Top 21 # Biện Pháp Chống Già Hóa Dân Số / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Già Hóa Dân Số Tại Nhật / 2023

Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm.

Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm. Trong tháng 5/2014, một báo cáo đã dự đoán rằng đến năm 2040, sẽ có ít nhất 500 thị trấn trên khắp cả nước sẽ biến mất khi nhiều phụ nữ trẻ tuổi di cư đến các thành phố lớn.

Lực lượng lao động đã bắt đầu thu hẹp lại, làm giảm tăng trưởng trong tương lại. Trong những năm gần đây, chính phủ đã bắt tay vào thực hiện hàng loạt các đề án khuyến khích sinh đẻ, bao gồm cả phát hành cuốn “Cẩm nang phụ nữ” để giáo dục phụ nữ trẻ về các thời điểm dễ và khó mang thai trong thời kỳ sinh nở của họ. Chính phủ cũng tổ chức nhiều sự kiện mai mối để kết nối các cặp đôi với nhau.

Lý do chính dẫn đến tỷ lệ sinh của Nhật Bản ngày càng thấp là do tỷ lệ kết hôn của người dân nước này giảm dần theo từng năm. Ngày càng có ít người muốn kết hôn, và họ kết hôn ngày càng muộn hơn. Ít nhất một phần ba phụ nữ trẻ muốn trở thành những bà nội trợ toàn thời gian và vẫn đang tìm kiếm người đàn ông có đủ tiềm lực tài chính để gánh vác một gia đình truyền thống.

Trong những giai đoạn kinh tế ổn định hơn, những người ở trong độ tuổi kết hôn thường có việc làm ổn định trong hệ thống “việc làm trọn đời” đặc trưng của quốc gia Đông Á này. Giờ đây, nhiều người phải làm các công việc tạm thời hoặc bán thời gian khi nền kinh tế đang biến động theo từng ngày. Đối với phụ nữ Nhật Bản, họ từ chối hôn nhân và sinh con do văn hóa doanh nghiệp kiểu cũ của Nhật, trong khi dịch vụ chăm sóc trẻ em vẫn còn thiếu hụt buộc họ phải từ bỏ sự nghiệp của mình.

Cuối cùng, những người trẻ tuổi đang bị bó buộc với các quy chuẩn xã hội. Chỉ có khoảng 2% trẻ em được sinh ra mà cha mẹ của chúng không kết hôn (con số này ở hầu hết các nước phát triển là 30-50%). Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ kết hôn giảm thì tỷ lệ sinh cũng giảm. Ngay cả đối với những người đã lập gia đình, chi phí nuôi dạy trẻ tăng cao cũng khiến nhiều bậc cha mẹ quyết định chỉ sinh một con.

Rất may là cho dù chính phủ khó có thể can thiệp trực tiếp vào việc tăng tỷ lệ sinh, chính sách thị trường lao động đang dần được cải cách hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả trong dài hạn. Nếu các công ty có nhiều chính sách ưu đãi hơn đối với các nhân viên trẻ, đồng thời giảm bớt đặc quyền của những người lao động khác, thì các cặp vợ chồng trẻ sẽ có một cơ sở ổn định hơn để kết hôn và xây dựng tổ ấm. Cho đến nay, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã nhiều lần đưa vấn đề này ra bàn luận trong các chương trình nghị sự, song vẫn trì hoãn việc thực hiện chúng. Thay vào đó, ông Abe đang đưa ra các chính sách giúp phụ nữ vừa duy trì được sự nghiệp vừa có thể sinh con.

Già Hóa Dân Số Nhật Bản / 2023

Qua các phương tiện truyền thông, được biết vấn đề già hóa dân số ở Nhật rất nhiều nhưng khi tận mắt nhìn thấy người già lao động ở Nhật Bản, tôi mới cảm nhận sâu sắc thực tế này. Đây cũng là bài học cho Việt Nam khi tận dụng thời kỳ “dân số vàng” và nâng cao chất lượng dân số.

Người già có thể làm mọi việc

Lái xe phục vụ đoàn nhà báo chúng tôi là bác tài xế Sato, năm nay đã 70 tuổi. Ít ai nhận ra độ tuổi thực của bác nếu không được giới thiệu bởi trông bác rất khỏe mạnh, nhanh nhẹn. Lái xe cho chúng tôi suốt một tuần lễ, đi từ thành thị đến nông thôn, qua bao nhiêu đèo dốc rừng núi, nhất là chặng đường đến núi Phú Sĩ nhưng bác vẫn bận áo trắng sơ-vin, giày tất trắng, đặc biệt là nụ cười hiền hậu. Như mọi tài xế ở Nhật Bản, đến bữa, bác Sato ăn cơm ở nơi khác và đúng giờ thì có mặt ở xe, nhanh nhẹn sắp xếp vali cho khách.

Dọc chuyến hành trình, chúng tôi còn nhìn thấy rất nhiều người già đang làm việc ở Tokyo, Kyoto, Nagayo, Chi ba…Người thì làm lao công ở công viên, chùa chiền, người thì làm bảo vệ cho các cửa hàng, cửa hiệu, nhiều người là tài xế xe buýt, phần lớn là các cụ ông. Họ mặc trang phục chỉnh tề, tươm tất, phong thái như người trẻ.

Nguyễn Hữu Quân – hướng dẫn viên của Vietravel, người có nhiều năm sống ở Nhật Bản, cho chúng tôi biết: Do chất lượng cuộc sống tốt nên người già ở Nhật sống rất lâu và họ sống rất độc lập, không lệ thuộc con cái. Thường thì họ sống với nhau hoặc sống một mình, đi làm như người trẻ, ăn các thức ăn nhiều chất dinh dưỡng và ăn rất khỏe. Con cái họ, vì áp lực công việc nên cũng ít khi về thăm cha mẹ.

Dọc đường đến núi Phú Sĩ, nhìn thấy nhiều ngôi nhà nhỏ bỏ hoang, chị bạn đồng nghiệp hỏi và được Quân giải thích: Những người già đã sống biệt lập ở đó, có khi mất rồi hàng xóm, con cái mới biết. Cũng có những đứa con mấy năm không về thăm cha mẹ nên không ít người già đã sống trong cô đơn. Nước Nhật văn minh và hiện đại thuộc hàng đầu thế giới, nơi con người như cỗ máy làm việc suốt ngày đêm, đến giấc ngủ cũng khó trọn vẹn, vì vậy về phương diện nào đó, người già không khỏi thiếu thốn về mặt tình cảm.

Chăm lo gìn giữ môi trường sống

Người già ở Nhật Bản cũng là những người mẫu mực trong công việc và trong hành vi ứng xử với môi trường. Chính họ đã truyền đạt cho con cháu tư tưởng “dọn rác cũng là dọn sạch tâm hồn mình” theo thuyết thần đạo nên đời nối đời, người Nhật không ai vứt rác ra đường. Họ coi rác là tài nguyên, nếu có mẩu rác nào ngay lập tức nhặt lên đưa vào nhà và phân loại.

Cùng với các quyết sách của Chính phủ, đi đâu trên đất nước Nhật Bản cũng khó tìm thấy một mẩu rác. Tôi đã nhìn thấy một cụ già quét rác ở Hoàng Cung Tokyo. Cụ cặm cụi làm việc, tỉ mẩn, chỉn chu, không để ý gì đến xung quanh. Một cụ già khác ở chùa cổ Tokyo thì cẩn thận tỉa từng cành cây, nhổ từng bụi cỏ. Chính vì vậy, Nhật Bản dù có nhiều địa chỉ tâm linh, di tích danh thắng với hàng ngàn du khách viếng thăm nhưng tuyệt nhiên không một mẩu rác.

Đặc biệt, tôi để ý, như bao người trẻ khác, bác tài xế Sato không hề hút thuốc lá lúc chờ khách, nói năng rất nhỏ nhẹ. Đây cũng là hình ảnh mà tôi nhìn thấy ở bãi đỗ xe của thành cổ Osaka: Khi chờ khách, các bác tài xế già (có bác còn già hơn cả bác Sato, râu tóc bạc trắng) thường tranh thủ lấy báo ra đọc.

Giải pháp với già hóa dân số

Dân số của Nhật Bản đạt 127.162.625 người vào ngày 26/04/2019 theo số liệu mới nhất từ Liên Hợp Quốc. Theo CNN, Nhật Bản cũng là quốc gia “siêu già” với hơn 20% dân số ở độ tuổi từ 65 trở lên. Năm 2018, dân số của Nhật đạt 124 triệu người, nhưng được dự báo sẽ giảm xuống chỉ còn khoảng 88 triệu người vào năm 2065. Để có thêm nguồn lực lao động, những năm qua, Nhật Bản đã có nhiều chính sách thu hút số lượng lờn lao động trẻ đến Nhật làm việc và Việt Nam là một trong số đó.

Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến thời điểm tháng 6/2018, người Việt Nam sống và làm việc tại Nhật Bản là 291.494 người, tăng 2,3 lần so với cùng kỳ năm 2015 là 124.820 người. Với số lượng này thì Việt Nam đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Người Việt Nam (trong đó có Hà Tĩnh) sang Nhật làm đủ thứ nghề, từ lao động phổ thông trong các nhà máy đến phục vụ trong các nhà hàng, khách sạn, cửa hàng cửa hiệu. Lao động Việt Nam chất lượng cao rất ít ở Nhật.

Du học sinh Việt Nam cũng khá đông, thường các em đi làm thêm công việc phụ bán hàng tại các trung tâm mua sắm, phục vụ lễ tân, nấu nướng trong các nhà hàng, khách sạn. Thu nhập đủ để trang trải các chi phí học tập. Chúng tôi đã gặp các em trong các trung tâm mua sắm ở Tokyo, trong các khách sạn ở Nagayo, Kyoto…

Đang là quốc gia ở thời kỳ “dân số vàng”, Việt Nam cần tận dụng cơ hội này để tạo ra nguồn lực lao động chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Theo đó, cần tạo cơ chế thông thoáng cho các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam để tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho người trẻ. Nhà nước cũng cần có chính sách thu hút nhân tài, tạo môi trường làm việc chuyên nghiệp, minh bạch để tăng năng suất lao động, cải thiện thu nhập cho người lao động.

Giáo dục ý thức, đào tạo kiến thức, kỹ năng lao động, làm tốt công tác hướng nghiệp cho người trẻ để họ có thể yên tâm ở lại làm việc và cống hiến ngay trên đất nước mình là vô cũng cần thiết. Bên cạnh đó, cần có chính sách chăm sóc sức khỏe cho người dân, nhất là người cao tuổi để họ sống vui, sống khỏe, sống có ích, đóng góp sức mình xây dựng đất nước.

Bùi Minh Huệ

Các tin đã đưa

Ứng Phó Với Già Hóa Dân Số / 2023

Tính đến ngày 1-4-2019, quy mô dân số của Việt Nam đạt 96,2 triệu người, trong đó có khoảng 62 triệu người trong độ tuổi lao động.

Ông bà và các cháu trong một gia đình tham gia hoạt động dành cho gia đình. Ảnh: H. Dung

Mặc dù vẫn đang trong thời kỳ “dân số vàng” nhưng các chuyên gia nhận định, Việt Nam là một trong 10 nước trên thế giới có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất.

* Phát huy lợi thế “dân số vàng”

Đồng Nai hiện có gần 3,1 triệu dân, đứng thứ 5 cả nước. So với 10 năm trước, dân số trong tỉnh tăng gần 611 ngàn người. TP.Biên Hòa là địa phương có số dân đông nhất với hơn 1 triệu người. Tiếp đến là huyện Trảng Bom (349,2 ngàn người), huyện Nhơn Trạch (260,5 ngàn người), huyện Long Thành (hơn 246 ngàn người). Những địa phương có dân số đông do tập trung nhiều khu công nghiệp, thu hút lượng lao động nhập cư lớn. Ngược lại, những địa phương vùng sâu, vùng xa, ít khu công nghiệp lại có dân số thấp.

Già hóa dân số hay còn gọi là giai đoạn dân số đang già là tình trạng dân số có tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% tổng dân số trở lên; hoặc khi tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% tổng dân số trở lên.

Người dân các tỉnh, thành khác nhập cư vào Đồng Nai phần lớn đang trong độ tuổi lao động. Điều này giúp Đồng Nai có nguồn lao động dồi dào, đáp ứng yêu cầu về nhân công của các doanh nghiệp nói riêng và các ngành sản xuất khác nói chung.

GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội (Trường đại học kinh tế quốc dân) cho hay, với hơn 63% dân số có độ tuổi từ 15-64, Việt Nam đang có ưu thế lớn để phát triển kinh tế, bởi lực lượng lao động này có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh, linh hoạt trong chuyển đổi ngành nghề. Đặc biệt, trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay, lực lượng lao động trẻ có trình độ tay nghề, chuyên môn kỹ thuật cao rất cần thiết.

Tuy nhiên, theo GS-TS.Nguyễn Đình Cử, nếu Việt Nam không có những giải pháp để khai thác lợi thế này thì lợi thế sẽ mất đi. Thay vào đó, quá trình già hóa dân số sẽ đến sớm hơn và Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức mới.

* Cần thêm nhiều chính sách với người cao tuổi

Tính đến nay, cả nước có hơn 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,4% dân số cả nước, tức là đang trong giai đoạn già hóa dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên.

Dự báo, Việt Nam sẽ bước vào thời kỳ dân số già vào năm 2035, khi tỷ lệ người cao tuổi tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người. Dự kiến, đến năm 2049, tỷ lệ người cao tuổi sẽ chiếm khoảng 25% dân số, tức là cứ 4 người dân thì có 1 người cao tuổi.

Lý giải nguyên nhân của việc già hóa dân số nhanh, bà Nguyễn Kim Tuyến, Phó chi cục trưởng Chi cục Dân số – kế hoạch hóa gia đình tỉnh cho rằng, nhiều địa phương, trong đó có Đồng Nai hiện chưa đạt được mức sinh thay thế cần phải có. Tức là mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh sản chưa sinh đủ 2 người con để thay thế mình thực hiện nhiệm vụ sinh sản trong những năm tiếp theo. Đặc biệt là các tỉnh khu vực Đông Nam bộ, mức sinh thay thế ở nhiều nơi rất thấp. Không những thế, tâm lý ngại sinh con của nhiều cặp vợ chồng trẻ cũng khiến mức sinh chưa đạt được kết quả như mong muốn. Nhiều gia đình hiện nay chỉ muốn sinh 1 con để chăm sóc và nuôi dạy cho tốt.

GS-TS.Nguyễn Đình Cử cho biết, theo điều tra quốc gia về người cao tuổi, người cao tuổi thường mắc các bệnh về xương khớp, huyết áp, các bệnh về mắt và suy giảm trí nhớ. Tình trạng bệnh tật đã ảnh hưởng lớn đến đời sống tâm lý, các hoạt động sinh hoạt hằng ngày và sự hòa nhập cộng đồng của người cao tuổi. Đa số người cao tuổi nước ta chưa có thói quen khám bệnh định kỳ. Vì vậy khi phát hiện bệnh thường ở giai đoạn muộn khiến việc chữa trị rất khó khăn.

Mặc dù số lượng người cao tuổi đang tăng lên hằng năm nhưng hệ thống chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi ở nước ta còn hạn chế. Tại tuyến Trung ương mới chỉ có một bệnh viện lão khoa. Còn ở tuyến tỉnh, tuyến huyện, vấn đề này chưa được đầu tư tương xứng. Người cao tuổi đi khám, chữa bệnh thường ở các bệnh viện đa khoa, trung tâm y tế mà chưa có bệnh viện chuyên về lão khoa.

Ngoài vấn đề sức khỏe, vấn đề đời sống vật chất của người cao tuổi cũng đang gặp nhiều khó khăn. Mới chỉ có hơn 3 triệu người cao tuổi được hưởng lương hưu, chính sách đối với người có công và trợ cấp xã hội. Còn lại khoảng 8 triệu người cao tuổi khác chủ yếu sống nhờ vào con cháu hoặc sống neo đơn.

“Các nhà hoạch định chính sách cần có những định hướng để phát triển, tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, có cơ chế phối hợp công – tư trong cung ứng dịch vụ đối với người cao tuổi. Trong đó, mô hình liên kết giữa trường đào tạo khối ngành Y với cơ sở y tế và trại dưỡng lão cần được quan tâm đẩy mạnh” – GS-TS.Nguyễn Đình Cử đề xuất.

Hạnh Dung

Áp Lực Và Giải Pháp Cho Dân Số Già Hóa / 2023

(SK&MT) – Châu Á là khu vực có dân số đang già đi nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Dân số già sẽ khiến khu vực này phải tiêu tốn 20.000 tỷ USD cho chăm sóc y tế đến năm 2030.Đây là đánh giá được đưa ra trong báo cáo mới được công bố của Trung tâm nghiên cứu rủi ro châu Á – Thái Bình Dương có trụ sở tại Singapore.

Theo báo cáo, đến năm 2030, sẽ có 511 triệu người cao tuổi ở khu vực châu Á trên tổng số 3,8 tỷ dân. Nhật Bản sẽ là quốc gia siêu già với tỷ lệ người già chiếm 28% dân số, trong khi 1/5 dân số ở Hong Kong, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ ở tuổi 65.Báo cáo thu thập dữ liệu tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam, cho biết, các hệ thống y tế, doanh nghiệp và các gia đình ở khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ đứng trước áp lực lớn khi người trong độ tuổi lao động giảm trong khi người cao tuổi tăng.

Sự bùng nổ dân số ở nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương trong mấy thập kỷ qua đã tạo nên nguồn lao động lớn, từ đó dần thúc đẩy năng suất và nâng cao thu nhập. Nhưng xu hướng đó giờ đang đảo chiều khi những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số đó ngày càng trở nên già đi, đặt gánh nặng chăm sóc cho thế hệ sau.

Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao tuổi.

Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người. Có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Ví dụ, năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, 5 Số người từ 60 tuổi trở lên: Toàn thế giới, các nước phát triển, các nước đang phát triển, 1950-2050 Châu Đại dương là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%. Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, so với 24% ở Châu Á, 24% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ Latinh và vùng biển Caribe, 27% ở Nam Mỹ và 34% ở Châu Âu.

Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các châu lục và các quốc gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau. Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chẳng hạn, tỷ lệ người già trong tổng số dân của Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất có 18 năm, ở Nhật Bản mất 24 năm, thì ở Thụy Điển mất 85 năm, ở Mỹ mất 73 năm… Tương tự như vậy, để tỷ lệ người già tăng từ 14%- 20% Hàn Quốc chỉ mất có 8 năm, Nhật Bản là 12 năm, thì ở Thụy Điển – 39 năm và Mỹ- 21 năm.

Già hóa dân số cũng tạo ra thách thức về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ở các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội trên toàn thế giới. Thách thức lớn nhất là thay đổi cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60 tuổi) sẽ tăng lên và tỷ lệ gia nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và như vậy, để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao động già hơn (đồng nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nền kinh tế). Về mặt kinh tế, già hóa dân số và dân số già có ảnh hưởng kép đến nền kinh tế. Một mặt, năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn so với các nhóm tuổi trẻ khác trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập của nền kinh tế nói chung và của từng gia đình nói riêng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến hệ lụy là những người trẻ tuổi phải làm việc nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập của gia đình. Mặt khác, chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác cho người cao tuổi tăng lên, ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển. Về mặt xã hội, trong một xã hội dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm.

Tại cuộc họp tổ chức ngày 26/ 5/ 2016, Tổ chức tế Thế giới (WHO) đã thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch Hành động về người cao tuổi trong đó đề ra những hành động cần thiết nhằm bảo đảm cho tất cả người cao tuổi ở mọi nơi có thể sống lâu và mạnh khỏe. Kế hoạch Hành động đặt ra 2 mục tiêu chính, đó là tập trung hỗ trợ để tất cả người già có thể tự làm được những việc quan trọng với họ, và thu thập các bằng chứng, tìm kiếm hợp tác để chuẩn bị cho “Thập kỷ của Già hóa khỏe mạnh” sẽ bắt đầu từ năm 2020.

Việc thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch hành động đánh dấu một mốc thực sự quan trọng để bảo đảm cho tất cả mọi người già ở bất cứ đâu có thể sống lâu và khỏe mạnh./.

Linh Đức