“thực Trạng, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Việc Áp Dụng Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi” (Số Liệu Từ Ngày 1/12/2013 Đến 31/5/2015)

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Hành Án Dân Sự
  • Người Sáng Kiến Các Giải Pháp Quản Lý Đường Bộ Hà Tĩnh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Cơ Sở Vật Chất Tài Sản Lớp Học Trường Thcs Thị Trấn Cát Bà
  • Thuyết Minh Mô Tả Thực Hiện Skkn
  • Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường
  • Thứ ba – 08/03/2016 15:32

    I-THỰC TIỄN CÔNG TÁC CƯỠNG CHẾ THADS TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 1- Số lượng việc cưỡng chế THA

    Theo số liệu thống kê “Kiểm sát các vụ cưỡng chế THA” từ ngày 1/12/2013 đến ngày 31/5/2015 các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thực hiện 97 quyết định cưỡng chế để thi hành án cho 154 việc (cấp tỉnh 11 quyết định cưỡng chế thi hành cho 36 việc), tỷ lệ việc cưỡng chế trên số việc có điều kiện là 1,78% (số việc có điều kiện thi hành/tổng số việc phải thi hành là 8.641/9301). Kết quả của công tác cưỡng chế đạt được như sau:

    – 37 vụ cưỡng chế hoàn thành đã thực hiện xong các trình tự thủ tục THA và thanh toán tiền theo quy định của pháp luật, trong đó có 5 vụ sau khi ban hành quyết định cưỡng chế thì người phải THA đã đến cơ quan THA thực hiện việc thi hành án trước khi tổ chức lực lượng cưỡng chế.

    2- Các biện pháp cưỡng chế THA đã được áp dụng

    Trong kỳ các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh chỉ áp dụng 3 trong nhiều biện pháp cưỡng chế THA được quy định tại Điều 71 Luật THADS như sau:

    2.1-Khấu trừ tiền trong tài khoản

    Điều 76 Luật THADS quy định:

    “1- Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.

    2.2-Trừ vào thu nhập của người phải THA

    Điều 78 Luật THADS quy định:

    2- Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ”.

    “1- Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

    2-Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

    a- Theo thỏa thuận của đương sự;

    b- Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

    c- Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

    3Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thức tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tổi thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

    4Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều này”.

    Thực tiễn những năm qua chỉ có 2 Quyết định số 02, 03 cùng ngày 16/8/2010 của Cục THADS tỉnh trừ 25% tiền lương hưu hàng tháng của bà Phạm Thị Thu Trang và 20% tiền trợ cấp thương binh hàng tháng của ông Nguyễn Thanh Phương là vợ và chồng đều ở phường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi để thi hành nghĩa vụ phải trả 33.621.042đ và 5 chỉ vàng 24K

    Để thực hiện 2 quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập, Cục THADS đã tổ chức nhiều cuộc họp bàn biện pháp và ban hành nhiều văn bản đề nghị phối hợp gửi các cơ quan Lao động – Thương binh xã hội nơi quản lý tiền trợ cấp của ông Phương và Bảo hiểm xã hội nơi quản lý lương hưu của bà Trang. Tuy nhiên cũng chỉ thu được 20% của 3 tháng trợ cấp thương binh của ông Phương (từ tháng 3 đến tháng 6/2012) và 25% 6 tháng lương hưu của bà Trang (từ tháng 6 đến tháng 12/2011). Sau đó ông Phương và Trang không ký nhận vào danh sách chi trả phụ cấp và lương hưu nên 2 cơ quan (Phòng Lao động -TBXH và Bảo hiểm xã hội) gặp khó khăn trong việc quyết toán tài chính hàng năm và dừng việc khấu trừ để báo cáo thỉnh thị tỉnh, Trung ương, đến năm 2014 các cơ quan ở Trung ương có Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT/BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam về việc hướng dẫn cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS (có hiệu lực từ ngày 1/3/2014) có quy định rõ:

    “Khi nhận được quyết định khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi đang quản lý tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các khoản thu nhập hợp pháp khác của người phải THADS phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan THADS hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định trừ vào thu nhập.

    Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải THADS thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải THADS có trách nhiệm ký nhận vào danh sách chi trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. Trường hợp người phải THADS cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với số tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán”

    Sau khi Thông tư liên tịch số 02 nêu trên có hiệu lực, Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi có Công văn số 353/CTHA ngày 31/3/2014 gửi phòng Lao động – Thương binh xã hội số 341 ngày 26/3/2014 gửi Bảo hiểm xã hội đề nghị tiếp tục thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của ông Phương, bà Trang nhưng vẫn không được cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện. Ngày 4/6/2014 Cục THADS ban hành tiếp Công văn số 705/CTHA gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội đề nghị thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của bà Trang nhưng vẫn không được thực hiện triệt để. Ngày 20/1/2015 Cục THADS đã tổ chức cuộc họp bàn phối hợp thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của bà Trang với thành phần mời đại diện Viện KSND tỉnh, BHXH tỉnh và BHXH cấp huyện. Tại cuộc họp này đại diện VKS đã nêu rõ quan điểm về việc không thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập là vi phạm pháp luật, nêu rõ từng quy định cụ thể của điều luật và yêu cầu cơ quan BHXH phải nghiêm túc thực hiện. Kết thúc cuộc họp đã thống nhất kết luận: Bảo hiểm xã hội tỉnh đồng ý tạo thủ tục tài chính kế toán phù hợp với quy định để Bảo hiểm xã hội cấp dưới tiếp tục thực hiện việc khấu trừ thu thập từ lương hưu hàng tháng của bà Phạm Thị Thu Trang. Sau cuộc họp việc thi hành án này được thực hiện thông suốt.

    Như vậy: Luật THADS đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức … như đã viện dẫn tại khoản 4 Điều 78 nêu trên và trách nhiệm cụ thể của Bảo hiểm xã hội trong THADS được quy định tại Điều 177 Luật THADS như sau:

    “1- Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

    2- Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án.

    3- Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của luật này.

    Tuy nhiên các văn bản dưới luật, các thủ tục hành chính của các cơ quan ban ngành còn chồng chéo, không phù hợp với luật vẫn được áp dụng trong thực tiễn tạo nên mỗi cơ quan, ngành, người hiểu khác nhau, không có sự thống nhất phối hợp THA. Khi có Thông tư liên tịch hướng dẫn rõ những vướng mắc trong thực tiễn sẽ tạo được sự thống nhất, nhưng nếu chỉ cơ quan THADS “Độc lập tác chiến” cũng khó hoàn thành nhiệm vụ – sự tham gia nêu rõ quan điểm, căn cứ pháp luật của đại diện Viện kiểm sát sẽ tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cơ quan THADS trong quá trình thao tác nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước giao cho mỗi ngành.

    2.3- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản đang do người thứ 3 giữ

    2.3.1- Án tuyên không rõ, tuyên sai:

    Thời gian qua các cơ quan THADS đã ban hành 23 văn bản đề nghị Tòa án giải thích, đính chính đối với các bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, tuyên sai so với thực tế, đặc biệt là các quyết định công nhận sự thỏa thuận Tòa án tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự nhưng khi phát sinh việc thi hành án Chấp hành viên xác minh để cưỡng chế thì đương sự chống đối, khiếu kiện. Kiểm tra cụ thể tài sản nhà cửa, đất trên thực tiễn khác với nội dung công nhận sự thỏa thuận, có bản án có hiệu lực pháp luật từ nhiều năm khi lập kế hoạch cưỡng chế phát hiện vi phạm nhưng đã hết thời hiệu kháng nghị giám đốc thẩm, không thể tổ chức cưỡng chế được

    Ví dụ: Bản án số 01/2006/DSST ngày 11/1/2006 về việc chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông R đại diện và bị đơn là vợ chồng ông M bà B. Tòa án xác định mảnh vườn 1604m2 do vợ chồng ông M, bà B đang quản lý sử dụng là của ông Lâm C bà T (cha, mẹ ông M, R) chết để lại nên chia cho các đồng thừa kế, khi Chấp hành viên phối hợp với Kiểm sát viên xác minh chuẩn bị cưỡng chế theo kiến nghị của Viện kiểm sát thì đương sự cung cấp tài liệu do HTX nông nghiệp xác nhận diện tích đất nêu trên được UBND huyện Tư Nghĩa trước đây cấp cho hộ ông M theo Nghị định 64 của Chính phủ (đất cấp theo định suất cho hộ gia đình, cá nhân nào thì người đó được quyền sử dụng).

    2.3.2- Án xử sai qua nhiều cấp chậm phát hiện xử lý, khi án có hiệu lực pháp luật cơ quan THADS chịu sức ép từ nhiều phía, người được thi hành án khiếu kiện yêu cầu phải kiên quyết tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật; người phải thi hành án thì khiếu kiện kêu oan cho rằng án xử sai nên tìm đủ cách để chống đối việc thi hành án, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng vào cuộc, đơn từ nhiều cơ quan Trung ương đến địa phương chuyển tới; cơ quan THADS phối hợp liên ngành động viên thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành nhiều lần không hiệu quả, họp bàn cưỡng chế thi hành án giữa các cơ quan, ban ngành chưa có sự thống nhất cao vì cảm thấy án tuyên chưa đủ sức thuyết phục; báo cáo thỉnh thị cấp trên và cấp giám đốc thẩm chậm được trả lời.

    -Vụ ” Đòi lại nhà, đất” giữa nguyên đơn vợ chồng ông Lũy bà Hoa và bị đơn vợ chồng ông Khiêm bà Huệ, ông Luận bà Hạnh.

    Vụ án này đã qua 4 lần xét xử với 1 quyết định tái thẩm và 1 quyết định giám đốc thẩm nhưng vẫn chưa giải quyết được.

    Vòng 1 án sơ thẩm số 10/DSST ngày 27/5/2004, án phúc thẩm số 71 ngày 26/11/2004 đều chấp nhận nhà, đất mà vợ chồng anh em Khiêm, Luận đang quản lý sử dụng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng Nguyễn Văn Lũy, Hồ Thị Thanh Hoa. Án có hiệu lực pháp luật cơ quan THADS ban hành quyết định thi hành án vào tháng 5/2005, ông Khiêm, ông Luận liên tục khiếu kiện đề nghị TAND tối cao xem xét nhưng không được trả lời. Khi Chủ tịch UBND tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tư Pháp có công văn đề nghị thì TAND tối cao trả lời không có căn cứ giám đốc thẩm. Vợ chồng ông Lũy bà Hoa liên tục có đơn gửi đến nhiều cơ quan Trung ương và địa phương khiếu kiện chậm thi hành án. Năm 2007 Chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế giao nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lũy, bà Hoa. Quá trình phối hợp họp bàn nhiều lần đi đến thống nhất sẽ tổ chức cưỡng chế vào ngày 19/12/2007 thì ngày 18/12/2007 Chánh án TAND tối cao có Công văn yêu cầu hoãn thi hành án 90 ngày để xem xét giám đốc thẩm nhưng hết thời hạn 90 ngày vẫn không có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Ngày 24/3/2008 thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh ban hành các quyết định tiếp tục thi hành án thì bị vợ chồng ông Khiêm, ông Luận phản đối việc thi hành án. Ngày 3/6/2008 Chủ tịch UBND tỉnh – Trưởng ban chỉ đạo THADS tiếp tục có công văn đề nghị Chánh án TAND tối cao cho biết có kháng nghị giám đốc thẩm hay không nhưng không được phúc đáp. Ngày 23/7/2008 Chủ tịch UBND tỉnh có công văn chỉ đạo và thống nhất kế hoạch cưỡng chế thi hành án nhưng gặp phải sự chống đối gay gắt của người phải thi hành án nên việc cưỡng chế chưa thực hiện được. Đến ngày 16/8/2010 Chánh án TAND tối cao có quyết định tái thẩm số 34/DS-TT hủy toàn bộ 2 bản án nêu trên giao hồ sơ cho TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại.

    Vòng 2 án sơ thẩm số 03/2013/DS-ST ngày 29/5/2013, phúc thẩm số 56/2013/DS-ST ngày 26/9/2013 đều tuyên buộc vợ chồng anh em Khiêm, Luận phải tháo dỡ, chuyển dịch các tài sản trên đất để giao lại mặt bằng cho nguyên đơn (khác so với vòng 1 vì bà Hoa – nguyên đơn đã rút phần yêu cầu đòi lại nhà). Để thi hành án chủ tịch UBND tỉnh thành lập ban vận động thuyết phục tự nguyện thi hành án gồm đại diện Cục THADS, Sở Tư Pháp, Viện kiểm sát, Công an, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân tỉnh Quảng Ngãi và các tổ chức Hội đoàn thể cấp thành phố, cấp phường, tuy nhiên không đạt hiệu quả. Các đương sự tiếp tục khiếu kiện, ngày 26/8/2014 TAND tối cao có Công văn số 17/TANDTC-DS yêu cầu hoãn thi hành án 90 ngày và đến ngày 14/2/2015 Chánh án TAND tối cao có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 30/2015/KN-DS đề nghị hủy bản án phúc thẩm số 56/2013/DS-PT, giao hồ sơ cho TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại (đến nay chưa xét xử lại)

    Phần xét thấy của kháng nghị có nội dung trái ngược hoàn toàn với quyết định của các bản án đã tuyên trước đây “Có cơ sở xác định, có việc năm 1975 ông Lũy về quê bán nhà, đất ban đầu thỏa thuận bán cho ông Tấn nhưng sau đó chuyển nhượng lại cho ông Thành bà Nhuyễn (cha mẹ các bị đơn). Vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng không có việc mua bán nhà, đất năm 1976 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Lũy với các người con của ông Thành bị vô hiệu để buộc vợ chồng anh Luận, vợ chồng anh Khiêm trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà Hoa và những người thừa kế của ông Lũy là không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thực tế”

    -Vụ Nguyễn Thị Hạnh – Nguyễn Văn Út phải thi hành Bản án số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện trả nợ Ngân hàng TMCP ngoại thương 610.647.524đ. Tài sản đảm bảo để vay tiền là quyền sử dụng đất và nhà của bà Hạnh ông Út.

    Sau khi nhận được bản án có đóng dấu “án đã có hiệu lực pháp luật” của TAND huyện và nhận đơn yêu cầu THA. Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện đã ban hành quyết định thi hành án. Hết thời hiệu tự nguyện 15 ngày vợ chồng bà Hạnh, ông Út không tự nguyện thi hành án do đó Chấp hành viên phải tiến hành các thủ tục cưỡng chế kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản thế chấp là nhà, đất của bà Hạnh, ông Út.

    3- Đánh giá kết quả công tác cưỡng chế THADS; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 3.1- Nhận xét, đánh giá

    Trong quá trình Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế kê biên … cho đến khi bán đấu giá thành tài sản thế chấp vợ chồng bà Hạnh, ông Út chưa có biểu hiện gì chống đối mà còn tham gia, phối hợp với Chấp hành viên thực hiện các thủ tục theo trình tự thi hành án. Đến khi nhận được Bản án số 01/2013/KDTM-ST thì bà Hạnh, ông Út viết đơn kháng cáo và thực hiện các động tác chống đối quyết liệt việc cưỡng chế giao nhà cho người mua được tài sản bán đấu giá là ông Trần Văn Hải.

    2.3.3- Tài sản cưỡng chế kê biên đưa ra bán đấu giá nhưng không có người mua phải hạ giá nhiều lần kéo dài thời gian bán đấu giá ảnh hướng đến kết quả cưỡng chế thi hành án. Điển hình như:

    3.2- Những tồn tại, hạn chế

    Thời gian qua công tác cưỡng chế THADS tuy chưa được áp dụng nhiều nhưng kết quả đạt được đã thúc đẩy, khích lệ tiến độ giải quyết việc THADS, tạo niềm tin cho nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật góp phần ổn định tình hình trật tự trị an xã hội.

    Quá trình cưỡng chế được Chấp hành viên chú trọng xác minh đầy đủ lập kế hoạch cẩn thận, trình tự thủ tục đảm bảo đúng quy định của pháp luật, chưa để xảy ra sai sót gì.

    3.3- Nguyên nhân, tồn tại, hạn chế 3.3.1- Nguyên nhân chủ quan:

    Các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho Chấp hành viên thực hiện các cuộc cưỡng chế được thuận lợi.

    3.3.2- Nguyên nhân khách quan:

    Các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án đầy đủ, rõ ràng. Những vụ cưỡng chế khó khăn, phức tạp đều được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chủ tịch UBND – Trưởng ban chỉ đạo THADS.

    Theo quy định của pháp luật thì tất cả các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và phần bản án, quyết định được thi hành ngay nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành án người phải thi hành án có điều kiện mà không thi hành thì đều phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên trong thực tiễn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế rất ít, tỷ lệ việc cưỡng chế trên số việc có điều kiện thi hành án rất thấp, Chấp hành viên để thời gian động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án kéo dài làm cho số việc có điều kiện thi hành án tồn đọng ngày càng nhiều, tỷ lệ giải quyết việc thi hành án không đáp ứng chỉ tiêu Quốc hội giao.

    Đối với những việc đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời gian giải quyết cũng kéo dài, số việc cưỡng chế hoàn thành trên số việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chỉ đạt 38%.

    Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, Chấp hành viên của cơ quan THADS chưa mạnh dạn, kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, ngại khó khăn, va chạm, sợ làm sai, sợ trách nhiệm do năng lực nghiệp vụ còn hạn chế. Theo thông báo số 17/TB-BTP ngày 11/5/2015 về Kết luận của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thúy Hiền tại Hội nghị quán triệt triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS và sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2021 là “Ý thức trách nhiệm, tính gương mẫu đi đầu của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý và Chấp hành viên chưa cao; có trường hợp năng lực chuyên môn chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ; việc chấp hành kỹ cương, kỹ luật một số nơi chưa nghiêm”.

    Số việc và tiền thụ lý tăng cao trong khi biên chế của cơ quan THADS không tăng; thị trường bất động sản chưa khởi sắc trở lại, nhiều tài sản kê biên, bán đấu giá không bán được; công tác phối hợp giữa Trung ương và địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý (kết luận của Thứ trưởng Bộ Tư Pháp Nguyễn Thúy Hiền)

    Một số bản án, quyết định tuyên không rõ khó thi hành, chậm được giải thích, đính chính, một số án xử sai, vi phạm pháp luật nhưng chậm được phát hiện giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm khi đưa ra bàn biện pháp cưỡng chế thi hành án chưa được sự thống nhất của các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương.

    II- MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THADS

    Để công tác cưỡng chế THADS đạt được hiệu qủa cao và đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp, đề xuất sau:

    – Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vì vậy việc thực hiện pháp luật đòi hỏi phải đảm bảo pháp chế nghĩa là không những tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn phải đảm bảo cho pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống. Các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS phải được các cơ quan, tổ chức, công dân tôn trọng, thực hiện và trước hết đòi hỏi các cơ quan công quyền, các cán bộ công chức cơ quan Nhà nước phải gương mẫu chấp hành. Những văn bản dưới luật, văn bản hướng dẫn chuyên ngành phải phù hợp với quy định của Hiến pháp, Luật, nếu có xung đột thì phải chỉnh sửa và hướng dẫn thực hiện cho đúng luật, các cơ quan cấp trên phải tăng cường hướng dẫn khi có vướng mắc trong thực tiễn.

    – Các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đưa ra thi hành phải đúng pháp luật, án tuyên phải rõ ràng, đúng với thực tế, đảm bảo tính khả thi. Nếu án có vi phạm pháp luật cần được phát hiện, xử lý kịp thời theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu người phải thi hành án có đơn khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thì giải quyết đơn kịp thời, đúng quy định của pháp luật; nếu án tuyên có sai sót, không rõ ràng thì Tòa án có thẩm quyền phải kịp thời đính chính, giải thích theo quy định; trường hợp đương sự có tranh chấp tài sản cưỡng chế kê biên thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đúng thời hạn luật định, không để kéo dài làm ảnh hưởng việc cưỡng chế thi hành án, nếu đương sự có đơn khởi kiện đến Tòa án thì đề nghị Tòa án thụ lý giải quyết sớm theo Quy chế phối hợp liên ngành số 01/QCPH/CTHADS-CA-VKSND-TAND ngày 19/5/2014 của Cục THADS, Công an, Viện KSND, TAND tỉnh Quảng Ngãi.

    – Lãnh đạo, Chấp hành viên cơ quan THADS phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp để kiên quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS đối với án có điều kiện mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Để tránh sai sót, vi phạm thì trình tự thủ tục xác minh, thông báo, kế hoạch cưỡng chế phải chi tiết, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

    – Các cơ quan kiểm sát và Kiểm sát viên phải chủ động tăng cường kiểm sát việc phân loại án của Chấp hành viên, những vụ việc có điều kiện để kéo dài thời gian thi hành án thì kiên quyết kiến nghị, yêu cầu Chấp hành viên cưỡng chế thi hành án. Trước khi ban hành kiến nghị phải đọc kỹ hồ sơ tài liệu về xác minh điều kiện thi hành án, xem tài sản định cưỡng chế kê biên có thế chấp ở đâu không và đối chiếu với cơ quan quản lý nơi đăng ký kê khai tài sản để biết. Đối với tài sản có giá trị của người phải thi hành án đã chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp … sau khi có bản án, quyết định của Tòa án là hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ THADS cần phải yêu cầu cưỡng chế kê biên để thi hành án.

    Trong quá trình kiểm sát việc cưỡng chế kê biên, Kiểm sát viên phải chú ý tính đúng đắn của trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án theo luật định.

    – Phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên thuyết phục bằng nhiều hình thức trước và ngay tại chỗ khi thực hiện cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án và quần chúng nhân dân. Với những vụ khó khăn phức tạp cần tranh thủ sự động viên, thuyết phục của các cấp lãnh đạo, của người bà con thân thích có uy tín đối với người phải thi hành án và gia đình họ.

    – Cần tổng kết rút kinh nghiệm sau cưỡng chế để phát huy mặt mạnh khắc phục những sai sót, vi phạm, tổng hợp thành tài liệu để bồi dưỡng nghiệp vụ về căn cứ pháp luật và thực tiễn kinh nghiệm trong công tác cưỡng chế THADS cho đội ngũ cán bộ làm công tác cưỡng chế thi hành án.

    Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có thi hành một cách nghiêm chỉnh hay không, pháp chế xã hội chủ nghĩa có được đảm bảo hay không, quyền lợi của nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân tổ chức có được bảo vệ hay không, phụ thuộc nhiều vào kết quả của việc thi hành án. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa. Tự nguyện thỏa thuận thi hành án là một nguyên tắc, biện pháp cần thiết trong hoạt động thi hành án dân sự.

    Cưỡng chế thi hành án là biện pháp nghiêm khắc nhất mà chấp hành viên và cơ quan thi hành án áp dụng khi thực thi các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đó cũng chính là việc Chấp hành viên và Cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước bắt buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời nghiêm chỉnh, đúng pháp luật bảo về quyền lợi của nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

    Tác giả bài viết: Phạm Bá Ngân – Phòng 11

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thads
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Đề Tài, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Theo Công 161/gddt Năm 2013 Của Phòng Giáo Dục Thành Phố.
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Về Sử Dụng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Đẩy Mạnh Hoạt Động Sáng Kiến, Giải Pháp Công Tác Ngành Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Bảo Quản Tốt Hồ Sơ Lưu Trữ Và Công Tác Tuyển Sinh Trong Nhà Trường
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm Cho Nam Giới Khi Quan Hệ
  • Biện Pháp Phòng Chống Xuất Tinh Sớm
  • Top 8 Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm Hiệu Quả Nhất
  • Một số biện pháp cưỡng chế đã được quy định trong các văn bản pháp luật, thời kì từ năm 1945 đến năm 1954, nhưng chỉ là những quy định đơn lẻ về việc áp dụng các biện pháp đó. Thời kì từ năm 1954 đến năm 1975, pháp luật tố tụng hình sự đã đề cập các nguyên tắc chung về thủ tục bắt, giam, tha, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật và thư tín của kẻ phạm pháp. Điều 27, Điều 28 Hiến pháp năm 1959 đã quy định về bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm về nhà ở, đồ vật, thư tín của công dân. Kế thừa và phát triển các văn bản pháp luật trước đây, Bộ luật tố tụng hình sự quy định về các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự. Theo đó, các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được chia thành ba nhóm: 1) Nhóm biện pháp ngăn chặn gồm bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh và đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm, được quy định tại Chương VI của Bộ luật tố tụng hình sự với tên gọi “Những biện pháp ngăn chặn”; 2) Nhóm biện pháp bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ như khám xét, xem xét dấu vết trên thân thể, được quy định tại các Chương XII, XIII Bộ luật tố tụng hình sự; 3) Nhóm biện pháp bảo đảm cho điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án như kê biên tài sản, áp giải bị can, bị cáo, người bị kết án, dẫn giải người làm chứng và các biện pháp áp dụng đối với người vi phạm trật tự phiên toà, được quy định rải rác tại nhiều chương khác nhau của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Tùy thuộc vào yêu cầu của việc giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế phù hợp theo đúng quy định của pháp luật.

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng
  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế
  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm Cho Nam Giới Khi Quan Hệ
  • Biện Pháp Phòng Chống Xuất Tinh Sớm
  • Từ khóa: Biện pháp cưỡng chế pháp nhân; pháp nhân phạm tội; Bộ luật Tố tụng Hình sự; bảo đảm thi hành án

    Abstract: Under the Criminal Code of 2021, a legal entity is now the one subject to the criminal liability. Like inpiduals subject to criminal liability, the coercive measures against the legal entities are being applied in certain cases in order to pvent crimes, facilitating the process of resolving criminal cases, guaranteeing the enforcement of criminal judgments, especially judgments related to damages. The legal regulation of applying the coercive measures against the legal entities which is prosecuted, investigated, indicted, adjudicated for the first time are contained within the Criminal Procedure Code. This article is to analyze and clarify some entanglements of the criminal procedure regulations, up to date toward the coercive measure against the legal entities for future application.

    Keywords: The coercive measures against the legal entities; the crime of legal entity; Criminal Procedure Code; ensure the execution of the judgment

    – Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án.

    Theo đó, chủ thể bị áp dụng biện pháp cưỡng chế là pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử – là pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm (Điều 433BLTTH năm 2021). Các pháp nhân thương mại không bị khởi tố với tư cách bị can, không bị áp dụng biện pháp cưỡng chế nêu trên.

    Thời hạn áp dụng các biện pháp cưỡng chế không được quá thời hạn điều tra, truy tố, xét xử.. Đây cũng là những trường hợp phát sinh khi kê biên tài sản của cá nhân. Những vướng mắc này tồn tại trong suốt thời gian thi hành BLTTHS năm 2003 và sẽ tiếp tục là những khó khăn, vướng mắc khi thi hành BLTTHS năm 2021. Vì vậy, việc có hướng dẫn cụ thể thực sự là cần thiết khi BLTTHS đã có hiệu lực pháp luật.

    Theo quy định, tài sản bị kê biên được giao cho người đứng đầu pháp nhân có trách nhiệm bảo quản; nếu để xảy ra việc tiêu dùng, sử dụng trái phép, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hủy hoại tài sản bị kê biên thì người này phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật. Khi kê biên tài sản của pháp nhân phải có mặt những người sau: Người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; Đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn nơi pháp nhân có tài sản bị kê biên; Người chứng kiến.

    Trường hợp pháp nhân có người đứng đầu nhiều hơn một người việc xác định chủ thể nào có trách nhiệm bảo quản tài sản kê biên cần được hướng dẫn cụ thể.. Cơ quan có thẩm quyền áp dụng căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động mà pháp nhân thương mại đăng ký kinh doanh, hoạt động, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện để xác định rõ tạm đình chỉ hoạt động trong lĩnh vực nào. Không phải trong mọi trường hợp đều tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân trên mọi lĩnh vực hoạt động của pháp nhân vì biện pháp này khi áp dụng sẽ ảnh hưởng không chỉ đến hoạt động bình thường của pháp nhân mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến người lao động của pháp nhân đó.

    5. Buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án

    Mặc dù BLTTHS không quy định cụ thể nhưng đặt trong mối liên hệ với quy định của BLHS thì có thể hiểu biện pháp cưỡng chế này chỉ áp dụng với pháp nhân thương mại nếu pháp nhân đó có thể bị áp dụng hình phạt đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn.

    Trong số các biện pháp cưỡng chế luật định áp dụng với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, ngoài biện pháp tạm đình chỉ hoạt động của pháp nhân có mục đích chính và chủ yếu là ngăn chặn hành vi phạm tội tiếp tục xảy ra, tiếp tục gây thiệt hại, các biện pháp còn lại đều nhằm mục đích để bảo đảm cho việc thi hành hình phạt tiền hoặc bảo đảm bồi thường thiệt hại. Căn cứ vào quy định của pháp luật, đối chiếu với thực tế có thể hiểu đối với một pháp nhân thương mại bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử cùng lúc có thể áp dụng nhiều biện pháp cưỡng chế tố tụng. Bởi có thể áp dụng một biện pháp nhằm ngăn chặn tội phạm tiếp tục xảy ra đồng thời với một biện pháp để bảo đảm thi hành án hoặc hai biện pháp cùng nhằm bảo đảm thi hành án ( Ví dụ: nếu chỉ phong tỏa tài khoản của pháp nhân thì chưa đủ số tiền tương ứng với mức phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại và vì vậy cần áp dụng thêm biện pháp kê biên tài sản…).

    Khi lựa chọn biện pháp để áp dụng trong số các biện pháp trên, cần cân nhắc đến hiệu quả và sự ảnh hưởng của biện pháp cưỡng chế áp dụng đối với pháp nhân. Trong số các biện pháp BLTTHS quy định, biện pháp buộc nộp một khoản tiền để bảo đảm thi hành án là biện pháp ảnh hưởng ít nhất đến hoạt động của pháp nhân nên được ưu tiên lựa chọn. Nếu pháp nhân không có khả năng tài chính để thực thi biện pháp này, thứ tự lựa chọn sẽ là phong tỏa tài khoản và cuối cùng là kê biên tài sản. Tuy nhiên, việc lựa chọn quyết định cũng cần rất kịp thời vì nếu không kịp thời có thể dẫn đến hiện tượng tẩu tán tài sản. Vì vậy, nếu BLTTHS quy định biện pháp buộc nộp khoản tiền để bảo đảm thi hành án ngoài là biện pháp cưỡng chế độc lập còn là biện pháp thay thế cho biện pháp phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản thì sẽ vừa bảo đảm hiệu quả áp dụng vừa hạn chế thiệt hại cho pháp nhân nếu pháp nhân đó vẫn đang trong quá trình hoạt động.

    Thứ hai, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân hay không là vấn đề gây tranh cãi. Mặc dù Điều 436 BLTTHS năm 2021 các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân nhưng trong quy định cụ thể về thẩm quyền tại Khoản 4 Điều 437, Khoản 5 Điều 438, Điều 439 và các điều luật dẫn chiếu 128, 129 đều không quy định thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế cho các chủ thể này. Do vậy, cũng có thể kết luận các cơ quan này không có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố.

    Vì vậy, Điều 436 BLTTHS năm 2021 có thể sửa đổi, khắc phục hai hạn chế nêu trên như sau: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế sau đây đối với pháp nhân bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế
  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • 3 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da
  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm Cho Nam Giới Khi Quan Hệ
  • Hiện tại đơn vị của em nợ tiền thuế là 5.000.000.000 đồng. Công ty em có làm thủ tục không tính tiền chậm nộp và gửi lên cơ quan thuế và được ban hành thông báo không tính tiền chậm nộp số tiền thuế là 1.700.000.000 đồng. Và hiện tại đơn vị em có khoản nợ là 2.000.000.000 quá hạn 90 ngày, cơ quan thuế ban hành quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản với khoản nợ này.

    Sau 30 ngày hết hiệu lực quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản thì cơ quan thuế sẽ ban hành quyết định cưỡng chế hóa đơn không còn giá trị sử dụng.

    Sau khi em nghiên cứu các văn bản thì thấy có văn bản ghi rõ là không thực hiện cưỡng chế đối với đơn vị có hồ sơ không tính tiền chậm nộp. Vậy xin hỏi luật sư, cơ quan thuế ra quyết định cưỡng chế hóa đơn không còn giá trị sử dụng đối với đơn vị như thế là đúng hay sai? Vì nếu quyết định cưỡng chế trích tiền từ tài khoản đối với khoản nợ 2.000.000.000 quá hạn thì đúng, nhưng quyết định hóa đơn không còn giá trị sử dụng thì trong đó có cả khoản không tính tiền chậm nộp.

    Với câu hỏi của bạn, Luật sư của Luật Hoàng Phi xin được đưa ra một số ý kiến tư vấn như sau:

    Thứ nhất, số tiền không tính là chậm nộp được hiểu là khoản tiền thuế phát sinh từ những hợp đồng cung ứng hàng hóa, dịch vụ được thanh toán từ nguồn tiền trích từ ngân sách Nhà nước nhưng do các đơn vị sử dụng ngân sách Nhà nước chậm thực hiện việc thanh toán nên việc đóng thuế chưa thực hiện được. Trong trường hợp của công ty bạn, công ty đã làm đơn và được cơ quan thuế xác định số tiền thuế không tính là chậm nộp là 1.700.000.000 đồng qua thông báo chính thức gửi cho công ty.

    Do đó, số tiền nợ thuế của công ty sẽ không tính 1.700.000.000 đồng nêu trên.

    Thứ ha i, việc cơ quan thuế áp dụng biện pháp cưỡng chế hóa đơn không còn giá trị sử dụng tính cả khoản tiền không tính là chậm nộp là trái với quy định của pháp luật.

    Cụ thể, khoản 1 điều 3 Thông tư số 215/2013/TT-BTC Hướng dẫn thi hành cưỡng chế các quyết định hành chính thuế quy định các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

    1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế (sau đây gọi chung là biện pháp cưỡng chế)

    a) Trích tiền từ tài khoản của đối tượng bị cưỡng chế tại kho bạc nhà nước, tổ chức tín dụng; yêu cầu phong tỏa tài khoản. b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập. c) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng. d) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật để thu tiền thuế nợ, tiền phạt, tiền chậm nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước. đ) Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế do tổ chức, cá nhân khác đang giữ.

    e) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.”

    Điểm 6 khoản 10 điều 2 Thông tư 26/2015/TT-BTC Hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/ NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 39/201/TT-BTC về hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ quy định :

    6.Trách nhiệm của cơ quan thuế

    a) Cơ quan thuế thực hiện giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế, nếu phát hiện người nộp thuế được đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nước thanh toán nhưng không nộp kịp thời tiền thuế nợ vào ngân sách nhà nước thì cơ quan thuế ban hành thông báo tiền thuế nợ, tiền phạt và tiền chậm nộp, theo đó tính tiền chậm nộp kể từ ngày kế tiếp ngày người nộp thuế được thanh toán và thực hiện cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định của pháp luật

    b) Cơ quan thuế chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế đối với trường hợp không tính tiền chậm nộp theo quy định tại Điều này

    Theo đó, trong trường hợp này, cơ quan thuế không được tiến hành các biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng đối với số tiền thuế không tính là chậm trả 1.700.000.000 đồng của công ty bạn . Để bảo vệ quyền lợi của mình, công ty bạn cần làm đơn khiếu nại quyết định hành chính đối với việc ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thông báo hóa đơn hết hạn sử dụng đối với cả số tiền thuế không tính là chậm nộp gửi đến chính cơ quan thuế có thẩm quyền đã ra quyết định đó để được giải quyết.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT HÌNH SỰ MIỄN PHÍ19006557 để được tư vấn.

    Tác giả

    Nguyễn Văn Phi

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế
  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • 3 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da
  • Bật Mí Các Biện Pháp Phòng Chống Lão Hóa Da Mặt Tuổi 40 Hiệu Quả Cao
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2021 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện pháp cưỡng chế là biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.

    Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 quy định về biện pháp cưỡng chế như sau:

    “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tổ tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.”

    Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự , ngoài việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế

    Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2021 quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản như sau:

    “1.Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

    a)Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    b)Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    c)Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    d)Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    2.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

    Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.”

    Các trường hợp cần hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản

    Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản là biện pháp cưỡng chế cần thiết cần được áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Tuy nhiên, những biện pháp này không bắt buộc phải áp dụng trong mọi trường hợp, mọi thời điểm trong quá trình tiến hành tổ tụng. Khỉ có căn cứ cho rằng việc áp dụng là không cằn thiết, biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    -Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    -Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    -Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    -Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp cấp trong giai đoạn điều tra, truy tổ khi hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên tài sàn, phong tỏa tài khoản phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • 3 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da
  • Bật Mí Các Biện Pháp Phòng Chống Lão Hóa Da Mặt Tuổi 40 Hiệu Quả Cao
  • Bí Quyết Ngăn Ngừa Lão Hóa Da Tuổi 30 Hiệu Quả
  • 4 Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Toà Án Có Thẩm Quyền Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Mẫu Quyết Định Mở Phiên Họp Xem Xét, Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Mẫu Quyết Định Đình Chỉ Việc Xem Xét, Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Kiểm Sát Việc Xem Xét, Quyết Định Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Tại Toà Án
  • Quy Chế Kiểm Sát Việc Xem Xét, Quyết Định Áp Dụng Các Biện Pháp Xử Lý Hành Chính Tại Tand
  • Qua tìm hiểu thì tôi có biết cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt được áp dụng trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt. Nhưng tôi chưa được rõ là có các biện pháp cưỡng chế nào? Rất mong nhận được sự hỗ trợ.

    Á Khanh (khanh***@gmail.com)

      Tại Khoản 2 Điều 86 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, có quy định các biện pháp cưỡng chế bao gồm:

      – Khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền từ tài khoản của cá nhân, tổ chức vi phạm;

      – Kê biên tài sản có giá trị tương ứng với số tiền phạt để bán đấu giá;

      – Thu tiền, tài sản khác của đối tượng bị cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính do cá nhân, tổ chức khác đang giữ trong trường hợp cá nhân, tổ chức sau khi vi phạm cố tình tẩu tán tài sản.

      – Buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả:

      + Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;

      + Buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng không có giấy phép hoặc xây dựng không đúng với giấy phép;

      + Buộc thực hiện biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh;

      + Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện;

      + Buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại;

      + Buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;

      + Buộc loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hoá, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm;

      + Buộc thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng;

      + Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật;

      + Các biện pháp khắc phục hậu quả khác do Chính phủ quy định.

      Trân trọng!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính 2012
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Năm 2012 (Tiếp)
  • Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Là Gì? Những Mà Bạn Cần Biết
  • Biện Pháp Khắc Phục Hậu Quả Trong Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Xác Định Tuổi Của Đối Tượng Bị Áp Dụng Biện Pháp Xử Lý Hành Chính
  • Trình Bày Các Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Bảo Đảm Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Giải Pháp Điều Hòa Nhiệt Độ Thông Minh
  • Biện Pháp Thi Công Hệ Thống Điều Hòa Không Khí
  • 8 Giải Pháp Lắp Đặt Điều Hòa Không Khí Hiệu Quả
  • Giải Pháp Điều Hòa Tinh Tế, Đẳng Cấp Cho Các Căn Biệt Thự
  • 7905

    bắt buộc phải thi hành một mệnh lệnh, quyết định hành chính, là phương tiện đảm bảo cho việc thực hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bảo vệ các lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Các biện pháp cưỡng chế hành chính có tính chất, nội dung và vai trò khác nhau trong hoạt động quản lý.

    2. Các biện pháp cưỡng chế hành chính cụ thể

    Các biện pháp phòng ngừa có tính chất hạn chế quyền

    2.1. Các biện pháp phòng ngừa

    Các biện pháp phòng ngừa có tính chất bắt buộc trực tiếp

    Đó là các biện pháp như: đóng cửa biên giới khi dịch bệnh; cấm đi vào đường đang có nguy cơ sụt lún, nhà đổ,…

    Đó là các biện pháp như: kiểm tra thực phẩm; kiểm tra, tiêu hủy gia cầm; cách ly những người bị xác định có khả năng nhiễm bệnh lây lan,…

    2.2. Các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo việc xử lý vi phạm hành chính

    Trong trường hợp cần ngăn chặn kịp thời vi phạm hành chính hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau đây theo thủ tục hành chính:

    – Tạm giữ người theo thủ tục hành chính;

    – Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

    – Khám người;

    – Khám phương tiện vận tải, đồ vật;

    – Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;

    – Bảo lãnh hành chính;

    – Quản lý người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam trong thời gian làm thủ tục trục xuất;

    – Truy tìm đối tượng phải chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh trong trường hợp bỏ trốn.

    2.3. Các biện pháp hành chính khác

    Trong Pháp lệnh XLVPHC có quy định 04 “biện pháp hành chính khác”, thực chất đây là các ” biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt”. Là “biện pháp hành chính” vì chúng do luật hành chính quy định. Là “biện pháp cưỡng chế hành chính đặc biệt” vì tính cưỡng chế hành chính của nó rất đặc biệt, còn cao hơn tất cả các biện pháp cưỡng chế hành chính còn lại, bởi nó hạn chế quyền tự do – một quyền cơ bản nhất của con người.

    Đó là các biện pháp:

    – Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;

    – Đưa vào trường giáo dưỡng;

    – Đưa vào cơ sở giáo dục;

    – Đưa vào cơ sở chữa bệnh;

    2.4. Các biện pháp trách nhiệm hành chính

    Nhóm biện pháp cưỡng chế hành chính này có mục đích xử lý đối tượng có hành vi vi phạm hành chính, được áp dụng rất rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động nhà nước và xã hội, tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức cho nên Pháp lệnh XLVPHC quy định rất cụ thể các biện pháp thuộc nhóm này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Đảm Bảo Việc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Cưỡng Chế Hành Chính Là Gì? Những Hiểu Biết Pháp Luật Chuẩn Nhất
  • Biện Pháp Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Hành Chính ?
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Là Gì? Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Hiện Nay
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Để Hạn Chế Tai Nạn Giao Thông Dịp Tết Ất Mùi 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Quyền Lãnh Thổ, Biên Giới Quốc Gia
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Học Sinh
  • Skkn Rèn Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Chuyên Đề Gd Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs
  • Biện Pháp Giáo Dục Kỹ Năng Sống Cho Hs Thcs Bien Phap Quan Ly Giao Duc Ky Nang Song Cho Hoc Sinh Trung Hoc Co So Doc
  • Công điện nêu rõ từ ngày 15/2/2015 đến ngày 18/2/2015 (từ ngày 27 tháng Chạp năm Giáp Ngọ đến ngày 30 tháng Chạp năm Giáp Ngọ) toàn quốc đã xảy ra 188 vụ tai nạn giao thông, làm chết 122 người, bị thương 144 người.

    So với cùng kỳ năm ngoái thì số vụ tai nạn giao thông, số người bị thương giảm mạnh và không xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng với xe khách, tuy nhiên số người chết lại có xu hướng tăng, đặc biệt là trong ngày 18/2/2015 (ngày cuối cùng của năm Giáp Ngọ) số người chết lại tăng 8 người so với cùng kỳ năm ngoái.

    Chính vì vậy, để ngăn ngừa và kéo giảm tai nạn giao thông trong đêm giao thừa Tết Ất Mùi 2021 và trong những ngày Tết Nguyên đán Ất Mùi 2021 sắp tới, nhất là phòng, tránh tai nạn xe mô tô, xe gắn máy, Chủ tịch Uỷ ban An toàn giao thông Quốc gia đề nghị Trưởng ban An toàn giao thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khẩn trương chỉ đạo các sở, ngành địa phương tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại các Công điện số 2620/CĐ-TTg ngày 19/12/2014, số 115/CĐ-CP ngày 23/1/2015 và số 262/CĐ-TTg ngày 14/2/2014 về việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông dịp Tết Ất Mùi.

    Phải kịp thời báo cáo các vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng về Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia. Đồng thời xử lý kịp thời các thông tin phản ánh của người dân về tình hình trật tự an toàn giao thông và hoạt động vận tải khách qua số điện thoại đường dây nóng phục vụ Tết.

    Công an các tỉnh, thành phố phải huy động tối đa lực lượng Cảnh sát giao thông phối hợp với các lực lượng công an khác (cảnh sát trật tự, công an xã…) đẩy mạnh tuần tra kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi vi phạm trật tự an toàn giao thông, đặc biệt chú trọng xử lý vi phạm quy định về nồng độ cồn; vi phạm tốc độ khi lái xe; không đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe gắn máy, xe đạp điện.

    UBND cấp huyện, cấp xã tăng cường tuyên truyền thông qua hệ thống đài truyền thanh huyện, xã về nguy cơ tai nạn giao thông khi lái xe trong tình trạng đã uống rượu, bia; nguy cơ chấn thương sọ não và tử vong trong trường hợp bị tai nạn giao thông khi đi mô tô, xe máy mà không đội mũ bảo hiểm đúng quy định; yêu cầu nhân dân thực hiện “Đã uống rượu bia-không lái xe”, “Đội mũ bảo hiểm khi đi mô tô, xe máy”; “Không cầm và nghe điện thoại di động khi lái xe”./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hành Động Vì Một Thế Hệ Không Nạn Đói
  • (Thvl) Nạn Đói Ở Vùng Sừng Châu Phi: Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Thực Trạng Và Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Học Sinh Thcs Hiện Nay
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Thói Quen Đạo Đức Cho Học Sinh Lớp 2
  • Sáng Kiến Giáo Dục Đạo Đức Đạt Giải Huyện Năm Học: 2021
  • Tăng Cường Các Biện Pháp “hạn Chế Rác Thải Nhựa” Trong Học Đường, Dưới Mái Trường, Đại Học Lạc Hồng

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Các Biện Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Trong Sản Xuất Và Sinh Hoạt
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Trên Thế Giới
  • Xử Lý Rác Thải Nhựa Đúng Cách
  • Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Ra Môi Trường
  • Ẩn Dụ Là Gì? Hoán Dụ Là Gì? Cách Phân Biệt Hai Biện Pháp Này
  • Rác thải nhựa đang là vấn đề nhức nhối mang tính toàn cầu. Giảm thiểu rác thải nhựa trở thành trách nhiệm chung của các quốc gia và của mỗi người dân. Nhận thức sâu sắc những nguy cơ, tác hại của rác thải nhựa đối với sức khỏe của con người và môi trường cũng như chung tay , góp sức thực hiện Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2021, trong Ngày hội sinh viên và Khai giảng năm học 2021-2020, Trường Đại học Lạc Hồng đã phát động phong trào “Hạn chế rác thải nhựa” nhằm kêu gọi toàn thể cán bộ, giảng viên và sinh viên của T rường có những hành động thiết thực, ý nghĩa, góp phần xây dựng lối sống xanh.

    Theo đó, nội dung phát động tập trung vào việc tuyên truyền về những tác hại của rác thải nhựa, túi nilon; gợi ý các thói quen nhằm hạn chế sử dụng túi nilon, các sản phẩm nhựa khó phân hủy, sử dụng một lần, như: Mang theo túi đựng khi mua sắm; Hạn chế mang rác thải nhựa vào trường học bằng cách mang theo bình đựng nước dùng lại khi đi làm, đi học; Dùng ly cá nhân thay ly nhựa; Dùng hộp chứa dùng lại để đựng thức ăn; Không dùng ống hút, dao thìa nĩa dùng một lần; Sống chậm lại, ăn bữa ăn gia đình để hạn chế đồ ăn nhanh có sử dụng nhiều hộp/túi dùng một lần; Các hội thảo, hội nghị, sự kiện sẽ chuyển dần sang dùng ly thủy tinh, bình lọc lớn thay cho nước đóng chai; v.v…

    Mặt khác, để phong trào đi vào chiều sâu, mang lại hiệu quả thực tế, lâu dài và có sức lan tỏa, trường Đại học Lạc Hồng cũng đưa ra nhiều giải pháp thực hiện như: Tuyên truyền thường xuyên, liên tục trên các phương tiện thông tin như Website của Trường, mạng xã hội,… ; Tăng cường, mạnh dạn lồng ghép nội dung “xanh” (3T) vào chương trình giảng dạy; Hạn chế kinh phí cho các khoản chi trong các đơn vị của Trường để mua những sản phẩm nhựa dùng một lần; Tuyên dương kịp thời những tấm gương sinh viên, giảng viên có nhiều đóng góp, sáng kiến và nêu gương trong phong trào hạn chế rác thải nhựa.

    Theo quan sát của chúng tôi, ngay sau cuộc phát động của Ban giám hiệu trường Đại học Lạc Hồng, nhiều sinh viên đã có sự điều chỉnh hành vi nhằm hạn chế rác thải nhựa như từ chối nhận túi nion, ống hút nhựa khi mua nước, mua đồ ăn. Bạn Huỳnh Hoài Minh – sinh viên năm thứ 2, khoa Công nghệ thông tin giải thích: Việc em từ chối nhận túi nilon và ống hút đồng nghĩa với việc sẽ giảm bớt được một cái túi nilon và một ống hút đi vào môi trường. Nếu tất cả các bạn cũng thực hiện điều này thì đã hạn chế được một lượng lớn rác thải nhựa.

    Khi được hỏi bản thân sẽ làm gì khi biết rõ những lợi ích từ việc hạn chế sử dụng chất thải nhựa, bạn Kim Phụng, sinh viên khoa Ngôn Ngữ Anh – Đại học Lạc Hồng cam kết: Em sẽ vận động tất cả những người trong gia đình em cùng nhau thực hiện giảm thiểu việc dùng túi nilon và tái sử dụng những chai, lọ bằng nhựa nào còn dùng được thay vì mua mới. Còn Nguyễn Quang Nhựt Quỳnh – sinh viên khoa Công nghệ thông tin bộc bạch: Trước đây, em cứ nghĩ hạn chế rác thải nhựa là không dùng ly nhựa, nhưng qua buổi phát động hôm nay, em thấy mình có thêm một nhiệm vụ nữa là lan tỏa những thông tin tốt đẹp này bằng cách chia sẻ nó với bạn bè, người thân trong gia đình em biết, đồng thời sẽ phân tích để mọi người thấy được ý nghĩa lớn lao của việc hạn chế sử dụng rác thải nhựa – một hành động tưởng chừng rất nhỏ nhưng đã góp phần bảo vệ môi trường.

    TS. Nguyễn Vũ Quỳnh – Phó Hiệu trưởng trường Đại học Lạc Hồng cho biết: Chúng tôi tin rằng qua phong trào “hạn chế rác thải nhựa”, các em sinh viên sẽ thay đổi hành vi, thói quen sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần, bao gồm cả túi nilon khó phân hủy,… ngay hôm nay để góp phần xây dựng học đường xanh – sạch – đẹp. Bản thân mỗi thầy, cô giáo sẽ là tấm gương tốt trong phong trào này. Chúng tôi cũng tin rằng, những hành động có ý nghĩa đó không chỉ bó hẹp trong trường Đại học Lạc Hồng, mà sẽ lan tỏa tới từng gia đình của tất cả giảng viên và sinh viên Nhà trường và hơn thế, sẽ lan tỏa tới toàn xã hội.

    Được biết, ngoài phong trào “hạn chế rác thải nhựa” được phát động trong Ngày hội sinh viên Lạc Hồng, thì trước đó, thông qua vai trò của Đoàn thanh niên và Hội sinh viên trường Đại học Lạc Hồng, nhiều đoàn sinh viên của Trường đã tham gia Ngày hội Môi trường do Tỉnh Đoàn phối hợp với Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Nai tổ chức. Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên Trường cũng thường xuyên tổ chức các chương trình dọn vệ sinh trong chiến dịch tình nguyện Mùa hè xanh hàng năm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Giải Pháp Hạn Chế Rác Thải Nhựa Ra Môi Trường
  • Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Tại Khách Sạn
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường
  • Những Biện Pháp Hạn Chế Ô Nhiễm Môi Trường Hiệu Quả
  • Bài 6: Các Nước Châu Phi
  • Nghị Quyết Số 63 Ngày 27/11/2013 Của Quốc Hội Về Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Trong Ngành Ngân Hàng
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Tiểu Học Trên Địa Bàn Thành Phố Hải Dương
  • Phát Triển Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Thông Qua Việc Đổi Mới Hoạt Động Tổ Chức Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực.
  • Xây Dựng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Tiểu Học
  • Xây Dựng Văn Hóa Đọc Cho Học Sinh Trường Tiểu Học
  • Thứ ba – 31/12/2013 14:55

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

    Căn cứ Luật hoạt động giám sát của Quốc hội số 05/2003/QH11;

    Căn cứ Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm2013;

    Trên cơ sở xem xét các Báo cáo số 399/BC-CP ngày 13 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về công tác phòng ngừa, chống vi phạm pháp luật và tội phạm năm 2013, Báo cáo số 414/BC-CP ngày 17 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về công tác thi hành án, Báo cáo số 126/BC-VKSTC ngày 5 tháng 10 năm 2013 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao về công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2013, Báo cáo số 60/BC-TA ngày 14 tháng 10 năm 2013 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các Tòa án năm 2013, Báo cáo số 391/BC-CP ngày 10 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2013, Báo cáo thẩm tra số 1453/BC-UBTP13 ngày 15 tháng 10 năm 2013của Ủy ban tư pháp của Quốc hội và ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, Báo cáo thẩm tra số 1553/BC-UBTP13 ngày 21 tháng 10 năm 2013;

    Năm 2013, Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân đã nỗ lực triển khai nhiều biện pháp thực hiện tốt Nghị quyết số 37/2012/QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của Quốc hội về công tác phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, công tác của Viện kiểm sát nhân dân, của Tòa án nhân dân và công tác thi hành án năm 2013 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 37); bước đầu đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Tuy nhiên, hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện và xử lý tội phạm còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; tình hình tội phạm, tham nhũng cònnghiêm trọng và diễn biến phức tạp; một số tội phạm có chiều hướng gia tăng gây bức xúc trong dư luận. Năm 2014 và những năm tiếp theo, dự báo tình hình thế giới, khu vực có những biến động phức tạp khó lường, kinh tế – xã hội của đất nước còn gặp nhiều khó khăn, tiềm ẩn các yếu tố tiêu cực tác động đến sự gia tăng của tội phạm. Tình hình đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật và tội phạm, tham nhũng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, phục vụ phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân.

    Quốc hội ghi nhận các giải pháp mà Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao đề ra và yêu cầu trong năm 2014 và những năm tiếp theo tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 37; đồng thời tăng cường các biện pháp nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, tham nhũng và đạt được những mục tiêu cụ thể sau đây:

    1. Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội và áp dụng các biện pháp phòng ngừa tội phạm; chỉ đạo các lực lượng phối hợp chặt chẽ trong tấn công trấn áp, truy quét các loại tội phạm; tập trung triệt phá các băng nhóm tội phạm nguy hiểm, xóa các tụ điểm phức tạp về trật tự, an toàn xã hội; làm giảm các loại tội phạm đang gia tăng như giết người do mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, ma túy, chiếm đoạt tài sản, sử dụng công nghệ cao, trốn thuế, cho vay lãi nặng. Đổi mới công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; chú trọng giáo dục đạo đức trong nhà trường, gia đình, xã hội; giáo dục đạo đức công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nhân rộng các điển hình tiên tiến trong phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tại cơ sở, địa bàn dân cư, nhằm huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong đấu tranh phòng, chống tội phạm; tạo sự chuyển biến rõ rệt trong bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

    Người đứng đầu chính quyền và cơ quan Công an các địa phương phải chịu trách nhiệm về tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn; không để xảy ra tội phạm lộng hành, các trường hợp bao che tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”; không để hình thành các tụ điểmcờ bạc, ma túy, mại dâm gây bức xúc trong dư luận. Công an các cấp tăng cường các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ kết hợp chặt chẽ với phòng ngừa xã hội; triệt phá các tụ điểm phức tạp về hình sự, ma túy; giảm tỷ lệ tái phạm tội, giảm số đối tượng bị truy nã còn ở ngoài xã hội.

    Cơ quan điều tra, Điều tra viên phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều tra; nâng cao chất lượng công tác điều tra, thu thập đầy đủ cả chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội; tạo điều kiện cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu; nghiêm cấm bức cung, dùng nhục hình; tăng cường các biện pháp chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; đẩy nhanh tiến độ điều tra các loại án; bảo đảm việc lập hồ sơ vụ án hình sự phải khách quan, toàn diện theo đúng quy định của pháp luật; hằng năm, tăng tỷ lệ phát hiện, khám phá các loại tội phạm.

    Chính phủ tăng cường chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương thực hiện tốt Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng, lãng phí giai đoạn 2012-2016 và Chiến lược Quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2021; tăng cường thanh tra, kiểm tra việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước trong cơ quan, đơn vị, tổ chức và trong lĩnh vực quản lý; kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các vi phạm kinh tế, tham nhũng, thu hồi tiền và tài sản bị chiếm đoạt. Người đứng đầu, người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm khi để xảy ra tham nhũng, không kịp thời phát hiện và xử lý hành vi tham nhũng trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; chịu trách nhiệm về những trường hợp xử lý hành chính, kỷ luật không đúng quy định của pháp luật để lọt tội phạm, bao che cán bộ do mình quản lý có hành vi tham nhũng.

    Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán nhà nước tập trung thanh tra, kiểm toán các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các ngành, lĩnh vực quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước dễ nảy sinh tham nhũng, tiêu cực. Qua thanh tra, kiểm toán phải xử lý nghiêm các vi phạm, tăng cường thu hồi tài sản; kịp thời kiến nghị khởi tố và chủ động chuyển giao vụ việc có dấu hiệu tội phạm, cung cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét khởi tố hình sự. Theo dõi chặt chẽ, thường xuyên đôn đốc việc thực hiện kết luận, quyết định và kiến nghị xử lý sau thanh tra, kiểm toán; phát hiện những sơ hở, bất cập của cơ chế, chính sách pháp luật để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét, hoàn thiện, phòng ngừa tham nhũng. Cơ quan Thanh tra, Kiểm toán phải chịu trách nhiệm về kết luận vụ việc được thanh tra, kiểm toán, xử lý hoặc kiến nghị xử lý hành chính, kỷ luật các trường hợp rõ ràng có dấu hiệu tội phạm, sau đó Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,Tòa án phát hiện bỏ lọt tội phạm và khởi tố, xử lý hình sự.

    Cơ quan điều tra chủ động phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, cơ quan Thanh tra và Kiểm toán, tập trung khám phá, bảo đảm thời hạn điều tra theo luật định các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ và tham nhũng; hằng năm, phấn đấu tăng tỷ lệ phát hiện, khám phá loại án này và các vụ án tham nhũng trong hoạt động tư pháp; kịp thời xác minh, truy tìm tài sản bị chiếm đoạt; nâng cao tỷ lệ thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt.

    Hằng năm, Chính phủ báo cáo kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về phòng, chống tội phạm, Chương trình hành động phòng, chống tham nhũng; nêu rõ các bộ, ngành, địa phương làm tốt và chưa tốt. Trong năm 2014, Chính phủ ban hành hướng dẫn chi tiết về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; xác định trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng; ban hành, sửa đổi, bổ sung quy chuẩn chuyên môn cho hoạt động giám định tư pháp trong lĩnh vực pháp y, pháp y tâm thần, tài chính, kế toán, ngân hàng, xây dựng để phục vụ hiệu quả hoạt động tố tụng; hướng dẫn việc bảo vệ, biểu dương, khen thưởng người tố giác tội phạm, việc xử lý các hành vi trả thù người tố giác tội phạm, tố cáo tham nhũng.

    Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước tăng cường kỷ cương, kỷ luật công vụ; thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ, công chức; kịp thời thanh lọc, xử lý nghiêm minh người mắc sai phạm, tiêu cực; nâng cao chất lượng đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thanh tra viên, Kiểm toán viên;từng bước kiện toàn các đơn vị chuyên trách trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống các tội phạm về kinh tế, chức vụ, tham nhũng.

    2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt quyền công tố, kiểm sát chặt chẽ các hoạt động tư pháp trong suốt quá trình tố tụng; chủ động, tích cực đề ra yêu cầu điều tra, yêu cầu khởi tố vụ án, khởi tố bị can, chống lạm dụng việc bắt khẩn cấp, chống bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan giảm đáng kể tỷ lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, khẩn trương xử lý dứt điểm các vụ án lớn về kinh tế, chức vụ, tham nhũng đã có kết luận điều tra đề nghị truy tố; khắc phục các trường hợp lạm dụng khoản 1 Điều 25 của Bộ luật hình sự để đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự không đúng quy định của pháp luật; nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa, chủ động tham gia xét hỏi, luận tội có căn cứ thuyết phục, đối đáp đầy đủ ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác; việc đề nghị Tòa án áp dụng hình phạt nhẹ, cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo không giam giữ phải đúng quy định của pháp luật; kiên quyết kháng nghị yêu cầu Tòa án xét xử nghiêm minh các vụ án về kinh tế, chức vụ, tham nhũng.

    Trong năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan ban hành hướng dẫn phối hợp hoạt động giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Thanh tra, Kiểm toán trong xử lý các vụ việc có dấu hiệu tội phạm qua thanh tra, kiểm toán; xây dựng Đề án về “Cơ chế, chính sách để đấu tranh, xử lý có hiệu quả các vụ án tham nhũng, đặc biệt là các tội tham ô, hối lộ”.Hằng năm, Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo tiến độ giải quyết các vụ án kinh tế, chức vụ, tham nhũng lớn; đánh giá đầy đủ tình hình đình chỉ miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 25 của Bộ luật hình sự.

    3. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn Tòa án các cấp áp dụng thống nhất pháp luật, xét xử nghiêm minh các vụ án hình sự; áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với người chủ mưu, cầm đầu, người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để chiếm đoạt hoặc làm thất thoát số lượng lớn tài sản nhà nước. Tòa án các cấp phải tạo điều kiện cho bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án, không kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; triệt để khắc phục tình trạng lạm dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điều 46, 47 và 60 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt nhẹ, cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo không giam giữ không đúng quy định của pháp luật; hạn chế đến mức thấp nhất tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan. Năm 2014, Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng”,”số lượng lớn, rất lớn, đặc biệt lớn”, “đất có diện tích lớn, rất lớn, đặc biệt lớn” trong các tội phạm về kinh tế, chức vụ, tham nhũng của Bộ luật hình sự; hướng dẫn áp dụng các điều 139, 140 và 163 của Bộ luật hình sự về “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và “Tội cho vay lãi nặng”.

    Hằng năm, Tòa án nhân dân tối cao báo cáo, đánh giá đầy đủ tình hình quyết định hình phạt, áp dụng án treo, cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo phạm tội về kinh tế, chức vụ, tham nhũng ở Tòa án các cấp.

    4. Ủy ban tư pháp của Quốc hội tăng cường giám sát việc phát hiện và xử lý tội phạm, tham nhũng; kịp thời kiến nghị với các cơ quan hữu quan khắc phục hạn chế, thiếu sót. Hằng năm, giám sát một số chuyên đề, một số vụ án phức tạp mà dư luận quan tâm; giám sát, đôn đốc các cơ quan hữu quan ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật nêu tại Nghị quyết này và báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội kết quả giám sát.

    Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong lĩnh vực phụ trách của mình có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ủy ban tư pháp trong giám sát việc phát hiện, xử lý tội phạm, tham nhũng.

    Chính phủ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 37 và Nghị quyết này; hằng năm báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm.

    Ủy ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát thực hiện Nghị quyết này.

    Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2013.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Niềm Tin Lớn Vào Quyết Tâm Và Các Biện Pháp Đấu Tranh Phòng, Chống Tội Phạm Của Lực Lượng Công An
  • Nghị Quyết 63/2013/qh13 Tăng Cường Biện Pháp Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm Do Quốc Hội Ban Hành
  • Tp. Hcm: Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Chống Ma Túy, Mại Dâm
  • Tuyên Truyền Phòng, Chống Ma Túy, Tác Hại Của Tệ Nạn Ma Túy Và Các Biện Pháp Phòng Chống Đuối Nước Cho Người Dân
  • Tuyên Truyền Là Biện Pháp Hiệu Quả Trong Phòng, Chống Ma Túy
  • Tin tức online tv