Top 7 # Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Học Sinh Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường “Xanh

Cũng như nhiều nước đang phát triển trên thế giới có thu nhập thấp với dân số đông, Việt Nam cũng là nước đang đối đầu với những vấn đề gay cấn do tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp và sự sa sút của chất lượng môi trường. Sau ba mươi năm chiến tranh ác liệt, nhân dân và chính phủ Việt Nam đã cố gắng nhiều để phát triển kinh tế, đồng thời bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Chiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường và phát triển bền vững đã được phác ra từ năm 1985, sau đó đã đề ra chương trình hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững.

Hiện nay có nhiều vấn đề về môi trường mà Việt Nam đang phải đối đầu, trong đó những vấn đề nghiêm trọng nhất là nạn phá rừng, sự khai thác quá mức tài nguyên sinh học, sự xuống cấp của tài nguyên đất, việc bảo tồn nguồn nước ngọt kém hiệu quả và nạn ô nhiễm môi trường gia tăng, đó là chưa kể đến tác động lâu dài của chiến tranh đến môi trường. Những vấn đề rắc rối nói trên đang ngày càng trầm trọng hơn do dân số tăng nhanh và nạn đói nghèo chưa được giải quyết một cách thấu đáo.

Bởi vậy điều quan trọng nhất là phải biết đón trước những vấn đề môi trường có thể xảy ra mà công cuộc phát triển kinh tế đem lại; từ đó có những biện pháp đề phòng, giảm nhẹ hậu quả bằng cách thực hiện một chiến lược môi trường phù hợp với phát triển bền vững, thông qua việc sử dụng bền vững các tài nguyên thiên nhiên và lôi cuốn được đại bộ phận nhân dân tham gia vào việc bảo vệ môi trường và tài nguyên.

Môi trường sống của chúng ta bao gồm đất, nước và không khí; tất cả được duy trì nhờ năng lượng Mặt Trời. Con người chỉ là một trong những quần thể sinh vật tồn tại trên Trái Đất, cũng tuân theo quy luật sinh ra, lớn lên và chết. Nhưng không giống như những loài sinh vật khác, con người đã phát triển một hệ thống kinh tế sử dụng những tiến bộ khoa học và công nghệ tận dụng hầu hết mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng thải ra môi trường sống đủ loại chất thải làm môi trường bị ô nhiễm. Con người đang gánh chịu hậu quả do chính mình gây ra.

Làm thế nào để khắc phục tình trạng suy thoái, ô nhiễm môi trường nhằm đảm bảo sức khoẻ, phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo đời sống lành mạnh, ấm no hạnh phúc cho mọi người đó không chỉ là trách nhiệm của các cấp lãnh đạo , Đảng, chính quyền, của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm của mọi người dân. Chỉ thị 36 CT/ TW của Bộ chính trị và công văn 1320/ CP của Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh vai trò của các cấp lãnh đạo Đảng, chính quyền và trách nhiệm của mỗi công dân trong công cuộc bảo vệ môi trường. Chỉ thị đã đề ra 6 nhiệm vụ cơ bản cần được thực hiện trong đó chương trình giáo dục môi trường đối với thanh thiếu niên.

Giáo dục môi trường là quá trình nhằm phát triển ở trẻ sự hiểu biết và quan tâm trước những vấn đề môi trường, dựa trên những tri thức đó mà hình thành thái độ, ý thức, trách nhiệm và kỹ năng hành động; để các em học sinh tự mình và cùng tập thể đưa ra các giải pháp thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề môi trường trước mắt cũng như lâu dài về sau. Giáo dục môi trường là nhiệm vụ của chúng ta – những người làm công tác giáo dục. Môi trường là điều kiện sống còn và phát triển của toàn nhân loại, ” Hãy cứu lấy môi trường!” đang là tiếng kêu cấp thiết vang khắp địa cầu, đang được tổ chức quốc tế tích cực thực hiện; ngành Giáo dục – Đào tạo đã và đang cùng với nhiều ngành chức năng khác trong cả nước thực hiện nhiệm vụ này.

Bằng những quyết định và hành động cụ thể, con người cần cải thiện môi trường sống của mình không chỉ cho hôm nay mà cho cả mai sau.

Từ những hiểu biết và suy nghĩ trên, với trách nhiệmcủa người cán bộ quản lý trường học, chúng tôi luôn trăn trở làm thế nào để đáp ứng được một phần yêu cầu mà toàn cầu đang quan tâm nói chung và trong trường học nói riêng. Chúng tôi đã không ngừng cố gắng suy nghĩ và rút ra được kinh nghiệm nho nhỏ: “Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường “Xanh – sạch – đẹp” ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ” đạt kết quả tốt trong nhiều năm vừa qua đặc biệt là trong năm học 2005 – 2006 này.

B. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Môi trường “Xanh- sạch – đẹp” là vô cùng cần thiết và hết sức quan trọng đối với cuộc sống chúng ta. Nó bảo đảm cho sự sống của chúng ta được tốt đẹp hơn. Giáo dục môi trường là một quá trình lâu dài, nó cần được bắt đầu ở tuổi mẫu giáo và tiếp tục được học trong những năm học phổ thông cũng như sau này trong suốt cuộc đời. Những trẻ em ở lứa tuổi tiểu học được giáo dục cách tôn trọng môi trường xung quanh sẽ góp phần giữ gìn môi trường trên toàn trái đất này. Đó cũng là lý do tại sao giáo dục môi trường được coi là yếu tố chủ chốt trong quá trình giáo dục phổ thông đặc biệt ỏ bậc tiểu học. Học sinh bậc tiểu học – Những người chủ tương lai của đất nước đóng một vai trò hết sức quan trọng. Đối chiếu với thực trạng môi trường ở một số trường tiểu học thì sao?

Thực trạng việc xây dựng môi trường “Xanh – sạch – đẹp“ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ

1. Về phía nhà trường:

– Trước đây trường được xây dựng trên một khu đất tạp lẫn nhiều sỏi đá và đất bạc màu. Do đó, cây trồng chậm phát triển, dễ hư hỏng do đất xấu, chăm sóc không được thường xuyên, cây bị thiếu nước và phần lớn nước giếng khoan lẫn độ phèn PH cao hoặc do giống cây chưa phù hợp với đất.

– Cây vừa mới lớn đã bị sâu bệnh làm suy giảm sức phát triển của cây và kém mỹ quan. Không có người chuyên chăm bón cho cây.

Tóm lại vùng đất của trường không phù hợp với sự phát triển của cây cỏ.

– Trường vừa mới tách cơ sở vật chất còn thiếu thốn, Lãnh đạo nhà trường chưa quan tâm đúng mức đến việc xây dựng môi trường cảnh quan trường học “Xanh – sạch – đẹp“.

2. Về phía học sinh:

Các em tuổi còn nhỏ, phần lớn chưa biết yêu quí, giữ gìn trường học xanh, sạch đẹp , chưa có thái độ thân thiện với môi trường như:

– Trong sân trường, trước cổng trường còn hiện tượng giấy, lá, hộp gói quà bánh ăn sáng.

– Cây cối, bồn hoa vẫn còn có em bẻ cành, hái hoa, dẫm chân lên thảm cỏ.

– Học sinh khi rửa tay, chân ở vòi nước vẫn còn quên khoá máy…

– Trường lớp học vẫn còn hiện tượng xé vở làm giấy nháp, gấp đồ chơi, giấy màu thủ công bỏ bừa bãi ngăn bàn, dưới lớp sau giờ học…

– Tường còn bị bôi bẩn, cửa kính, cửa chớp dính đầy bụi bặm…

3.Về phía phụ huynh học sinh:

Một bộ phận phụ huynh học sinh chưa có nhận thức đúng về xây dựng trường “Xanh – sạch – đẹp“, tạo cảnh quan Sư phạm trong lành giúp con em mình học tốt nên khi đón con trời mưa vẫn “vô tư” phóng xe lên những thảm cỏ xanh mượt. Hơn nữa phụ huynh đóng trên địa bàn phường còn nghèo nên việc tham gia xã hội hoá giáo dục còn hạn chế.

4. Về phía giáo viên:

Một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc lồng ghép giáo dục môi trường, tích hợp từ các môn học vào giảng dạy hoặc có chú ý giáo dục môi trường nhưng nội dung còn nghèo, hình thức còn mang tính gượng ép, chưa đạt hiệu quả cao. Nhìn chung giáo viên chỉ chú ý đến giảng dạy mà không mấy quan tâm đến môi trường xung quanh lớp học, trường học. Cây trong lớp còn quên tưới, xem đó là nhiệm vụ của nhà trường. Đặc biệt hiện tượng lãng phí điện ở các lớp như khi trời sáng rõ, khi tan trường, giờ ra chơi vẫn không tắt điện, quạt trong lớp,…

5. Việc phối hợp với các đoàn thể còn hạn chế như: chưa tổ chức được các nội dung và hình thức thi đua trong giáo dục bảo vệ môi trường giữa các tổ trực trong lớp và giữa các lớp trong trường.

Những tồn tại nêu trên có nhiều nguyên nhân như việc học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa, vai trò của môi trường đối với đời sống của con người, một bộ phận giáo viên chưa quan tâm đúng mức đến việc lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học cũng như về phía phụ huynh, một số ít xin cho con đi học vẫn kén chọn trường có cảnh quan sư phạm “Sáng – xanh – sạch – đẹp” nhưng chưa ý thức được việc làm của bản thân mình. Song về mặt chủ quan đó là công tác lãnh đạo, chỉ đạo về xây dựngtrường “Xanh – sạch – đẹp“, chưa có nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, tổ chức triển khai chưa đúng mức ( chỉ nặng về đánh giá ) của ngành, của Hiệu trưởng, của các đoàn thể, phụ huynh.. .Mặt khác các biện pháp triển khai lại thiếu đồng bộ.

Do đó, việc lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học và một số hoạt động ngoại khoá là cách tiếp cận sẽ giáo dục cho học sinh có những quy định đúng đắn đối với môi trường trong nhiều tình huống khác nhau của cuộc sống. C. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

Để giải quyết các thực trạng nêu trên cũng như để xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm trường học “Xanh – sạch – đẹp” và giáo dục học sinh bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên ấy là một nội dung cơ bản, một mục tiêu quan trọng của công tác giáo dục môi trường cho học sinh theo yêu cầu hiện nay.

Nội dung và yêu cầu xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm nhà trường học:

Xanh – sạch – đẹp được thể hiện qua các tiêu chí trong chuẩn xanh hoá nhà trường kèm theo chỉ thị 22/ 1997/ CT – BGD&ĐT ngày 1/ 12/ 1997 của Bộ GD&ĐT v/v tổ chức hoạt động “Xanh hoá nhà trường” trong trường phổ thông và sau đó được chọn lọc phù hợp với tình hình thự tế nhà trường phổ thông trong tập “Thiết kế trường học xanh – sạch – đẹp” của chương trình phát triển của LHQ trong dự án VIE/ 98/ 018; đó là các tiêu chuẩn sau:

1- Trồng cây.

2- Xây dựng vườn trường.

3- Giảm thiểu xói mòn đất.

4- Quản lý rác thải.

5- Đảm bảo các điều kiện vệ sinh ở các khu vệ sinh.

6- Tiết kiệm điện nước.

7- Xanh hoá lớp học và phòng làm việc của trường.

8- Tổ chức các hoạt động vì môi trường.

9- Theo dõi sự thay đổi môi trường của nhà trường.

10- Phát huy ảnh hưởng tích cực của nhà trường đối với cộng đồng.

11- Nơi có điền kiện xây dựng vườn sinh thái, hòn non bộ, rừng tự nhiên, ươm cây … v.v…

Một số nội dung xây dựng và bảo vệ môi trường còn được hướng dẫn trong các tài liệu GD môi trường lồng ghép và ngay trong các tài liệu tổ chức sinh hoạt ngoại khoá “Vì môi trường” do Ngành GD – ĐT và các cơ quan hữu quan hướng dẫn.

Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến xây dựng và bảo vệ môi trường nhà trường “Xanh – sạch – đẹp” thông qua các biện pháp cụ thể sau:

* Biện pháp thứ nhất: Đối với Ban giám hiệu:

Ngay từ đầu Ban giám hiệu chúng tôi đã tiến hành:

1.Thành lập Ban chỉ đạo v/v xây dựng môi trường, cảnh quan sư phạm trường học “Xanh – sạch – đẹp” gồm Ban giám hiệu, Tổng phụ trách Đội, các tổ trưởng chuyên môn và đại diện Hội cha mẹ học sinh.

2. Xây dựng kế hoạch: Từng bộ phận lên kế hoạch thực hiện: năm – tháng – tuần.

3. Lập dự trù kinh phí.

4. Tổ chức họp phân công và triển khai các tiêu chí.

5. Tham mưu với các chính quyền địa phương, tuyêntruyền trong cộng đồng.

6.1 Trồng cây

6.2 Quản lý chất thải

6.3 Giảm tiêu thụ

6.4 Làm xanh phòng học

6.5 Làm xanh văn phòng

6.6 Một số hoạt động khác

7. Kiểm tra – Đôn đốc – Đánh giá

8. Tổng kết – Nhân điển hình.

* Kiểm tra – Đôn đốc – Đánh giá kết quả: Đây là khâu rất quan trọng, qua kiểm tra hàng tuần, hàng tháng có sơ kết từng bộ phận và giao ban rút kinh nghiệm kịp thời những mặt còn hạn chế để đề ra biện pháp cần khắc phục.

Để thực hiện tốt những vần đề nêu trên, trước hết Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đúng mức tạo ra sự chuyển biến tích cực sau mỗi năm học làm cho nhà trường ngày càng trở nên xanh – sạch – đẹp. Để kịp thời khắc phục thực trạng thứ nhất trường chúng tôi lựa chọn giống cây nhanh phát triển, toả nhiều bóng mát song vấn đề đặt ra là làm thế nào để thường xuyên duy trì được hệ thống cây xanh không bị hư hỏng, không có tình trạng chậm phát triển, khắc phục các loại bệnh của từng loại cây,.. Trường chúng tôi đã mời người của công ty cây xanh đến hướng dẫn việc chăm sóc, tưới bón cho lãnh đạo nhà trường cùng bộ phận bảo vệ. Sau khi nắm bắt được các biện pháp , kỹ thuật chăm sóc cây, lãnh đạo nhà trường họp bộ phận bảo vệ, phân công công việc, gắn trách nhiệm với từng thành viên. Bên cạnh đó cán bộ quản lý cũng có kế hoạch kiểm tra sâu sát, thường xuyên, kịp thời chấn chỉnh những thiếu sót.Chuẩn bị cho khai giảng cũng như hàng tháng theo định kỳ trường có bón phân và thuốc trừ sâu bệnh cho cây cảnh và cây bóng mát.

– Ban giám hiệu trưởng nhà trường đã chủ động chuẩn bị tốt kế hoạch nhằm tạo được sự chuyển biến cho mỗi năm học, môi trường trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ luôn có những thay đổi tích cực làm cho môi trường ngày càng xanh – sạch – đẹp.

– Ngay sau khi chuẩn bị kết thúc học kỳ I, nhân dịp tổ chức cuộc họp phụ huynh học sinh toàn trường, Lãnh đạo nhà trường cùng giáo viên toàn trường đã làm tốt công tác “Xã hội hoá giáo dục”. Thực hiện lời dạy thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu : “Mùa xuân là Tết trồng cây, làm cho đất nước càng ngày càng xuân”, “Vì lợi ích mười năm trồng cây”, nhà trường đã vận động trong phụ huynh học sinh mỗi lớp đầu tư một cây xanh để trang trí trong lớp học. Hưởng ứng phong trào “Xanh hoá lớp học” 100 % lớp tham gia tốt. Phụ huynh học sinh đã nhiệt tình hưởng ứng và hiểu được ý nghĩa thiết thực xây dựng môi trường “Xanh – sạch – đẹp” cho chính con em mình. Cũng từ đó không còn hiện tượng mỗi khi trời mưa phụ huynh phóng băng qua thảm cỏ nữa. Hiện nay, trường của chúng tôi còn tổ chức “Ngày hội vì môi trường” bao gồm nhiều hình thức phong phú, hấp dẫn nhằm lôi cuốn, giáo dục học sinh ý thức với môi trường mình đang sống như: Thi vẽ tranh, đóng các tiểu phẩm về môi trường,…

*. Biện pháp thứ hai: Lồng ghép vào các môn học.

Ngay từ đầu năm học sau khi lãnh đạo nhà trường sắp xếp xong công tác tổ chức biên chế lớp học, tổ chuyên môn và yêu cầu các tổ phân công mạng lưới chuyên môn và đồng thời phát cho mỗi tổ chuyên môn một bảng liệt kê giáo dục môi trường có thể khai thác từ sách giáo khoa. Tổ trưởng chuyên môn sẽ phát cho giáo viên phụ trách chuyên sâu rà soát chương trình từng môn và điền vào theo mẫu:

Bộ môn Đạo đức – Lớp 2: Đã thu được bảng liệt kê như sau:

Bộ môn Âm nhạc – Lớp 2: Đã thu được bảng liệt kê như sau:

MÔN ÂM NHẠC – LỚP MỘT, BỐN MÔN ÂM NHẠC -LỚP BA, NĂM

Với những bài dạy này chúng tôi yêu cầu giáo viên soạn giáo án điện tử để có nhiều hình ảnh động giúp học sinh nhận thức một cách thực tế hơn. Đây là những bài dạy về môi trường chứ không phải là lồng ghép.

+ Tên bài học cụ thể phần nào, mục nào?

+ Loại hình: cần lựa chọn 1 trong 2 loại hình (khai thác từ nội dung sách giáo khoa hay hoạt động ngoại khoá)

+ Mục đích của việc đưa nội dung giáo dục môi trường là gì ?

Môn Đạo đức: “Bảo vệ cây và hoa nơi công cộng” – Trích đoạn từ giáo án của giáo viên Khối 1(Có giáo án minh hoạ).

Ví dụ: Môn tự nhiên, xã hội (23): Sự kỳ diệu của lá cây – trích từ giáo án của giáo viên Khối 3 dự thi giáo viên giỏi cơ sở .

(Có giáo án minh hoạ)

* Song song với việc dạy giáo dục môi trường trong tiết chính khoá chúng tôi còn định hướng cho giáo viên mạnh dạn thiết kế những giáo án giáo dục môi trường thông qua hoạt động ngoại khoá đưa vào tiết HĐTT

Xin trích dẫn 1 mẫu giáo án “Ngoại khoá” qua bài “Cây và hoa” của giáo viên Khối 1 (Có giáo án minh hoạ)

Qua quan sát 100 % học sinh tham gia rất hào hứng và đặc biệt giáo viên cũng cảm thấy rất thoải mái bên học sinh so với trước đây giáo viên thấy “thu mình” trong bốn bức tường thì giờ đây tôi đã được nghe giáo viên tâm sự khi nói về học sinh của mình trong giờ ngoại khoá “Những em nhút nhát trong lớp đứng trước nhóm bạn đồng trang lứa và cô giáo như một người bạn lớn thì đã mạnh dạn bộc lộ tình cảm tư chất của mình đối với môi trường hàng ngày em học tập, vui chơi bằng những câu hỏi ngây thơ ngộ nghĩnh “Cô ơi, sao cây cỏ trong chậu hoa thì phải nhổ đi mà ở sân trường mình lại có thảm cỏ mọc đẹp như vậy mình có nhổ không cô?”; rồi thì “Vì sao lại thế” làm bất chợt chúng tôi nghĩ đến một đoạn trong lời một bài hát trong chuyên mục VTV1 phát cho thiếu nhi cách đây mấy năm “Sao không lại là thế này mà lại là thế kia”; “Vì sao lại thế”… Chúng ta phải tìm ra ngọn nguồn. Càng thêm hiểu biết chúng ta càng lớn khôn”. Việc đưa các em ra sinh hoạt tập thể ngoài trời để giáo dục môi trường chúng tôi thấy học sinh trở nên gắn bó với nhau hơn, việc giáo dục hiểu biết về môi trường trở nên gần gũi với các em hơn.

*. Biện pháp thứ 3: Phối hợp với các đoàn thể .

1/ Đối với giáo viên Tổng phụ trách Đội:

Đã nhiều năm nay bất cứ ai đặt chân đến trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ chúng tôi chắc hẳn không khỏi ngạc nhiên bởi một môi trường trong lành, một môi trường không hề có giấy, rác hay lá cây rơi xuống sân trường. Đơn giản thôi, trường của chúng tôi đã thực hiện tốt “Hồi trống vì môi trường” đấy! Cứ trước giờ vào học 20 phút, đến trường chúng tôi là các bạn sẽ được nghe và được nhìn thấy một cảnh sinh hoạt hết sức bình thường nhưng lại có ý nghĩa vô cùng lớn lao. Mỗi buổi sớm mai khi hồi trống trường vang lên là lúc những cô bé, cậu bé toàn trường nhanh tay nhặt hết lá vàng rơi gom vào thùng rác; chỉ trong vòng 5 phút là sân trường lại khoác một tấm áo mới lại mang một gương mặt mới với một dáng vẻ mới. Rồi tất cả các em học sinh lại rửa tay vào lớp truy bài, chắc chắn em nào cũng cảm thấy khoan khoái dễ chịu đầy cảm hứng để chuẩn bị cho một buổi học mới. Một việc làm cứ lặp đi, lặp lại tưởng chừng như nhàm chán nhưng không, cứ mỗi ngày một chút nó thấm sâu vào trong trí não trẻ thơ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Chúng tôi giáo dục học sinh theo khẩu hiệu sau:

“Một người không thể ngăn được lũ Một người không thể ngăn được bão Nhưng một người có thể trồng được một cây, lượm được một cái rác”

– Bên cạnh việc thực hịên tốt “Hồi trống vì môi trường” năm học này học sinh mỗi lớp còn làm tốt việc chăm sóc cây cảnh trong lớp cũng như ở sân trường. Mỗi cây trên sân trường đều được mang trên mình một biển hiệu “Cây xanh lớp …”, các em tự nguyện chăm sóc và bảo vệ, đặc biệt không có hiện tượng bứt lá, bẻ cành hay giẫm chân lên những thảm cỏ xanh mượt bên gốc cây.

– Đó là ngoài sân trường còn trong lớp học thì sao ? Ngay từ đầu năm học giáo viên Tổng phụ trách Đội Phát động phong trào Kế hoạch nhỏ thông qua việc phát cho mỗi lớp một thùng giấy để cuối lớp nhằm quản lý rác thải sạch, thu gom giấy vụn sau các giờ thủ công hoặc vở nháp đã hết,…Tiền bán được làm quỹ khen thưởng cho những lớp, cá nhân trong các cuộc vui về giáo dục môi trường…

Ví dụ trò chơi 1: Nghe nhạc đoán tên giai điệu bài hát: “Các bài hát nói về các loài cây” .Trò chơi này có thể một khối hoặc toàn trường, ngoài trời hoặc trong lớp đều được cả.

* Mục tiêu: Gợi cho học sinh nhớ lại những loài cây và ích lợi của cây qua những khúc ca gần gũi với các em.

* Cách tiến hành: Giáo viên bật nhạc, Học sinh toàn trường lắng nghe tên bài hát hoặc hát một vài câu trong bài hát đó, học sinh nào biết thì giơ tay.

Mục tiêu: Hoc sinh biết hát các bài hát về các loài cây, từ đó các em thấy yêu hơn cây cối xung quanh mình.

Ví dụ trò chơi 3: Giải ô chữ kì diệu

Câu hỏi gợi ý:

1/ Từ có 5 chữ cái, đây là một phương tiện giao thông không gây ô nhiễm môi trường: (Xe đạp)

3/ Từ có 4 chữ cái, trong sinh hoạt hằng ngày, thứ gì đượcdùng vào viêc: nấu ăn, tắm rửa, giặt giũ…: (nước)

4/ Từ có 8 chữ cái, đây là một vật dung để đựng những đồ phế thải: (Thùng rác).

5/ Từ có 6 chữ cái, để môi trường của chúng ta luôn luôn được sạch sẽ thì chúng ta cần phải làm gì? (Vệ sinh)

6/ Từ có 7 chữ cái, tên của hành tinh chúng ta đang sống là gì? (Trái Đất).

7/ Từ có 11 chữ cái. cứ mỗi dịp xuân về chúng ta lại có phong trào gì? (Tết trồng cây)

8/ Từ có bảy chữ cái, đây là một thứ có thể toả bong mát, góp phần rất lớn làm cho bầu không khí thêm trong lành và còn làm giảm tiếng ồn: (Cây xanh)

9/ Từ có 3 chữ cái, một trong yếu tố rất quan trọng để cây sống được? (Đất)

10/ Từ có 10 chữ cái, chúng ta thường thu gom giấy loại để xây dựng quỹ, đó là phong trào gì? (Kế hoạch nhỏ)

11/ Từ có 9 chữ cái, đây là một loài cây có hoa đỏ, nở và mùa hè, rất than thiện với tuổi học trò: (Cây phượng)

Từ khoá của ô chữ: “Xanh- sạch- đẹp”.

Ngoài ra có thể sưu tầm nhiều ô chữ về chủ đề môi trường mà từ khoá là: “Chăm sóc, bảo vệ “…

Giáo viên chốt lại:

Môi trường là tập hợp tất cả những gì chúng ta thấy được hoặc cảm nhận được ở xung quanh chúng ta, như các thành phần tự nhiên và thành phần nhân tạo, ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của con người.

* Ở những tháng chủ điểm, nhân dịp chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11, nhà trường còn phối hợp với trưởng ban Mỹ thuật phát động phong trào giữ gìn vệ sinh trường lớp thông qua cuộc thi “Viết, vẽ về thầy cô – mái trường mến yêu của em”. Kết quả 129 học sinh tham gia, trong đó có 60 đề tài vẽ về chúng em làm tốt phong trào “Hồi trống vì môi trường”.

D. KẾT QUẢ:

– Việc giáo dục môi trường đã mang lại cho các em học sinh tình cảm và trách nhiệm đối với môi trường xung quanh mình, đặc biệt là trường, lớp – ngôi nhà thứ hai của em.

– 100 % học sinh thấy rõ tác dụng của việc giữ gìn vệ sinh trường lớp luôn luôn xanh – sạch – đẹp. Mỗi học sinh đều xác định được việc mình làm: bảo vệ giữ gìn cho trường lớp sạch đẹp là làm tăng sức khoẻ, cho các em học tập tốt hơn và cũng là làm đẹp thêm cho quê hương đất nước.

– Qua kiểm tra đánh giá về y tế học đường của đoàn y tế Quận vừa qua cũng đánh giá rất tốt về vệ sinh học đường của trường của trường chúng tôi.

– Đa số giáo viên đã vận dụng một cách linh hoạt, khéo léo việc dạy lồng ghép, tích hợp việc giáo dục môi trường vào các môn học. Trong năm học này có 42 giáo án dạy về giáo dục môi trường và dạy lồng ghép giáo dục môi trường. Đặc biệt đợt dự thi giáo viên giỏi cơ sở vừa qua đã có 7/ 14 giáo án thể hiện thành công việc giáo dục yếu tố môi trường qua các môn học Đạo đức, Tự nhiên & xã hội từ lớp 1 đến lớp 5 được đánh giá rất tốt.

– Trường Huỳnh Ngọc Huệ chúng tôi luôn là điểm đến của các hội thi, hội nghị của Sở, của Phòng GD&ĐT, của phường Hoà Khê …, luôn được bạn bè đồng nghiệp cũng như khách đánh giá rất cao về sự thay đổi từng ngày về cảnh quan trường học xanh – sạch – đẹp,

E. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

– Giáo dục môi trường là một quá trình lâu dài, nó cần được tiến hành thường xuyên, liên tục, phải làm từ lứa tuổi mẫu giáo tới khi trưởng thành để tạo những hành vi tốt đẹp và trách nhiệm đối với môi trường và nhất là giáo dục cho học sinh ý thức tự giác ngay từ khi các em mới đăt chân đến trường.

– Bộ phận chuyên môn cần chỉ đạo sâu sát đến từng tổ chuyên môn và quan tâm đúng mức đến việc dạy lồng ghép, tích hợp thông qua nhiều môn học bằng nhiều hình thức có tính linh hoạt, thích ứng với nhiều con đường lĩnh hôi, theo những cách thức khác nhau nhưng đều đi đến một mục tiêu chung là làm rõ khái niệm xanh sạch đẹp cho học sinh và cung cấp cho học sinh các kiến thức cũng như giáo dục ý thức tự giác để từ đó các em xem đó là trách nhiệm của mỗi người.Trường học là nơi các em học tập, vui chơi hằng ngày – là mái nhà thứ hai của các em.

– Lãnh đạo nhà trường cần phối hợp với các đoàn thể như Hôi cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm làm tốt công tác phân công học sinh chăm sóc cây xanh ở trong lớp cũng như ỏ sân trường, phải thường xuyên kiểm tra đánh giá khen thưởng kịp thời những cá nhân và tập thể đồng thời vận động, tuyên truyền những cá nhân và tập thể khắc phục những tồn tại, phát huy tốt các thành quả mà tập thể nhà trường đã dày công gây dựng.

– Người giáo viên cần nắm vững mục tiêu về giáo dục môi trường mà mỗi hoạt động cần đạt tới là: giúp cho mỗi cá nhân và cộng đồng có sự hiểu biết và nhạy cảm về môi trường cùng các vấn đề của nó ( nhận thức); những khái niệm cơ bản về môi trường và bảo vệ môi trường ( thái độ, hành vi); những kỹ năng giải quyết cũng như thuyết phục các thành viên cùng tham gia ( kỹ năng); tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề môi trường và có hành động thích hợp giải quyết vấn đề ( tham gia tích cực)

-Trong giảng dạy người giáo viên cần hết sức chú ý khi sử dụng đồ dùng dạy học đặc biệt là mẫu vật thật.Chẳng hạn khi dạy bài ” Cây bạch đàn” giáo viên không nên có nhiều cây bạch đàn con đến lớp để phát cho học sinh quan sát. Giáo viên chỉ cần sử dụng một cành của cây bạch đàn song giáo viên cũng cần phải lưu ý học sinh rằng: Bình thường chúng ta có nên bẻ cành hái lá không? Đúng vậy chúng ta không nên làm điều đó. Riêng hôm nay vì lớp ta đang cần tìm hiểu về cây bạch đàn nên cô đã phải làm cái việc bình thường không nên làm. Nhưng các em thấy đó, cô cũng chỉ bẻ một cành nhỏ…” Bởi vì nếu không xử lý cẩn thận chúng ta sẽ rất dễ đi ngược lại mục đích cơ bản của giờ dạy.

-Chỉ đạo Ban hoạt động ngoài giờ để tổ chức các hình thức hoạt động tập thể vui tươi và hấp dẫn nhằm giáo dục môi trường đến với các em một cách tự nhiên nhất, nhẹ nhàng mà hiệu quả nhất ….

Tóm lại: là những người cán bộ quản lý trường học với mong muốn xây dựng một ngôi Huỳnh Ngọc Huệ “Xanh- sạch- đẹp” góp phần làm đẹp thêm cho quê hương đất nước, chúng tôi rút ra một số kinh nghiệm đã nêu trên và đã áp dụng đạt kết quả tốt. Đây cũng là một kinh nghiệm nhỏ: Một số biện pháp giúp học sinh bảo vệ môi trường “Xanh – sạch – đẹp” ở trường tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ” đạt kết quả tốt trong nhiều năm vừa qua đặc biệt là trong năm học 2005 – 2006 này, có thể không tránh khỏi những thiếu sót. Chúng tôi vô cùng biết ơn sự góp ý chân thành của các cấp lãnh đạo và quý thầy cô để chúng tôi ngày càng có nhiều kinh nghiệm tốt hơn.

Thanh Khê, ngày 9 tháng 1 năm 2006

Đồng tác giả

Vương Thị Vân – Trần Thị Minh Hà

Biện Pháp Thiết Thực Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường

Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, nó đe dọa đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và nhiều hệ lụy khác mà con người phải gánh chịu. Giáo dục cho học sinh ý thức bảo vệ môi trường là một giải pháp bảo vệ môi trường cho tương lai.

Hiện nay, cuộc sống đang phát triển ngày càng hiện đại, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện, tuy nhiên, đối lập với nó, tình trạng ô nhiễm môi trường lại có những diễn biến phức tạp. Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề không chỉ của riêng một vùng nào, mà ở khắp nơi, cả nông thôn, thành thị, miền núi, miền biển, cả các nguồn nước và không khí…. Theo nghiên cứu của các tổ chức bảo vệ môi trường, ở nước ta, 70% các dòng sông, 45% vùng ngập nước, 40% các bãi biển đã bị ô nhiễm, hủy hoại về môi trường; 70% các làng nghề ở nông thôn đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Cùng với đó, tình trạng nước biển xâm nhập vào đất liền; đất trống, đồi núi trọc và sự suy thoái các nguồn gien động thực vật đang có chiều hướng gia tăng là hệ quả của việc hủy hoại môi trường. Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của toàn xã hội.

Để khắc phục những hậu quả trên phải cần một thời gian dài, liên tục, ngay từ bây giờ và tốn kém nhiều công sức và tiền của. Do đó, bảo vệ môi trường nên bắt đầu bằng việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, nhất là cho học sinh .

Để công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường mang lại hiệu quả, khi giáo dục bảo vệ môi trường chưa thể là một môn học thì cần giáo dục cho học sinh bắt đầu từ những việc làm, hành động nhỏ nhất như trồng và chăm sóc cây xanh; vệ sinh trường lớp; tổ chức các diễn đàn về môi trường để học sinh tham gia một cách dân chủ; giáo dục học sinh có ý thức tiết kiệm năng lượng như điện và nước, khuyến khích học sinh có các ý tưởng sáng tạo tái chế rác… Cùng với việc lồng ghép kiến thức bảo vệ môi trường trong các bài giảng, giáo viên cần làm gương cho học sinh trong việc bảo vệ môi trường, khuyến khích học sinh tự giám sát việc bảo vệ môi trường của nhau, từ đó nhắc nhở, tuyên dương kịp thời các hành vi, hoạt động thân thiện với môi trường.

Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong những biện pháp quan trọng, giúp học sinh biết yêu thiên nhiên, hiểu được tầm quan trọng của môi trường với cuộc sống và hơn nữa biết cách chăm sóc, giữ gìn hành tinh xanh.

Trong thực tế dạy học, nhiều biện pháp giáo dục và bảo vệ môi trường cho học sinh đã được giáo viên lớp 5 thực hiện có hiệu quả.

Bao gồm: Giáo dục bảo vệ môi trường thông qua lồng ghép nội dung vào các môn học; qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động tập thể; trồng cây xanh tại lớp; vệ sinh lớp, công trình măng non.

Lồng ghép giáo dục môi trường vào các môn học:

Nội dung giáo dục môi trường được thể hiện ở tất cả các môn học : Toán, Tiếng Việt, Đạo đức, Khoa học, Địa lý, … và gắn vào từng bài cụ thể.

Chẳng hạn, chương trình môn Đạo đức ở lớp 5 đều phản ánh các chuẩn mực hành vi đạo đức phù hợp với lứa tuổi trong các mối quan hệ của học sinh với gia đình, nhà trường, cộng đồng và môi trường tự nhiên.

Chương trình môn khoa học; địa lý có thể giúp học sinh hiểu biết về môi trường tự nhiên và xã hội, các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường.

Môn Tiếng Việt, có thể lồng ghép giáo dục môi trường qua các bài có nội dung về lòng yêu quê hương đất nước, ca ngợi thiên nhiên tươi đẹp; ở môn Mĩ thuật có thể cho học sinh vẽ tranh về môi trường, vệ sinh môi trường, bảo vệ môi trường…

Thông qua các bài học được tiến hành với các hình thức tổ chức đa dạng, linh hoạt, giáo viên khối 5 đã đem lại cho học sinh các thông điệp phong phú về giữ gìn và bảo vệ môi trường, giúp các em lĩnh hội kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường một cách tự nhiên, sinh động và hiệu quả.

Giáo dục bảo vệ môi trường qua các hoạt động tập thể:

Thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động tập thể, nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường cho học sinh hết sức đa dạng và hiệu quả.

Phong trào thi đua trang trí lớp học; làm sạch đẹp trường, lớp tại mỗi lớp đã đưa trường; lớp trở thành một môi trường xanh- sạch- đẹp.

Ngoài ra, thông qua các tiết sinh hoạt cuối giờ đầu tuần, các buổi sinh hoạt lớp, các hoạt động của Đội, các nội dung bài học giúp học sinh hiểu biết về giáo dục môi trường được các giáo viên tổ chức hết sức đa dạng với các nội dung và hình thức rất phong phú và phù hợp với các em học sinh.

Thông qua cuộc thi ” Tái chế sản phẩm” , các giáo viên cũng đã tổ chức cho các em học sinh thực hiện làm các sản phẩm tái chế từ hộp sữa đã uống, ống hút, thùng giấy… Qua đó đã giáo dục học sinh thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường.

Từ đó, các em có thái độ và hành vi đúng đắn với việc bảo vệ môi trường, có suy nghĩ đúng đắn trước những sự việc xảy ra trong thực tế và thấy được trách nhiệm của chính mình, mặc dù đó có thể là những hành động chưa lớn nhưng cũng sẽ hình thành cho các em tinh thần trách nhiệm trước môi trường đang bị đe dọa.

Biện Pháp Giáo Dục Học Sinh Có Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường Trong Sinh Học 9

I / ĐẶT VẤN ĐỀ Môi trường là nơi con người sinh ra, lớn lên, tồn tại phát triển. Môi trường còn là nơi con người nghỉ ngơi, hưởng thụ vẻ đẹp của thiên nhiên ban cho. Môi trường gắn liền với con người, những yếu tố của môi trường ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển của giống nòi. Nhưng hiện nay môi trường ngày càng suy thoái và có những biến động cực kì phức tạp như: hạn hán, lũ lụt, sạt lở đất, xâm thực của thuỷ triều, sóng thần, động đất,...Các thành phần của môi trường ngày càng bị ô nhiễm một cách nghiêm trọng. Trước tình hình đó, bảo vệ môi trường (BVMT) là một trong những mối quan tâm của toàn cầu .Ở nước ta ngày 17-10-2001 Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 1363/ QĐ-TTG : Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân . Sách giáo khoa sinh học 9 có đoạn nêu rõ : "Mỗi quốc gia cần có biện pháp khôi phục môi trường, bảo vệ thiên nhiên để phát triển bền vững" . Sinh học là môn học giúp học sinh có những hiểu biết về khoa học, về thế giới sống, kể cả con người trong mối quan hệ với môi trường, có tác dụng tích cực trong việc giáo dục thế giới quan, nhân sinh quan khoa học nhằm nâng cao chất lượng của cuộc sống. Môn sinh học là một môn học có khả năng tích hợp các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường, đặc biệt trong phần 2 của chương trình sinh học 9: SINH VẬT VÀ MÔI TRƯỜNG . Để hình thành cho các em có những kiến thức về môi trường, mối quan hệ con người và môi trường, tài nguyên và môi trường, ô nhiễm môi trừơng, suy thoái môi trường. Có thái độ hành vi về môi trường như có ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, có tình cảm yêu quý thiên nhiên, đất nước tôn trọng những vẻ đẹp thiên nhiên, di sản văn hoá, có thái độ thân thiện với môi trường... Đó chính là lí do tôi chọn đề tài: "Biện pháp giáo dục học sinh có ý thức bảo vệ môi trường trong Sinh Học 9". II/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: BIỆN PHÁP 1: Chọn lọc các bài học có nội dung tích hợp về bảo vệ môi trường. Bài Nội dung tích hợp GDMT Bài 41: Môi trừơng và các nhân tố sinh thái. Bài 42 - 43: Các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến đời sống sinh vật Bài 44: Ảnh hưởng lẫn nhau giữa các sinh vật. Bài 45 -46: Thực hành: Tìm hiểu môi trường và ảnh hưởng của một số nhân tố sinh thái lên đời sống sinh vật. Bài 47:Quần thể sinh vật. Bài 48 :Quần thể người. Bài 49 : Quần xã sinh vật. Bài 50: Hệ sinh thái. Bài 51 - 52: Thực hành hệ sinh thái. Bài 53 :Tác động của con người đối với môi trường Bài 54-55: Ô nhiễm môi trường. Bài 56-57: Thực hành tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương . Bài 58 : Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên. Bài 59: Khôi phục môi trường và giữ gìn thiên nhiên hoang dã . Bài 60: Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái. Bài 61: Luật bảo vệ môi trường. Bài 62: Thực hành vận dụng luật bảo vệ môi trường vào việc BVMT ở địa phương. Khái niệm môi trường,vai trò các nhân tố sinh thái. Nhận biết các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến đời sống sinh vật Bảo vệ đa dạng sinh học, giữ cân bằng sinh học tránh sự cạnh tranh Tìm hiểu các nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến đời sống sinh vật. Khái niệm quần thể sinh vật, những đặc trưng cơ bản của quần thể sinh vật. Gia tăng dân số là nguyên nhân dẫn đến suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, tàn phá rừng và tài nguyên khác. Các loài trong quần xã luôn có quan hệ mật thiết với nhau. Số lượng cá thể trong quần xã luôn được khống chế ở mức độ phù hơp với khả năng của môi trường, tạo nên sự cân bằng sinh học trong quần xã. Các sinh vật trong quần xã luôn gắn bó với nhau bởi nhiều mối quan hệ,trong đó quan hệ dinh dưỡng có vai trò quan trọng được thể hiện qua chuổi thức ăn ,lưới thức ăn .Giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học. Giáo dục ý thức bảo vệ đa dạng sinh học, bảo vệ hệ sinh thái. Đề xuất các biện pháp bảo vệ các loài sinh vật đang bị lùng bắt, khai thác. Nhiều hoạt động của con người gây hậu quả xấu đối với môi trường, làm biến mất một số loài sinh vật, làm giảm các hệ sinh thái hoang dã, làm mất cân bằng sinh thái. Phá huỷ thảm thực vật, gây ra xoái mòn, thoái hoá đất, ô nhiễm môi trường, hạn hán, lũ quét. Các tác nhân gây ô nhiễm môi trường. Mỗi người đều phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường sống của mình. Các biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường. Thực trạng ô nhiễm môi trường, nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường. Đề xuất biện pháp khắc phục. Hậu quả ô nhiễm môi trường.Biện pháp chống ô nhiễm môi trường ở địa phương. Tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận, chúng ta cần phải sử dụng một cách tiết kiệm và hợp lí vừa đáp ứng nhu cầu sử dụng tài nguyên của xã hội hiện tại, vừa đảm bảo duy trì lâu dài các nguồn tài nguyên cho thế hệ mai sau. Bảo vệ rừng và cây xanh trên trái đất sẽ có vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ đất, nước và các tài nguyên sinh vật khác. Bảo vệ các khu rừng hiện có, kết hợp với trồng cây gây rừng là biện pháp rất quan trọng nhằm bảo vệ và khôi phục môi trường đang bị suy thoái. Mỗi chúng ta đều phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn và cải tạo thiên nhiên. Các hệ sinh thái quan trọng cần bảo vệ: Hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, hệ sinh thái nông nghiệp. Mỗi quốc gia và mọi người dân đều phải có trách nhiệm bảo vệ các hệ sinh thái, góp phần bảo vệ môi trường sống trên trái đất . Luật bảo vệ môi trường đã ban hành xử phạt đối với những người có hành vi gây ô nhiễm môi trường, khắc phục những hậu quả xấu do hoạt động của con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường tự nhiên. Nâng cao ý thức của học sinh trong việc BVMT ở địa phương bằng những việc làm thiết thực, hiệu quả. BIỆN PHÁP 2: Lựa chọn phương pháp tích hợp, nội dung tích hợp hợp lí: 1-Phương pháp trần thuật kể chuyện: Phương pháp này dùng để sử dụng mô tả sự vật hiện tượng của môi trường. Ví dụ: Bài 60: Bảo vệ đa dạng các hệ sinh thái giáo viên cho học sinh kể một số hệ sinh thái nông nghiệp ở một số vùng miền, đồng thời giáo viên kể thêm về một số cảnh quan độc đáo của thiên nhiên như: Núi Non Nước ở Đà Nẵng, Động Phong Nha ở Quảng Bình... hay những đặc sản nổi tiếng ở một số nơi của nước ta như: Nhãn lồng ở Hưng Yên, cam xã Đoài, xoài Lái Thiêu, các vùng trồng lúa đặc sản a ở Mường Thanh, thời chế độ Phong Kiến. Để giữ mãi những vùng đặc sản nổi tiếng của đất nước, cần thiết phải chú ý giữ gìn điều kiện tự nhiên cho vùng đó. Một khi môi trường bị ô nhiễm như đất đai bị ô nhiễm, nguồn nước bị ô nhiễm... thì đặc sản vùng đó cũng không còn. Để góp phần giữ gìn sự trong sạch không khí cho đường phố, người ta thường lập nên những công viên cây xanh bởi vì cây xanh, hoa, cỏ được coi là những máy lọc không khí tự nhiên: hút bụi làm giảm tiếng ồn, diệt khuẩn, hấp thụ khí cacbonic... và cung cấp khí o xi cho con người. 2-Phương pháp giảng giải : Dùng phương pháp này để giải thích vấn đề khó.Cần nêu lí lẽ, các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới, khó về môi trường . Ví dụ: Bài 50: Hệ sinh thái giáo viên giải thích hệ sinh thái hoàn chỉnh, tương đối ổn định như sau: Trong một hệ sinh thái hoàn chỉnh, mọi thành phần của nó được cân bằng, thực vật cung cấp thức ăn và o xi cho động vật, sản phẩm thải của động vật được tái chế trong đất cung cấp dinh dưỡng cho thực vật để sinh trưởng phát triển. Sau khi động vật thực vật chết đi, xác của chúng được vi sinh vật phân giải vào trong đất, bay hơi trong khí quyển. Như vậy động vật, thực vật, vi sinh vật, các nhân tố vô sinh của môi trường tồn tại cùng nhau, tựa vào nhau khống chế lẫn nhau tạo thành một thể thống nhất. Đó là một hệ sinh thái bền vững. Bài 49:Quần xã sinh vật giáo viên giải thích cân bằng sinh học trong quần xã: Các nhân tố vô sinh( khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm...) các nhân tố hữu sinh như thức ăn, kẻ thù, dịch bệnh. Ngoại cảnh thay đổi làm biến đổi số lượng cá thể trong quần xã, nhưng giữa các quần thể trong quần xã luôn luôn diễn ra mối quan hệ hỗ trợ và đối địch, chính mối quan hệ đối địch này làm cho số lượng cá thể của mỗi quần thể được khống chế ở mức độ nhất định phù hợp với khả năng của môi trường, tạo nên sự cân bằng sinh học trong quần xã. Học sinh hiểu khái niệm cân bằng sinh học là cơ sở của biện pháp phòng trừ sâu bệnh bằng biện pháp đấu tranh sinh học, dùng sinh vật có ích tiêu diệt sâu bệnh, không gây ô nhiễm môi trường.Từ đó học sinh có ý thức bảo vệ động vật có ích. 3 - Phương pháp vấn đáp: Phương pháp này giáo viên đưa ra các câu hỏi học sinh trả lời, hoặc ngược lại. Ví dụ : Bài 48: Quần thể người, mục tăng dân số và phát triển xã hội giáo viên có thể hỏi: - Một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho nước ta nghèo nàn và lạc hậu là do đâu? - Dân số tăng nhanh dẫn đến hậu quả gì? - Vì sao chúng ta phải thực hiện triệt để pháp lệnh dân số? Bài 53: Tác động của con người đối với môi trường, có thể hỏi học sinh: - Những tác động nào của con người làm cho tài nguyên đất bị suy giảm? - Những hoạt động nào của con người đã làm suy giảm tài nguyên nước? - Nguyên nhân chủ yếu nào làm cho rừng bị thu hẹp nhanh? - Nguyên nhân chủ yếu nào làm cho môi trường tự nhiên bị suy giảm nhanh? Giáo viên kết luận: Do dân số tăng quá nhanh làm cho nhu cầu về nơi ở, lương thực, thực phẩm, thuốc men, học hành...tăng nhanh dẫn tới quá trình đô thị hoá, xây dựng các khu công nghiệp, đường sá, cầu cống...đều tăng nhanh. Đây chính là nguyên nhân vừa trực tiếp, vừa gián tiếp làm cho môi trường tự nhiên bị suy giảm nhanh. Theo tôi việc sử dụng các câu hỏi này khuyến khích học sinh quan tâm hơn đến các vấn đề môi trường và dự đoán được các vấn đề môi trường sẽ xảy ra trong tương lai. 4- Sử dụng phương tiện trực quan: Cho học sinh sưu tầm các loại tranh ảnh về phong cảnh đẹp, những loài thú quý hiếm từ các nguồn sách, báo, tạp chí, mạng internet. Nếu có điều kiện giáo viên có thể dùng băng hình, bài giảng điện tử vì tranh ảnh trong băng hình, trong giáo án điện tử sinh động, phong phú về số lượng, hình ảnh âm thanh tốt, gây ấn tượng sâu sắc cho học sinh. Qua phương tiện trực quan, các em biết yêu thiên nhiên có ý thức bảo tồn tài nguyên của đất nước, có thái độ thân thiện với môi trường. 5- Phương pháp học tập hợp tác: Ví dụ: Bài 54-55 Ô nhiễm môi trường dạy bài này dưới dạng hội thảo.Yêu cầu cả lớp xem trước nghiên cứu kỹ nội dung bài học: Các nguồn gây ô nhiễm, các tác nhân gây ô nhiễm, hậu quả của ô nhiểm môi trường, đề xuất biện pháp khắc phục. BIỆN PHÁP 3: Giáo dục BVMT thông qua các tiết thực hành: Trong chương trình có một số tiết thực hành, thường là các tiết đơn lẽ trong thời khoá biểu nên rất khó thực hiện. Cho nên ta phải giao cho học sinh làm các bài tập thực hành ở nhà theo tổ. Qua tiết thực hành hình thành cho các em kỹ năng học tập, kỹ năng bảo vệ môi trường. Ví dụ : Bài 51-52: Thực hành hệ sinh thái khi bắt đầu học bài quần xã sinh vật, giáo viên chuẩn bị nội dung thực hành, cho học sinh tìm hiểu các bảng 51.1, 51.2, 51.3, 51.4. Sau đó hướng dẫn các nhóm tiến hành điều tra, gợi ý cho học sinh chọn hệ sinh thái cánh đồng ruộng hay hệ sinh thái nhân tạo V.A.C để dễ quan sát. Giáo viên phân nhóm theo địa bàn dân cư, mỗi nhóm từ 8-10 em. Có thể lấy địa điểm thực hành mà các em tự chọn. -Vì sao trên đồng ruộng hiện nay số lượng các loài: Cá, tôm, cua, ếch, rắn, chim ... lại ít đi? -Đề xuất biện pháp bảo vệ hệ sinh thái đồng ruộng . Qua thực tế, học sinh có thể giải thích được nguyên nhân nghèo nàn về các loài sinh vật trong hệ sinh thái đồng ruộng, do con người khai thác quá mức các loài như: ếch, rắn để phục vụ cho lợi ích cá nhân, mua bán, ăn uống xa xỉ. Dùng thuốc trừ sâu quá mức gây ô nhiễm nước, làm cho các sinh vật sống trong môi trường nước bị chết dần. Giáo viên nhấn mạnh:Trên đồng ruộng hiện nay đang mất cân bằng sinh thái. Hậu quả làm ảnh hưởng đến cuộc sống của con người như mất mùa, nông sản bị nhiễm thuốc trừ sâu gây ngộ độc thức ăn. Giáo viên có thể đưa ra xây dựng mô hình ao sinh thái ở nông thôn: Bờ ao chỉ xây kè hợp lí chống lở đất, quanh ao trồng các cây bản địa có sức sống cao như: sung, ngái, trúc, khế, dừa... xen kẽ những loại cây nhỏ: cỏ tần, rau má... Rễ cây hút chất bẩn trong nước cao, tán cây ngăn bụi bặm tạo bóng mát vừa phải, dưới ao trồng sen, súng tạo phong cảnh đẹp. Thả một vài loại cá có sức sống khoẻ như: cá chép, cá rô, cá quả. Nước ao nhờ khả năng làm sạch của các sinh vật dưới nước lẫn trên bờ, có thể dùng nước trong ao để tắm giặt. Trên mặt nước có thể thả bè rau muống để lấy rau ăn. Nhờ ao sinh thái này mà không khí quanh nhà luôn mát mẻ. Những ao sinh thái như vậy ở nông thôn xây dựng cũng không khó. Giáo viên cũng có thể giới thiệu những nhà vườn chuyên trồng rau không dùng thuốc trừ sâu, phân bón hoá học cung cấp rau sạch cho siêu thị. Có thể cung cấp thêm thông tin hệ sinh thái rừng phòng hộ của Huyện Tiên Phước bị giảm sút. Một số nơi rừng bị thu hẹp, động vật rừng không có nơi để sinh sống. Ở Tiên Hiệp, Tiên Lãnh có hiện tượng voi xuống làng phá hoại vườn tược, nhà cửa. Bài thực hành 56-57: Tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương Chia học sinh thành các nhóm theo địa bàn dân cư. Chọn địa điểm tiêu biểu nổi cộm về ô nhiễm môi trường ở địa phương như: khu vực chợ, bệnh viện, một tổ dân phố đông dân cư. Nội dung điều tra: Các tác nhân gây ô nhiễm, mức độ ô nhiễm, hậu quả do ô nhiễm gây ra. Đề xuất biện pháp khắc phục . Các nhóm tiến hành báo cáo theo mẫu bảng 56.1- 56.2 (SGK) và trình bày trước lớp. 1) Môi trường xung quanh nơi em sống có bị ô nhiễm không? Nếu có thì nguyên nhân chủ yếu là gì? 2) Em sẽ làm gì để hạn chế ô nhiễm đó? 3) Gia đình em có những hoạt động nào gây ô nhiễm môi trường? Biện pháp khắc phục? Qua bài thực hành giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn. Vì vậy hình thành cho học sinh kĩ năng học tập, kĩ năng bảo vệ môi trường III / KẾT LUẬN: Giáo dục môi trường là quá trình làm thức tỉnh mọi người, đặc biệt là những học sinh hôm nay còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng ngày mai đã là những chủ nhân tương lai của thế giới, có nhận thức đúng về môi trường và ý nghĩa sống còn của việc bảo vệ môi trường, thường xuyên quan tâm đến môi trường, hình thành được các kĩ năng bảo vệ môi trường, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, từng bước năng cao chất lượng cuộc sống cho bản thân, gia đình và nhân loại. Để tìm được các biện pháp tích hợp hợp lí, đòi hỏi người giáo viên phải chịu khó tìm tòi, sáng tạo tổ chức các hoạt động dạy học. Bản thân tuy đã cố gắng nhưng mới chỉ nêu được một vài biện pháp và đã thực hiện trong quá trình dạy học. Chắc hẳn vẫn còn nhiều biện pháp hay hơn, mang tính khả thi, nhưng bản thân chưa nghĩ ra được. Rầt mong các đồng nghiệp chia sẻ. Để đưa nội dung giáo dục BVMT vào giảng dạy ở bộ môn sinh học ngày càng tốt hơn. Long Toàn , ngày 13 tháng 11 năm 2011 Giáo viên thực hiện Diệp Thị Luyện

Học Sinh Trung Học Sáng Tạo Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường

Tại cuộc thi Sáng tạo các giải pháp bảo vệ môi trường dành cho học sinh trung học tỉnh lần thứ 3, năm 2019 do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức ngày 22 và 23-11, nhiều ý tưởng, giải pháp đã được các học sinh đưa ra nhằm góp phần bảo vệ môi trường. 

Cuộc thi có sự tham gia của 30 trường THCS và THPT, gồm 30 gian hàng với 60 đề tài, sản phẩm của 140 thí sinh. Trong đó, lĩnh vực khoa học kỹ thuật có 32 đề tài, sản phẩm, lĩnh vực xã hội – hành vi có 28 đề tài, sản phẩm.

Kết quả, ban tổ chức đã khen thưởng 6 đơn vị đạt giải toàn đoàn, gồm 1 giải nhất thuộc về trường THCS Võ Thị Sáu (TP. Nha Trang);  2 giải nhì cho trường THPT Ngô Gia Tự (TP. Cam Ranh) và THPT Hoàng Hoa Thám (huyện Diên Khánh); 3 giải ba cho Trường THPT Chuyên Lê Quý Đôn (Nha Trang), THPT Trần Hưng Đạo (Cam Ranh), THPT Lạc Long Quân (huyện Khánh Vĩnh). Đồng thời trao giải cho 47 sản phẩm, bao gồm 5  giải nhất, 10 giải nhì, 11 giải ba, 21  giải khuyến khích.

Cuộc thi nhằm tạo sân chơi sáng tạo cho học sinh THCS, THPT. Qua đó, khuyến khích các ý tưởng sáng tạo, sáng kiến, giải pháp bảo vệ môi trườngvà nâng cao ý thức bảo vê ̣môi trường cho học sinh và cộng đồng.

Bà Hoàng Thị Lý – Phó Giám đốc Phụ trách Sở Giáo dục và Đào tạo trao cờ lưu niệm cho các đơn vị dự thi.

Hội thi quy tụ 30 gian hàng với 60 sản phẩm, đề tài.

Mô hình máy tạo nước nóng lạnh từ không khí của học sinh Trường THPT Nguyễn Chí Thanh.

Các học sinh Trường THCS Võ Thị Sáu giới thiệu các sản phẩm “Tái chế xanh”.

Một sản phẩm thân thiện với môi trường được làm từ bạt đã qua sử dụng của học sinh Trường THPT Lạc Long Quân.

Học sinh giới thiệu về sản phẩm.

Học sinh thuyết trình về sản phẩm.

Các thí sinh nhận giải nhì.

Các đơn vị nhận giải nhất toàn đoàn.

 K.D