Xem Nhiều 8/2022 # Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự # Top Trend | Theindochinaproject.com

Xem Nhiều 8/2022 # Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự # Top Trend

Xem 7,524

Cập nhật thông tin chi tiết về Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự mới nhất ngày 10/08/2022 trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 7,524 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định Nào Của Tòa Án Không Thể Bị Kháng Cáo, Kháng Nghị?
  • Đề Thi Môn Luật Tố Tụng Dân Sự Thầy Huỳnh Quang Thuận
  • Góp Ý Cho Dự Thảo Blttds Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời
  • Bản Án Bị Hủy Thì Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Có Hủy Không?
  • Người Có Quyền Kháng Cáo, Kháng Nghị Theo Thủ Tục Phúc Thẩm Dân Sự
  • Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

    Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

    Chế định biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những chế định pháp lý có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự. Chế định pháp lý này ghi nhận về biện pháp tố tụng tương đối đặc biệt, được Tòa án sử dụng kết hợp với các biện pháp tố tụng khác như chứng minh, hòa giải… nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự. Để tìm hiểu quy định của pháp luật về quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT em xin lựa chọn đề tài:”Phân tích các quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thực hiện.”

    NỘI DUNG

    Trong quá trình tò tòa án giải quyết vụ việc dân sự thì đôi khi tòa án phải quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp cần thiết để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc để bảo đảm thi hành án. Các biện pháp này được gọi là Biện pháp khẩn cấp tạm thời: ” Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp mà tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc bảo đảm việc thi hành án”

    Với mục đích là để giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo toàn tình trạng tài sản, bảo vệ bằng chứng hoặc để bảo đảm việc bảo vệ kịp thời cac quyền và lợi ích hợp pháp và nhu cầu cấp bách của đương sự, tạo điều kiện cho đương sự sớm ổn định được cuộc sống cũng như những người sống phụ thuộc vào họ.

    Thực tế vì những xung đột lợi ích nên có những vụ việc đương sự đã tẩu tán tài sản, hủy hại chứng cứ… nhằm gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, việc áp dụng BPKCTT sẽ nhằm ngăn chặn các hành vi nêu trên, bảo vệ chứng cứ, giữ nguyên được giá trị chứng minh của chứng cứ, giúp cho việc giải quyết vụ việc dân sự được chính xác, bảo vệ quyền lợi của đương sự. Mặt khác qua đó còn bảo đảm được tình trạng tài sản, tránh việc gây thiệt hại không thể khắc phục được, giữ được tài sản bảo đảm cho việc thi hành án sau này. Ngoài ra, áp dụng BPKCTT còn góp phần bảo đảm an toàn, trật tự xã hội.

    Theo quy định tại Điều 102 BLTTDS thì có 12 BPKCTT được áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự đó là: Giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục (Điều 103 BLTTDS); Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 104); Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm (Điều 112); Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi giữ và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án (Điều 113); Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được áp dụng nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án (Điều 114). Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định (Điều 115) và các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà pháp luật có quy định.

    Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 99 BLTTDS thì ngoài được khởi kiện trong quá trình giải quyết vụ án còn được nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra, cá nhân, cơ quan tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng ngay BPKCTT vào cùng thời điểm nộp đơn khởi kiện (trước khi tòa án thụ lý vụ án). Đây chính là điểm tiến bộ và cũng là điểm mới của BLTTDS năm 2004 so với quy định PLTTGQVADS năm 1989 trước đây.

    -Thủ tục áp dụng BPKCTT trong trường hợp phải có đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT:

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 117 BLTTDS thì người yêu cầu áp dụng BPKCTT phải gửi đơn đến tòa án có thẩm quyền. Nội dung của đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT phải có các nội dung chính quy định tại khoản 1 Điều 117 và kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu còn phải cung cấp chứng cứ, tài liệu chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng BPKCTT đó. Ta thấy, chính quy định này đã hạn chế được tình trạng đưa ra yêu cầu không có căn cứ và giúp Tòa án có cơ sở đầy đủ để ra quyết định áp dụng BPKCTT một cách nhanh chóng nhằm đạt được hiệu quả cao khi ra quyết định áp dụng BPKCTT.

    Trong trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án (kể từ thời điểm Toà án thụ lý vụ án). Theo quy định tại khoản 2 Điều 117 BLTDS và Mục 5 Nghị quyết 02/ 2005 hướng dẫn khoản 2 Điều 117 BLTTDS thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải xem xét, giải quyết. Thẩm phán phải xem xét người yêu cầu có thuộc một trong các đối tượng được quy định tại khoản 1 Điều 99 BLTTDS hay không. Nếu không đúng đối tượng hoặc không đúng lý do yêu cầu, thì Thẩm phán trả lại đơn yêu cầu cho họ. Nếu đúng đối tượng, đúng lý do yêu cầu, thì Thẩm phán tiếp tục xem xét, giải quyết.

    Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày nhận đơn yêu cầu:

    + Nếu người yêu cầu không phải thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc ngay sau khi người đó thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 120 của BLTTDS Thẩm phán phải ra ngay quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

    + Trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người yêu cầu biết.

    Trong trường hợp yêu cầu áp dụng BPKCTT được thực hiện cùng với đơn khởi kiện. Theo quy định của khoản 2 Điều 99 thì trong một số trường hợp chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT có thể nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đồng thời với đơn khởi kiện như do tình thế khẩn cấp, tức là cần phải giải quyết ngay, không chậm trễ; cần phải bảo vệ ngay bằng chứng trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.

    Đối với các trường hợp này thì theo quy định tại khoản 3 Điều 117 BLTTDS và 6 Nghị quyết 02/2005 hướng dẫn khoản 3 Điều 117 BLTTDS thì đối với yêu cầu áp dụng BPKCTT nộp cùng đơn khởi kiện thì sau khi nhận được đơn yêu cầu cùng với đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo Chánh án Tòa án chỉ định một thẩm phán thủ lý giải quyết đơn yêu cầu. Trong thời hạn 48 giờ kể từ thời điểm nhận được đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và chứng cứ kèm theo để xác định đơn khởi kiện có thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Toà án mà họ yêu cầu áp dụng BPKCTT hay không:

    + Nếu thuộc thẩm quyền thì tiếp tục xem xét giải quyết đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT thì thủ tục được thực hiện tương tự như đối với trường hợp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT trong quá trình giải quyết vụ án (hướng dẫn tại các tiểu mục 5.2, 5.3 và 5.4 mục 5 Nghị quyết 02/2005). Trong trường hợp tòa án ra quyết định áp dụng BPKCTT là phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, phong tỏa tài khoản phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ thì tài khoản, tài sản được phong tỏa phải có giá trị tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng BPKCTT có nghĩa vụ phải thực hiện. Trường hợp thẩm phán không chấp nhận yêu cầu áp dụng BPKCTT thì phải thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết và trong đó có nêu rõ lý do của việc không chấp thuận .

    + Nếu không thuộc thẩm quyền thì trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT và các chứng cứ kèm theo cho họ.

    Theo quy định tại khoản 3 Điều 99 và Mục 3 Nghị quyết 02/2005 hướng dẫn khoản 3 Điều 99 BLTTDS và Điều 119 BLTTDS thì: Toà án tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 102 BLTTDS trong trường hợp đương sự không có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Do vậy, khác với trường hợp áp dụng BPKCTT khi có đơn yêu cầu thì trường hợp này không có bước nhận đơn cũng như xem xét yêu cầu.

    Trong quá trình xem xét giải quyết thì Tòa án phải lưu ý không được tự mình áp dụng BPKCTT không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 119 BLTTDS; không áp dụng các BPKCTT vượt quá yêu cầu cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Nếu thực hiện không đúng quy định này mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng BPKCTT hoặc người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường (khoản 2 Điều 101 BLTTDS).

    Trong trường hợp người yêu cầu có đơn xin thay đổi BPKCTT mà việc thay đổi đó không có lợi cho người bị áp dụng thì Tòa án yêu cầu họ phải trình bày rõ trong đơn lý do xin thay đổi hoặ áp dụng bổ sung BPKCTT khác và cũng phải cung cấp tài liệu cần thiết chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng.

    Trong trường hợp hủy bỏ BPKCTT, Tòa án phải xem xét, quyết định để người yêu cầu áp dụng BPKCTT nhận lại khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá khi thực hiện biện pháp bảo đảm và khi áp dụng quy định quy định tại Điều 120, trừ trường hợp: Người yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Trong trường hợp yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba thì phải bồi thường (khoản 1 Điều 101 BLTTDS)

    Theo quy định tại Điều 124 BLTTDS thì đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT hoặc việc thẩm phán không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT.

    Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 125 BLTTDS và Mục 11 Nghị quyết 02/2005 hướng dẫn 125 BLTTDS thì trong trường hợp có khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án Tòa án phải xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị trước khi mở phiên tòa trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án là quyết định cuối cùng và phải được cấp hoặc gửi ngay theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLTTDS.

    Theo quy định tại khoản 3 Điều 125 BLTTDS và Mục 12 Nghị định 02/2005 thì trong trường hợp tại phiên tòa thì việc giải quyết khiếu nại, kiến nghị thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử. Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Hội đồng xét xử là quyết định cuối cùng.

    + Nếu tại phiên toà đương sự, Viện kiểm sát có yêu cầu giải quyết khiếu nại, kiến nghị đó, thì Hội đồng xét xử không chấp nhận và giải thích cho đương sự biết là họ có quyền yêu cầu Hội đồng xét xử thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT; huỷ bỏ BPKCTT đã được áp dụng hoặc ra quyết định áp dụng BPKCTT.

    + Nếu không chấp nhận khiếu nại, kiến nghị thì không phải ra quyết định bằng văn bản nhưng phải thông báo công khai tại phiên tòa việc không chấp nhận khiếu nại, kháng cáo và nêu rõ lý do và phải ghi vào biên bản phiên tòa. Nếu chấp nhận khiếu nại, kháng cáo thì phải ra quyết định bằng văn bản. Tóa án phải cấp hoặc gửi quyết định này theo quy định tại khoản 2 Điều 123 BLTTDS.

    Theo quy định tại Điều 101 BLTTDS nếu việc áp dụng BPKCTT không đúng làm ảnh hưởng đến quyền lợi, lợi ích của người bị áp dụng thì trách nhiệm sẽ thuộc về chính người có yêu cầu áp dụng BPKCTT. Cụ thể:

    – Trường hợp người có yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc cho người thứ ba thì họ phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền yêu cầu đó (khoản 1 Điều 101 BLTTDS).

    – Trường hợp Tòa án tự mình ra quyết định áp dụng BPKCTT không đúng mà gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì Tòa án phải bồi thường trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 101 BLTTDS và Mục 4 Nghị quyết 02/2005: Toà án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức (Tòa án chỉ bổi thường phần vượt quá).

    Việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT ở tòa án Phúc thẩm được quy định tại Điều 261 BLTTDS: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm có quyền quyết định áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Chương VIII của Bộ luật này”. Về cơ bản các quy định tại chương VIII BLTTDS là những quy định nhằm áp dụng cho giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Do đó trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nếu có yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT thì việc xem xét, giải quyết được thực hiện theo quy định tại các điều tương ứng của chương VIII BLTTDS về các biện pháp khẩn cấp tạm thời và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/2005 của HĐTP – TANDTC như trình bày ở trên.

    Trong trường hợp đương sự kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm mà trong đơn kháng cáo hoặc kèm theo đơn kháng cáo, đương sự khiếu nại quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ BPKCTT của tòa án sơ thẩm thì tòa án phúc thẩm thông báo ngay cho người yêu cầu là tòa án phúc thẩm không có quyền giải quyết khiếu nại và giải thích cho họ có quyền yêu cầu tòa án phúc thẩm thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT, hủy bỏ BPKCTT đã được áp dụng hoặc ra quyết định áp dụng BPKCTT theo quy định chung của BLTTDS và hướng dẫn trong Nghị quyết 02/2005.

    KẾT LUẬN

    Qua tìm hiểu các quy định của pháp luật về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời ở tòa án sơ thẩm, phúc thẩm và thực tiễn thự hiện.Chúng ta thấy rằng, mặc dù BLTTDS sửa đổi, bổ sung 2011 quy định khá cụ thể và được hướng dẫn trong Nghị định 02/2005, tuy nhiên thực tế khi áp dụng vẫn còn gặp một số vướng mắc như phần bài làm phía trên em đã trình bày.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Đối Với Tài Sản Đang Tranh Chấp
  • Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Thuộc Lĩnh Vực Hải Quan
  • Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Hành Chính Là Gì ?
  • Chấn Chỉnh Những Sai Sót Trong Việc Áp Dụng Các Quy Định Về Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự
  • ++Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Tố Tụng Dân Sự 2022
  • Bạn đang xem bài viết Tiểu Luận Luật Tố Tụng Dân Sự trên website Theindochinaproject.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100