Kháng Kháng Sinh Là Gì? Giải Pháp Kháng Kháng Sinh Hiện Nay

--- Bài mới hơn ---

  • Báo Động Tình Trạng Kháng Kháng Sinh Tại Việt Nam Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Mở Rộng 2022: ‘vua’ Thắng ‘hoàng Tử’ Sân Đất Nện
  • Giải Pháp Mở Rộng 2022: Federer Chờ Quá Lâu Để ‘giải Bài Toán Đố’ Nadal
  • Nadal ‘chật Vật’ Vượt Qua Đàn Em Medvedev, Đăng Quang Ngôi Vô Địch Mỹ Mở Rộng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Nguồn Nhân Lực Hiện Nay
  • Thuốc kháng sinh là vũ khí lợi hại do con người tạo nên được sử dụng để chống lại các bệnh vi khuẩn gây ra. Nhưng trên thực tế hiện nay có xảy ra tình trạng vi khuẩn có khả năng đề kháng thuốc kháng sinh vốn được sử dụng để tiêu diệt chúng. Vấn đề này đang làm nhức nhối ngành y tế và là mối đe dọa lớn nhất đối với cả xã hội nói chung.

    Đề kháng kháng sinh không có nghĩa là cơ thể người bệnh tự chống lại tác dụng của kháng sinh. Hiểu đúng, đây là hiện tượng kháng kháng sinh do mầm bệnh hay vi khuẩn có khả năng chống lại thuốc kháng sinh khiến cho thuốc kháng sinh không thể phát huy được vai trò của nó nhằm tiêu diệt và ngăn chặn sự phát triển của chúng.

    Vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh khiến cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn trở nên phức tạp hơn, thậm chí không thể điều trị được. Bởi tình trạng nhiễm khuẩn do vi khuẩn bắt buộc các bác sĩ phải sử dụng thuốc kháng sinh thay thế. Loại thuốc này có độc tính cao hơn khiến cho thời gian nằm viện ở người bệnh kéo dài và gây ra tốn kém chi phí y tế.

    Tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn có thể xảy ra với bất kể ai, ngay cả những bác sĩ… cũng phải dựa vào khả năng chống lại vi khuẩn gây bệnh của kháng sinh.

    Một số quốc gia đang cố gắng phát triển kháng sinh mới nhưng với tình trạng kháng kháng sinh hiện nay lại đang ngày càng phát triển và phức tạp hơn.

    Đề kháng kháng sinh có thể gây ảnh hưởng đến bất kỳ ai, không chỉ riêng ngành y tế mà còn ảnh hưởng đến ngành thú y, nông nghiệp. Tình trạng này trong vài thập kỷ gần đây đang là nguy cơ đe dọa toàn cầu, nhất là tại các quốc gia đang phát triển với nguy cơ bệnh truyền nhiễm chiếm tỷ lệ khá cao trong cơ cấu bệnh tật như: nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, đường hô hấp, nhiễm khuẩn bệnh viện, bệnh lây qua đường tình dục…. Việc kiểm soát tình trạng bệnh này đã và đang trở nên khó khăn hơn , một phần do tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn. Một số thống kê tại Mỹ cho biết có hơn 2 triệu người mắc bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn kháng thuốc mỗi năm và trong đó có tối thiểu là 23.000 người bệnh tử vong.

    Những vi khuẩn kháng sinh gây ra mối đe dọa an ninh sức khỏe toàn cầu đang bộ y tế báo cáo trong thống kê bao gồm: các chủng Gram âm đường ruột kháng carbapenem, tụ cầu vàng kháng methicillin, cầu khuẩn ruột kháng vancomycin, lao kháng thuốc, phế cầu, Clostridioides difficle , lậu cầu kháng thuốc… Trong đó kháng thuốc kháng sinh là một mối hiểm họa to lớn khi mà vi khuẩn gây bệnh giờ đây không chịu khuất phục trước vũ khí của con người. Thuốc chỉ có chức năng kìm hãm hoặc tiêu diệt được các vi khuẩn có lợi, trong đó vi khuẩn kháng thuốc sẽ được nhân lên nhanh chóng, chúng lây lan và truyền bệnh nhiễm khuẩn ra bên ngoài.

    Vi khuẩn kháng thuốc kháng sinh như thế nào?

    Thứ nhất: vi khuẩn sẽ ngăn cản kháng sinh xâm nhập vào bên trong chúng bằng cách biến đổi cấu trúc tạo ra lớp màng để bảo vệ của chúng. Chẳng hạn như loại vi khuẩn Gram âm có lớp màng ngoài (outer membrane) để ngăn cản kháng sinh thấm vào bên trong.

    Thứ hai: vi khuẩn sẽ hình thành bơm đẩy để bơm kháng sinh ra ngoài. Chẳng hạn như trực khuẩn mủ xanh, chúng có thể tạo ra loại bơm đẩy nhóm thuốc kháng sinh quinolon, beta lactam dẫn đến kháng sinh bị vô hiệu hóa. Do vậy những người bị bệnh kháng kháng sinh trường hợp này là do những vi khuẩn kia gây nên dù được điều trị thuốc nhưng không khỏi.

    Thứ ba: các loại vi khuẩn đã sản xuất ra các men (enzymes) để phá hủy kháng sinh như các men penicillinase, carbapenemase, beta lactamase phổ rộng… Hình thức này rất phổ biến để vi khuẩn tạo ra và chống lại đa số các nhóm kháng sinh. Chẳng hạn như vi khuẩn Klebsiella pneumoniae sinh ra men carbapenemase KPC để phá hủy nhóm carbapenem; vi khuẩn Escherichia coli sinh beta lactamase phổ rộng ESBL kháng cephalosporin…

    Thứ tư: vi khuẩn làm biến đổi cấu trúc các bộ phận của vi khuẩn khiến cho kháng sinh không nhận ra được tác dụng. Chẳng hạn như chúng làm thay đổi protein gắn với penicillin PBP, đây là cách mà vi khuẩn chống lại các kháng sinh nhóm beta lactam. Loai đột biến gen mã hóa này cho men DNA-gyrase được biết là cách để kháng lại thuốc kháng sinh quinolon.

    Một số trường hợp vi khuẩn không chỉ được sử dụng một trong các cách trên mà chúng còn kết hợp đồng thời với nhiều cách nhằm kháng lại nhiều thuốc kháng sinh khác nhau. Đây được gọi là chủng vi khuẩn đa kháng kháng sinh. Chẳng hạn như những loại vi khuẩn thường gây nhiễm khuẩn bệnh viện như trực khuẩn mủ xanh, …Chúng có thể đề kháng lại đa số các nhóm thuốc kháng sinh gây Acinetobacter baumannii bệnh kháng kháng sinh.

      Hạn chế tình trạng kháng thuốc kháng sinh

    Theo dược sĩ các Trường Cao Đẳng Y Dược HCM cho biết, nguyên nhân kháng kháng sinh gia tăng chủ yếu do người bệnh lạm dụng thuốc kháng sinh quá mức. Khi sử dụng thuốc kháng sinh sai cách và các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn không được thực hiện tốt.

    Do vậy để vấn đề kháng kháng sinh không còn trở nên nghiêm trọng hơn, người bệnh cần phải thực hiện tốt các giải pháp kháng kháng sinh sau:

    • Kháng sinh chỉ nên sử dụng trường hợp nhiễm vi khuẩn, không có tác dụng điều trị các bệnh do virus như cúm, cảm lạnh thông thường.
    • Chỉ nên sử dụng thuốc kháng sinh khi có bác sĩ kê đơn, không được tự ý sử dụng
    • Kể cả khi triệu chứng bệnh thuyên giảm, thì người bệnh cũng không được ngưng sử dụng thuốc cho đến khi hết thời gian điều trị mà bác sĩ yêu cầu.
    • Không nên tự ý mua thuốc kháng sinh hoặc sử dụng theo yêu cầu của bác sĩ kê đơn thuốc kháng sinh mà không có chỉ định của bác sĩ.
    • Mỗi loại kháng sinh chỉ có tác dụng điều trị một số loại vi khuẩn nhất định, người bệnh cần phải sử dụng thuốc kháng sinh phù hợp với chủng vi khuẩn gây bệnh.
    • Không nên chia sẻ thuốc kháng sinh với người thân hoặc bạn bè khi chưa được bác sĩ đồng ý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Hạn Chế Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh
  • Nâng Cao Sức Đề Kháng
  • Giải Pháp Mới Để Tìm Ra Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh
  • Khắc Phục Tình Trạng Sống Ảo Của Giới Trẻ Theo Tinh Thần Phật Giáo
  • Giới Trẻ Sống Ảo Và Cách Khắc Phục
  • Kháng Thể Là Gì? Cấu Trúc Và Vai Trò Của Kháng Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Xem Xét Một Cách Hệ Thống Về Sự Dung Hợp Các Tín Hiệu Của Protein Kinase A
  • Thực Phẩm Bổ Sung Protein Pure Whey Protein Của Mỹ
  • Thực Phẩm Chức Năng Protein
  • Whey Protein: Tất Tần Tật Những Gì Người Mới Bắt Đầu Tìm Hiểu Cần Biết
  • Các Chức Năng Của Tiền Tệ? Vai Trò Của Tiền Tệ Là Gì? – Luận Văn Kế Toán
  • 06/09/2021 10:40;

      

    chúng tôi (Theo kinhtedothi.vn)

    (QNO) – Nhiễm trùng do răng, hay tình trạng răng bị áp xe, thường xảy ra do sâu răng và vệ sinh răng miệng kém. Tuy nhiên, nhiễm trùng cũng có thể do việc điều trị nha khoa trước đó không thành công hoặc do chấn thương ở răng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng
  • Huyết Tương Là Gì? Thành Phần, Chức Năng, Vai Trò Chính
  • Protein Là Gì? Tác Dụng Của Protein Và Các Thực Phẩm Giàu Protein Cho Cơ Thể
  • Protein Màng Cấu Trúc – Chức Năng
  • So Sánh Cấu Tạo Và Chức Năng Của 23…
  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng

    --- Bài mới hơn ---

  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương
  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kinh Tế Của Sản Xuất Kinh Doanh
  • VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG

    CÁC THÀNH VIÊN, BẰNG HIỆP ĐỊNH NÀY, THOẢ THUẬN NHƯ SAU:

    1.1 Theo Hiệp định này, trợ cấp được coi là tồn tại nếu:

    (a)(1) có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên ( theo Hiệp định này sau đây gọi chung là “chính phủ”) khi:

    (i) chính phủ thực tế có chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay);

    (iii) chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng ;

    (a) (2) có bất kỳ một hình thức hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung ;

    (b) một lợi ích được cấp bởi điều đó.

    1.2 Trợ cấp theo định nghĩa tại khoản khoản 1 phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Phần II hoặc các quy định tại Phần III hoặc Phần V chỉ khi đó là một trợ cấp riêng theo các quy định tại Điều 2.

    2.1 Để xác định liệu một trợ cấp theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 1 có được áp dụng riêng cho một doanh nghiệp hay một nhóm các doanh nghiệp hay ngành sản xuất ( theo Hiệp định này gọi là “các doanh nghiệp nhất định”) trong phạm vi quyền hạn của cơ quan có thẩm quyềncấp trợ cấp hay không, các nguyên tắc sau sẽ được áp dụng:

    (a) Khi cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp hay luật mà cơ quan đó thực hiện hạn chế rõ ràng diện các doanh nghiệp nhất định được hưởng trợ cấp , thì các trợ cấp đó sẽ mang tính riêng biệt.

    2. 2 Trợ cấp áp dụng hạn chế đối với các doanh nghiệp nhất định hoạt động tại một vùng địa lý xác định thuộc quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp phải được coi là mang tính riêng biệt. Việc chính quyền ở tất cả các cấp quy định hay thay đổi thuế suất áp dụng chung không được coi là trợ cấp riêng biệt theo Hiệp định này.

    2. 3 Bất kỳ trợ cấp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 3 sẽ được coi là trợ cấp riêng.

    2. 4 Việc xác định tính riêng biệt của trợ cấp theo các quy định của Điều này phải được chứng minh rõ ràng trên cơ sở bằng chứng thực tế.

    3.1 Trừ khi có quy định khác tại Hiệp định nông nghiệp, các khoản trợ cấp sau đây theo định nghĩa tại Điều 1 sẽ bị cấm:

    (b) quy định khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại.

    3.2 Mỗi Thành viên sẽ không cấp hay duy trì những khoản trợ cấp nêu tại khoản 1.

    4. 1 Mỗi khi một Thành viên có lý do để tin rằng một khoản trợ cấp bị cấm đang được một Thành viên khác áp dụng hay duy trì, thì Thành viên đó có thể yêu cầu được tham vấn với Thành viên kia.

    4. 2 Yêu cầu tham vấn nêu tại khoản 1 phải kèm theo một bản trình bày chứng cứ hiện có về sự tồn tại và tính chất của trợ cấp nói trên.

    4. 3 Khi có yêu cầu tham vấn theo quy định tại khoản 1, Thành viên bị coi là đang áp dụng hay duy trì trợ cấp bị cấm sẽ tiến hành tham vấn trong thời gian sớm nhất có thể được. Mục tiêu tham vấn là nhằm làm rõ sự thật tình và đi đến một thoả thuận chung giữa các bên.

    4. 6 Ban hội thẩm sẽ nộp báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp. Báo cáo sẽ được gửi cho các Thành viên trong vòng 90 ngày, kể từ ngày ban hội thẩm được thành lập và các điều khoản tham chiếu được chấp nhận

    4. 7 Nếu biện pháp nêu ra được xác định là trợ cấp bị cấm, ban hội thẩm sẽ khuyến nghị Thành viên đang duy trì trợ cấp bỏ ngay trợ cấp đó. Ban hội thẩm sẽ nêu rõ trong khuyến nghị thời hạn để bỏ biện pháp đó.

    4. 8 Trong vòng 30 ngày kể từ khi ban hội thẩm gửi báo cáo cho tất cả các Thành viên, DSB sẽ thông qua báo cáo, trừ khi một bên tranh chấp thông báo chính thức với DSB về quyết định kháng cáo của mình hoặc DSB nhất trí quyết định không thông qua bản báo cáo đó.

    4. 11. Trong trường hợp một bên tranh chấp yêu cầu trọng tài theo khoản 6 Điều 22 của Thoả thuận về giải quyết tranh chấp (DSU), thì trọng tài viên sẽ xác định xem biện pháp đối kháng có thích hợp hay không.

    4. 12. Để giải quyết các tranh chấp theo Điều này, ngoại trừ những thời hạn được quy định cụ thể tại Điều này, thời hạn quy định để giải quyết các tranh chấp đó sẽ chỉ bằng một nửa thời hạn quy định trong DSU.

    Không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng bất kỳ trợ cấp nào nêu tại khoản 1 và 2 của Điều 1 để gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, cụ thể như:

    (b) làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994, đặc biệt là những quyền lợi có được từ những nhân nhượng đã cam kết theo ;

    Điều này không áp dụng với những trợ cấp được áp dụng với nông sản quy định tại .

    6. 5 Theo điểm 3(c), hạ giá bao gồm những trường hợp, mà trong đó việc hạ giá này được chứng tỏ qua so sánh giá hàng được trợ cấp với giá của sản phẩm tương tự không được trợ cấp cung cấp vào cùng một thị trường. So sánh phải được tiến hành với cùng mức giao thương và với thời gian so sánh được, có tính toán đúng đến bất kỳ nhân tố nào khác tác động đến việc so sánh giữa các loại giá. Tuy nhiên, nếu so sánh trực tiếp không thể thực hiện được, có thể chứng minh có sự hạ giá trên cơ sở đơn giá xuất khẩu.

    6. 8 Khi không có những tình huống nêu tại khoản 7, tổn hại nghiêm trọng có thể được xác định trên cơ sở các thông tin mà ban hội thẩm được cung cấp hay có được, kể cả những thông tin được cung cấp theo các quy định của Phụ lục V.

    6. 9 Điều này không áp dụng đối với trợ cấp được duy trì với nông phẩm theo quy định tại .

    7. 1 i Trừ những trường hợp quy định tại , bất kỳ khi nào một Thành viên có lý do để tin rằng một khoản trợ cấp nêu tại Điều 1 được một Thành viên khác áp dụng hay duy trì, dẫn đến thiệt hại, làm vô hiệu hoá, suy giảm hoặc gây tổn hại nghiêm trọng cho một ngành sản xuất của mình, Thành viên này có thể yêu cầu tham vấn với Thành viên kia.

    7. 3 Khi có yêu cầu tham vấn theo khoản 1, Thành viên được coi là đang áp dụng hay duy trì trợ cấp sẽ tiến hành tham vấn trong thời gian sớm nhất có thể . Mục đích của tham vấn là nhằm làm rõ thực tế tình hình và đạt được một giải pháp giữa các bên.

    7. 8 Khi báo cáo của Ban hội thẩm hay báo cáo của Cơ quan phúc thẩm được thông qua xác định có tồn tại bất kỳ trợ cấp nào dẫn tới những tác động có hại tới quyền lợi của một Thành viên khác theo nội dung của Điều 5, thì Thành viên cấp hay duy trì trợ cấp sẽ có những biện pháp thích hợp để loại bỏ tác động có hại đó hoặc loại bỏ trợ cấp.

    7. 9 Trong trường hợp một Thành viên không thực hiện những biện pháp thích hợp để loại bỏ tác động nghịch đó hoặc loại bỏ trợ cấp trong vòng 6 tháng kể từ ngày DSB thông qua báo cáo hội thẩm hay báo cáo phúc thẩm, và khi không có thoả thuận về đền bù, thì DSB cho phép bên khiếu nại có biện pháp đối kháng, tương xứng với mức độ và tính chất của tác động có hại đã xác định được, trừ khi nhất trí quyết định từ chối yêu cầu đó.

    7. 10 Trong trường hợp một bên tranh chấp yêu cầu trọng tài theo quy định tại khoản 6 Điều 22 của DSU, trọng tài sẽ xác định xem biện pháp đối kháng có tương xứng với mức độ và tính chất của tác động nghịch đã được xác định là có tồn tại không.

    (a) hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu do các hãng hay các cơ sở đào tạo cao học hoặc cơ sở nghiên cứu thông qua ký hợp đồng với các hãng thực hiện. Nếu:

    sự hỗ trợ không chiếm quá 75% chi phí cho nghiên cứu công nghiệp hoặc 50% chi phí cho phát triển sản phẩm tiền cạnh tranh, .

    và với điều kiện là sự trợ giúp như vậy được hạn chế hoàn toàn trong:

    (c) hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện cócho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra, làm cho các hãng phải chịu khó khăn hoặc gánh nặng tài chính lớn hơn, với điều kiện sự hỗ trợ đó:

    8. 4 Khi một Thành viên có yêu cầu, Ban Thư ký sẽ xem xét lại thông báo được thực hiện theo khoản 3, và khi cần thiết có thể yêu cầu Thành viên đang áp dụng trợ cấp cung cấp thêm thông tin về các chương trình đã thông báo đang được rà soát. Ban Thư ký sẽ báo cáo kết luận của mình cho Ủy ban. Khi có yêu cầu, Ủy ban sẽ nhanh chóng rà soát kết luận của Ban Thư ký (hoặc nếu trước đó không có yêu cầu Ban Thư ký rà soát, thì xem xét chính bản thông báo), nhằm xác định xem các điều kiện và tiêu chí nêu tại khoản 2 có được đáp ứng không. Thủ tục quy định tại khoản này phải hoàn thành chậm nhất vào phiên họp thường lệ đầu tiên của Ủy ban tiếp theo ngày tiếp nhận thông báo về chương trình trợ cấp, với điều kiện thông báo được tiếp nhận không dưới hai tháng trước phiên họp thường kỳ của Ủy ban. Khi có yêu cầu, thủ tục rà soát nêu tại khoản này cũng được áp dụng đối với những điều chỉnh đáng kể của chương trình đã được thông báo cập nhật hàng năm nêu tại khoản 3.

    8. 5 Khi một Thành viên có yêu cầu, sự xác định của Uỷ ban nêu tại khoản 4, hoặc khi Ủy ban không xác định được, cũng như sự vi phạm các điều kiện đã được nêu trong thông báo với mỗi trường hợp riêng biệt sẽ được đưa ra trọng tài giải quyết và quyết định của trọng tài là ràng buộc. Trừ khi có quy định khác tại khoản này, thì DSU sẽ được áp dụng đối với thủ tục trọng tài được tiến hành theo khoản này.

    9. 1 Trong quá trình thực hiện chương trình nêu tại khoản 2 Điều 8, cho dù chương trình đã phù hợp với các tiêu chí quy định tại khoản đó, nhưng nếu một Thành viên có lý do để tin rằng chương trình này đã dẫn tới những những tác hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất trong nước của Thành viên đó, tới mức có thể gây thiệt hại khó có thể khắc phục được, thì Thành viên đó có thể yêu cầu tham vấn với Thành viên đang áp dụng hoặc duy trì trợ cấp.

    9. 2 Khi có yêu cầu tham vấn nêu tại khoản 1, Thành viên đang áp dụng hay duy trì chương trình trợ cấp được nêu ra sẽ tiến hành tham vấn trong thời gian sớm nhất có thể. Mục đích của việc tham vấn là nhằm làm rõ sự việc và để đạt tới một giải pháp có thể được các bên chấp nhận.

    9. 3 Nếu không đạt được giải pháp có thể chấp nhận trong vòng 60 ngày kể từ ngày yêu cầu tham vấn theo quy định tại khoản 2 thì thành viên yêu cầu tham vấn có thể đưa vấn đề ra trước Ủy ban để giải quyết .

    Các Thành viên sẽ thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo đảm rằng việc đánh thuế đối kháng với bất kỳ sản phẩm nào của bất kỳ Thành viên nào nhập khẩu vào lãnh thổ của một Thành viên khác phù hợp với các quy định của và phù hợp với các các quy định của Hiệp định này. Các loại thuế đối kháng chỉ được áp dụng căn cứ trên cơ sở điều tra đã được khởi tố và thực hiện phù hợp với các quy định của Hiệp định này và Hiệp định về nông nghiệp.

    11. 2 Đề nghị nêu tại khoản 1 phải bao gồm những bằng chứng về sự tồn tại của: ( a) khoản trợ cấp và nếu có thể nêu rõ cả giá trị trợ cấp, ( b) thiệt hại theo nghĩa của được giải thích theo Hiệp định này, và ( c) mối quan hệ nhân quả giữa nhập khẩu được trợ cấp với thiệt hại được cho là đã xảy ra. Một sự khẳng định giản đơn, không thuộc về bản chất thì không thể được coi là đủ để đáp ứng các yêu cầu của khoản này. Đơn yêu cầu sẽ phải bao gồm những thông tin mà người yêu cầu có được một cách hợp lý về những nội dung sau đây:

    11. 3 Cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra lại tính đúng đắn và đầy đủ của bằng chứng được cung cấp trong đơn để xác định xem bằng chứng đó có đủ để bắt đầu điều tra không.

    1. 5 Cơ quan có thẩm quyền sẽ tránh không công bố đơn yêu cầu bắt đầu điều tra, trừ khi đã có quyết định bắt đầu điều tra.

    11. 6 Trong trường hợp đặc biệt, khi cơ quan có thẩm quyền quyết định điều tra mà không nhận được đơn của và nhân danh một ngành sản xuất trong nước yêu cầu tiến hành điều tra, thì Cơ quan có thẩm quyền chỉ bắt đầu điều tra nếu đã có đủ bằng chứng về một trợ cấp, thiệt hại và mối quan hệ nhân quả như đã nêu tại khoản 2 để chứng minh rằng việc bắt đầu tiến hành điều tra này là cần thiết.

    11. 7 Bằng chứng của cả việc trợ cấp lẫn thiệt hại sẽ được xem xét cùng một lúc: ( a) khi ra quyết định có bắt đầu điều tra không và ( b) sau đó trong tiến trình điều tra, bắt đầu vào một ngày không chậm hơn ngày sớm nhất mà một biện pháp tạm thời có thể được áp dụng theo quy định của Hiệp định này.

    11. 8 Trong trường hợp sản phẩm không được nhập khẩu trực tiếp từ nước xuất xứ mà được xuất khẩu vào Thành viên nhập khẩu thông qua một nước trung gian, các quy định của Hiệp định này vẫn được áp dụng đầy đủ, và (những) giao dịch đó vẫn được coi là được tiến hành trực tiếp giữa nước xuất xứ và Thành viên nhập khẩu theo Hiệp định này.

    11. 10. Việc điều tra không được làm ảnh hưởng đến thủ tục thông quan.

    11. 11 Trừ trường hợp đặc biệt, thủ tục điều tra phải được kết thúc trong thời hạn một năm, và trong mọi trường hợp không quá 18 tháng, kể từ ngày bắt đầu.

    12. 2 Các Thành viên và các bên quan tâm, khi giải trình được, cũng có quyền cung cấp những thông tin miệng. Sau khi cung cấp những thông tin miệng đó, các Thành viên và các bên quan tâm phải nộp thông tin đó bằng văn bản. Quyết định của các cơ quan có thẩm quyền điều tra chỉ được dựa vào những thông tin và lập luận ghi trong hồ sơ của mình và đã sẵn sàng cung cấp cho các Thành viên và các bên quan tâm tham gia điều tra, có tính đến một cách đầy đủ yêu cầu bảo vệ thông tin không phổ biến.

    12. 5 Trừ trường hợp nêu tại khoản 7, trong quá trình điều tra, cơ quan có thẩm quyền có thể tự mình xác định tính chính xác của thông tin được các Thành viên hay các bên cung cấp mà căn cứ vào đó cơ quan có thẩm quyền đã đưa ra các kết luận của mình.

    12. 7 Trong trường hợp bất kỳ Thành viên hoặc bên có quan tâm nào từ chối cho phép tiếp cận hoặc không cung cấp những thông tin cần thiết trong thời hạn hợp lý hoặc cản trở đáng kể việc điều tra, thì quyết định ban đầu hay cuối cùng, mang tính khẳng định hay phủ định sẽ được đưa ra trên cơ sở các sự việc thực tế sẵn có.

    12. 8 Trước khi ra quyết định cuối cùng, cơ quan có thẩm quyền sẽ thông báo cho mọi Thành viên và bên có quan tâm về những sự việc chủ yếu đã được xem xét và là cơ sở để quyết định việc có áp dụng một biện pháp chính thức. Thông báo đó sẽ dành một thời gian đủ để các bên bảo vệ quyền lợi của họ.

    12. 9. Theo Hiệp định này, thuật ngữ “các bên quan tâm” bao gồm:

    12. 11. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét một cách hợp lý bất kỳ khó khăn nào mà các bên quan tâm gặp phải, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, trong việc cung cấp thông tin được yêu cầu, và sẽ dành cho họ sự trợ giúp khi có thể.

    12. 12 Thủ tục nêu trên không nhằm ngăn cản cơ quan có thẩm quyền của một Thành viên khẩn trương tiến trình điều tra, ra quyết định ban đầu hay cuối cùng, mang tính chất khẳng định hay phủ định hoặc ngăn cản việc áp dụng những biện pháp tạm thời hay cuối cùng, phù hợp với các quy định của Hiệp định này.

    15.1 Việc xác định thiệt hại theo phải dựa trên bằng chứng khẳng định và với nội dung xem xét khách quan đồng thời (a) khối lượng nhập khẩu hàng có trợ cấp và tác động của nhập khẩu được trợ cấp đối với giá cả trên thị trường trong nước của sản phẩm tương tự và (b) tác động tiếp theo của việc nhập khẩu đó với các ngành sản xuất trong nước của các sản phẩm đó.

    16.2 Trong những hoàn cảnh đặc biệt, lãnh thổ của một Thành viên có thể được phân định thành hai hay nhiều thị trường cạnh tranh và các nhà sản xuất trong phạm vi mỗi thị trường có thể được coi là một ngành sản xuất riêng biệt nếu (a) các nhà sản xuất trong phạm vi thị trường đó bán toàn bộ hay hầu như toàn bộ sản lượng sản phẩm của họ trên thị trường đó, và (b) nhu cầu của thị trường đó không được đáp ứng ở mức độ đáng kể từ nguồn sản xuất ngoài thị trường đó trên cùng lãnh thổ . Trong những trường hợp này, có thể xác định có tổn hại ngay cả khi phần lớn ngành sản xuất trong nước không bị tổn hại, với điều kiện là có sự tập trung nhập khẩu được trợ cấp vào một thị trường riêng biệt như vậy và hơn nữa là nhập khẩu được trợ cấp đó đang gây ra tổn hại cho những nhà sản xuất dại diện cho toàn bộ hay hầu như toàn bộ nền sản xuất trên thị trường đó.

    16.3 Khi ngành sản xuất trong nước được hiểu là nói đến những nhà sản xuất trong một địa bàn nào đó, ví dụ như thị trường nói tại khoản 2, thuế đối kháng chỉ đánh vào những những sản phẩm đã nêu và được giao cho tiêu dùng trong địa bàn đó. Khi luật hiến pháp của Thành viên nhập khẩu không cho phép đánh thuế đối kháng dựa trên cơ sở nêu trên, Thành viên nhập khẩu có thể đánh thuế đối kháng không hạn chế chỉ khi (a) nhà xuất khẩu trước đó đã có cơ hội để ngừng xuất khẩu hàng vào địa bàn đó với giá có trợ cấp, hoặc là có sự bảo đảm quy định tại Điều 18 nhưng đã không khẩn trương đưa ra sự đảm bảo đó và (b) thuế đối kháng này không được chỉ đánh vào sản phẩm của những nhà sản xuất cụ thể cung cấp hàng cho khu vực này.

    16.4 Khi hai hay nhiều nước, theo quy định tại , đã đạt tới trình độ hội nhập đến mức có những đặc điểm của một thị trường chung, thống nhất, ngành sản xuất của toàn bộ khu vực đó sẽ được coi là ngành sản xuất trong nước như nêu tại khoản 1 và khoản 2.

    16.5 Các quy định của khoản 6 Điều 15 sẽ được áp dụng đối với Điều này.

    17.1 Các biện pháp tạm thời chỉ được áp dụng khi:

    (a) việc điều tra được bắt đầu tiến hành phù hợp với các quy định của Điều 11, đã có thông báo công khai về việc điều tra này và các Thành viên và các bên quan tâm đã được tạo cơ hội thích đáng dể cung cấp thông tin và nhận xét;

    (b) đã xác định sơ bộ rằng có tồn tại trợ cấp và việc nhập khẩu được trợ cấp đã gây tổn hại cho ngành sản xuất trong nước; và

    17.2 Các biện pháp tạm thời có thể dưới hình thức thuế đối kháng tạm thời được bảo đảm bằng việc đặt cọc tiền tương đương với giá trị trợ cấp được tạm tính.

    17.3 Các biện pháp tạm thời không được áp dụng trước quá 60 ngày, kể từ ngày bắt đầu điều tra.

    17.4 Các biện pháp tạm thời chỉ được giới hạn trong thời gian ngắn nhất có thể, không vượt quá bốn tháng.

    (a) chính phủ của Thành viên xuất khẩu chấp nhận xoá bỏ hay hạn chế trợ cấp hoặc có những biện pháp khác có cùng kết quả; hoặc

    (b) nhà xuất khẩu đồng ý xem xét lại giá sao cho Cơ quan có thẩm quyền đang điều tra thấy rằng biện pháp trợ cấp không còn gây ra thiệt hại. Việc tăng giá theo các cam kết này không cần cao quá mức cần thiết để triệt tiêu khối lượng trợ cấp. Có thể chấp nhận mức tăng giá thấp hơn khối lượng trợ cấp nếu thấy đã thích đáng để khắc phục thiệt hại gây ra cho ngành sản xuất trong nước.

    18.2. Không được yêu cầu cam kết hay chấp nhận cam kết trừ khi cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đang nhập khẩu đã có sự xác định ban đầu là có trợ cấp và có thiệt hại do trợ cấp gây ra và trong trường hợp cam kết do nhà xuất khẩu thực hiện, đã được Thành viên đang xuất khẩu thoả thuận.

    18.3 Các cam kết không cần thiết phải được chấp nhận nếu cơ quan có thẩm quyền của Thành viên nhập khẩu thấy việc chấp nhận của mình là không thực tế, ví dụ nếu số lượng các nhà xuất khẩu hiện tại hoặc tiềm tàng quá lớn hoặc có những lý do khác, kể cả lý do thuộc chính sách chung. Nếu có trường hợp như vậy phát sinh và khi có điều kiện thực hiện, cơ quan có thẩm quyền sẽ cho nhà xuất khẩu biết lý do tại sao việc chấp nhận cam kết là không thực tế, và ở mức độ có thể, sẽ tạo điều kiện cho các nhà xuất khẩu trình bày ý kiến của mình.

    18.5 Cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đang nhập khẩu có thể gợi ý đưa ra cam kết về giá, nhưng nhà xuất khẩu không bị buộc phải đưa ra cam kết đó. Việc chính phủ Thành viên hay nhà xuất khẩu không đưa ra đề nghị có cam kết hoặc không chấp nhận lời đề nghị đó thì trong mọi trường hợp sẽ không ảnh hưởng đến việc xem xét đánh giá về vụ việc đó. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền được tự do xác định rằng mối đe doạ gây tổn hại sẽ càng trở nên hiện thực nếu việc nhập khẩu được trợ cấp vẫn được tiếp tục duy trì.

    19.1 Nếu, sau khi đã cố gắng hợp lý để hoàn thành việc tham vấn, một Thành viên xác định chắc chắn rằng có trợ cấp và mức trợ cấp, và rằng thông qua trợ cấp, hàng nhập khẩu được trợ cấp đã gây ra tổn hại, thì Thành viên đó có thể đánh thuế đối kháng theo quy định của Điều này, trừ khi việc trợ cấp được rút bỏ.

    19.3 Khi thuế đối kháng được áp dụng đối với bất kỳ sản phẩm nào, thuế đối kháng phải được đánh, với mức thuế phù hợp với từng trường hợp, trên cơ sở không phân biệt đối xử với sản phẩm nhập khẩu từ mọi nguồn đã kết luận là có trợ cấp và gây ra thiệt hại, trừ hàng nhập khẩu từ những nguồn đã từ bỏ việc áp dụng trợ cấp hay từ những nguồn đã có cam kết theo quy định của Hiệp định này và đã được chấp nhận. Bất kỳ nhà xuất khẩu nào có hàng xuất khẩu phải chính thức chịu thuế đối kháng nhưng chưa bị điều tra với lý do không phải là từ chối hợp tác trong điều tra, sẽ có quyền yêu cầu được tiến hành xem xét lại khẩn trương để cơ quan có thẩm quyền đang điều tra xác định ngay một mức thuế suất đối kháng cụ thể áp dụng đối với nhà xuất khẩu đó.

    20.1 Các biện pháp tạm thời và thuế đối kháng sẽ chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm đưa vào tiêu thụ sau thời điểm quyết định được đưa ra theo quy định của khoản 1 Điều 17 và khoản 1 Điều 19 có hiệu lực, tuỳ thuộc vào những ngoại lệ quy định tại Điều này.

    20.2 Khi đã xác định được có tổn hại ( không phải là mối đe doạ về một tổn hại hoặc về việc gây chậm trễ cho việc thiết lập một ngành sản xuất trong nước), hoặc trong trường hợp đã xác định được có mối đe doạ gây tổn hại mà nếu không có biện pháp tạm thời thì hàng nhập khẩu được trợ cấp đã có thể bị xác định là có gây ra tổn hại, thuế đối kháng có thể được tính hồi tố đối với thời gian đã áp dụng biện pháp tạm thời, nếu có.

    20.3 Nếu mức thuế đối kháng ở mức cao hơn giá trị đã đặt cọc bảo đảm bằng tiến mặt hay bằng bảo lãnh, sẽ không thu thêm số chênh lệch nữa. Ngược lại nếu mức thuế đối kháng thấp hơn giá trị đã đặt cọc bằng tiền mặt hoặc bằng bảo lãnh, thì khoản chênh lệch sẽ được hoàn trả ngay.

    20.4 Trừ trường hợp quy định tại khoản 2, khi đã xác định được là có mối đe doạ thiệt hại hay thực sự gây chậm trễ cho việc thiết lập một ngành sản xuất trong nước (nhưng thiệt hại chưa xảy ra) thuế đối kháng chính thức chỉ được áp dụng kể từ ngày xác định là có đe doạ gây thiệt hại hoặc thực gây chậm trễ, và bất kỳ khoản bảo đảm đặt cọc bằng tiền mặt nào trong thời gian áp dụng các biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả và các bảo lãnh sẽ được giải toả ngay.

    20.5 Khi có xác định cuối cùng là không có trợ cấp và thiệt hại thì bất kỳ khoản bảo đảm nào đã đặt cọc bằng tiền mặt trong thời gian áp dụng các biện pháp tạm thời sẽ được hoàn trả và bất kỳ bảo lãnh, bảo đảm sẽ được giải toả nhanh chóng.

    20.6 Trong những hoàn cảnh nghiêm trọng khi hàng hóa trợ cấp đã được nêu ra, cơ quan có thẩm quyền thấy rằng thiệt hại là khó có thể khắc phục được do nhập khẩu với khối lượng lớn trong một thời gian ngắn sản phẩm đã được trợ cấp không phù hợp các quy định của GATT 1994 và của Hiệp định này và thấy cần thiết để ngăn ngừa tình trạng đó tái diễn, thì cơ quan có thẩm quyền có thể tính hồi tố thuế đối kháng đối với hàng nhập khẩu này, thuế đối kháng chính thức có thể được tính đối với hàng nhập khẩu đã đưa vào tiêu dùng trước đó nhưng không quá 90 ngày kể từ ngày bắt đầu áp dụng biện pháp tạm thời.

    21.1 Thuế đối kháng sẽ có hiệu lực chỉ khi và ở chừng mực cần thiết để đối kháng lại việc trợ cấp đang gây ra thiệt hại.

    21.2 Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét lại nhu cầu có tiếp tục đánh thuế đối kháng không, khi tự mình thấy cần hoặc theo yêu cầu của bên quan tâm có bằng chứng thực tế chứng minh nhu cầu cần xem xét lại việc đánh thuế với điều kiện là đã có một thời gian hợp lý kể từ khi áp dụng thuế đối kháng. Các bên quan tâm có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét xem liệu việc tiếp tục áp dụng thuế đối kháng có còn cần thiết để đối với việc triệt tiêu tác dụng trợ cấp hay không, liệu tổn hại có khả năng tiếp diễn hoặc tái hiện hay không nếu như thuế đối kháng đã ngừng hoặc thay đổi. Nếu sau khi xem xét lại theo khoản này, cơ quan có thẩm quyền quyết định rằng thuế đối kháng không còn cơ sở, thì thuế đối kháng sẽ được chấm dứt ngay lập tức.

    21.3 Cho dù có quy định tại khoản 1 và 2, thuế đối kháng sẽ được kết thúc vào ngày không chậm quá năm năm, kể từ ngày được áp dụng (hoặc kể từ ngày rà soát gần nhất theo quy định tại khoản 2, nếu việc rà soát bao gồm cả thuế và tổn hại, hoặc theo quy định của khoản này) trừ trường hợp trước khi đến ngày đó, cơ quan có thẩm quyền khi tự mình tiến hành rà soát, hoặc theo yêu cầu có đầy đủ bằng chứng hợp lệ của hoặc thay mặt cho ngành công nghiệp trong nước, được đưa ra trong một thời gian hợp lý trước ngày kết thúc thời hạn, quyết định rằng việc ngừng đánh thuế có khả năng làm cho trợ cấp và tổn hại tiếp diễn hoặc tái diễn.Trong thời gian chờ kết luận của việc xem xét đó, có thể tiếp tục duy trì thuế đối kháng.

    21.4 Các quy định của Điều 12 về bằng chứng và thủ tục áp dụng đối với việc rà soát phải được thực hiện theo Điều này. Việc xem xét như vậy sẽ được tiến hành khẩn trương và thông thuờng sẽ được kết luận trong vòng 12 tháng, kể từ ngày bắt đầu rà soát.

    21.5 Các quy định của Điều này sẽ được áp dụng tương thích đối với các cam kết được chấp nhận theo quy định của Điều 18.

    22.1 Khi các cơ quan có thẩm quyền thấy rằng có đủ bằng chứng để bắt đầu việc điều tra về trợ cấp theo Điều 11, cơ quan có thẩm quyền sẽ công bố và thông báo cho (các) Thành viên có sản phẩm là đối tượng của việc điều tra này cũng như thông báo cho các bên quan tâm khác, mà cơ quan có thẩm quyền biết được.

    (ii) ngày bắt đầu tiến hành điều tra ;

    (iii) mô tả về trợ cấp sẽ bị điều tra;

    (iv) tóm tắt những yếu tố tạo nên cơ sở cho rằng có thiệt hại xảy ra;

    22.4 Thông báo công bố việc áp dụng các biện pháp tạm thời hoặc nếu không bằng một báo cáo riêng biệt, phải giải thích chi tiết quyết định sơ bộ về sự tồn tại của trợ cấp và tổn hại, và phải đề cập thực chất vấn đề và luật dẫn tới việc chấp nhận hay bác bỏ một lập luận . Bản thông báo hay báo cáo đó sẽ lưu ý đúng mức tới yêu cầu bảo vệ thông tin bí mật, và phải bao hàm những nội dung cụ thể sau đây:

    (i) những lý do chính đã dẫn tới kết luận.

    22.6 Thông báo công khai về việc kết thúc hay đình chỉ điều tra sau khi chấp nhận cam kết theo Điều 18, hoặc dưới hình thức một bản báo cáo riêng biệt, sẽ bao gồm phần nội dung không mang tính chất bí mật của bản cam kết đó.

    22.7 Các quy định của Điều này được áp dụng, với những điều chỉnh thích hợp, nếu có, với việc bắt đầu và kết thúc việc rà soát nói tại Điều 21 và đối với những quyết định nói tại Điều 20 về hồi tố đối với thuế đối kháng.

    24.2 Uỷ ban có thể thành lập các cơ quan trực thuộc nếu thấy phù hợp.

    24.3 Uỷ ban sẽ thành lập một Nhóm các Chuyên gia Thường trực (PGE) gồm năm cá nhân độc lập, có trình độ bậc cao trong lĩnh vực trợ cấp và quan hệ thương mại. Uỷ ban sẽ bầu chọn các chuyên gia và mỗi năm sẽ thay thế một thành viên trong nhóm. Nhóm PGE có thể được yêu cầu hỗ trợ ban hội thẩm, như quy định tại khoản 5 Điều 4. Uỷ ban cũng có thể yêu cầu họ cho ý kiến tư vấn về sự tồn tại hoặc tính chất của bất kỳ trợ cấp nào.

    24.4 PGE có thể được bất kỳ Thành viên nào tham vấn và có thể có ý kiến tư vấn về tính chất của bất kỳ loại trợ cấp nào mà một Thành viên dự kiến duy trì hay áp dụng mới. Ý kiến tư vấn đó không được phổ biến và không được sử dụng khi tiến hành thủ tục tố tụng nêu tại Điều 7.

    24.5 Khi thực hiện chức năng của mình, Uỷ ban và các cơ quan trực thuộc đều có thể tham vấn và tìm thông tin từ bất kỳ nguồn nào được coi là cần thiết. Tuy nhiên trước khi Uỷ ban hay cơ quan trực thuộc tìm thông tin trong phạm vi thẩm quyền của một Thành viên, Thành viên đó sẽ được thông báo trước.

    PHẦN VII : THÔNG BÁO VÀ GIÁM SÁT

    25.1 Các Thành viên thoả thuận rằng, không gây ảnh hưởng đến các quy định tại , sẽ nộp thông báo về trợ cấp không chậm hơn ngày 30 tháng 6 hàng năm và sẽ tuân thủ các quy định từ khoản 2 đến khoản 6.

    25.2 Các Thành viên sẽ thông báo về mọi khoản trợ cấp nêu tại khoản 1 Điều 1, thuộc loại trợ cấp riêng biệt theo nghĩa của Điều 2, được duy trì hay áp dụng trên lãnh thổ của mình.

    (ii) trợ cấp tính theo đơn vị hoặc khi không thể tính cụ thể được, là tổng trị giá hay số tiền trợ cấp cả năm ngân sách dành cho trợ cấp (nếu có thể nêu mức trợ cấp trung bình tính theo đơn vị đã thực hiện năm trước);

    (iii) mục tiêu hoặc mục đích về mặt chính sách của trợ cấp;

    (iv) thời hạn trợ cấp và/ hoặc thời hạn khác gắn liền với trợ cấp;

    25.4 Khi các điểm cụ thể nêu tại khoản 3 không được đề cập trong thông báo, thì cần có giải thích lý do ngay trong thông báo đó

    25.5 Nếu trợ cấp được áp dụng đối với sản phẩm cụ thể hay một khu vực kinh doanh cụ thể, thì thông báo phải được kết cấu theo sản phẩm hay khu vực đó.

    25.6 Thành viên nào thấy rằng trên lãnh thổ của mình không áp dụng các biện pháp nào cần phải thông báo theo quy định tại và theo Hiệp định này, sẽ thông báo cho Ban Thư ký bằng văn bản.

    25.7 Các Thành viên thừa nhận rằng việc thông báo một biện pháp không làm tổn hại đến tính chất pháp lý của biện pháp đó theo Hiệp định GATT 1994 và theo Hiệp định này, hiệu lực của nó theo Hiệp định này, hay ảnh hưởng đến tính chất của biện pháp đó.

    25.8 Bất kỳ lúc nào các Thành viên cũng có thể gửi văn bản yêu cầu cung cấp thông tin về tính chất và mức độ của bất kỳ trợ cấp nào được một Thành viên khác áp dụng hay duy trì (kể cả trợ cấp được nêu tại Phần IV), hay yêu cầu giải thích về lý do một biện pháp cụ thể được coi không phải là đối tượng phải thông báo.

    25.9 Các Thành viên khi được yêu cầu sẽ cung cấp thông tin được yêu cầu một cách đầy đủ và khẩn trương nhất có thể, và khi được yêu cầu sẽ sẵn sàng cung cấp bổ sung thông tin cho Thành viên có yêu cầu. Đặc biệt, thông tin sẽ được cung cấp chi tiết đến mức có thể cho phép Thành viên yêu cầu có thể đánh giá được tính phù hợp với nội dung của Hiệp định này. Bất kỳ Thành viên nào thấy rằng những thông tin này chưa được cung cấp thì có thể đưa vấn đề ra trước Uỷ ban.

    25.10 Bất kỳ Thành viên nào khi thấy một biện pháp được một Thành viên khác áp dụng có tác động như là trợ cấp nhưng không được thông báo phù hợp với các quy định của và Điều khoản này, thì có thể nêu vấn đề này với Thành viên đó. Nếu sau đó biện pháp được coi là trợ cấp không được thông báo nhanh chóng, thì Thành viên đã nêu trên có thể đưa vấn đề về biện pháp được cho là trợ cấp đó ra Uỷ ban .

    25.12 Mỗi Thành viên sẽ thông báo cho Uỷ ban (a) cơ quan nào của mình có thẩm quyền mở và tiến hành điều tra nêu tại Điều 11 và (b) thủ tục trong nước điều chỉnh việc mở và tiến hành điều tra đó.

    26.1 Tại phiên họp đặc biệt định kỳ ba năm một lần, Uỷ ban sẽ xem xét các thông báo mới và đầy đủ nhận được theo quy định tại và khoản 1 Điều 25 của Hiệp định này. Các thông báo được nộp trong những năm giữa hai phiên họp (thông báo cập nhật) sẽ được xem xét tại mỗi phiên họp thường kỳ.

    26.2 Uỷ ban sẽ xem xét các báo cáo đã nộp theo quy định tại khoản 11 Điều 25 tại mỗi phiên họp thường kỳ.

    27.1 Các Thành viên thừa nhận rằng trợ cấp có thể đóng vai trò quan trọng trong các chương trình phát triển của các Thành viên đang phát triển.

    27.2 Những quy định cấm tại điểm1 (a) Điều 3 sẽ không áp dụng đối với:

    27.3 Những quy định cấm tại điểm 1(b) Điều 3 sẽ không áp dụng với các Thành viên đang phát triển trong thời gian năm năm, và sẽ không áp dụng với các Thành viên chậm phát triển nhất trong thời gian tám năm, kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lực.

    27.5 Một Thành viên đang phát triển đã đạt được trình độ cạnh tranh trong xuất khẩu với bất kỳ sản phẩm xuất khẩu nào sẽ xoá bỏ dần trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm đó trong thời hạn hai năm. Tuy nhiên, với một Thành viên đang phát triển nêu tại phụ lục VII và đã đạt được tính cạnh tranh trong xuất khẩu một hoặc nhiều sản phẩm, trợ cấp xuất khẩu với sản phẩm đó sẽ được xoá bỏ trong vòng tám năm.

    27.6 Được coi là có tính cạnh tranh trong một sản phẩm nếu Thành viên đang phát triển đã xuất khẩu sản phẩm này chiếm ít nhất 3,5% thị phần của thương mại thế giới về sản phẩm đó trong hai năm liên tục. Tính cạnh tranh trong xuất khẩu được coi là đã có (a) trên cơ sở thông báo của Thành viên đang phát triển là họ đã đạt được tính cạnh tranh trong xuất khẩu, hoặc là (b) trên cơ sở tính toán của Ban Thư ký theo yêu cầu của Thành viên khác. Theo khoản này, một sản phẩm được định nghĩa là tương ứng với nhóm hàng theo hệ thống HS. Uỷ ban sẽ xem xét lại việc thực hiện điều khoản này trong năm năm kể từ ngày hiệp định WTO có hiệu lực.

    27.8 Một khoản trợ cấp được một nước đang phát triển áp dụng sẽ không bị suy đoán là gây ra thiệt hại nghiêm trọng theo điều kiện của khoản 1 Điều 6, theo định nghĩa của Hiệp định này. Thiệt hại nghiêm trọng nói tại khoản 9 phải có bằng chứng khẳng định theo các quy định của các khoản từ 3 tới 8 Điều 6.

    27.9 Đối với những trợ cấp có thể đối kháng được một Thành viên là nước đang phát triển áp dụng hay duy trì, nhưng không thuộc loại được nêu tại khoản 1 Điều 6, thì hành động đối kháng không được phép hay thực hiện theo Điều 7, trừ khi xác định được là do có trợ cấp thuộc loại đó mà làm mất hay giảm hiệu lực của các nhân nhượng về thuế quan hoặc những nghĩa vụ khác theo Hiệp định GATT 1994, đến mức loại bỏ hay ngăn cản việc nhập khẩu một sản phẩm tương tự của một Thành viên khác vào thị trường Thành viên đang phát triển đang trợ cấp trừ khi gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước trên thị trường của Thành viên đang nhập khẩu.

    27.11 Đối với các Thành viên đang phát triển thuộc diện đã nêu tại điểm 2(b) đã xoá bỏ trợ cấp xuất khẩu trước khi hết thời hạn tám năm kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực, và đối với các Thành viên đang phát triển trong phụ lục VII, con số tương ứng nêu tại điểm 10(a) sẽ là 3% thay cho 2%. Quy định này sẽ được áp dụng kể từ ngày việc xoá bỏ trợ cấp được thông báo cho Uỷ ban, và còn được áp dụng chừng nào Thành viên đang phát triển đã thông báo không áp dụng trợ cấp xuất khẩu. Quy định này sẽ hết hiệu lực sau tám năm kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực.

    27.12 Các quy định của khoản 10 và 11 sẽ điều chỉnh việc xác định trợ cấp thuộc loại không đáng kể hoặc tối thiểu ( de minimis) nêu tại khoản 3 Điều 15.

    27.14 Khi một Thành viên đang phát triển có quan tâm yêu cầu, Uỷ ban sẽ xem xét lại thực tế về một trợ cấp xuất khẩu riêng tại một Thành viên đang phát triển để xác định xem việc trợ cấp đó có phù hợp với nhu cầu phát triển của Thành viên đó hay không.

    27.15 Khi một Thành viên đang phát triển có quan tâm yêu cầu, Uỷ ban sẽ xem xét lại một biện pháp đối kháng để xác định việc biện pháp đó có phù hợp với các quy định của khoản 10 và 11 như được áp dụng đối với các Thành viên đang phát triển nêu ở đây hay không.

    28.1 Với các chương trình trợ cấp đã được triển khai trên lãnh thổ một Thành viên trước ngày Thành viên đó ký Hiệp định Thành lập WTO và không phù hợp với các quy định của Hiệp định này sẽ:

    28.2 Không một Thành viên nào mở rộng phạm vi của những chương trình đó và không một chương trình nào sẽ được gia hạn thêm khi hết hạn.

    29.1 Các Thành viên đang trong thời kỳ chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang một nền kinh tế thị trường, tự do kinh doanh có thể áp dụng những chương trình và biện pháp cần thiết cho quá trình chuyển đổi.

    29.2 Đối với các Thành viên nói trên, các chương trình trợ cấp thuộc diện điều chỉnh của Điều 3 và đã được thông báo phù hợp với khoản 3, sẽ được loại bỏ dần và điều chỉnh cho phù hợp với Điều 3 trong vòng 7 năm, kể từ ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực. Trong trường hợp này Điều 4 sẽ không được áp dụng. Ngoài ra, trong cùng thời gian đó:

    29.3 Các chương trình thuộc diện nêu tại Điều 3 sẽ được thông báo cho Uỷ ban vào một ngày gần nhất có thể được, sau ngày Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực. Trợ cấp khác có thể được thông báo hai năm sau ngày Hiệp định WTO có hiệu lực.

    29.4 Trong những trường hợp ngoại lệ, Các Thành viên nêu tại khoản 1 có thể được Uỷ ban cho phép vận dụng khác đi trong các chương trình và biện pháp và lịch trình cụ thể của Thành viên đó đã thông báo nếu làm như vậy là cần thiết cho các tiến trình chuyển đổi kinh tế của Thành viên đó.

    Các quy định của các Điều XXII và XXIII của Hiệp định GATT 1994 đã được chi tiết hoá và vận dụng tại Thoả thuận về giải quyết tranh chấp sẽ áp dụng cho việc tham vấn và giải quyết tranh chấp theo Hiệp định này, trừ khi Trong Hiệp định này có quy định khác.

    Các quy định của khoản 1 Điều 6 và các quy định của Điều 8 và Điều 9 sẽ được áp dụng trong một thời hạn 5 năm, bắt đầu từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực. Không chậm hơn 180 ngày trước khi kết thúc thời hạn này,Uỷ ban sẽ xem xét lại tình hình thực thi các quy định đó, nhằm quyết định có gia hạn việc áp dụng chúng hay không, dưới hình thức giữ nguyên nội dung như hiện nay hay có sửa đổi cho một thời kỳ tiếp theo.

    32.2 Không một bảo lưu về bất kỳ một quy định nào của Hiệp định này được chấp nhận nếu không đạt được sự đồng thuận của tất cả các Thành viên khác.

    32.3 Căn cứ vào khoản 4, các quy định của Hiệp định này sẽ được áp dụng cho việc điều tra, rà soát các biện pháp hiện tại được khởi đầu theo đơn được lập vào ngày hoặc sau ngày Hiệp định WTO có hiệu lực đối với một Thành viên của Hiệp định WTO.

    32.4 Theo khoản 3 Điều 21, các biện pháp đối kháng hiện tại sẽ được coi là áp dụng vào ngày không chậm hơn ngày Hiệp định WTO có hiệu lực đối với một Thành viên của Hiệp định WTO, trừ trường hợp pháp luật trong nước của Thành viên đó có hiệu lực vào ngày nói trên đã có thuộc loại đã quy định tại khoản 3.

    32.7 Hàng năm, Uỷ ban sẽ xem xét lại việc thực hiện và hiệu lực của Hiệp định này, có tính đến mục tiêu đã được đề ra tại Hiệp định. Uỷ ban sẽ thông báo hàng năm cho Hội đồng Thương mại Hàng hoá về những tiến triển trong thời kỳ được xem xét nói trên.

    32.8 Các phụ lục của Hiệp định này là một bộ phận không tách rời của Hiệp định.

    (a) Việc Chính phủ trợ cấp trực tiếp cho một hãng hoặc một ngành sản xuất trong nước tính theo kết quả xuất khẩu.

    (b) Các chương trình giữ lại ngoại tệ hoặc việc làm tương tự có thưởng khuyến khích xuất khẩu.

    (c) Vận chuyển nội địa và cước phí giao hàng xuất khẩu, được Chính phủ cung cấp hoặc giao quyền cung cấp, với những điều kiện thuận lợi hơn so với giao hàng nội địa.

    (d) Chính phủ hoặc cơ quan Chính phủ cung cấp sản phẩm và dịch vụ nhập khẩu, hoặc sản xuất trong nước sử dụng để sản xuất hàng xuất khẩu, trực tiếp hay gián tiếp thông qua các chương trình được phép của Chính phủ, với những điều kiện thuận lợi hơn cung cấp cho các sản phẩm tương tự hoặc sản phẩm cạnh tranh trực tiếp hay dịch vụ để sử dụng trong sản xuất hàng tiêu thụ trong nước, nếu trong trường hợp là một sản phẩm, các điều kiện điều khoản đó thuận lợi hơn điều kiện thương mại thông thường sẵn cótrên thị trường thế giới dành cho nhà xuất khẩu của Thành viên đó.

    (g) miễn hay hoàn thuế gián thu 58 cao hơn mức áp dụng đối với sản xuất hay lưu thông một sản phẩm tương tự tiêu thụ trên thị trường nội địa, đối với sản xuất hay lưu thông xuất khẩu hàng hoá.

    (h) miễn, hoàn hay chuyển thuế gián thu 58 sang kỳ sau thuộc diện thu gộp cho cả các công khoản trước đây với hàng hoá hay dịch vụ được sử dụng trong sản xuất hàng xuất khẩu vượt quá mức được miễn, giảm hay hoãn thu với các khoản thuế gián thu gộp đánh vào sản phẩm hay dịch vụ thuộc các giai đoạntrước đây tương ứng được tiêu thụ trên thị trường trong nước; tuy nhiên với điều kiện là, các khoản thuế gián thu gộp được miễn, hoàn trả hay chuyển có thể áp dụng đối với hàng đã xuất khẩu mà không áp dụng với sản phẩm tương tự được tiêu thụ trong nước, khi các khoản thuế gián thu gộp được đánh vào vật tư đầu vào tiêu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu (tạo thành hao phí thông thường). Điểm này có thể được hiểu một cách phù hợp với hướng dẫn về tiêu thụ đầu vào trong tiến trình sản xuất nêu tại Phụ lục II.

    (i) hoàn trả hay giảm các khoản thu phí nhập khẩu 58 vượt quá số thu đối với hàng nhập khẩu tiêu thụ ở đầu vào cho sản xuất hàng xuất khẩu (tạo thành mức hao phí thông thường); tuy nhiên, nếu trong những trường hợp riêng biệt, một hãng có thể sử dụng một số lượng vật tư đầu vào trên thị trường trong nước ngang với hay có cùng chất lượng và đặc điểm như đầu vào nhập khẩu để thay thế đầu vào trong nước đó để có thể được hưởng lợi từ quy định này khi các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu tương ứng cùng phát sinh trong một thời kỳ hợp lý nhưng không quá hai năm. Điểm này có thể được hiểu một cách phù hợp với hướng dẫn về tiêu thụ đầu vào trong quá trình sản xuất nêu tại Phụ lục II và hướng dẫn để xác định xem chế độ giảm thuế áp dụng đối với đầu vào sản phẩm thay thế nhập khẩu như là trợ cấp xuất khẩu nêu tại Phụ lục III.

    (j) Chính phủ (hoặc các cơ quan đặc biệt do Chính phủ quản lý) thực hiện các chương trình bảo lãnh tín dụng xuất khẩu, các chương trình bảo hiểm hoặc bảo lãnh nhằm chống lại sự tăng chi phí sản phẩm xuất khẩu hay các chương trình về rủi ro ngoại hối, với phí thu thấp không hợp lý, không đủ để chi trả cho chi phí hoạt động dài hạn hoặc thâm hụt của các chương trình đó.

    (k) Chính phủ (hoặc các cơ quan đặc biệt trực thuộc hoặc do Chính phủ quản lý) cấp các khoản tín dụng xuất khẩu với lãi suất thấp hơn mức mà họ thực tế phải trả để có được tiền thực hiện việc này (hay lẽ ra phải trả nếu vay trên thị trường vốn quốc tế để có được tiền với cùng thời hạn và các điều kiện tín dụng, và được tính bằng cùng một đồng tiền của tín dụng xuất khẩu), hoặc các cơ sở đó trả cho toàn bộ hay một phần chi phí phát sinh với nhà xuất khẩu hay với thể chế tài chính để có được tín dụng, trong chừng mực các khoản tín dụng đó được sử dụng để bảo đảm dành cho nhà xuất khẩu những lợi thế đáng kể trong lĩnh vực tín dụng xuất khẩu.

    Tuy nhiên, với điều kiện là nếu một Thành viên có tham gia một liên kết quốc tế về tín dụng xuất khẩu mà, tính đến ngày 1 tháng 1 năm 1979, ít nhất mười hai Thành viên sáng lập của Hiệp định này là thành viên của liên kết đó (hay một hình thức kế tục của nó được các Thành viên sáng lập thông qua), hoặc trong thực hành một Thành viên áp dụng các quy định về lãi xuất của liên kết đó, thực hành tín dụng xuất khẩu phù hợp với các quy định đó sẽ không bị coi là trợ cấp xuất khẩu thuộc diện cấm theo Hiệp định này.

    (l) Bất kỳ khoản thu nào từ ngân sách nhà nước tạo thành trợ cấp theo nội dung quy định tại

    1. Các chương trình giảm thuế gián thu có thể cho phép miễn, hoàn hay chuyển việc thu những khoản thuế gián thu thuộc các giai đoạn trước đánh vào vật tư đầu vào được sử dụng trong sản xuất sản phẩm xuất khẩu (tính tới hao phí định mức thông thường). Tương tự như vậy, các chương trình giảm thuế có thể cho phép hoàn hay giảm những khoản thu đối với hàng nhập khẩu đánh vào đầu vào được tiêu thụ cho sản xuất hàng xuất khẩu (tính tới hao phí định mức thông thường).

    Khi xem xét liệu vật tư đầu vào có được tiêu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu hay không có phải là một nội dung điều tra về thuế đối kháng theo Hiệp định này, cơ quan có thẩm quyền điều tra phải tiến hành theo cách thức sau:

    1. Trong trường hợp nghi ngờ có một chương trình giảm thuế gián thu hay thoái thu có tính chất trợ cấp do hoàn thuế hay thoái thu quá mức với những khoản đã thu đối với nhập khẩu đầu vào tiêu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu, cơ quan có thẩm quyền điều tra trước hết phải xác định xem Chính phủ Thành viên đang xuất khẩu hiện có và áp dụng một chương trình hay thủ tục như thế hay không để xác nhận được những vật tư đầu vào nào được tiêu dùng cho sản xuất hàng xuất khẩu và với số lượng bao nhiêu . Khi đã xác định được có tồn tại một hệ thống như vậy, cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ tiếp tục xem xét xem hệ thống đó có hợp lý không, có hiệu lực để đạt mục tiêu đề ra không và có dựa trên những tập quán thương mại vẫn thường được chấp nhận tại nước xuất khẩu không. Cơ quan có thẩm quyền điều tra khi đó có thể thấy cần tiến hành thử nghiệm thực tế, theo đúng các quy định của khoản 6 Điều 12, nhằm xác minh thông tin và đảm bảo rằng một chương trình hay những thủ tục nói trên đang thực sự tồn tại.

    2. Khi không tồn tại một chương trình hay thủ tục như vậy, hoặc một chương trình hay thủ tục đó không hợp lý, hoặc một chương trình hay thủ tục như vậy được coi là hợp lý nhưng trong thực tế lại không được áp dụng hoặc áp dụng không hiệu quả, Thành viên xuất khẩu cần tiếp tục tiến hành kiểm tra dựa trên lượng đầu vào thực sự sử dụng và xác định xem có thanh toán trội hơn không. Nếu cơ quan có thẩm quyền điều tra thấy cần thiết, thì có thể tiếp tục kiểm tra theo quy định tại khoản 1.

    3. Các cơ quan có thẩm quyền điều tra phải coi các vật tư đầu vào là một khối thống nhất về mặt vật lý nếu như các vật tư đầu vào này được sử dụng trong quá trình sản xuất và trực tiếp hiện diện trong sản phẩm được xuất khẩu. Các Thành viên ghi nhận rằng nguyên liệu đầu vào không nhất thiết phải hiện diện trong sản phẩm cuối cùng dưới hình thức ban đầu khi tham gia quá trình sản xuất.

    4. Khi xác định khối lượng của một loại đầu vào cụ thể được tiêu dùng để sản xuất hàng xuất khẩu, cần tính đến ” tỷ lệ hư hao thông thường”, và mức hư hao đó cũng được tính là đã tiêu dùng cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Thuật ngữ “hư hao” là tỷ lệ một loại đầu vào nhất định, không được sử dụng một cách độc lập trong quá trình sản xuất, không tiêu dùng cho sản xuất sản phẩm xuất khẩu, (với những lý do như là tính kém hiệu quả) và nhà chế tạo đó không thu hồi lại hoặc không bán được.

    5. Việc cơ quan có thẩm quyền điều tra xác định một định mức hư hao đã đưa ra có được coi là “thông thường” hay không cần tính đến quá trình sản xuất, kinh nghiệm trung bình của ngành sản xuất tại nước xuất khẩu, và các nhân tố kỹ thuật khác, khi thấy thích hợp. cơ quan có thẩm quyền điều tra cần luôn ý thức rằng điều quan trọng là cơ quan có thẩm quyền tại Thành viên xuất khẩu đã tính toán khối lượng hư hao một cách hợp lý chưa, và khi nào khối lượng hư hao đó được tính với ý định bao hàm trong khoản miễn hay hoàn thuế, thoái thu thuế.

    Khi xem xét các hệ thống thoái thu với hàng thay thế với tính cách là một phần của cuộc điều tra về thuế đối kháng theo quy định của Hiệp định này, cơ quan có thẩm quyền điều tra cần tiến hành theo phương pháp sau.

    2. Khi có lập luận cho rằng một hệ thống thoái thu dẫn tới một khoản trợ cấp, cơ quan có thẩm quyền điều tra trước hết phải tiến hành xác định xem chính phủ Thành viên xuất khẩu có và đang sử dụng một hệ thống hay thủ tục kiểm tra hay không. Khi đã xác định được có một hệ thống hay thủ tục như vậy đang được áp dụng, cơ quan có thẩm quyền điều tra sẽ tiến hành tiếp xem xét thủ tục kiểm tra có hợp lý, có hữu hiệu với mục tiêu được đặt ra, và có dựa trên những tập quán thương mại thông thường vẫn được chấp nhận tại nước xuất khẩu hay không. Trong chừng mực mà những thủ tục đó được xác định là đáp ứng yêu cầu kiểm tra và thực sự hữu hiệu, thì sẽ được coi là không có tồn tại trợ cấp (xuất khẩu). Cơ quan có thẩm quyền điều tra có thể tự thấy cần thiết phải tiến hành một số thử nghiệm thực tế, theo quy định tại khoản 6 Điều 12, nhằm kiểm tra thông tin và tự mình đánh giá xem thủ tục kiểm tra có thực sự được áp dụng không.

    4. Sự tồn tại của một quy định về thoái thu đối với hàng thay thế (nhập khẩu) cho phép nhà xuất khẩu lựa chọn những chuyến hàng nhập khẩu và yêu cầu được thoái thu căn cứ vào các chuyến hàng đó chỉ tự nó không được coi là tạo thành một trợ cấp.

    5. Thoái thu trội những khoản thu với hàng nhập khẩu theo nội dung khoản (i) được coi là có tồn tại khi một chính phủ thanh toán lãi cho bất kỳ khoản tiền thoái thu nào được trả trong khuôn khổ chương trình đó, với mức độ tương ứng những khoản đã hoặc có thể được thanh toán trội đó.

    1. Giá trị của trợ cấp theo điểm 1(a) Điều 6 phải được tính theo chi phí mà Chính phủ cấp trợ cấp phải trả.

    3. Khi việc trợ cấp được gắn với việc sản xuất hay bán ra một sản phẩm nhất định, giá trị của sản phẩm sẽ được tính toán như là tổng trị giá doanh số bán của sản phẩm đó của công ty nhận trợ cấp trong mười hai tháng gần nhất trước thời kỳ được cấp trợ cấp mà trong thời kỳ này số liệu về doanh số là sẵn có.

    6. Khi tính tổng mức trợ cấp trong một năm, các khoản trợ cấp theo các chương trình khác nhau từ nguồn của các cơ quan có thẩm quyền khác nhau trên cùng lãnh thổ sẽ được tính gộp lại.

    7. Những trợ cấp được cấp trước ngày Hiệp định WTO có hiệu lực, mà lợi ích có được từ những trợ cấp này thuộc thời kỳ sản xuất trong tương lai, sẽ được tính vào trong tổng mức trợ cấp.

    3. DSB sẽ chỉ định một đại diện có chức năng tạo thuân lợi cho việc thu thập thông tin. Mục đích duy nhất của đại diện là đảm bảo thu thập đúng hạn thông tin cần thiết để tạo thuân lợi cho việc xem xét trong khuôn khổ đa biên vấn đề tranh chấp. Đặc biệt, đại diện có thể gợi ý cách thức hiệu quả nhất có được thông tin cần thiết cũng như khích lệ các bên hợp tác cung cấp thông tin.

    5. Nếu một Thành viên đã áp dụng trợ cấp hay một nước thứ ba không hợp tác trong việc thu thập thông tin nói trên, thì Thành viên đang khiếu nại sẽ trình bày lập luận của mình về sự tồn tại của một tổn hại nghiêm trọng dựa vào những nhân tố chứng minh có được cũng như sự việc và tình trạng bất hợp tác của Thành viên đang áp dụng trợ cấp hay của Thành viên thứ ba. Trong trường hợp thông tin không sẵn có vì các Thành viên này bất hợp tác, ban hội thẩm có thể hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu dựa vào những thông tin có được từ các nguồn khác.

    6. Khi có quyết định về việc xác định, ban hội thẩm phải loại trừ ảnh hưởng của việc suy diễn bất lợi do sự bất hợp tác của một bên tham dự trong tiến trình thu thập thông tin.

    7. Khi xác định là cần phải sử dụng thông tin tốt nhất có được hay những suy diễn về trường hợp bất hợp tác, ban hội thẩm sẽ lấy ý kiến của đại diện DSB đã được chỉ định theo khoản 4 về tính chất hợp lý của yêu cầu cung cấp thông tin và những cố gắng đã có của các bên nhằm trả lời một cách kịp thời và trên tinh thần hợp tác.

    8. Không có quy định nào về việc thu thập thông tin hạn chế khả năng của ban hội thẩm trong việc tìm kiếm thông tin bổ sung được cho là thiết yếu cho việc giải quyết tranh chấp một cách thoả đáng và là những thông tin chưa được yêu cầu hay chưa thu thập được một cách đầy đủ. Tuy nhiên, thông thường ban hội thẩm không nên yêu cầu những thông tin bổ sung để hoàn chỉnh hồ sơ trong trường hợp những thông tin đó tăng cường vị trí cho một bên cụ thể và việc không có thông tin là kết quả của sự bất hợp tác phi lý của bên đó trong việc thu thập thông tin.

    2. Trong những trường hợp ngoại lệ, nếu có dự kiến đưa các chuyên gia không thuộc Chính phủ tham gia vào nhóm điều tra viên, các doanh nghiệp và cơ quan có thẩm quyền của Thành viên xuất khẩu phải được thông báo. Các chuyên gia này phải thực sự chịu trách nhiệm nếu vi phạm yêu cầu không tiết lộ thông tin.

    7. Vì mục tiêu chính của cuộc điều tra tại chỗ là nhằm kiểm tra thông tin đã được cung cấp hoặc tìm kiếm thông tin chi tiết hơn, nên cuộc điều tra này chỉ được tiến hành sau khi đã nhận được các câu trả lời về các câu hỏi đã đặt ra, trừ khi doanh nghiệp chấp nhận khác , và nếu chính quyền của Thành viên xuất khẩu đã được cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm điều tra thông báo trước về cuộc gặp hoặc cuộc điều tra và đã không phản đối; ngoài ra tập quán thực hành thông thường yêu cầu là trước khi đến doanh nghiệp, phải thông báo cho họ biết tính chất chung của thông tin cần kiểm tra và cần được cung cấp, nhưng điều đó không hạn chế việc yêu cầu những chi tiết bổ sung cho những thông tin có được khi làm việc tại chỗ.

    8. Các câu hỏi hay yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền và các doanh nghiệp của Thành viên xuất khẩu cần thiết cho việc tiến hành điều tra tại chỗ phải được biết vào bất cứ khi nào có thể trước khi tiến hành cuộc gặp .

    Các Thành viên đang phát triển không chịu sự điều chỉnh của các quy định tại điểm 1 (a) Điều 3 theo các điều kiện quy định tại khoản 2 (a) Điều 27 gồm những nước sau đây:

    a) Các nước chậm phát triển theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc là Thành viên WTO.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto
  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)
  • Bài 17: Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Hại Cây Trồng
  • Giải Pháp Điều Hòa Tinh Tế, Đẳng Cấp Cho Các Căn Biệt Thự
  • 8 Giải Pháp Lắp Đặt Điều Hòa Không Khí Hiệu Quả
  • Kháng Thể Là Gì? Vai Trò Và Sự Hình Thành Kháng Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Trúc Và Chức Năng Của Globulin Miễn Dịch
  • Không Phải Cứ Dùng Nhiều Whey Protein Là Sẽ Tốt
  • Thực Phẩm Bổ Sung Protein: Cách Lựa Chọn Loại Protein Tốt Nhất
  • Tư Vấn Cách Chọn Mua Thực Phẩm Chức Năng Bổ Sung Protein
  • Bai Giang Dien Tu Bai 5. Protein
  • Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi các bác sĩ khoa Xét nghiệm, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng.

    Khi các vi khuẩn và virus xâm nhập vào bên trong cơ thể, kháng thể sẽ chống lại chúng. Trong một đáp ứng miễn dịch, kháng thể có 3 vai trò chính là liên kết với kháng nguyên, kích hoạt hệ thống bổ thể và huy động các tế bào miễn dịch.

    1. Kháng thể là gì?

    Khi sinh vật xâm nhập vào cơ thể con người thì cơ thể sẽ nhận biết được sự xâm nhập này và sản xuất ra những chất gọi là kháng thể (antibody). Kháng thể này tiêu diệt vi khuẩn có hại, và bảo vệ cơ thể. Cơ thể nào có khả năng hình thành kháng thể càng mạnh thì khả năng miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm khuẩn càng cao.

    2. Có mấy loại kháng thể?

    Có 5 loại kháng thể như sau:

    IgG: Là kháng thể phổ biến nhất trong máu, trong sữa non và các dịch mô. IgG xuyên qua nhau thai, bảo vệ con trong những tuần lễ đầu đời sau khi sinh khi hệ miễn dịch của trẻ chưa phát triển.

    IgA: Chiếm khoảng 15 – 20% trong máu, trong sữa non, nước mắt và nước miếng nước bọt. Khi IgA được được tiết ra ở đâu thì chúng chống lại các tác nhân gây bệnh tại đó.

    IgM: Là lớp miễn dịch đầu tiên được tổng hợp ở trẻ sơ sinh. Kết hợp với các kháng nguyên đa chiều như virus và hồng cầu, giúp tiêu diệt kháng nguyên xấu, bảo vệ cơ thể.

    IgE: Chiếm tỷ lệ khá lớn và giữ vai trò trong phản ứng quá mẫn cấp cũng như trong cơ chế miễn dịch chống ký sinh trùng.

    IgD: Chiếm tỷ lệ ít nhất chỉ 1% trên màng tế bào, dị hoá nhanh và rất dễ bị thuỷ phân bởi enzyme plasmin trong quá trình đông máu, vì vậy, IgD là kháng thể có ít chức năng nhất trong quá trình hoạt hoá kháng nguyên.

    3. Sự hình thành kháng thể

    Việc hình thành kháng thể là một quá trình rất phức tạp qua nhiều giai đoạn sau đây:

    Trong thời gian này các kháng nguyên cân bằng giữa mạch máu và ngoài mạch máu bằng cách khuếch tán. Đó thường là một quá trình nhanh chóng. Từ khi kháng nguyên không còn khuếch tán nữa, thì giai đoạn này mất đi.

    Trong giai đoạn này các tế bào và các enzym của cơ thể chuyển hóa kháng nguyên. Hầu hết các kháng nguyên bị các đại thực bào và tế bào thực bào khác bắt giữ. Thời gian dài hay ngắn sẽ phụ thuộc vào các chất sinh miễn dịch và cơ thể chủ.

    Trong giai đoạn này, kháng thể vừa được tổng hợp sẽ kết hợp với các kháng nguyên và tạo thành phức hợp kháng nguyên-kháng thể, sau đó chúng bị thực bào và bị thoái hóa. Kháng thể tồn tại trong huyết thanh sau khi giai đoạn loại bỏ miễn dịch hoàn thành.

    4. Vai trò của kháng thể

    Trong một đáp ứng miễn dịch, kháng thể có 3 vai trò chính là liên kết với kháng nguyên, kích hoạt hệ thống bổ thể và huy động các tế bào miễn dịch.

    4.1. Liên kết với kháng nguyên

    Các globulin miễn dịch có khả năng nhận diện và gắn một cách đặc hiệu với 1 kháng nguyên tương ứng nhờ các vùng biến đổi. Trong phản ứng chống độc tố vi khuẩn, kháng thể gắn và qua đó trung hòa độc tố, ngăn ngừa sự bám dính của các độc tố này lên các thụ thể trên bề mặt của tế bào, vì vậy, các tế bào của cơ thể tránh được các rối loạn do các độc tố đó gây ra.

    Một số loại virus, vi khuẩn chỉ gây bệnh khi bám được vào các tế bào cơ thể. Vi khuẩn sử dụng các phân tử bám dính là các adhesive, còn virus sử dụng các protein cố định trên lớp vỏ ngoài để bám vào các tế bào của cơ thể. Các kháng thể kháng các phân tử bám dính adhesive của vi khuẩn và các kháng thể kháng protein capside của virus sẽ ngăn chặn chúng gắn vào các tế bào đích.

    4.2. Hoạt hóa bổ thể

    • Đục các lỗ thủng trên vi khuẩn.
    • Tạo điều kiện cho hiện tượng thực bào.
    • Thanh thải các phức hợp miễn dịch.
    • Phóng thích các phân tử hóa hướng động.

    Một trong những cơ chế bảo vệ cơ thể của kháng thể là sự hoạt hóa dòng thác bổ thể. Bổ thể là một tập hợp các protein huyết tương khi được hoạt hóa sẽ có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn xâm nhập bằng các cách:

    4.3. Huy động các tế bào miễn dịch

    Sau khi gắn vào kháng nguyên ở đầu biến đổi, kháng thể có thể liên kết với các tế bào miễn dịch ở đầu hằng định. Những tương tác này có tầm quan trọng đặc biệt trong đáp ứng miễn dịch. Bằng cách này, các kháng thể có khả năng gắn với một vi khuẩn với một đại thực bào và kích hoạt hiện tượng thực bào. Các tế bào lympho giết tự nhiên có thể thực hiện chức năng độc tế bào và ly giải các vi khuẩn hoặc tế bào ung thư đã bị gắn kết bởi các kháng thể.

    5. Bổ sung kháng thể cho cơ thể bằng đường ăn uống

    Muốn có một cơ thể khỏe mạnh thì cơ thể chúng ta cần bổ sung đầy đủ rất nhiều yếu tố như: Chất dinh dưỡng, đạm, chất béo, vitamin và nhiều khoáng chất khác, … Và đặc biệt là cần bổ sung nhiều kháng thể để tăng cường khả năng nhận biết và tiêu diệt vi khuẩn cho cơ thể.

    Để bổ sung kháng thể cho cơ thể nên sử dụng một số sản phẩm như: Sữa non, Mật ong, vì trong sữa non có thành phần IgG, IgA, IgM…rất quan trọng, giúp tăng sức đề kháng. Mật ong có tính kháng khuẩn giúp làm đẹp, chữa ho, bệnh dạ dày hiệu quả.

    Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 1. Nêu Các Bậc Cấu Trúc Của Prôtêin
  • Bài 4 $5. Lipit Và Protein T4 Doc
  • Cho Các Phát Biểu Sau Về Chức Năng Của Protein:
  • Cấu Trúc Của Màng Bào Tương: Chức Năng, Cơ Chế Hoạt Động, Định Nghĩa, Phân Loại
  • Protein Màng Te Bao Hoc Pptx
  • Biện Pháp Hạn Chế Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh

    --- Bài mới hơn ---

  • Kháng Kháng Sinh Là Gì? Giải Pháp Kháng Kháng Sinh Hiện Nay
  • Báo Động Tình Trạng Kháng Kháng Sinh Tại Việt Nam Và Giải Pháp
  • Giải Pháp Mở Rộng 2022: ‘vua’ Thắng ‘hoàng Tử’ Sân Đất Nện
  • Giải Pháp Mở Rộng 2022: Federer Chờ Quá Lâu Để ‘giải Bài Toán Đố’ Nadal
  • Nadal ‘chật Vật’ Vượt Qua Đàn Em Medvedev, Đăng Quang Ngôi Vô Địch Mỹ Mở Rộng
  • Vi khuẩn ngày càng có xu hướng kháng lại các thuốc kháng sinh ngay cả những loại kháng sinh thế hệ mới. Qua các công trình nghiên cứu ở nhiều cơ sở bệnh viện khác nhau và ở các lĩnh vực khác nhau tại Việt Nam cho thấy, có rất nhiều loại vi khuẩn không những chỉ kháng lại một hay hai loại thuốc kháng sinh mà còn kháng lại nhiều thuốc kháng sinh.

    Vi khuẩn kháng kháng sinh có nhiều cơ chế khác nhau và cũng có nhiều nguyên nhân làm cho vi khuẩn kháng thuốc.

    Một số nét về kháng sinh

     

    Muốn biết có nên dùng kháng sinh hay chưa phải cho người bệnh đi khám bệnh. Phải được bác sĩ khám bệnh khi nghi bị bệnh nhiễm trùng. Tuyệt đối không tự động mua thuốc kháng sinh để dùng cho bản thân hoặc người nhà.

    Kháng sinh là một chất mà ở ngay nồng độ thấp cũng có thể ức chế hoặc tiêu diệt vi khuẩn. Nguồn gốc của kháng sinh có thể từ thiên nhiên hoặc kháng sinh có nguồn gốc từ tổng hợp hoặc bán tổng hợp. Người ta chia kháng sinh thành 3 loại, đó là kháng sinh đặc hiệu, kháng sinh phổ rộng và kháng sinh phổ hẹp. Kháng sinh đặc hiệu là các loại kháng sinh có khả năng tác động lên một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn nhất định (Spectinomycin tác động lên vi khuẩn lậu). Các loại kháng sinh phổ rộng có hoạt tính đối với nhiều loại vi khuẩn khác nhau. Kháng sinh phổ hẹp là các loại kháng sinh chỉ tác động lên một số vi khuẩn mà thôi. Về nguyên tắc, chỉ sử dụng kháng sinh để điều trị các bệnh do vi khuẩn gây nên (hoặc vi nấm), không dùng kháng sinh để điều trị bệnh do virut gây ra. Khi kháng sinh được đưa vào cơ thể có thể theo đường uống, đường tiêm, qua niêm mạc hoặc ngấm qua da nhưng dù hình thức nào đi nữa thì kháng sinh cũng tác động lên bản thân vi khuẩn để làm cho chúng ngưng hoạt động hoặc chết.

    Một số biện pháp nhằm ngăn chặn vi khuẩn kháng thuốc  kháng sinh

    Hiện nay, vi khuẩn có xu hướng kháng lại một hoặc nhiều loại thuốc kháng sinh gọi là vi khuẩn đa đề kháng. Ví dụ như vi khuẩn tụ cầu, trong đó tụ cầu vàng (S.aureus), trực khuẩn mủ xanh (P.aeruginosa), E.coli, lậu cầu, vi khuẩn lao, vi khuẩn lỵ (Shigella)… kháng lại rất nhiều loại kháng sinh. Việc vi khuẩn kháng lại kháng sinh và kháng lại nhiều kháng sinh trong một thời điểm, gây không ít khó khăn cho việc điều trị các bệnh nhiễm khuẩn, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn nặng, cấp tính như nhiễm trùng vết thương, nhiễm trùng vết mổ, nhiễm trùng huyết, áp-xe phủ tạng, bệnh lao phổi, viêm đường sinh dục – tiết niệu… Để hạn chế vi khuẩn kháng thuốc, trước hết cần lưu ý là chỉ khi nào mắc bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn mới dùng thuốc kháng sinh. Hiện nay, việc tự động mua thuốc kháng sinh để dùng và việc dược tá tự do bán thuốc kháng sinh khi người mua yêu cầu là khá phổ biến, chính lý do này càng làm cho vi khuẩn kháng thuốc tăng lên. Khi đã được bác sĩ khám và kê đơn mua thuốc kháng sinh thì cần tuyệt đối tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ, không nên tự động thay đổi thuốc, thay đổi liều lượng hoặc thay đổi cách dùng thuốc khác với đơn của bác sĩ đã cho (ví dụ đổi thuốc kháng sinh hoặc dùng được vài ba hôm thấy hết sốt thì ngưng không dùng kháng sinh…). Khi bị bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn (bác sĩ đã xác định) thì bác sĩ cần cho bệnh nhân dùng một trong các loại thuốc có phổ hẹp ngay từ ban đầu, không nên cho kháng sinh phổ rộng dễ dẫn đến vi khuẩn kháng thuốc. Hiện nay, ở nhiều cơ sở đã có khả năng thử nghiệm xác định độ nhạy cảm của vi khuẩn với kháng  sinh (gọi là kỹ thuật kháng sinh đồ), vì vậy bác sĩ nên dựa vào kết quả đó để lựa chọn kháng sinh cho thích hợp, trong trường hợp chưa có kỹ thuật này thì nên dựa vào phác đồ điều trị của Bộ Y tế để thực hiện. Ngoài ra, bác sĩ kê đơn cũng cần dựa vào tính động học của thuốc kháng sinh, dựa vào tính chất của từng loại thuốc kháng sinh (ví dụ trẻ em không dùng những loại thuốc gì) và không nên dùng kháng sinh phổ rộng hay kháng sinh thế hệ mới ngay từ lần đầu tiên điều trị cho người bệnh. Nếu không tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này thì rất dễ làm cho vi khuẩn ngày càng kháng lại thuốc kháng sinh. Vấn đề diệt mầm bệnh vi khuẩn cũng đóng góp làm giảm sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn. Vì vậy, trong các cơ sở y tế cần có các biện pháp vô trùng và tiệt trùng một cách nghiêm ngặt để không cho vi khuẩn tồn tại, phát triển và lan rộng. Môi trường bệnh viện (khoa phòng, bệnh phòng, phòng mổ, phòng đẻ, phòng sơ sinh…), dụng cụ y tế, quần áo, chăn, màn dùng cho bệnh nhân luôn được vô trùng. Vô trùng và tiệt trùng trang thiết bị và dụng cụ y tế là những khâu hết sức quan trọng để tiêu diệt các loại mầm bệnh vì trong đó có vô vàn các loại vi khuẩn và vi khuẩn kháng thuốc.

    Theo Sức khỏe và đời sống

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Sức Đề Kháng
  • Giải Pháp Mới Để Tìm Ra Vi Khuẩn Kháng Kháng Sinh
  • Khắc Phục Tình Trạng Sống Ảo Của Giới Trẻ Theo Tinh Thần Phật Giáo
  • Giới Trẻ Sống Ảo Và Cách Khắc Phục
  • Ngăn Giới Trẻ Sống Ảo, Mất Phương Hướng
  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto
  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương
  • Những quy tắc GATT về trợ cấp quy định trong điều XVI được làm rõ và nêu chi tiết tại. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM) và Hiệp định nông nghiệp. Nói rộng ra, các điều khoản của Hiệp định SCM áp dụng cho các sản phẩm côngnghiệp; còn các điều khoản của Hiệp định nông nghiệp áp dụng cho các sản phẩmnông nghiệp.

    Hiệpđịnh SCM thừa nhận rằng chính phủ dung các khoản trợ cấp để đạt những mục đíchchính sách khác nhau. Tuy nhiên, Hiệp định hạn chế quyển của chính phủ trợ cấptác động bóp méo thương mại. Những quy tắc của Hiệp định là phức tạp.

    Hiệp định phân chia trợ cấp thành trợ cấp bị cấm và trợ cấp được chấp nhận. Trợ cấp bị cấm bao gồm cả trợ cấp xuất khẩu.Trước đây, quy tắc chống việc sử dụng trợ cấp xuất khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp chỉ áp dụng ở những nước phát triển; nay Hiệp định mở rộng quy tắc này sang các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển có thời kỳ quá độ 8 năm để chuyển thực hành trợ cấp cho phù hợp với nguyên tắc. Trong thời kỳ này, các nước này không được tăng mức trợ cấp xuất khẩu.Quy tắc nói trên chống dung trợ cấp xuất khẩu không áp dụng cho những nước chậm phát triển và đang phát triển có mức GNP tính theo đầu người thấp hơn 1000 USD.

    Mọi khỏan trợ cấp không bị cấm coi là được chấp nhận. Các khoản trợ cấp được chấp nhận chia làm hai loại: Trợ cấp có thể khiếu kiện và trợ cấp không thể khiếu kiện.

    Hiệp định nêu ra hai hình thức chế tài khi trợ cấp của chính phủ gây ra “những tác độngxấu” tới lợi ích thương mại của những nước khác.

    Lần lượt như vậy, cả trường hợp khi có những thiệt hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất trong nước lẫn cả trường hợp có những tác động ngược lại khác, nước nhập khẩu có thể đưa vấn đề ra trước Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) để đảm bảo nước áp dụng trợ cấp rút bỏ hoặc điều chỉnh tác động đang gây ra.

    Chính phủ áp dụng trợ cấp nhằm đạt những mục tiêu chính sách khác nhau. Vì vậy, có thể sẵn sang thực hiện trợ cấp để thúc đẩy sự phát triển những ngành sản xuất mới;để khuyến khích đầu tư và thiết lập các ngành công nghiệp trong những vùng lạc hậu trong nước; để hỗ trợ các ngành sản xuất phát triển xuất khẩu; để cải thiện cơ sở hạ tầng sản xuất nông nghiệp và bảo đảm thunhập hợp lý cho nông dân.

    Nhữngquy tắc GATT chi phối sử dụng trợ cấp là phức tạp, đối với nông sản thường khác với công nghệ phẩm. Những điều khoản chủ yếu của GATT về trợ cấp được nêu chitiết trong Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), và trong Hiệp định nông nghiệp. Trừ một vài ngoại lê, những điều khoản của Hiệp định SCM áp dụng cho công nghệ phẩm; những điều khoản của Hiệp định nông nghiệp chi phối nông phẩm. Những quy tắc của Hiệp định SCM đựơc mô tả trong chương này, còn chương 15 dành cho nông nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 17: Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Hại Cây Trồng
  • Giải Pháp Điều Hòa Tinh Tế, Đẳng Cấp Cho Các Căn Biệt Thự
  • 8 Giải Pháp Lắp Đặt Điều Hòa Không Khí Hiệu Quả
  • Biện Pháp Thi Công Hệ Thống Điều Hòa Không Khí
  • Giải Pháp Điều Hòa Nhiệt Độ Thông Minh
  • Làm Gì Để Phòng Ngừa Đề Kháng Kháng Sinh?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Khoa Học Toàn Quốc Về Phòng Chống Kháng Kháng Sinh
  • Ngăn Chặn Bạo Lực Học Đường: Trách Nhiệm Không Của Riêng Ai
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Các Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế
  • Các Giải Pháp, Kiến Nghị Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Phòng, Chống Tội Phạm Về Xâm Hại Tình Dục Đối Với Phụ Nữ Và Trẻ Em Gái
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Các Phong Trào Thi Đua Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới Trên Địa Bàn Xã…….. – Bài Phát Biểu
  • Option 1: Làm gì để phòng ngừa đề kháng kháng sinh?

    Option 2: Viễn cảnh khó lường của đề kháng kháng sinh cần sự chung tay của đội ngũ y tế

    Option 3: Đề kháng kháng sinh – hành động ngay bây giờ hoặc không bao giờ

    Viễn cảnh quay trở lại thời kì chưa có kháng sinh khi các vết thương nhỏ như đứt tay, trầy xước, hay các nhiễm trùng thông thường cũng có thể dễ dàng cướp đi sinh mạng con người, đang đặt ra thách thức lớn cho ngành y tế: hành động ngay bây giờ hay không bao giờ còn kịp nữa!

    Sự “xâm lược” của những vi khuẩn ngày càng thông minh hơn

    Đề kháng kháng sinh là vấn đề không còn quá mới khi thế giới đang ngày ngày chứng kiến hậu quả đáng sợ của nó: hàng trăm nghìn người chết mỗi năm và phải chi hàng trăm tỷ USD để kiểm soát đề kháng thuốc. Tuy nhiên không phải ai cũng thật sự hiểu về vấn nạn toàn cầu này.

     

    Theo PGS. TS. BS Trần Văn Ngọc – Chủ tịch Hội Hô hấp chúng tôi cơ chế của đề kháng kháng sinh có thể được hiểu đơn giản như sau: khi người bệnh sử dụng kháng sinh, thuốc sẽ tiêu diệt tất cả các loại vi khuẩn, trừ một số loại có khả năng kháng thuốc do có gene đột biến và ngày càng thông minh hơn nên có thể vô hiệu hóa cơ chế hoạt động của kháng sinh. Những vi khuẩn kháng thuốc này tiếp tục phát triển, nhân lên, phát tán và lây nhiễm những người khác như một cuộc “xâm lược” ồ ạt của quần thể kháng kháng sinh khiến thuốc kháng sinh dần mất tác dụng, gây ra tình trạng đề kháng thuốc.

    Vi khuẩn đang ngày một “tinh vi”, phát triển nhanh hơn so với kháng sinh

     Kê kháng sinh khi không cần thiết và bệnh nhân không tuân thủ điều trị là hai nguyên nhân hàng đầu của đề kháng kháng sinh. Ngoài ra cũng phải kể đến các nguyên nhân khác cũng quan trọng không kém như lạm dụng kháng sinh trong chăn nuôi, hệ thống vệ sinh yếu kém, kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện và phòng khám chưa tốt, chưa có kháng sinh mới.

    Ngăn đề kháng kháng sinh – sứ mệnh khẩn của ngành y tế

    Trong bối cảnh tỷ lệ tử vong do các bệnh truyền nhiễm trong vòng 5 năm gần đây tại Việt Nam tăng khá cao (30% tử vong tại các cơ sở y tế công lập), trong đó đáng chú ý nhất là: chỉ kê toa kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn, tối ưu hóa dược lâm sàng khi kê toa, và khuyến khích bệnh nhân tuân thủ điều trị. Việc tìm ra đúng tác nhân gây bệnh trở thành vấn đề mấu chốt trong việc quyết định chọn kháng sinh phù hợp, hoặc phối hợp các kháng sinh hợp lý, trong đó nhất thiết phải chú ý giữ gìn kháng sinh cũ, những kháng sinh còn hiệu quả nhất định theo phác đồ điều trị. Về phía các dược sĩ cần lưu ý về cảnh giác dược, tương tác thuốc, và quản lý sử dụng thuốc nhằm hạn chế tối đa các trường hợp phản ứng có hại của thuốc, đảm bảo “4 chữ Đ” trong lựa chọn kháng sinh là: đúng thuốc, đủ liều, đủ thời gian và đúng cách. 

     

    Nghiên cứu và phát triển kháng sinh mới bên cạnh tìm kiếm các giải pháp thay thế cần được tiếp tục không ngừng

     

    Mặt khác, bên cạnh hướng đi truyền thống là nghiên cứu kháng sinh mới, các công ty dược phẩm hiện nay cũng đang tìm kiếm các giải pháp hỗ trợ hoặc thay thế để hạn chế phụ thuộc vào kháng sinh. Chẳng hạn như bên cạnh các nỗ lực điều chế vắc-xin mới nhằm bảo vệ cộng đồng trước các tác nhân gây bệnh, phải kể đến sáng kiến về Khảo sát đề kháng kháng sinh (SOAR) mà tập đoàn GSK đang thực hiện tại nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới nhằm đo lường độ nhạy cảm của các tác nhân vi khuẩn gây nhiễm khuẩn đường hô hấp mắc phải trong cộng đồng, đánh giá về hiệu quả của kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp, hỗ trợ phát triển các phác đồ điều trị mới có hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao ý thức của giới y tế và khuyến khích sự tuân thủ tốt hơn với các nguyên tắc chỉ định/sử dụng kháng sinh hợp lý trong hệ thống chăm sóc sức khỏe và cộng đồng.

     

     

    REFERENCES

    http://suckhoedoisong.vn/so-ca-tu-vong-do-cac-benh-truyen-nhiem-tang-nhanh-n136179.html

     

    https://www.linkedin.com/pulse/combating-resistance-8-steps-doctors-should-take-when-gudrun-maechler/?trackingId=qyH6B6%2Bv91BUzvqQ1um1hQ%3D%3D

     

    http://suckhoedoisong.vn/so-ca-tu-vong-do-cac-benh-truyen-nhiem-tang-nhanh-n136179.html

    https://www.linkedin.com/pulse/combating-resistance-8-steps-doctors-should-take-when-gudrun-maechler/?trackingId=qyH6B6%2Bv91BUzvqQ1um1hQ%3D%3D

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Biện Pháp Hành Động Để Ngăn Chặn Vi Khuẩn Kháng Thuốc
  • Tổng Hợp Các Giải Pháp, Phương Pháp Học Trực Tuyến Hiệu Quả
  • Phòng Họp Trực Tuyến Bao Gồm Những Thiết Bị Gì? Chi Phí Đầu Tư Phòng Họp Trực Tuyến
  • Thiết Bị Phòng Họp Trực Tuyến Bao Gồm Những Gì? Bảng Giá
  • Vấn Đề Vệ Sinh Trường Học – Giải Pháp Nào Tối Ưu Nhất?
  • Sự Khác Nhau Giữa Biện Pháp Thuế Chống Bán Phá Giá Và Biện Pháp Thuế Đối Kháng Theo Quy Định Của Wto

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệp Định 217/wto/vb Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng
  • Hỗ Trợ Pháp Lý Dành Cho Doanh Nghiệp
  • 7 Giải Pháp Cho Phát Triển Kinh Tế Bền Vững
  • Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Địa Phương
  • Một Số Giải Pháp Cho Kinh Tế Việt Nam Mùa Dịch Covid
  • Tuy nhiên, cần nhận thức một cách đầy đủ rằng, các quy tắc thương mại trong WTO là kết quả của một quá trình đàm phán lợi ích, trong đó một mặt các quốc gia phải cam kết mở cửa thị trường, mặt khác họ lại tạo ra các công cụ pháp lý để bảo vệ nền sản xuất trong nước. Trong không ít trường hợp, những công cụ được thiết lập nhân danh thương mại công bằng, an ninh an toàn, bảo vệ môi trường… lại được sử dụng vì mục tiêu bảo hộ, và do đó chúng trở thành những rào cản, rủi ro pháp lý “hữu hình” đối với doanh nghiệp xuất khẩu.

    Có thể kể đến một số loại “rủi ro” đã được ghi nhận trong WTO như sau:

    Các hàng rào kỹ thuật (TBT) và vệ sinh động thực vật (SPS)

    Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) và Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) của WTO cho phép các quốc gia áp đặt một hệ thống quy định về các tiêu chuẩn kỹ thuật và những quy tắc vệ sinh dịch tễ mà hàng hóa nhập khẩu bắt buộc phải tuân thủ. Về nguyên tắc, các quốc gia phải áp dụng các quy định này vì mục đích chính đáng (an ninh quốc gia, chống gian lận, bảo vệ an toàn sức khoẻ, tính mạng con người, động thực vật…), trên cơ sở các căn cứ khoa học và không phân biệt đối xử đối với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác nhau (trừ trường hợp nông phẩm từ các nước hay vùng nhiễm dịch), giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu… nhằm đảm bảo rằng các quy định này không trở thành những rào cản không cần thiết đối với thương mại.

    Trên thực tế, do mỗi quốc gia đều có quyền tự thiết lập một hệ thống tiêu chuẩn của riêng mình (các tiêu chuẩn quốc tế chỉ mang tính khuyến nghị, không bắt buộc áp dụng), không ít những trường hợp các tiêu chuẩn và quy tắc vệ sinh này trở thành rào cản khiến hàng hóa từ các nước xuất khẩu, đặc biệt là các nước đang phát triển, không thể tiếp cận được thị trường.

    (3) Tiêu chuẩn, quy tắc về thuật ngữ và ký hiệu đối với sản phẩm;

    (4) Các yêu cầu về đóng gói và ghi nhãn mác.

    Trong khi các tiêu chuẩn kỹ thuật được áp dụng đối với hàng hóa nói chung, các quy tắc vệ sinh dịch tễ (kiểm dịch động thực vật) chỉ áp dụng đối với nông phẩm (sản phẩm thô hoặc đã chế biến) nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, tránh các bệnh lây nhiễm từ vật nuôi, cây trồng, tránh các loại sâu và dịch bệnh. WTO cho phép các quốc gia được áp dụng các quy tắc kiểm dịch động thực vật tạm thời để đề phòng lan truyền dịch ngay cả khi chưa có đủ bằng chứng khoa học và họ có quyền phân biệt đối xử giữa nông phẩm có xuất xứ khác nhau.

    Các sản phẩm thường bị áp đặt các điều kiện kiểm dịch vệ sinh dịch tễ bao gồm:

    – Nước quả và các chế phẩm thực phẩm.

    – Thịt và các sản phẩm thịt.

    – Các sản phẩm thực phẩm chế biến.

    – Tập hợp thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật và biện pháp kiểm dịch của nước nhập khẩu (để biết trước các điều kiện đối với hàng hóa trước khi xuất khẩu).

    – Thiết lập hệ thống chất lượng ổn định (để đảm bảo đáp ứng các tiêu chuẩn ngay trong quá trình sản xuất sản phẩm).

    – Hiểu biết đầy đủ về các hạn chế của WTO đối với quyền quyết định các tiêu chuẩn kỹ thuật và vệ sinh dịch tễ của các quốc gia để tự khiếu kiện hoặc thông qua Nhà nước khiếu kiện bảo vệ quyền lợi khi cần thiết.

    Về nguyên tắc, hàng hóa nhập khẩu vào một nước chỉ có thể bị áp đặt thuế chống bán phá giá hay trợ cấp nếu qua điều tra cho thấy:

    (1) Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá hoặc được trợ cấp;

    (2) Có thiệt hại đáng kể đối với ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa nước nhập khẩu;

    (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá (trợ cấp) và thiệt hại nói trên.

    Thủ tục điều tra được tiến hành nếu có đơn kiện hợp lệ của ngành sản xuất trong nước và phải áp dụng đầy đủ các trình tự đảm bảo quyền tự bảo vệ của các bên.

    Vấn đề là trong thực tế, cơ quan điều tra nước nhập khẩu có quyền khá lớn trong việc điều tra và ra quyết định trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp, vì vậy chuyện họ có thể thiếu khách quan trong điều tra, bênh vực doanh nghiệp nội địa, ra quyết định bất lợi cho doanh nghiệp xuất khẩu cũng là điều dễ hiểu. Hiện tượng này đặc biệt dễ xảy ra đối với các doanh nghiệp từ những nước chưa được xem là có nền kinh tế thị trường như Việt Nam. Ngoài ra, vì các vụ kiện này được khởi xướng bởi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu, nên khả năng xảy ra cũng lớn hơn.

    – Hiểu biết đầy đủ về bản chất của các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

    – Tham gia tích cực vào các vụ kiện (để có được kết luận điều tra có lợi).

    – Có biện pháp chủ động (điều chỉnh thị phần, giá, tốc độ gia tăng khối lượng nhập khẩu tại các thị trường…) ngay khi ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu tạo sức ép hay có nguy cơ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp.

    Trong những trường hợp như vậy, rủi ro có thể xảy ra đối với hàng hóa nhập khẩu của doanh nghiệp ngay cả khi lượng hàng xuất khẩu của họ không lớn và họ hoàn toàn cạnh tranh công bằng.

    Trên thực tế, các nước thường ít sử dụng biện pháp tự vệ (mặc dù họ vẫn có toàn quyền điều tra, quyết định như trong các vụ kiện chống bán phá giá, trợ cấp) bởi hệ quả kéo theo thường khá lớn (bởi họ phải dự kiến đến các cách thức bồi thường thương mại đối với các nước có hàng hóa bị áp đặt biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, đây vẫn là một rủi ro mà doanh nghiệp phải tính đến khi xuất khẩu hàng hóa (bằng cách có hiểu biết đầy đủ về các nguyên tắc tự vệ, có biện pháp điều chỉnh thị trường thích hợp trong trường hợp bị áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu…).

    Những rủi ro pháp lý khác

    – Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, hoạt động thương mại của doanh nghiệp Việt Nam sẽ được áp dụng các nguyên tắc pháp lý chung như nguyên tắc tối huệ quốc (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa từ các nước xuất khẩu khác), đối xử quốc gia (hàng hóa được đối xử bình đẳng với hàng hóa nội địa nước nhập khẩu)… Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, các quy tắc xương sống của WTO này đều có ngoại lệ (vì mục tiêu an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường…). Do đó, doanh nghiệp cần đặc biệt chú ý đến những biện pháp áp dụng quyền ngoại lệ này của các quốc gia khi xuất khẩu hàng hóa.

    Đối với doanh nghiệp Việt Nam, ngoài những rủi ro pháp lý “hữu hình” có thể gặp phải như đã nói trên, những rủi ro khác, xuất phát từ nhận thức hay cách ứng xử không theo tinh thần thượng tôn pháp luật, có thể gây ra những tổn thất không nhỏ trong quá trình hội nhập nếu không được nhận biết đầy đủ.

    Rủi ro từ nhận thức

    – Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về các quyền của mình: WTO buộc các quốc gia phải hành xử (bằng các quy định và thủ tục) theo cách hạn chế tối đa các rào cản thương mại. Cơ hội cũng từ đó mà mở ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tiếp cận thị trường và cạnh tranh với hàng nội địa nước nhập khẩu. Vì thế, nếu không biết về các nghĩa vụ của các quốc gia theo quy định của WTO (tương ứng với đó là quyền của doanh nghiệp) cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp bỏ qua các cơ hội mà mình lẽ ra được hưởng.

    – Rủi ro từ việc không nhận biết đầy đủ về hệ th ng pháp luật thương mại nước nhập khẩu: hoạt động thương mại trên lãnh thổ một nước phải tuân thủ hệ thống pháp luật nội địa nước đó. Ở các quốc gia nơi mọi vấn đề được xử lý theo pháp luật, không hiểu biết về pháp luật và hoặc thiếu ý thức tôn trọng pháp luật sẽ là nguy cơ lớn khi tiến hành hoạt động thương mại.

    Rủi ro từ cách hành xử

    – Rủi ro từ việc không thực hiện đúng cam kết, đúng pháp luật (pháp luật thương mại quốc tế hoặc pháp luật quốc gia): Cách hành xử tuỳ tiện, không tuân thủ hợp đồng hay pháp luật có thể kéo theo những thiệt hại vật chất lớn cho doanh nghiệp, bởi doanh nghiệp có thể phải chịu các hình thức bồi thường, phạt vi phạm… rất nghiêm khắc;

    – Rủi ro từ việc không sử dụng, không tham gia các phương thức giải quyết tranh chấp: ứng xử theo thói quen, bỏ qua nguyên tắc, coi thường pháp luật trong trường hợp này có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề bởi (1) nếu không sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp thì doanh nghiệp không thể bảo vệ quyền lợi của mình; (2) nếu không tham gia tích cực vào các quá trình giải quyết tranh chấp, doanh nghiệp sẽ tự làm mất cơ hội chứng minh cho mình.

    – Rủi ro từ việc không thực hiện các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp: Trong các tranh chấp, phán quyết của Toà hay quyết định của trọng tài có giá trị bắt buộc phải tuân thủ và pháp luật các nước có những cơ chế hữu hiệu để thực thi các phán quyết/quyết định này. Việc từ chối, bất hợp tác hay trốn tránh các nghĩa vụ này có thể phải trả những cái giá rất đắt.

    (Bài trình bày tại Hội thảo “Gia nhập WTO: Những thách thức quản lý“)

    TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Hiệp Định Về Trợ Cấp Và Các Biện Pháp Đối Kháng (Scm)
  • Bài 17: Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Hại Cây Trồng
  • Giải Pháp Điều Hòa Tinh Tế, Đẳng Cấp Cho Các Căn Biệt Thự
  • 8 Giải Pháp Lắp Đặt Điều Hòa Không Khí Hiệu Quả
  • Biện Pháp Thi Công Hệ Thống Điều Hòa Không Khí
  • Biện Pháp Nâng Cao Hệ Số Công Suất Phản Kháng

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hệ Số Công Suất Phụ Tải Page 4
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hệ Số Công Suất Phản Kháng
  • Bàn Về Giải Pháp Chống Các Thế Lực Thù Địch Lợi Dụng Vấn Đề Dân Tộc, Tôn Giáo Ở Vùng Tây Bắc
  • Giải Pháp Phòng Chống Các Thế Lực Thù Địch Xuyên Tạc Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Một Số Giải Pháp Phòng, Chống Chiến Tranh Tâm Lý Của Các Thế Lực Thù Địch (Tiếp Theo)
  • 1. Phương pháp nâng cao hệ số cosφ tự nhiên: nâng cao cosφ tự nhiên có nghĩa là tìm các biện pháp để hộ tiêu thụ điện giảm bớt được lượng công suất phản kháng mà chúng cần có ở nguồn cung cấp.

    – Thay đổi và cải tiến quá trình công nghệ để các thiết bị điện làm việc ở chế độ hợp lý nhất.

    – Thay thế các động cơ làm việc non tải bằng những động cơ có công suất nhỏ hơn.

    – Hạn chế động cơ chạy không tải.

    – Ở những nơi công nghệ cho phép thì dùng động cơ đồng bộ thay cho động cơ không đồng bộ.

    – Thay biến áp làm việc non tải bằng máy biến áp có dung lượng nhỏ hơn.

    2. Phương pháp nâng cao hệ số cosφ nhân tạo: p hương pháp này được thực hiện bằng cách đặt các thiết bị bù công suất phản kháng ở các hộ tiêu thụ điện. Các thiết bị bù công suất phản kháng bao gồm:

    a. Máy bù đồng bộ: chính là động cơ đồng bộ làm việc trong chế độ không tải.

    • Ưu điểm: máy bù đồng bộ vừa có khả năng sản xuất ra công suất phản kháng, đồng thời cũng có khả năng tiêu thụ công suất phản kháng của mạng điện.
    • Nhược điểm: máy bù đồng bộ có phần quay nên lắp ráp, bảo dưỡng và vận hành phức tạp. Máy bù đồng bộ thường để bù tập trung với dung lượng lớn.

    b. Tụ bù điện: làm cho dòng điện sớm pha hơn so với điện áp do đó, có thể sinh ra công suất phản kháng cung cấp cho mạng điện.

    – Công suất nhỏ, không có phần quay nên dễ bảo dưỡng và vận hành.

    – Có thể thay đổi dung lượng bộ tụ bù theo sự phát triển của tải.

    – Giá thành thấp hơn so với máy bù đồng bộ.

    – Nhạy cảm với sự biến động của điện áp và kém chắc chắn, đặc biệt dễ bị phá hỏng khi ngắn mạch hoặc điện áp vượt quá định mức. Tuổi thọ tụ bù có giới hạn, sẽ bị hư hỏng sau nhiều năm làm việc.

    – Khi đóng tụ bù vào mạng điện sẽ có dòng điện xung, còn lúc cắt tụ điện khỏi mạng trên cực của tụ vẫn còn điện áp dư có thể gây nguy hiểm cho người vận hành.

    – Sử dụng tụ bù điện ở các hộ tiêu thụ công suất phản kháng vừa và nhỏ (dưới 5000 kVAr).

    Mua tụ bù tốt nhất ở Hà Nội, chỉ có thể đến Nuintek Việt Nam.

    Hotline: 0968836666

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hệ Số Công Suất Phụ Tải
  • Nâng Cao Hệ Số Công Suất : Biện Pháp Tiết Kiệm Điện Đơn Giản Mà Hiệu Quả
  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hệ Số Công Suất Cosphi
  • Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Đảng Trong Đảng Bộ Trường Đại Học Pccc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nhằm Cải Tiến Và Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Của Trường Thpt Lê Hồng Phong Trong Quá Trình Thực Hiện Nghị Quyết Của Đại Hội Lần Thứ Xi Và Thục Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Lò Vi Sóng Đối Lưu Là Gì

    --- Bài mới hơn ---

  • Lò Vi Sóng Hiện Nay Có Những Tính Năng Đặc Biệt Nào?
  • Lò Vi Sóng Đối Lưu Mro
  • Những Chức Năng Hiện Đại Của Lò Vi Song Đời Mới
  • Lò Vi Sóng Có Nướng Đối Lưu Dùng Có Tốt Không?
  • Lò Vi Sóng Đối Lưu Có Nướng Sharp C951Dvn 36 Lít
  • Lò vi sóng đối lưu là gì

    Khá nhiều người tiêu dùng băn khoăn Lò vi sóng đối lưu thành công trong việc kết hợp sự tiện lợi của chiếc lò vi sóng và tính thực tiễn của lò nướng, giúp cho việc nấu và nướng hiệu quả hơn, dễ dàng hơn cho tất cả tay nghề đầu bếp.

    Lò vi sóng đối lưu là thiết bị nhà bếp kết hợp giữa tính dễ dàng và tốc độ của việc nấu bằng lò vi sóng với những lợi ích của bếp nấu truyền thống. Ví dụ, bạn hãy tưởng tượng nướng một con gà tây trong lò vi sóng? Tuy kết quả không được ngon cho lắm, nhưng nướng một con gà tây trong lò thông thường có thể rất mất thời gian. Lò vi sóng đối lưu kết hợp tốt nhất cả hai – thời gian nấu nhanh hơn ngay lúc bấm nút và khả năng thực phẩm có màu “nâu” như gà tây. Lò vi sóng đối lưu được thiết kế để nấu các món ăn, trái cây không chỉ đơn giản là làm nóng và hâm nóng như lò vi sóng.

    Lò vi sóng đối lưu có điều khiển giống như lò nướng thông thường, nhưng chúng cũng có các chức năng của lò vi sóng, vì vậy bạn có thể dễ dàng hâm nóng lại thứ gì đó mà không cần phải đặt lò ở nhiệt độ cụ thể.

    Thay vì sử dụng sóng điện từ để nấu thức ăn như trong lò vi sóng, lò vi sóng đối lưu lưu thông không khí nóng bằng quạt để nấu chín thức ăn. Không khí nóng di chuyển xung quanh thực phẩm, do đó nấu nhanh hơn so với lò thông thường. Hơn nữa, không khí lưu thông giữ nhiệt ổn định tốt hơn so với lò vi sóng thông thường, vì vậy, thực phẩm ra lò sẽ giòn, vàng và chín kỹ hơn. Lò vi sóng đối lưu cũng hoạt động ở nhiệt độ thấp hơn so với lò nướng thông thường.

    Cấu tạo của lò vi sóng đối lưu

    Tất cả các loại thực phẩm có thể được nấu chín hoặc nướng trong lò vi sóng đối lưu sẽ không khác với lò vi sóng: bánh ngọt, bánh nướng, thịt nướng, pizza, bánh quy và nhiều thứ khác.

    Lò vi sóng đối lưu có nhiều kích thước và giá cả khác nhau, tùy thuộc vào nơi chúng sẽ được sử dụng. Ví dụ, nhà bếp công nghiệp sẽ cần một chiếc lớn hơn so với căn bếp gia đình nhỏ. Nếu căn bếp nhà bạn đã có một chiếc lò nướng truyền thống, lò vi sóng đối lưu là lựa chọn tốt để thay thế cho lò truyền thống.

    Lò vi sóng đối lưu tiện lợi, giúp nấu ăn hiệu quả hơn

    Có nhiều lý do để lựa chọn lò vi sóng đối lưu. Có lẽ hấp dẫn nhất là thực tế nó có thể được sử dụng cho cả việc nấu nhanh và thuận tiện cũng như lò có khả năng để nướng hoặc nấu những thứ thường không được đề xuất cho lò vi sóng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Lò Sấy Vi Sóng Công Nghiệp
  • Máy Rửa Bát Có Chức Năng Sấy Không?
  • Tự Làm Trái Cây Sấy Với Lò Vi Sóng Không Thua Kém Gì Ở Tiệm
  • Cách Làm Thịt Bò Khô Bằng Lò Vi Sóng
  • Máy Sấy Gỗ Lò Vi Sóng Dạng Hầm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100