Xem Nhiều 2/2023 #️ Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên # Top 6 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 2/2023 # Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên # Top 6 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Kết quả thống kê đất đai năm 2011 do Tổng cục quản lý đất đai thực hiện, nếu căn cứ vào mục đích sử dụng đất, 5,4 triệu ha đất Tây Nguyên được sử dụng như sau:

Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 36,29%; đất lâm nghiệp chiếm 51,8%; đất phi nông nghiệp chiếm 6,48% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó, 15% diện tích là đất ở, 83% là đất chuyên dùng. Đất chưa sử dụng chiếm 5,23% tổng diện tích tự nhiên. Hầu hết diện tích (92,7%) là đất đồi núi. So sánh với các số liệu điều tra đất đai năm 2000, kiểm kê đất đai năm 2005 và 2010 thì diện tích, cơ cấu sử dụng đất đã biến động rất lớn và liên tục theo hướng tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất ở và đất chuyên dùng, giảm diện tích đất lâm nghiệp và đất chưa sử dụng.

Tính từ năm 2000 đến năm 2011, diện tích đất sản xuất nông nghiệp đã tăng 60,92%; trong đó, đất trồng cây hằng năm tăng 67%, đất trồng cây lâu năm tăng 57,23%. Diện tích đất ở tăng 59,85%, trong đó đất ở đô thị tăng 92%, đất ở nông thôn tăng 51,5%. Diện tích đất chuyên dùng tăng 47,94%. Phần diện tích tăng thêm của các loại đất nói trên được bổ sung từ việc chuyển mục đích sử dụng đất lâm nghiệp và khai thác quỹ đất chưa sử dụng. Cùng với đó, diện tích đất lâm nghiệp trong thời gian tương ứng đã giảm 5,44%; trong đó đất rừng sản xuất giảm 2,13%, đất rừng phòng hộ giảm 7,08%, đất rừng đặc dụng tăng 18,83% do tăng số lượng và mở rộng diện tích các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Diện tích đất chưa sử dụng cũng giảm 27,23%.

Căn cứ theo đối tượng sử dụng đất thì hộ gia đình, cá nhân được giao sử dụng 39,45%; các tổ chức trong nước sử dụng 60,22% tổng diện tích đất tự nhiên; trong đó, UBND cấp xã sử dụng 0,26%, tổ chức kinh tế sử dụng 29,64%; cơ quan, đơn vị của nhà nước sử dụng 29,33%, các tổ chức khác sử dụng 0,99%. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng 0,11%, cộng đồng dân cư sử dụng 0,22%, hai đối tượng này chủ yếu sử dụng đất lâm nghiệp.

Phần lớn diện tích đất sản xuất nông nghiệp được giao cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng (84,63% diện tích đất sản xuất nông nghiệp; 92,41% diện tích đất trồng cây hằng năm và 78,75% diện tích đất trồng cây lâu năm). Các tổ chức kinh tế sử dụng 13,96% diện tích đất sản xuất nông nghiệp, 6,45% đất trồng cây hằng năm và 19,36% đất trồng cây lâu năm.

Trong khi đó thì việc sử dụng đất lâm nghiệp lại diễn biến theo chiều ngược lại, phần lớn diện tích đất lâm nghiệp được giao cho các tổ chức kinh tế (42,09%) và cơ quan, đơn vị nhà nước (52,8%) sử dụng. Trong đó, tổ chức kinh tế sử dụng 67,58% diện tích đất rừng sản xuất, 17,53% diện tích đất rừng phòng hộ và 1,29% diện tích đất rừng đặc dụng; cơ quan, tổ chức nhà nước sử dụng 24,4% diện tích đất rừng sản xuất, 79,78% diện tích đất rừng phòng hộ và hầu hết diện tích đất rừng đặc dụng (98,71%). Các hộ gia đình và cá nhân chỉ sử dụng 3% diện tích đất lâm nghiệp, hầu hết (99,98%) là đất rừng sản xuất, trong đó 70% là đất rừng tự nhiên.

Kết quả phân tích là vậy song trên thực tế việc sử dụng đất trong một số trường hợp lại không diễn ra như các con số và mong muốn của các nhà quản lý. Gia tăng dân số cộng với sự lên ngôi của một số loại cây, nhất là một số cây công nghiệp lâu năm đã làm cho quan hệ quản lý, sử dụng đất đai bị biến dạng, không theo quy định của pháp luật và các quy hoạch đã được phê duyệt.

Tại Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001 – 2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên ngày 30/10/2001 và Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg ngày 05/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh vùng Tây Nguyên đến năm 2010 đều xác định mục tiêu nâng độ che phủ rừng lên 65% với diện tích rừng tương ứng là 3,54 triệu ha nhưng trên thực tế diện tích rừng bị suy giảm nhanh cả về diện tích và chất lượng.

Theo số liệu thống kê, năm 2001 Tây Nguyên có 3,02 triệu ha rừng thì đến năm 2005 diện tích này còn 2,97 triệu ha, độ che phủ rừng còn 54,54% và đến năm 2010 diện tích rừng giảm xuống còn 2,87 triệu ha, độ che phủ 51,9% (thấp hơn 13,1% so với mục tiêu). Năm 2011, theo thống kê diện tích rừng Tây Nguyên còn 2,81 triệu ha, độ che phủ 51,34% nhưng theo kết quả giải đoán ảnh viễn thám thì diện tích rừng Tây Nguyên chỉ còn 2,66 triệu ha, độ che phủ 48,6% (trong đó rừng tự nhiên và rừng trồng có trữ lượng chỉ còn 2,03 triệu ha, độ che phủ 37,2%). Như vậy, so với mục tiêu, diện tích rừng năm 2011 theo thống kê thấp hơn so với mục tiêu 730 ngàn ha, độ che phủ thấp hơn 13,66%; theo kết quả giải đoán ảnh viễn thám thì diện tích rừng thấp hơn mục tiêu 880 ngàn ha, độ che phủ thấp hơn 16,4%.

Đối với diện tích đất trồng một số cây công nghiệp tăng rất nhanh so với mục tiêu. Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg xác định mục tiêu đến năm 2005 Tây Nguyên có 31 ngàn ha và năm 2010 có 60 ngàn ha điều nhưng đến năm 2005 diện tích điều của Tây Nguyên đã đạt 102,62 ngàn ha và đến năm 2010, mặc dù phải tranh chấp với cây cao su và các cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, diện tích điều vẫn còn 91,14 ngàn ha. Tại Quyết định số 25/2008/QĐ-TTg xác định mục tiêu đến năm 2010 “giảm diện tích cà phê ở những nơi thiếu nước, sản xuất kém hiệu quả, để ổn định diện tích khoảng từ 33 – 35 vạn ha” nhưng đến năm 2010 diện tích cà phê của vùng đã đạt 49,86 vạn ha và đến năm 2011 tăng lên 52,76 vạn ha. Cũng tại Quyết định số 936/QĐ-TTg ngày 18/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội vùng Tây Nguyên đến năm 2020 xác định mục tiêu “ổn định diện tích cây cà phê” nhưng 9 tháng đầu năm 2012, các tỉnh Tây Nguyên vẫn tiếp tục trồng mới 4.321 ha cà phê.

Phần lớn diện tích tăng thêm của các cây trồng nói trên được chuyển đổi mục đích một cách tự phát. Người dân phá rừng trái phép để lấy đất hoặc tự chuyển đổi diện tích từ loại đất (theo mục đích sử dụng) khi loại cây trồng này có giá trị kinh tế cao hơn cây trồng khác. Nguyên nhân của tình trạng trên một phần do sự yếu kém trong quản lý đất đai, sự bất cập của các quy hoạch sử dụng đất khi không căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất thực tế tại địa phương và các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; một phần do việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách kinh tế – xã hội còn nặng về sử dụng biện pháp hành chính, chưa có giải pháp kinh tế phù hợp cũng như nguồn lực bảo đảm cho việc thực hiện các giải pháp đó.

Xét theo thời gian, nếu như trước ngày giải phóng miền Nam, hầu hết đất đai ở Tây Nguyên do các cộng đồng dân cư và các hộ gia đình (phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên) quản lý và sử dụng nhưng từ sau ngày giải phóng miền Nam, cùng với việc chuyển đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, Nhà nước đã thực hiện việc điều động dân cư, lao động để xây dựng hàng loạt nông, lâm trường, các khu kinh tế mới; quan hệ đất đai ở Tây Nguyên đã có sự thay đổi căn bản. 21% diện tích đất trồng cây công nghiệp lâu năm và hầu hết diện tích đất lâm nghiệp (95%) do các tổ chức trong nước sử dụng. Các hộ gia đình chỉ sử dụng 39% tổng diện tích tự nhiên. Trong số diện tích do các hộ gia đình sử dụng, các chủ trang trại và hộ gia đình người Kinh và dân tộc thiểu số phía Bắc do có vốn, có kinh nghiệm sản xuất, cũng thông qua việc chuyển nhượng đất đai của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ để giành quyền sử dụng những diện tích lớn và thuận lợi cho sản xuất. Do đó, đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ vốn sống nhờ rừng thông qua việc săn bắn, hái lượm và canh tác theo lối luân canh trên rất nhiều mảnh rẫy ở trong rừng bị thu hẹp môi trường sản xuất truyền thống, không theo kịp tiến bộ kỹ thuật mà người Kinh và các dân tộc thiểu số nơi khác đến ứng dụng, sản xuất và đời sống tuy được nâng lên nhưng họ vẫn cảm thấy bị thua thiệt, khó khăn.

Trong những năm gần đây, chính quyền các cấp đã giành nhiều nguồn lực để hỗ trợ giải quyết đất ở, đất sản xuất, việc làm cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nhưng đến nay vẫn còn hàng ngàn hộ thiếu đất sản xuất và con số này còn tiếp tục gia tăng do áp lực tăng dân số. Nếu không có những giải pháp cơ bản, lâu dài để giải quyết tình trạng thiếu đất dẫn tới thiếu việc làm – thu nhập thì sẽ rất khó khăn cho việc duy trì sự ổn định của Tây Nguyên. Bên cạnh đó, trong những năm qua việc triển khai các dự án kinh tế – xã hội trên địa bàn Tây Nguyên đã chiếm dụng nhiều diện tích đất nông nghiệp, ảnh hưởng đến sản xuất của người dân. Riêng việc triển khai các dự án thuỷ điện, với 163 dự án đã và đang nghiên cứu, đầu tư xây dựng, đã có 25.269 hộ dân bị ảnh hưởng (trong đó 5.617 hộ dân phải tái định cư); chiếm dụng 65.239,2 ha đất các loại (tương đương 1,2% tổng diện tích đất tự nhiên toàn khu vực), trong đó có 452 ha đất ở, 742,1 ha đất trồng lúa, 21.819,7 ha đất trồng màu và các cây lâu năm.

Song, khi thu hồi đất, một số địa phương và chủ đầu tư không căn cứ vào nhu cầu sử dụng đất của dân cư địa phương để bố trí mà thường căn cứ vào định mức hỗ trợ đất sản xuất cho hộ dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng chính phủ (Mức giao đất sản xuất tối thiểu một hộ là 0,5 ha đất nương, rẫy hoặc 0,25 ha đất ruộng lúa nước một vụ hoặc 0,15 ha đất ruộng lúa nước hai vụ) để cấp đất tái định canh cho các hộ bị mất đất phải di dời, phần còn lại bồi thường bằng tiền. Do đó, chỉ sau một thời gian, người dân lại thiếu đất sản xuất và khi tiêu hết tiền bồi thường thì cuộc sống lại gặp rất nhiều khó khăn. Tại một số dự án nông, lâm nghiệp, chủ đầu tư không lưu ý đến phong tục tập quán của đồng bào địa phương, cho san ủi cả những diện tích nghĩa địa, rừng thiêng, rừng giàng, gây bức xúc cho cộng đồng tại địa phương.

Từ thực tế trên, qua trao đổi, ông Trần Đức Thanh, Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế – xã hội Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đã đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần quản lý, sử dụng có hiệu quả hơn quỹ đất Tây Nguyên trong thời gian tới như sau:

Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần gắn liền với việc xây dựng các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và nhu cầu sử dụng đất tại địa phương. Quy hoạch sử dụng đất trước hết phải bảo đảm nhu cầu đất ở, đất sản xuất của nhân dân địa phương, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành, các thành phần kinh tế trong từng thời kỳ. Quy hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp cần căn cứ điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội để bố trí quỹ đất cho các loại cây trồng, vật nuôi phù hợp nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng; đồng thời chú trọng bảo vệ và phát triển rừng, vừa bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế, vừa bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường, góp phần bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử của đồng bào các dân tộc tại chỗ, góp phần khắc phục tình trạng phá rừng bừa bãi, phát triển nông lâm nghiệp không có hoặc không theo quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất cho xây dựng hạ tầng và phát triển các ngành, các dự án kinh tế phải căn cứ vào dự báo về nhu cầu và khả năng phát triển của ngành, địa phương, tránh tình trạng quy hoạch treo, thu hồi đất của dân rồi bỏ hoang không sử dụng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào gốc Tây Nguyên. Để làm tốt điều này, trước hết cần xây dựng các chỉ tiêu thống kê để tổ chức thu thập, tổng hợp tình hình sử dụng đất trong đồng bào dân tộc thiểu số làm căn cứ cho việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch. Quá trình xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch cần ưu tiên giải quyết đất sản xuất cho các hộ hiện đang thiếu đất sản xuất, đồng thời tính đến sự gia tăng nhu cầu sử dụng đất trong dài hạn do gia tăng dân số. Nghiên cứu, ban hành các quy định nhằm chấm dứt tình trạng bán đất dẫn tới thiếu đất trong đồng bào dân tộc thiểu số gốc Tây Nguyên.

Ở góc nhìn văn hóa, cần thực hiện thí điểm tiến tới nhân rộng mô hình chuyển một phần diện tích đất rừng sản xuất hiện do các tổ chức kinh tế đang sử dụng để xây dựng thí điểm mô hình buôn làng Tây Nguyên truyền thống (có đất sản xuất nông nghiệp, rừng, sông suối…) để góp phần bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào Tây Nguyên.

Một giải pháp cần chú ý là khi triển khai các dự án kinh tế – xã hội trên địa bàn, cần nghiên cứu kỹ điều kiện kinh tế – xã hội và nhu cầu sử dụng đất của số dân bị thu hồi đất để có giải pháp bồi thường phù hợp, không để người dân thiếu đất sản xuất. Cụ thể: Đối với số dân sinh sống hoàn toàn bằng sản xuất nông nghiệp thì chỉ bồi thường bằng tiền sau khi đã bảo đảm bố trí đủ quỹ đất để họ có thể duy trì sản xuất, bảo đảm cuộc sống tốt hơn nơi ở cũ như chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, có giải pháp hỗ trợ về hạ tầng, điều kiện và kiến thức sản xuất… để họ từng bước thích nghi được với điều kiện sản xuất và sinh sống tại nơi ở mới. Đối với các dự án nông – lâm nghiệp, doanh nghiệp – đơn vị triển khai dự án phải bảo đảm cho người bị thu hồi đất tham gia và hưởng lợi từ dự án (cho thuê đất, góp cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất, tuyển dụng lao động…) để họ có thu nhập ổn định, phát triển kinh tế và bảo đảm cuộc sống lâu dài.

Và cuối cùng việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số phải kết hợp với đào tạo nghề và giải quyết việc làm (kể cả xuất khẩu lao động). Phải kiên trì vận động, thuyết phục để đồng bào thích nghi dần với tác phong công nghiệp và sinh hoạt tập thể. Từ đó, chuyển dần một bộ phận lao động trẻ sang khu vực công nghiệp – dịch vụ để giảm dần áp lực thiếu đất dẫn tới phá rừng tập thể. 

Thực Trạng Và Giải Pháp Để Tăng Cường Công Tác Đánh Giá Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Ở Việt Nam

Thứ sáu – 16/03/2018 10:57

1. Thực trạng công tác đánh giá quản lý đất đai hiện nay Nhiệm vụ theo dõi, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai là nội dung đổi mới của Luật đất đai năm 2013 nhằm đánh giá đúng tình hình triển khai thi hành luật, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, hiệu quả sử dụng đất và tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường ở từng địa phương và trên phạm vi cả nước.

Theo Luật đất đai năm 2013, hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai là thành phần của hệ thống thông tin đất đai; được thiết lập thống nhất từ Trung ương tới địa phương và được công khai trên mạng thông tin quốc gia theo quy định của pháp luật. Hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai phải phản ánh quy mô, chất lượng và hiệu quả quản lý, sử dụng đất đai; tác động của chính sách, pháp luật về đất đai; mức độ minh bạch và sự tham gia của nhân dân vào quá trình quản lý và sử dụng đất đai thông qua các chỉ số định lượng và định tính.

Luật đất đai 2013 quy định Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm: – Thiết kế, xây dựng hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý và sử dụng đất đai; quản lý, tổ chức vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá quản lý và sử dụng đất đai ở Trung ương; hướng dẫn việc quản lý và vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương. – Chỉ đạo, hướng dẫn việc tổ chức thực hiện việc đánh giá hàng năm về quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai. – Lập báo cáo định kỳ và báo cáo đột xuất theo chuyên đề về quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai. – Ban hành tiêu chí, quy trình đánh giá đối với quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật về đất đai; biểu, mẫu báo cáo và trách nhiệm báo cáo của hệ thống cơ quan tài nguyên và môi trường. – Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo việc xây dựng, vận hành hệ thống theo dõi và đánh giá đối với quản lý, sử dụng đất đai ở địa phương. Để triển khai các nhiệm vụ theo quy định của Luật đất đai đối với công tác đánh giá quản lý sử dụng đất đai, từ năm 2015-2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai đã trực tiếp triển khai một số nội dung và ban hành các văn bản chỉ đạo các tỉnh như sau: – Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành văn bản số 3215/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 05 tháng 8 năm 2015 về việc tăng cường kiểm tra, giám sát và xây dựng hệ thống theo dõi, đánh giá đối với hoạt động quản lý, sử dụng đất đai; Tổng cục Quản lý đất đai đã ban hành Công văn số 1660/TCQLĐĐ-CKSQLSDĐĐ ngày 09 tháng 11 năm 2015 và Công văn số 1678/TCQLĐĐ- CKSQLSDĐĐ ngày 31 tháng 8 năm 2016 về việc hướng dẫn lập báo cáo theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình quản lý, sử dụng đất đai và tác động của chính sách, pháp luật đất đai đến kinh tế, xã hội và môi trường. Chính vì vậy, từ năm 2015 đến nay, các địa phương tiến hành triển khai, thu thập đánh giá theo hệ thống biểu mẫu theo hướng dẫn của Tổng cục Quản lý đất đai để xây dựng báo cáo đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất hàng năm.

Tuy nhiên việc triển khai chưa đem lại hiệu quả cao, năm 20-15 có 39 tỉnh, thành phố gửi báo cáo, năm 2016 có 47 tỉnh, tuy nhiên chỉ có 30 tỉnh gửi báo cáo đúng thời hạn, 33 tỉnh nộp báo cáo đúng quy định, 27 tỉnh có chất lượng báo cáo tương đối đạt yêu cầu (đầy đủ số liệu, biểu bảng theo quy định). Nhìn chung các địa phương chưa quan tâm đến việc xây dựng báo cáo đánh giá, chưa giao trách nhiệm cho một đơn vị chuyên môn cụ thể để thực hiện công tác theo dõi đánh giá nên việc theo dõi, tổng hợp số liệu chưa thành nề nếp.

Ngoài ra, Tổng cục quản lý đất đai đã tổ chức kiểm tra thi hành Luật đất đai 2013 tại 22 tỉnh là: Yên Bái, Hải Dương, Nam Định, Bắc Cạn, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Đồng Tháp, An Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Hà Nam, Quảng Trị, Bến Tre, Long An, Tiền Giang, Bình Thuận, Hà Giang, Sơn La, Bình Định, Phú Yên, Bình Dương và Lào Cai. Các nội dung, tiêu chí thực hiện kiểm tra đánh giá bao gồm: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; việc lập, điều chỉnh, quản lý và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; việc đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; việc quản lý tài chính đất đai và giá đất, việc thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai.

Như vậy, việc theo dõi đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai theo quy định của Luật đất đai 2013 ở các địa phương đã được thực hiện, tuy nhiên do hiện nay chưa có nội dung, quy trình hướng dẫn cụ thể nên mỗi địa phương thực hiện theo một cách riêng, chưa thành nền nếp thường xuyên hàng năm; nội dung đánh giá chưa đầy đủ và chưa sâu; chất lượng đánh giá còn hạn chế, chưa sát thực tế, còn mang tính chủ quan, định tính mà thiếu các thông tin, số liệu chứng minh; vì vậy việc tổng hợp toàn quốc gặp nhiều khó khăn. Trong năm 2015-2016 một số địa phương đã gửi công văn yêu cầu Bộ có hướng dẫn cụ thể về xây dựng các chỉ tiêu và trình tự đánh giá tình hình quản lý đất đai theo yêu cầu của Luật Đất đai 2013.

Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay chưa xây dựng được hệ thống theo dõi đánh giá và hướng dẫn thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước; việc đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất đai ở địa phương còn chưa được quan tâm, chưa tổ chức được bộ máy để triên khai, chưa xây dựng kế hoạch thực hiện, chưa có được tiêu chí thống nhất, chưa có nội dung đánh giá đầy đủ; vì thế chưa có được những kết quả đánh giá sát thực với từng địa phương và thống nhất trên cả nước; ngoài ra hệ thống cơ quan kiểm tra, thanh tra chuyên ngành về đất đai còn thiếu ổn định về tổ chức; lực lượng còn mỏng; năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của một bộ phận cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong quản lý, sử dụng đất đai; đội ngũ cán bộ địa chính cấp xã còn chưa được ổn định; trang thiết bị phục vụ hoạt động phát hiện và xử lý vi phạm còn thiếu; quy định mức xử phạt vi phạm còn thấp và việc xác định mức xử phạt hành chính theo quy định hiện hành còn khó khăn.

2. Một số giải pháp nhằm tăng cường công tác đánh giá quản lý, sử dụng đất đai ở các cấp Để hoàn thành mục tiêu và định hướng phát triển đến năm 2030 là xây dựng hệ thống quản lý đất đai hiện đại, đạt trình độ của các nước phát triển trong khu vực thì việc đánh giá công tác quản lý và sử dụng đất đai của các địa phương từ khi có Luật đất đai 2013 đến nay là rất quan trọng; giúp cơ quan quản lý nhà nước đánh giá tổng quan tình hình quản lý, sử dụng đất trong thời gian qua từ đó hoạch định các chính sách quản lý trong thời gian tới, để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai, ngành quản lý đất đai cần quan tâm thực hiện được các nội dung giải pháp chủ yếu sau:

(1) Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trên nguyên tắc tiếp tục duy trì chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho đất đai tham gia thị trường bất động sản; khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai; đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội và phát triển bền vững.

(2) Hoàn thiện hệ thống điều tra, đánh giá tài nguyên đất, đảm bảo cung cấp đầy đủ thông tin, tư liệu về số lượng, chất lượng, tiềm năng và môi trường đất phục vụ cho việc hoạch định chính sách và ban hành quyết định của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất.

(3) Xây dựng hệ thống đăng ký đất đai hiện đại với quy trình, thủ tục cơ bản được tự động hóa bằng công nghệ số; triển khai thống nhất trong cả nước hệ thống hồ sơ địa chính dạng số được chỉnh lý biến động thường xuyên đầy đủ, kịp thời; trong đó, hoàn thành việc xây dựng và vận hành hệ thống hồ sơ địa chính dạng số ở một số tỉnh và thành phố.

(4) Xây dựng hệ thống kiểm kê, thống kê đất đai được tự động hóa dựa trên hệ thống hồ sơ địa chính dạng số được cập nhật chỉnh lý thường xuyên, đầy đủ, đảm bảo cung cấp số liệu thống kê, kiểm kê nhanh chóng và chính xác.

(5) Hoàn thiện hệ thống quy hoạch – kế hoạch sử dụng đất với vai trò công cụ quản lý nhà nước về đất đai, đảm bảo phân bổ tài nguyên đất đai hợp lý, quản lý và sử dụng đất hiệu quả, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước.

(6) Hoàn thiện hệ thống các công cụ tài chính, kinh tế đất để điều tiết các quan hệ đất đai và quản lý thị trường bất động sản. Trong đó, hệ thống định giá đất đảm bảo được yêu cầu định giá đất phục các mục địch khác nhau trong quản lý, sử dụng và giao dịch về quyền sử dụng đất; hệ thống phát triển quỹ đất được hoàn thiện về các mặt quy trình chuyên môn, cơ chế và tiềm lực tài chính hợp lý, đáp ứng nhu cầu tạo quỹ đất phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.

(7) Tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát nhằm đưa công tác quản lý, sử dụng đất theo đúng pháp luật.

(8) Hoàn thành việc xây dựng hệ thống thông tin đất đai thành một bộ phận của Hệ thống Dữ liệu Quốc gia.

(9) Kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức; nâng cao năng lực cán bộ ngành Quản lý đất đai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo chức năng thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trên phạm vi cả nước, có sự phân công, phân cấp rõ ràng, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ ngang tầm trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực nhằm phát huy cao nhất năng lực thể chế và hiệu quả của công tác quản lý đất đai trên phạm vi cả nước.

Nguồn tin: Theo monre.gov.vn

5 Nhóm Giải Pháp Quản Lý, Sử Dụng Đất Hiệu Quả

Ông Đoàn Văn Tuấn, Phó Giám đốc Sở chia sẻ: Đây là các nhóm giải pháp được Ngành chắt lọc, đúc kết thông qua quá trình thực tế, trong đó có nhiều điểm mới, nhiều cách làm khác trước. Nếu thực hiện tốt 5 nhóm giải pháp này, đảm bảo công tác quản lý, sử dụng đất của chúng ta sẽ quy củ và hiệu quả hơn. Theo ông Tuấn thì nhóm giải pháp đầu tiên chính là vấn đề giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo đúng quy hoạch, kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Quan trọng nhất là phải đáp ứng kịp thời, đầy đủ các dự án, đề án, chương trình có sử dụng đất của tỉnh.

Đây là nhóm giải pháp đã được triển khai lâu nay, nhưng hiệu quả mang lại chưa cao. Thường thì các đề án, dự án do các ngành quản lý đều phải bám vào quy hoạch sử dụng đất để thực hiện, nhưng thời gian qua vẫn còn tồn tại thực trạng quy hoạch sử dụng đất phải làm đuổi theo sau các dự án. Có hai điểm dễ nhận thấy, một là vấn đề quy hoạch, kế hoạch còn mang tính hình thức, không có tính dẫn dắt, dẫn đến việc các đề án, dự án bị chồng chéo, gây khó khăn cho quá trình triển khai, một là các đề án, dự án sinh ra trước, cứ làm sau đó mới quy hoạch qũy đất. Hiện nay, những vấn đề này đã được cải thiện rất nhiều. Năm 2012, Ngành Tài nguyên – Môi trường đang hướng đến mục tiêu quy hoạch đủ nguồn đất cấp cho 544 dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chính phủ (trên 4.881 ha đất phi nông nghiệp) và 231 dự án lấy đất phi nông nghiệp thuộc thẩm quyền tỉnh phê duyệt, cùng các dự án lấy đất nông nghiệp khác. Quỹ đất cho các dự án cũng được ngành chủ động bố trí không những đáp ứng các dự án trong kế hoạch mà cho cả các dự án phát sinh.

Nhóm thứ hai được đưa ra chính là việc tổ chức rà soát các thủ tục hành chính, phấn đấu rút ngắn thời gian từ 20% đến 30% quá trình giải quyết các hồ sơ, thủ tục so với quy định. Tuyệt đối không để phát sinh bất cứ thủ tục hành chính nào ngoài quy định. Thời gian trước ở một số địa phương vẫn còn nhiều thủ tục hành chính chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Khi các quy định mới ra đời và có hiệu lực, thì thủ tục cũ vẫn còn tồn tại, được cán bộ cơ sở máy móc áp dụng, gây nhiều phiền hà cho người dân. Năm 2011 vừa qua, Tổng cục Quản lý đất đai (Bộ Tài nguyên – Môi trường) đã phối hợp với Sở Tài nguyên – Môi trường tỉnh kiểm tra vấn đề này tại một số địa phương và phát hiện còn nhiều trường hợp vi phạm. Đáng lẽ việc chuyển nhượng, tặng cho, quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không cần phải ra quyết định hành chính mà chỉ do cơ quan chuyên môn xác nhận là đủ, nhưng UBDN cấp huyện vẫn ban hành quyết định hành chính. Điều này đúng với trước đây, nhưng từ khi văn bản quy định mới ra đời thì việc ra quyết định đối với những trường hợp trên là thừa. Như vậy là thêm thủ tục hành chính, làm mất thời gian, lãng phí công sức, tiền của của nhân dân.

Nhóm giải pháp thứ tư được xem là khá mới, cụ thể, rõ ràng đó là quản lý đất đến từng thửa theo hệ thống từ tỉnh đến huyện rồi đến xã thông qua công nghệ tin học. Qua đó, xác định rõ chủ sử dụng đất, loại đất, mục đích sử dụng, vị trí và quá trình biến động đất để phục vụ yêu cầu về đền bù, giải quyết các vướng mắc về đất đai một cách hiệu quả. Thực trạng trước đây là việc đo đạc bản đồ, cấp giấy chứng nhận, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chưa có sự gắn kết. Thường thì khi đo đạc xong, do thiếu kinh phí cấp giấy chứng nhận nên để chậm lại, sau một thời gian tình hình đất biến động, muốn thực hiện được lại phải đo đạc lại, gây lãng phí. Hiện nay, công việc quản lý đất đai đã được thực hiện trên cơ sở dữ liệu nhưng chưa đồng bộ trong toàn tỉnh, dẫn đến việc quản lý, sử dụng đất chưa chặt chẽ, không kiểm soát được hết những biến động của đất đai, khiến công tác giải phóng mặt bằng gặp muôn vàn khó khăn. Thực hiện nhóm giải pháp mới sẽ giúp cho người quản lý có thể ngồi tại văn phòng, bật máy tính theo dõi và biết một cách chính xác những biến động của từng thửa đất, lô đất trên toàn địa bàn. Điều quan trọng là sẽ giúp giảm chi phí quản lý đất đai, giảm khiếu kiện tranh chấp đất, thuận tiện cho việc chuyển mục đích sử dụng đất và giải phóng mặt bằng. Đây là phương pháp quản lý thông minh đã được một số tỉnh, thành áp dụng thành công. Được biết, hiện nó được áp dụng điểm tại huyện Định Hoá, sau đó sẽ nhân rộng ra cả tỉnh.

Nhóm giải pháp cuối cùng chính là tăng cường công tác thanh, kiểm tra các doanh nghiệp sử dụng đất, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các đơn vị sử dụng đất sai mục đích, có giải pháp xử lý chống thất thu ngân sách. Tổ chức thanh, kiểm tra đối với cấp huyện, xã trong việc quản lý thực hiện các thủ tục đất đai; kịp thời uốn nắn các đơn vị chuyên môn chưa thực hiện đúng quy định. Trước đây, công tác thanh kiểm tra đã được triển khai, song đối tượng kiểm tra hạn chế, chưa mang lại hiệu quả cao. Ngành Tài nguyên – Môi trường gần như chưa tiến hành công tác thanh, kiểm tra đối với cấp huyện và xã mà chủ yếu chỉ áp dụng với các doanh nghiệp. Theo nhóm giải pháp này thì tới đây Ngành sẽ tiến hành thanh, kiểm tra cả cấp huyện và cấp xã, kiểm tra toàn bộ các doanh nghiệp, trong đó có cả các doanh nghiệp khai thác khoáng sản, các doanh nghiệp thuê đất chưa sử dụng hoặc sử dụng không hiệu quả. Điều đó sẽ giúp cho việc quản lý đất đai được triệt để hơn, mang lại hiệu quả hơn, tránh tình trạng để lọt các tổ chức, cá nhân sử dụng đất sai quy định.

Với sự phối hợp đồng bộ 5 nhóm giải pháp trên, Ngành Tài nguyên – Môi trường kỳ vọng sẽ mang lại những hiệu ứng tốt góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý đất đai trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của xã hội.

9 Giải Pháp Quản Lý Quy Hoạch Sử Dụng Đất Đai Đô Thị

Xu hướng người dân tập trung về các đô thị lớn để tìm kiếm việc làm, tìm điều kiện cuộc sống tốt hơn đã tạo áp lực lên hệ thống hạ tầng đô thị, ảnh hưởng hiệu quả sử dụng đất đai. Trong khi đó, việc đầu tư hệ thống hạ tầng còn chậm, thiếu đồng bộ nên dẫn đến quá tải về hạ tầng cả về hạ tầng giao thông, giáo dục, y tế, dịch vụ…

Việc đầu tư phát triển các đô thị vùng, đô thị vệ tinh còn thiếu nguồn lực. Cơ cấu sử dụng đất tại các đô thị chưa phù hợp, cơ cấu nhà ở còn nhiều bất cập, mới chú ý đến phát triển nhà ở thương mại cho người có thu nhập thấp, còn nhà ở xã hội cho công nhân các khu công nghiệp lại rất ít được quan tâm.

Để khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện chính sách pháp luật về quy hoạch, quản lý, sử dụng đất tại đô thị, Phó Thủ tướng cho biết trong thời gian tới, Chính phủ và các bộ ngành và địa phương phải tập trung vào một số nhiệm vụ.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng.

Hai là tập trung vào công tác quy hoạch, chú trọng nâng cao chất lượng quy hoạch; thường xuyên rà soát, cập nhật bổ sung điều chỉnh kịp thời quy hoạch theo đúng quy định pháp luật; công khai các thông tin về quy hoạch để người dân biết và giám sát.

Bốn là thực hiện tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đảm bảo hài hòa lợi ích nhà nước, nhà đầu tư và người dân. Làm tốt công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đáp ứng yêu cầu chính đáng của người dân.

Năm là kiểm soát chặt chẽ việc lựa chọn nhà đầu tư để thực hiện dự án phát triển đô thị, khu công nghiệp, dịch vụ theo đúng quy định pháp luật. Đồng thời, xây dựng cơ chế kiểm soát việc xác định giá đất, đảm bảo tính công khai, minh bạch, theo cơ chế thị trường, tránh thiết hại cho nhà nước.

Sáu là cần có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các nhiệm vụ: đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, đặc biệt là nhà ở cho công nhân các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất; cải tạo chung cư cũ xuống cấp nguy hiểm; chuyển cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi khu dân cư tập trung và thay vào đó là cơ cấu sử dụng đất hợp lý để tăng cường không gian công cộng. Rà soát bảo đảm không gian công cộng cho người dân, khắc phục tình trạng lãng phí đất đai, quy hoạch sử dụng không gian ngầm. Quản lý chặt việc người nước ngoài sở hữu nhà ở, đất đai tại Việt Nam.

Bảy là tăng cường quản lý, kiểm soát, sử dụng đất đai, phát triển đô thị trên toàn quốc. Trong đó, tập trung công tác thanh tra, kiểm tra các dự án đầu tư, xử lý nghiêm các vi phạm.

Tám là tổ chức bộ máy quản lý đất đai, phát triển đô thị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, nâng cao đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Chín là tiếp tục tăng cường sự giám sát của các cơ quan dân cử ở địa phương, đặc biệt là vai trò của Hội đồng nhân dân các cấp, vai trò của Quốc hội.

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Và Một Số Giải Pháp Nhằm Quản Lý, Sử Dụng Đất Đai Có Hiệu Quả Ở Tây Nguyên trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!