%BA%A5n-d%E1%BB%81-x%E1%BB%AD-ly-rac-th%E1%BA%A3i-%E1%BB%9F-nh%E1%BA%ADt-m%E1%BB%99t-kinh-nghi%E1%BB%87m-qui-bau-cho-vi%E1%BB%87t-nam/

23. http://vea.gov.vn/vn/truyenthong/tapchimt/PHONGSU/Pages/T%C3%8CNHH%C3%8CNHPH%C3%81TSINHCH%E1%BA%A4TTH%E1%BA%A2IR%E1%BA%AENSINHHO%E1%BA%A0T%C4%90%C3%94TH%E1%BB%8A%E1%BB%9EVI%E1%BB%86TNAM.aspx

, Dạy Học mat xa, dạy massage body, Mi Katun

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Hiệu Quả Một Số Giải Pháp Quản Lý Nâng Cao Chất Lượng An Toàn Người Bệnh Tại Bệnh Viện Đa Khoa Tỉnh Thái Bình trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!