Có Người Cho Rằng” Chức Năng Nhận Thức Là Chức Năng Nền Tảng Trong Các Chức Năng Của Văn Hóa” Ý Kiến Của Anh Chị Về Vấn Đề Này Như Thế Nào? Bài Soạn

--- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Phòng Nv Văn Hóa
  • Chương Vii Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Văn Hóa
  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Các Vấn Đề Chung Của Văn Hóa
  • Vai Trò Của Văn Hóa Trong Phát Triển Kinh Tế
  • Quan Điểm Hồ Chí Minh Về Văn Hóa Trong Đời Sống Xã Hội
  • Văn hóa là một lĩnh vực kiến thức tích hợp, thu thập kết quả nghiên cứu của một loạt khoa học chuyên ngành ( nhân học văn hóa, nhân học xã hội, dân tộc học, xã hội học, tâm lí học, ngôn ngữ học, sử học…), cho nên việc muốn phân tích một sự việc ta phải thực hiện thông qua sự tổng hợp các phương pháp và mục đích nhận thức, tập hợp xung quanh một trung tâm: văn hóa và các bình diên của nó.Điều này đã cho phép tư duy lại nhiều quan niệm và khái niệm đang tồn tại trong khuôn khổ mỗi chuyên ngành hợp thành văn hóa. Sự nhận biết như vậy không có nghĩa là dẫn đến sự loại bỏ sự cần thiết thành những nhóm đặc biệt và nghiên cứu chuyên sâu các phương pháp phân tích của văn hóa. Trong hệ phương pháp của văn hóa học cũng áp dụng sự chia tách, phổ biến đối với các khoa học xã hội và nhân văn khác, là chia thành các phương pháp phục vụ cho việc nghiên cứu tri thức cơ bản và các phương pháp gắn liền với việc thu nhận tri thức kinh nghiệm.

    Bằng chức năng nhận thức, văn hóa thâm nhập vào bên trong của các hiện tượng và giá trị của nó, bằng cách này hay cách khác hướng đến quan điểm giá trị của khuynh hướng thực chứng. Nhiệm vụ chủ yếu là tìm ra các quy luật và nguyên tắc cho phép đi từ những quy luật chung đến thấu hiểu các hiện tượng riêng. Chủ yếu là hướng tới việc làm rõ về mặt nhận thức các chức năng của văn hóa. Nổi bật những mối liên hệ nhân quả, khách quan bên trong nó, thấu hiểu một cách có phê phán các hiện tượng tinh thần của đời sống văn hóa. Ngoài ra tính nhân văn hết sức quan trọng trong văn hóa.

    Văn hóa có nhiều chức năng nhận thức được xem là quan trọng nhất, bởi vì qua nhận thức ta mới thấu hiểu được biểu hiện của cuộc sống từ đó mới thấy được cái đúng cái sai, cái đẹp xấu cái nên và không nên để từ đó nâng cao đời sống văn hóa, nâng cao ý thức giáo dục, thẩm mỹ của ocn người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xây Lắp Công Trình Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Nâng Cấp Nhà Văn Hóa Và Xây Dựng 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Đại Điền (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ)
  • Nhà Văn Hóa Xã Cần “mềm” Hơn Trong Thực Hiện Tiêu Chí
  • Sửa Chữa Trụ Sở Ủy Ban Nhân Dân Xã, Xây Mới Nhà Văn Hóa Xã Và Sửa Chữa 05 Phòng Chức Năng Của Nhà Văn Hóa Xã Quới Điền, Huyện Thạnh Phú (Gói Thầu Dành Cho Nhà Thầu Là Doanh Nghiệp Cấp Nhỏ Và Siêu Nhỏ) (Số Báo 42 Ngày 08/03/2016)
  • Đề Tài: Hoạt Động Văn Hóa Của Nhà Văn Hoá Thanh Thiếu Nhi, Hot
  • Theo Quan Niệm Của Hồ Chí Minh, Nền Văn Hóa Mới Có Mấy Chức Năng?
  • Bằng Những Hiểu Biết Về Chức Năng Của Văn Hóa, Anh Chị Hãy Bình Luận Ý Kiến Cho Rằng: ” Văn Hóa Góp Phần Gìn Giữ Tính Người Ở Trong Con Người”?

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò, Chức Năng, Nhiệm Vụ Và Quyền Hạn Của Phó Giám Đốc
  • Cfo Là Gì? Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Giám Đốc Tài Chính
  • Nhiệm Vụ, Chức Năng Và Vai Trò Của Giám Đốc Nhà Máy
  • Microsoft Word 2010 Sự Khác Biệt (Ngày 14/08/2017)
  • Hướng Dẫn Toàn Tập Word 2013 (Phần 18): Cách Chèn Text Box Và Wordart
  • Văn hóa là tổng hợp các giá trị do con người tạo ra, trước hết là những giá trị tinh thần. Người ta thường nói đến các chức năng của văn hóa như: nhận thức- dự báo, giáo dục- giao tiếp, sinh hoạt, tôn giáo, thẩm mỹ, giải trí, Đúng từ gốc độ nhân sinh nhiều người cho rằng, chức năng bao trùm nhất của văn hóa góp phần gìn giữ tính người trong con người trong vai trò giáo dục văn hóa, văn hóa tính người, con người trở thành một động vật siêu đẳng và tột bực thông minh, để từ đó con người trở thành chủ nhân của muôn loài, nhìn một cách tồng quát đời sống con người, dù ở đâu hay dưới thời đại nào, văn hóa nhân bản cũng là nền tảng giúp cho con người phát triển và đi lên theo chiều hướng tốt về mọi phương diện. Đồng thời văn hóa đã dạy con người biết sử dụng khối ốc và bàn tay kể từ khi đủ trí khôn cho đến lúc nhắm mắt để đem lại một cuộc sống tốt đẹp, thật hoàn hảo về vật chất cũng như tinh thần, biết nhìn nhận cuộc sống thế gian xung quanh. Vậy một khi bàn đến vấn đề, văn hóa nhân bản, văn hóa tính người, ta cần phải đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có chức năng gìn giữ tính người là điều kiện chính yếu và cần thiết để đào tạo cũng như huấn luyện con người trở thành sinh vật thật hoàn mỹ.

    Có thể lấy một ví dụ, cá nhân nào nếu bị người đời cho rằng” vô văn hóa” thì có thể hiểu người đó thiếu giáo dục cơ bản. Vậy môi trường gia đình, học đường và xã hội đều là những nơi thiết yếu để huấn luyện, trao dồi và bổ túc lẫn nhau nhằm hoàn chỉnh con người và trí tuệ, khả năng, chính trị, đạo đức đến lối xử thế với đời. Nhờ đó con người có thể hiểu biết, sống chung, nâng đỡ và hợp tác để duy trì an ninh trật tự xã hội.

    Qua nhiều thiên niên kỷ, dân tộc Việt đã hình thành và tự khẳng định, song do địa lý lịch sử, người Việt đã phải sớm tập hợp nhau chống thiên tai và ngoại xâm nên tính cộng đồng cao. Tính cộng đồng này, qua hàng ngàn năm, được nuôi dưỡng bởi nhiều giá trị văn hoá tạo ra những truyền thống gắn bó người dân, co những yếu tố văn hóa. Lối sống nông dân lúa nước, qua mấy ngàn năm, đã tạp ra cộng đồng một nền văn hóa mang lại cho con người một sự hiểu biết về thế giới và về chính mình, định hướng cho lối sống, và định hướng cho cuộc sống đẹp, lòng yêu nước, yêu con người.

    Không có đi sâu vào lý luận, ta có thể xếp bản sắc văn hóa Việt vào loại hình văn hóa mang đậm tính người, tính cộng đồng. Cũng phải nhắc lại là khái niệm tính cộng đồng này mang tính nhân văn sâu sắc chỉ sự gắn bó những nhóm: gia đình, làng xã, tổ chức xã hội, tôn giáo trong cộng đồng dân tộc lớn sự gắn bó mang đậm tính người mang đậm tình làng nghĩa xóm, trên thuận dưới hòa, hòa hiếu với gia đình chính là sự định hướng cho nhân cách, lối sống đẹp.

    Túm lại, văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quanhệ giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa góp phần gìn giữ tín người ở trong con người, văn hóa chỉ riêng có trong con người, là ranh giới phân biệt giữa con người và động vật. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.

    Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Của Hồ Chí Minh Về Chức Năng Của Nền Văn Hóa Mới
  • Chức Năng Của Văn Hóa
  • Bài 3: Chức Năng Và Cấu Trúc Của Văn Hóa
  • Cấu Tạo Của Tế Bào Sinh Vật Nhân Sơ
  • Cấu Tạo Tế Bào Nhân Sơ
  • Về Ý Nghĩa Ba Chức Năng Cơ Bản Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng, Nhiệm Vụ Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • 1.3. Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Nhân Dân
  • Viện Kiểm Sát Là Gì? Những Hiểu Biết Cơ Bản Về Viện Kiểm Sát
  • Chức Năng, Quyền Hạn, Nhiệm Vụ Của Viện Kiểm Sát
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Khi Kiểm Sát Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Khi nói về ý nghĩa của văn học, người ta nhắc nhở tới ba chức năng cơ bản: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Anh (chị) hiểu gì về ba chức năng đó? Thử phân tích một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 12 để làm sáng tỏ những kiến giải đó.

    BÀI LÀM

    1.Nhập đề: Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học. Cho nên, những nhà lý luận văn học vẫn tiếp tục nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu ấy chưa dừng lại, nhưng ít nhất, người ta cũng thừa nhận rằng văn học có nhiều chức năng, trong đó cơ bản là: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Xác định được ý nghĩa của những khái niệm đó và phân tích một tác phẩm cụ thể để minh họa, thiết tưởng đó cũng là một cách thiết thức để tìm hiểu vai trò của văn học.

    2. Giải quyết vấn đề: Chức năng nhận thức:

    a) Thế nào là chức năng nhận thức?

    Đi từ chức năng cung cấp kiến thức: con người, trong quá trình phát triển, cần rất nhiều kiến thức: về địa lí, về lịch sử, về toán học, về vật lý, về sinh học, về xã hội, về cuộc sông, về con người. Nhìn chung, có hai loại kiến thức: kiến thức về khoa học tự nhiên và kiến thức về khoa học xã hội. Văn học cung cấp cho ta những kiến thức thuộc loại thứ hai.

    Đến chức năng nhận thức: kiến thức là cái gì còn nằm ở dạng khách quan, còn nhận thức là có tác động chủ quan. Khi vẽ nên bức tranh hai người đánh lộn, đó là thể hiện khách quan, nhưng khi vẽ nên cảnh đó để trẻ em thấy đánh lộn là xấu, không nên thì đó là tác động chủ quan. Từ đó có thể thấy chức năng nhận thức tức là chức năng giúp người ta phân biệt cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Như thế, rõ ràng là văn học không phải chỉ cung cấp cho ta những kiến thức mà qua những kiến thức tác phẩm còn hướng người đọc tới nhận thức nhất định.

    Tác phẩm văn học đem tới cho người đọc những kiến thức nhất định. Nhưng đấy không phải là mục đích cuối cùng của nhà văn. Qua một tiểu thuyết, ta có thể biết được vào thời kỳ nào đó, người ta trồng trọt như thế, kiến thức ra sao, cưới hỏi có giống hiện nay hay không. Nhưng nhà văn không ngừng lại ở đó, nhà văn muốn qua những kiến thức đó, hướng người đọc tới những nhận thức về con người, về cuộc sống.

    b) Phân tích: Lấy một bài thơ quen thuộc – bài Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ điều đó. Lịch sử có thể miêu tả những trận đánh, nêu lên những đặc điểm của quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp, về ưu điểm cũng như về khuyết điểm.

    Sử học có thể mô tả con đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến qua những địa danh cụ thể xác thực. Nhưng tuyệt nhiên, sử học không bao giờ ghi lại một cách sinh động, chân thực và hình tượng cảnh đoàn quân như thế này:

    Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Nhà thơ, qua những hình ảnh sống động ấy, giúp cho ta nhận thức được con người hành quân hết sức gian nan, và cao hơn nữa, giúp ta nhận thức rằng những người chiến sĩ trong đoàn quân Tây Tiến là những thanh niên giàu lòng hy sinh và có tinh thần chịu đựng gian khổ một cách đáng khâm phục:

    Những cái gì cho họ có khả năng chịu đựng như vậy? Bài thơ tiếp tục đẩy người đọc đi tới một hướng nhận định mới: chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến là những con người tiêu biểu của một thế hệ thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước sâu sắc:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Chính vì nhận thức được như vậy nên có người đã nhìn thấy “bức chân dung tiêu biểu rất oai hùng của những chiến sĩ vô danh dám xả thân vì nghĩa lớn”.

    3. Chức năng thẩm mỹ:

    a) Thế nào là chức năng thẩm mỹ?

    Chức năng thẩm mỹ tức là chức năng về cái đẹp. Bản chất của con người là yêu cái đẹp, thích mình đẹp và hướng về cái đẹp. Văn học cũng như những ngành nghệ thuật khác, là một trong nhiều phương tiện hướng con người tới cái đẹp. Cái đẹp làm thỏa mãn nhu cầu trái tim, nhu cầu tâm hồn của con người. Bản chất của văn học là cái đẹp – cái đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng, của hành động – cho nên văn học đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người. “Tác phẩm văn học chân chính giúp cho con người phát triển những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh, nâng cao năng lực cảm nhận cái đẹp, nâng cao thị hiếu và lý tưởng thẩm mĩ, hiệu chỉnh những sai lầm, uốn nắn những sự không lành mạnh hay thấp kém trong quá trình cảm thụ cái đẹp. Văn học thực hiện chức năng này một cách vô tư, không áp đặt với người đọc”.

    b) Phân tích: vậy thì, trong tác phẩm mà chúng ta thí dụ, chức năng về cái đẹp đã thể hiện như thế nào?

    Ở trong hình ảnh:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Còn đây là một nét đẹp khác về con người:

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Hồn thơ tinh tế của tác giả bắt rất nhạy từ một làn sương chiều mỏng, từ một dáng hoa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt, rồi ông thổi hồn mình vào đó và để lại mãi mãi trong ta nỗi niềm bâng khuâng thương mến và một áng thơ đẹp và cả bài Tây Tiến mang vẻ đẹp lý tưởng của mọi người thật rực rỡ. Người ta sống bằng lý tưởng và nhìn những gian khổ mất mát bằng cái nhìn cao cả, bất cần, đôi khi ngây thơ nữa.

    4. Chức năng giáo dục:

    a) Thế nào là chức năng giáo dục? Đó là chức năng đem tới những bài học, những bổ ích của tác phẩm văn học. Nói cách khác tác phẩm văn học sẽ dạy ta những bài học thiết thực nào đấy bằng cách của nó. Có thể, qua một bài thơ, ta hiểu thế nào là tình yêu thiên nhiên, qua một tiểu thuyết ta học cách làm người cho xứng đáng. Nhưng nói như vậy là một cách nói tương đối và thoáng. Bởi vì tác phẩm không phải là những bài học giáo dục. Tác phẩm văn học còn được gọi là sự tự giáo dục. Nói cách khác, qua hình tượng nghệ thuật, mỗi một người đọc tự cảm nhận được điều bổ ích với chính mình, không nhất thiết giống với người khác. Tính giáo dục của tác phẩm văn học thông qua con đường của trái tim cho nên tác dụng của nó cực kì mãnh liệt. Nó làm thay đổi tâm hồn, làm phong phú tình cảm, làm thay đổi những suy nghĩ.

    b) Phân tích: chính bằng những hình tượng nghệ thuật giàu chất thẩm mĩ, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đem tới cho người đọc nhiều điều bổ ích thú vị.

    Trước hết là tình đồng đội. Rõ ràng điểm xuất phát của bài thơ này nỗi nhớ đồng đội tha thiết, mãnh liệt và chân thực. Từ sự rung động của nhà thơ, nỗi nhớ ấy làm rung động trái tim người đọc và bài học về tình yêu đồng đội được cảm nhận sâu sắc trên từng câu thơ:

    Và mặc dù nhà thơ không có một khái niệm trực tiếp nói về sự biết ơn, ca ngợi lòng biết ơn đối với những người chiến sĩ vô danh, nhưng toàn bộ bài thơ được người đọc đánh giá đó chính là tượng đài bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệm những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì nước… Nhận ra được đó là bức tượng đài tưởng niệm những người chiến sĩ không tên, ấy là gì nếu không phải là bài học cụ thể mà tác phẩm nghệ thuật mang tới cho người đọc.

    Kết luận: Thực ra thì rất khó có thể phân biệt ba chức năng ấy một cách dứt khoát và rõ ràng như vậy bởi vì bản chất của nó là gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Nhưng ở một mức độ tương đối, để dễ dàng nhận thức, chúng ta làm công việc tách rời đó. Dù khi tách rời, các chức năng ấy, trong một tác phẩm cụ thể là bài thơ Tây Tiến, vẫn tỏ ra có môi liên hệ. Bởi vì nhận thức mà tác phẩm đem tới là cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng.

    Chính vì những chức năng hết sức tinh tế và ảnh hưởng sâu sắc như vậy văn học luôn luôn cần thiết đối với con người trong quá trình phát triển nhân cách và đối với xã hội trong quá trình hoàn thiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Học Nghệ Thuật Và Chức Năng
  • Chức Năng Của Văn Học Là Gì?
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm Mỹ. Anh (Chị) Hiểu Gì Về Ba Chức Năng Đó? Phân Tích Một Tác Phẩm Tr
  • Chức Năng Của Văn Học
  • Vai Trò Chức Năng Và Nhiệm Vụ Của Kế Toán Trưởng Trong Doanh Nghiệp
  • Nhà Văn M. Gorki Cho Rằng: “văn Học Là Nhân Học”. Ý Kiến Của Em Về Quan Niệm Trên. Từ Đó Bàn Luận Thêm Mối Quan Hệ Giữa Con Người Trong Cuộc Đời Và Con Người Trong Tác Phẩm, Sức Sống Của Nhân Vật Điển Hình

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Đề Luyện Thi Bàn Luận Về Câu Nói:”sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Lí Luận Vh: Chức Năng Của Văn Nghệ
  • Những Câu Nói Hay Về Văn Học: 50+ Danh Ngôn Hay
  • 999+ Những Câu Nói Hay Về Gia Đình ❤️❤️❤️ Nên Đọc
  • Tổng Hợp Những Đoạn Trích Dẫn Hay Và Độc Đáo Trong Các Tác Phẩm Văn Học
  • Trên đời này, ngoài con người ra, còn có hai điều rất khó hiểu và khó hiểu đúng. Đó là tình yêu và văn học. Có ai dám nói rằng mình hiểu tình yêu và cũng có ai dám nói rằng mình định nghĩa được văn học? Văn học cũng như tình yêu vậy, có rất nhiều màu sắc. Chính vì thế nó không phải là những vật thể bất dịch có thể nắm bắt bằng tay, ngửi bằng mũi hay nhìn bằng mắt được. Người ta nói về văn học nhiều lắm, dài lắm, đẹp lắm! Còn Maxim Gorki, với ông: Văn học là nhân học – súc tích như bản chất của văn học.

    Câu nói của Gorki như đã được hun đúc lại từ chính cuộc đời cầm bút của ông. Đó là một phát hiện mới mà lại không mới; là một câu nói ngắn gọn mà lại không ngắn gọn. Đối với những con người chỉ coi văn chương là một thứ phù phiếm thì câu nói ấy của ông cũng sớm héo úa như những bông hoa chưa kịp nở đã tàn.

    Với văn học, chất liệu đầu tiên để cấu thành tác phẩm là ngôn từ. Nhưng yếu tố cuối cùng quyết định sự sống của tác phẩm lại không phải là ngôn từ. Đó chính là hình tượng nhân vật. Nhân vật văn học không ai khác chính là những con người của cuộc sống. Là một đối tượng phản ánh của văn học, con người hiện ra sinh động trong tác phẩm. Đọc tác phẩm ta nhận ra mình qua mỗi nhân vật ở từng ngõ ngách nội tâm, hiểu đúng hơn và hiểu nhiều hơn về cái thế giới tinh thần phong phú bí ẩn vốn bị cái bề ngoài bao phủ. Đến với Chí Phèo, ta nhận ra một con người của thời đại một cỗ máy trong khí ấy, một kẻ tha hoá mất phẩm chất nhưng đồng thời cũng là những tâm trạng, những nghĩ suy số phận của cả một lớp người nông dân nghèo thời Pháp thuộc. Đau khổ, độc ác, nghèo hèn, nhục nhã, hỗn hào chửi cả làng… và cao hơn hết là nỗi khát vọng được làm người, nỗi ước ao được trở về cuộc sống đời thường. Hiểu tâm lí của nhân vật, hiểu nỗi đau của nhân vật, độc giả lại càng hiểu về chính bản thân mình và cái thế giới với biết bao con người khác quanh mình.

    Học văn hay làm văn, viết văn cũng vậy thôi. Cũng là để nhận thức đúng đắn hơn về cuộc sống và con người. Bản chất của cuộc sống cũng là bản chất của con người. Mỗi người khi chấp nhận con đường về nghiệp văn tức là đã chấp nhận đương đầu với thử thách, khó khăn để sống đúng và hiểu đúng hơn về con người, về cuộc đời. Chính vì thế mà văn học đã lựa chọn cuộc đời làm người bạn đồng hành tri âm của mình. Và cũng chính vì lẽ đó mà văn học phải là nhân học, chứ không nào khác được.

    Nhưng nếu chỉ hiểu như vậy thôi thì đã đủ chưa? Văn học cung cấp bấy nhiêu mảnh đời, bấy nhiêu số phận không đơn giản chỉ để mỗi độc giả nhận ra mình qua từng mảnh đời, số phận đó. Văn học là nhân học và vì thế văn học không chỉ thực hiện chức năng nhận thức, còn phải làm tốt cả chức năng giáo dục. Học văn là học cách làm người. Và học cách làm người tức là học về cái tốt, cái đẹp và cái thật không phải lúc nào văn học cũng đề cao cái tốt đẹp. Cũng có lúc trong văn học xuất hiện những thằng cơ hội như Xuân tóc đỏ (Số đỏ – Vũ Trọng Phụng), lưu manh như Chí Phèo (Chí Phèo – Nam Cao), đểu giả nham hiểm như Bá Kiến (Chí Phèo) và thậm chí dâm ô, truỵ lạc như Nghị Hách (Giông tố – Vũ Trọng Phụng). Nhưng điều tác phẩm văn học muốn đề cập đến qua những nhân vật ấy là con người phải biết loại bỏ, căm ghét và chống lại cái xấu, đừng để cái xấu, cái ác như thế tồn tại trong cuộc đời. Điều đó cũng có nghĩa là, văn học giúp người đọc hướng thiện và đi tới sự hoàn thiện mình.

    Câu nói của M. Gorki không dừng lại ở đó. Không phải cho đến lúc con người tiếp cận với văn học thì mới biết nhận thức cái bản chất tốt đẹp, hoàn thiện của cuộc sống cũng như con người. Mà có lẽ, khi con người không coi văn chương là phù phiếm là một môn học cao quý thì họ đã tự tìm được cái tốt đẹp trong mình rồi. Văn chương là người thầy dạy ta và đồng thời cùng là tấm gương để ta tự soi mình. Đến với văn chương là đến với môn học về tâm hồn. Đến với văn chương là chúng ta đã phần nào thanh lọc chính mình, làm phong phú hơn tình cảm, tâm hồn mình.

    Xét theo một khía cạnh nào đó, Maxim Gorki đã đề cập tới nhân vật trong phát biểu của mình. Văn học giúp con người tốt hơn thông qua nghệ thuật thể hiện nhân vật chứ không phải là ở những khái niệm lí lẽ thuần giáo huấn. Như vậy giữa con người trong tác phẩm và con người trong cuộc đời có gì giống và khác nhau? Và sức sống của nhân vật điển hình mạnh như thế nào?

    Tác phẩm là sự thể hiện cuộc đời vì thế con người của tác phẩm cũng là sự thể hiện của con người trong cuộc đời. Cũng yêu thương, cũng hờn ghen, cũng hình hài xấu đẹp. Nhưng sự phản ánh đó không phải là cái sao chép nguyên xi. Nhà văn mượn nguyên màu cuộc sống rồi sáng tạo tưởng tượng thêm để tạo ra nhân vật của mình. Chị Ràng – người phụ nữ liệt sĩ trung kiên ở vùng đất Hòn chính là nguyên mẫu của chị Sứ trong Hòn đất (Anh Đức) nhưng chị Ràng không đẹp bằng chị Sứ và cũng không có tình mẫu tử xúc động như chị Sứ. Mối quan hệ giữa chị Ràng và chị Sứ cũng là mối quan hệ giữa cuộc đời và văn học. Cuộc đời là nơi khởi đầu và cũng là hướng đi tới của văn học. Văn học viết về cuộc đời và đồng thời cũng là tập hợp từ cuộc đời. Chính vì thế nhân vật mà mỗi tác giả nhào nặn hư cấu nên thường có giá trị điển hình cho con người của một xã hội, một thời đại. Đó chính là nét khác biệt giữa con người trong tác phẩm và trong cuộc đời. Sức sống của nhân vật điển hình – một con người này mà cũng nhiều người kia – chính là sức sống của một tác phẩm văn học. Và nhiều lúc nó còn thật nữa. Những Tú Bà, Sở Khanh, Thị Nở, Xuân tóc đỏ… cho tới giờ phút này không còn là một danh từ riêng chỉ tên nhân vật nữa mà đã trở thành một tính từ chỉ bản chất một loại người, tồn tại trong cuộc đời tự nhiên như đã bước ra từ tác phẩm vậy. Nói như vậy để thấy rằng, nhân vật điển hình là yếu tố rất quan trọng đối với từng tác phẩm. Nó quyết định sự trường tồn của tác phẩm truyện và của tên tuổi tác giả. Mỗi nhà văn chỉ mong muốn để lại cho đời một, hai nhân vật điển hình mức độ cao nhằm làm trong sạch hơn tâm hồn con người theo đúng bản chất và chức năng của văn học: Văn học là nhân học.

    Cái điều tưởng là dễ hiểu ấy cứ sống mãi trong mỗi người như sự trường tồn của cuộc đời, của văn học. Mỗi trang văn là mỗi trang đời. Và mỗi trang đời ấy, được viết từ những mẫu, những mảnh con người. Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết bạc vàng mà Đời rơi vãi (Chế Lan Viên) cũng như mãi mãi không có thứ văn chương nào nằm ngoài quy luật của sự sáng tạo: Nghệ thuật vị nhân sinh và Văn học là nhân học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Hsg :cái Đẹp Mà Văn Học Đem Lại Không Phải Là Cái Gì Khác Hơn Là Cái Đẹp Của Sự Thật Đời Sống Được Khám Phá Một Cách Nghệ Thuật
  • Bài Văn Của Học Sinh Giỏi :văn Chương Giúp Ta Trải Nghiệm Cuộc Sống…
  • Một Số Mở Bài Mẫu Tham Khảo (P2)
  • Giá Trị Văn Học Và Tiếp Nhận Văn Học
  • Về Một Số Chức Năng Của Văn Chương
  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay
  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn Học Việt Nam 1975
  • Dẫn Chứng Cho Nghị Luận Xã Hội
  • Đề: Bàn luận về câu nói: “Sức mạnh của văn học dựa trên những chức năng của nó”.

    Xantưkhôp Sêđrin đã từng nói: “Nghệ thuật nằm ngoài quy luật của sự băng hoại. Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”.

    Trải qua mọi khoảnh khắc của thời gian, ngóc ngách của không gian trong suốt bề dày lịch sử d ường như ta hiểu được mọi vật hiện hữu xung quanh ta đều có một thời gian tồn tại nhất định. Bởi lẽ nó đã trở thành một quy luật bất biến mà tạo hóa sắp đặt cho chính cuộc sống này. Nhưng nằm ngoài quy luật ấy, vẫn có những giá trị bất biến trước tiếng tíc h tắc của thời gian và tồn tại trong bất cứ vị trí gọi là không gian. Đó chính là Văn học. Để nói sâu hơn về sức sống của văn học thì có ý kiến cho rằng:”sức mạnh của văn học dựa trên những chức năng của nó”.

    Trước hết ta cần hiểu sức mạnh là khả năng tác động mạnh mẽ đến người khác hay sự vật và gây ra những tác dụng ở mức độ cao. Còn chức năng lại là một danh từ chỉ đến khả năng của một thứ hay nói rõ hơn là khả năng thực hiện công việc của sự vật. Vậy thì nhìn lại nhận định trên, ta có thể dễ dàng hiểu việc văn học có thể tác động mạnh mẽ về nhiều khía cạnh tới người đọc một phần là nhờ những giá trị khả năng mà nó có được.

    Điều này quả thật không sai khi chúng ta xét sức mạnh mà văn học có được trên 3 chức năng chính của nó là: nhận thức, giáo dục, thẩ m mĩ, nghệ thuật. Đầu tiên và cũng là cơ bản nhất- chức năng nhận thức. Bởi theo Nguyễn Minh Châu ” cuộc đời là điểm khởi đầu và là điểm đi tới của văn chương” vì thế mà văn học mang tới cho chũng ta những lát cắt sâu nhất rộng nhất từ hoa quả mang tên cuộ c sống. Nhờ đó ta có thêm nhiều nhận thức, kiến thức mới mẻ mà không hề bị gò bó trong bất cứ không gian và thời gian nào. Không những thế văn học còn giúp ta hiểu bản chất con người nói chung. Đồng thời từ những mảnh đời, số phận trong văn học ta có thêm cái mới mẻ hơn để liên hệ đối chiếu bản thân mình hoàn thiện hơn với một tư cách cá nhân thật sự. Hay cao hơn nữa là văn học giúp con ng ười tự mình nhận thức thông qua việc người đọc rìm thấy cái lạ trong sự quen thuộc, cái cụ thể ẩn trong sự khái quát để rồi ta thấy được giá trị cốt lõi thấm trên mình tính nhân văn.

    Ngoài việc hướng tới con người đến những khát vọng chân lí cùng với những vẻ đẹp tâm hồn đáng trân trọng thì văn học còn trữ tiếp nuôi dưỡng những điều ấy qua chính chức năng giáo dục. Bằng những trải nghiệm sâu từ cuộc sống, nhà văn luôn mang đến cho người đọc những tư tưởng quan điểm tiến bộ để từ

    đó học có thái độ đúng đắn với cuộc sông. Như việc đến với những tác phẩm của Đại thi hào Nguyễn Du, ta gặp gỡ được một tình yêu tự do giữ Thúy Kiều và Kim Trọng trong” Truyện Kiều” mà xã hội thời ấy cho là sai trái. Không dừng lại ở mặt tư tưởng, văn học còn rèn dũa tâm hồn ta từ những rung động thầm kín nhất để từ đó tạo nên một thế giới nội tâm đa dạng, màu sắc làm bước nền cho việc hình thành có được một tâm hồn cao thượng hơn. Nếu về mặt tình cảm chúng ta chỉ mới dừng lại ở khía cạnh phác họa thì việc giáo dục đạo đức đã đưa đến cho văn học những gam màu hài hòa nhất tô nên những nhân cách đầy cao đẹp cho con người. Đó là khi ta biết phân biệ t phải trái, đúng sai và có mối quan hệ tốt đẹp với mọi người. Ngoài ra việc khám phá tìm tòi nội dung của một tác phẩm cũng chính là ta đang học cách trở thành một người thưởng thức văn học với một thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh và tinh tế.

    Nhưng văn học khôn g khô khan bởi những lý thuyết nằm trên trang giấy mà nó còn được chính những nhà thơ thổi vào bên trong mình những vẻ đẹp rất lạ rất riêng không hề trộn lẫn mang tên ” thẩm mĩ”. Chính chức năng này của văn học đã đáp ứng được một nhu cầu thiết yếu mà mỗi con người đều cần phải có, đó chính là cảm thụ và thưởng thức cái đẹp. Thế nhưng, cái đẹp mà văn học hướng đến không chỉ đơn thuần là câu chữ, vần thơ, hình thức bên ngoài như Nguyễn Công Trứ từng tâm sự: “Trót nợ cùng thơ phải chuốt lời”.. mà nó còn là n ét đẹp nơi nội dung, thông điệp mà tác giải tâm sự, gửi gắm bởi văn chương là “nghề của bề sâu”. Chính bởi sự lao động mệt nhọc không ngừng nghỉ của người cầm bút trên “mảnh đất” cuộc sống mà người đọc được khơi dậy những khoái cảm nghệ thuật và dần dần hì nh thành nên những thị hiếu thẩm mĩ lành mạnh làm chiếc chìa khóa vàng mở ra một thế giới chưa đựng “bản chất nghệ sĩ” và” cảm hứng nghệ sĩ” tiềm ẩn trong mỗi con người.

    Nếu như nói giá trị thẩm mĩ mang trên mình “cái đẹp cứu chuộc thế giới”( Doxtoepxki) t hì có lẽ chức năng nghệ thuật sẽ là bổ sung hoàn hảo nhất cho một chữ “đẹp” thật trọn vẹn của văn học. Xuất phát từ giá trị thẩm mĩ, chức năng nghệ thuật được tạo nên từ sáng tạo của nhà văn trong việc sắp xếp các chii tiết ý tưởng, tạo hình nhân vật,…. Tuy thường không được để ý thế nhưng chức năng nghệ thuật lại chính là công cụ tạo nên những mầm mống sự sống đầu tiên của mỗi tác phẩm văn học từ người cha đẻ của mình là các nghệ sĩ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn Học Việt Nam 1975
  • Dẫn Chứng Cho Nghị Luận Xã Hội
  • Văn Học Dân Gian Van Hoc Dg Doc
  • Các Kiểu Nhân Vật Trong Truyện Dân Gian Ở Chương Trình Ngữ Văn Thcs
  • Em hãy lập dàn ý cho đề bài: Dàn ý bài: Nêu suy nghĩ của em về chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.

    A, Mở bài:

    -Giới thiệu văn học là một môn nghệ thuật ngôn từ.

    -Nói qua về chức năng của văn học và làm nổi bận lên chức năng giáo dục.

    B, Thân bài:

    Khái niệm văn học

    – Nghĩa rộng: Văn học còn được hiểu là tên gọi chung của mọi tác phẩm bằng ngôn ngữ nói hay viết.

    -Nghĩa hẹp: Văn học là các sáng tác bằng ngôn từ hư cấu, tưởng tượng; biểu hiện tình cảm của con người như: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tản văn, kịch,…

    Các chức năng của văn học

    -Chức năng nhận thức

    -Chức năng giáo dục

    -Chức năng thẩm mỹ

    – Chức năng giao tiếp

    Ngoài ra còn có thể kể đến một số chức năng khác như: chức năng sáng tạo, chức năng đánh giá, chức năng cải tạo,…

    Chức năng giáo dục của văn học

    Khái niệm giáo dục

    -Giáo dục có thể hiểu là học tập, nâng cao trình độ văn hóa.

    -Giáo dục cũng có thể hiểu như hoạt động rèn luyện, trau dồi những giác quan thẩm mỹ và năng lực sáng tạo cho con người.

    -Chức năng giáo dục của văn học

    Chức năng giáo dục của văn học thể hiện trong những nội dung sau:

    2.1 Văn học có chức năng giáo dục thẩm mỹ.

    Chức năng giáo dục của văn học trước hết là giáo dục thẩm mỹ. Đó là quá trình nâng cao năng lực thẩm mỹ của con người trong đó có việc bồi dưỡng các cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ. Từ đó, con người có khả năng tiếp cận và tiếp nhận cái đẹp một cách có hiệu quả hơn.

    Các tác phẩm ở những thời đại khác nhau cho chúng ta biết được sự đánh giá về cái đẹp của giai đoạn đó. Từ những nhân vật cụ thể trong tác phẩm mà người đọc xây dựng cho mình lý tưởng thẩm mỹ cho phù hợp.

    2.2 Văn học khêu gợi tư tưởng, tình cảm, nuôi dưỡng tâm hồn, niềm tin vào con người.

    – Văn học có khả năng hướng thiện: luôn hướng con người đến cái thiện thông qua việc hình thành quan điểm đạo đức, khơi gợi tình cảm đạo đức cho con người thông qua hình tượng nhân vật điển hình.

    – Văn học là nơi nuôi dưỡng tình cảm nhân ái.

    + Những tác phẩm văn học ưu tú luôn có khả năng khơi dậy trong chúng ta khả năng đồng cảm; làm cho ta biết yêu, biết buồn; dậy cho ta biết yêu, biết ghét, biết khinh bỉ sự phản trác, cái tẹp nhẹp, tầm thường, lười biếng,…

    + Văn học khơi dậy trong tâm hồn ta niềm tin vào sự tất thắng của cái thiện, niềm tin vào cuộc sống,…

    2.3 Chức năng giáo dục của văn học còn ở tình chiến đấu của nó

    Văn chương là vũ khí đấu tranh giai cấp. Tính chất “vũ khí” của văn chương biểu hiện tập trung ở chỗ này. Cải tạo là phê phán cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu, đề xuất cái mới cái tốt cái tiến bộ cách mạng. Nếu văn chương chỉ vạch ra cái tiêu cực không thôi thì mới là được nhiệm vụ “phá” mà chưa làm được nhiệm vụ “xây”. Như thế tức văn chương chưa thực hiện trọn vẹn chức năng cải tạo. Mặt khác, không có một vụ “xây” nào mà lại không gắn với phê phán, phá bỏ cái cũ, cái xấu, cái lạc hậu, cái cản trở sự phát triển đi lên. Lênin đã từng gọi “Người mẹ” của Gorki là “quyển sách kịp thời” bởi vì chính “Người mẹ” đã có sức mạnh cải tạo, sức mạnh của một vũ khí tinh thần và tư tưởng cho công nhân Nga lúc bấy giờ. Người nói: “Quyển sách này là cần thiết, nhiều công nhân đã tham gia phong trào cách mạng một cách vô ý thức, tự phát, và bây giờ họ đọc “Người mẹ”, điều đó sẽ mang lại ích lợi lớn cho bản thân họ”.

    2.4 Văn học biến sự giáo dục thành tự giáo dục, giúp cho con người tự hoàn thiện nhân cách.

    – Nhân cách con người được hình thành một cách trọn vẹn thông qua văn học

    Các hình tượng văn học đã được nhà văn cẩn thận chọn lọc và gây xúc cảm tự nhiên trong lòng người đọc.

    Chính bởi nhờ sự yêu, ghét hay thương cảm cho các nhân vật mà từ đó, nhân cách được hình thành trong người đọc một cách tự giác, dẫn biến tu tưởng, tình cảm thoáng qua ấy thành nhận thức của người đọc.

    – Văn học giáo dục chính bằng sự cuốn hút, hấp dẫn của nó chứ không phải bằng những hình thức khô khan.

    Tất cả những chân lý, luân lý, đạo đức, tư tưởng, tình cảm của văn học mang lại không khô khan, trừu tượng như triết học hay khoa học mà rất sống động và giàu hình ảnh, được người đọc cảm nhận một cách thích thú.

    C, Kết luận

    Trong các chức năng cơ bản của văn học thì chức năng giáo dục được đánh giá là quan trọng nhất. Giáo dục là chức năng cơ bản bao gồm những thành phần quan trọng giúp cho văn học luôn chiếm được một chỗ đứng vững chắc trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử.

    Văn học còn là phương tiện hữu hiệu nhất làm cho những con người có cùng chung nỗi đau, khát vọng, quan niệm đạo đức và lý tưởng thẩm mỹ xích lại gần nhau, đoàn kết với nhau; biến những tư tưởng, tình cảm, chuyển nhận thức của họ thành hành động thực tiễn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay
  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Tuần 2. Khái Quát Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Văn Học Việt Nam 1975
  • Dẫn Chứng Cho Nghị Luận Xã Hội
  • Văn Học Dân Gian Van Hoc Dg Doc
  • Bàn về việc học văn của các bạn trẻ hiện nay

    Từ xưa đến nay, môn Văn luôn chiếm một vị trí quan trọng trong đạo học. Văn chương giúp đời sống tinh thần của con người thêm phong phú hơn, giúp ta ứng xử lịch sự, văn minh hơn. Nhưng bây giờ chúng ta đang bước vào thế kỉ XXI-thế kỉ của khoa học, công nghệ hiện đại- do đó vì thế vị trí của môn Văn trong các trường đã bị suy giảm. Nhiều phụ huynh học sinh thích chạy theo những môn học thời thượng như các môn tự nhiên: Toán, Lí, Hóa và môn xã hội Anh, Tin học mà không thích con mình học môn Văn, vì theo tư tưởng của họ cho rằng thế kỉ XXI là thế kỉ hiện đại, các quốc gia, dân tộc đang cố gắng phát triển để hội nhập với toàn thế giới. Là một học sinh đang cắp sách đến trường như em không đồng tình với họ.

    Văn chương là một phần không thể thiếu trong cuộc sống mỗi con người. Trong xã hội phong kiến thời xưa, văn chương là môn thi duy nhất để các sĩ tử khẳng định mình trong các khoa thi. Đã có rất nhiều người thành đạt trên con đường văn chương như đại thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Mạc Đĩnh Chi, Lê Quý Đôn, Hồ Xuân Hương…Họ đã để lại sự nghiệp văn chương đồ sộ khi ai từng đọc qua thì cảm động, ngưỡng mộ, thông cảm cho cuộc đời của những người nông dân dưới thời phong kiến và lên án bọn địa chủ độc ác.

    Còn trong xã hội ngày nay, việc học Văn càng có ý nghĩa quan trọng hơn. Nhất là trong trường học, nó giúp con người nhận thức được cái hay, cái đẹp chuẩn mực trong cuộc sống. Vì văn học là những tinh hoa văn hòa nhân loại, lưu truyền những cái tốt đẹp của con người qua các thời đại. Văn chương dẫn chúng ta vào một thế giới mà sự cho đi không đòi hỏi sự đáp lại. Văn chương chân chính dù ở bất kì thời đại nào cũng đều dề cao tình yêu thương, lòng nhân ái, sự công bằng. Giúp em nhận thấy thế giới này sẽ đẹp hơn nhiều từ những điều giản dị nhất, có bản lĩnh, có suy nghĩ, ứng xử, lối sống đúng đắn, lành mạnh. Chẳng hạn đọc tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du, ta thấy được một bức tranh xã hội phong kiến đầy rẫy những bất công đen tối. Hay là đọc bài thơ Bánh trôi nước của nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương, ta lại thấy được số phận lênh đênh chìm nổi của người phụ nữ…

    Không những thế văn chương còn làm cho thế giới ngôn ngữ của mỗi con người thêm phong phú hơn, trong sáng hơn. Nó trau dồi lời ăn, tiếng nói của mỗi con người trong cuộc sống hằng ngày.

    Mỗi môn học, mỗi một lĩnh vực đều có một sứ mệnh riêng của nó. Đi sâu vào đời sống tình cảm của con người, làm thế giới tình cảm phong phú hơn, sâu sắc hơn, nhạy cảm hơn cho tâm hồn, cho trái tim của mỗi con người rung lên là sứ mệnh của văn chương.

    Như vậy văn chương là không thể thiếu trong cuộc sống xưa và nay. Thế mà trong xã hội ngày nay, việc học Văn lại bị xem nhẹ. Nếu như một ngày nào đó, môn Văn dần dần bị lãng quên thì xã hội của chúng ta sẽ buồng tẻ, nhàm chán và khô khan, hạn hẹp đến thế nào?

    Chẳng hạn, một người thành đạt bộ môn khoa học tự nhiên đẻ ra rất nhiều tiền hoặc một bạn nói tiếng Anh như gió, giao tiếp với người nước ngoài lưu loát, trôi chảy nhưng khi giao tiếp với người Việt thì ấp a ấp úng, từ ngữ khi giao tiếp thiếu chính xác. Vì sao lại vậy? Vì bạn không có vốn hiểu biết về văn chương, vốn từ không phong phú, có khi họ chỉ muốn xuất ngoại nên họ đã không tôn trọng nền văn học văn hóa Việ Nam. Có rất nhiều bạn phải tốn hàng tiếng đồng hồ để viết một bức thư cho người thân. Ở thời đại này đã xuất hiện những máy vi tính, họ làm việc, viết thư, đánh chữ thay cho việc viết bằng tay. Nhiều người cho rằng đánh máy cho nhanh, kiểu chữ trên máy tính dễ đọc, dễ nhìn hơn là viết tay. Trên mạng thì có thêm ngôn ngữ “chat” mà nhiều bạn trẻ hiện nay rất ưa chuộng. Em cũng là giới trẻ nên cũng nằm trong trường hợp trên. Nó có thể viết nhanh, gọn nhưng nó lại làm cho chúng ta dần dần quên đi ngôn ngữ mẹ đẻ của mình.

    Vì vậy, Văn học dạy em biết yêu quý tiếng nói dân tộc mình, đất nước mình vì đó là nguồn cội của chính mỗi con người dân Việt. Làm em nhớ về những bài thơ về chữ cái vào lần đầu tiên em tập viết:” o tròn như quả trứng gà, ô thì đội mũ, ơ thì có râu”…Cho nên Văn học rất quan trọng nếu không chúng ta sẽ rơi vào bi kịch như một nhà văn Mê-hi-cô đã từng nói: Bi kịch của thời đại chúng ta là thừa trí tuệ, thiếu tâm hồn. Chúng ta phải công nhận rằng Toán, Lí, Hóa, Anh, Tin học là rất quan trọng trong xã hội ngày nay nhưng đừng vì thế mà xem thường môn Văn.

    Môn Văn là môn thuộc nhóm công cụ, học Văn tốt sẽ có tác động tích cực đến các môn khác. Chẳng hạn như là muốn soạn thảo một văn bản bạn phải có vốn hiểu biết Ngữ Văn, học tốt phần Tiếng Việt, Tập làm văn trong ghế nhà trường. Do vì lối sống, suy nghĩ thực dụng của học sinh, phụ huynh muốn con em mình học bộ môn đó để làm ra tiền hoặc do đội ngũ giáo viên dạy nghề càng thiếu tâm huyết, nhiều thầy cô là do gánh nặng cuộc sống làm mất đi niềm say mê văn học vốn có. Trường học thì chưa có đầu tư, bồi dưỡng giáo viên, chưa có hoạt động ngoại khóa văn chương để thu hút học sinh, sinh viên… Đó là nguyên nhân đẫn đến hiện tượng học sinh, sinh viên không thích học Văn.

    Nếu như vậy thì cần có sự quan tâm hợp sức của toàn xã hội nhất là trong gia đình, nhà trường hướng học sinh chú ý đến vai trò và ý nghĩa của việc học Văn. Cần có những giải thưởng tôn vinh tài năng văn học của một số học sinh yêu thích bộ môn này. Mở rộng ngành nghề cho khối thi các bộ môn xã hội… Đó là một số phương pháp giúp việc học Văn của bạn trẻ hiện nay sẽ tốt hơn, phát triển hơn.

    Như vậy, văn chương là một phần tất yếu trong cuộc sống, giúp chúng ta trong mọi lĩnh vực. Vì vậy, các bạn và các bậc phụ huynh đừng xem nhẹ môn Văn. Đừng có nghĩ một cách nông cạn mà cho rằng môn Ngữ Văn là không cần thiết, không ứng dụng nhiều trong xã hội hiện nay.

    Nguyễn Lê Mỹ Ngân (lớp 10A9 – THPT Phú Nhuận)

    Sự thật là học trò học Văn chỉ để thi, không vì một mục đích nào khác

    Đã từ lâu, đã có một hiện thực đang tồn tại ở rất nhiều trường phổ thông hiện nay đó là một bộ phận học sinh không thích học văn, ngán học văn.

    Các em học Văn chỉ vì môn học này được sử dụng để thi tuyển sinh vào lớp 10 và thi tốt nghiệp trung học Quốc gia. Vì thế, việc cảm thụ các tác phẩm văn học trong nhà trường bị hạn chế.

    Nhiều tiết học, thầy cô dạy còn hời hợt, học trò thì học theo kiểu đối phó nên những tiết học tẻ nhạt cứ diễn ra một cách máy móc, khiên cưỡng.

    Vậy vì sao lại có hiện tượng này?

    Chúng ta đều biết, môn Văn là một môn học rộng bao gồm ba phân môn nhỏ là Văn học, Tiếng Việt và Tập làm văn.

    Môn học này đang chiếm thời lượng nhiều nhất nên số lượng tiết học dao động từ 4-5 tiết/tuần. Vì lượng kiến thức rộng, đòi hỏi người dạy và học có sự khái quát cao mới cảm nhận hết được.

    Trong khi đó, trải qua nhiều lần chỉnh sửa sách giáo khoa chúng ta phải thừa nhận rằng cách viết sách hiện nay vẫn dài dòng, rườm rà.

    Đặc biệt là phân môn Tập làm văn, nhiều bài nhập nhằng vào nhau và diễn đạt một cách chủ quan theo người viết sách.

    Nội dung phản ánh của môn học rộng, chẳng hạn như môn Văn học gồm các tác phẩm Văn học trong nước, nước ngoài nhưng lại không sắp xếp theo trình tự thời gian mà hướng người dạy, người học theo hướng tích hợp cả ba phân môn.

    Chính vì vậy mà đang Văn học trung đại lại nhảy sang Văn học hiện đại, hay Văn học nước ngoài .

    Vì thế, nếu học sinh không chú tâm sẽ rất khó nhớ được tác phẩm văn học nào là hiện đại, tác phẩm nào là trung đại và không có một mạch cảm xúc xuyên suốt.

    Đồng thời, sách giáo khoa cũng bố trí quá nhiều văn bản nhật dụng vào môn học nên giảm đi đặc trưng của văn học.

    Trong khi đó, nhiều thầy cô dạy Văn không chịu làm mới mình. Một số thầy cô vẫn chủ quan cho rằng mình dạy lâu năm có nhiều kinh nghiệm, lên lớp cứ thao thao từ năm này qua năm khác với chừng ấy kiến thức.

    Phần văn học trung đại là phần đòi hỏi phải có nhiều kiến thức Lịch sử, Triết học, sự hiểu biết về chữ Hán, Nôm thì mới thẩm thấu hết được, đằng này chỉ bám vào phần dịch thơ, hay văn bản tiếng Việt.

    Chúng ta biết rằng nhiều bài thơ dịch không thể sát với nguyên bản tiếng Hán bởi người dịch phải dịch theo thể thơ, theo vần điệu…

    Nhiều thầy cô chỉ bám vào hướng dẫn của sách giáo viên và thiết kế bài giảng đã có sẵn nên bài giảng cứng nhắc, rập khuôn.

    Môn Văn lại luôn cần sự sáng tạo, luôn cần cái riêng để khám phá cái hay, cái đẹp của văn chương.

    Từ lâu, khi kinh tế đất nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, nhiều ngành nghề mới được mở, khả năng sau khi ra trường kiếm được thu nhập cao hơn, cơ hội xin việc dễ hơn.

    Trong khi môn Văn chỉ thi được một số ngành mà cơ hội việc làm lại thấp. Vì thế, các môn tự nhiên là đối tượng các em yêu thích hơn, đầu tư nhiều hơn.

    Các bậc cha mẹ cũng hướng con mình đến những môn học tự nhiên, những môn học có thể thi được nhiều ngành nghề nhằm sau khi học xong có thể dễ xin việc làm.

    Nhiều người quan niệm: môn Văn được là môn học viển vông, lãng mạn, lạc hậu với xu thế thời đại. Điều này dẫn tới các em không chú trọng đối với môn Văn cũng là điều dễ hiểu.

    Một điều khó khăn nữa là một số hướng dẫn hiện hành mang tính cứng nhắc. Bởi từ năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục phát hành quyển Chuẩn kiến thức môn Ngữ văn.

    Vì thế, trong quá trình dạy phải hướng học sinh tới cái “chuẩn” đã quy định. Nhất là phần nghệ thuật và ý nghĩa phải giống nhau nên tạo nên những máy móc bắt buộc.

    Ai cũng phải thực hiện các mục này giống nhau. Nếu không giống thì bị bắt bẻ khi có giáo viên, Hội đồng bộ môn hay Ban giám hiệu dự giờ. Trong khi hai phần này gần như đều đã nằm trong ghi nhớ của bài học.

    Chúng ta cũng cần thiết có một cái chuẩn chung cho mọi đối tượng học sinh. Nhưng, việc bắt buộc người dạy, người học phải đi qua chừng ấy các đề mục là điều không cần thiết.

    Văn chương trước hết phải là văn chương, không nên gò bó hàng triệu mái đầu vào cùng chung một suy nghĩ của một người viết “chuẩn kiến thức”.

    Trong những năm gần đây, việc thay đổi liên tục về phương pháp, cách tiếp cận, cách ra đề kiểm tra, đề thi cũng là một trong những nguyên nhân làm cho môn Văn không còn được nguyên vẹn như trước.

    Mãi đến giữa học kì 1 của lớp 9 các em mới bắt đầu tiếp cận với phần nghị luận văn học nhưng cách định hướng kiểm tra cho phần cảm thụ văn học không nhiều, chủ yếu mới dừng lại ở phần “vận dụng thấp”…

    Theo quy định hiện hành mỗi học kì giáo viên phải dự giờ một số tiết theo quy định, đặc biệt là thỉnh thoảng chúng tôi được dự một số tiết thao giảng của các trường trong huyện, tỉnh hoặc một số tiết dạy mẫu trong các đợt tập huấn.

    Mặc dù, những tiết dạy mẫu có sự đầu tư của nhiều người cho tiết thao giảng, hay là sự báo trước cho chuẩn bị của các giáo viên trong trường, chúng tôi vẫn cảm thấy tiết dạy nhạt nhẽo và nhiều lỗi.

    Nhiều tiết giảng văn mà giống như giảng bài môn học Giáo dục công dân. Êm đều, không có một điểm nhấn, cách đọc thơ vô hồn rất khó chấp nhận của một người giảng văn. Chất văn trong mỗi giờ học rất ít có.

    Có lẽ, muốn cho học sinh yêu thích học môn Văn, thiết nghĩ không phải là điều quá khó đối với mỗi người thầy.

    Chúng ta phải đặt mình trong vị trí người học. Nếu như một tuần có từ 4-5 tiết Văn mà người thầy cứ vào dạy một cách máy móc thì học sinh sẽ rất mau nhàm chán.

    Từng buổi học, chúng ta phải tự làm mới mình bằng nhiều phương pháp khác nhau.

    Người thầy phải chuẩn bị chu đáo từng câu hỏi, từng bài để gợi mở cho các em tìm tòi, khám phá.

    Chúng ta tận dụng tối đa những điểm nhấn của công nghệ thông tin về tranh, phim ảnh, về những bài ngâm thơ mẫu để tạo cho các em sự hứng thú và tái tạo lại bối cảnh lịch sử qua từng tác phẩm để các em đối chiếu tác phẩm văn học qua từng giai đoạn lịch sử.

    Những bài dài như phân môn Tập làm văn phải biết cô đọng lại bài để 45 phút của tiết học các em phải hệ thống được kiến thức bài giảng và đặc biệt là giúp các em nắm được các kĩ năng làm bài Văn .

    Dù ở thời đại nào thì môn Văn cũng là một môn học quan trọng trong trường phổ thông bởi môn học này không chỉ giúp các em nắm được các kĩ năng cảm thụ văn học, kĩ năng viết bài, nắm được sự giàu đẹp của tiếng Việt mà đây còn là môn học định hướng nhân cách, đạo đức, sống có ước mơ, hoài bão cho học trò.

    Vì thế, môn Văn có một vị trí vô cùng quan trọng trong trường phổ thông và đã đến lúc chúng ta cần phải nhìn nhận lại cách dạy và học của môn học này.

    (Nguồn: https://giaoduc.net.vn)

    Khắc phục tình trạng coi nhẹ môn Ngữ văn hiện nay

    Có một thực trạng đáng buồn hiện nay là khi đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thi một bộ phận học sinh coi nhẹ môn Ngữ văn và các môn xã hội, nhân văn nói chung.

    Các em chỉ quan tâm học Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên. Thế kỉ XXI đã và sẽ chứng kiến tốc độ phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ. Do đó, không quá khó hiểu khi giới trẻ hiện nay có xu hướng tìm đến Ngoại ngữ, Tin học và các môn khoa học tự nhiên như là một sự bảo đảm cho tương lai. Nhưng thật sai lầm khi học sinh loại bỏ môn Văn ra khỏi hành trang tri thức khi bước vào đời.

    Nếu đã từng thực sự biết khám phá, hiểu sâu và lĩnh hội hết những giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật của những tác phẩm văn học, chắc hăn ai cũng có thể nhận thấy những chức năng đặc thù của văn học trong việc bồi đắp tâm hồn, hình thành nhân cách học sinh.Văn học trang bị những cảm xúc nhân văn, giúp con người hướng tới Chân – Thiện – Mỹ. Nhờ có Văn học mà đời sống tinh thần của con người ngày càng giàu có, phong phú, tinh tế hơn. Tâm hồn trở nên bớt chai sạn, thờ ơ, bàng quan trước những số phận, cảnh đời diễn ra xung quanh mình hàng ngày, trước thiên nhiên và tạo vật. Điều này càng quan trọng khi chúng ta đang sống trong guồng quay hối hả của cuộc sống hiện đại. Văn học bồi đắp cho học sinh lòng yêu nước, thái độ trân trọng truyền thống, và ngôn ngữ Mẹ đẻ… Thời nào cũng vậy, tác phẩm Văn học chân chính có khả năng kì diệu là thanh lọc tâm hồn con người, làm người “gần người hơn”. Đọc Truyện Kiều, ta xót xa thương cảm cho số phận cay đắng, nghiệt ngã của người con gái tài sắc, Đọc truyện ngắn Chí Phèo ta thấy rưng rưng trước mối tình có một không hai giữa Chí Phèo và Thị Nở, ấy là dấu hiệu của một tâm hồn nhân ái, giàu lòng trắc ẩn. Môn Ngữ văn còn có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện khả năng sử dụng ngôn ngữ, diễn đạt, cách thức tạo lập các loại văn bản phục vụ cho quá trình giao tiếp trên mọi lĩnh vực của mỗi người trong cuộc sống.

    Mặc dầu có vị trí, chức năng quan trọng đặc biệt như vậy nhưng hiện nay đang xuất hiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Tỉ lệ học sinh thi vào các trường khối C càng ngày càng ít. Một số học sinh chọn thi khối C không phải vì thích hoặc có khả năng học các môn khoa học xã hội mà chỉ vì họ không đủ khả năng để thi vào khối nào khác. Nhiều bậc phụ huynh cũng than phiền về việc con em mình không thích đọc sách văn học bằng các loại truyện tranh chỉ mang ý nghĩa giải trí đơn thuần. Qua các kỳ thi, các bài kiểm tra môn Ngữ văn, có thể nhận thấy có nhiều học sinh học theo kiểu đối phó, học vẹt, lạm dụng tài liệu tham khảo, không chú trọng kỹ năng diễn đạt, dùng câu, từ… Từ khi thực hiện chương trình SGK mới, ở các khối A, B môn Ngữ văn không còn được tính điểm hệ số 2. Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT, học sinh còn có cơ hội để quay cóp, trao đổi bài, sử dụng tài liệu nên có điểm cao mặc dù không chịu học. Thực tế trên đã khiến cho nhiều học sinh vốn đã không thích học môn Ngữ văn, nhất là những học sinh thi các khối thi có các môn khoa học tự nhiên, càng có “cớ” để lạnh nhạt, hờ hững với môn học này.

    Một bộ phận không nhỏ học sinh không thích học Ngữ văn và yếu kém về năng lực cảm thụ văn chương không chỉ gây bi quan đối với dư luận xã hội mà còn tác động tiêu cực đến người dạy. Nhiều thầy cô giáo dạy văn đã xuất hiện tâm lí chán nản, buông xuôi, không có động lực để trau dồi chuyên môn, tạo sức ỳ lớn trong tư duy đổi mới, cải tiến phương pháp giảng dạy. Thực tế cho thấy, bên cạnh năng lực chuyên môn, tình yêu văn chương và tâm huyết của các thầy cô giáo có thể cảm hoá được học sinh, để lại trong học sinh nhiều ấn tượng sâu đậm, từ đó gieo vào học sinh niềm say mê khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm. Môn Ngữ văn chỉ thực sự hấp dẫn đối với học sinh khi giờ dạy của giáo viên thực sự có “lửa”, khi người giáo viên nhập thân hết mình vào bài giảng.

    Chất lượng giảng dạy và học tập môn Ngữ văn do nhiều yếu tố quyết định, chi phối: chương trình, sách giáo khoa, giáo án, phương pháp giảng dạy của thầy, ý thức, thái độ học tập của trò. Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học đóng vai trò then chốt. Có thể khẳng định, đổi mới phương pháp giảng dạy đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay. Cần khôi phục động lực học tập, khơi dậy niếm say mê, tình yêu văn học của học sinh bằng những giờ dạy thực sự hấp dẫn, lôi cuốn. Cần tiến hành thi cử nghiêm túc, đánh giá chính xác, khách quan năng lực học tập thực sự của học sinh đối với môn học này để có những điều chỉnh kịp thời. Về lâu dài, Bộ GD&ĐT có thể xem xét phương án đưa môn Ngữ Văn có mặt trong tất cả khối thi của kỳ thi ĐH, CĐ. Theo đó, những khối thi khoa học tự nhiên (A, B) môn Ngữ văn có thể được tính hệ số 1. Được biết, việc đưa môn Ngữ văn vào tất cả các khối, ngành thi của kỳ thi ĐH đã được Trung Quốc thực hiện từ lâu bởi tính thiết thực và nhân văn của nó. Nếu biện pháp này được mạnh dạn áp dụng, chắc chắn chất lượng dạy và học môn Ngữ văn ở các trường phổ thông sẽ có những biến chuyển tích cực. Từ đó, môn Ngữ văn sẽ có vị trí xứng đáng – như nó cần có, trong hành trang tri thức của học sinh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức
  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Suy Nghĩ Về Chức Năng Giáo Dục Của Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhập Môn Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Giáo Trình Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nâng Cao Chất Lượng Nghiên Cứu, Biên Soạn, Tuyên Truyền, Giáo Dục Lịch Sử Đảng
  • Chương 3: Bài 2: Nguồn Gốc, Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Đạo Đức
  • Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn nêu suy nghĩ của mình về chức năng giáo dục của văn học.

    Văn học có bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ và giải trí. Trước hết, phải kể đến chức năng nhận thức. Chức năng nhận thức thể hiện ở vai trò phản ánh của văn học. Văn học là tấm gương phản chiếu đời sống. Nó có thể đem đến cho người đọc một thế giới tri thức mênh mông về đời sống con người qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, ở khắp mọi nơi trên thế giới. Có người nói: Văn học là bộ bách khoa toàn thư về cuộc sống. Tuy nhiên, văn học không đơn thuần phản ánh hiện thực mà chủ yếu là giúp con người nhận thức đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về bản thân minh và mối quan hệ tổng hòa trong cuộc sống, góp phần giáo dục con người thông qua tác phẩm. Người ta gọi đó là chức năng giáo dục của tác phẩm văn học.

    Văn chương nuôi dưỡng tâm hồn, tư tưởng, tình cảm của con người. Định nghĩa nổi tiếng của nhà văn hiện thực Nga Macxim Gorki: Văn học là nhân học trước hết nhấn mạnh đến mục đích của văn học là giúp con người hiểu được bản thân mình; nâng cao niềm tin vào bản thân và làm nảy sinh khát vọng đi tìm chân lí, dũng cảm đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác, hướng tới cái đẹp, cái thiện của cuộc đời. Văn chương chân chính phải phục vụ con người, phải phản ánh đời sống vật chất, tinh thần của con người với những niềm vui, nỗi đau đời thường. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi đi tới của văn học. Nói đến chức năng giáo dục của văn học là nói đến khả năng dẫn dắt và định hướng. Văn học đến với con người bằng con đường tình cảm. Nó đem lại cho người đọc những rung cảm sâu xa trước khung cảnh tươi đẹp của quê hương, đất nước, trước trạng thái muôn màu muôn vẻ của cuộc sống xung quanh và nhất là trước sự phong phú, đa dạng của thế giới tâm hồn.

    Văn chương chân chính có khả năng cảm hóa, nhân đạo hóa con người. Nó góp phần vào việc hình thành nhân cách, hoàn thiện đạo đức, giúp con người sống tốt đẹp hơn. Các tác phẩm văn học đích thực có khả năng giáo dục rất lớn, xứng đáng là những người thầy, người bạn đáng tin cậy của chúng ta.

    Từ ngàn xưa, văn học dân gian đã làm tốt chức năng giáo dục. Những thiên thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện cười… đều nhằm phản ánh hiện thực đời sống dưới những góc độ, màu sắc khác nhau. Nhưng bao trùm lên hết thảy vẫn là khát vọng hiểu biết yà chinh phục, là ước mơ công lí, chính nghĩa, là mục đích vươn lên, đạt tới những giá trị Chân, Thiện, Mĩ của con người. Một nhà văn xưa đã nói: Văn học giúp người ta làm lành, lánh dữ. Bởi thế nên các tác phẩm xứng đáng gọi là văn chương có tác động mạnh mẽ tới tâm tư, tình cảm người đọc, giúp người đọc có được một thê giới quan và nhân sinh quan đúng đắn.

    Đặc điểm của văn học là thông qua các sự kiện, hình tượng trong tác phẩm để kích thích người đọc về mặt tình cảm, buộc họ phải bày tỏ thái độ và suy nghĩ của mình về nội dung nghệ thuật của tác phẩm và những vấn đề có tính chất xã hội, tính chất triết lí mà tác giả đặt ra. Trong những năm 30, 40 của thế kỉ XX, các nhà văn hiện thực phê phán đã lên tiếng tố cáo xã hội thực dân phong kiến đẩy con người vào cuộc sống cùng khổ, bế tắc, vào thân phận nô lệ. Ngô Tất Tố đã vẽ nên bức tranh ảm đạm, thê lương của nông thôn Việt Nam trong mùa sưu thuế; phản ánh số phận đen tối, thảm thương của người nghèo. Nam Cao đau xót, phẫn uất trước thực trạng xã hội đầy rẫy bất công, vô nhân đạo đã giết chết phần tốt đẹp trong con người, tước đoạt quyền làm người của kẻ bị áp bức. Tiểu thuyết Tắt đèn, truyện ngắn Chí Phèo, tiểu thuyết Bước đường cùng… như những tiếng chuông cảnh tỉnh kêu gọi mọi người hãy cứu lấy nhân tính đang bị giai cấp thống trị tước đoạt và chà đạp trắng trợn. Tinh thần nhân đạo của các tác giả còn thể hiện ở việc miêu tả con người với những khát vọng đổi đời, với tinh thần dũng cảm đấu tranh để khẳng định bản lĩnh, phẩm giá và lí tưởng sống của mình.

    Đọc những tác phẩm văn chương đích thực, người đọc dần dần nhận thức và xác định được hướng đi đúng đắn cho mình. Văn học định hướng cho cá nhân những điều kiện cần thiết để tiến tới hoàn thiện nhân cách. Lẽ ghét thương của ông Ngư trong Ngư Tiều y thuật vấn đáp của Nguyễn Đình Chiểu thể hiện bản chất của tầng lớp sĩ phu: Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương. Quan niệm đạo đức của nhà thơ mù yêu nước tiêu biểu cho quan niệm đạo đức của phần lớn nhân dân Nam Bộ thế kỉ XIX:

    Trai thời trung hiếu làm đầu,

    Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

    (Lục Vân Tiên)

    Khí phách hiên ngang cùa người anh hùng Từ Hải; đức hi sinh đáng ca ngợi của Thúy Kiều trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du; nhân cách cao thượng của nhân vật Huấn Cao trong kiệt tác Chữ người tử tù của nhà văn Nguyễn Tuân; những bài học phấn đấu, tu dưỡng quý giá của người tù – thi sĩ cộng sản Hồ Chí Minh; nhiệt thành yêu nước, khát khao chân lí cách mạng của người thanh niên xứ Huế Tố Hữu… đểu tác động sâu xa tới trái tim người đọc và lưu lại những bài học đạo lí muôn đời. Lòng yêu nước, quan điểm: Chết vinh còn hơn sống nhục khẳng định truyền thống bất khuất chống xâm lăng của dân tộc Việt Nam đã được đưa vào văn chương chống Pháp, góp phần giáo dục tình yêu quê hương đất nước và trách nhiệm công dân trong mỗi con người.

    Các nhà văn chân chính là những người có tâm hồn đẹp đẽ. Họ lấy tâm hồn mình để soi sáng những cảnh đời tối tăm, an ủi người nghèo khổ, vạch trần và lên án cái xấu, biểu dương, ca ngợi cái tốt… Những điều đó có tác dụng rất lớn tới quá trình cảm thụ và vươn lên của con người. Hình tượng điển hình trong thơ văn truyền cho người đọc một tình yêu mãnh liệt đối với cái đẹp, cái cao cả của cuộc sống; đồng thời cũng chỉ ra đâu là cái xấu, cái ác cần lên án và xóa bỏ để cuộc đời và con người ngày càng tốt đẹp hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Anh Chị Hãy Nêu Suy Nghĩ Của Mình Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • 5 Biểu Hiện Cảnh Báo Bệnh Gan Yếu Thường Gặp?
  • Gan Yếu Nổi Mề Đay: Biểu Hiện Nhận Biết Và Hướng Điều Trị
  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan Tốt Nhất Hiện Nay
  • Những Món Cực Độc Người Gan Yếu Cần Tránh Để Khỏi Mất Mạng
  • Chức Năng Bày Tỏ Ý Kiến

    --- Bài mới hơn ---

  • Chức Năng Bày Tỏ Ý Kiến Trong Công Tác Kiểm Toán
  • Chuẩn Mực Kiểm Toán Số 705: Ý Kiến Kiểm Toán Không Phải Là Ý Kiến Chấp Nhận Toàn Phần Công Ty Tnhh Kiểm Toán Afc Việt Nam
  • Bộ Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Kiểm Toán Câu 1: Một Trong Những Chức Năng Của Kiểm Toán Là
  • Bộ Đề Thi Trắc Nghiệm Môn Kiểm Toán
  • Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Kiểm Toán Độc Lập Ở Việt Nam
  • Chức năng này có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh. Nếu kết luận về chất lượng thông tin cú quá trình phát triển lâu dài từ chỗ chỉ cú từ xác nhận đến hình thành báo cáo kiểm toán theo chuẩn mực chung thì kết luận về pháp lý hoặc tư vấn cũng cú quá trình phát triển lâu dài. Trong quá trình đó sản phẩm cụ thể của bày tỏ ý kiờn chỉ thấy ra ở thế kỷ XX.

    Tuy nhiên ngay ở thời kỳ đầu ngắn ngủi này, cách thức thực hiện chức năng về bày tỏ ý kiến trách nhiệm và tư vấn cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa các nước cú cơ sở kinh tế và pháp lý khác nhau.

    Ở các khu vực công cộng (bao gồm cả các xí nghiệp công, các đơn vị sự nghiệp và các cỏ nhõn hưởng thụ ngânt sỏch nhà nước) đều đặt dưới sự kiểm soát của kiểm toán nhà nước. Trong quan hệ này chức năng xác minh và kết luận về chất lượng thông tin được thực hiện tương tự nhau. Tuy nhiên, chức năng bày tỏ ý kiến về pháp lý và tư vấn kiểm toán lại rất khác nhau.

    Đây là loại báo cáo bằng văn bản do KTV lập và công bố để nêu ra ý kiến chính thức của mình về BCTC của một đơn vị (tổ chức, doanh nghiệp) đó được kiểm toán. Báo cáo kiểm toán về BCTC cú vai trũ, ý nghĩa quan trọng trong hoạt động kiểm toán và với người sử dụng BCTC.

    – Đối với hoạt động kiểm toán, báo cáo kiểm toán về BCTC là khâu cuối cùng trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán BCTC để trình bày kết quả của cuộc kiểm toán bằng những ý kiến đánh giá của KTV về thông tin định lượng và trình bày BCTC theo quy định của chuẩn mực hoặc chế độ kế toán hiện hành.

    Hình 1: Trình tự thực hiện cuộc kiểm toán báo cáo tài chính

    – Đối với người sử dụng BCTC, khi sử dụng BCTC có báo cáo kiểm toán về BCTC đính kèm giúp cho người sử dụng BCTC đánh giá được độ tin cậy của các thông tin định lượng trên BCTC trên cơ sở đó mà họ có các quyết định kinh tế đúng đắn, hiệu quả trong mối quan hệ kinh tế đối với tổ chức hoặc doanh nghiệp có BCTC này.

    Với chức năng hoạt động của mình, ý kiến của KTV trình bày trên báo cáo kiểm toán về BCTC nhằm thực hiện chức năng bày tỏ ý kiến :

    • Ý kiến của KTV trình bày trên báo cáo kiểm toán về BCTC là một trong những nội dung quan trọng của báo cáo kiểm toán về BCTC. Ý kiến này đưa ra đánh giá của KTV trên các phương tiện phản ánh (hoặc trình bày) trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu các thông tin định lượng của BCTC và sự tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) và việc tuân thủ các quy định pháp lý có liờn quan.
    • Ý kiến đánh giá về BCTC được kiểm toán được kiểm toán phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Nghĩa là ý kiến của KTV đưa ra trên báo cáo kiểm toán về BCTC một sự đảm bảo chắc chắn rằng BCTC đó phản ánh trung thực và hợp lý trên khía cạnh trọng yếu nhưng không bảo đảm tuyệt đối rằng không có bất kỳ một sai sót nào trên BCTC đó được kiểm toán. KTV chỉ quan tâm đến các yếu tố trọng yếu của các BCTC.

    Bờn cạnh sản phẩm của ” bày tỏ ý kiến” kết quả xác minh về độ tin cậy của thông tin là “báo cáo kiểm toán ” thì sản phẩm của bày tỏ ý kiến dạng tư vấn là thư quản lý.

    Như vậy thư quản lý là hình thức bày tỏ ý kiến của KTV dưới dạng tư vấn. Đây là hình thức chủ yếu mà KTV đưa ra những kết luận cuối cùng về đối tượng được kiểm toán và đưa ra những ý kiến tư vấn về các lĩnh vực, các hoạt động mà đơn vị kiểm toán quan tõm.

    Ở mức độ cao của chức năng này là sự phán quyết như các quan toà. Cú thể tỡm thấy biểu hiện ra nột nhất ở toà thẩm kế của cộng hoà Pháp và các nước Tây Âu. ở đây các cơ quan kiểm toán nhà nước cú quyền kiểm tra tài liệu và tình hình quản lý của các tổ chức sử dụng ngânt sỏch nhà nước để xác minh tính chính xác và hợp lệ của tài liệu thu chi và quản lý ngân sách. Đồng thời các cơ quan này cũng cú quyền xét xử như một quan toà bằng các phán quyết của mình. Để đảm bảo cho các cơ quan này thực hiện chức năng của mình, KTV cao cấp được pháp luật thừa nhận những quyền đặc biệt. chẳng hạn ở cộng hoà Pháp họ được pháp luật thừa nhận quyền “bất năng thuyên chuyển”; hoặc ở cộng hoà liên bang Đức họ có quyền “bất năng thay đổi”.

    Khác với các nước Tây Âu, ở các nước Bắc Mỹ và nhiều nước khu vực châu Á – Thỏi Bỡnh Dương (đặc biệt là Australia và Singapore) chức năng bày tỏ ý kiến này lại được thực hiện bằng phương thức tư vấn. Hoạt động tư vấn này trước hết trong lĩnh vực nguồn thu và sử dụng công quỹ. Ngoài ra chức năng tư vấn bao hàm cả việc phác thảo và xem xét những dự kiến về luật trước khi đưa ra quốc hội.

    Ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án ngoài ngân sách Nhà nước, chức năng bày tỏ ý kiến cũng được thực hiện qua phương thức tư vấn. Tuy nhiên do khách thể chủ yếu là các doanh nghiệp nên chức năng tư vấn chủ yếu được biểu hiện dưới hình thức là lời khuyên hoặc các đề án. Do đó trong trường hợp này sản phẩm của bày tỏ ý kiến gồm hai dạng đó là báo cáo kiểm toán và thư quản lý.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Toán Là Gì? Sự Cần Thiết Khách Quan Của Kiểm Toán Trong Nền Kinh Tế Hiện Nay
  • Dịch Vụ Kiểm Toán Đối Với Quản Trị Công Ty
  • Nghĩa Vụ Và Trách Nhiệm Của Kiểm Toán Viên
  • Nhiệm Vụ Của Bộ Phận Kiểm Toán Nội Bộ Của Tổ Chức Tín Dụng, Chi Nhánh Ngân Hàng Nước Ngoài
  • Trách Nhiệm Của Bộ Phận Kiểm Soát Nội Bộ Công Ty Quản Lý Quỹ
  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức

    --- Bài mới hơn ---

  • Khi Nói Về Ý Nghĩa Của Văn Học, Người Ta Nhắc Nhở Tới Ba Chức Năng Cơ Bản: Chức Năng Nhận Thức, Chức Năng Giáo Dục Và Chức Năng Thẩm
  • Chứng Minh Những Giá Trị Cơ Bản Của Văn Học Dân Gian Việt Nam
  • Bàn Luận Về Câu Nói: “sức Mạnh Của Văn Học Dựa Trên Những Chức Năng Của Nó
  • Bàn Luận Về Vấn Đề Học Môn Văn Của Học Sinh Hiện Nay
  • Dàn Ý Bài: Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Chức Năng Giáo Dục Của Tác Phẩm Văn Học
  • Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học

    1. Nhập đề: Văn học là một sáng tạo của con người trong cuộc sống. Tác phẩm văn học từ xưa nay luôn luôn thể hiện và đánh dấu nền văn học của nhân loại. Thế nhưng, nhiều nhà văn, đứng trước những hoàn cảnh nghiệt ngã, lại băn khoăn tự hỏi liệu một tác phẩm văn chương có ích lợi gì khi người ta chết đói? Nói như vậy là một cách đặt lại vấn đề chức năng của văn học. Cho nên. những nhà lý luận văn học vẫn tiếp tục nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu về vai trò và tác dụng của văn chương. Dù công cuộc nghiên cứu ấy chưa dừng lại, nhưng ít nhất, người ta cũng thừa nhận rằng văn học có nhiều chức năng, trong đó cơ bản là: chức năng nhận thức, chức năng giáo dục và chức năng thẩm mỹ. Xác định được ý nghĩa của những khái niệm đó và phân tích một tác phẩm cụ thể để minh họa, thiết tưởng đó cũng là một cách thiết thức để tìm hiểu vai trò của văn học.

    2. Giải quyết vấn đề: Chức năng nhận thức:

    a) Thế nào là chức năng nhận thức?

    Đi từ chức năng cung cấp kiến thức: con người, trong quá trình phát triển, cần rất nhiều kiến thức: về địa lí, về lịch sử, về toán học, về vật lý, về sinh học, về xã hội, về cuộc sống, về con người. Nhìn chung, có hai loại kiến thức: kiến thức về khoa học tự nhiên và kiến thức về khoa học xã hội. Văn học cung cấp cho ta những kiến thức thuộc loại thứ hai.

    – Đến chức năng nhận thức: kiến thức là cái gì còn nằm ở dạng khách quan, còn nhận thức là có tác động chủ quan. Khi vẽ nên bức tranh hai người đánh lộn, đó là thể hiện khách quan, nhưng khi vẽ nên cảnh đó để trẻ em thấy đánh lộn là xấu, không nên thì đó là tác động chủ quan. Từ đó có thể thấy chức năng nhận thức tức là chức năng giúp người ta phân biệt cái đúng, cái sai, cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Như thế, rõ ràng là văn học không phải chỉ cung cấp cho ta những kiến thức mà qua những kiến thức tác phẩm còn hướng người đọc tới nhận thức nhất định.

    Tác phẩm văn học đem tới cho người đọc những kiến thức nhất định. Nhưng đấy không phải là mục đích cuối cùng của nhà văn. Qua một tiểu thuyết, ta có thể biết được vào thời kỳ nào đó, người ta trồng trọt như thế, kiến thức ra sao, cưới hỏi có giống hiện nay hay không. Nhưng nhà văn không ngừng lại ở đó, nhà văn muốn qua những kiến thức đó, hướng người đọc tới những nhân thức về con người, về cuộc sống.

    b) Phân tích: Lấy một bài thơ quen thuộc – bài Tây Tiến của Quang Dũng để làm sáng tỏ điều đó. Lịch sử có thể miêu tà những trận đánh, nêu lên những đặc điểm của quân đội ta thời kỳ kháng chiến chống Pháp, về ưu điểm cũng như về khuyết điểm.

    Sử học có thể mô tả con đường hành quân của đoàn binh Tây Tiến qua những địa danh cụ thể xác thực. Nhưng tuyệt nhiên, sử học không bao giờ ghi lại một cách sinh động, chân thực và hình tượng cánh đoàn quân như thế này:

    Dốc lên khúc khuỷ, dốc thăm thẳm

    Heo hút cồn mây súng ngửi trời

    Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

    Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

    Nhà thơ, qua những hình ảnh sống động ấy, giúp cho ta nhận thức được con người hành quân hết sức gian nan, và cao hơn nữa, giúp ta nhận thức rằng những người chiến sĩ trong đoàn quân Tây Tiến là những thanh niên giàu lòng hy sinh và có tinh thần chịu đựng gian khổ một cách đáng khâm phục:

    Anh bạn dãi dầu không bước nữa

    Gục lên súng mũ bỏ quên đời

    Những cái gì cho họ có khả năng chịu đựng như vậy? Bài thơ tiếp tục đẩy người đọc đi tới một hướng nhận định mới: chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến là những con người tiêu hiểu của một thế hệ thanh niên Việt Nam có lòng yêu nước sâu sắc:

    Rải rác biên cương mồ viễn xứ

    Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

    Áó bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    Chính vì nhận thức được như vậy nên có người đã nhìn thấy “bức chân dung tiêu biểu rất oai hùng của những chiến sĩ vô danh dám xả thân vì nghĩa lớn” – Phong Lan.

    3. Chức năng thẩm mỹ:

    a) Thế nào là chức năng thẩm mỹ? Chức năng thẩm mỹ tức là chức năng về cái đẹp. Bản chất của con người là yêu cái đẹp, thích mình đẹp và hướng về cái đẹp. Văn học cũng như những ngành nghệ thuật khác, là một trong nhiều phương tiện hướng con người tới cái đẹp. Cái đẹp làm thỏa mãn nhu cầu trái tim, nhu cầu tâm hồn của con người. Bản chất của văn học là cái đẹp – cái đẹp của ngôn ngữ, của hình tượng, của hành động – cho nên văn học đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ của con người. “Tác phẩm văn học chân chính giúp cho con người phát triển những cảm xúc thẩm mỹ lành mạnh, nâng cao năng lực cảm nhận cái đẹp, nâng cao thị hiếu và lý tưởng thẩm mỉ, hiệu chỉnh những sai lầm, uốn nắn những sự không lành mạnh hay thấp kém trong quá trình cảm thụ cái đẹp. Văn học thực hiện chức năng này một cách vô tư, không áp đặt với người đọc”.

    b) Phân tích: Vậy thì, trong tác phẩm mà chúng ta thí dụ, chức năng về cái đẹp đã thể hiện như thế nào? ở trong hình ảnh:

    Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

    Mường Lát hoa về trong đêm hơi

    Còn đây là một nét đẹp khác về con người:

    Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Hồn thơ tinh tế của tác giả bắt rất nhạy từ một làn sương chiều mỏng, từ một dáng hoa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt, rồi ông thổi hồn mình vào đó và để lại mãi mãi trong ta nỗi niềm bâng khuâng thương mến và một áng thơ đẹp

    Và cả bài Tây Tiến mang vẻ đẹp lý tưởng của mọi người thật rực rỡ. Người ta sống bằng lý tưởng, và nhìn những gian khổ mất mát bằng cái nhìn cao cả, bất cần, đôi khi ngây thơ nữa.

    4. Chức năng giáo dục:

    a) Thế nào là chức năng giáo dục? Đó là chức năng đem tới những bài học, những bổ ích của tác phẩm văn học. Nói cách khác tác phẩm văn học sẽ dạy ta những bài học thiết thực nào đấy bằng cách của nó. Có thể, qua một bài thơ, ta hiểu thế nào là tình yêu thiên nhiên, qua một tiểu thuyết ta học cách làm người cho xứng đáng. Nhưng nói như vậy là một cách nói tương đối và thoáng. Bởi vì tác phẩm không phải là những bài học giáo dục. Tác phẩm văn học còn được gọi là sự tự giáo dục. Nói cách khác, qua hình tượng nghệ thuật, mỗi một người đọc tự cảm nhận được điều bổ ích với chính mình, không nhất thiết giống với người khác. Tính giáo dục của tác phẩm văn học thông qua con đường của trái tim cho nên tác dụng của nó cực kì mãnh liệt. Nó làm thay đổi tầm hồn, làm phong phú tình cảm, làm thay đổi những suy nghĩ.

    b) Phân tích: chính bằng những hình tượng nghe thuật giàu chất thẩrn mĩ, bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng đem tới cho người đọc nhiều điều bổ ích thú vị.

    Trước hết là tình đồng đội. Rõ ràng điểm xuất phát của bài thơ này nỗi nhớ đồng đội tha thiết, mãnh liệt và chân thực. Từ sự rung động của nhà thơ, nỗi nhớ ấy làm rung động trái tim người đọc và bài học về tình yêu đồng đội được cảm nhận sâu sắc trên từng câu thơ:

    Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

    Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

    Và mặc dù nhà thơ không có một khái niệm trực tiếp nói về sự biết ơn, ca ngợi lòng biết ơn đối với những người chiến sĩ vô danh, nhưng toàn bộ bài thơ được người đọc đánh giá đó chính là tượng đài… bất tử mà nhà thơ Quang Dũng với tất cả tấm chân tình đã dựng nên để tưởng niệm những người chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì nước… thấy được đó bức tượng đài tưởng niệm những người chiến sĩ không tên, ấy là gì, nếu không phải là bài học cụ thể mà tác phẩm nghệ thuật mang tới cho người đọc.

    Kết luận: Thực ra thì rất khó có thể phân biệt ba chức năng ấy một cách dứt khoát và rõ ràng như vậy hởi vì bản chất của nó là gắn bó chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể nghệ thuật. Nhưng ở một mức độ tương đối, để dễ dàng nhận thức, chúng ta làm công việc tách rời đó. Dù khi tách rời, các chức năng ấy, trong một tác phẩm cụ thể là bài thơ Tây Tiến, vẫn tỏ ra có mối liên hệ. Bởi vì nhận thức mà tác phẩm đem tới là cảm nhận vẻ đẹp của hình tượng.

    Chính vì những chức năng hết sức tinh tế và ảnh hưởng sâu sắc như vậy văn học luôn luôn cần thiết đối với con người trong quá trình phát triển nhân cách và đối với xã hội trong quá trình hoàn thiện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phát Huy Hơn Nữa Vai Trò Của Phê Bình Văn Học
  • Giảm Trừ Chức Năng Trung Gian Của Phê Bình Văn Học
  • Mấy Vấn Đề Lý Luận Về Phê Bình Văn Học
  • Tiểu Thuyết Quốc Ngữ Đầu Thế Kỷ Xx Và Chức Năng Dự Báo Của Văn Học
  • Tính Dự Báo Của Văn Chương
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100