Biện Pháp Tu Từ So Sánh Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Đường Giao Thông Nông Thôn Quảng Bình
  • Các Biện Pháp Thi Công Tầng Hầm Nhà Phố
  • Các Giải Pháp Thi Công Tầng Hầm Nhà Phố Phổ Biến Và Hiệu Quả Nhất Kn12107
  • Thi Công Đào Đất Tầng Hầm Chuyên Nghiệp
  • Nói đến ngôn ngữ là nói đến công cụ dùng để giao tiếp trong cuộc sống. Có ngôn ngữ thì mới có quan hệ xã hội và quan hệ xã hội chính là nơi để phát triển ngôn ngữ. Xuất phát từ đó môn Tiếng Việt, môn học có vị trí nhiệm vụ rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ giao tiếp, là thứ ngôn ngữ dùng trong giao tiếp chính thức của cộng đồng các dân tộc trên đất nước Việt Nam. Ngoài các phân môn khác của tiếng Việt, phân môn tập đọc ra đời với mục tiêu góp phần hình thành nhân cách, đem lại những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh cho tâm hồn học sinh. Qua đó tích luỹ vốn văn học, mở rộng vốn sống cho trẻ em và rèn luyện, phát triển kỹ năng nói và hiểu một cách có nghệ thuật, góp phần khêu gợi tư duy hình tượng của trẻ.

    Đối với học sinh tiểu học là giai đoạn hình thành và phát triển nhận thức và nhân cách sống. Vì thế yêu cầu của môn tiếng Việt hết sức quan trọng, trong đó phân môn tập đọc đóng vai trò chủ chốt nên giáo viên cần chú ý quan tâm, ngoài việc rèn luyện các kỹ năng cơ bản như nghe, đọc, nói, viết thì cần chú trọng vào việc cảm thụ biện pháp nghệ thuật của tác phẩm để làm phong phú vốn từ ngữ trong tâm hồn và khơi dậy tình yêu Tiếng Việt một cách bền vững.

    Biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong các bài tập đọc ở tiểu học, hay nói cách khác xuất hiện trong văn bản tập đọc với một mục tiêu rất lớn đó là cung cấp cho học sinh những giá trị đạo đức, nhân văn mà tác giả muốn gửi đến và qua đó biện pháp nghệ thuật tô điểm thêm cho vẻ đẹp của văn bản làm cho học sinh thêm phần cuốn hút khi tiếp xúc với nội dung văn bản. Ngoài ra biện pháp nghệ thuật còn phát huy trí tưởng tưởng cho học sinh, trau dồi khả năng tư duy và củng cố năng lực diễn đạt khi giao tiếp.

    Vậy biện pháp nghệ thuật là những biện pháp nào mà lại có tác dụng lớn trong văn bản tập đọc ở tiểu học như thế? biện pháp nghệ thuật bao gồm các các biện pháp như ẩn dụ, nhân hoá, so sánh tu từ,… nó được các tác giả sử dụng như những công cụ đắc lực trong việc thành công nội dung văn bản.

    Một trong những biện pháp nghệ thuật quan trọng có trong các văn bản tập đọc là biện pháp tu từ so sánh. Biện pháp so sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều sự vật với nhau nhằm tăng sức gợi hình gợi cảm cho câu hay hàm ý muốn diễn đạt. So sánh tu từ được sử dụng một cách rộng rãi trong các văn bản tập đọc ở tiểu học giúp cho học sinh dễ cảm thụ giá trị của nội dung diễn đạt của tác giả hơn. Đây cũng là nội dung của đề tài mà tôi đang nghiên cứu về so sánh tu từ trong các văn bản tập đọc ở tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • A. Phần Tiếng Việt: Các Kiểu Câu, Biện Pháp Tu Từ I. Các Kiểu Câu 1. Câu Rút Gọn A) Thế Nào Là Câu Rút Gọn? B) Nêu Tác Dụng Của Câu Rút Gọn: C) Khi Rút Gọn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Phương Pháp Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Dạy Ngữ Văn 7
  • Chuyên Đề 1: Các Biện Pháp Tu Từ So Sánh, Nhân Hoá, Ẩn Dụ
  • Củng Cố, Mở Rộng Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ
  • Sau Phá Thai, Nên Chọn Cách Tránh Thai Nào?
  • Các Biện Pháp Tu Từ Và Ví Dụ Về Bài Tập Biện Pháp Tu Từ Dễ Hiểu

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhân Hóa Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Biện Pháp Tu Từ Nhân Hóa
  • Biện Pháp So Sánh Là Gì? Cách Đặt Câu Có Biện Pháp So Sánh
  • Thành Thạo Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Liệt Kê Là Gì ? Các Kiểu Liệt Kê Và Cho Ví Dụ Dễ Hiểu
  • Biện Pháp Liệt Kê Là Gì?
  • Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo cách đặc biệt ở một đơn vị ngôn ngữ ( về từ, câu , văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người đọc về một hình ảnh, một cảm xúc hay một câu chuyện.

    Mục đích: Sử dụng biện pháp tu từ sẽ tăng giá trị biểu đạt và biểu cảm

    Bên cạnh việc nắm được định nghĩa của các biện pháp tu từ là gì, bạn cũng cần ghi nhớ vai trò của các biện pháp tu từ trong các văn bản nghệ thuật. Hầu hết trong những văn bản nghệ thuật người ta thường xuyên kết hợp các biện pháp tu từ cùng một lúc để gia tăng sự sinh động cũng như khiến đọc giả suy ngẫm kĩ về tác phẩm đó. Bài viết này rất phù hợp với các sĩ tử của kì thi THPTQG năm 2022. Bắt đầu sớm là một lợi thế. Hãy đọc bài viết này để nhớ lại một phần kiến thức tưởng chừng đơn giản nhưng lại vô cùng cần thiết và quan trọng.

    Các biện pháp tu từ

    1. So sánh

    Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    Cấu tạo: mô hình cấu tạo đầy đủ của một phép so sánh gồm:

    Vế A: nêu tên sự vật, sự việc được so sánh.

    Vế B: nêu tên sự vật, sự việc được dùng để so sánh với sự vật, sự việc nói ở vế A.

    Từ ngữ chỉ phương diện so sánh.

    Từ ngữ chỉ ý so sánh ( gọi tắt là từ so sánh).

    Trong thực tế, mô hình cấu tạo nói trên có thể thay đổi ít nhiều:

    Các từ ngữ chỉ phương diện so sánh và chỉ ý so sánh có thể được lược bớt.

    Các kiểu so sánh:

    Ví dụ: Mẹ là ngọn gió của con suốt đời.

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con.

    2. Nhân hóa

    Ví dụ về một đoạn văn sử dụng biện pháp nhân hóa

    Hè năm nào tôi cũng về nhà nội chơi, sau nhà có vườn cây do chính tay ông tôi trồng và chăm sóc. Trong vườn, gia đình nhà chuối tiêu chen chúc, tựa sát vào nhau trông thật thân thiết . Mấy cây bưởi già thưa thớt lá, sai trĩu những quả xanh ngắt, giống bưởi này ngon lắm, đây là thứ cây mà ông tôi tâm đắc nhất. Phía góc vườn là cây măng cụt rậm rạp, cao hơn hẳn những cây khác, ông tôi thường gọi nó là anh cả của cả vườn, nghe ông kể, anh măng cụt này cũng kiêu ngạo lắm , ông tôi phải vất vả chăm sóc suốt năm trời mới được đón lứa quả đầu tiên. Ngự trị giữa vườn là chị xoài , tán cây rộng lớn như những cánh tay treo đầy trái xoài mập mạp. Tôi thích khu vườn này lắm, một phần vì có nhiều thứ quả ngon, một phần vì nó chứa đựng biết bao tâm huyết của ông nội tôi.

    + Chuối tiêu – chen chúc, tựa sát

    + Măng cụt – kiêu ngạo

    + Trái xoài – mập mạp

    3. Ẩn dụ

    b/ Có bốn kiểu ẩn dụ thường gặp:

    + Ẩn dụ hình thức – tương đồng về hình thức

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông”

    + Ẩn dụ cách thức – tương đồng về cách thức

    “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    “Về thăm quê Bác làng Sen,

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng”

    + Ẩn dụ phẩm chất – tương đồng về phẩm chất

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”

    “Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai”

    “Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” Ở đây hoa lựu màu đỏ như lửa, bởi vậy lửa ( A) được dùng làm ẩn dụ chỉ hoa lựu (B) Hoán dụ dựa vào sự liên tưởng tương cận ( gẫn gũi ) giữa các đối tượng. Mối quan hệ giữa tên mới (A) và tên cũ (B) là mối quan hệ gần kề Ví dụ : Đầu xanh có tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi” Đầu xanh : là bộ phận cơ thể người ( gần kề với người) , được lấy làm hoán dụ chỉ người còn trẻ ( ví dụ tương tự : đầu bạc- người già) Má hồng: chỉ người con gái đẹp Như vậy , các em có thể hiểu nôm na là : Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau: – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng

    – Điệp ngữ có nhiều dạng:

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

    + Điệp vòng tròn:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?” [Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm]

    7. Nói giảm nói tránh

    Nói giảm nói tránh là biện pháp tu từ dùng cách biểu đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá buồn đau, ghê sợ, nặng nề, tránh thô tục, thiếu văn hóa. Nói giảm là phương tiện tu từ làm nhẹ đi, yếu đi một đặc trưng nào đó được nói đến mà người nghe vẫn hiểu được nội dung nhưng không gây ra cảm giác nặng nề, tiêu cực. Còn nói tránh là sự biểu đạt bằng một hình tượng khác, một phương thức khác, hoặc đề cập một đối tượng khác, tức là không đề cập trực tiếp đến yếu tố muốn nói, để không gây một sự bất ngờ tiêu cực hoặc tạo sự xúc phạm đến người nghe. Chẳng hạn, khi chê trách một điều gì, để người nghe dễ tiếp nhận, ta thường nói giảm nói tránh bằng cách phủ định điều ngược lại với nội dung đánh giá. Trong thực tế có nhiều thí dụ: Bạn đến chơi nhà đã quá lâu, chủ nhà rất phiền, vì còn bận việc khác thì có thể nói: “Cũng đã trưa lắm rồi, mời anh vào phòng nằm nghỉ”, hoặc “Hôm nay gặp chị rất vui, nhưng em lỡ có hẹn lúc 3 giờ chiều nay, hay là chị vào phòng em nghỉ để em đi một chút về chị em ta nói chuyện tiếp?”… Cách nói giảm nói tránh đó sẽ được người nghe hiểu rằng chủ nhà đang bận hoặc muốn kết thúc câu chuyện nhưng không gây phật ý người nghe.

    8. Chơi chữ

    Chơi chữ là BPTT lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ ngữ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước,…. làm câu văn hấp dẫn và thú vị.

    “Bà già đi chợ cầu đông

    Xem một que bói lấy chồng lợi chăng

    Thầy bói gieo quẻ nói rằng:

    Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn”

    – Các lối chơi chữ thường gặp:

    + Dùng từ ngữ đồng âm

    + Dùng lối nói trại âm (gần âm)

    + Dùng cách điệp âm

    + Dùng lối nói lái.

    + Dùng từ ngữ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    9. Liệt kê

    Theo SGK liệt kê là sắp xếp, nối tiếp nhau các từ hoặc cụm từ cùng loại với nhau nhằm diễn tả các khía cạnh hoặc tư tưởng, tình cảm được đầy đủ, rõ ràng, sâu sắc hơn đến với người đọc, người nghe.

    Như vậy, phép liệt kê có thể thấy trong nhiều văn bản khác nhau. Để nhận biết có phép liệt kê được sử dụng có thể thấy trong bài viết có nhiều từ hoặc cụm từ giống nhau, liên tiếp nhau và thông thường cách nhau bằng dấu phẩy “,” hoặc dấu chấm phẩy “;”.

    1. Các kiểu liệt kê

    – Dựa vào cấu tạo chia ra thành:

    + Liệt kê theo từng cặp.

    + Liệt kê không theo từng cặp.

    – Dựa vào ý nghĩa chia ra thành:

    + Liệt kê tăng tiến

    + Liệt kê không theo tăng tiến.

    – Ví dụ về liệt kê theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan với hoa cúc, hoa mai với hoa đào, hoa hồng và hoa ly.

    Cũng với ví dụ trên ta sẽ liệt kê không theo từng cặp:

    Khu vườn nhà em trồng rất nhiều loài hoa đẹp nào là hoa lan, hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa hồng, hoa ly.

    Dựa theo cấu tạo có thể tìm ra phép liệt kê đang sử dụng, rất dễ dàng.

    – Ví dụ về liệt kê tăng tiến

    Gia đình em gồm có nhiều thành viên gắn bó với nhau gồm có em gái, em, anh trai, bố, mẹ và ông bà.

    Đây là phép liệt kê tăng tiến, thứ tự trong phép liệt không thể đảo lộn.

    Trên con đường trung tâm có rất nhiều loại phương tiện khác nhau như xe ô tô, xe đạp, xe tải, xe cứu thương đang chạy ngược xuôi.

    Trong ví dụ các thứ tự các loại xe có thể thay đổi mà không làm thay đổi ý nghĩa câu.

    10. Tương phản

    Nghệ thuật tương phản đối lập là tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật ý tưởng, một bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác giả

    + Tố cáo sự vô trách nhiệm, tham lam khốn nạn của bọn quan lại – những kẻ được xem là cha mẹ của nhân dân

    + Cảnh khốn cùng, tuyệt vọng của người dân trước cơn thịnh nộ của thiên nhiên khi chống chọi với bão lũ

    Ví dụ cụ thể về đoạn văn kết hợp những biện pháp tu từ

    1. Giờ ra chơi, trường ồn như vỡ chợ. Vài nhóm nữ sinh tụ tập dưới tán lá mát rượi của cụ bàng; từng cặp từng cặp bạn nam chơi đá cầu với nhau, trên vai ai nấy đều ướt đẫm ánh nắng; một đám học sinh khác lại ùa đến căn-tin ăn quà vặt;… Cảnh vui tươi, nhộn nhịp đó khó có người học trò nào quên được. Bởi sau mỗi giờ ra chơi lại khiến chúng tôi thấy tinh thần sáng khoái hơn, tràn trề sức lực để học tập tốt hơn. *lại: phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự. *ồn như vỡ chợ: so sánh *cụ bàng: nhân hóa kiểu dùng những từ vốn dùng để gọi người để gọi sự vật. *ướt đẫm ánh nắng: ẩn dụ chuyển đổi cảm giác. (thị giac – xúc giác) *trường: hoán dụ kiểu lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.
    2. Chú gà trống làm việc rất cần mẫn và đúng giờ. Chính vì thế, chú được coi là chiếc đồng hồ báo thức. Cả nhà em đều yêu quí chú.

      + gà trống – oai vệ : nhán hóa Ò ó o…o…” Tiếng gáy to vang vọng của chú gà trống nhà em đấy. Chú đánh thức mọi người dậy – một ngày mới bắt đầu. Chú gà trống trông thật oai vệ. Thân hình cường tráng như võ sĩ trên lễ đài. Chú khoác trên mình tấm áo lông sặc sỡ, nhiều màu, bóng mượt như bôi mỡ. Lông cườm ở cổ đỏ tía. Đầu chú tròn bằng nắm tay, trên đội một chiếc vương miện đỏ chót. Mỏ hơi khoằm xuống, cứng như thép. Mắt tròn long lanh như nước. Đôi cánh cứng cáp như hai mảnh vỏ trai úp lại. Hai chân vàng bóng, bới đất tìm giun rất tài. Mỗi chân chú có một cái cựa dài nhọn hoắt chìa ra. Chùm lông đuôi vồng cong như cầu vồng bẩy sắc. Chú gà trống thật đẹp mã. Hằng ngày vào sáng sớm tinh mơ, chú từ chuồng nhảy ra, phóng lên cành bưởi đứng gáy. Chú vươn cái cổ đủ màu sắc và xoà cánh ra vỗ phành phạch rồi chú gáy một tràng dài, vang xa làm các con vật phải im lặng. Nghe tiếng gáy của chú, cây cối tưng bừng xoè lá đón ánh nắng mặt trời. Chim ca lích rích trong vòm lá. Sau nhiệm vụ báo thức của mình, chú ta nhảy xuống chạy đi kiếm mồi. Chú đến bên sân mổ lia lịa những hạt thóc mà bà tung ra.

      + cứng như thép : so sánh + ….

    3. Cũng giống như những con sông khác, con sông quê em cũng uốn lượn như một con rồng. Nó mang hương vị mặn mòi của vùng quê em, vùng quê có di tích lịch sử (đền thờTiên La), vùng quê địa linh nhân kiệt. Chính cài hương vị ấy đã gắn bó với em đến từng thớ thịt. Tuy con sông không rộng lắm nhưng nó rất dài. Buổi sáng khi ông mặt trời nhô lên thì dòng sông mặc chiếc áo lụa đào tha thướt, trưa về chiếc áo lụa đào ấy được thay bằng chiếc áo xanh biếc mới may, chiều về chiếc áo lại được dát vàng long lanh. đêm đến, sông mặc chiếc áo đen cài một vầng trăng vào giữa ngực và những ngôi sao được gắn vào dải áo như những dải kim cương. Nước sông như dòng sữa ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng, dòng nước mát luôn dang tay đón chúng em tắm mát, bơi lội nô đùa trong những ngày hè oi bức. Con sông đã trở thành một phần máu thịt của quê hương em. Con sông đã chứng kiến bao kỷ niệm đẹp của tuổi thơ chúng em. Rồi mai ngày em sẽ lớn khôn, nhưng rồi có đi đâu xa chân trời góc biển em vẫn nhớ về quê em, những kỉ niệm với dòng sông sẽ vẫn còn mãi trong em.+ Nước sống như dòng sữa ngọt : So sánh

      + uốn lượn như một on rồng : so sánh + Sông – máu thịt của quê hương : nhân hóa

    4. Nhà tôi ở một làng chài ven biển. Chiều hè, tôi thường ra đây hóng mát. Tôi ngước nhìn lên trời và bỗng reo lên: “Biển trên trời!” Tôi ngắm nhìn biển không chớp mắt, thích thú: Đẹp quá đi! đẹp quá đi! Bầu trời cao, xanh vời vợi tựa như mặt biển xanh hiền hoà. Những đám mây đuổi nhau, xô đẩy chẳng khác gì những con sóng lớn, xô mạnh vào bờ làm bọt biển văng tung toé. Gió cùng biển thổi rì rào tạo nên một bản nhạc không lời. Xa xa, những đàn chim hải âu bay dập dờn chẳng khác gì những cánh buồm trắng xoá trôi lửng lờ. Tôi như nghe thấy từ trên trời cao tiếng hót véo vón của những chú chim, tiếng xao động của lá cây, tiếng dạt dào của sóng biển. Tất cả như hoà cùng màu xanh dịu êm của biển. Một màu xanh bát ngát có lẽ chỉ có ở trời cao làm cho chị nắng như vẫn còn ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kì diệu đó! Cây cối cũng phải ghen tị, ước ao có được màu sắc đó! Mọi người vẫn thả lưới, giăng buồm ra khơi. Riêng tôi vẫn ngồi đây trầm ngâm với những bác dừa xanh mát cả một vùng để ngắm nhìn biển, thèm khát được chơi với biển, cưỡi lên những con sóng mạnh xô vào bờ. Những cánh diều no gió của đám trẻ làng chài thi nhau bay cao vút như chắp cách cho ước mơ của trẻ thơ bay cao, bay xa hơn nữa!. Những hòn đảo nhấp nhô tựa những cung điện dưới thuỷ cung bao la, bát ngát. Những đàn cá lội tung tăng, vẩy nước tung toé. Tôi nhìn biển mà tự hỏi: “Biển đẹp đến thể mà sao còn thua cả sắc trời?”.Hôm đó, một kỉ niệm ngọt ngào nhất mà tôi đã từng có, giờ đây vẫn còn in dấu theo thời gian. Nhìn biển đẹp đến thế, tôi mới cảm nhận được hết vẻ đẹp kì thú của thiên nhiên! Biển chính là người mẹ thứ hai của tôi!… Biện pháp nghệ thuật: so sánh, nhân hóa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Tu Từ Là Gì? Tất Cả Những Kiến Thức Về Câu Hỏi Tu Từ
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • Nghe Tiếng Giã Gạo: Gạo Đem Vào Giã Bao Đau Đớn / Gạo Giã Xong Rồi Trắng Tựa Bông / Sống Ở Trên Đời Người Cũng Vậy / Gian Nan Rèn Luyện Mới Thành Công (Hồ Chí Minh
  • Phân Tích Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Bài Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…
  • Đề Thi Về Bài Ca Dao: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà
  • Phân Tích Bài Ca Dao Sau: Anh Đi Anh Nhớ Quê Nhà…nhớ Ai Tát Nước Bên Đường Hôm Nao.
  • Bài 9: Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng

    Bài 10: Luyện tập trau dồi vốn từ

    Hướng dẫn Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng:

    Bài tập 1: Xác định và phân tích phép tu từ có trong các đoạn thơ sau: A. Đau lòng kẻ ở người đi

    Lệ rơi thấm đá tơ chia rũ tằm. (Nguyễn Du)

    B. Rễ siêng không ngại đất nghèo

    Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù (Nguyễn Duy)

    C. Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai? (Chinh phụ ngâm khúc)

    D. Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm (Chính Hữu)

    Gợi ý:

    A. Nói quá: thể hiện nỗi đau đớn chia li khôn xiết giữa người đi và kẻ ở.

    B. Nhân hoá – ẩn dụ: Phẩm chất siêng năng cần cù của tre như con người Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc.

    C. Điệp ngữ: Nhấn mạnh không gian xa cách mênh mông bát ngát giưa người đi và kẻ ở. Từ đó tô đậm nỗi sầu chia li, cô đơn của người chinh phụ.

    D. Hoán dụ: bàn tay để chỉ con người.

    Bài tập 2: Câu nào sau đây sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh?

    1. Thôi để mẹ cầm cũng được.
    2. Mợ mày phát đạt lắm, có như dạo trước đâu.
    3. Bác trai đã khá rồi chứ.
    4. Lão hãy yên lòng mà nhắm mắt.

    Gợi ý: D

    Bài tập 3: Cho các ví dụ sau: Chân cứng đá mềm, đen như cột nhà cháy, dời non lấp biển, ngàn cân treo sợi tóc, xanh như tàu lá, long trời lở đất.

    Nhận xét nào sau đây nói đúng nhất về các ví dụ trên?

    A- Là các câu tục ngữ có sử dụng biện pháp so sánh.

    B- Là các câu thành ngữ có sử dụng biện pháp nói quá.

    C- Là các câu tục ngữ có sử dụng biện pháp nói quá.

    D- Là các câu thành ngữ dùng biện pháp so sánh.

    Gợi ý: B

    Bài tập 4: Vận dụng các phép tu từ đã học để phân tích đoạn thơ sau:

    ” Cứ nghĩ hồn thơm đang tái sinh

    Ngôi sao ấy lặn, hoá bình minh.

    Cơn mưa vừa tạnh, Ba Đình nắng

    Bác đứng trên kia, vẫy gọi mình”

    Gợi ý: – Xác định được các phép tu từ có trong đoạn thơ:

    hoán dụ: Hồn thơm; ẩn dụ: Ngôi sao, bình minh

    Từ ngữ cùng trường từ vựng chỉ các hiện tượng tự nhiên: Ngôi sao, lặn, bình minh, cơn mưa, tạnh, nắng.

    – Phân tích cách diễn đạt bằng hình ảnh để thấy cái hay cái đẹp của đoạn thơ: thể hiện sự vĩnh hằng, bất tử của Bác: hoá thân vào thiên nhiên, trường tồn cùng thiên nhiên đất nước, giảm nhẹ nỗi đau xót sự ra đi của Người. Hình ảnh thơ vừa giàu sắc thái biểu cảm vừa thể hiện tấm lòng thành kính thiêng liêng của tác giả đối với Bác Hồ.

    Bài 9: Luyện tập về các biện pháp tu từ từ vựng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Hệ Thống Kiến Thức Về Các Biện Pháp Tu Từ Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ: Thân Em Như Hạt Mưa Rào (Khuyết Danh Việt Nam)
  • Viết Đoạn Văn Cảm Nhận Thân Em Như Hạt Mưa Sa…
  • Phương Pháp Tìm Nhanh Các Biện Pháp Tu Từ Thường Gặp
  • Cảm Nghĩ Về Câu Ca Dao Thân Em Như Trái Bần Trôi Hay Nhất
  • Bài 4. Những Câu Hát Than Thân
  • Nhân hóa, so sánh, ẩn dụ và hoán dụ là bốn biện pháp tu từ học sinh đã được học ở học kì II Ngữ văn 6. Với mỗi biện pháp tu từ, học sinh cần nắm được khái niệm và hệ thống phân loại của chúng.

    – So sánh: là việc đối chiếu hai hay nhiều sự vật có những điểm tương đồng nhằm làm nổi bật lên những đặc điểm riêng biệt của đối tượng đó và làm sự diễn đạt trở nên sống động, giàu hình ảnh, cảm xúc. So sánh được phân thành hai loại: so sánh ngang bằng hoặc không ngang bằng.

    – Nhân hóa: là việc biến các sự vật vô tri vô giác trở nên sống động, có suy nghĩ, tình cảm, hành động như con người. Căn cứ vào cách thức biến đổi sự vật, người ta chia nhân hóa thành ba loại: dùng từ nghĩ chỉ hoạt động, tính chất, trạng thái của con người cho vật; trò chuyện với vật như trò chuyện với người; gọi tên vật như cách gọi tên người.

    – Ẩn dụ: là việc gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác dựa trên mối quan hệ tương đồng (giống nhau) giữa chúng. Ẩn dụ gồm bốn loại: ẩn dụ hình thức, ẩn dụ phẩm chất, ẩn dụ cách thức và ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

    – Hoán dụ: là việc gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác dựa trên mối quan hệ tương cận (gần gũi) giữa chúng. Hoán dụ được chia thành bốn loại: lấy một bộ phận thay thế cho toàn thể; lấy vật chứa thay cho vật bị chứa; lấy dấu hiệu để thay cho vật mang dấu hiệu; lấy cái cụ thể thay thế cho cái trừu tượng.

    Dạng 1: Xác định và nêu tác dụng của các biện pháp tu từ

    Đây là dạng bài cơ bản, phổ biến và thường xuyên được hỏi nhất trong các bài thi, bài kiểm tra. Tùy vào độ linh hoạt và độ khó của đề thi mà khi nêu tác dụng của biện pháp tu từ, học sinh sẽ được yêu cầu viết câu hoặc đoạn văn.

    Ví dụ, với một đề bài xác định kiểu ẩn dụ, hoán dụ, học sinh cần làm theo ba bước:

    Bước 1: Đọc văn bản và xác định những hình ảnh được nhà văn sử dụng theo nghĩa ẩn dụ hoặc hoán dụ.

    Bước 2. Xác định xem hình ảnh ấy giúp ta liên tưởng tới hình ảnh nào khác.

    Bước 3. Xem mối quan hệ giữa hai hình ảnh đó là gì để lựa chọn loại ẩn dụ, hoán dụ cho phù hợp.

    Dạng 2: Viết câu/ đoạn văn có sử dụng biện pháp tu từ

    Khác với dạng 1, học sinh phải tự viết ra các văn bản có sử dụng biện pháp tu từ. Đề bài thường yêu cầu thay thế các từ ngữ in đậm thành hình ảnh ẩn dụ, hoán dụ,… thích hợp hoặc viết đoạn văn miêu tả, kể chuyện có chứa các biện pháp tu từ đã học.

    Ví dụ, đề bài “Viết đoạn miêu tả khung cảnh sân trường giờ ra chơi có sử dụng các biện pháp tu từ”, học sinh phải xác định nội dung và hình thức của đoạn văn đó.

    – Cụ thể, nội dung tả cảnh sân trường giờ ra chơi cần miêu tả khung cảnh xung quanh và cảnh ra chơi của các bạn học sinh.

    – Với yêu cầu sử dụng biện pháp tu từ, học sinh có thể so sánh, nhân hóa, hoán dụ, ẩn dụ như sau: “Các bạn ríu rít như bầy ong vỡ tổ ùa ra khỏi lớp”, “Những bước chân gấp gáp, hối hả chạy vào lớp khi có tiếng trống báo hiệu hết giờ ra chơi”,…

    Link đăng kí tuyển sinh Online: ĐĂNG KÍ TUYỂN SINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề : Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng, 3 Bài Văn Mẫu, Mở Bài, Thân Bài
  • Phân Tích Đoạn Thơ Đầu Bài Trong Thơ Vội Vàng Của Xuân Diệu
  • Cảm Nhận 13 Câu Đầu Bài Thơ Vội Vàng
  • Phân Tích 13 Câu Thơ Đầu Bài Vội Vàng
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy ( Bài 3).
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Mùa Xuân Nho Nhỏ
  • Những Đề Văn Về Bài Thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ Của Thanh Hải
  • Đề Thi Thử Tốt Nghiệp Ngữ Văn Thpt
  • a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn.

    b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:

    – A là B:

    – A như B:

    Song thưa để mặc bóng trăng vào”

    – Bao nhiêu…. bấy nhiêu….

    “Qua đình ngả nón trông đình

    + So sánh không ngang bằng:

    “Con đi trăm núi ngàn khe Con đi đánh giặc mười năm

    + So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:

    Trường Sơn: chí lớn ông cha

    Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”

    b/ Các kiểu nhân hóa:

    a/ Khái niệm: Nhân hóa là biện pháp tu từ sử dụng những từ ngữ chỉ hoạt động, tính cách, suy nghĩ, tên gọi … vốn chỉ dành cho con người để miêu tả đồ vật, sự vật, con vật, cây cối khiến cho chúng trở nên sinh động, gần gũi, có hồn hơn.

    – Dùng những từ vốn gọi người để gọi sự vật: Chị ong nâu, Ông mặt trời, Bác giun, Chị gió,…

    – Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động tính chất của vật:

    “Sông Đuống trôi đi Một dòng lấp lánh

    – Trò chuyện với vật như với người:

    3/ ẨN DỤ:

    c/ Lưu ý:

    “Đầu xanh có tội tình gì Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi” Có sức người sỏi đá cũng thành cơm”

    + AD từ vựng: cách nói quen thuộc, phổ biến, không có/ ít có giá trị tu từ: cổ chai, mũi đất, tay ghế, tay bí, tay bầu,…

    a/ Khái niệm: Hoán dụ là BPTT gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm này bằng tên của một sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    “Vì sao trái đất nặng ân tình, Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh”

    + Lấy một bộ phận để chỉ toàn thể:

    + Lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Một cây làm chẳng nên non

    + Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

    5) NÓI QUÁ/ PHÓNG ĐẠI/ KHOA TRƯƠNG/ NGOA DỤ/ THẬM XƯNG/ CƯỜNG ĐIỆU:

    Lưu ý:

    Ẩn dụ và hoán dụ cùng chung cấu trúc nói A chỉ B nhưng khác nhau:

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    – Ẩn dụ: A và B có quan hệ tương đồng

    7) ĐIỆP TỪ, ĐIỆP NGỮ:

    “Mai sau Mai sau Mai sau Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”

    – Điệp ngữ có nhiều dạng:

    + Điệp ngữ cách quãng:

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”

    + Điệp vòng tròn:

    – Là cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    [Tố Hữu]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạn Đã Biết Gì Phương Pháp Tránh Thai An Toàn Nhất Ở Phụ Nữ
  • Thắt Ống Dẫn Trứng: Biện Pháp ‘hạ Sách’ Nhất Trong Tránh Thai
  • Thắt Ống Dẫn Trứng, Hiểu Không Đủ Dễ Dẫn Đến Nuối Tiếc
  • Thắt Ống Dẫn Trứng: Cách Tránh Thai Cuối Cùng Nên Chọn
  • Biện Pháp Tránh Thai Sau Sinh Mổ Dành Cho Chị Em
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Kết Thúc Học Kì 1 Môn Ngữ Văn Lớp 11 Thpt Trường Chinh
  • Các Biện Pháp Tu Từ Tiếng Việt
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Về Bài Rừng Xà Nu
  • Soạn Rừng Xà Nu: Ý Nghĩa Hình Tượng Của Cây Xà Nu
  • Giúp Học Sinh Lớp 3 Học Tốt ”biện Pháp Tu Từ So Sánh” Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu
  • Bài 1: Tìm và nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong các câu thơ sau:

    a, Ngoài thềm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

    (Trần Đăng Khoa )

    b, Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay.

    (Đỗ Trung Quân )

    Bài 2: Hãy tìm phép so sánh trong các câu ca dao sau:

    a, Qua cầu ngả nón trông cầu

    Cầu bao nhiêu nhịp dạ em sầu bấy nhiêu

    b, Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

    So sánh ở đây được thực hiện nhờ những từ so sánh nào?

    Bài 3: Chỉ ra và nêu tác dụng của phép so sánh trong việc diễn đạt của các câu văn sau:

    Tôi quên thế nào được những cảm giác trong sáng ấy nảy nở trong lòng tôi như mấy cành hoa tươi mỉm cười giữa bầu trời quang đãng.

    Tôi có ngay cái ý nghĩ vừa non nớt vừa thơ ngây này: chắc chỉ người thạo mới cầm nổi bút thước. Ý nghĩ ấy thoáng qua trong trí tôi nhẹ nhàng như một làn mây lướt ngang trên ngọn núi

    Cũng như tôi, mấy cậu học trò mới bỡ ngỡ đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay dám đi từng bước nhẹ. Họ như con chim con đứng bên bờ tổ, nhìn quãng trời rộng muốn bay, nhưng còn ngập ngừng e sợ.

    ( Tôi đi học – Thanh Tịnh )

    Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.

    ( Trong lòng mẹ – Nguyên Hồng )

    Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ ti ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh. Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà là cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa. Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự.

    ( Mùa xuân của tôi – trích “ Thương nhớ mười hai “ – Vũ Bằng )

    Tôi yêu Sài Gòn da diết.Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất ngờ. Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã, bống nhiên trong vắt lại như thuỷ tinh. Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn. Tôi yêu phố phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm.

    ( Sài gòn tôi yêu – Minh Hương )

    Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải vì thế.

    ( Mùa xuân của tôi – trích “ Thương nhớ mười hai “ – Vũ Bằng )

    Bài 5: Đọc bài thơ sau:

    Dòng sông mặc áo

    Dòng sông mới điệu làm sao

    Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha

    Trưa về trời rộng bao la

    Áo xanh sông mặc như là mới may

    Chiều trôi thơ thẩn áng mây

    Cài lên màu áo hây hây rang vàng

    Dèm thêu trước ngực vầng trăng

    Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên

    Khuya rồi sông mặc áo đen

    Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ

    Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ

    Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa

    Ngước lên bỗng gặp la đà

    Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa áo ai

    ( Nguyễn Trọng Tạo )

    (?) Bài thơ tả cảnh gì? Tác giả đã sử dụng biện pháp tu từ gì để miêu tả? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó bằng một đoạn văn.

    Bài 6: Hãy viết tiếp những câu văn sau bằng cách dùng hình ảnh so sánh:

    a. Con đường làng uốn lượn..

    b. Mùa đông, cây hồng trụi hết lá, chỉ còn hàng trăm quả trĩu trịt trên cành

    ..

    c. Bầu trời đầy sao.

    d. Những quả dừa lúc lỉu trên cao.

    e. Trong buổi bình minh, chim chóc đua nhau cất tiếng hót ríu ran

    Bài 7: Dùng nghệ thuật nhân hoá để viết lại những câu văn tả sau đây sao cho cách diễn đạt trở nên giàu hình ảnh hơn:

    a. Về mùa hè, nước sông trong xanh màu ngọc bích.

    b. Trưa hè, lũ trẻ thường rủ nhau ra chơi dưới bóng cây đa cổ thụ.

    c. Khi diều hâu xuất hiện, gà mẹ xoè cánh che chở cho đàn con.

    d. Cần trục vươn tới, kéo lên từng thùng hang khổng lồ, nhẹ nhàng đặt vào khoang những chiếc xe tải đang chờ sẵn.

    Bài 8: Tìm và điền những từ tượng hình, tượng thanh phù hợp vào chỗ trống trong các đoạn văn sau:

    a. “ Nắng đã lên. Sau một đợt mưa (1) kéo dài, chút ánh nắng (1) ấy thật đáng quý biết bao. Bầu trời không còn khoác chiếc áo choàng trắng (3) nữa. Những khoảng xanh thẫm trên vòm cao loang ra rất nhanh, phủ kín tạo thành một chiếc áo khoác mới tinh. Nổi lên trên cái nền trời xanh (4) đó là những cụm mây trắng muốt trôi (5). Mặt trời ló ra. Nắng (6). Rồi nắng (7) dần lên. Trong khu vườn nhỏ, chim choc gọi nhau (8) nghe vang động và (9) biết bao ”.

    b. “ Dòng sông trong chiều hè thật (1). Gió thổi (2) đủ làm cho sóng nước gợn (3). Ánh nắng cuối ngày vàng rực, phủ sáng trên dòng nước trong xanh. Một vài con đò nhỏ lướt qua. Tiếng hò của cô lái đò vọng lên (4), (5). Hai bên bờ sông, những bãi ngô xanh rờn (6). Trên vòm cao (7), cánh diều đang chao lượn. Tiếng sáo diều (8), (9) lan toả trong bóng chiều.

    Bài 9: Hãy sử dụng nghệ thuật so sánh, nhân hóa để viết lại đoạn văn sau đây sao cho tạo thành một đoạn văn mới giàu hình ảnh và giàu sức gợi hơn.

    a. Trước sân trường có một cây bàng to lớn. Dưới gốc cây bàng nổi lên nhiều cái u rất to. Cành lá bàng xòe ra rất rộng. Mùa đông lá bàng màu đỏ. Mùa hè, lá bàng màu xanh.

    b. Đêm đã về khuya. Gió bấc thổi hun hút. Cái lạnh bao trùm khắp nơi. Cây cối im lìm trong giá rét. Thỉnh thoảng có tiếng côn trùng rả rích nghe càng thêm não nùng.

    *Ẩn dụ – Hoán dụ

    Bài 1: Thay thế các từ ngữ in đậm sau bằng những ẩn dụ thích hợp:

    Trong ánh hoàng hôn, những nương sắn với màu nắng vàng lộng lẫy có trên khắp các sườn đồi.

    Trong đôi mắt sâu thẳm của ông, tôi thấy có một niềm hi vọng.

    Bài 2: Xác định các kiểu ẩn dụ trong các câu sau đây:

    a, Bây giờ mận mới hỏi đào

    Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

    (Ca dao)

    b, Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn

    (Ca dao)

    c, Chỉ có thuyền mới biết

    Biển mênh mông nhường nào.

    (Xuân Quỳnh)

    d, Này lắng nghe em khúc nhạc thơm.

    (Xuân Diệu)

    đ, Em thấy cơn mưa rào

    Ngập tiếng cười của bố

    (Phạm Thế Khải)

    e, Mà bên nước tôi thì đang hửng lên cái nắng bốn giờ chiều cái nắng đậm đà của mùa thu biên giới.

    (Nguyễn Tuân)

    Bài 3: Những câu sau đây có câu nào sử dụng ẩn dụ không? Nếu có, em hãy chỉ ra những ẩn dụ cụ thể:

    Chúng ta không nên nướng tiền bạc của cha mẹ.

    Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu.

    Bài 4: Nêu ý nghĩa của từ miền Nam trong các câu thơ sau. Chỉ rõ trường hợp nào là hoán dụ và thuộc kiểu hoán dụ nào?

    a, Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    ( Viễn Phương )

    b, Gửi miền Bắc lòng miền Nam chung thủy

    Đang xông lên chống Mĩ tuyến đầu

    ( Lê Anh Xuân )

    Bài 5: Chỉ ra các hoán dụ trong những câu sau và cho biết chúng thuộc kiểu hoán dụ nào?

    a, Họ là chục tay sào, tay chèo, làm ruộng cũng giỏi mà làm thuyền cũng giỏi.

    (Nguyễn Tuân)

    b, Tự nhiên, Xa Phủ rút cây sáo. Tiếng sáo thoát ra từ ống trúc, véo vonTiếng sáo bay theo chân hai người tới chỗ rẽ.

    (Ma Văn Kháng)

    Bài 6: Tìm ẩn dụ và hoán dụ trong các câu sau:

    a, Nhận của quá khứ những con đê vỡ, những nạn đói, ta đã làm nên các mùa vàng năm tấn, bảy tấn.

    (Chế Lan Viên)

    b, Bóng hồng nhác thấy nẻo xa

    Xuân lan, thu cúc mặn mà cả hai

    (Nguyễn Du)

    a, Nhớ chân Người bước lên đèo

    Người đi rừng núi trông theo bóng Người

    (Tố Hữu)

    b, Hội làng ta năm nay to hơn mọi năm. Mới bảnh mắt ông thủ chỉ và mấy tay thủ trống đã có mặt trên sân cỏ bên đầm sen, chuẩn bị cho buổi đấu vật.

    (Trần Đình Khôi)

    c, Còi máy gọi bến tàu hầm mỏ

    Hòn Gai kêu Đất Đỏ đấu tranh

    Áo nâu liền với áo xanh

    Nông thôn liền với thị thành đứng lên

    (Tố Hữu)

    d, Tay ta, tay búa, tay cày

    Tay gươm tay bút dựng xây nước mình

    (Tố Hữu)

    đ, Đứng lên, thân cỏ, thân rơm

    Búa liềm không sợ súng gươm bạo tàn!

    (Tố Hữu)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm) – Đặng Trần Côn
  • Câu Hỏi Hướng Dẫn Ôn Thi Cuối Năm Ngữ Văn 10
  • Phân Tích: Phú Sông Bạch Đằng (Bạch Đằng Giang Phú) – Trương Hán Siêu
  • Nói Giảm Nói Tránh Là Gì? Cách Sử Dụng Biện Pháp Này
  • Bài Học Về Việc Vận Dụng Các Phương Tiện Ngôn Ngữ Châm Biếm Trong Văn Chính Luận Hồ Chí Minh
  • Ôn Tập Các Biện Pháp Tu Từ Tv

    --- Bài mới hơn ---

  • Mùa Xuân Là Cả Một Mùa Xanh
  • Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Ngắn Gọn Nhất (Có Dàn Ý)
  • Top 4 Mẫu Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Hay Nhất
  • 5 Bài Phân Tích Bài Ca Ngất Ngưởng Của Nguyễn Công Trứ Hay Nhất
  • Soạn Văn Bài Ca Ngất Ngưởng Đầy Đủ Nhất Của Nguyễn Công Trứ
  • TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    I. Lý thuyết

    Kể tên các biện pháp tu từ từ vựng đã học

    So sánh

    Nhân hóa

    Ẩn dụ

    Hoán dụ

    Điệp ngữ

    Chơi chữ

    1. So sánh

    a. Khái niệm:

    Thế nào là so sánh? Có mấy kiểu so sánh? Lấy ví dụ minh họa?

    – So sánh là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho diễn đạt

    – Có hai kiểu so sánh: So sánh ngang bằng và so sánh không ngang bằng

    b. Ví dụ:

    TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    Những ngôi sao thức ngoài kia

    Chẳng bằng mẹ đã thức vì chúng con

    Trẻ em như búp trên cành

    Biết ăn ngủ, biết học hành là ngoan

    So sánh ngang bằng

    2. Nhân hóa

    a. Khái niệm:

    Nhân hóa là gì? Có mấy kiểu nhân hóa? Lấy ví dụ minh họa?

    Nhân hóa là gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồ vật… bằng những từ ngữ vốn được dùng để gọi hoặc tả con người; làm cho thế giới loài vật, cây cối, đồ vật.. Trở nên gần gũi với con người biểu thị được những suy nghĩ, tình cảm của con người.

    TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    Các kiểu nhân hóa:

    + Dùng những từ vốn gọi người để gọi vật.

    + Dùng những từ vốn chỉ hoạt động, tính chất của người để chỉ hoạt động, tính chất của vật.

    + Trò chuyện, xưng hô với vật như với con người.

    b. Ví dụ:

    Từ đó cô mắt, cậu chân, cậu tay, bác tai, lão miệng lại sống với nhau vui vẻ.

    Bến cảnh lúc nào cũng rất nhiều tàu xe. Tàu lớn tàu bé đậu đầy mặt nước. Xe lớn, xe bé nhận hàng về và chở hàng ra. Tất cả đều hoạt động liên tục.

    TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    Đoạn thơ trên sử dụng nghệ thuật gì?

    Anh đội viên nhìn Bác

    Càng nhìn lại càng thương

    Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm

    3. Ẩn dụ:

    a. Khái niệm:

    Thế nào là ẩn dụ? Tác dụng của ẩn dụ?

    – Ẩn dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có nét tương đồng nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    Ẩn dụ có những loại nào? Lấy ví dụ minh họa?

    Có bốn kiểu ẩn dụ:

    Ẩn dụ hình thức.

    Ẩn dụ cách thức.

    Ẩn dụ phẩm chất

    Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác

    Ví dụ về ẩn dụ:

    Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    b. Cha lại dắt con đi trên cát mịn

    Ánh nắng chảy đầy vai.

    c. Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.

    Chỉ ra từng kiểu ẩn dụ trong các ví dụ trên?

    A – Phẩm chất

    B- Chuyển đổi cảm giác

    C- Cách thức

    TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    4. Hoán dụ

    Thế nào là hoán dụ? Có mấy loại hoán dụ thường gặp?

    a. Khái niệm: Hoán dụ là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác có quan hệ gần gũi với nó nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    b. Các kiểu hoán dụ:

    Lấy bộ phận để chỉ cái toàn thể.

    Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng.

    Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi tên sự vật.

    Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Lấy ví dụ minh họa cho từng kiểu hoán dụ?

    Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người

    Áo chàm đưa buổi phân ly

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

    Vì sao trái đất nặng ân tình

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh

    Anh ta có chân trong đội tuyển quốc gia V. Nam

    TIẾT 15 +16: ÔN LUYỆN

    VỀ CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG

    5. Chơi chữ

    Thế nào là chơi chữ? Tác dụng của chơi trữ?

    – Chơi chữ là lợi dụng đặc sắc về âm, về nghĩa của từ để tạo sắc thái dí dỏm, hài hước…làm câu văn hấp dẫn, thú vị.

    Có những cách chơi chữ nào? Lấy ví dụ minh họa?

    Các cách chơi chữ:

    Sử dụng từ đồng âm.

    Sử dụng lối nói trại âm.

    Dùng cách điệp âm.

    Dùng từ đồng nghĩa, trái nghĩa, gần nghĩa.

    Ví dụ:

    Mênh mông muôn mẫu một màu mưa

    Mỏi mắt miên man mãi mịt mờ

    b. Con cá đối bỏ trong cối đá

    Con mèo cái nằm trên mái kèo

    c. Sánh với Na va ranh tướng Pháp

    Tiếng tăm nồng nặc khắp Đông Dương

    d. Lợi thì có lợi nhưng răng không còn

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Văn Phân Tích 8 Câu Đầu Của Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu (Có Dàn Ý Và Bài Làm Chi Tiết)
  • Top 3 Bài Văn Mẫu Cảm Nhận 8 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc Hay Nhất
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Việt Bắc Hay Chọn Lọc
  • Phân Tích 8 Câu Đầu Việt Bắc
  • Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Cảm Hứng Về Đất Nước Qua Hai Đoạn Thơ Sau: “quân Đi Điệp Điệp Trùng Trùng Ánh Sao Đầu Súng Bạn Cùng Mũ Nan. Dân Công Đỏ Đuốc Từng Đoàn Bước Chân Nát
  • Một Số Biên Pháp Tu Từ Trong Tiếng Việt
  • Bật Mí Về Phương Pháp Học Văn Đạt Hiệu Quả Cao
  • Bài 1: Chỉ Ra Và Phân Tích Các Biện Pháp Tu Từ Trong Các Câu Sau: 1. Trăm Năm Đành Lỗi Hẹn Hò Cây Đa Bến Cũ Con Đò Khác Đưa 2. Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè Đầu
  • Chỉ Ra Phép Ẩn Dụ Trong Câu Dưới Trăng Quyên Đã Gọi Hè…
  • Sống trong cát, chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời.

    Áo bào thay chiếu anh về đất Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Năm mươi sáu ngày đêm Khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt Máu trộn bùn non

    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa

    9/

    Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng Đò biếng lười nằm mặc nước trôi sông; Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời

    HƯỚNG DẪN CÁCH LÀM BÀI:

    – Chỉ ra các phép tu từ được dùng trong văn bản

    – Nhận biết các BPTT đó qua từ ngữ nào? Chỉ rõ tiểu loại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Đoạn Thơ Sau: “những Đường Việt Bắc Củalên Việt Bắc Đèo De, Núi Hồng” Trong Bài Việt Bắc
  • Phân Tích Tác Dụng Của Biện Pháp Tu Từ Trong Câu Bước Chân Nát Đá Muôn Tàn Lửa Bay
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp Ngắn Nhất
  • Phân Tích Bài Câu Cá Mùa Thu Rất Hay Và Đầy Đủ
  • Giáo Án Ngữ Văn 11: Câu Cá Mùa Thu (Thu Điếu) Nguyễn Khuyến
  • Bài 8: Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng

    --- Bài mới hơn ---

  • 9 Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Trong Tiếng Việt
  • Ôn Tập Phần Tiếng Việt: Một Số Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Bài 9: Luyện Tập Về Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng
  • Phân Tích Bài Ca Dao Anh Em Nào Phải Người Xa Lớp 7 Hay Nhất
  • I. CỦNG CỐ LÍ THUYẾT

    Các biện pháp tu từ từ vựng: So sánh, ẩn dụ, nhân hoá, hoán dụ, điệp ngữ, chơi chữ, nói quá, nói giảm – nói tránh.

    1. So sánh: Là đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Trẻ em như búp trên cành

    2. Nhân hoá: là cách dùng những từ ngữ vốn dùng để miêu tả hành động của con người để miêu tả vật, dùng loại từ gọi người để gọi sự vật không phải là người làm cho sự vật, sự việc hiện lên sống động, gần gũi với con người.

    VD: Chú mèo đen nhà em rất đáng yêu.

    3. ẩn dụ: Là cách dùng sự vật, hiện tượng này để gọi tên cho sự vật, hiện tượng khác dựa vào nét tương đồng (giống nhau) nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    4. Hoán dụ: Là cách dùng sự vật này để gọi tên cho sự

    vật, hiện tượng khác dựa vào nét liên tưởng gần gũi nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt.

    VD: Đầu bạc tiễn đầu xanh (Người già tiễn người trẻ: dựa vào dấu hiệu bên ngoài).

    5. Điệp ngữ: là từ ngữ (hoặc cả một câu) được lặp lại nhiều lần trong khi nói và viết nhằm nhấn mạnh, bộc lộ cảm xúc…

    VD: Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    6.Chơi chữ: là cách lợi dụng đặc sắc về âm, nghĩa nhằm tạo sắc thái dí dỏm hài hước.

    VD:

    7. Nói quá là biện pháp tu từ phóng đại mức độ, qui mô, tính chất của sự vật, hiện tượng được miêu tả để nhấn mạnh, gây ấn tượng, tăng sức biểu cảm.

    VD: Lỗ mũi mười tám gánh lông

    Chồng khen chồng bảo râu rồng trời cho.

    8 Nói giảm, nói tránh là một biện pháp tu từ dùng cách diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác quá đau buồn, ghê sợ, nặng nề; tránh thô tục, thiếu lịch sự.

    Ví dụ:

    Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta.

    II. Luyện tập

    Bài tập 1: Phân biệt ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học và ẩn dụ, hoán dụ tu từ học?

    Gợi ý: 1.( 1điểm)

    – ẩn dụ, hoán dụ từ vựng học là phép chuyển nghĩa tạo nên nghĩa mới thực sự của từ, các nghĩa này đư­ợc ghi trong từ điển.

    – ẩn dụ, hoán dụ tu từ học là các ẩn dụ, hoán dụ tạo ra ý nghĩa lâm thời (nghĩa ngữ cảnh) không tạo ra ý nghĩa mới cho từ. Đây là cách diễn đạt bằng hình ảnh, hình t­ượng mang tính biểu cảm cho câu nói; Không phải là phư­ơng thức chuyển nghĩa tạo nên sự phát triển nghĩa của từ ngữ.

    Bài tập 2: Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ sau là gì ?

    Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi .

    ( Truyện Kiều – Nguyễn Du )

    A. ẩn dụ C. Tương phản

    B. Hoán dụ D. Nói giảm , nói tránh .

    Bài tập 3: Hai câu thơ sau sử dụng những biện pháp tu từ nào ?

    “Mặt trời xuống biển như hòn lửa Sóng đã cài then đêm sập cửa”

    A. Nhân hoá và so sánh C. ẩn dụ và hoán dụ.

    B. Nói quá và liệt kê. D. Chơi chữ và điệp từ.

    Bài tập 4: Hãy chỉ ra biện pháp tu từ từ vựng trong hai câu thơ sau:

    Ngày ngày mặt trờ đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trog lăng rất đỏ.

    Gợi ý: Phép tu từ ẩn dụ: Mượn hình ảnh mặt trời để chỉ Bác Hồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hay Giúp Học Sinh Phân Biệt Ẩn Dụ Hoán Dụ Siêu Dễ Dàng
  • Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ
  • Phân Tích Khổ 1 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng
  • Kiến Thức Bài Tây Tiến
  • 5 Bài Phân Tích Khổ 3 Bài Thơ Tây Tiến Của Quang Dũng Tuyển Chọn, Dàn
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa
  • Dạy Tiếng việt cho học sinh, nhất là học sinh tiểu học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đây là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho hình thành và phát triển về ngôn ngữ của trẻ sau này. Trong đó, khởi điểm cho môn học tiếng Việt là phân môn Tập đọc, phân môn này trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của những người đi học.

    Với nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy lớp 5 ở tiểu học, tôi đã nghiên cứu rất kỹ về các biện pháp Tu từ được sử dụng trong các tác phẩm ở môn tập Đọc lớp 5. Có thể nói biện pháp Tu từ giúp cho bài văn thêm phần mạch lạc, rõ ràng, thu hút người đọc, người nghe, không gây cảm giác nhàm chán bằng cách nhấn mạnh những gì đang muốn nhắc tới. Hay có thể nói biện pháp Tu từ tô thêm vẻ đẹp cho tác phẩm.

    Với ý nghĩa ý đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Giúp học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của biện pháp Tu từ trong các bài tập đọc lớp 5” làm sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2022.

      Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

    * Một số hình thức Tu từ thường gặp trong các bài tập đọc lớp 5:

    – Phóng đại:Là cách nói cách sử dụng từ ngữ theo hướng cố tình nói quá sự thật nhằm làm nổi bật bản chất của đối tượng miêu tả gây ấn tượng đặc điểm mạnh mẽ qua đó người tiếp nhận sẽ hiểu được nội dung và tình cảm thực sự mà người nói muốn thể hiện:

    “Người ta đi cấy lây công

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

    Trông trời, trông đất, trông mây

    Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

    (ca dao về lao động sản xuất) (TV 5- Tập 1)

    Phóng đại ở đây góp phần thể hiện ý chí mạnh mẽ quyết tâm phấn đấu khắc phục mọi khó khăn của người nông dân lao động.

    – So sánh tu từ: Là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc người nghe.

    VD: “Dưới từng đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng. Rừng ngập hương thơm. Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.

    Ma Văn Kháng (Mùa thảo quả, TV5- Tập 1)

    Bức tranh tĩnh vật này trở nên sôi động nổi bật vì tác giả đã sử dụng hình thức so sánh tu từ.

    – Phản ngữ : là biện pháp tu từ dùng những từ ngữ biểu thị những khái niệm đối lập nhau cùng xuất hiện trong một văn cảnh nhằm mục đích làm rõ hơn đặc điểm của đối tượng được miêu tả và tăng cường sức biểu cảm cho thơ, văn.

    VD: Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy

    Trần Đăng Khoa (Hạt gạo làng ta, TV5-tập 1)

    – Điệp ngữ: là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh nhấn mạnh mở rộng ý gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người nghe người đọc.

    Em yêu màu đỏ

    Như máu con tim

    Lá cờ tổ quốc

    Khăn quàng đội viên

    Em yêu màu xanh…

    Phạm Đình Ân (sắc màu em yêu,TV5-tập 1)

    *Trong các biện pháp Tu từ được sử dụng trong các bài tập đọc lớp 5 thì các biện pháp so sánh tu từ là được dùng nhiều, phổ biến nhất hầu hết ở các bài tập đọc. Vì biện pháp này mang chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm, cảm xúc và do cấu tạo đơn giản cho nên so sánh tu từ được dùng nhiều trong hầu hết các bài tập đọc, đặc biệt là trong các bài tập đọc ở bậc tiểu học.

    Mỗi bài tập đọc trong chương trình lớp 5 đều có sử dụng một số biện pháp tu từ. Nó làm cho nội dung miêu tả của bài tăng thêm phần phong phú và đa dạng. Chính vì thế mà trong tiết dạy, ngoài những nội dung yêu cầu về hướng dẫn luyện đọc, ở phần đọc hiểu tôi thường giúp cho các em hiểu thêm về nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ của tác giả nhằm tạo cho các em hứng thú và cảm nhận được những chuyển tải của tác giả đến với các em tôi thường cho các đọc lại các hình thức tu từ có trong bài và phân tích kỹ để các em hiểu. Chẳng hạn:

    BÀI: HẠT GẠO LÀNG TA

    Có vị phù sa…

    Có hương sen thơm…

    Có lời mẹ hát…

    Lặp đầu cùng với sóng đôi ở đây có tác dụng làm nổi bật những từ ngữ quan trọng, nhấn mạnh vào những sắc thái ý nghĩa, biểu cảm, làm cho những dòng thơ ngắn, tự nhiên, mộc mạc- như câu đồng dao- nối liền thành một mạch câu mà vẫn giữ được giọng điệu nhịp nhàng, trong trẻo: hạt gạo phù sa-của sông kinh thầy-có lời mẹ hát-ngọt bùi hôm nay. Đối với Trần Đăng Khoa, hạt gạo không chỉ là dẻo, thơm, mà cái sâu sắc, tinh tế hơn là ở chỗ: vị dẻo thơm đó được chắt lọc từ những cái gì đẹp đẽ, thân thiết nhất ở cái làng nghèo bé nhỏ bên bờ sông Kinh Thầy: Dòng sông với cánh đồng màu mỡ phù sa, hương sen thơm và lời ru của mẹ, cuộc sống hàng ngày nơi làng quê với bao điều thân thương.

    Lặp dầu kết hợp với sóng đôi cũng nhấn mạnh được sắc thái ý nghĩa- cảm xúc” khắc nghiệt, dữ tợn” của thời tiết. Mưa tháng ba ghê gớm: mưa phùn đi với cái rét, rét cắt da cắt thịt. Bão giật tháng bảy: Sau trận bão cả cánh đồng mất trắng:

    “Hạt gạo làng ta

    Có bão tháng bảy

    Có mưa tháng ba”

    Lặp đầu kết hợp với sóng đôi cũng làm nổi bật được những năm đánh Mĩ hào hùng : Giặc Mĩ ném bom xuống làng quê ta, người ra đi chiến đấu, người ở lại vừa sản xuất vừa chiến đấu, gặt những vụ mùa bội thu:

    “Hạt gạo làng ta

    Những năm bom Mĩ

    Trút lên mái nhà…”

    Lặp đầu kết hợp với sóng đôi cũng tô đậm được cái sứ mệnh cao cả của hạt gạo bé nhỏ, cũng đồng thời là cái đức tính chịu đựng hi sinh cao quý của những người làm ra hạt gạo: quanh năm độn khoai, độn sắn để dành gạo cho chiến trường. Câu thơ cũng có được một nhịp điệu dồn dập khẩn trương:

    “hạt gạo làng ta

    Gửi ra tiền tuyến

    Gửi về phương xa

    Em vui em hát

    Hạt vàng làng ta”

    Trong bài thơ trên có một hình ảnh có một tư tưởng nghệ thật bất ngờ được xây dựng trên cơ sở của đối chọi:

    “Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy”

    Phải có con mắt trẻ thơ mới có thể viết được câu thơ: “nước như ai nấu; chết cả cá cờ”. phải sống ở nông thôn mới có thể biết được nước ruộng nóng quá cua phải ngoi lên bờ. Nhưng phải là người có thơ mới có thể viết được:

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy

    Đối chọi ở dây đã nêu bật bản chất của đối tượng được miêu tả nhờ thể đối lập tương phản và do đó không cần nói gì nhiều mà có thể biểu hiện được những nổi vất vả, nhọc nhằn của người mẹ để làm ra hạt gạo. Đối chọi đã tạo được một sự diễn đạt ngắn gọn, cô đúc có tiết tấu và gây ấn tượng mạnh mẽ.

    Dựa trên các biện pháp của từng nội dung bài tập đọc mà tôi phân tích nghệ thuật một cách có chiều sâu để giúp học sinh cảm nhận giá trị nghệ thuật đó có hệ thống logic. Chẳng hạn:

    Bài: MÙA THẢO QUẢ

    Bài văn trên là một bài văn miêu tả rất sinh động vì tác giả của nó đã khéo léo kết hợp tả với kể, tả với suy tưởng, kết hợp với suy tư.

    Dấu hiệu báo tin đã đén mùa thảo quả, là hương thơm của nó.”hương” được lặp đi lặp lại ba lần. “thơm” được láy lại năm lần với những biến đổi về chất (thơm-thơm nồng-thơm đậm)trong những câu dài câu ngắn khác nhau, câu dài được ngắt từng đoạn có quan hệ nối tiếp không dùng liên từ cũng trở thành ra ngắn đem lại một âm điệu nhịp nhàng, êm ái, phù hợp với sự diễn tả cái hương thơm ngọt lịm của thảo quả bay đi khắp nơi quyện vào cây cỏ đất trời, nếp khăn, nếp áo.

    Sự miêu tả động “dùng những động từ chỉ hoạt động: lướt thướt bay qua, cuộn đi, rải theo, đưa vào” kết hợp với miêu tả tĩnh”dùng tính từ chỉ phẩm chất : ngọt lựng, thơm,thơm nồng, thơm, thơm đậm” và động từ chỉ tình thái: ấp ủ) góp phần làm cho bức tranh miêu tả thật có hồn, có sức sống, khơi gợi ở người đọc những rung động sâu xa trước cái đẹp, cái quến rũ của thảo quả ở một vùng cao của đất nước.

    Đoạn văn thứ ba của bài là đoạn văn tường thuật. Tác giả đã chọn lối tường thuật rất ấn tượng:

    – Kể kết hợp với suy tưởng trong hai câu:”Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến thế.”

    – Suy tưởng kết hợp miêu tả động trong cùng một câu: “mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo trên đất rừng, qua một năm bỏ mặc, đã lớn cao đến bụng người; một năm sau nữa, từ một chân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới.”

    – Kể kết hợp với tả trong cùng một câu: “thảo quả sầm uất…lan toả, vươn ngọn, xoè lá, lấn chiếm không gian, gió tây lướt thướt bay, qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm…”

    – Với miêu tả tĩnh: “dưới tầng đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng. Rừng ngập hương thơm. Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.

    Rừng say ngây và ấm nóng. Thảo quả như những đốm lửa hồng, ngày qua ngày lại thắp thêm nhiều ngọn mới, nhấp nháy vui mắt”.

    Câu một chỉ sự tồn tại. Những câu sau là những câu có quan hệ sóng đôi với nhau. Ngoài ra bức tranh tĩnh vật này trở nên rât sống động nổi bật còn là vì tác giả đã sử dụng những định ngữ, bổ ngữ giàu sức gợi hình,gợi cảm dựa trên những hình thức tu từ như so sánh, ẩn dụ,nhân hoá.” Những chùm thảo quả đỏ chon chót, bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng (so sánh). Rừng ngập hương thơm(ẩn dụ bổ sung). Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dươí đáy rừng(so sánh). Rừng say ngây và ấm nóng (nhân hoá). Thảo quả như những đốm lưả hồng (so sánh), ngày qua ngày lại thắp lên nhiều ngọn mới, nhấp nhánh vui mắt (ẩn dụ).

    Trong những hình thức tu từ nói trên, nhà văn tỏ rõ một con mắt tinh tế, táo bạo. Với cách dùng từ chọn lọc, sáng tạo, cách đặt câu uyển chuyển, ngắt giọng nhịp nhàng, cách kết hợp khéo léo, nhà văn đã dựng lên được một bức tranh mùa thảo quả đẹp và sống động đến từng chi tiết khiến cho người đọc cũng phải ngỡ ngàng.

    Bài:CA DAO VỀ LAO ĐỘNG, SẢN XUẤT

    Người ta đi cấy lấy công,

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

    Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng…

    Để làm ra hạt gạo trắng ngần các bác nông dân đã phải đổ xuống ruộng bao nhiêu giọt mồ hôi. Hai câu thơ mở đầu đã khái quát nên nỗi vất vả đó:

    “Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.”

    Cày ruộng là một công việc vất vả. Cày ruộng đã vất vả rồi lại làm vào thời điểm nắng nóng nhất, lúc “ban trưa”. Miêu tả những giọt mồ hôi của người nông dân tác giả đã dùng từ “thánh thót” thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với người lao động. Tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”. Biện pháp so sánh ấy gợi tả hình ảnh những giọt mồ hôi liên tiếp nhau rơi xuống, cho thấy sự cực nhọc, vất vả của những người nông dân khi caỳ ruộng. Những giọt mồ hôi như mưa là công sức, là tâm huyết của người dân lao động đổ xuống mỗi thửa ruộng để tạo nên sức sống cho cây lúa. Hình ảnh so sánh này không những chỉ gợi tả mà còn hàm chứa những ý nghĩa sâu xa. Những hạt thóc mẩy vàng là kết quả của quá trình tích tụ mồ hôi và công sức của người nông dân. Vì thế bài ca dao khuyên:

    “Ai ơi, bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”

    Để có được bát cơm đầy biết bao giọt mồ hôi của người lao động đã đổ xuống đồng ruộng. tác giả đã sử dụng phép đối trong câu thơ cuối để làm nổi bật ý nghĩa ấy.

    Từ đó nhắc nhở mọi người phải biết trân trọng hạt gạo, biết tiết kiệm và nhất là phải quý trọng và biết ơn người nông dân, những người đã phải hàng ngày hàng giờ tưới lên đồng ruộng những cơn mưa mồ hôi để đồng lúa xanh hơn, bông lúa trĩu nặng hơn.

    “Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.”

    Sự lặp lại cấu trúc “nơi thì” đã tái hiện được phần nào không khí lao động khẩn trương, cần mẫn cho kịp thời vụ của người nông dân. Họ hăng say lao động bởi họ luôn tin tưởng:

    “Công lênh chẳng quản bao lâu

    Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.”

    Công lênh nghĩa là công sức, người nông dân và tin tưởng, công sức lao động bỏ ra sẽ được trả bằng những hạt thóc vàng. Từ đó, tác giả đưa ra lời khuyên:

    “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.”

    Mỗi tấc đất là một tấc vàng, với bàn tay lao động cần cù, con người sẽ biến thành những mảnh đất khô cằn hoang hoá thành những đồng lúa chín vàng. Bài ca dao đã đưa ra một lời khuyên bổ ích cho con người phải chăm chỉ, phải cần cù lao động. Lòng yêu lao động của nhân dân ta đã được thể hiện rất rõ ràng trong bài ca dao này:

    “Người ta đi cấy lấy công

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.”

    Sự lặp lại nhiều từ”trông” đã diễn tả được nỗi lo lo lắng trăm bề của người nông dân khi đưa cây lúa xuống đồng. Điều đó cũng thể hiện được nỗi vất vả của người nông dân khi làm ra hạt gạo. Thế nhưng, dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn vất vả, cả những bất trắc có thể xảy ra trong sản xuất, người nông dân vẫn kiên trì, cần cù làm lụng và quết tâm vượt khó khăn.

    Những nổi lo lắng của người lao động thì thực sự vơi đi khi tự tin rằng sức lao động của con người sẽ chiến thắng được thiên nhiên.

    “Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng

    Chân cứng đá mềm “là câu thành ngữ nói đến khả năng vượt qua mọi khó khăn của con người. Câu thành ngữ được đưa vào bài ca dao này với ý nghĩa khẳng định tinh thần kiên cường của người lao động. Để tìm ra hạt gạo, người nông dân phải đối diện với rất nhiều nỗi khó khăn, vất vả bao nỗi lo lắng về khí hậu và thời tiết nhưng họ vẫn quyết tâm, vẫn kiên cường để vượt lên sản xuất.

    Lo lắng, để tránh được những tai hoạ do thiên nhiên gây ra va người nông dân chỉ thực sự yên lòng khi “trời yên biển lặng”. Bài ca dao một lần nữa khẳng định sự vất vả của người nông dân khi làm ra hạt gạo để nhắc nhở mọi người hãy nhớ đến những con người phải một nắng hai sương ấy. Đồng thời bài ca dao đã khẳng định và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, phẩm chất được ngợi ca ở đây là ý chí, là quết tâm sắt đá, là lòng yêu lao động của con người.

    Đoạn văn thứ hai là đoạn văn vừa kể vừa tả. Mỗi câu trong đoạn được chia ra thành hai phần cách nhau bằng dấu hai chấm:phần trước là kể, phần sau là tả, tả để giải thích cho kể để cụ thể hoá phần vừa kể: “Kĩ thật tranh làng hồ đã đạt đến sự trang trí tinh tế: những bộ tranh Tố Nữ áo màu, quần hoa chanh, nền đen lĩnh của một thứ màu đen rất Việt Nam. Màu đen không pha bằng thuốc mà luyện bằng bột than của bột rơm nếp, than của cói chiếu, của lá tre mùa thu rụng, là những chất liệu gợi nhắc thiết tha đến đồng quê dất nước.. Cái màu tráng điệp lấy từ vỏ sò cũng là một sự sáng tạo góp vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội hoạ. Điệp ngữ “tăng thên…tăng thêm…” trong những thành phần câu đẳng lập có tác dụng nhấn mạnh, nhiệt tình ca ngợi tác dụng của màu trắng điệp.

    Khác với những phân môn khác, phân môn tập đọc dùng phương tiện là các tác phẩm văn chương cụ thể là (là những bài văn, bài thơ) để giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu. Thông qua việc học tập này các em sẽ làm quen tiếp xúc với các tác phẩm văn học và ngày càng cao hơn. Điều này tạo cơ sở để các em trau dồi năng lực cảm thụ văn học và cố gắng học giỏi môn tiếng việt.

    Ơû mỗi bài văn, thơ đều mang giá trị biểu cảm khác nhau. Chính vì vậy việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong mỗi bài tập đọc được sử dụng cũng ở mức độ khác nhau. Nên khi liệt kê các biện pháp tu từ trong các bài tập đọc lớp 5 và rất thiết thực nhằm giúp học sinh hiểu rõ và hệ thống được một loạt các biện pháp tu từ được học và sử dụng.

    Việc nghiên cứu các biện pháp tu từ không chỉ dành cho giáo viên mà học sinh cũng nắm rõ. Cụ thể là khi hướng dẫn học sinh tập đọc giáo viên phải kết hợp với việc hướng dẫn tìm hiểu bài để giúp học sinh nắm bắt các giá trị nghệ thuật, những cảm xúc mà tác giả thể hiện bằng biện pháp tu từ.

    Tóm lại, việc tìm vẻ đẹp của các biện pháp tu từ trong các bài tập đọc lớp 5 là yếu tố cốt lõi để học sinh cảm thụ hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm thơ, văn để giúp các em có cơ sở để tiếp tục học lên các bậc học tiếp theo.

    Bấm vào đây để tải về

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập He Tiếng Việt 5 Tieng Viet On Tap He Lop 5 Doc
  • Top 5 Bài Soạn “tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 5 Hay Nhất
  • Một Số Bài Tiếng Việt Nâng Cao Lớp 5
  • Soạn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh