Xem Nhiều 1/2023 #️ Thực Trạng Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Và Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Của Nước Ta Hiện Nay (Qua Số Liệu Điều Tra Xã Hội Học) # Top 2 Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 1/2023 # Thực Trạng Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Và Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Của Nước Ta Hiện Nay (Qua Số Liệu Điều Tra Xã Hội Học) # Top 2 Trend

Cập nhật thông tin chi tiết về Thực Trạng Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Và Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Của Nước Ta Hiện Nay (Qua Số Liệu Điều Tra Xã Hội Học) mới nhất trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

– Phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC và nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị;

– Góp phần xây dựng đội ngũ CB,CC,VC  là công bộc của nhân dân, có đủ phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước;

– Phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân.

Hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị được đánh giá thông qua các tiêu chí cụ thể sau:

– Nhận thức, năng lực thực hành dân chủ của đội ngũ CB,CC,VC. Muốn thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị, trước hết người công chức, viên chức phải nắm bắt và hiểu biết về dân chủ cơ sở, bao gồm những việc công khai để cán bộ, công chức, viên chức được biết; những việc cán bộ, công chức, viên chức tham gia ý kiến và những việc CB,CC,VC được giám sát, kiểm tra. Điều này đóng vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện dân chủ cũng như kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện dân chủ.

– Kết quả phát huy quyền làm chủ của CB,CC,VC. Đánh giá hiệu quả thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị còn được thể hiện qua kết quả thực hiện quyền làm chủ của CB,CC,VC, thể hiện qua việc CB,CC được trình bày ý kiến, đề xuất việc giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi trách nhiệm của mình khác với ý kiến của người phụ trách trực tiếp trong khi thi hành công vụ, nhưng vẫn phải chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của người phụ trách trực tiếp, đồng thời có quyền bảo lưu ý kiến và báo cáo lên cấp có thẩm quyền. Hoặc đối với viên chức, họ được quyền từ chối thực hiện công việc hoặc nhiệm vụ trái với quy định của pháp luật, được quyết định vấn đề mang tính chuyên môn gắn với công việc hoặc nhiệm vụ được giao. Người CB,CC,VC được thẳng thắn đóng góp ý kiến để xây dựng nội bộ cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh. 

– Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, thể hiện qua năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển và đổi mới của đất nước. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ hàng năm của các cơ quan, đơn vị sẽ phản ánh được sự chủ động trong xây dựng và thực hiện kế hoạch công tác; sắp xếp tổ chức bộ máy, bố trí sử dụng biên chế hợp lý, tiết kiệm, nâng cao chất lượng, hiệu suất lao động, hiệu quả trong sử dụng kinh phí, thực hành tiết kiệm, tăng thu nhập cho CB,CC,VC. Kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị cũng thể hiện chất lượng của việc ban hành quy chế chi tiêu nội bộ, quy chế quản lý và sử dụng tài sản công; việc thực hiện quản lý thu, chi tài chính tại đơn vị; việc tiết kiệm chi thường xuyên theo định mức biên chế và chi bổ sung thu nhập cho CB,CC,VC và người lao động… Nếu quyền dân chủ của CB,CC,VC được đảm bảo và không ngừng phát huy thì kết quả thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị sẽ không ngừng được củng cố, nâng cao.

 - Kết quả phòng ngừa, ngăn chặn và chống các hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu nhân dân trong cơ quan, đơn vị. Đây là tiêu chí quan trọng nhằm đánh giá được hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Thực hiện tốt dân chủ sẽ tạo điều kiện để các CB,CC,VC cũng như toàn xã hội tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước; CB,CC,VC  sẽ dễ dàng nhận biết và chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, buộc các CB,CC,VC phải có ý thức hơn trong việc thực hiện chức trách, công vụ, nhiệm vụ của mình theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà pháp luật quy định bởi, mọi hành vi vi phạm, phiền hà, sách nhiễu hay lợi dụng chức trách để tư lợi đều có thể bị phát hiện và xử lý.

– Mức độ tham gia kiểm tra, giám sát trong việc tổ chức thực hiện dân chủ của các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể như tổ chức Đảng, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, Ban Thanh tra nhân dân… Các tổ chức đoàn thể trong cơ quan, đơn vị có vai trò quan trọng, tạo sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong CB,CC,VC, tạo mọi điều kiện thuận lợi để động viên họ phát huy quyền làm chủ của mình. Do vậy, việc củng cố, kiện toàn các đoàn thể trong các cơ quan, đơn vị là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở.

2. Thực trạng tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập của nước ta hiện nay

Nhằm cung cấp các luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện các chủ trương, chính sách nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ cơ sở (dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn và dân chủ ở cơ quan, đơn vị sự nghiệp công lập), năm 2017, Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ đã thực hiện điều tra Dự án: “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”. Với quy mô điều tra gần 1.500 CB, CC, VC ở các cơ quan, đơn vị một số Bộ, ngành và địa phương về tình hình thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị theo phương pháp lựa chọn mẫu, báo cáo tổng hợp kết quả cho thấy (đơn vị tính: tỷ lệ %):

Biết rất rõ

Biết sơ qua

Không biết

76.0

23.1

0.9

          * Hình thức tiếp cận thông tin:

Tự tìm hiểu

Từ cơ quan, đơn vị

Qua thông tin đại chúng

Khác

10.4

79.6

8.4

1.6

2.2. Việc tổ chức hội nghị cán bộ, công chức, viên chức hàng năm

Tổ chức đều đặn hàng năm

Có năm không tổ chức

Chưa bao giờ tổ chức

93.3

5.9

0.8

          2.4. Ý kiến nhận xét của CB, CC, VC về tình hình thực hiện việc công khai thông tin ở cơ quan, đơn vị (Theo quy định, thời hạn công khai văn bản chậm nhất là 03 ngày làm việc, trường hợp đặc biệt không quá 05 ngày kể từ ngày văn bản được ban hành hoặc kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan, đơn vị cấp trên).

Không công khai

Có được công khai

Khó trả lời

Kịp thời

Không kịp thời

1.6

93.4

3.2

1.8

4.2. Kế hoạch công tác hàng năm, hàng quý của cơ quan, đơn vị

1.4

95.0

2.6

1.0

4.3. Tài sản, trang thiết bị; kinh phí hoạt động và quyết toán hàng năm

2.6

82.6

8.4

6.4

4.4. Các chế độ, chính sách đối với CB, CC, VC

1.5

90.7

5.7

2.2

4.5. Bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ phải kê khai theo quy định

4.4

84.8

5.7

5.1

4.6. Các vụ việc tiêu cực, tham nhũng trong cơ quan đã được kết luận (nếu có)

3.7

59.5

3.7

33.1

4.7. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan, đơn vị (nếu có)

3.2

65.5

3.8

27.5

4.8. Kết quả tiếp thu ý kiến (khi lấy ý kiến) của CB, CC, VC về những vấn đề thuộc thẩm quyền của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

3.1

82.2

5.3

9.4

2.5. Nguyên nhân của tình trạng một số thông tin chưa hoặc chậm công khai là do:

          * Nguyên nhân khác: Do ý chí cá nhân người đứng đầu và sự chậm trễ trong công việc của cơ quan, đơn vị.

2.6. Hình thức thường được thực hiện để công khai thông tin cho CB,CC,VC biết

Chế độ, chính sách

Không công khai

Có công khai

Khó trả lời

Kịp thời

Không kịp thời

7.1. Về tuyển dụng

3.7

84.6

4.7

7.0

7.2. Về đào tạo, bồi dưỡng

1.3

89.8

6.0

2.9

7.3. Điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái

2.3

85.1

5.6

7.0

7.4. Thay đổi vị trí làm việc hoặc chức danh nghề nghiệp

1.9

84.2

6.0

7.9

7.5. Đi công tác nước ngoài

2.7

73.1

4.4

19.8

7.6. Về nâng bậc lương, nâng ngạch

1.3

92.9

3.7

2.1

7.7. Về đánh giá, xếp loại và khen thưởng CB, CC, VC

1.1

93.0

3.7

2.2

   

Chưa  

58.2

41.8

* Việc bố trí lịch hẹn có dễ dàng, thuận lợi hay không

Rất dễ dàng, thuận lợi

Có một chút khó khăn

Rất khó khăn

90.4

9.0

0.6

* Ý kiến phản ánh hay phê bình của CB, CC, VC có được người đứng đầu cơ quan/ đơn vị quan tâm, lắng nghe hay không

Không  

98.2

1.8

* Người đứng đầu cơ quan/ đơn vị sau đó có phản hồi/giải thích cho CB, CC, VC được biết hay không

Không

97.3

2.7

2.10. Đánh giá về mức độ dân chủ trong việc tham gia ý kiến của CB,CC,VC

         * Về ý thức, trách nhiệm của CB,CC,VC trong việc tham gia ý kiến

* Về sự tiếp thu ý kiến của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

2.11. Những nội dung ở cơ quan/ đơn vị CB, CC, VC cần phải được thực hiện dân chủ hơn

2.12. Phản ứng của CB, CC, VC khi không hài lòng về tình hình thiếu dân chủ ở cơ quan/ đơn vị

          2.13. Đánh giá chung về tình hình thực hiện dân chủ ở cơ quan/đơn vị CB, CC, VC công tác

2.14. Nguyên nhân chính của tình trạng chưa dân chủ trong các cơ quan/ đơn vị hiện nay là do:

Tỷ lệ %

14.1. Sự ràng buộc từ các mối quan hệ

52.2

14.2. Lợi ích nhóm

32.6

14.3. Quy định về dân chủ chưa rõ, không phù hợp

32.8

14.4. Quy chế dân chủ còn thiếu các chế tài cần thiết đảm bảo thực hiện

52.7

14.5. Sự thiếu trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

29.0

14.6. Sự thiếu trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

38.8

14.7. Sự phối hợp chưa tốt giữa các tổ chức trong cơ quan

47.0

14.8. Thiếu sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của tổ chức Đảng về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị

17.8

14.9. Điều kiện vật chất, trang thiết bị còn hạn chế

28.4

14.10. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

33.2

14.11. Chưa phát huy hết vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

32.7

14.12. Việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm chưa được coi trọng

32.8

      * Lý do khác: Sự phối hợp chưa tốt giữa các thành viên trong cơ quan; Nhân viên không dám phê bình cấp trên; Chưa nắm bắt kịp thời văn bản quy định.

III. Kết luận

Có thể nói rằng, việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, đơn vị ở Việt Nam hiện nay là tương đối tốt (thể hiện trong biểu đồ số liệu điều tra tại mục 2.13). Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế như việc thực hiện dân chủ vẫn còn hình thức, thậm chí ở một số cơ quan, đơn vị sự nghiệp vẫn còn tồn tại tình trạng chưa dân chủ trong một số hoạt động. Nguyên nhân của nó cũng đã được thể hiện qua đánh giá của CB,CC,VC tại bảng số liệu mục 2.14.

Cũng trong khuôn khổ Dự án điều tra năm 2017, Viện Khoa học tổ chức nhà nước đã trưng cầu ý kiến của gần 1.500 CB,CC,VC về giải pháp cần phải tập trung nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Số liệu cụ thể như sau:

Giải pháp

Tỷ lệ %

15.1.Sửa đổi văn bản pháp luật

24.9

15.2. Quy định cụ thể hơn trong việc phối hợp giữa các tổ chức trong cơ quan, đơn vị

65.6

15.3. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị

59.8

15.4. Đề cao tinh thần và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức

61.4

15.5. Đề cao vai trò của Ban Chấp hành Công đoàn cơ quan

36.9

15.6. Đề cao vai trò của Ban Thanh tra nhân dân ở cơ quan

28.1

15.7. Đề cao tinh thần gương mẫu của đảng viên

24.6

15.8. Đổi mới nhận thức của người đứng đầu CQ, đơn vị và CB, CC, VC

34.3

15.9. Tăng cường điều kiện vật chất, trang thiết bị

24.1

15.10. Kiểm tra và xử lý kịp thời những biểu hiện thiếu dân chủ

50.4

Mặc dù số liệu và kết quả điều tra về dân chủ trong cơ quan, đơn vị như đã trình bày ở trên là cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc đề xuất cơ chế, chính sách nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, điều này vẫn cần tiếp tục được nghiên cứu, làm sâu sắc hơn trong thời gian tới bởi dân chủ nói chung và thực hiện dân chủ ở cơ sở nói riêng là một vấn đề phức tạp và luôn nảy sinh những vấn đề mới trong điều kiện, hoàn cảnh mới. Trong phạm vi bài viết của mình, sau đây là một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị:

Một là, hoàn thiện các quy định về dân chủ.

– Chính phủ đã ban hành NĐ số 04/2015/NĐ-CP ngày 09/01/2015 về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Tuy nhiên, nên có văn bản quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở riêng cho cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp vì mỗi loại hình có những đặc điểm riêng trong tổ chức, hoạt động cũng như nội dung thực hiện dân chủ.

– Các văn bản quy định về dân chủ cơ sở cần được bổ sung thêm các chế tài về việc thực hiện quy chế đối với người đứng đầu đơn vị cũng như cán bộ, công chức, viên chức khi không thực hiện đúng các nội dung mà dân chủ quy định nhằm đảm bảo cho quy chế dân chủ ở cơ sở được thực hiện nghiêm minh, đúng quy định. 

Hai là, chú trọng tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động về vai trò, tầm quan trọng cũng như các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở

Ba là, nâng cao chất lượng Hội nghị CB,CC,VC

– Người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần chủ động trong việc chuẩn bị nội dung, bố trí đủ thời gian và phối hợp với Chủ tịch công đoàn chỉ đạo Hội nghị  CB,CC,VC theo quy định. Bên cạnh việc lắng nghe ý kiến đóng góp, phê bình của CB,CC,VC; giải đáp những thắc mắc, kiến nghị của CB,CC,VC… thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị cũng cần phải tạo được bầu không khí thực sự thoải mái để mọi CB,CC,VC và người lao động có cơ hội bày bỏ tâm tư, nguyện vọng của mình.

– Tăng cường giám sát việc thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC; phải có đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết hội nghị CB,CC,VC trước hội nghị CB,CC,VC vào 6 tháng và cuối năm.

Bốn là, khắc phục tính hình thức trong hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị. 

Thực tế cho thấy trong thời gian qua, tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra nhân chưa thực sự phát huy hết được chức năng, nhiệm vụ theo quy định và những kết quả đạt được vẫn còn rất hạn chế. Điều này xuất phát từ nguyên nhân  chủ yếu do Ban Thanh tra nhân dân đều là cấp dưới của thủ trưởng, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi các quyết định của thủ trưởng (quyền lợi trong công việc hàng ngày; kinh phí hoạt động của Ban Thanh tra…). Như vậy việc tổ chức Ban Thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị chưa đảm bảo rõ tính độc lập, khó có thể thực hiện được đúng bản chất của hoạt động giám sát và trên thực tế hiệu lực của hoạt động giám sát của Ban thanh tra nhân dân trong cơ quan, đơn vị quá yếu so với các chủ thể thực hiện quyền giám sát khác.

Tuy nhiên, trong thời gian tới khi vẫn duy trì Ban Thanh tra nhân dân như một thiết chế đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan và đơn vị sự nghiệp, trước hết cần lựa chọn, bố trí những người có phẩm chất, năng lực tốt, được CB,CC,VC tín nhiệm làm công tác thanh tra nhân dân. Các thành viên tham gia Ban thanh tra nhân dân phải có bản lĩnh, không ngại va chạm, ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò và phải nắm rõ nhiệm vụ, quyền hạn của mình được pháp luật quy định; có nghiệp vụ hoạt động, được tập huấn cơ bản. Muốn vậy, hàng năm có kế hoạch và tổ chức các cuộc tập huấn cho cán bộ làm công tác thanh tra nhân dân về chức năng, nhiệm vụ của Ban thanh tra nhân dân, kỹ năng xây dựng kế hoạch hoạt động, tổ chức thực hiện quyền thanh tra, giám sát, xác minh vụ việc theo quy định pháp luật… nhằm nâng cao nghiệp vụ, kỹ năng, năng lực, trình độ và hiểu biết pháp luật cho người làm công tác thanh tra nhân dân. Đồng thời, cơ quan, đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi và bố trí nguồn kinh phí hợp lý để Ban thanh tra nhân dân hoạt động. Ban Thanh tra nhân dân phải thực hiện đúng nhiệm vụ là giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở của cơ quan, đơn vị.

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức Đảng cơ sở, các tổ chức đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

Tổ chức Đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ, thường xuyên trong việc tổ chức thực hiện dân chủ ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng phấn đấu, rèn luyện và phải là những tấm gương về thực hiện dân chủ. Mỗi tổ chức đảng phải giáo dục cho đảng viên ý thức rõ trách nhiệm chính trị và nghĩa vụ đạo đức của mình, biết lắng nghe và tiếp thu ý kiến phê bình. Nếu trong Đảng thực hành được dân chủ, đoàn kết và đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư thì tình hình sẽ chuyển biến tốt đẹp,  các CB,CC,VC được bảo đảm lợi ích, nhu cầu và quyền làm chủ của mình. Dân chủ trong Đảng sẽ thúc đẩy dân chủ trong cơ quan, đơn vị. Mỗi cán bộ đảng viên và đội ngũ công chức, viên chức phải gương mẫu trong đạo đức, lối sống, đề cao kỷ luật và trách nhiệm, tôn trọng và tận tụy phục vụ nhân dân. Nghiên cứu xem xét đưa kết quả xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị là một tiêu chí quan trọng để xem xét, đánh giá chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; đảng viên là CB,CC,VC hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Các tổ chức công đoàn, các đoàn thể cần đề xuất, tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo cơ quan tăng cường kiểm tra, theo dõi, đánh giá, uốn nắn việc triển khai thực hiện tại các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý để đảm bảo thực hiện đúng pháp luật, đồng thời báo cáo, đề xuất lên cấp trên có thẩm quyền để xử lý đối với những trường hợp vi phạm về dân chủ.

Sáu là, tăng cường dân chủ phải đi đôi với siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính và đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí.

Thực hiện dân chủ nhưng luôn phải gắn với bảo đảm tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, cấp dưới phục tùng sự lãnh đạo, chỉ đạo và chấp hành nghiêm chỉnh các quyết định của cấp trên. Mỗi cá nhân phải thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Mỗi cơ quan, đơn vị phải xây dựng được chương trình, kế hoạch công tác cụ thể trên cơ sở nhiệm vụ được giao; đánh giá đúng chất lượng, trình độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ của CB,CC,VC. Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, gây nhũng nhiễu, phiền hà trong giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp, xử lý nghiêm việc chậm trễ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Bảy là, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Trước hết, người đứng đầu cơ quan, đơn vị cần phải nhận thức rõ việc thực hiện dân chủ trong cơ quan, đơn vị là một thiết chế hỗ trợ rất hiệu quả cho công tác quản lý, điều hành công việc. Không nên nhìn nhận việc thực hiên dân chủ như là một đối trọng về lợi ích trong quản lý điều hành, hoạt động của cơ quan, đơn vị. Thực hiện dân chủ cơ sở tốt sẽ là công cụ giám sát có hiệu quả chính bản thân cơ quan, đơn vị, đảm bảo thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, nội quy, quy chế của cơ quan, đơn vị, cảnh báo sớm những sai phạm có thể xảy đến với các quyết định của người đứng đầu hoặc trong quá trình tổ chức triển khai công tác của cơ quan, đơn vị. Chính vì vậy, người đứng đầu cần nhận thức đúng vai trò và tầm quan trọng của thực hiện dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để CB,CC,VC và các tổ chức đại diện cho quyền lợi của họ như Công đoàn, Ban Thanh tra nhân dân hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tạo điều kiện về thời gian, vật chất để các tổ chức này hoạt động được hiệu quả.

Đồng thời, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải đảm bảo đúng trách nhiệm của mình trong thực hiện dân chủ trong quản lý và điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị; trong quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chế độ, chính sách đối với CB,CC,VC. Khi CB,CC,VC đăng ký được gặp và có nội dung, lý do cụ thể thì bố trí thời gian thích hợp để gặp và trao đổi; Chỉ đạo việc cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin, tài liệu, cách thức tổ chức thực hiện, trách nhiệm thực hiện và trách nhiệm giải trình những nội dung công việc trong cơ quan, đơn vị…

Tám là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát về việc thực hiện dân chủ ở cơ quan, đơn vị.

Xử lý nghiêm, kịp thời những hành vi vi phạm những quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở; điều chuyển, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có nhiều dư luận, biểu hiện tham nhũng, lãng phí, uy tín giảm sút, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Nghiêm cấm và xử lý nghiêm người đứng đầu có hành vi cản trở việc thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan, đơn vị hoặc có hành vi trả thù, trù dập CB,CC,VC khiếu nại, tố cáo, kiến nghị theo quy định của pháp luật. Đồng thời, kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ để vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của CB,CC,VC và quyền làm chủ của nhân dân, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị./.

Tài liệu tham khảo:

1. Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ (2017), Báo cáo tổng hợp Dự án điều tra cấp Bộ “Điều tra thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở”.

2. Nghị định số 04/2015/NĐ-CP ngày 9/01/2015 của Chính phủ về thực hiện dân chủ trong hoạt động của cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.

3. Thông tư số 01/2016/TT-BNV ngày 13/ 01/2016 của Bộ Nội vụ hướng dẫn thực hiện Nghị định số 04/2015/NĐ-CP.

ThS. Trần Thị Thơ, Phó Trưởng phòng

        Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ

Thực Hiện Phát Huy Dân Chủ Ở Nước Ta Hiện Nay: Thực Trạng Và Giải Pháp

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tiếp xúc cử tri quận Ba Đình, Hoàn Kiếm và Tây Hồ (Hà Nội)

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đã nêu lên bốn bài học lớn, trong đó có bài học: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”(1). Văn kiện Đại hội nhấn mạnh “xóa bỏ nhận thức sai lầm coi công tác quần chúng chỉ là biện pháp để tổ chức, động viên nhân dân thực hiện các chủ trương, chính sách. Đối với những chủ trương có quan hệ trực tiếp tới đời sống nhân dân trên phạm vi cả nước cũng như ở các địa phương phải trưng cầu ý kiến nhân dân trước khi quyết định”. Nội dung phát huy dân chủ tiếp tục được Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng từ khóa VII đến khóa X đề cập rõ nét.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 1-2011) chỉ rõ: “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân… Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền làm chủ trực tiếp… Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân…”(2). Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (tháng 1-2016), vấn đề phát huy dân chủ được khẳng định trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng: “Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích cầm quyền, phương thức cầm quyền, nội dung cầm quyền, điều kiện cầm quyền; vấn đề phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền; các nguy cơ cần phải phòng ngừa đối với đảng cầm quyền”(3).

Về phát huy dân chủ trong Đảng, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt đảng.

Việc phát huy dân chủ trong các tổ chức nhà nước có nhiều chuyển biến, tiến bộ. Quốc hội có những đổi mới quan trọng, từ bầu cử đại biểu Quốc hội đến hoàn thiện về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, làm tốt hơn chức năng lập pháp, công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội hoạt động ngày càng dân chủ, hiệu quả. Để nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật, Quốc hội đã có nhiều hình thức để lấy ý kiến góp ý, như tổ chức hội thảo, tọa đàm, phát phiếu…

Phát huy dân chủ trong các tổ chức chính trị – xã hội cũng có nhiều tiến bộ rõ, thể chế thực thi các quyền dân chủ của nhân dân từng bước được xác lập và cụ thể hóa. Nhiều văn bản tạo cơ sở pháp lý phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân được Quốc hội thông qua, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Công đoàn, Luật Thanh niên, Luật Trưng cầu ý dân… Những bảo đảm dân chủ về quyền và nghĩa vụ, lợi ích, trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội được luật hóa cụ thể hơn và từng bước thực hiện có kết quả; nhiều chủ trương, biện pháp đã phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân, đẩy mạnh quá trình dân chủ hóa xã hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 34/PT/UBTVQH, ngày 20-4-2007, “Về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, Nghị định số 04/NĐ/CP, ngày 24-1-2013, “Về thực hiện dân chủ trong hoạt động cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập”, Nghị định số 60/NĐ-CP, ngày 19-6-2013, “Quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc” đã góp phần tích cực vào quá trình phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Hiện nay, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội đang tích cực thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội và góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Trước các kỳ họp Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tập hợp khá đầy đủ các kiến nghị của các tổ chức thành viên, ý kiến của cử tri cả nước để phản ánh đến Quốc hội; hội đồng nhân dân các cấp đã thường xuyên giám sát chính quyền trong việc tiếp thu và giải quyết các kiến nghị chính đáng của đoàn viên, hội viên, cử tri.

Bên cạnh những ưu điểm, việc thực hiện phát huy dân chủ cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Nhận thức về dân chủ và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa còn hạn chế, chưa đầy đủ và hệ thống, chưa lý giải và làm sáng tỏ kịp thời nhiều vấn đề do thực tiễn đặt ra, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân chủ và kỷ luật, kỷ cương; chưa coi trọng đúng mức phát triển các hình thức dân chủ trực tiếp. Hiện nay, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức về dân chủ còn phiến diện, nhất là thực hành dân chủ trong Đảng. Có người cho rằng dân chủ trong Đảng thì đảng viên được tự do phát ngôn và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng quan điểm riêng của mình. Cá biệt, có người còn muốn tổ chức đảng chỉ như “câu lạc bộ”, được tranh luận, bàn cãi bất kỳ vấn đề gì, không tôn trọng nguyên tắc tập trung dân chủ. Ngược lại, có một bộ phận đảng viên lại hiểu dân chủ trong Đảng một cách cứng nhắc, coi dân chủ như là phương tiện để đạt đến sự tập trung, không muốn đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới độc lập suy nghĩ, tìm tòi khoa học, đồng nhất khoa học với chính trị, đồng nhất ý kiến nghiên cứu, trao đổi với quan điểm, đường lối của Đảng. Một số người đối lập dân chủ với tập trung, tách rời việc phát huy sáng kiến, sáng tạo của đảng viên với việc thực hiện kỷ luật, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, để phát huy sáng kiến và tư duy độc lập của cán bộ, đảng viên cần có quy định về chế độ cung cấp, cập nhật thông tin thường xuyên cho cán bộ, đảng viên, bảo đảm quyền được thông tin của đảng viên. Là Đảng duy nhất cầm quyền, một số cán bộ, đảng viên không nhận thức đầy đủ nguyên tắc tập trung dân chủ đã dẫn đến lạm quyền, bao biện, làm thay, độc đoán, gia trưởng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Đã có nhiều hình thức, phương pháp tổ chức lấy ý kiến nhân dân, nhất là ý kiến của đội ngũ chuyên gia, các nhà khoa học khi xây dựng văn bản pháp luật và một số đề án quan trọng khác, nhưng có một số đề án chưa làm tốt việc đó dẫn đến chất lượng văn bản pháp luật không cao, chưa được Quốc hội thông qua, như Đề án xây dựng đường sắt cao tốc Bắc – Nam, ba đặc khu kinh tế… Một số văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân chưa được xây dựng kịp thời, như Luật Giám sát và phản biện xã hội. Một số luật đã được ban hành, như Luật Trưng cầu ý dân là văn bản pháp luật quan trọng để nhân dân trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, tăng cường đoàn kết và đồng thuận xã hội có hiệu lực từ ngày 1-7-2016, nhưng đến nay vẫn chưa được tổ chức triển khai thực hiện rộng rãi. Một số cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật chưa tốt, như trên các lĩnh vực quy hoạch, quản lý quy hoạch, quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, đền bù, giải phóng mặt bằng, tổ chức tái định cư…

Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để phát huy tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân. Việc nghiên cứu, dự báo sự biến động về số lượng, chất lượng, về tư tưởng các giai tầng xã hội để có các chủ trương, đường lối lãnh đạo phát huy dân chủ sát, đúng, hiệu quả hơn chưa chủ động. Nhận thức, phương pháp và cách thức chỉ đạo tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong phát huy quyền làm chủ về chính trị, kinh tế, xã hội, quyền dân sự còn những mặt hạn chế. Việc quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống chưa thường xuyên, đúng mức nên còn một bộ phận vi phạm Quy chế Dân chủ ở cơ sở, không tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân.

Những giải pháp lớn về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

Một là, tiếp tục phát huy dân chủ rộng rãi trong Đảng.

Hai là, Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ thành chính sách, pháp luật và tăng cường xây dựng, củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Trên cơ sở cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII “Về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” để thực hiện đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chính phủ. Bộ máy phải được tổ chức gọn nhẹ, rõ về chức năng, quyền hạn và trách nhiệm, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải tạo điều kiện để người dân tiếp cận, dễ đối thoại, dễ kiểm tra, giám sát; huy động được tài năng, trí tuệ, sáng tạo của người dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội. Nhà nước phải bảo đảm và phát huy được quyền làm chủ thực sự của người dân, nhất là quyền tham gia xây dựng chính quyền, lựa chọn người đại diện cho mình và quyền sở hữu tài sản hợp pháp. Mở rộng đối thoại giữa Nhà nước với người dân và doanh nghiệp bằng nhiều hình thức, tăng cường trách nhiệm giải trình và lắng nghe nhân dân. Tăng cường dân chủ ở cơ sở, mở rộng các hình thức dân chủ trực tiếp để người dân tham gia công việc của Nhà nước một cách thiết thực, phù hợp. Các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, bảo đảm chính sách, pháp luật được thực thi có hiệu quả. Tập trung chỉ đạo, điều hành thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện các thủ tục hành chính.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội của mình trên nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực phát huy dân chủ; vừa vận động, tập hợp, động viên các tầng lớp nhân dân, các đoàn viên, hội viên của mình thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, vừa tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Động viên đội ngũ nhân sĩ, trí thức, các chuyên gia, nhà khoa học tham gia góp ý xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, các đề án phát triển kinh tế – xã hội quan trọng của đất nước. Tập hợp kịp thời các đề xuất, kiến nghị, nguyện vọng chính đáng của đoàn viên, hội viên, của cử tri để phản ánh cho Đảng, Nhà nước xem xét lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết. Tham gia việc phát hiện, lựa chọn, giới thiệu những người đủ đức, đủ tài, thật sự xứng đáng làm đại biểu nhân dân trong Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, tăng cường chức năng giám sát có trọng tâm, trọng điểm đối với các cơ quan hành chính nhà nước, chính quyền các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Trong tình hình hiện nay cần tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân đối với chính quyền các cấp. Tăng cường công tác giáo dục, nâng cao đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm của công chức, viên chức với nhân dân.

Bốn là, phát huy vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy; chính quyền các cấp và các cơ quan, đơn vị của cả hệ thống chính trị về phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Trong bối cảnh đẩy mạnh việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng, hiệu quả của việc phát huy dân chủ, chính là vai trò của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, đơn vị trong cả hệ thống chính trị. Ở đâu người đứng đầu có nhận thức sâu sắc, đầy đủ về quyền làm chủ của nhân dân, về thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và luôn luôn nêu gương về đạo đức, lối sống, về thượng tôn pháp luật thì ở đó dân chủ được thực hiện tốt. Từng đồng chí bí thư cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở, lãnh đạo chủ chốt các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan, đơn vị phải thật sự phát huy dân chủ trong Đảng, công khai, minh bạch trong điều hành của chính quyền, đề cao vai trò, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, chống quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân. Trong thực tiễn việc lựa chọn và bố trí người đứng đầu có đức, có tài, biết vận dụng một cách sáng tạo những thành tựu của khoa học – công nghệ vào lãnh đạo, quản lý, biết tạo ra môi trường dân chủ để phát huy trí tuệ, sáng tạo, đóng góp của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là hết sức quan trọng gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị. Theo quy định của Đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành phải định kỳ trực tiếp tiếp công dân, đối thoại với công dân; có như vậy mới nắm được và đủ thẩm quyền chỉ đạo giải quyết kịp thời những kiến nghị, đề xuất hợp pháp, chính đáng của nhân dân; đồng thời, chỉ đạo giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân, không để phát sinh các “điểm nóng”, vụ, việc phức tạp kéo dài.

Năm là, lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan truyền thông làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát huy dân chủ, tạo sự chuyển biến về nhận thức trong các tầng lớp nhân dân.

(1) Văn kiện Đảng: Toàn tập, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, t.47, tr. 362, 363

(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 238 – 239

(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương, Hà Nội, 2016, tr. 217

(Nguyễn Thế Trung/Ủy viên Hội đồng Lý luận TW/Tapchicongsan.org.vn)

Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Và Vấn Đề Dân Chủ Hóa Xã Hội Ở Nước Ta Hiện Nay

Tại Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”(1). Như vậy, đối với nước ta hiện nay, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đang trở thành vấn đề thời sự cấp bách. Bởi vì nhà nước luôn là “một trong những vấn đề phức tạp nhất, khó khăn nhất”; đồng thời, là vấn đề “rất cơ bản, rất mấu chốt trong toàn bộ hệ thống chính trị”(2). Thậm chí, ở một góc độ nhất định, có thể nói, việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân, vì dân ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của chế độ, của Đảng Cộng sản. Điều này thể hiện rõ trong thực tiễn đấu tranh chống tham nhũng, chống lại một trong bốn nguy cơ lớn của Đảng và chế độ suốt nhiều năm qua cũng như trong việc kiện toàn, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước. Có thể nói rằng, nếu chúng ta không tạo dựng được một nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân thì trong tương lai, xã hội ta, dân tộc ta có thể sẽ phải chịu những hậu quả mà hiện nay khó lường được.

Xét cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tất yếu phải kế thừa từ các hình thức nhà nước pháp quyền đã có trong lịch sử những yếu tố còn giá trị, phù hợp với xu thế phát triển xã hội. Do vậy, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, một mặt, gắn chặt với các hình thức nhà nước pháp quyền trước nó; mặt khác, phải vượt lên cao hơn, tiến bộ hơn so với các hình thức nhà nước pháp quyền đó trên các phương diện khác nhau.

Để xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân tất yếu phải vận dụng những thành quả, những mặt tích cực, những giá trị của các hình thức nhà nước pháp quyền trước đây, trước hết là của các hình thức nhà nước pháp quyền tư sản hiện đại. Trong điều kiện ngày nay, sự kế thừa như vậy là một yêu cầu khách quan, bởi nhà nước pháp quyền là một giá trị chung, phổ biến của nhân loại; là một công cụ, một phương thức tổ chức và quản lý xã hội có hiệu quả. Hơn thế nữa, nhà nước pháp quyền còn là hình thức tổ chức quyền lực bảo vệ có hiệu quả các quyền lợi chính đáng của con người và tạo điều kiện tốt cho việc phát triển những năng lực thực tiễn của con người. Cùng với kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền đã tạo nên đôi chân vững chãi cho nhiều quốc gia phát triển trên thế giới tiến những bước dài trên con đường đi tới giàu có và văn minh của họ(3). Nhà nước pháp quyền đã trở thành nhu cầu khách quan trong sự phát triển của xã hội hiện đại.

Đối với các nước đang phát triển hiện nay, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền càng phải là cứu cánh quan trọng để thoát nhanh ra khỏi tình trạng lạc hậu và nguy cơ tụt hậu ngày càng xa. Kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền là những thành phần căn bản trong tổng thể các biện pháp hữu hiệu mà các nước đang phát triển trên thế giới phải sử dụng để tăng tốc quá trình phát triển, nhằm nhanh chóng tạo dựng một xã hội văn minh và thịnh vượng với những nét đặc trưng riêng của các quốc gia dân tộc đó. Tuy nhiên, xét cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn, nhà nước pháp quyền ở mỗi thời đại và mỗi quốc gia có nội hàm và mức độ đậm nhạt của các yếu tố trong nội hàm cũng khác nhau.

Hiện nay, đại đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng, ít nhất, nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền có những yếu tố sau đây:

1- Trong nhà nước pháp quyền, toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước do họ trực tiếp bầu, hoặc bằng việc trực tiếp giám sát, kiểm tra (và các hình thức khác) đối với các cơ quan nhà nước trong toàn bộ quá trình sử dụng quyền lực nhà nước mà nhân dân ủy thác. Không một ai, không một tổ chức nào trong bộ máy nhà nước có thể đứng ngoài hoặc đứng trên sự kiểm tra, giám sát đó của nhân dân. Về thực chất, đó là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

2- Quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc phân lập tam quyền minh bạch: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhằm đảm bảo tính hiệu quả của việc kiểm tra, giám sát quá trình thực thi quyền lực, hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền hoặc xâm hại đến những lợi ích hợp pháp của công dân từ phía các cơ quan nhà nước. Dĩ nhiên, giữa các nhánh quyền lực nhà nước phải luôn có sự phối hợp trên nguyên tắc lợi ích chung của cộng đồng dân tộc, quốc gia, giai cấp… Nhưng, một trong những điều quan trọng là sự phân lập và phối hợp ấy đảm bảo loại trừ được sự độc quyền quyền lực nhà nước của bất kỳ cá nhân, hoặc một nhánh quyền lực nào. Việc thực hiện quyền lực và chức năng của các nhánh quyền lực được tiến hành một cách công khai và minh bạch.

3- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó nguyên tắc pháp luật giữ địa vị tối cao được tuân thủ tuyệt đối. Pháp luật được xây dựng trên nền tảng các quyền thiêng liêng của con người, nhằm bảo vệ các quyền đó và luôn giữ địa vị tối cao trong toàn bộ đời sống xã hội. Tuy nhiên, đó phải là pháp luật có chất lượng tốt, phản ánh xu thế phát triển tiến bộ chung của xã hội, phù hợp với hiện thực khách quan, thể hiện đúng đắn ý chí của nhân dân và nhờ vậy, có tác dụng thúc đẩy tiến bộ xã hội.

4- Trong nhà nước pháp quyền, con người là giá trị cao quý nhất và là mục tiêu cao nhất. Do vậy, việc tôn trọng, đảm bảo trên thực tế các quyền con người và các giá trị xã hội, như công bằng, nhân đạo, dân chủ…, phải là định hướng căn bản trong tổ chức và hoạt động thực tiễn của nhà nước, khiến cho quan hệ giữa quyền lực nhà nước và nhân dân luôn được xử lý hợp lý, đúng đắn, không chỉ công dân phải chịu trách nhiệm trước nhà nước mà tất cả các cơ quan nhà nước và những người thực thi quyền lực nhà nước cũng phải chịu trách nhiệm về những hành vi của mình trước công dân.

Dân chủ ngày càng mở rộng là một trong những nội dung cơ bản của nhà nước pháp quyền; đặc biệt, với nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân thì nội dung đó càng phải trở thành nội dung căn bản và quan trọng hàng đầu. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là nội dung căn bản và là hình thức biểu hiện tập trung của dân chủ trong nhà nước pháp quyền. Không có một nhà nước pháp quyền thực sự thì cũng không thể có nền dân chủ thực sự và bền vững. Bởi, chỉ có thông qua nhà nước pháp quyền, nhân dân mới có thể cùng nhà nước tạo ra được những thiết chế, cơ chế xã hội thích ứng đảm bảo dân chủ và tự do trong xã hội. Đến lượt mình, dân chủ vừa là điều kiện, vừa là động lực thúc đẩy sự hình thành, phát triển và hoàn thiện của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Nhà nước pháp quyền là công cụ để một giai cấp, cộng đồng, dân tộc thực hiện và bảo vệ dân chủ. Dân chủ đòi hỏi phải có pháp luật tốt, phản ánh đúng xu thế phát triển xã hội, ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân và việc thực thi pháp luật luôn nghiêm minh, có hiệu quả; đồng thời, không ngừng củng cố và hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Nền dân chủ trong đời sống xã hội càng cao thì nhà nước pháp quyền càng được củng cố và hoàn thiện. Vì thế, không ngừng mở rộng dân chủ là nhiệm vụ cơ bản, thiết yếu của nhà nước pháp quyền.

Pháp luật là quy chế, công cụ hữu hiệu và quan trọng nhất để thực hiện dân chủ trong xã hội. Bất cứ một nền dân chủ nào cũng cần có pháp luật và dân chủ càng cao, càng được mở rộng thì pháp luật càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội. Quá trình dân chủ hóa cũng là quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, khiến cho pháp luật có chất lượng tốt hơn, đồng bộ, thống nhất, phản ánh đúng đắn hơn nguyện vọng của nhân dân, thể hiện đầy đủ, chính xác, kịp thời xu thế phát triển khách quan của xã hội, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xã hội. Đây chính là một trong những nội dung quan trọng trong nội hàm khái niệm nhà nước pháp quyền.

Như vậy, dân chủ là điều kiện và động lực để xây dựng nhà nước pháp quyền. Đồng thời, nhà nước pháp quyền lại là cơ sở quan trọng để thực hiện và mở rộng nền dân chủ. Sản phẩm cao của nền dân chủ là nhà nước pháp quyền. Do vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng có thể xây dựng nhà nước pháp quyền mà không cần thiết phải thực hiện dân chủ hóa xã hội. Cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn đều chứng tỏ rằng, cần phải thực hiện dân chủ hóa xã hội trước một bước để trên cơ sở đó, mới có thể xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền. Đồng thời, mỗi bước tiến trong việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền cũng là một cơ hội để mở rộng và phát triển nền dân chủ xã hội.

Dân chủ hóa xã hội là một nhu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội. Trong lịch sử đã tồn tại nhiều hình thức dân chủ khác nhau với những trình độ khác nhau. Trong thời đại ngày nay, dân chủ trở thành điều kiện, cơ hội để phát triển. Xã hội càng dân chủ càng tạo cơ hội cho sự phát triển đa chiều, đa hướng, làm phong phú thêm đời sống xã hội, làm nẩy nở, giải phóng và phát triển được năng lực mọi mặt của quốc gia, dân tộc, tạo nên sự hỗ trợ, bổ sung lành mạnh cho sự phồn thịnh và phát triển toàn diện của đất nước, xã hội.

Đối với những nước đang phát triển, chưa trải qua dân chủ tư sản như nước ta, muốn xây dựng thành công nhà nước pháp quyền càng cần phải thực hiện dân chủ hóa xã hội trước một bước, thậm chí phải học cách thực hiện dân chủ hóa xã hội. Việt Nam đang hướng đến mục tiêu xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do vậy càng cần phải học cách dân chủ hóa xã hội, thực hiện mở rộng dân chủ một cách kiên quyết, triệt để và nhất quán. Trong quá trình đó, cần có sự chọn lọc, kế thừa và phát triển những yếu tố hợp lý khách quan của nền dân chủ tư sản, của nhà nước pháp quyền tư sản với tính cách là những trình độ phát triển của nhân loại trong lịch sử.

Trong thời đại ngày nay, dân chủ còn là biện pháp quan trọng để hội nhập và phát triển, nhằm rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển. Thị trường và dân chủ là những “xa lộ” chính của văn minh nhân loại, nhưng con đường đi đến thị trường và dân chủ không đơn giản. Đến với thị trường đã khó, đến với dân chủ còn khó hơn. Dân chủ là một trong những đảm bảo cho xã hội phát triển nhanh, giàu có hơn, phong phú và đa dạng hơn; vì thế, hạn chế hoặc chậm mở rộng dân chủ là kìm hãm sự phát triển.

Quan niệm về dân chủ hay nói rộng hơn, tư duy về dân chủ cần được hiểu một cách biện chứng, đầy đủ và chính xác hơn, phản ánh được xu thế phát triển xã hội nhiều hơn. Hiện nay, không nên lo lắng rằng dân trí thấp nên không mở rộng dân chủ được. Không thể chỉ lo lắng rằng dân trí thấp mà cần phải và trước hết nên lo lắng rằng “quan trí” thấp. Bởi vì, trong quan hệ với dân trí thì “quan trí” quan trọng hơn, có tính chất quyết định hơn đến sự phát triển kinh tế, xã hội, đến việc xây dựng nhà nước pháp quyền và dân chủ hóa xã hội. Nếu “quan trí” cao chắc chắn hệ thống pháp luật và các văn bản dưới luật của nhà nước sẽ đồng bộ, thống nhất và hiệu quả hơn, không có những bất cập, phi lý và mâu thuẫn. Có thể dẫn ra hàng loạt thí dụ về những mâu thuẫn cả theo chiều dọc (giữa Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản dưới luật) lẫn chiều ngang (giữa các đạo luật hoặc giữa các văn bản dưới luật) trong hệ thống luật pháp của nước ta. Để khắc phục điều đó, việc nâng cao “quan trí” cũng như đảm bảo tính dân chủ trong xây dựng và thực thi pháp luật là rất quan trọng. Điều này có nghĩa là dân chủ và nhà nước pháp quyền ở nước ta không thể tách rời nhau. Nói xây dựng nhà nước pháp quyền, truớc hết phải nói đến dân chủ hóa xã hội.

Mặt khác, cũng không nên quá lo lắng rằng dân chủ hóa xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền (và cả việc tạo dựng xã hội dân sự) ở nước ta hiện nay sẽ dẫn đến tình trạng bất ổn định xã hội. Có thể sẽ có một số người lợi dụng dân chủ để gây rối loạn trật tự xã hội, nhưng bản thân dân chủ thì không thể làm rối loạn xã hội; trái lại, nó làm cho xã hội phát triển nhanh, phong phú, đa dạng và toàn diện hơn. Thực tiễn nhiều năm qua ở một số địa phương, đơn vị cho thấy, chính tình trạng mất dân chủ, vi phạm dân chủ mới là nguyên nhân dẫn đến sự không ổn định, mâu thuẫn và thậm chí, cả sự xung đột ở những nơi này.

Có thể khẳng định rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trở thành một đòi hỏi chung của xã hội ta hiện nay. Nhiều năm qua, ở nước ta, đã có những thay đổi lớn về dân chủ, thay đổi cả trong tư duy, trong cách nghĩ về dân chủ lẫn trong việc thực hiện dân chủ hóa xã hội. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường là một bước dân chủ hóa quan trọng, có tính cách mạng trong lĩnh vực kinh tế của đất nước. Điều đó đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, đa dạng, phong phú, có tốc độ tăng trưởng khá nhanh và liên tục, tạo cơ sở cho việc tiếp tục dân chủ hoá xã hội trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Bởi vậy, đất nước đã có sự phát triển khá toàn diện, sức sản xuất của xã hội và tiềm năng sáng tạo của nhân dân bước đầu được giải phóng, xã hội phát triển cởi mở hơn, thông thoáng và năng động hơn.

Sự yếu kém, hạn chế trong việc mở rộng dân chủ hiện đang đẻ ra hàng loạt những hiện tượng tiêu cực xã hội, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của những giải pháp mà Nhà nước sử dụng để xoá bỏ những tiêu cực ấy, để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội. Tham nhũng là một thí dụ điển hình. Trong một xã hội mà dân chủ càng cao, nhân dân thực sự được tham gia vào công tác quản lý nhà nước theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, mọi sự đều công khai và minh bạch… thì tham nhũng sẽ không có cơ hội để nẩy nở, sẽ bị ngăn chặn. Dân chủ có được mở rộng thì các biện pháp chống tham nhũng mới có thể phát huy hiệu lực. Nói cách khác, dân chủ hoá xã hội đồng thời là quá trình nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước. Yêu cầu có tính nguyên tắc mà Đảng ta vạch ra là, “Phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên truyền, giáo dục toàn dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật”(4).

Tóm lại, cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, nhà nước pháp quyền nói chung, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nói riêng đều phải dựa trên nền tảng dân chủ xã hội. Dân chủ là điều kiện, tiền đề và cũng là một nội dung trong nội hàm của khái niệm nhà nước pháp quyền. Chính vì lẽ đó, để xây dựng nhà nước pháp quyền, cần phải mở rộng nền dân chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa lại càng cần mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ hóa xã hội là điều kiện tiên quyết để xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, là động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội hiện đại. Đối với nước ta, dân chủ hoá xã hội còn là biện pháp quan trọng để đẩy nhanh sự phát triển của đất nước, rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với thế giới.

Vai Trò Của Nhà Nước Đối Với Việc Thực Hiện Công Bằng Xã Hội Trong Điều Kiện Kinh Tế Thị Trường Ở Nước Ta Hiện Nay

Tác giả: TS. Võ Thị Hòa

Số trang: 292 trang

Giá tiền: 49.000đ

Công bằng xã hội là khát vọng và là mục tiêu đấu tranh của con người. Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội là nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và là mục tiêu, động lực của công cuộc đổi mới đất nước. Sự lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng và dân tộc ta càng khẳng định vai trò to lớn của công bằng xã hội đối với sự nghiệp phát triển đất nước.

Nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý và bạn đọc có tài liệu tìm hiểu về những vấn đề trên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật xuất bản cuốn sách Vai trò của nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay.

Nội dung cuốn sách phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với Nhà nước; từ đó đề xuất những giải pháp có tính định hướng nhằm nâng cao vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.

Để nâng cao hơn nữa vai trò của Nhà nước đối với việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tác giả cuốn sách cho rằng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về phát triển kinh tế; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện công bằng xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh và hiệu quả đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; kết hợp chặt chẽ việc xây dựng, hoàn thiện và thực hiện hệ thống chính sách kinh tế và chính sách xã hội đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; nâng cao vai trò lãnh đạo cảu Đảng đối với Nhà nước trong việc thực hiện công bằng xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức kinh tế, xã hội tham gia giám sát và cùng Nhà nước thực hiện công bằng xã hội.

Bạn đang xem bài viết Thực Trạng Về Thực Hiện Dân Chủ Cơ Sở Ở Cơ Quan Hành Chính Nhà Nước Và Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập Của Nước Ta Hiện Nay (Qua Số Liệu Điều Tra Xã Hội Học) trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!