Top 3 # Biện Pháp Bảo Vệ Sự Đa Dạng Sinh Học Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Trường Đại Học Nông Lâm TP.HCMBIỆN PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌCBộ môn: Đa dạng sinh họcGVHD: Ts Nguyễn Thị Mai Thành viên:Lê Tâm Thiện 15132103Nguyễn Thanh ToànNguyễn Hữu TiếnTrần Thị Lệ Hà1.Khái quát sự đa dạng sinh học tại Việt NamViệt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới với nhiều kiểu rừng, đầm lầy sông suối, rạn san hô.Việt Nam được quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF) công nhận có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn cầu.Là một trong 8 “trung tâm giống gốc” của nhiều loại cây trông, vật nuôi.Gồm: 11458 loài động vật, 21017 loài thực vật và khoảng 3000 loài sinh vậtTheo tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: “đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái”2. Những thực trạng hiện naya.Đa dạng genViệt Nam là một trong 12 trung tâm nguồn gốc giống cây trồng và cũng là trung tâm thuần hóa vật nuôi nổi tiếng thế giới. Bằng các biện pháp bảo tồn khác nhau tại chỗ, chuyển chỗ bảo tồn được 3273 kiểu di truyền cây cao su, 42 loài cây rừng, 905 nguồn gen cây dược liệu,70 giống vật nuôi, 2016 chủng nấm, vi khuẩn, vi sinh vật…b.Đa dạng loàiViệt Nam được xếp vào nhóm nước có đa dạng sinh học cao nhất thế giới gồm 15986 loài thực vật, 307 loài giun tròn, 145 loài ve giáp, 7750 loài côn trùng, 260 loài bò sát, 840 loài chim….Đặc trưng đa dạng loài ở Việt Nam: + Số lượng loài sinh vật nhiều, sinh khối lớn+ Cấu trúc loài đa dạng + Khả năng thích nghi của loài cao c.Đa dạng hệ sinh tháiViệt Nam có rất nhiều hệ sinh thái, đa dạng cả về loài lẫn phân bố. Một số hệ sinh thái quan trọng :+ Hệ sinh thái rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới + Hệ sinh thái rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới + Hệ sinh thái rừng lá rộng thường xanh trên núi đá vôi + Hệ sinh thái rừng lá kim tự nhiên+ Hệ sinh thái rừng thưa cây họ dầu( còn gọi là rừng khộp)+ Hệ sinh thái rừng ngập mặn + Hệ sinh thái rừng tràm + Hệ sinh thái rừng tre nứa3. Nguyên nhân suy giảmKhai thác gỗ trái phépSừng tê giác do chất kê-ra-tin (chất sừng) tạo ra, tương tự như thành phần cấu tạo của móng tay.4. Các hình thức bảo tồn đa dạng sinh họcBảo tồn nguyên vị ( Insitu Conversation )– Là bảo vệ tại nơi loài đang sốngSếu đầu đỏ – Loài đang được bảo tồn nguyên vị– Ch tr?ng d?c bi?t l cc lồi cy c? truy?n v hoang d?iCây Sưa Cây Cẩm Lai– Lo?i hình ph? bi?n l xy d?ng cc khu b?o t?nKhu Bảo Tồn TN Xuân Thủy( Nam Định ) Khu Bảo Tồn ĐNN Láng Sen ( Long An )Vường quốc gia chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí , giáo dục;Bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng.Bảo tồn chuyển vịBảo tồn chuyển vị ( Exsitu conservation)Động VậtThực VậtVườn ThúTrang trại nuôi động vậtThủy cungCT nhân giống động vậtVườn thực vậtVườn cây gỗNgân hàng giống- gene1234123Nuôi cấy tế bào gốc nhung hươuNhân bản động vật bằng công nghệ tế bào gốcBảo tồn chuyển vị động vậtVườn thực vật (Botanic Garden): Có khoảng 1500 vườn thực vật trên thế giới nhưng chỉ có khoảng 800 vườn có bảo tồn cây.Các vườn thực vật Vườn Cây Gỗ Các cây gỗ trong Vườn Cây GỗCác loại hạt giống quý được lưu trữ Các loại hạt giống quý được lưu trữCác loại hạt giống quý được lưu trữ5. Biện pháp bảo tồn.

Bảo Vệ Môi Trường/Đa Dạng Sinh Học

Bảo vệ môi trường và Đa dạng sinh học

Khái niệm đa dạng sinh học, các loại động vật quý hiếm ở Việt nam

Theo công ước về đa dạng sinh học được đưa ra năm 1992 tại hội nghị Liên hợp quốc về môi trường và sự phát triển, đa dạng sinh học được định nghĩa là toàn bộ sự phong phú của các thế giới sống và các tổ hợp sinh thái mà chúng là thành viên, bao gồm sự đa dạng bên trong và giữa các loài và sự đa dạng của các hệ sinh thái. Mức độ đa dạng sinh học của một quần xã sinh vật thể hiện ở 3 dạng: đa dạng về loài – là tính đa dạng các loài trong một vùng. Đa dạng di truyền – là sự đa dạng về gen trong một loài. Đa dạng hệ sinh thái – là sự đa dạng về môi trường sống của các sinh vật trong việc thích nghi với điều kiện tự nhiên của chúng. Tính đa dạng là một phạm trù bao trùm toàn bộ các thành phần tạo ra của hệ sinh thái đảm bảo sự duy trì một hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Đa dạng sinh học luôn thay đổi cùng sự tiến hoá của sinh vật trong quá trình hình thành loài mới, trong sự tham gia vào hoặc sự mất đi của một loài. Nguyên nhân gây ra các biến đổi đó là do sự biến đổi bất thường của tự nhiên hoặc do hoạt động của con người. Sự đa dạng về động vật ở VN Hệ động vật của Việt Nam cũng hết sức phong phú, không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét đặc trưng, đại diện cho hệ động vật vùng Đông Nam Á. Hiện đã thống được 175 loài thú, 826 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 471 loài cá nước ngọt, khoảng trên 2.000 loài cá biển, khoảng 7.000 loài côn trùng thêm vào đó có hàng chục ngàn loài động vật không xương sống ở cạn, ở nước ngọt và ở biển. Việt Nam có nhiều loài động vật đặc hữu. Hơn một trăm loài và phân loài chim, 78 loài và phân loài thú là loài đặc hữu. Nhiều loài động vật có giá trị cao cần được bảo vệ như voi, tê giác, bò rừng, bò tót, trâu rừng, bò xám, hổ, báo, voọc đầu xám, voọc mũi tếch, sếu cổ trụi, cá sấu, nhiều loài trăn, rắn và rùa biển,… Trong vùng phụ Đông Dương (phân vùng theo địa lý động vật) có 21 loài khỉ thì ở Việt Nam có 15 loài , trong đó có 7 loài là loài đặc hữu. Có 49 loài chim đặc hữu trong vùng phụ thì ở Việt Nam có 33 loài, trong đó có 11 loài là những loài đặc hữu. Trong khi Mianma, Thái Lan, Malaixia, mỗi nơi chỉ có một loài đặc hữu, Lào có một loài và Campuchia không có loài chim đặc hữu nào (Lê Diên Dực, 1997). Ơû Việt Nam vẫn có thể phát hiện nhiều loài sinh vật mới. Vào đầu thế kỷ này, ở vùng rừng biên giới giáp với Lào và Campuchia đã phát hiện loài bò xám – một loài bò hoang có quan hệ họ hàng với bò nhà. Trước đây tại vùng Vũ Quang, Hà Tĩnh đã phát hiện được loài trĩ cuối cùng của thế giới. Năm 1992 cũng tại rừng Vũ Quang lại phát hiện thêm con sao la, tại rừng Vũ Quang lại phát hiện thêm loài hoẵng lớn (Megamuntiacus vuquangensis), to gần gấp 2 loài hoẵng thường. Từ những phát hiện trên , Việt nam được thế giới công nhận là một nước có giá trị bảo tồn cao. Như vậy có thể nói rừng Việt Nam là “cái nôi đa dạng sinh học” của đất nước và là một trong những trung tâm ĐDSH của thế giới. Tuy nhiên hiện nay có một số lớn những loài thú, chim và bò sát đang bị đe doạ hoặc nguy cấp được liệt kê trong sách đỏ Việt Nam (1992) là một vấn đề được quan tâm. Nhiều loài động vật như trâu rừng, hươu Eld, tê giác sumatra, và trĩ Edwards đã trở nên tuyệt chủng ở Việt Nam vào thế kỹ này, và nếu không có hành động bảo vệ khẩn cấp thì nhiều loài khác như voi Châu Á, tê giác Java và cả loài sao la mới phát hiện cũng có nguy cơ bị tuyệt chủng. Bảng 5.4 – Tính phong phú của các loài ở Việt Nam

Môi trường thế giới đang bị huỷ hoại nghiêm trọng. Sự tăng trưởng của dân số cùng với những nhu cầu ngày càng cao của con người trong cuộc sống do những tiến bộ khoa học và công nghệ đã gây nên sức ép trực tiếp đến tài nguyên thiên nhiên, nhu cầu việc làm sinh sống … Hầu như mọi chủng lọai tromg quá khứ, từng sống tên trái đất, hiện nay đều đã tuyệt chủng, biến mất một cách “tự nhiên” vì những lý do này hay khác. có khả năng nhất là chúng không thể đối phó thành công với những thay đổi vô sinh hay sinh học (biotic) xảy đến trong môi trường của chúng (ví dụ sự thay đổi tự nhiên và sự xuất hiện dữ dội của thú ăn thịt, cạnh tranh hay bệnh tật). Hay cũng có thể những sự tuyệt chủng xảy ra đồng thời, vì những sự kiện hàng loạt gây ra bởi những xáo trộn về thiên tai không đoán trước được (Fisher, 1969; Raup, 1984 a, b; Vermeij, 1986). Hiện nay trên trái đất có khoảng 30 – 40 triệu loài thực vật và động vật, song mới chỉ kiểm kê được 1,7 triệu loài. Tỷ lệ diệt vong gây ra do con người lớn gấp 1.000 lần so với tỷ lệ diệt vong tự nhiên, con người đã làm tuyệt chủng khoảng 120 loài có vú, 187 loài chim, 13 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư và khoảng 30 ngàn loài cá. Những môi trường có số loài phong phú nhất thường được quan tâm khai thác nhiều nhất mà thường là môi trường đời sống hoang dại bị phá huỷ nhiều nhất như rừng nhiệt đới, những bãi ám tiêu san hô và những nơi bằng phẳng cách độ sâu khoảng 0 – 2000m trong biển.

Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự giảm sút độ đa dạng sinh học là :

+ Khai thác rừng quá mức: việc khai thác gỗ quá mức gây ra sự mất tán che cho đất, hệ thống rễ cây bị mất gây ra sự sói mòn đất và ức chế hoạt động của vi sinh vật làm tăng độ phì của đất … Bên cạnh đó, sự đốt rừng bừa bãi và nạn cháy rừng đã gây hạn hán, thiên tai, để lại thiệt hại to lớn cho hệ sinh thái và nền kinh tế. Đồng thời, sự phá hủy hệ sinh thái rừng làm biến đổi nơi sinh sống của các giống loài. Qua 4 thế kỷ gần đây, trên toàn cầu có toàn bộ hơn 700 loài bị tuyệt chủng được biết đến, bao gồm một trăm loại động vật có vú 160 loại chim, tất cả đều bị ảnh hưởng bởi nhân tạo (Fisher, 1968, Wood 1972; Soule 1983; Reid 1992). + Sự chăn thả, săn bắn quá mức và sự du nhập vào địa phương những loài động vật ăn thịt cũng là nguyên nhân dẫn đến sự tuyệt chủng của không ít các loài sinh vật trên trái đất: Việc săn bắn với tỷ lệ không thể chịu dựng được là nguyên nhân nỗi trội nhất của sự tuyệt chủng hay sự nguy hiểm của những chủng loài có giá trị hàng hóa trên thị trường. Nhiều loài thú ăn thịt lớn bị xem như là kẻ quấy rối ví chúng là những kẻ cạnh tranh quan trọng như chó sói (canis lupus) và những loài khác trong họ Canis, những con gấu xám nâu (Ursus arctos) … Một vụ tuyệt chủng hàng loạt thê thảm mới đây diễn ra ở hồ Victoria, hồ dài nhất châu Phi và dài thứ hai trên thế giới (Baskin, 1992, Kaufman, 1992). Mặc dù hồ Victoria bị ảnh hưởng bởi tự dưỡng hóa và những tác nhân gây sức ép khác cộng với số dân địa phương là 30 triệu người, sự tuyệt chủng hàng loạt dường như xảy ra nhanh hơn bởi các loài cá rô Nile (Lates nilotieuus). Loài cá này có thể dài đến 2m và nặng đến 60kg, là nguồn tài nguyên cung cấp cho xuất khẩu. Cá rô sông Nile lần đầu tiên đưa xuống hồ Victoria vào năm 1954, đến những năm 1980 số lượng của nó bùng nổ và sự tăng sản lượng cá rô sông Nile lại dựa vào sự ăn thịt những nhóm cá địa phương khác ở hồ Victoria, cộng đồng cá này bao gồm hơn 400 loài, với 90% có tính đặc hữu ở hồ Vitoria. Điều cần lưu ý rằng sự mất đi một mắc xích trong chuỗi thức ăn, sự huỷ diệt loài sinh vật đều ảnh hưởng sâu sắc đến sự tồn tại của những loài khác. Ví dụ: một cái cây trong rừng Amazôn ở Peru cũng đã là nơi trú ẩn của hơn 40 loài kiến. + Do cạnh tranh với con người và bệnh tật: một vài trường hợp tuyệt chủng nhân tạo bao gồm những loài bị quấy rối và con người nhận thấy chúng là những kẻ cạnh tranh với mình để sử dụng một nguồn tài nguyên thông thường nào đó hay do các dịch bệnh truyền nhiễm. + Mặt khác, hậu quả của chiến tranh trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã sử dụng những loại vũ khí, phương tiện hiện đại đã gây nhiễm môi trường nghiêm trọng, nhiều loài sinh vật bị huỷ diệt và tồn đọng lại trong tự nhiện qua nhiều thế hệ. Tóm lại sự sống trên trái đất này tồn tại phụ thuộc vào mối quan hệ chặt chẽ giữa các loài sinh vật với nhau, cứ một loài trên trái đất này mất đi phải chăng là sự sống trên Trái Đất đã bước thêm một bước tới sự diệt vong.

– Xây dựng hệ thống vườn quốc gia, khu bảo tồn – Bảo vệ tối đa sự hoang dã của khu bảo tồn, vườn quốc gia – Giữ gìn vùng triền biển ở trạng thái tự nhiên – Bảo tồn các khu đất ngập nước – Bảo tồn đa dạng sinh học ở các khu dân cư – Tạo sự thuận lợi phát triển sinh học đồng ruộng – Bảo vệ tốt rặng san hô và thảm cỏ biển – Trồng nhiều loại cây tốt hơn 1 loại cây – Trồng cây dọc kênh, mương, ao, hồ – Xây dựng vành đai xanh quanh khu vực đô thị, làng bản – Sản xuất nông nghiệp theo mô hình VAC – Canh tác ruộng bậc thang ở nơi đất dốc – Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp kết hợp vùng cửa sông – Kiểm soát chặt chẽ cây con biến đổi gen – Tổ chức tốt các hoạt động du lịch không săn bắn và gây hại cho môi trường

Theo luật bảo vệ môi trường sửa đổi được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005, tại chương IV, điều 30 về Bảo vệ đa dạng sinh học quy định:

2. Nhà nước thành lập các ngân hàng gien để bảo vệ và phát triển các nguồn gien bản địa quý hiếm; khuyến khích việc nhập nội các nguồn gien có giá trị cao.

3. Các loài động vật, thực vật quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng phải được bảo vệ theo các quy định sau đây:

a). Lập danh sách và phân nhóm để quản lý theo mức độ quý hiếm, bị đe dọa tuyệt chủng.

b). Xây dựng kế hoạch bảo vệ và áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc săn bắt, khai thác, kinh doanh, sử dụng.

c). Thực hiện chương trình chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ theo chế độ đặc biệt phù hợp với từng loài; phát triển các trung tâm cứu hộ động vật hoang dã.

Nêu Tình Trạng Suy Giảm Tài Nguyên Rừng Và Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học Ở Nước Ta. Các Biện Pháp Bảo Vệ Rừng Và Bảo Vệ Đa Dạng Sinh Học.

Đề bàiNêu tình trạng suy giảm tài nguyên rừng và suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta. Các biện pháp bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học?Lời giải chi tiếta) Tài nguyên rừng- Suy giảm tài nguyên rừng: năm 1943, độ che phủ rừng ở…

Đề bài Nêu tình trạng suy giảm tài nguyên rừng và suy giảm đa dạng sinh học ở nước ta. Các biện pháp bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học? Lời giải chi tiết

a) Tài nguyên rừng

– Suy giảm tài nguyên rừng: năm 1943, độ che phủ rừng ở nước ta là 43,09% và giảm xuống còn 22,0% vào năm 1983, sau đó tăng lên 38,09% (năm 2005). Mặc dù tổng diện tích rừng đang lăng dần lên, nhưng tài nguyên rừng vẫn bị suy thoái vì chất lượng rừng chưa thể phục hồi (70% diện tích rừng là rừng nghèo và rừng mới phục hồi).

– Biện pháp bảo vệ tài nguyên rừng:

+ Theo quy hoạch, phải nâng độ che phủ rừng của cả nước hiện lại từ gần 40% lên đến 45 – 50%, vùng núi dốc phải đạt độ che phủ khoảng 70 – 80%

+ Thực hiện những quy định về nguyên tắc quản lí, sử dụng và phát triển đối với 3 loại rừng:

Đối với rừng phòng hộ: có kế hoạch, biện pháp bảo vệ, nuôi dưỡng rừng hiện có, trồng rừng trên đất trống, đồi trọc.

Đối với rừng đặc dụng: bảo vệ cảnh quan, đa dạng về sinh vật của các vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên.

Đối với rừng sản xuất đảm bảo duy trì phát triển diện tích và chất lượng rừng, duy trì và phát triển hoàn cảnh rừng, độ phì và chất lượng đât rừng.

+ Giao quyền sử dụng đất và bảo vệ rừng cho người dân.

b) Đa dạng sinh học

– Sự suy giảm tính đa dạng sinh học của nước ta biểu hiện ở các mặt: suy giảm số lượng, thành phần loài, kiểu hệ sinh thái và nguồn gen

+ Suy giảm diện tích và chất lượng rừng: rừng nguyên sinh bị phá hoại, diện tích rừng giảm, rừng giàu bị thu hẹp, còn lại chủ yếu là rừng thứ sinh, rừng mới phục hồi, độ che phủ rừng còn thấp

+ Suy giảm đáng kể số lượng các loài động vật hoang dã và nguồn gen động thực vật quý hiếm.

+ Nhiều loài mất dần, nhiều loài có nguy cơ tuyệt chủng (gồm khoảng 100 loài thực vật, 62 loài thú, 29 loài chim).

+ Nguồn tài nguyên sinh vật dưới nước, đặc biệt nguồn hải sản của nước ta cũng bị suy giảm rõ rệt.

– Các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học:

+ Xây dựng và mở rộng hệ thống vườn quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên. Đến năm 2007, đã có 30 vườn quốc gia, 65 khu dự trữ thiên nhiên, bảo tồn loài – sinh cảnh, trong đó có 6 khu được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển của thế giới.

+ Ban hành Sách đỏ Việt Nam (để bảo vệ nguồn gen động, thực vật quý hiếm khỏi nguy cơ tuyệt chủng, đã có 360 loài thực vậl và 350 loài động vật thuộc loại quý hiếm được đưa vào sách đỏ Việt Nam).

+ Quy định trong việc khai thác (như: cấm khai thác gỗ quý, khai thác gỗ trong rừng non; cấm gây cháy rừng:-cấm săn bắt động vật trái phép; cấm dùng chất nổ đánh bắt cá và các dụng cụ đánh bắt cá con, cá bột; cấm gây độc hại cho môi trường nước)

©2019 Giải nhanh – Hướng dẫn giải bài tập sách giáo khoa nhanh nhất.

Tăng Cường Các Biện Pháp Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học

Ninh Bình được đánh giá là tỉnh có các hệ sinh thái đa dạng và phong phú. Nhiều khu vực trọng yếu như: Vườn Quốc gia Cúc Phương, Khu ramsa Vân Long, Rừng đặc dụng Hoa Lư… đang lưu giữ những giá trị đa dạng sinh học phong phú với các loài quý hiếm có tầm quan trọng quốc tế và nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Tuy nhiên, do tác động của nhiều yếu tố tự nhiên, ô nhiễm môi trường, nhất là tác động của con người dẫn đến nguy cơ suy giảm đa dạng sinh học ngày một gia tăng và công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên địa bàn tỉnh đang gặp phải nhiều khó khăn, thách thức.

Đa dạng sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường, là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, duy trì nguồn gen vật nuôi, cây trồng, cung cấp nguyên vật liệu cho xây dựng và các nguồn nhiên liệu, dược liệu.

Tuy nhiên, hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, tỉnh ta đang gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

Trong đó, phải kể đến nguồn lực cho công tác đa dạng sinh học ở các cấp, các ngành còn yếu và thiếu cả về số lượng, chất lượng. Đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư không đủ để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học hiện nay.

Chi cục Bảo vệ môi trường (thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường) là đơn vị phụ trách lại không có phòng đa dạng sinh học, không có cán bộ chuyên môn về đa dạng sinh học; toàn bộ nhiệm vụ về đa dạng sinh học đều do cán bộ làm công tác bảo vệ môi trường kiêm nhiệm. Nguồn kinh phí cho nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học được lấy chủ yếu từ nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường.

Bên cạnh đó, kinh phí đầu tư cho các khu rừng đặc dụng còn rất ít, mức khoán bảo vệ rừng còn quá thấp và cấp chưa đủ cho công tác quản lý và thực hiện các chương trình hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của Ban quản lý rừng đặc dụng.

Công tác quản lý các khu rừng đặc dụng, quản lý đa dạng sinh học tại các địa phương còn có sự chồng chéo giữa ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với ngành Tài nguyên và Môi trường. Nhận thức của cộng đồng dân cư về đa dạng sinh học, ý thức chấp hành quy định về bảo vệ và bảo tồn về đa dạng sinh học còn hạn chế. Vẫn còn xảy ra tình trạng chặt phá rừng, săn bắt, mua bán động vật hoang dã, thu hoạch quá mức các loài động, thực vật và hoạt động đánh cá hủy diệt…

Ngoài ra, ô nhiễm môi trường do lạm dụng phân bón hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc trừ cỏ; rác thải một số nơi chưa được thu gom, xử lý triệt để; ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp, dân số tăng nhanh và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu cũng là những nguyên nhân làm suy giảm sự đa dạng sinh học hiện nay.

Ông Lê Hùng Thắng, Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: Để bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, trong thời gian tới, Ninh Bình cần quan tâm đầu tư đúng mức thời gian, công sức và nguồn lực.

Trước mắt, tăng cường công tác điều tra, thống kê, kiểm kê, đánh giá hiện trạng đa dạng sinh học, đánh giá các hệ sinh thái, loài hoang dã nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ và nguồn gen bị suy thoái. Trên cơ sở đó có kế hoạch và giải pháp cụ thể, phù hợp trong công tác bảo tồn hệ sinh thái trên địa bàn tỉnh.

Trong đó, ưu tiên nguồn lực đầu tư nâng cấp vườn thực vật có đủ dung lượng cá thể của các loài đang có nguy cơ bị đe dọa hoặc bị tuyệt chủng, đảm bảo công tác bảo tồn, lưu giữ nguồn gen, đồng thời tạo cảnh quan du lịch, góp phần nâng cao nhận thức bảo tồn các loài này đối với cộng đồng.

Đẩy mạnh hợp tác khu vực và quốc tế, huy động mọi nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Thực hiện khai thác tiềm năng du lịch của các khu bảo tồn nhằm phát triển du lịch sinh thái gắn với sinh kế của người dân vùng đệm, nâng cao đời sống cộng đồng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học. áp dụng khoa học công nghệ trong việc cải tạo rừng và tăng cường đầu tư trang thiết bị phục vụ công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng.

Bên cạnh đó, cần xây dựng quy chế phối hợp rõ ràng trong công tác quản lý Nhà nước về đa dạng sinh học giữa ngành Tài nguyên và Môi trường với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Giáng Hương