Top 4 # Biện Pháp Bảo Quản Nông Sản Và Giải Thích Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Quy Trình Bảo Quản Nông Sản Sau Thu Hoạch

Sau khi được thu hoạch, nông sản sẽ chịu nhiều tác động từ môi trường bên ngoài và những yếu tố này có thể gây suy giảm trọng lượng và chất lượng sản phẩm. Vì vậy, đưa các sản phẩm vào quy trình bảo quản nông sản là một bước cần thiết giúp hạn chế sự hao hụt cả về chất và lượng trong thời gian dài.

Trên thực tế, từng loại nông sản sẽ có những đặc điểm sinh-lý-hóa khác nhau nên cần được bảo quản trong những điều kiện không giống nhau. Thêm vào đó, điều kiện môi trường ở từng khu vực cũng khiến các điều kiện bảo quản cần có những điều chỉnh. Tuy nhiên, quy trình bảo quản ở các loại nông sản vẫn có những giai đoạn chung.

Các điều kiện môi trường có thể ảnh hưởng đến nông sản

Các nguyên nhân gây hao hụt nông sản được chia thành hai loại chính là hao hụt trọng lượng và hao hụt về chất lượng. Hao hụt về trọng lượng có thể do các nguyên nhân vật lý, sinh học; hao hụt về chất lượng chủ yếu do quá trình hô hấp của nông sản và hoạt động vi sinh vật gây nên.

Trong các tác động kể trên, cần đặc biệt chú ý đến những ảnh hưởng do nhiệt độ, độ ẩm, không khí. Bản thân những nguyên nhân này đã gây ảnh hưởng đến nông sản và đồng thời chúng có khả năng làm đẩy nhanh quá trình tác động của những yếu tố khác lên sản phẩm. Để xác định điều kiện bảo quản phù hợp sẽ cần cân bằng nhiệt độ, độ ẩm và không khí ở 3 cấp độ đại khí hậu (môi trường nơi chúng ta xây dựng kho bảo quản), tiểu khí hậu (môi trường trong kho bảo quản) và vi khí hậu (môi trường không khí len giữa sản phẩm nông sản).

Đồng thời, khi lựa chọn phương pháp bảo quản, chúng ta cũng cần cân nhắc đến điều kiện tính chất riêng của loại nông sản bao gồm cấu tạo, mật độ, tính dẫn nhiệt, tính hút ẩm, dung trọng, tỷ trọng,…

Quy trình bảo quản nông sản

Mỗi loại phương pháp bảo quản sẽ có quy trình riêng. Về cơ bản, có ba nhóm phương pháp là bảo quản thoáng, bảo quản kín và bảo quản lạnh.

Bảo quản thông thoáng tự nhiên:

Thời gian bảo quản bằng phương pháp này trong khoảng 3-4 tháng, thông thường chỉ áp dụng được với những loại nông sản có ít nước như thóc, đỗ, các loại củ,…

Phương pháp này bảo quản sản phẩm bằng cách để sản phẩm tiếp xúc trực tiếp với điều kiện không khí thông thường, chỉ kiểm soát độ thoáng của môi trường kho và độ kín để tránh những tác động như nước mưa hay côn trùng, động vật gây hại

Bước 1: Làm sạch và phân loại

Nông sản sau thu hoạch cần được loại bỏ các tạp chất, những sản phẩm bị hỏng ngay khi thu hoạch. Tiến hành phân loại theo chất lượng hoặc theo kích thước sản phẩm tùy theo mục đích sử dụng.

Bước 2: Làm khô

Các nông sản được phơi dưới ánh nắng mặt trời hoặc các nguồn nhiệt khác để hạ độ ẩm xuống mức đạt yêu cầu.

Bước 3: Bảo quản

Nông sản được đổ đống trong kho, tùy theo loại sản phẩm mà độ cao chứa sản phẩm sẽ khác nhau. Hoặc có thể tiến hành đóng gỏi thành phẩm vào các loại túi để dễ quản lý, sắp xếp kho, vận chuyển và đưa đi tiêu thụ sau đó.

Bảo quản kín

Bảo quản kín là phương pháp bảo quản dựa trên việc hạn chế tối đa quá trình hô hấp của nông sản. Phương pháp này không thích hợp để dùng cho bảo quản hạt giống.

Bước 1: Làm sạch và phân loại

Nông sản sau thu hoạch cần được loại bỏ các tạp chất, những sản phẩm bị hỏng ngay khi thu hoạch. Tiến hành phân loại theo chất lượng hoặc theo kích thước sản phẩm tùy theo mục đích sử dụng.

Bước 2: Xử lý trước bảo quản

Chứa nông sản vào các tủi kín, hút oxy ra khỏi túi hoặc bơm nitơ để đẩy oxy ra ngoài.

Bước 3: Bảo quản

Bảo quản lạnh

Bảo quản lạnh là phương pháp sử dụng nhiệt độ thấp để giữ các sản phẩm ở điều kiện chất lượng tốt trong thời gian dài. Một số thiết bị được dùng phổ biến nhất trong phương pháp bảo quản này bao gồm kho lạnh, kho cấp đông,… Đây là phương pháp có nhiều ưu điểm và thích hợp để bảo quản nhiều loại nông sản khác nhau

Bước 1: Làm sạch và phân loại, sơ chế

Nông sản sau thu hoạch cần được loại bỏ các tạp chất, những sản phẩm bị hỏng ngay khi thu hoạch. Tiến hành phân loại theo chất lượng hoặc theo kích thước sản phẩm tùy theo mục đích sử dụng.

Với một số loại nông sản, cần tiến hành sơ chế trước khi đưa vào bảo quản

Bước 2: Bảo quản

Bảo quản nông sản trong các kho đã được điều chỉnh nhiệt độ và độ ẩm phù hợp với loại nông sản

Quy trình được chúng tôi đưa ra chỉ bao gồm những bước cơ bản nhất. Để xây dựng được quy trình hoàn chỉnh và phù hợp với nông sản cần bảo quản, bạn nên  đánh giá đầy đủ các yếu tố tác động đã được liệt kê ở trên và điều chỉnh từng giai đoạn bảo quản sao cho phù hợp với tính chất loại nông sản và yêu cầu sản xuất.

Giải Pháp Sống Còn Cho Nông Sản

Cơ giới hóa để phát triển nông nghiệp.

Không chấp nhận nhìn thành quả khó nhọc của người nông dân bị đổ xuống sông xuống biển, nhiều cá nhân, tổ chức ở các địa phương thực hiện chiến dịch kêu gọi “giải cứu” nông sản như là động thái chia sẻ với người nông dân trong hoàn cảnh khó khăn này. Điều này là cần thiết và phù hợp trong thời điểm khó khăn hiện nay, giúp người nông dân giảm phần nào thiệt hại trong sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, phương án này chỉ mang tính tình thế. Thực tế cho thấy, không phải chỉ đến khi những ảnh hưởng của dịch Covid-19 mới dẫn đến ùn ứ, dư thừa hàng nông sản mà trong nhiều năm qua, việc “giải cứu” nông sản đã diễn ra ở nhiều nơi, nhiều thời điểm khác nhau khiến biện pháp giải quyết đầu ra cho nông sản thông qua “giải cứu” đã trở nên quen thuộc. Điệp khúc được mùa rớt giá đến hẹn lại tái diễn khiến nông dân ngao ngán vì dẫu sản phẩm có bán được cũng không bù đắp nổi chi phí sản xuất họ đã bỏ ra.

Tất nhiên, dịch Covid-19 cũng là một trong những tác nhân tác động xấu đến ngành nông nghiệp. Nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc ùn ứ nông sản, không tiêu thụ được là do công tác nghiên cứu, dự báo, cung cấp thông tin thị trường trong lĩnh vực nông nghiệp của nước ta còn nhiều hạn chế. Người sản xuất thiếu thông tin hoặc không được cung cấp thông tin kịp thời, thiếu sự hướng dẫn, tư vấn, khuyến cáo của các cơ quan chức năng trong quá trình sản xuất, dẫn đến tại nhiều địa phương, nông dân vẫn sản xuất hàng hóa theo kiểu “tù mù”, theo phong trào mà không có định hướng, chiến lược cụ thể.

Theo đó, thay vì tìm hiểu thông tin thị trường, địa chỉ tiêu thụ sản phẩm rồi mới đầu tư sản xuất, thì hiện nay thấy một loại nông sản nào đó được giá bà con nông dân đổ xô vào sản xuất, dẫn đến dư thừa và thường xuyên bị các tiểu thương ép giá, buộc phải bán tống bán tháo, thậm chí đổ bỏ.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến nông sản Việt dù đã có nhiều cố gắng nhưng chưa xứng với tiềm năng, lợi thế trong đó không thể không kể đến lý do vẫn coi nhẹ khâu chế biến, vẫn chỉ đơn thuần là xuất khẩu nông sản tươi vì vậy, câu chuyện nông sản cần giải cứu vẫn cứ tái diễn. Theo Bộ NNPTNT, hiện nhiều doanh nghiệp chưa chủ động được nguồn cung nguyên liệu đảm bảo về số lượng, chất lượng; khả năng chế biến đối với một số ngành hàng còn yếu, chưa đáp ứng được nhu cầu, nhất là vào cao điểm mùa vụ như rau quả, gây tổn thất sau thu hoạch. Ngoài ra, trình độ công nghệ chế biến nhìn chung ở mức độ trung bình của thế giới; sản phẩm chế biến chủ yếu vẫn là sơ chế có giá trị gia tăng thấp, chiếm khoảng 70-85%.  Do vậy, Bộ NNPTNT đã đặt mục tiêu “Việt Nam phải đẩy mạnh nâng cao năng lực công nghiệp chế biến nông sản và thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp” được xác định là nội dung căn bản góp phần nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững cho nông sản.

Trong 2 tháng liên tiếp, tháng 2 và tháng 3, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã chủ trì 2 hội nghị để tìm hướng đi cho nông sản. Cùng đó, để gỡ khó cho nông sản Việt trước tác động tiêu cực từ bệnh dịch thời gian qua, Bộ Công thương đã yêu cầu toàn bộ Thương vụ ở nước ngoài tổ chức ngay các hoạt động tìm kiếm, kết nối với các khách hàng mới để góp phần chuyển hướng xuất khẩu mặt hàng nông sản sang một số thị trường khác, đặc biệt là trái cây.  Bộ Công thương đã lập tổ công tác đánh giá lại quy mô khối lượng ách tắc, xác định địa bàn thị trường có tiềm năng, dư địa để tìm kiếm đầu mối thúc đẩy tiêu thụ.

Điều đáng mừng là những giải pháp gỡ khó cho nông sản Việt đã phát huy hiệu quả bước đầu. Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) cho biết, tính đến hết 17/3 đã có 2.084 xe hàng hóa, trái cây, nông sản được thông quan qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc.

Cùng đó, Bộ trưởng Bộ NNPTNT Nguyễn Xuân Cường cũng cho biết, đã cử nhiều đoàn đi các nước như Mỹ, Nga, Brazil, Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Nhật Bản,… để tìm kiếm thị trường cho nông sản Việt Nam. Ngành nông nghiệp đang tích cực tái cơ cấu, đẩy mạnh việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, tránh phụ thuộc quá vào một thị trường nào đó.

Các chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, để nâng cao năng suất, hiệu quả lao động và đời sống của nông dân, nhất là tìm giải pháp hữu hiệu trong việc tìm đầu ra cho nông sản một cách bền vững, đòi hỏi các bộ, ngành chức năng và các cấp chính quyền địa phương phải phối hợp khắc phục những nguyên nhân đang kìm hãm sự phát triển của ngành nông nghiệp. Trên cơ sở đó xây dựng giải pháp căn cơ, có tính khả thi để tìm đầu ra vững chắc cho nông sản kể cả thị trường trong và ngoài nước. 

Biện Pháp Quản Lý, Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia

Cán bộ, chiến sĩ BĐBP Điện Biên tuyên truyền pháp luật cho nhân dân khu vực biên giới. Ảnh: Anh Dũng

“Điều 20. Biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia

1. Các biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia bao gồm:

a) Vận động quần chúng;

b) Pháp luật;

c) Ngoại giao;

d) Kinh tế;

đ) Khoa học – kỹ thuật;

e) Nghiệp vụ;

g) Vũ trang.

2. Nội dung, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1, Điều này do pháp luật quy định”.

Quy định biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong Luật Biên phòng Việt Nam có ý nghĩa chính trị, pháp lý và thực tiễn quan trọng. Cụ thể:

Thứ nhất, quy định biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong Luật Biên phòng Việt Nam đã góp phần thể chế hóa quan điểm của Đảng về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia trong tình hình mới.

Việc chính thức xác định các biện pháp vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, nghiệp vụ và vũ trang trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao đã trực tiếp khẳng định tầm quan trọng, tính chất toàn diện của công tác quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; nhiệm vụ của Nhà nước, trước hết là của chính quyền, nhân dân khu vực biên giới và các lực lượng vũ trang nhân dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới; vị trí, vai trò của lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia; sự cần thiết phải quy định và sử dụng đồng bộ các biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Điều này thể hiện sự quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về xây dựng, quản lý và bảo vệ biên giới quốc gia như: Biên giới quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm, được xây dựng, quản lý và bảo vệ vững chắc cả thời bình và thời chiến; giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp, thông lệ quốc tế; xây dựng BĐBP vững mạnh về chính trị, tư tưởng, giỏi về quân sự, am hiểu về pháp luật, tinh thông về nghiệp vụ, bảo đảm thực hiện tốt vai trò “nòng cốt, chuyên trách” quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới trong tình hình mới.

Trước khi có Luật Biên phòng Việt Nam, các biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia chưa được chính thức ghi nhận một cách tập trung, thống nhất trong văn bản luật; vì thế, với quy định này, Luật Biên phòng Việt Nam đã khẳng định bước phát triển mới về thể chế pháp lý quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

Bên cạnh đó, quy định về biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia có mối quan hệ mật thiết với các quy định khác của Luật Biên phòng Việt Nam, đặc biệt là các quy định chung về chính sách Nhà nước về biên phòng (Điều 3), nguyên tắc thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 4), trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân tham gia, phối hợp, cộng tác, giúp đỡ lực lượng thực thi nhiệm vụ biên phòng (Điều 7). Đồng thời, quy định này củng cố bảo đảm pháp lý đồng bộ để BĐBP thực hiện nhiệm vụ của BĐBP nói riêng (Điều 14) và phát huy vai trò trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng nói chung (Điều 5). Đây cũng là một phần tất yếu trong quyền hạn của BĐBP quy định tại khoản 1, Điều 15.

Thứ ba, quy định biện pháp quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trong Luật Biên phòng Việt Nam là cơ sở pháp lý quan trọng trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện pháp luật về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia của BĐBP, bảo đảm tính hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ biên phòng và nhiệm vụ của lực lượng BĐBP.

Với vị trí là lực lượng vũ trang nhân dân, thành phần của QĐND, là lực lượng nòng cốt, chuyên trách quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, khu vực biên giới; có chức năng tham mưu cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành theo thẩm quyền hoặc đề xuất với Đảng, Nhà nước chính sách, pháp luật về biên phòng; thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại và chủ trì, phối hợp với cơ quan, tổ chức duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật; quy định tại Điều 20, Luật Biên phòng Việt Nam là căn cứ pháp lý quan trọng thống nhất nhận thức, chỉ đạo, điều hành lực lượng BĐBP thực hiện nhiệm vụ trên thực tế. Việc luật hóa quy định này còn là biểu hiện của sự đúc kết kinh nghiệm công tác biên phòng qua các thời kỳ, giai đoạn khác nhau trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thạc sĩ Nguyễn Văn Năm, Khoa Pháp luật, Học viện Biên phòng

Bảo Vệ Nguồn Lợi Thủy Sản Ven Bờ: Cần Biện Pháp Mạnh Hơn – Tạp Chí Thủy Sản Việt Nam

Khai thác thủy sản quá mức

 Hiện, tổng trữ lượng hải sản của Việt Nam ước khoảng 5,1 triệu tấn (tương ứng với khả năng khai thác cho phép khoảng 2,1 triệu tấn), nhưng năng lực đánh bắt của cả nước lên đến 2,27 triệu tấn/năm, vượt quá giới hạn khai thác bền vững. Nguồn lợi hải sản đã có dấu hiệu tổn thương: cá nổi nhỏ bị khai thác vượt quá giới hạn 25 – 30%, đã và đang làm mất dần khả năng tái tạo, phục hồi mật độ quần thể, ảnh hưởng đến nguồn lợi cá nổi lớn (thiếu thức ăn); hải sản tầng đáy cũng bị khai thác ở mức độ cao, vượt giới hạn cho phép 30 – 35%.

Nguồn lợi thủy sản ven bờ đang bị khai thác quá mức – Ảnh: Huy Hùng

Một trong những nguyên nhân dẫn tới việc khai thác quá mức là sự gia tăng của phương thức khai thác hủy diệt bằng nguồn điện cao áp, xung điện, lưới rê, thuốc nổ… làm ảnh hưởng rất lớn tới các loại thủy sinh nhỏ. Tại Quảng Ninh, từ tháng 1/2011 đến tháng 5/2012 các ngành chức năng đã xử phạt 335 vụ vi phạm; trong đó, 63 vụ sử dụng kích điện, 1 vụ sử dụng chất nổ, 1 vụ khai thác san hô, 3 vụ khai thác thuỷ sản bằng nghề lặn, 267 vụ vi phạm về giấy tờ phương tiện, chứng chỉ và các hành vi khác)…

Bên cạnh đó, số lượng tàu thuyền khai thác vào vùng cấm, vào mùa sinh sản của các loài thủy sản cũng ngày càng tăng, trong khi công tác kiểm tra, giám sát, xử phạt tàu thuyền khai thác trái phép còn lỏng lẻo, chưa đủ sức răn đe…

Cần giải pháp đồng bộ

Theo Tổng cục Thủy sản, các hoạt động bảo vệ nguồn lợi thủy sản hiện nay chủ yếu nhằm vào việc quản lý và kiểm soát cường lực đánh bắt; thiết lập các khu bảo tồn; phục hồi và phát triển nguồn lợi thủy sản. Đối với những vùng có nguy cơ cạn kiệt, sẽ quy định tạm ngừng khai thác. Khu vực cấm khai thác được xác định thông qua nghiên cứu phân bố của trứng cá và cá non trong vùng biển nghiên cứu, có thể là vùng sinh sản hoặc vùng ươm nuôi hải sản.

Đồng thời, việc ngăn chặn tình trạng khai thác thủy sản trái phép cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, ngành trong quản lý vật liệu nổ, chất nổ công nghiệp; làm tốt công tác truyên truyền trong nhân dân và tăng cường tuần tra, kiểm soát; có chính sách hỗ trợ để các hộ ngư dân chuyển đổi ngành nghề khai thác ven bờ kém hiệu quả gây xâm hại khai thác thủy sản sang các ngành nghề khác hiệu quả hơn.

Cơ quan chức năng tăng cường các hình thức và mức phạt đối với loại hình đánh bắt này, kèm theo các hình thức phạt bổ sung như tịch thu ngư lưới cụ, phương tiện vi phạm… Bên cạnh đó, Nhà nước cần tăng cường nguồn lực, phương tiện, tài chính để thực hiện công tác dự báo ngư trường và các thông tin nghề cá; tăng cường và mở rộng hợp tác khu vực và quốc tế về khai thác thủy sản để trao đổi thông tin về khoa học, công nghệ và thị trường…