“thực Trạng, Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Lực, Hiệu Quả Việc Áp Dụng Biện Pháp Cưỡng Chế Thi Hành Án Dân Sự Trên Địa Bàn Tỉnh Quảng Ngãi” (Số Liệu Từ Ngày 1/12/2013 Đến 31/5/2015)

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thi Hành Án Dân Sự
  • Người Sáng Kiến Các Giải Pháp Quản Lý Đường Bộ Hà Tĩnh
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Quản Lý Cơ Sở Vật Chất Tài Sản Lớp Học Trường Thcs Thị Trấn Cát Bà
  • Thuyết Minh Mô Tả Thực Hiện Skkn
  • Thuyết Minh Sáng Kiến Một Số Kinh Nghiệm Giúp Học Sinh Lớp 6 Học Tốt Bài “làm Quen Với Một Số Thiết Bị Máy Tính” Ở Trường Thcs Thị Trấn Tam Đường
  • Thứ ba – 08/03/2016 15:32

    I-THỰC TIỄN CÔNG TÁC CƯỠNG CHẾ THADS TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 1- Số lượng việc cưỡng chế THA

    Theo số liệu thống kê “Kiểm sát các vụ cưỡng chế THA” từ ngày 1/12/2013 đến ngày 31/5/2015 các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thực hiện 97 quyết định cưỡng chế để thi hành án cho 154 việc (cấp tỉnh 11 quyết định cưỡng chế thi hành cho 36 việc), tỷ lệ việc cưỡng chế trên số việc có điều kiện là 1,78% (số việc có điều kiện thi hành/tổng số việc phải thi hành là 8.641/9301). Kết quả của công tác cưỡng chế đạt được như sau:

    – 37 vụ cưỡng chế hoàn thành đã thực hiện xong các trình tự thủ tục THA và thanh toán tiền theo quy định của pháp luật, trong đó có 5 vụ sau khi ban hành quyết định cưỡng chế thì người phải THA đã đến cơ quan THA thực hiện việc thi hành án trước khi tổ chức lực lượng cưỡng chế.

    2- Các biện pháp cưỡng chế THA đã được áp dụng

    Trong kỳ các cơ quan THADS trên địa bàn tỉnh chỉ áp dụng 3 trong nhiều biện pháp cưỡng chế THA được quy định tại Điều 71 Luật THADS như sau:

    2.1-Khấu trừ tiền trong tài khoản

    Điều 76 Luật THADS quy định:

    “1- Chấp hành viên ra quyết định khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án. Số tiền khấu trừ không được vượt quá nghĩa vụ thi hành án và chi phí cưỡng chế.

    2.2-Trừ vào thu nhập của người phải THA

    Điều 78 Luật THADS quy định:

    2- Ngay sau khi nhận được quyết định về khấu trừ tiền trong tài khoản của người phải thi hành án, cơ quan tổ chức đang quản lý tài khoản phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định khấu trừ”.

    “1- Thu nhập của người phải thi hành án gồm tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động và thu nhập hợp pháp khác.

    2-Việc trừ vào thu nhập của người phải thi hành án được thực hiện trong các trường hợp sau đây:

    a- Theo thỏa thuận của đương sự;

    b- Bản án, quyết định ấn định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án;

    c- Thi hành án cấp dưỡng, thi hành án theo định kỳ, khoản tiền phải thi hành án không lớn hoặc tài sản khác của người phải thi hành án không đủ để thi hành án.

    3Chấp hành viên ra quyết định trừ vào thu nhập của người phải thi hành án. Mức cao nhất được trừ vào tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức lao động là 30% tổng số tiền được nhận hàng tháng, trừ trường hợp đương sự có thỏa thuận khác. Đối với thu nhập khác thì mức khấu trừ căn cứ vào thu nhập thức tế của người phải thi hành án, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tổi thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

    4Cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi người phải thi hành án nhận tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các thu nhập hợp pháp khác có trách nhiệm thực hiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 điều này”.

    Thực tiễn những năm qua chỉ có 2 Quyết định số 02, 03 cùng ngày 16/8/2010 của Cục THADS tỉnh trừ 25% tiền lương hưu hàng tháng của bà Phạm Thị Thu Trang và 20% tiền trợ cấp thương binh hàng tháng của ông Nguyễn Thanh Phương là vợ và chồng đều ở phường Trần Hưng Đạo, thành phố Quảng Ngãi để thi hành nghĩa vụ phải trả 33.621.042đ và 5 chỉ vàng 24K

    Để thực hiện 2 quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập, Cục THADS đã tổ chức nhiều cuộc họp bàn biện pháp và ban hành nhiều văn bản đề nghị phối hợp gửi các cơ quan Lao động – Thương binh xã hội nơi quản lý tiền trợ cấp của ông Phương và Bảo hiểm xã hội nơi quản lý lương hưu của bà Trang. Tuy nhiên cũng chỉ thu được 20% của 3 tháng trợ cấp thương binh của ông Phương (từ tháng 3 đến tháng 6/2012) và 25% 6 tháng lương hưu của bà Trang (từ tháng 6 đến tháng 12/2011). Sau đó ông Phương và Trang không ký nhận vào danh sách chi trả phụ cấp và lương hưu nên 2 cơ quan (Phòng Lao động -TBXH và Bảo hiểm xã hội) gặp khó khăn trong việc quyết toán tài chính hàng năm và dừng việc khấu trừ để báo cáo thỉnh thị tỉnh, Trung ương, đến năm 2014 các cơ quan ở Trung ương có Thông tư liên tịch số 02/2014/TTLT/BTP-BTC-BLĐTBXH-NHNNVN ngày 14/01/2014 của Bộ Tư Pháp, Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam về việc hướng dẫn cung cấp thông tin về tài khoản, thu nhập của người phải thi hành án và thực hiện phong tỏa, khấu trừ để THADS (có hiệu lực từ ngày 1/3/2014) có quy định rõ:

    “Khi nhận được quyết định khấu trừ vào thu nhập của người phải thi hành án, cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động, Bảo hiểm xã hội nơi đang quản lý tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp và các khoản thu nhập hợp pháp khác của người phải THADS phải khấu trừ tiền để chuyển vào tài khoản của cơ quan THADS hoặc chuyển cho người được thi hành án theo quyết định trừ vào thu nhập.

    Trường hợp trừ vào thu nhập của người phải THADS thông qua Bảo hiểm xã hội thì người phải THADS có trách nhiệm ký nhận vào danh sách chi trả lương hưu hoặc tiền trợ cấp mất sức lao động hàng tháng. Trường hợp người phải THADS cố tình không ký vào biểu mẫu đã quy định thì cần lập biên bản và Chấp hành viên ký thay đương sự đối với số tiền khấu trừ để nhận số tiền khấu trừ đó và chuyển biên lai thu tiền thi hành án cho cơ quan trừ vào thu nhập làm thủ tục quyết toán”

    Sau khi Thông tư liên tịch số 02 nêu trên có hiệu lực, Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi có Công văn số 353/CTHA ngày 31/3/2014 gửi phòng Lao động – Thương binh xã hội số 341 ngày 26/3/2014 gửi Bảo hiểm xã hội đề nghị tiếp tục thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của ông Phương, bà Trang nhưng vẫn không được cơ quan Bảo hiểm xã hội thực hiện. Ngày 4/6/2014 Cục THADS ban hành tiếp Công văn số 705/CTHA gửi cơ quan Bảo hiểm xã hội đề nghị thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của bà Trang nhưng vẫn không được thực hiện triệt để. Ngày 20/1/2015 Cục THADS đã tổ chức cuộc họp bàn phối hợp thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập hàng tháng của bà Trang với thành phần mời đại diện Viện KSND tỉnh, BHXH tỉnh và BHXH cấp huyện. Tại cuộc họp này đại diện VKS đã nêu rõ quan điểm về việc không thực hiện quyết định cưỡng chế trừ vào thu nhập là vi phạm pháp luật, nêu rõ từng quy định cụ thể của điều luật và yêu cầu cơ quan BHXH phải nghiêm túc thực hiện. Kết thúc cuộc họp đã thống nhất kết luận: Bảo hiểm xã hội tỉnh đồng ý tạo thủ tục tài chính kế toán phù hợp với quy định để Bảo hiểm xã hội cấp dưới tiếp tục thực hiện việc khấu trừ thu thập từ lương hưu hàng tháng của bà Phạm Thị Thu Trang. Sau cuộc họp việc thi hành án này được thực hiện thông suốt.

    Như vậy: Luật THADS đã quy định rất rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức … như đã viện dẫn tại khoản 4 Điều 78 nêu trên và trách nhiệm cụ thể của Bảo hiểm xã hội trong THADS được quy định tại Điều 177 Luật THADS như sau:

    “1- Cung cấp đúng, đầy đủ, kịp thời thông tin, số liệu về các khoản thu nhập của người phải thi hành án đang được chi trả qua Bảo hiểm xã hội theo yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự.

    2- Thực hiện nghiêm chỉnh, kịp thời yêu cầu của Chấp hành viên về khấu trừ thu nhập của người phải thi hành án để thi hành án.

    3- Thực hiện đầy đủ yêu cầu khác của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự theo quy định của luật này.

    Tuy nhiên các văn bản dưới luật, các thủ tục hành chính của các cơ quan ban ngành còn chồng chéo, không phù hợp với luật vẫn được áp dụng trong thực tiễn tạo nên mỗi cơ quan, ngành, người hiểu khác nhau, không có sự thống nhất phối hợp THA. Khi có Thông tư liên tịch hướng dẫn rõ những vướng mắc trong thực tiễn sẽ tạo được sự thống nhất, nhưng nếu chỉ cơ quan THADS “Độc lập tác chiến” cũng khó hoàn thành nhiệm vụ – sự tham gia nêu rõ quan điểm, căn cứ pháp luật của đại diện Viện kiểm sát sẽ tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cơ quan THADS trong quá trình thao tác nghiệp vụ để hoàn thành nhiệm vụ chung mà Đảng và Nhà nước giao cho mỗi ngành.

    2.3- Kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án kể cả tài sản đang do người thứ 3 giữ

    2.3.1- Án tuyên không rõ, tuyên sai:

    Thời gian qua các cơ quan THADS đã ban hành 23 văn bản đề nghị Tòa án giải thích, đính chính đối với các bản án, quyết định của Tòa án tuyên không rõ, tuyên sai so với thực tế, đặc biệt là các quyết định công nhận sự thỏa thuận Tòa án tôn trọng quyền định đoạt của các đương sự nhưng khi phát sinh việc thi hành án Chấp hành viên xác minh để cưỡng chế thì đương sự chống đối, khiếu kiện. Kiểm tra cụ thể tài sản nhà cửa, đất trên thực tiễn khác với nội dung công nhận sự thỏa thuận, có bản án có hiệu lực pháp luật từ nhiều năm khi lập kế hoạch cưỡng chế phát hiện vi phạm nhưng đã hết thời hiệu kháng nghị giám đốc thẩm, không thể tổ chức cưỡng chế được

    Ví dụ: Bản án số 01/2006/DSST ngày 11/1/2006 về việc chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông R đại diện và bị đơn là vợ chồng ông M bà B. Tòa án xác định mảnh vườn 1604m2 do vợ chồng ông M, bà B đang quản lý sử dụng là của ông Lâm C bà T (cha, mẹ ông M, R) chết để lại nên chia cho các đồng thừa kế, khi Chấp hành viên phối hợp với Kiểm sát viên xác minh chuẩn bị cưỡng chế theo kiến nghị của Viện kiểm sát thì đương sự cung cấp tài liệu do HTX nông nghiệp xác nhận diện tích đất nêu trên được UBND huyện Tư Nghĩa trước đây cấp cho hộ ông M theo Nghị định 64 của Chính phủ (đất cấp theo định suất cho hộ gia đình, cá nhân nào thì người đó được quyền sử dụng).

    2.3.2- Án xử sai qua nhiều cấp chậm phát hiện xử lý, khi án có hiệu lực pháp luật cơ quan THADS chịu sức ép từ nhiều phía, người được thi hành án khiếu kiện yêu cầu phải kiên quyết tổ chức thi hành án theo quy định của pháp luật; người phải thi hành án thì khiếu kiện kêu oan cho rằng án xử sai nên tìm đủ cách để chống đối việc thi hành án, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng vào cuộc, đơn từ nhiều cơ quan Trung ương đến địa phương chuyển tới; cơ quan THADS phối hợp liên ngành động viên thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành nhiều lần không hiệu quả, họp bàn cưỡng chế thi hành án giữa các cơ quan, ban ngành chưa có sự thống nhất cao vì cảm thấy án tuyên chưa đủ sức thuyết phục; báo cáo thỉnh thị cấp trên và cấp giám đốc thẩm chậm được trả lời.

    -Vụ ” Đòi lại nhà, đất” giữa nguyên đơn vợ chồng ông Lũy bà Hoa và bị đơn vợ chồng ông Khiêm bà Huệ, ông Luận bà Hạnh.

    Vụ án này đã qua 4 lần xét xử với 1 quyết định tái thẩm và 1 quyết định giám đốc thẩm nhưng vẫn chưa giải quyết được.

    Vòng 1 án sơ thẩm số 10/DSST ngày 27/5/2004, án phúc thẩm số 71 ngày 26/11/2004 đều chấp nhận nhà, đất mà vợ chồng anh em Khiêm, Luận đang quản lý sử dụng thuộc quyền sở hữu, sử dụng của vợ chồng Nguyễn Văn Lũy, Hồ Thị Thanh Hoa. Án có hiệu lực pháp luật cơ quan THADS ban hành quyết định thi hành án vào tháng 5/2005, ông Khiêm, ông Luận liên tục khiếu kiện đề nghị TAND tối cao xem xét nhưng không được trả lời. Khi Chủ tịch UBND tỉnh và Bộ trưởng Bộ Tư Pháp có công văn đề nghị thì TAND tối cao trả lời không có căn cứ giám đốc thẩm. Vợ chồng ông Lũy bà Hoa liên tục có đơn gửi đến nhiều cơ quan Trung ương và địa phương khiếu kiện chậm thi hành án. Năm 2007 Chấp hành viên ban hành quyết định cưỡng chế giao nhà và quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lũy, bà Hoa. Quá trình phối hợp họp bàn nhiều lần đi đến thống nhất sẽ tổ chức cưỡng chế vào ngày 19/12/2007 thì ngày 18/12/2007 Chánh án TAND tối cao có Công văn yêu cầu hoãn thi hành án 90 ngày để xem xét giám đốc thẩm nhưng hết thời hạn 90 ngày vẫn không có quyết định kháng nghị giám đốc thẩm. Ngày 24/3/2008 thủ trưởng cơ quan THADS tỉnh ban hành các quyết định tiếp tục thi hành án thì bị vợ chồng ông Khiêm, ông Luận phản đối việc thi hành án. Ngày 3/6/2008 Chủ tịch UBND tỉnh – Trưởng ban chỉ đạo THADS tiếp tục có công văn đề nghị Chánh án TAND tối cao cho biết có kháng nghị giám đốc thẩm hay không nhưng không được phúc đáp. Ngày 23/7/2008 Chủ tịch UBND tỉnh có công văn chỉ đạo và thống nhất kế hoạch cưỡng chế thi hành án nhưng gặp phải sự chống đối gay gắt của người phải thi hành án nên việc cưỡng chế chưa thực hiện được. Đến ngày 16/8/2010 Chánh án TAND tối cao có quyết định tái thẩm số 34/DS-TT hủy toàn bộ 2 bản án nêu trên giao hồ sơ cho TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại.

    Vòng 2 án sơ thẩm số 03/2013/DS-ST ngày 29/5/2013, phúc thẩm số 56/2013/DS-ST ngày 26/9/2013 đều tuyên buộc vợ chồng anh em Khiêm, Luận phải tháo dỡ, chuyển dịch các tài sản trên đất để giao lại mặt bằng cho nguyên đơn (khác so với vòng 1 vì bà Hoa – nguyên đơn đã rút phần yêu cầu đòi lại nhà). Để thi hành án chủ tịch UBND tỉnh thành lập ban vận động thuyết phục tự nguyện thi hành án gồm đại diện Cục THADS, Sở Tư Pháp, Viện kiểm sát, Công an, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân tỉnh Quảng Ngãi và các tổ chức Hội đoàn thể cấp thành phố, cấp phường, tuy nhiên không đạt hiệu quả. Các đương sự tiếp tục khiếu kiện, ngày 26/8/2014 TAND tối cao có Công văn số 17/TANDTC-DS yêu cầu hoãn thi hành án 90 ngày và đến ngày 14/2/2015 Chánh án TAND tối cao có Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 30/2015/KN-DS đề nghị hủy bản án phúc thẩm số 56/2013/DS-PT, giao hồ sơ cho TAND tỉnh xét xử sơ thẩm lại (đến nay chưa xét xử lại)

    Phần xét thấy của kháng nghị có nội dung trái ngược hoàn toàn với quyết định của các bản án đã tuyên trước đây “Có cơ sở xác định, có việc năm 1975 ông Lũy về quê bán nhà, đất ban đầu thỏa thuận bán cho ông Tấn nhưng sau đó chuyển nhượng lại cho ông Thành bà Nhuyễn (cha mẹ các bị đơn). Vì vậy việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng không có việc mua bán nhà, đất năm 1976 và hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Lũy với các người con của ông Thành bị vô hiệu để buộc vợ chồng anh Luận, vợ chồng anh Khiêm trả lại diện tích đất tranh chấp cho bà Hoa và những người thừa kế của ông Lũy là không phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thực tế”

    -Vụ Nguyễn Thị Hạnh – Nguyễn Văn Út phải thi hành Bản án số 01/2013/KDTM-ST ngày 26/3/2013 của TAND huyện trả nợ Ngân hàng TMCP ngoại thương 610.647.524đ. Tài sản đảm bảo để vay tiền là quyền sử dụng đất và nhà của bà Hạnh ông Út.

    Sau khi nhận được bản án có đóng dấu “án đã có hiệu lực pháp luật” của TAND huyện và nhận đơn yêu cầu THA. Chi cục trưởng Chi cục THADS huyện đã ban hành quyết định thi hành án. Hết thời hiệu tự nguyện 15 ngày vợ chồng bà Hạnh, ông Út không tự nguyện thi hành án do đó Chấp hành viên phải tiến hành các thủ tục cưỡng chế kê biên, định giá, bán đấu giá tài sản thế chấp là nhà, đất của bà Hạnh, ông Út.

    3- Đánh giá kết quả công tác cưỡng chế THADS; những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 3.1- Nhận xét, đánh giá

    Trong quá trình Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế kê biên … cho đến khi bán đấu giá thành tài sản thế chấp vợ chồng bà Hạnh, ông Út chưa có biểu hiện gì chống đối mà còn tham gia, phối hợp với Chấp hành viên thực hiện các thủ tục theo trình tự thi hành án. Đến khi nhận được Bản án số 01/2013/KDTM-ST thì bà Hạnh, ông Út viết đơn kháng cáo và thực hiện các động tác chống đối quyết liệt việc cưỡng chế giao nhà cho người mua được tài sản bán đấu giá là ông Trần Văn Hải.

    2.3.3- Tài sản cưỡng chế kê biên đưa ra bán đấu giá nhưng không có người mua phải hạ giá nhiều lần kéo dài thời gian bán đấu giá ảnh hướng đến kết quả cưỡng chế thi hành án. Điển hình như:

    3.2- Những tồn tại, hạn chế

    Thời gian qua công tác cưỡng chế THADS tuy chưa được áp dụng nhiều nhưng kết quả đạt được đã thúc đẩy, khích lệ tiến độ giải quyết việc THADS, tạo niềm tin cho nhân dân về tính nghiêm minh của pháp luật góp phần ổn định tình hình trật tự trị an xã hội.

    Quá trình cưỡng chế được Chấp hành viên chú trọng xác minh đầy đủ lập kế hoạch cẩn thận, trình tự thủ tục đảm bảo đúng quy định của pháp luật, chưa để xảy ra sai sót gì.

    3.3- Nguyên nhân, tồn tại, hạn chế 3.3.1- Nguyên nhân chủ quan:

    Các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, tạo điều kiện cho Chấp hành viên thực hiện các cuộc cưỡng chế được thuận lợi.

    3.3.2- Nguyên nhân khách quan:

    Các quy định của pháp luật về cưỡng chế thi hành án đầy đủ, rõ ràng. Những vụ cưỡng chế khó khăn, phức tạp đều được sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Chủ tịch UBND – Trưởng ban chỉ đạo THADS.

    Theo quy định của pháp luật thì tất cả các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật và phần bản án, quyết định được thi hành ngay nếu hết thời hạn tự nguyện thi hành án người phải thi hành án có điều kiện mà không thi hành thì đều phải áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Tuy nhiên trong thực tiễn việc áp dụng biện pháp cưỡng chế rất ít, tỷ lệ việc cưỡng chế trên số việc có điều kiện thi hành án rất thấp, Chấp hành viên để thời gian động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án kéo dài làm cho số việc có điều kiện thi hành án tồn đọng ngày càng nhiều, tỷ lệ giải quyết việc thi hành án không đáp ứng chỉ tiêu Quốc hội giao.

    Đối với những việc đã áp dụng biện pháp cưỡng chế thì thời gian giải quyết cũng kéo dài, số việc cưỡng chế hoàn thành trên số việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chỉ đạt 38%.

    Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, Chấp hành viên của cơ quan THADS chưa mạnh dạn, kiên quyết áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án, ngại khó khăn, va chạm, sợ làm sai, sợ trách nhiệm do năng lực nghiệp vụ còn hạn chế. Theo thông báo số 17/TB-BTP ngày 11/5/2015 về Kết luận của Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thúy Hiền tại Hội nghị quán triệt triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật THADS và sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2021 là “Ý thức trách nhiệm, tính gương mẫu đi đầu của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, quản lý và Chấp hành viên chưa cao; có trường hợp năng lực chuyên môn chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ; việc chấp hành kỹ cương, kỹ luật một số nơi chưa nghiêm”.

    Số việc và tiền thụ lý tăng cao trong khi biên chế của cơ quan THADS không tăng; thị trường bất động sản chưa khởi sắc trở lại, nhiều tài sản kê biên, bán đấu giá không bán được; công tác phối hợp giữa Trung ương và địa phương còn chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn quản lý (kết luận của Thứ trưởng Bộ Tư Pháp Nguyễn Thúy Hiền)

    Một số bản án, quyết định tuyên không rõ khó thi hành, chậm được giải thích, đính chính, một số án xử sai, vi phạm pháp luật nhưng chậm được phát hiện giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm khi đưa ra bàn biện pháp cưỡng chế thi hành án chưa được sự thống nhất của các cơ quan ban ngành và chính quyền địa phương.

    II- MỘT SỐ GIẢI PHÁP, ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ VIỆC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ THADS

    Để công tác cưỡng chế THADS đạt được hiệu qủa cao và đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp, đề xuất sau:

    – Hiện nay, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN vì vậy việc thực hiện pháp luật đòi hỏi phải đảm bảo pháp chế nghĩa là không những tăng cường hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn phải đảm bảo cho pháp luật đi vào thực tiễn cuộc sống. Các quy định của pháp luật về cưỡng chế THADS phải được các cơ quan, tổ chức, công dân tôn trọng, thực hiện và trước hết đòi hỏi các cơ quan công quyền, các cán bộ công chức cơ quan Nhà nước phải gương mẫu chấp hành. Những văn bản dưới luật, văn bản hướng dẫn chuyên ngành phải phù hợp với quy định của Hiến pháp, Luật, nếu có xung đột thì phải chỉnh sửa và hướng dẫn thực hiện cho đúng luật, các cơ quan cấp trên phải tăng cường hướng dẫn khi có vướng mắc trong thực tiễn.

    – Các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật đưa ra thi hành phải đúng pháp luật, án tuyên phải rõ ràng, đúng với thực tế, đảm bảo tính khả thi. Nếu án có vi phạm pháp luật cần được phát hiện, xử lý kịp thời theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm, nếu người phải thi hành án có đơn khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận thì giải quyết đơn kịp thời, đúng quy định của pháp luật; nếu án tuyên có sai sót, không rõ ràng thì Tòa án có thẩm quyền phải kịp thời đính chính, giải thích theo quy định; trường hợp đương sự có tranh chấp tài sản cưỡng chế kê biên thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đúng thời hạn luật định, không để kéo dài làm ảnh hưởng việc cưỡng chế thi hành án, nếu đương sự có đơn khởi kiện đến Tòa án thì đề nghị Tòa án thụ lý giải quyết sớm theo Quy chế phối hợp liên ngành số 01/QCPH/CTHADS-CA-VKSND-TAND ngày 19/5/2014 của Cục THADS, Công an, Viện KSND, TAND tỉnh Quảng Ngãi.

    – Lãnh đạo, Chấp hành viên cơ quan THADS phải nêu cao tinh thần trách nhiệm và bản lĩnh nghề nghiệp để kiên quyết áp dụng các biện pháp cưỡng chế THADS đối với án có điều kiện mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành. Để tránh sai sót, vi phạm thì trình tự thủ tục xác minh, thông báo, kế hoạch cưỡng chế phải chi tiết, đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

    – Các cơ quan kiểm sát và Kiểm sát viên phải chủ động tăng cường kiểm sát việc phân loại án của Chấp hành viên, những vụ việc có điều kiện để kéo dài thời gian thi hành án thì kiên quyết kiến nghị, yêu cầu Chấp hành viên cưỡng chế thi hành án. Trước khi ban hành kiến nghị phải đọc kỹ hồ sơ tài liệu về xác minh điều kiện thi hành án, xem tài sản định cưỡng chế kê biên có thế chấp ở đâu không và đối chiếu với cơ quan quản lý nơi đăng ký kê khai tài sản để biết. Đối với tài sản có giá trị của người phải thi hành án đã chuyển nhượng, tặng cho, cầm cố, thế chấp … sau khi có bản án, quyết định của Tòa án là hành vi tẩu tán tài sản để trốn tránh nghĩa vụ THADS cần phải yêu cầu cưỡng chế kê biên để thi hành án.

    Trong quá trình kiểm sát việc cưỡng chế kê biên, Kiểm sát viên phải chú ý tính đúng đắn của trình tự, thủ tục cưỡng chế thi hành án theo luật định.

    – Phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên thuyết phục bằng nhiều hình thức trước và ngay tại chỗ khi thực hiện cưỡng chế thi hành án đối với người phải thi hành án và quần chúng nhân dân. Với những vụ khó khăn phức tạp cần tranh thủ sự động viên, thuyết phục của các cấp lãnh đạo, của người bà con thân thích có uy tín đối với người phải thi hành án và gia đình họ.

    – Cần tổng kết rút kinh nghiệm sau cưỡng chế để phát huy mặt mạnh khắc phục những sai sót, vi phạm, tổng hợp thành tài liệu để bồi dưỡng nghiệp vụ về căn cứ pháp luật và thực tiễn kinh nghiệm trong công tác cưỡng chế THADS cho đội ngũ cán bộ làm công tác cưỡng chế thi hành án.

    Bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật có thi hành một cách nghiêm chỉnh hay không, pháp chế xã hội chủ nghĩa có được đảm bảo hay không, quyền lợi của nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân tổ chức có được bảo vệ hay không, phụ thuộc nhiều vào kết quả của việc thi hành án. Trong thi hành án dân sự, các bên đương sự có quyền tự định đoạt, thỏa thuận với nhau nhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự theo bản án, quyết định của Tòa. Tự nguyện thỏa thuận thi hành án là một nguyên tắc, biện pháp cần thiết trong hoạt động thi hành án dân sự.

    Cưỡng chế thi hành án là biện pháp nghiêm khắc nhất mà chấp hành viên và cơ quan thi hành án áp dụng khi thực thi các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Đó cũng chính là việc Chấp hành viên và Cơ quan thi hành án sử dụng quyền lực nhà nước bắt buộc đương sự phải thực hiện nghĩa vụ của mình nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được thi hành kịp thời nghiêm chỉnh, đúng pháp luật bảo về quyền lợi của nhà nước; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

    Tác giả bài viết: Phạm Bá Ngân – Phòng 11

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Thads
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Đề Tài, Sáng Kiến Kinh Nghiệm Theo Công 161/gddt Năm 2013 Của Phòng Giáo Dục Thành Phố.
  • Sáng Kiến Một Số Giải Pháp Về Sử Dụng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã
  • Đẩy Mạnh Hoạt Động Sáng Kiến, Giải Pháp Công Tác Ngành Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Bảo Quản Tốt Hồ Sơ Lưu Trữ Và Công Tác Tuyển Sinh Trong Nhà Trường
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Lập Hồ Sơ Hiện Hành Ở Các Cở Quan, Tổ Chức Địa Phương

    --- Bài mới hơn ---

  • Bvpl: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Ban Hành Quyết Định Hành Chính Trong Lĩnh Vực Đất Đai
  • Giải Pháp Để Nâng Cao Hiệu Quả Quản Lý Đảng Viên Trong Chi Bộ Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Kiểm Tra
  • Khắc Phục Khó Khăn Trong Quản Lý Đảng Viên
  • Luận Văn: Quản Lý Đảng Viên Của Đảng Bộ Phường Tại Tphcm, Hay
  • Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Thanh, Quyết Toán Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Sử Dụng Nguồn Vốn Ngân Sách Nhà Nước Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Nâng cao chất lượng lập hồ sơ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tài liệu giao nộp vào lưu trữ cơ quan cũng như giao nộp vào lưu trữ lịch sử. Vì vậy, cần có biện pháp đồng bộ để góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác lập hồ sơ hiện hành. Một trong những biện pháp cơ bản và quan trọng là sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan quản lý Nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ, cũng như sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan Trung ương và địa phương. Nếu không có sự chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan chuyên môn, của lãnh đạo các cơ quan thì công tác lập hồ sơ sẽ thực hiện một cách tự phát, thiếu sự thống nhất và khoa học về nghiệp vụ.

    Tại Điều 9, Luật Lưu trữ quy định trách nhiệm lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan; Điều 23, Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ quy định trách nhiệm đối với công tác lập hồ sơ và giao nộp tài liệu vào lưu trữ hiện hành; Điều 13, Thông tư 07/2012/TT-BNV ngày 22 tháng 11 năm 2012 Quy định Lập danh Mục hồ sơ ; Quyết định số 34/2012/QĐ-UBND ngày 19/9/2012 của UBND tỉnh Bình Định về Quy định công tác văn thư, lưu trữ của UBND các cấp, các ngành thuộc tỉnh và Chỉ thị 02/2011/CT-UBND ngày 20/4/2011 của UBND tỉnh về việc lập hồ sơ công việc và giao nộp hồ sơ, tài liệu vào lưu trữ cơ quan, lưu trữ lịch sử các cấp.

    Thực hiện các văn bản trên, trong thời gian qua đã có nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác lập hồ sơ công việc (hồ sơ hiện hành). Tuy nhiên, cũng không ít cơ quan, tổ chức, cá nhân chưa tuân thủ các quy định của pháp luật về việc lập hồ sơ hiện hành của cơ quan, tổ chức vẫn còn nhiều hạn chế đã dẫn đến hậu quảkhi cần tra cứu tài liệu không tìm thấy hoặc tìm thấy thì cũng mất rất nhiều thời gian, công sức và làm ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc. Vì vậy, để nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ công việc của cơ quan, tổ chức cần thực hiện thống nhất phương pháp lập hồ sơ như sau:

    TÊN CQ CHỦ QUẢNCỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    TÊN CƠ QUAN, TỔ CHỨCĐộc lập – Tự do – Hạnh phúc

    DANH MỤC HỒ SƠ CỦA … (tên cơ quan, tổ chức)

    …………….(2) hồ sơ bảo quản vĩnh viễn;

    ……………(2) hồ sơ bảo quản có thời hạn.

    QUYỀN HẠN, CHỨC VỤ CỦA NGƯỜI KÝ

    Hướng dẫn sử dụng:

    Cột 1: Ghi số và ký hiệu của hồ sơ bao gồm số thứ tự được đánh bằng chữ số Ả rập và ký hiệu được ghi bằng các số viết tắt của đề mục lớn, khi đánh số hồ sơ có thể áp dụng một trong hai cách sau:

    – Số của hồ sơ được đánh liên tục trong phạm vi từng đề mục lớn (đơn vị tổ chức hoặc mặt hoạt động), bắt đầu từ số 01, cuối mỗi đề mục cũng để một số dòng trống để ghi bổ sung những hồ sơ phát sinh.

    Cột 2: Ghi số thứ tự và tên đề mục lớn, đề mục nhỏ; tiêu đề hồ sơ. Các đề mục lớn được đánh số liên tục bằng chữ số La mã; các đề mục nhỏ được đánh số liên tục bằng chữ số Ả rập, riêng trong từng đề mục lớn. Các tiêu đề trong hồ sổtng mỗi đề mục cần được sắp xếp theo trình tự từ những tiêu đề hồ sơ về các công việc chung, mang tính tổng hợp đến những tiêu đề hồ sơ về các công việc cụ thể.

    Cột 3: Ghi thời hạn bảo quản của hồ sơ: vĩnh viễn hoặc thời hạn bằng sốnăm cụ thể;

    Cột 4: Ghi tên đơn vị hoặc cá nhân chịu trách nhiệm lập hồ sơ;

    Cột 5: Ghi những thông tin đặc biệt về thời hạn bảo quản, về người lập hồ sơ, hồ sơ chuyển từ năm trước sang, hồ sơ loại mật v.v….

    Để nắm, hiểu những vấn đề trên, cần phải nghiên cứu các văn bản sau đây:

    – Các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và các đơn vị, tổ chức.

    – Các văn bản về phân công trách nhiệm của cán bộ lãnh đạo cán bộ, công chức, viên chức cơ quan nói chung.

    – Loại bỏ những văn bản xét thấy không cần phải tiếp tục lưu giữ (không còn giá trị) và những văn bản trùng lặp thông tin.

    – Sắp xếp các văn bản trong hồ sơ theo một trật tự hợp lý để tra cứu được thuận tiện.

    – Đánh số tờ để cố định thứ tự các văn bản trong hồ sơ như đã sắp xếp.

    – Bổ sung những yếu tố thông tin còn thiếu ở ngoài bìa hồ sơ như ngày tháng bắt đầu và kết thúc, số tờ của hồ sơ…

    – Viết chứng từ kết thúc.

    + Nắm được chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và công việc của từng cán bộ, công chức trong cơ quan.

    + Nắm vững Kế hoạch hoạt động của cơ quan, các chế độ hội họp, chế độ báo cáo, tổ chức công tác văn thư, quan hệ giữa cơ quan, đơn vị mình với cơ quan, đơn vị khác; chương trình, kế hoạch của cơ quan, đơn vị …

    + Nắm được các loại văn bản, tài liệu của cơ quan làm ra và văn bản, tài liệu của các cơ quan khác gửi đến, các loại hồ sơ đã lập trong năm trước.

    Tóm lại: Để làm tốt công tác lập hồ sơ hiện hành, ngoài ra cần phải có những biện pháp khác như: Sự tăng cường quan tâm của Lãnh đạo cơ quan, tổ chức; ý thức trách nhiệm và sự kiên trì của cán bộ chuyên trách văn thư, lưu trữ trong việc hướng dẫn, kiểm tra các đơn vị và cá nhân trong cơ quan và ý thức trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức phải tự giác và chấp hành pháp luật lập hồ sơ hiện hành, nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, tiết kiệm chi phí cho việc chỉnh lý tài liệu tích đống và lựa chọn giữ lại được những hồ sơ, tài liệu có giá trị để phục vụ nghiên cứu trước mắt cũng như lâu dài của cơ quan, tổ chức.

    Hy vọng rằng, với ý kiến trao đổi, đề xuất biện pháp nâng cao chất lượng công tác lập hồ sơ hiện hành trong thời gian tới đạt kết quả tốt hơn./.

    Theo website Chi cục Văn thư – Lưu trữ tỉnh Bình Định

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Khai Thác Hồ Sơ Cán Bộ Tại Vksnd Tỉnh Nghệ An
  • Hoàn Thiện Cơ Chế Thực Hiện Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Để Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Của Đại Biểu Quốc Hội
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Giám Sát Của Quốc Hội
  • Đề Xuất Nhiều Sáng Kiến Và Giải Pháp Thiết Thực Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Của Quốc Hội
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Hoạt Động Quốc Hội
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tp Cẩm Phả: Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Hoàn Thiện Quản Lý Thu Ngân Sách Xã: Nhìn Từ Thực Tế Địa Phương
  • Các Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Ngân Sách Xã, Phường, Thị Trấn
  • Nhiều Giải Pháp Quản Lý Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Tphcm Đề Xuất Nhiều Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước Năm 2021
  • LỜI CAM ĐOAN

    Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu và kết

    luận nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, có trích nguồn và chưa được

    công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

    Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.

    Hải Phòng, tháng 9 năm 2021

    Học viên thực hiện

    Đoàn Thị Hương

    i

    LỜI CẢM ƠN

    Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trực tiếp, gián tiếp giảng dạy trong quá

    trình học tập tại Trường Đại học Hàng Hải, đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Mỵ đã giành

    rất nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện

    nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.

    Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân

    huyện, Chi cục thuế, các đồng chí Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiên Lãng,

    đồng nghiệp cơ quan tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu, thu thập tài

    liệu làm cơ sở hoàn thành bài luận văn của mình.

    Với kiến thức đã được trang bị, kinh nghiệm trong công tác tôi đã cố gắng hoàn

    thiện bài luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự

    tham gia đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô, cùng toàn thể các bạn.

    Tôi xin trân trọng cảm ơn!

    ii

    MỤC LỤC

    LỜI CAM ĐOAN …………………………………………………………………………………………

    LỜI CẢM ƠN……………………………………………………………………………………………..ii

    MỤC LỤC …………………………………………………………………………………………………iii

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU……………………………………….iv

    DANH MỤC BẢNG…………………………………………………………………………………….

    DANH MỤC HÌNH ……………………………………………………………………………………vi

    iii

    DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

    Chữ viết tắt

    Giải thích

    NSNN

    Ngân sách nhà nước

    GTGT

    Giá trị gia tăng

    TNDN

    Thu nhập doanh nghiệp

    TTĐB

    Tiêu thụ đặc biệt

    TNCN

    Thu nhập cá nhân

    UBND

    Ủy ban nhân dân

    SDĐ

    Sử dụng đất

    SDĐNN

    Sử dụng đất nông nghiệp

    NS

    Ngân sách

    BS

    Bổ sung

    iv

    Tên bảng

    Trang

    2.1

    Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn

    huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014

    40

    2.2

    So sánh kết quả thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện

    Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014

    42

    2.3

    Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách huyện

    Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014

    45

    2.4

    So sánh kết quả thực hiện thu ngân sách huyện Tiên Lãng

    từ năm 2010 đến năm 2014

    47

    v

    Tên hình

    Trang

    2.1

    Kết quả thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Tiên Lãng

    từ năm 2010 đến năm 2014

    43

    2.2

    Kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách huyện Tiên Lãng

    từ năm 2010 đến năm 2014

    48

    2.3

    Cơ cấu các khoản thu ngân sách theo KH trên địa bàn

    huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014

    48

    vi

    Để đạt được mục tiêu đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

    – Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và thu ngân

    sách nhà nước làm cơ sở khoa học cho đề tài luận văn.

    – Phân tích đánh giá thực trạng về thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện

    Tiên Lãng thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đên năm 2014.

    – Đề xuất biện pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện

    Tiên Lãng thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021- 2021.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    3.1. Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề ngân sách, thu ngân sách và biện pháp

    tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải

    Phòng.

    3.2. Phạm vi nghiên cứu

    – Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của việc

    thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng.

    – Về không gian: Trong phạm vi huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng.

    – Về thời gian: Số liệu thu ngân sách và các hoạt động quản lý ngân sách trên

    địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng, từ năm 2010 đến năm 2014.

    4. Phương pháp nghiên cứu

    Các phương pháp cụ thể: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lý

    thuyết hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp mô hình toán,….

    5. Kết cấu của luận văn

    Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3

    chương:

    Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và thu ngân sách

    nhà nước.

    Chương 2: Thực trạng về thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên

    Lãng thành phố Hải Phòng.

    Chương 3: Biện pháp tăng cường thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện

    Tiên Lãng thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2021 – 2021.

    2

    CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ

    NƯỚC VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1.1. Ngân sách nhà nước

    1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước (NSNN) gắn liền với hoạt động của Nhà nước, là một

    trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt

    động của Nhà nước. Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền với chế độ

    sở hữu và đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người. Khi không

    còn Nhà nước thì không còn NSNN. Bản chất Nhà nước quyết định bản chất

    NSNN, nhưng quản lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý

    NSNN mang tính chủ quan. Do vậy, nhận thức đúng về bản chất của NSNN và vận

    dụng thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia,

    mọi cấp chính quyền; là hoạt động quan trọng của Nhà nước để quản lý và điều

    hành xã hội.

    Một quan niệm khác về Ngân sách nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế cổ

    điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu,

    chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hiện đại

    thì cho rằng: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được

    biểu hiện thông qua bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền mặt trong một giai

    đoạn nhất định .

    Bên cạnh những sự khác biệt thì các định nghĩa có một số điểm nhất trí sau:

    – Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhất định,

    thường là một năm – gọi là năm tài chính;

    – Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quan lập

    pháp của quốc gia đó ban hành.

    3

    4

    Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựng một

    hệ thống ngân sách hợp lý với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối và sử dụng

    có hiệu quả nhất.

    Với vai trò của mình, ngân sách nhà nước là công cụ của Nhà nước để cùng

    với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi

    thành phần kinh tế phát triển; hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnh hành

    chính; mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chính tiền tệ, sửa

    đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tế thị trường. Ngân

    sách nhà nước cần ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đào tạo nhân

    lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực

    nhằm phát triển nhanh nền kinh tế – xã hội.

    Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một ngân sách tối

    thiểu và cân bằng, có quy mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo

    đảm thực hiện các chức năng nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh – quốc phòng,

    trật tự an toàn xã hội. Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau

    phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh. Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc

    gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà

    trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá

    trình kinh tế (đầu tư hạ tầng kinh tế – xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hỗ

    trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại…). Với đặc điểm này, NSNN chủ

    động thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cụ thể:

    Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy

    nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

    Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan

    trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội. Ở Việt Nam cũng như đa số các nước

    đang phát triển trên thế giới, vốn đầu tư từ NSNN có một vị trí rất quan trọng,

    chiếm khoảng từ 22% – 30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, về mặt

    lượng, quy mô đầu tư vào nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quan trọng

    trong việc tăng quy mô đầu tư của toàn xã hội.

    5

    Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ

    cung cầu trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế.

    Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu

    nhiều hay ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường. Nếu

    các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi thì chi tiêu của Nhà nước tăng sẽ tác

    động trực tiếp là gia tăng tổng cầu của xã hội. Đến lượt nó, sự gia tăng của tổng

    cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua của xã

    hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền kinh tế,

    tăng GDP và tăng hiệu quả kinh tế – xã hội; mặt khác, mức dư cầu trên thị trường

    ở chừng mực nhất định làm tăng giá trị tiêu thụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác

    động điều tiết mức tiêu dùng hợp lý hơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản

    xuất, tăng đầu tư trong nền kinh tế.

    Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh

    cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững, phù hợp

    với quy hoạch, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội.

    Thứ tư, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối

    ngoại, kích thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng người tiêu dùng.

    Nhà nước sử dụng ngân sách của mình như một phương tiện vật chất, một

    công cụ tác động vào hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng tranh thủ cơ hội để

    phát triển. Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính

    sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm

    khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến

    khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển.

    Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc điều hành

    quản lý, kiểm soát nền kinh tế.

    Vốn NSNN chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố đầu vào của nền sản xuất xã

    hội. Vì vậy, để xác định rõ vị trí, vai trò của ngân sách trong nền kinh tế và để đạt

    mục tiêu sử dụng vốn ngân sách có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thực trạng các

    nguồn lực của cả nền kinh tế.

    6

    Thứ sáu, NSNN trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục,

    đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học,…) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích các thành viên tham

    gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn ngân sách

    được ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếm khuyết của

    thị trường, thực hiện công bằng xã hội .

    1.1.3.2. Các nguyên tắc phân cấp quản lý nhà nước

    7

    Theo Khoản 2, Điều 4 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà

    xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002, “2. Phân cấp nguồn thu,

    nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên

    tắc sau đây:

    a) Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương

    được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể;

    b) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm

    vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối

    được thu, chi ngân sách;

    c) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong

    thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã. Hội

    đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết

    định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền

    địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và

    trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn;

    d) Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc

    ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải

    pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng

    cấp;

    đ) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan

    quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh

    phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó;

    e) Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân

    chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp

    dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Tỷ

    lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp

    trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ sung từ ngân sách

    cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới;

    8

    g) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn

    tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế – xã

    hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối,

    phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp

    trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên;

    h) Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy

    định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp

    này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của

    Chính phủ.”.

    1.2.2. Đặc điểm thu NSNN

    Thu NSNN có những đặc điểm sau đây:

    – Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước (mà chủ yếu là quyền lực

    chính trị);

    – Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định và vừa mang tính chất bắt

    buộc, vừa không mang tính chất bắt buộc;

    – Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân và

    pháp nhân, được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước dưới nhiều hình thức, nhưng

    chủ yếu là thuế;

    – Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và các phạm trù: Giá cả, thu

    nhập, lãi suất, …;

    9

    – Thu NSNN gắn liền với các hoạt động của Nhà nước. Nhà nước đề ra chủ

    trương, phương hướng, mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, xác định

    rõ thu ở đâu? Lĩnh vực nào chủ yếu? Hình thức nào là tốt nhất? … Xác định rõ tỷ lệ

    thu hoặc một con số thu cụ thể nào đó. Từ đó Nhà nước đề ra cơ chế chính sách,

    luật lệ về thu NSNN nhằm đạt được phương hướng mục tiêu đề ra. Đồng thời nhà

    Nhà nước tổ chức bộ máy thu, tổ chức thu và đảm bảo các điều kiện cho công tác

    thu.

    Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa

    Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước

    nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế. Sự phân chia đó là tất yếu khách

    quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như

    thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Đối tượng phân chia là thu nhập xã

    hội, đây là kết quả lao động sản xuất trong nước tạo ra dưới hình thức tiền tệ .

    1.2.4. Nội dung và hình thức các khoản thu NSNN

    Để biến nguồn thu ngân sách thành thu nhập của NSNN cần phải có các các

    hình thức thu thích hợp. Những hình thức đó được coi như những công cụ, phương

    tiện biến nguồn thu thành thu nhập của NSNN. Hình thức thu ngân sách phụ thuộc

    vào rất nhiều yếu tố kinh tế – xã hội. Trong những cơ chế quản lý kinh tế khác nhau

    thì cơ cấu các hình thức thu cũng khác nhau.

    Hiện nay có những hình thức thu cơ bản sau đây:

    – Thu thuế: Thuế là một biện pháp tài chính bắt buộc (phi hình sự) của Nhà

    nước nhằm động viên một bộ phận thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi

    tiêu hàng hóa dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và

    pháp nhân nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Việc thu thuế bao

    giờ cũng được thể chế bằng hệ thống pháp luật.

    Nhà nước là người đại diện cho người dân, Nhà nước thay mặt cho xã hội

    cung cấp cho mọi người dân hàng hóa và dịch vụ công cộng thuần túy nên Nhà

    nước với quyền lực chính trị của mình quy định thuế để coi phần nộp mà người

    dân trích một phần thu nhập của mình không mua hàng hóa phục vụ cho cá nhân

    mà coi như trả hàng hóa dịch vụ công cộng của Nhà nước. Nhà nước thu thuế

    không phải nô dịch, bóc lột công dân, mà thực chất là người đại diện cho xã hội,

    11

    được xã hội giao phó cho việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công cộng mà thuế là

    nguồn lực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng đó.

    – Thu phí và lệ phí: Trong điều kiện kinh tế thị trường, đối với hàng hóa dịch

    vụ tư nhân, khi người dân muốn nhận một sản phẩm hàng hóa dịch vụ nào đó thì

    buộc họ phải đưa ra một lượng giá trị tương ứng để trao đổi theo nguyên tắc ngang

    giá. Còn khi thụ hưởng hàng hóa dịch vụ công cộng thì việc trả các chi phí phức

    tạp hơn. Cụ thể:

    + Hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp thì việc thu hồi chi phí thực

    hiện theo giá quy định của Nhà nước; giá này thường ít bị chi phối bởi quy luật thị

    trường.

    + Đối với dịch vụ công cộng vô hình do Nhà nước cung cấp, việc lượng hóa

    chi phí cụ thể để từng người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ này theo

    nguyên tắc ngang giá là rất khó thực hiện, nên việc thu hồi chi phí trực tiếp cũng

    rất khó khăn. Do vậy, nhiều nước trên thế giới đều dùng công cụ thuế (chủ yếu là

    thuế gián thu để thu hồi các chi phí này).

    + Đối với dịch vụ công cộng hữu hình do Nhà nước cung cấp, thì Nhà nước

    cũng phải xác định “giá phí” mà người thụ hưởng phải thanh toán. Tuy nhiên “giá

    phí” này thường không hoàn toàn vì mục đích kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính

    trị, xã hội…. Do đó, chúng phổ biến là không tính đủ chi phí đầu tư cung cấp dịch

    vụ công cộng hữu hình cho xã hội, đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người

    dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng đó.

    Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, một số cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước

    còn cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý cụ thể cho dân chúng. Người dân thụ

    hưởng dịch vụ này cũng phải trả một phần chi phí. Tuy thế, việc thu khoản tiền này

    hoàn toàn không có ý nghĩa là thu hồi một phần chi phí do cơ quan của bộ máy

    Nhà nước bỏ ra, ở đây không phải là thu phí, không phải là giá dịch vụ mà khoản

    thu này chủ yếu để phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước. Người dân thụ hưởng dịch

    vụ này có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước một khoản tiền. Đây chính là các khoản lệ

    phí. Như vậy, lệ phí là khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền

    12

    Nhà nước có cung cấp dịch vụ công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng.

    Lệ phí thường là khoản thu nhỏ, rải rác, chủ yếu phát sinh ở các địa phương.

    Thu phí và lệ phí nhằm tạo nên thu nhập, bù đắp chi tiêu của Nhà nước ở các

    lĩnh vực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng, hành chính, pháp lý, góp phần thực

    hiện công bằng xã hội khi thụ hưởng các hàng hóa dịch vụ công cộng của dân

    chúng. Đồng thời, qua việc thu phí và lệ phí Nhà nước thực hiện việc quản lý và

    kiểm soát có hiệu quả hơn các hoạt động xã hội trong khuôn khổ pháp luật, giúp

    cho người dân nâng cao ý thức trách nhiệm đối với các giá trị vật chất và tinh thần

    của cộng đồng xã hội.

    Thu thuế, phí và lệ phí là những khoản thu thường xuyên, chiếm từ 90 –

    95% trong số thu NSNN.

    – Ngoài những khoản thu thường xuyên, chúng ta còn có những khoản thu

    không thường xuyên:

    + Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước (như thu hồi vốn, chia

    lãi góp vốn, thu hồi tiền vay, phụ thu, thu chênh lệch giá, …);

    + Thu sự nghiệp: là khoản thu gắn liền với hoạt động sự nghiệp;

    + Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước;

    + Thu tiền sử dụng đất, thu tiền cho thuê đất;

    + Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây

    dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội;

    + Tiền bán tài sản, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong các đơn vị

    hành chính sự nghiệp;

    + Các di sản Nhà nước được hưởng;

    + Các khoán đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các nhân trong và ngoài

    nước. Đây là khoản đóng góp thường mang tính chất nhân đạo;

    + Thu tiền kết dư ngân sách năm trước;

    + Thu tiền phạt, tiền bán hàng tịch thu;

    + Thu viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức

    và các cá nhân nước ngoài;

    13

    1.2.5.2. Chấp hành dự toán thu ngân sách nhà nước

    Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh

    trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế,

    địa bàn và đối tượng thu chủ yếu gửi cơ quan tài chính vào cuối quý trước.

    Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnh

    phí và lệ phí,…). Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thống kho

    bạc nhà nước.

    Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan

    khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách. Các khoản thu có tính chất nội

    địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện. Cơ quan Hải quan tổ

    chức thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu. Cơ

    quan Tài chính và các cơ quan khác được ủy quyền thu các khoản thu còn lại của

    NSNN.

    1.3. Phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa

    phương

    1.3.1. Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%

    Bao gồm: Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuế

    nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp

    của các đơn vị hạch toán toàn ngành; các khoản thuế và thu khác từ các hoạt động

    thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước; tiền thu hồi vốn của ngân

    sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung

    ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ tài chính của trung ương, thu nhập từ vốn

    góp của ngân sách trung ương. Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước,

    các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam; phần nộp

    ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan, đơn

    vị thuộc trung ương tổ chức thu không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; phần

    nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn

    vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý; chênh lệnh thu lớn hơn chi của

    ngân sách nhà nước Việt Nam; thu kết dư ngân sách trung ương; thu chuyển nguồn

    15

    ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước chuyển sang; các khoản phạt tịch thu

    và thu khác của ngân sách trung ương theo quy định của luật .

    1.3.3. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung

    ương và ngân sách địa phương

    Do điều kiện kinh tế – xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau, trình

    độ phát triển không đều, do đó số thu và yêu cầu chi của mỗi địa phương cũng

    không giống nhau. Vì vậy, ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng 100% nêu

    16

    trên, Luật ngân sách năm 2002 ở nước ta còn quy định có một số khoản thu phân

    chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp trung ương và địa phương (tỉnh,

    thành phố). Các khoản đó là: Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng

    hàng hóa nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thuế

    thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch

    toán toàn ngành (theo quy định của Bộ Tài chính) và thuế thu nhập từ các hoạt

    động xổ số kiến thiết; thuế thu nhập với người có thu nhập cao (không kể các

    khoản thuế và thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất,

    mặt nước); thuế TNCN; thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước

    (không kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, phí xăng, dầu).

    Tỷ lệ phần trăm các khoản thu phân chia chính là cái “van” điều chỉnh

    nguồn thu giữa các địa phương, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các địa phương.

    Địa phương nào có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi, có nguồn thu lớn thì tỷ lệ

    (%) này thấp; ngược lại, địa phương nào kinh tế chậm phát triển, nguồn thu nhỏ thì

    tỷ lệ này tăng lên. Tỷ lệ phân chia này do Chính phủ quyết định cho tất cả các

    khoản thu phân chia, được xác định riêng từng tỉnh (thành phố).

    Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và bổ sung cân đối từ ngân

    sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 – 5 năm (gọi là thời kỳ ổn

    định ngân sách). Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng

    nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địa phương được hưởng) để

    chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn

    định ngân sách phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương,

    thực hiện giảm dân số bổ sung ngân sách từ cấp trên hoặc tỷ lệ phần trăm (%) điều

    tiết thu nộp về ngân sách cấp trên (đối với địa phương có điều tiết ngân sách về cấp

    trên) .

    1.4. Phân định nhiệm vụ thu đối với ngân sách cấp quận, huyện

    Theo quy định của Luật, quận (huyện) là một cấp ngân sách thuộc ngân sách

    địa phương và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh thuộc Ngân sách nhà nước, Ủy ban

    nhân dân cấp quận, huyện là người điều hành ngân sách cấp mình.

    Nguồn thu 100% của quận (huyện) bao gồm: Thuế môn bài (trừ thuế môn

    bài thu từ các cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ ở xã, thị trấn); các khoản phí, lệ phí từ

    các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp quận, huyện quản lý; tiền thu từ hoạt động

    sự nghiệp của các cơ quan, đơn vị do cấp quận, huyện quản lý; viện trợ không

    hoàn lại của pháp luật; đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các

    công trình kết cấu hạ tầng theo quy định; đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá

    nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp quận, huyện; thu kết dư ngân sách

    cấp quận, huyện; bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh; các khoản thu khác theo quy định

    của pháp luật.

    Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách cấp tỉnh, ngân

    sách cấp quận (huyện) và ngân sách cấp xã gồm: Thuế chuyển quyền sử dụng đất;

    thuế nhà đất; thuế sử dụng đất phi nông nghiệp; tiền sử dụng đất; thuế sử dụng đất

    nông nghiệp; thuế tài nguyên; lệ phí trước bạ; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng sản xuất

    trong nước và một số khoản thu khác theo quy định của pháp luật.

    19

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo Kế Hoạch Thu Ngân Sách Địa Phương Năm 2021
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng _08294512092019
  • Bao Quang Tri : Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Địa Phương
  • Tài Liệu Thực Trạng, Giải Pháp Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nỗ Lực Tìm Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng _08294512092019

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Các Giải Pháp Đảm Bảo Kế Hoạch Thu Ngân Sách Địa Phương Năm 2021
  • Biện Pháp Tăng Cường Thu Ngân Sách Địa Phương Trên Địa Bàn Huyện Tiên Lãng Thành Phố Hải Phòng
  • Tp Cẩm Phả: Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Hoàn Thiện Quản Lý Thu Ngân Sách Xã: Nhìn Từ Thực Tế Địa Phương
  • Các Giải Pháp Tăng Cường Quản Lý Ngân Sách Xã, Phường, Thị Trấn
  • Published on

    Biện pháp tăng cường thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng _08294512092019

    1. 1. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu do tôi thực hiện. Các số liệu và kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, có trích nguồn và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình. Hải Phòng, tháng 9 năm 2021 Học viên thực hiện Đoàn Thị Hương i
    2. 2. LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng cảm ơn các Thầy, Cô trực tiếp, gián tiếp giảng dạy trong quá trình học tập tại Trường Đại học Hàng Hải, đặc biệt là TS. Nguyễn Thị Mỵ đã giành rất nhiều thời gian, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Chi cục thuế, các đồng chí Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Tiên Lãng, đồng nghiệp cơ quan tôi đang công tác đã tạo điều kiện cho tôi tìm hiểu, thu thập tài liệu làm cơ sở hoàn thành bài luận văn của mình. Với kiến thức đã được trang bị, kinh nghiệm trong công tác tôi đã cố gắng hoàn thiện bài luận văn, song không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô, cùng toàn thể các bạn. Tôi xin trân trọng cảm ơn! ii
    3. 3. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN ………………………………………………………………………………………… LỜI CẢM ƠN……………………………………………………………………………………………..ii MỤC LỤC chúng tôi DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU……………………………………….iv DANH MỤC BẢNG……………………………………………………………………………………. DANH MỤC HÌNH chúng tôi iii
    4. 4. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU Chữ viết tắt Giải thích NSNN Ngân sách nhà nước GTGT Giá trị gia tăng TNDN Thu nhập doanh nghiệp TTĐB Tiêu thụ đặc biệt TNCN Thu nhập cá nhân UBND Ủy ban nhân dân SDĐ Sử dụng đất SDĐNN Sử dụng đất nông nghiệp NS Ngân sách BS Bổ sung iv
    5. 5. DANH MỤC BẢNG Số bảng Tên bảng Trang 2.1 Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 40 2.2 So sánh kết quả thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 42 2.3 Tổng hợp kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 45 2.4 So sánh kết quả thực hiện thu ngân sách huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 47 v
    6. 6. DANH MỤC HÌNH Số hình Tên hình Trang 2.1 Kết quả thực hiện thu NSNN trên địa bàn huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 43 2.2 Kết quả thực hiện dự toán thu ngân sách huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 48 2.3 Cơ cấu các khoản thu ngân sách theo KH trên địa bàn huyện Tiên Lãng từ năm 2010 đến năm 2014 48 vi
    7. 8. Để đạt được mục tiêu đó, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: – Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước làm cơ sở khoa học cho đề tài luận văn. – Phân tích đánh giá thực trạng về thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng từ năm 2010 đên năm 2014. – Đề xuất biện pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng giai đoạn 2021- 2021. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề ngân sách, thu ngân sách và biện pháp tăng cường thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng. 3.2. Phạm vi nghiên cứu – Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản của việc thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng. – Về không gian: Trong phạm vi huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng. – Về thời gian: Số liệu thu ngân sách và các hoạt động quản lý ngân sách trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng, từ năm 2010 đến năm 2014. 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp cụ thể: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp lý thuyết hệ thống, phương pháp thống kê, phương pháp mô hình toán,…. 5. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước. Chương 2: Thực trạng về thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng. Chương 3: Biện pháp tăng cường thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng thành phố Hải Phòng, giai đoạn 2021 – 2021. 2
    8. 9. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1. Ngân sách nhà nước 1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước (NSNN) gắn liền với hoạt động của Nhà nước, là một trong những công cụ hết sức quan trọng, không thể thiếu được nhằm đảm bảo hoạt động của Nhà nước. Nhà nước ra đời, hình thành và phát triển gắn liền với chế độ sở hữu và đấu tranh giai cấp trong quá trình phát triển xã hội loài người. Khi không còn Nhà nước thì không còn NSNN. Bản chất Nhà nước quyết định bản chất NSNN, nhưng quản lý NSNN là những tổ chức và con người cụ thể nên quản lý NSNN mang tính chủ quan. Do vậy, nhận thức đúng về bản chất của NSNN và vận dụng thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NSNN là cần thiết đối với mọi quốc gia, mọi cấp chính quyền; là hoạt động quan trọng của Nhà nước để quản lý và điều hành xã hội. Một quan niệm khác về Ngân sách nhà nước. Các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm. Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hiện đại thì cho rằng: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được biểu hiện thông qua bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định . Bên cạnh những sự khác biệt thì các định nghĩa có một số điểm nhất trí sau: – Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhất định, thường là một năm – gọi là năm tài chính; – Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành. 3
    9. 11. Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựng một hệ thống ngân sách hợp lý với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất. Với vai trò của mình, ngân sách nhà nước là công cụ của Nhà nước để cùng với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế, tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển; hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnh hành chính; mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chính tiền tệ, sửa đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tế thị trường. Ngân sách nhà nước cần ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đào tạo nhân lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực nhằm phát triển nhanh nền kinh tế – xã hội. Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một ngân sách tối thiểu và cân bằng, có quy mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo đảm thực hiện các chức năng nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh – quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh. Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu tư hạ tầng kinh tế – xã hội, đầu tư phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại…). Với đặc điểm này, NSNN chủ động thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cụ thể: Thứ nhất, NSNN tác động trực tiếp đến việc tăng quy mô đầu tư, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Là chủ đầu tư lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội. Ở Việt Nam cũng như đa số các nước đang phát triển trên thế giới, vốn đầu tư từ NSNN có một vị trí rất quan trọng, chiếm khoảng từ 22% – 30% tổng vốn đầu tư của toàn xã hội. Vì vậy, về mặt lượng, quy mô đầu tư vào nền kinh tế từ nguồn NSNN đóng vai trò quan trọng trong việc tăng quy mô đầu tư của toàn xã hội. 5
    10. 12. Thứ hai, quy mô thu và cơ cấu chi NSNN tác động mạnh mẽ đến quan hệ cung cầu trên thị trường và thông qua đó tác động đến nền kinh tế. Với tư cách là chủ thể kinh tế lớn nhất trong nền kinh tế, Nhà nước chi tiêu nhiều hay ít sẽ tác động trực tiếp đến tổng cầu, đến sức mua của thị trường. Nếu các bộ phận khác của tổng cầu không thay đổi thì chi tiêu của Nhà nước tăng sẽ tác động trực tiếp là gia tăng tổng cầu của xã hội. Đến lượt nó, sự gia tăng của tổng cầu nhanh hơn sự gia tăng của tổng cung thì một mặt, nó làm tăng sức mua của xã hội, giảm thời gian lưu thông, tăng tốc độ chu chuyển của vốn trong nền kinh tế, tăng GDP và tăng hiệu quả kinh tế – xã hội; mặt khác, mức dư cầu trên thị trường ở chừng mực nhất định làm tăng giá trị tiêu thụ hàng hóa ở mức độ vừa phải có tác động điều tiết mức tiêu dùng hợp lý hơn, đồng thời khuyến khích phát triển sản xuất, tăng đầu tư trong nền kinh tế. Thứ ba, thông qua việc sử dụng NSNN, Nhà nước thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế nhằm phát triển bền vững, phù hợp với quy hoạch, không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội. Thứ tư, NSNN là công cụ kinh tế quan trọng mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, kích thích xuất khẩu, bảo vệ lợi ích chính đáng người tiêu dùng. Nhà nước sử dụng ngân sách của mình như một phương tiện vật chất, một công cụ tác động vào hoạt động kinh tế đối ngoại theo hướng tranh thủ cơ hội để phát triển. Ở điều kiện nhất định, Nhà nước ban hành hệ thống những cơ chế chính sách để thực hiện, đồng thời sử dụng NSNN hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp nhắm khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu, thúc đẩy và khuyến khích hoạt động xuất nhập khẩu phát triển. Thứ năm, NSNN là công cụ kinh tế để Nhà nước thực hiện việc điều hành quản lý, kiểm soát nền kinh tế. Vốn NSNN chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố đầu vào của nền sản xuất xã hội. Vì vậy, để xác định rõ vị trí, vai trò của ngân sách trong nền kinh tế và để đạt mục tiêu sử dụng vốn ngân sách có hiệu quả đòi hỏi phải nắm được thực trạng các nguồn lực của cả nền kinh tế. 6
    11. 13. Thứ sáu, NSNN trực tiếp đầu tư phát triển nguồn nhân lực, trí lực (giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, khoa học,…) thực hiện nhiệm vụ phát triển xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, để đảm bảo hài hòa lợi ích các thành viên tham gia sản xuất và lợi ích chung của toàn xã hội, việc phân phối nguồn ngân sách được ưu tiên thực hiện một số chính sách xã hội, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, thực hiện công bằng xã hội . 1.1.3.2. Các nguyên tắc phân cấp quản lý nhà nước 7
    12. 14. Theo Khoản 2, Điều 4 Luật NSNN được Quốc hội khoá XI nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002, “2. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: a) Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; b) Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách; c) Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn; d) Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; việc ban hành và thực hiện chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp; đ) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước cấp trên uỷ quyền cho cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi của mình, thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó; e) Thực hiện phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) đối với các khoản thu phân chia giữa ngân sách các cấp và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 đến 5 năm. Số bổ sung từ ngân sách cấp trên là khoản thu của ngân sách cấp dưới; 8
    13. 15. g) Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu hàng năm mà ngân sách địa phương được hưởng để phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách, phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dần số bổ sung từ ngân sách cấp trên hoặc tăng tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết số thu nộp về ngân sách cấp trên; h) Ngoài việc uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ chi và bổ sung nguồn thu quy định tại điểm đ và điểm e khoản 2 Điều này, không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.”. 1.2.2. Đặc điểm thu NSNN Thu NSNN có những đặc điểm sau đây: – Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước (mà chủ yếu là quyền lực chính trị); – Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định và vừa mang tính chất bắt buộc, vừa không mang tính chất bắt buộc; – Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu nhập của các thể nhân và pháp nhân, được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếu là thuế; – Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và các phạm trù: Giá cả, thu nhập, lãi suất, …; 9
    14. 16. – Thu NSNN gắn liền với các hoạt động của Nhà nước. Nhà nước đề ra chủ trương, phương hướng, mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, xác định rõ thu ở đâu? Lĩnh vực nào chủ yếu? Hình thức nào là tốt nhất? … Xác định rõ tỷ lệ thu hoặc một con số thu cụ thể nào đó. Từ đó Nhà nước đề ra cơ chế chính sách, luật lệ về thu NSNN nhằm đạt được phương hướng mục tiêu đề ra. Đồng thời nhà Nhà nước tổ chức bộ máy thu, tổ chức thu và đảm bảo các điều kiện cho công tác thu. Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế. Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình. Đối tượng phân chia là thu nhập xã hội, đây là kết quả lao động sản xuất trong nước tạo ra dưới hình thức tiền tệ . 1.2.4. Nội dung và hình thức các khoản thu NSNN Để biến nguồn thu ngân sách thành thu nhập của NSNN cần phải có các các hình thức thu thích hợp. Những hình thức đó được coi như những công cụ, phương tiện biến nguồn thu thành thu nhập của NSNN. Hình thức thu ngân sách phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kinh tế – xã hội. Trong những cơ chế quản lý kinh tế khác nhau thì cơ cấu các hình thức thu cũng khác nhau. Hiện nay có những hình thức thu cơ bản sau đây: – Thu thuế: Thuế là một biện pháp tài chính bắt buộc (phi hình sự) của Nhà nước nhằm động viên một bộ phận thu nhập từ lao động, của cải, vốn, từ việc chi tiêu hàng hóa dịch vụ và từ việc lưu giữ, chuyển dịch tài sản của các thể nhân và pháp nhân nhằm trang trải các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Việc thu thuế bao giờ cũng được thể chế bằng hệ thống pháp luật. Nhà nước là người đại diện cho người dân, Nhà nước thay mặt cho xã hội cung cấp cho mọi người dân hàng hóa và dịch vụ công cộng thuần túy nên Nhà nước với quyền lực chính trị của mình quy định thuế để coi phần nộp mà người dân trích một phần thu nhập của mình không mua hàng hóa phục vụ cho cá nhân mà coi như trả hàng hóa dịch vụ công cộng của Nhà nước. Nhà nước thu thuế không phải nô dịch, bóc lột công dân, mà thực chất là người đại diện cho xã hội, 11
    15. 18. được xã hội giao phó cho việc cung ứng hàng hóa dịch vụ công cộng mà thuế là nguồn lực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng đó. – Thu phí và lệ phí: Trong điều kiện kinh tế thị trường, đối với hàng hóa dịch vụ tư nhân, khi người dân muốn nhận một sản phẩm hàng hóa dịch vụ nào đó thì buộc họ phải đưa ra một lượng giá trị tương ứng để trao đổi theo nguyên tắc ngang giá. Còn khi thụ hưởng hàng hóa dịch vụ công cộng thì việc trả các chi phí phức tạp hơn. Cụ thể: + Hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp thì việc thu hồi chi phí thực hiện theo giá quy định của Nhà nước; giá này thường ít bị chi phối bởi quy luật thị trường. + Đối với dịch vụ công cộng vô hình do Nhà nước cung cấp, việc lượng hóa chi phí cụ thể để từng người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ này theo nguyên tắc ngang giá là rất khó thực hiện, nên việc thu hồi chi phí trực tiếp cũng rất khó khăn. Do vậy, nhiều nước trên thế giới đều dùng công cụ thuế (chủ yếu là thuế gián thu để thu hồi các chi phí này). + Đối với dịch vụ công cộng hữu hình do Nhà nước cung cấp, thì Nhà nước cũng phải xác định “giá phí” mà người thụ hưởng phải thanh toán. Tuy nhiên “giá phí” này thường không hoàn toàn vì mục đích kinh tế mà còn mang ý nghĩa chính trị, xã hội…. Do đó, chúng phổ biến là không tính đủ chi phí đầu tư cung cấp dịch vụ công cộng hữu hình cho xã hội, đồng thời cũng là các khoản chi phí mà người dân phải trả khi thụ hưởng các dịch vụ công cộng đó. Ngoài ra, trong quá trình hoạt động, một số cơ quan thuộc bộ máy Nhà nước còn cung cấp các dịch vụ hành chính pháp lý cụ thể cho dân chúng. Người dân thụ hưởng dịch vụ này cũng phải trả một phần chi phí. Tuy thế, việc thu khoản tiền này hoàn toàn không có ý nghĩa là thu hồi một phần chi phí do cơ quan của bộ máy Nhà nước bỏ ra, ở đây không phải là thu phí, không phải là giá dịch vụ mà khoản thu này chủ yếu để phục vụ yêu cầu quản lý Nhà nước. Người dân thụ hưởng dịch vụ này có nghĩa vụ nộp cho Nhà nước một khoản tiền. Đây chính là các khoản lệ phí. Như vậy, lệ phí là khoản thu phát sinh ở các cơ quan của bộ máy chính quyền 12
    16. 19. Nhà nước có cung cấp dịch vụ công cộng về hành chính, pháp lý cho dân chúng. Lệ phí thường là khoản thu nhỏ, rải rác, chủ yếu phát sinh ở các địa phương. Thu phí và lệ phí nhằm tạo nên thu nhập, bù đắp chi tiêu của Nhà nước ở các lĩnh vực tạo ra hàng hóa dịch vụ công cộng, hành chính, pháp lý, góp phần thực hiện công bằng xã hội khi thụ hưởng các hàng hóa dịch vụ công cộng của dân chúng. Đồng thời, qua việc thu phí và lệ phí Nhà nước thực hiện việc quản lý và kiểm soát có hiệu quả hơn các hoạt động xã hội trong khuôn khổ pháp luật, giúp cho người dân nâng cao ý thức trách nhiệm đối với các giá trị vật chất và tinh thần của cộng đồng xã hội. Thu thuế, phí và lệ phí là những khoản thu thường xuyên, chiếm từ 90 – 95% trong số thu NSNN. – Ngoài những khoản thu thường xuyên, chúng ta còn có những khoản thu không thường xuyên: + Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước (như thu hồi vốn, chia lãi góp vốn, thu hồi tiền vay, phụ thu, thu chênh lệch giá, …); + Thu sự nghiệp: là khoản thu gắn liền với hoạt động sự nghiệp; + Thu hồi quỹ dự trữ Nhà nước; + Thu tiền sử dụng đất, thu tiền cho thuê đất; + Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội; + Tiền bán tài sản, cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước trong các đơn vị hành chính sự nghiệp; + Các di sản Nhà nước được hưởng; + Các khoán đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các nhân trong và ngoài nước. Đây là khoản đóng góp thường mang tính chất nhân đạo; + Thu tiền kết dư ngân sách năm trước; + Thu tiền phạt, tiền bán hàng tịch thu; + Thu viện trợ bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức và các cá nhân nước ngoài; 13
    17. 21. 1.2.5.2. Chấp hành dự toán thu ngân sách nhà nước Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn và đối tượng thu chủ yếu gửi cơ quan tài chính vào cuối quý trước. Thu ngân sách nhà nước được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnh phí và lệ phí,…). Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thống kho bạc nhà nước. Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách. Các khoản thu có tính chất nội địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện. Cơ quan Hải quan tổ chức thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu. Cơ quan Tài chính và các cơ quan khác được ủy quyền thu các khoản thu còn lại của NSNN. 1.3. Phân định nguồn thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương 1.3.1. Nguồn thu từ các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% Bao gồm: Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu; thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành; các khoản thuế và thu khác từ các hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước; tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ tài chính của trung ương, thu nhập từ vốn góp của ngân sách trung ương. Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ; phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý; chênh lệnh thu lớn hơn chi của ngân sách nhà nước Việt Nam; thu kết dư ngân sách trung ương; thu chuyển nguồn 15
    18. 22. ngân sách từ ngân sách trung ương năm trước chuyển sang; các khoản phạt tịch thu và thu khác của ngân sách trung ương theo quy định của luật . 1.3.3. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Do điều kiện kinh tế – xã hội, tự nhiên của các địa phương khác nhau, trình độ phát triển không đều, do đó số thu và yêu cầu chi của mỗi địa phương cũng không giống nhau. Vì vậy, ngoài các khoản thu từng cấp được hưởng 100% nêu 16
    19. 23. trên, Luật ngân sách năm 2002 ở nước ta còn quy định có một số khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm giữa ngân sách các cấp trung ương và địa phương (tỉnh, thành phố). Các khoản đó là: Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu) và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành (theo quy định của Bộ Tài chính) và thuế thu nhập từ các hoạt động xổ số kiến thiết; thuế thu nhập với người có thu nhập cao (không kể các khoản thuế và thu khác từ hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, tiền thuê mặt đất, mặt nước); thuế TNCN; thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước (không kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết, phí xăng, dầu). Tỷ lệ phần trăm các khoản thu phân chia chính là cái “van” điều chỉnh nguồn thu giữa các địa phương, đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các địa phương. Địa phương nào có điều kiện phát triển kinh tế thuận lợi, có nguồn thu lớn thì tỷ lệ (%) này thấp; ngược lại, địa phương nào kinh tế chậm phát triển, nguồn thu nhỏ thì tỷ lệ này tăng lên. Tỷ lệ phân chia này do Chính phủ quyết định cho tất cả các khoản thu phân chia, được xác định riêng từng tỉnh (thành phố). Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và bổ sung cân đối từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới được ổn định từ 3 – 5 năm (gọi là thời kỳ ổn định ngân sách). Trong thời kỳ ổn định ngân sách, các địa phương được sử dụng nguồn tăng thu ngân sách hàng năm (phần ngân sách địa phương được hưởng) để chi cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn; sau mỗi thời kỳ ổn định ngân sách phải tăng khả năng tự cân đối, phát triển ngân sách địa phương, thực hiện giảm dân số bổ sung ngân sách từ cấp trên hoặc tỷ lệ phần trăm (%) điều tiết thu nộp về ngân sách cấp trên (đối với địa phương có điều tiết ngân sách về cấp trên) . 1.7.2. Huyện An Lão Huyện cách trung tâm thành phố Hải Phòng 18 Km về phía Tây Nam, có diện tích tự nhiên là 11.458,45 ha, chiếm 7,4% diện tích Hải Phòng. Huyện An Lão có khu công nghiệp An Tràng và nhiều cụm công nghiệp trên quốc lộ 10. Nông nghiệp và ngành tiểu thủ công nghiệp có tỷ trọng cao. Có điểm du lịch: lễ hội núi Voi. Từ năm 2010 – 2021, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện đạt 10,8%/năm. Trong điều kiện có nhiều khó khăn, UBND huyện đã tập trung cao công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện các nhiệm vụ tình hình kinh tế – xã hội của huyện cơ bản ổn định, có bước phát triển; Trong công tác thu ngân sách, 22
    20. 29. huyện tăng cường các biện pháp chống thất thu trong lĩnh vực vận tải tư nhân và xây dựng cơ bản; Chi cục thuế phối hợp với chính quyền các xã, thị trấn về quản lý cán bộ thu trên địa bàn. Sau mỗi tuần, cán bộ thuế báo cáo trực tiếp với chủ tịch UBND xã, thị trấn về kết quả quản lý thu và tình hình thực hiện kế hoạch, đề xuất biện pháp xử lý từng trường hợp nợ đọng thuế. Định kỳ 6 tháng, một năm, cán bộ của chi cục về từng xã, thị trấn lấy ý kiến xác nhận của lãnh đạo địa phương nhận xét cán bộ thuế địa bàn. Ngoài việc thường xuyên quản lý chặt hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và hộ kế toán, chi cục tăng cường rà soát đưa các hộ mới ra kinh doanh quản lý và điều tra doanh thu làm cơ sở điều chỉnh thuế khoán. Bình quân mỗi năm chi cục đưa thêm 10-12,5% số hộ mới vào bộ thu thuế thường xuyên. Công tác quản lý hộ nghỉ, hộ kinh doanh được tăng cường, đến nay, số hộ nghỉ, bỏ, giảm xuống dưới 5%. Bên cạnh đó, chi cục luôn coi trọng công tác xác minh hoá đơn để chống thất thu đối với các hoá đơn có thuế đầu vào, ra quyết định truy thu và xử phạt thuế. Việc làm này đã có tác dụng ngăn chặn các biểu hiện vi phạm sử dụng hoá đơn. Đối với thuế môn bài, từ tháng 12 của năm trước, chi cục triển khai nhiệm vụ quản lý thu thuế năm sau, phát hành thông báo tới hộ kinh doanh cá thể và doanh nghiệp dân doanh mức thuế môn bài năm tới, với yêu cầu các hộ phải hoàn thành trong 5 ngày đầu tháng giêng. Những ngày đầu năm, cả chi cục tập trung thu thuế môn bài . 1.7.4. Huyện An Dương Huyện An Dương là một huyện nằm ở phía Tây thành phố Hải Phòng, được tách ra từ huyện An Hải cũ vào năm 2002. Huyện An Dương rộng 98,3196 km2 và có gần 150 ngàn dân (năm 2008). Là một khu vực công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ quan trọng của thành phố Hải Phòng. An Dương có khu công nghiệp Nomura, cụm công nghiệp Bến Kiền, …. Những năm trước đây tình trạng “DN ma”, thành lập để mua bán hóa đơn đỏ phát triển ồ ạt đã gây hệ lụy xấu. Tỷ lệ DN hoạt động trên địa bàn huyện còn khoảng 25%, trong đó, nhiều DN nợ đọng thuế nhưng không thể tìm ra địa chỉ, không liên lạc được với chủ DN. Huyện An Dương đã dùng nhiều biện pháp quyết liệt, tập trung dốc toàn lực cho thu ngân sách. Cụ thể: Huyện thành lập Ban chỉ đạo thu ngân sách, chỉ đạo rà soát, điều tra toàn bộ các hộ sản xuất kinh doanh, các DN tránh bỏ sót nguồn thu. Việc chỉ đạo công tác thu ngân sách được quy rõ đầu mối nhiệm vụ, rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm người đứng đầu. Đồng thời, huyện rà soát việc kê khai, nộp thuế, nợ đọng của từng DN, đôn đốc thu kịp thời các khoản nợ đọng vào ngân sách nhà nước. Chi cục Thuế huyện xác định công tác quản lý nợ và cưỡng chế thu nợ thuế là nhiệm vụ trọng tâm và tập trung thực hiện, giao chỉ tiêu thu nợ cho các đơn vị, tới từng cán bộ, công chức. Trong đó tiếp tục đôn đốc, cưỡng chế thu hồi hóa đơn của các DN chây ỳ một cách có chọn lọc. Đối với các DN cố ý trây ỳ, các tổ công tác sẽ triển khai biện pháp cưỡng chế. Sau khi ra quyết định thu hồi sẽ yêu cầu DN cam kết lộ trình nộp. Đối với tiền thuê đất còn nợ từ các DN, chi cục sử dụng biện pháp phong tỏa tài khoản, đình chỉ sử dụng hóa đơn. Cùng với đó, chi cục thuế huyện tăng cường kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế, trong đó tập trung vào 4 nhóm DN âm thuế giá trị gia tăng liên tục 6 tháng, kinh doanh mặt hàng nhạy cảm như xăng dầu, sắt thép, đất đá cát sỏi, DN có dấu hiệu vi phạm hóa đơn, DN có doanh thu trên 3 tỷ đồng/tháng. Chi cục thuế động viên các DN thuộc 24
    21. 31. đối tượng nộp tờ khai và thuế 3 tháng thường xuyên phát sinh thuế GTGT tự nguyện khai thuế và nộp thuế hàng tháng. Các đội thuế rà soát lại các khoản nợ thuế, phân loại nợ, kịp thời điều chỉnh các khoản nợ ảo do nguyên nhân khách quan… Huyện thành lập các tổ công tác trực tiếp tới các DN có số nợ đọng lớn yêu cầu các đơn vị chấp hành việc nộp thuế. Bên cạnh đó, huyện tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận QSDĐ cho diện tích đất 03 phù hợp với quy hoạch thu nộp tiền vào ngân sách nhà nước; đôn đốc các khoản thu thuế, kiểm tra, rà soát các khoản thu từ quỹ đất công và quỹ đất 5% nộp ngân sách; tăng cường công tác thu thuế hoa lợi từ việc cho thuê đất bãi bồi ven sông; tăng thu từ việc thu thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động kinh doanh xây dựng, lắp đặt đối với các nhà thầu phụ thi công công trình lớn trên địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ làm thủ tục đấu giá đối với các dự án cũ đã có quyết định giao đất của thành phố, hoàn thành việc GPMB . 1.8. Bài học kinh nghiệm thu NSNN địa phương Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế; triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm.Thứ nhất, tổ chức hệ thống ngân sách phải phù hợp với hệ thống hành chính, Nhà nước chỉ có một ngân sách, tập hợp tất cả các khoản thu và chi. Ba là, công tác lập dự toán thu NSNN cần có điều chỉnh phù hợp hơn với thực tiễn. Lập dự toán năm kế hoạch trong bối cảnh lạm phát cao của năm báo cáo dễ bị thổi phồng nguồn thu, gây áp lực lên điều hành thu NSNN. Do nhiều khoản thuế có tương quan cao với mức giá nên khi mức giá tăng thấp sẽ khó thu đạt dự toán. 26
    22. 33. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THU NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 2.1. Tình hình thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng Thành phố Hải Phòng 2.1.1. Tình hình phát triển kinh tế xã hội huyện Tiên Lãng Thành phố Hải Phòng Tiên Lãng là huyện đồng bằng ven biển nằm về phía Nam thành phố Hải Phòng, với tổng diện tích 19.353km2 , dân số trung bình 150.450 người, kinh tế chủ yếu phát triển dựa trên nền nông nghiệp truyền thống, với 3 mặt giáp sông, một mặt giáp Vịnh Bắc Bộ nên Tiên Lãng có tài nguyên rừng ngập mặn khá đa dạng và trên 3.000 ha vùng bãi triều với khí hậu trong lành, cảnh quan đẹp rất thuận lợi cho thăm quan, du lịch sinh thái và thu hút các dự án đầu tư nuôi trồng thuỷ sản. Với lịch sử hình thành và phát triển của huyện Tiên Lãng có từ hàng ngàn năm. Tiên Lãng đã, đang giữ gìn, bảo tồn những ngôi đền chùa kiến trúc cổ kính, mang đậm tính dân gian, có giá trị văn hoá và mang tính nghệ thuật cao và hiện có 4 điểm di tích đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng như: Đình Cựu Đôi, đền Hà Đới (Tiên Thanh), đền Gắm, đình Đốc Hậu (Toàn Thắng) với những Lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc của văn minh sông Hồng. Nằm giữa vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ, Khu du lịch nước suối khoáng nóng Tiên Lãng chỉ cách thành phố Hải Phòng 18 km về phía Nam. Đây được đánh giá là 1 trong 5 mỏ nước khoáng đặc biệt có giá trị của Việt Nam, và cùng loại với nguồn nước khoáng nổi tiếng trên thế giới. Nước khoáng nóng thiên nhiên Tiên Lãng độc nhất vô nhị ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trong những năm qua, kinh tế của huyện Tiên Lãng có tốc độ tăng trưởng khá, có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp vừa và nhỏ, đồng thời xác định nông nghiệp là ngành mũi nhọn của địa phương, tiếp tục củng cố ngành nghề, làng nghề truyền thống. Ở khu vực nông thôn kinh tế đang từng bước phát triển, cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng giảm lao động nông nghiệp, tăng tỷ lệ lao động trong các ngành (dịch 27
    23. 34. vụ, xây dựng, công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp), đời sống của nhân dân không ngừng được nâng lên rõ rệt ….. Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn huyện tăng từ 4.552 tỷ đồng năm 2010 lên 6.505 tỷ đồng năm 2014, tăng gấp 1,4 lần. Trong đó, năm 2014 giá trị sản xuất toàn ngành nông – lâm – ngư nghiệp thủy sản (giá so sánh năm 2010) là 3.266 tỷ đồng, đạt 94,5% kế hoạch, tăng 1,81% so với năm 2013; công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp (theo giá năm 2010) là 626 tỷ đồng, đạt 100,2% kế hoạch, tăng 16,7% so với năm 2013 (khối doanh nghiệp là 365,87 tỷ đồng); vốn đầu tư phát triển 651 tỷ đồng; thương mại dịch vụ 1.962 tỷ đồng. Khối lượng hàng hóa vận chuyển là 1.590 nghìn tấn, đạt 100,6% kế hoạch, tăng 5,4% so với năm 2013. Khối lượng hàng hóa luân chuyển là 21.060 ngàn tấn/km, đạt 100,3% kế hoạch, tăng 6,1% so với năm 2013. Thu nhập bình quân trên đầu người tính theo giá thực tế là 28,62 triệu đồng, tăng 3,35% so với năm 2013. Cơ cấu giá trị sản xuất giữa các ngành: Nông nghiệp, công nghiệp- xây dựng và dịch vụ là: 50,2%-19,6%-30,2% (kế hoạch là 51,2%-20%-28,8%). Trong năm 2014 có 05 dự án mới được triển khai xây dựng và đưa vào hoạt động, với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 trên 400 tỷ đồng. 2.1.2. Các nguồn thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng Thành phố Hải Phòng. 2.1.2.1. Các nguồn thu ngân sách huyện Tiên Lãng Thành phố Hải Phòng Nhiệm vụ thu – chi ngân sách huyện Tiên Lãng được xác định rõ ràng, cụ thể dựa trên nguyên tắc là đảm bảo tình chủ động trong cân đối và điều hành ngân sách, phù hợp với nhiệm vụ chính trị của chính quyền cơ sở, phù hợp với quy định của Luật NSNN. Trên cơ sở quy định tiêu thức phân cấp nguồn thu và phân chia các khoản thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương do Bộ Tài chính quy định tại Thông tư 188/2010/TT-BTC ngày 22/11/2010, UBND thành phố Hải Phòng ban hành các văn bản quy định phân cấp chi tiết cụ thể. Ngân sách huyện Tiên Lãng được tổ chức thực hiện từ hai nguồn thu: – Các khoản thu do huyện quản lý, tổ chức thu nộp vào ngân sách, ngân sách huyện hưởng 100%, bao gồm: 28
    24. 35. + Thuế môn bài, thuế tài nguyên thu từ các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do huyện quản lý (hạch toán mã chương 7XX); + Các khoản phí và lệ phí do huyện quản lý; + Các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do huyện quản lý; + Các khoản phạt vi phạm hành chính, tịch thu phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật do các đơn vị thuộc huyện trực tiếp xử lý (trừ các trường hợp phối hợp với các đơn vị trung ương và thành phố); + Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật vào ngân sách huyện; + Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho huyện và các đơn vị do huyện quản lý; + Viên trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho huyện và các đơn vị do huyện quản lý; + Thu kết dư ngân sách huyện; + Thu chuyển nguồn của ngân sách huyện; + Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật nộp ngân sách huyện theo quy định; + Thu bổ sung từ ngân sách thành phố. – Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa các cấp ngân sách, gồm: + Thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các hộ cá nhân sản xuất kinh doanh do cấp huyện quản lý (hạch toán mã chương 7XX, 8XX) ngân sách huyện hưởng 88%; + Lệ phí trước bạ do cấp huyện quản lý và tổ chức thu hưởng 100% + Tiền thuê đất do cấp huyện quản lý, hưởng 100% + Thuế nhà đất, Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của doanh nghiệp, tổ chức do huyện quản lý: Ngân sách cấp huyện 100%; Thuế nhà đất, Thuế sử dụng 29
    25. 36. đất phi nông nghiệp (trừ thuế nhà đất của các doanh nghiệp, tổ chức) thực hiện ủy nhiệm thu cho UBND cấp xã: Ngân sách cấp huyện 30%, Ngân sách cấp xã 70%. + Thu tiền sử dụng đất: Dự án trên địa bàn huyện và được giao cho huyện tổ chức thực hiện: Chi bồi thường giải phóng mặt bằng và đầu tư cơ sở hạ tầng trước đấu giá (giao đất): ghi thu tiền sử dụng đất và điều tiết ngân sách huyện 100%; Số sau khi khấu trừ kinh phí giải phóng mặt bằng và đầu tư cơ sở hạ tầng điều tiết 17,5% ngân sách huyện, 35% ngân sách xã. 2.1.2.2. Tình hình thu ngân sách của huyện Tiên Lãng. Thu ngân sách huyện trong những năm qua dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện Uỷ, được sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương và Thành phố, với sự cố gắng, nỗ lực của các cấp, các ngành. Tổng thu ngân sách nhà nước tăng từ 321,5 tỷ đồng năm 2010 lên 860,4 tỷ đồng năm 2014, gấp 2,7 lần, tăng bình quân hàng năm 27,9%/năm. Trong đó, thu ngân sách địa phương năm 2010 là 213,2 tỷ, năm 2014 là 623,8 tỷ đồng. Đạt được những kết quả như vậy, trước hết huyện Tiên Lãng hết sức quan tâm từ khâu lập dự toán, lập kế hoạch thu đến tổ chức thực hiện kế hoạch, đảm bảo huy động được tối đa các nguồn lực của huyện, tạo động lực phát triển và hoàn thiện các mặt kinh tế – xã hội của huyện, nâng cao đời sống nhân dân. Trong những năm qua mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng tình hình thu ngân sách của huyện Tiên Lãng đã đạt được những thành tựu nhất định. Nhờ cơ chế khoán thu, huyện đã chủ động khai thác, phát huy thế mạnh trong công tác thu ngân sách, hạn chế tình trạng trông chờ ỷ lại cấp trên. 2.2. Thực trạng thu ngân sách địa phương trên địa bàn huyện Tiên Lãng Thành phố Hải Phòng 2.2.1. Thực trạng công tác lập dự toán NS Công tác lập dự toán được xác định là khâu hết sức quan trọng, bởi nó quyết định chất lượng phân bổ về sử dụng nguồn lực tài chính, đồng thời nó cũng là căn cứ quan trọng cho việc kiểm soát chi phí hàng năm của NSNN. Căn cứ tình hình kinh tế trong nước, thành phố, tình hình thực tế huyện, các mục tiêu của kế hoạch 30
    26. 38. đổi về tình hình tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, khả năng phát triển sản xuất kinh doanh và thu nộp ngân sách của các tổ chức, cá nhân, tiếp tục đánh giá lại tình hình thu NSNN 6 tháng đầu năm, đánh giá lại số ước thu năm báo cáo, để dự báo lại và xây dựng dự toán thu năm kế hoach phù hợp và đảm bảo tính khả thi. Xây dựng dự toán ngân sách có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị và các cấp, các ngành, các địa phương nên đảm bảo tính công khai, minh bạch, công bằng trong xây dựng kế hoạch và phân bổ nguồn lực, ngân sách Nhà nước, nâng cao chất lượng và hiệu quả của kế hoạch thu ngân sách. Tuy nhiên, công tác lập dự toán NS của huyện còn có những vấn đề tồn tại: – Số dự toán NSNN thành phố giao và số dự toán của huyện xây dựng có sự khác nhau, bởi vì một số khoản thu được để lại quản lý chi qua NSNN chưa tính toán chính xác khi tính dự toán, chi hành chính do phải chi bổ sung một số định suất ở xã, các khoản huy động đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, thu khác ngân sách thường không ổn định nên kết quả quyết toán ngân sách huyện, xã thường cao hơn số dự toán thành phố giao. Vì vây, khó đánh giá thực chất tăng trưởng kinh tế qua việc thực hiện dự toán thu ngân sách. Những năm gần đây, UBND thành phố giao chỉ tiêu tuy có gần sát với thực tế của huyện nhưng nguồn kinh tế để đầu tư xây dựng cơ bản thường được bố trí từ nguồn sử dụng đất do đó thường không bố trí cùng với việc giao dự toán thu, chi. Vì vây, số thực hiện luôn luôn cao hơn dự toán giao. – Dự toán ngân sách chưa phản ánh và gắn kết với thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm và những chương trình phát triển kinh tế trọng điểm của huyện có tính chất trung và dài hạn. Vì vây, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội thiếu căn cứ phân bổ nguồn lực trong ngắn hạn và dài hạn, dự toán NSNN chưa dự báo phân tích các nhân tố rủi ro do tác động của nền kinh tế. – Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành thành phố với các địa phương trong phân bổ vốn đầu tư nên chưa phát huy hiệu quả của nguồn lực, hiệu quả vốn đầu tư. Nguồn vốn xây dựng cơ bản vốn đã thiếu lại phải cân đối trả nợ 32
    27. 40. chương trình trao đổi qua kho bạc. Chi cục thuế tập trung quản lý các sắc thuế, phí và lệ phí sau: + Thuế ngoài quốc doanh: gồm thuế môn bài, thuế GTGT, thuế TNDN, thuế TTĐB, thuế tài nguyên, phạt do ngành thuế quản lý. Đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh được quy định cụ thể trong Luật quản lý thuế, các Luật thuế. + Thuế TNCN: đối tượng quản lý thu được quy định chi tiết cụ thể trong Luật thuế TNCN + Lệ phí trước bạ: đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân có nhu cầu đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản được quy định chi tiết cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. + Tiền thuê đất: đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân thuê đất được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. + Thu tiền sử dụng đất: đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. + Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân đang quản lý và sử dụng đất đã được quy định cụ thể trong Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp. + Phí, lệ phí: đối tượng quản lý thu là các tổ chức, cá nhân được quy định cụ thể trong văn bản quy phạm pháp luật. Chi cục thuế căn cứ vào các nguồn thu trên địa bàn, căn cứ vào dự toán thu do thành phố giao. Chi cục thuế phân bổ giao kế hoạch cho từng đội thuế để các đội chủ động xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện. – Đối với UBND các xã, thị trấn: + Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: Thực hiện ủy nhiệm thu. Chi cục thuế ủy nhiệm thu cho từng xã, thị trấn. Các xã, thị trấn ký ủy nhiệm thu với từng thôn, khu. Quản lý chuyên môn nghiệp vụ là cơ quan thuế. 34
    28. 41. http://bit.ly/KhoTaiLieuAZ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bao Quang Tri : Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Để Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Địa Phương
  • Tài Liệu Thực Trạng, Giải Pháp Tăng Nguồn Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nỗ Lực Tìm Giải Pháp Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Nhiều Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách
  • Thực Hiện Đồng Bộ Các Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Ngay Từ Đầu Năm
  • Một Số Biện Pháp Để Giảng Dạy Tích Hợp Giáo Dục Dân Số Trong Bộ Môn Địa Lý Skkn Dia Tich Hop Dan So Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Chăm Sóc Giáo Dục Trẻ
  • Phương Pháp Giáo Dục Giá Trị Sống Cho Học Sinh (Kì 2)
  • Giải Pháp 5 Bước Đưa Giáo Dục Giới Tính Vào Trường Học
  • Đâu Là Giải Pháp Giáo Dục Giới Tính Cho Trẻ Em?
  • Quy Định Mới Về Áp Dụng Biện Pháp Giáo Dục Tại Xã, Phường, Thị Trấn
  • MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢNG DẠY TÍCH HỢP

    GIÁO DỤC DÂN SỐ TRONG BỘ MÔN ĐỊA LÝ

    Về bản chất, mỗi môn học là một lĩnh vực tri thức khoa học có tính liên ngành, bao gồm một hệ thống những kiến thức cơ bản và cần thiết được kết hợp lại trên cơ sở thành tựu của nhiều ngành khoa học và kỹ thuật hiện đại. Người ta gọi đây là một hệ thống tri thức khoa học tích hợp ( kết hợp lại với nhau, hòa nhập vào nhau, lồng ghép vào nhau ).

    Tích hợp theo nghĩa chung nhất được hiểu là sự liên kết các thành phần, các bộ phận khác nhau một cách hòa hợp, tương thích trong một tổng thể. Dạy học tích hợp được hình thành trên cơ sở của những quan niệm tích cực về quá trình học tập và quá trình dạy học, thực hiện quan điểm tích hợp trong giáo dục sẽ góp phần phát triển tư duy tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề và làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học sinh so với việc học và thực hiện các mặt giáo dục một cách riêng rẽ. Các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội vốn không tồn tạ i một cách rời rạc, đơn lẻ, chúng là những thể tổng hợp, hoàn chỉnh và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

    Các ngành khoa học đã tạo nên sức mạnh tổng hợp cho việc truyền thụ kiến thức của giáo viên và sự tiếp nhận kiến thức của học sinh một cách tự giác. Cũng chính do đặc điểm đó mà giáo dục dân số được đưa vào nội dung giáo dục phổ thông chủ yếu bằng con đường tích hợp, tức là liên kết, lồng ghép với các môn học có sẵn trong chương trình giáo dục phổ thông một cách hợp lý, nhưng chủ yếu là môn Địa lý.

    Đó là lý do vì sao chúng tôi chọn đề tài : Một số biện pháp để giảng dạy tích hợp giáo dục dân số trong bộ môn Địa lý.

    + Thực hiện theo chương trình thay sách giáo khoa và đổi mới phương pháp dạy học ở trường THCS.

    + Hướng dẫn chương trình bộ môn Địa lý ở bậc trung học cơ sở.

    – Làm cho học sinh thông hiểu và biết đánh giá đúng đắn tình hình dân số hiện nay ở nước ta và trên thế giới, nhận thức rõ ràng mối quan hệ giữa dân số với phát triển kinh tế và xã hội. Ảnh hưởng của sự gia tăng dân số đối với chất lượng cuộc sống xã hội, gia đình hiện tại và tương lai.

    Trong thực tế giảng dạy, giáo viên chỉ chú trọng việc cung cấp những kiến thức mới, nhữ ng phần trọng tâm của bài học chứ chưa chú trọng lồng ghép những kiến thức cần thiết phải tích hợp. Bởi vì những kiến thức cần tích hợp chỉ là một đơn vị kiến thức nhỏ trong một bài học.

    Giáo viên coi một đơn vị kiến thức cần phải giảng dạy tích hợp là nằm trong các bộ môn khác sẽ giảng dạy.

    CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

    Bộ môn Địa lý vừa nghiên cứu Địa lý tự nhiên vừa có phần kinh tế – xã hội. Do vậy để học sinh nắm một cách tổng thể những kiến thức tự nhiên, kinh tế – x ã hội, nhất là vấn đề dân số để các em có một nhận thức nhất định về chiến lược và chính sách phát triển dân số của nước ta thông qua chương trình Địa lý trung học cơ sở là một điều cần thiết.

    Vấn đề giảng dạy tích hợp g iáo dục dân số trong bộ môn Địa lý không phải là mới, tuy nhiên việc thực hiện chưa được đồng bộ trong giáo viên và ở các khối lớp làm cho việc chuyển tải các nội dung cần thiết trong bài học chưa được trọn vẹn.

    3. Nguyên nhân của thực trạng:

    – HS chưa quan tâm nhiều đến các nội dung mà giáo viên tích hợp trong giảng dạy, coi đó là phần liên hệ với thực tế chứ không phải là kiến thức cần thiết.

    – Giáo viên chưa xác định được những nội dung cần phải giảng dạy tích hợp.

    – Nội dung kiến thức bài học tương đối n hiều nên giáo viên chỉ chú trọng đến những kiến thức trọng tâm của bài học.

    CHƯƠNG 3 : BIỆN PHÁP, GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI :

    Việc đào tạo cho học sinh hiện nay phải có kiến thức tổng hợp và toàn diện. Vì vậy, trong khi giảng dạy bộ môn Địa lý phải biết tích hợp những kiến thức cần thiết trong các nội dung bài giảng. Những kiến thức này bổ sung cho những kiến thức mà các em sẽ được học nên việc tiếp thu kiến thức sẽ đựơc sâu sắc hơn, khả năng vận dụng vào thực tế sẽ dễ dàng hơn.

    2.1/ Xác định các mức độ tích hợp trong các bài học :

     Tích hợp “trong nội bộ môn học”, trong đó ưu tiên các nội dung của môn học như tích hợp Địa lý tự nhiên với Địa lý kinh tế – xã hội.

     Tích hợp ” xuyên môn”, phát triển những kỹ năng mà học sinh có thể sử dụng trong tất cả môn học, trong tất cả tình huống.

    2.2/ Những việc cần chuẩn bị cho bài soạn theo hướng tích hợp :

    – Xác định được mục tiêu bài học và các nội dung cần tích hợp.

    – Chuẩn bị về cơ sở vật chất và thiết bị đồ dùng dạy học.

    3.3/ Những nội dung về giáo dục dân số cần tích hợp giảng dạy trong chương trình Địa lý THCS :

    3.4/ Các hình thức tích hợp giáo dục dân số :

    Bài 2 :Sự phân bố dân cư. Các chủng tộc trên thế giới.

    Bài 4 :Thực hành Phân tích lược đồ dân số và tháp tuổi.

    Bài 10 : Dân số và sức ép dân số tới tài nguyên, môi trường ở đới nóng.

    Thông qua nội dung bài học và các biểu đồ, tháp tuổi học sinh phải nắm được tình hình gia tăng dân số, sự phân bố dân cư và những tác động của dân số tới kinh tế – xã hội, mối quan hệ giữa dân số với môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

    + Nội dung địa lý :

    – Dân số thế giới và mật độ dân số.

    – Sự bùng nổ dân số và tình hình phân bố dân cư.

    + Nội dung tích hợp về giáo dục dân số :

    – Cung cấp các khái niệm cơ bản về dân số, mật độ dân số, bùng nổ dân số.

    – Tình hình dân số thế giới phát triển quá nhanh.

    + Cách tiến hành : Giáo viên cho học sinh tìm ra các nội dung :

    – Tốc độ tăng dân số ngày càng lớn đặc biệt các châu lục Á, phi, Mỹ la – tinh.

    – Nguyên nhân do số sinh còn cao, trong khi số tử giảm thấp xuống.

    – Hậu quả : dân số tăng nhanh hơn mức tăng của kinh tế đặc biệt ở các nước châu Á, Phi, Mỹ la-tinh là những nơi có trình độ sản xuất chưa cao.

    Gây khó khăn cho nhiều mặt của cuộc sống ( về nhà ở, môi trường, giáo dục, bệnh viện. . .)

     Ví dụ : Bài 54 : Dân cư, xã hội châu Âu ( lớp 7 )

    + Nội dung tích hợp về giáo dục dân số :

    – Độ tăng dân số thấp nhất thế giới.

    – Dân số ổn định là một điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế – xã hội.

    + Cách tiến hành :Sử dụng triệt để các đồ dùng dạy học hiện có, các biểu đồ, bảng thống kê. . . qua đó thấy được mối quan hệ dân số với các ngành sản xuất.

     Ví dụ Bài 5 : Đặc điểm dân cư, xã hội châu Á (Lớp 8)

    + Nội dung tích hợp về giáo dục dân số :

    – Chất lượng cuộc sống suy giảm.

     Ví dụ Bài 2 : Dân số và gia tăng dân số (Lớp 9)

    + Nội dung tích hợp về giáo dục dân số :

    – Dân số nước ta vào loại đông trên thế giới.

    – Dân số nước ta tăng nhanh.

    – Cơ cấu dân số trẻ.

    b. Giáo dục dân số qua tranh ảnh, các đoạn phim, bảng số liệu, biểu đồ. . . :

    – Đây là phương tiện trực quan tốt nhất để học sinh tiếp cận các nội dung về dân số và giáo viên có điều kiện tốt nhất để giáo dục dân số( nhất là sử dụng giáo án điện tử). Các tháp tuổi có trong sách giáo khoa( hình 1.1 lớp 7, hình 5.1 lớp 9. . .)nếu sử dụng tốt ngoài việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh còn làm cho giờ giảng hấp dẫn hơn và học sinh chủ động làm việc nhiều hơn, kết hợp thông báo một lượng thông tin khá rộng.

    c. Giáo dục dân số qua các bài thực hành :

    Ví dụ Bài 5 Thực hành : Phân tích và so sánh tháp dân số năm 1989 và năm 1999 ( Lớp 9 ).

    – Học sinh phân tích được hình dạng của tháp tuổi, cơ cấu dân số theo độ tuổi và tỉ lệ dân số phụ thuộc.

    – Qua đó học sinh nhận xét về sự thay đổi của cơ cấu dân số, giải thích nguyên nhân, điều quan trọng là học sinh có nhận thức và hành vi đúng đắn trong lĩnh vực này.

    d. Giáo dục dân số qua hoạt động tổ chức ngoại khóa :

    Ngoài các hình thức tổ chức trên, hoạt động ngoại khóa cũng là một điều kiện để giáo dục tích hợp dân số. Nội dung ngoại khóa nên hướng vào các chủ điểm :

    – Các hậu quả do dân số phát triển nhanh gây ra trên toàn cầu.

    – Tình hình dân số của các địa phương trong cả nước và địa phương nhà trường đang đóng. Các chủ trương, biện pháp của nhà nước ta và địa phương ? Hậu quả của việc tăng dân số ? Tình hình ăn ở, học tập, vui chơi giải trí của các bạn học sinh trong các gia đình đông con ra sao ?

    Các đề tài ngoại khóa rất phong phú. Tùy theo điều kiện thực tế ( thời gian, nguồn tài liệu, trình độ người báo cáo. . .) mà chọn các đề tài cho thích hợp.

    + Các hình thức thực hiện :

    – Giáo viên giao cho các nhóm học sinh tìm hiểu thực tế và cung cấp tài liệu cho học sinh để báo cáo ở từng lớp, từng khối.

    – Mời các cộng tác viên dân số ở địa phương báo cáo.

    – Phối hợp với tổ chức đoàn thể trong nhà trường để thực hiện. . .

    3. Tổ chức triển khai thực hiện :

    Việc giảng dạy tích hợp giáo dục dân số qua bộ môn Địa lý như trên đã làm cho nhận thức học sinh thay đổi trong cách tiếp cận các nội dung kiến thức. Không những có những nhận thức, hành vi đúng đắn về dân số mà còn ham thích học tập bộ môn Địa lý. Điều này thể hiện qua chất lượng học tập bộ môn địa lý trong học kỳ 1 so với khảo sát đầu năm như sau :

    Việc giảng dạy tích hợp giáo dục dân số thông qua bộ môn Địa lý là điều cần thiết đối với nhận thức của học sinh. Tuy nhiên cách thức tổ chức giảng dạy và lồng ghép một cách nhẹ nhàng là điều cần thiết. Tránh tình trạng tích hợp một cách miễn cưỡng sẽ làm cho nội dung bài dạy sẽ nặng nề.

    Qua đó, giáo viên và học sinh sẽ có trách nhiệm và hành vi đúng đắn hơn đối với công tác dân số.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Tiễn Và Kinh Nghiệm Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Mấy Giải Pháp Góp Phần Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Giáo Dục Chính Trị, Tư Tưởng Ở Đơn Vị Cơ Sở Hiện Nay
  • Giáo Dục Chính Trị Tư Tưởng Cho Cán Bộ, Đảng Viên
  • Những Sai Lầm Phổ Biến Trong Cách Dạy Con Của Cha Mẹ Hiện Nay
  • Những Nguyên Tắc Vàng Giáo Dục Con Cái Trong Gia Đình
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Địa Lí Ở Tiểu Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Về Phương Pháp Dạy Học
  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Là Gì? Dạy Như Thế Nào?
  • Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Được Sử Dụng Phổ Biến
  • Top 10 Phương Pháp Dạy Học Tích Cực 【Thành Công Nhất】
  • Giải Pháp Dạy Học Trực Tuyến E
  • Môn học Địa lí ở tiểu học là một trong những môn học vó vị trí quan trọng trong chương trình giáo dục. nó cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về thiên nhiên và cuộc sống con người của các vùng miền trong đất nước Việt Nam. Việc dạy học môn địa lý đã có chương trình riêng biệt và được in chung với môn học lịch sử gọi là sách Lịch sử và Địa lý.

    Nhưng một thực tế hiện nay việc học tập của học sinh ở tiểu học các em không tích cực học tập môn học này một cách say sưa và tự giác. Các em thường chú trọng vào hai môn học chính là Toán và Tiếng Việt do đó việc nắm bắt kiến thức về Địa lý còn ở mức trung bình. Bên cạnh đó việc giúp đỡ của bố mẹ các em ở nhà cũng không được quan tâm nhiều nên chất lượng học tập môn học này ngày càng có dấu hiệu yếu hơn cho dù giáo viên đã tìm nhiều cách giúp đỡ để cho các em học tập tốt.

    Với vai trò là một cán bộ quản lý phụ trách công tác chuyên môn, bản than tôi luôn chu trọng vào chất lượng giáo dục chung của nhà trường, tôi thường khuyến khích giáo viên cần quan tâm đến chất lượng học tập của mỗi học sinh, giúp các em học đều các môn, không phân biệt môn nào là chính, môn nào là phụ. Cuối môi tháng, mỗi kì tôi thường tổ chức các lớp chuyên đề nhằm giúp giáo viên rút kinh nghiệm trong công tác giảng dạy cũng nư học hỏi lẫn nhau nhằm tìm ra những phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng học sinh tại địa phương.

    Đây cũng là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà tôi đề ra đầu mỗi năm học. Riêng năm học 2021-2016 này tôi đã lạp kế hoạch cụ thể, chi tiết việc nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường đối với giáo viên các lớp, nhất lừ môn học Địa lý. Đây cũng là nội dung đề tài: “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí mong rằng sáng kiến nhỏ này sẽ góp phần vào sự thành công của nền giáo dục huyện nhà.

    Mục tiêu: giúp giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học nhằm nâng cao kiến thức địa lí thông qua bản đồ, lược đồ, tranh ảnh, thơ ca…một cách tốt nhất. Từ đó tạo hứng thú cho học sinh trong học tập môn học này.

    Nhiệm vụ: Để thực hiện thành công đề tài tôi thực hiện các nhiệm vụ chính sau đây:

    – Nghiên cứu lý luận về nội dung đề tài, tâm sinh lí lứa tuổi học sinh

    – Khảo sát tình hình và chất lượng học tập của học sinh học tập môn địa lí hiện nay ở tiểu học nói chung và trường tiểu học …………….. nói riêng.

    – Từ thực trạng đó đề ra biện pháp có hiệu quả giúp học sinh học tốt môn Địa lí. Từ kết quả thực nghiệm để triển khai và đánh giá kết quả rút ra bài học kinh nghiệm bổ ích. Từ đó triển khai mở chuyên đề bồi dưỡng phương pháp dạy học cho giáo viên của trường tiểu học ………………

    Học sinh khối 4,5 trường Tiểu học ……………… Nghiên cứu các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học địa lí ở tiểu học hiện nay.

    Do điều kiện hạn chế về thời gian và không gian nen phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ nghiên cứu trong trường tiểu học.

    Dựa trên những tư liệu về các chuyên đề đã được nghiên cứu, tôi tiến hành khảo sát đối tượng học sinh, từ đó có cơ sở xây dựng kế hoạch khảo nghiệm sao cho đạt kết quả tốt hơn

    Sau khi đã có kết quả nghiên cứu về việc học tập môn Địa lý của học sinh. Qua đó tôi tiến hành tổ chức khảo nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi vấn đề nghiên cứu.

    Sau khi triển khai thực hiện chuyên đề theo kế hoạch đề ra, tôi đã bám sát kết quả thu được, trên cơ sở đó tôi điều chỉnh cách làm để phù hợp với nội dung nghiên cứu. sau đó tổng kết quá trình thực hiện, từ đó có cơ sở đề xuất những biện pháp thực hiện đại trà đến nhiều học sinh hơn nhằm nâng cao chất lượng học tập môn Địa lí.

    Ngoài ra tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu khác để bổ trợ cho quá trình nghiên cứu của sáng kiến.

    Môn địa lí ở tiểu học góp phần bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học và những quan điểm nhận thức đúng đắn. Địa lý là một môn học có tính tổng hợp. Trong quá trình học tập địa lý học sinh luôn phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển và biến đổi không ngừng của chúng. Những kiến thức đó góp phần hình thành cho học sinh thế giới quan duy vật biện chứng. Học Địa lý giúp học sinh nhận thức đúng vai trò của tự nhiên, của con người trong các hoạt động kinh tế – xã hội trên lãnh thổ từ đó góp phần bồi dưỡng cho học sinh quan điểm duy vật lịch sử, tư duy kinh tế, tư duy sinh thái… Giáo dục cho học sinh lòng yêu nước, thái độ nhiệt tình lao động, ý thức làm chủ và lòng mong muốn góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Giúp học sinh nhận thức được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên trong việc tỏ thái độ với các hành động tiêu cực…Qua việc học Địa lý Thế giới giúp học sinh đồng tình với cuộc đấu tranh gian khổ của nhân dân lao động trên thế giới để giành độc lập, dân chủ, tiến bộ và tự do…

    Tất cả các nhận thức, tình cảm nói trên là những yếu tố cơ bản góp phần hình thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa.

    Ở nước ta việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng được chú trọng ngay từ khi dựng nước vì như Thân Nhân Trung đã nói ” Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thế nước lên nguyên khí suy thế nước xuống.”

    Ngày nay dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước việc dạy học nói chung và bồi dưỡng nhân tài nói riêng càng được chú trọng nhằm hình thành những con người có ý thức và đạo đức XHCN, có trình độ, có văn hóa, có hiểu biết kỹ thuật, có năng lực lao động cần thiết, có óc thẩm mĩ và có kiến thức tốt để kế tục sự nghiệp cách mạng, xây dựng vào bảo vệ tổ quốc.

    Với mục tiêu giáo dục: Nâng cao dân trí- Đào tạo nhân tài – Bồi dưỡng nhân tài. Môn địa lí khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khối tri thức phong phú về tự nhiên -kinh tế -xã hội và những kỹ năng kỹ xảo hết sức cần thiết trong cuộc sống. Và còn có khả năng to lớn trong việc bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học và những nhận thức dúng đắn, khả năng hình thành cho học sinh nhân cách con người mới trong xã hội hiện đại và năng động này.

    Ở bậc tiểu học từ trước tới nay với quan niệm cho rằng bộ môn địa lí là môn học phụ. Vì thế dạy và học địa lí ít được coi trọng, nên chất lượng giảng dạy thấp, học sinh thiếu hứng thú khi học bài, khi học lại chủ yếu là học vẹt để đối phó với giáo viên khi kiểm tra. Vì vậy Đa số học sinh nắm kiến thức sơ đẳng về địa lí còn nhiều hạn chế, số lượng học sinh biết tổng hợp vốn kiến thức về Tự nhiên – xã hội, vị trí địa lí của các vùng miền trên đất nước ta còn hạn chế, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành môn học vẫn còn cao.

    Là cán bộ quản lý được trưởng thành từ một giáo viên tâm huyết với nghề; tôi thấy rất băn khoăn trước chất lượng môn địa lí trong nhà trường trong những năm gần đây, tôi thấy mình phải có trách nhiệm thay đổi quan niệm đó và không có gì tốt hơn là chứng minh bằng thực tiễn rằng: môn Địa lí là môn học chính trong chương trình phổ thông và học Địa lí có vai trò rất quan trọng trong đời sống hằng ngày và trong sản xuất.

    Ngay từ khi thành lập đến nay trường luôn có số lượng học sinh khá đông hai điểm trường,với tổng số lớp là 19 lớp, gồm 490 học sinh trong đó học sinh dân tộc chiếm tỷ lệ 50%. Đội ngũ cán bộ giáo viên và nhân viên gồm 33 người. 100% các đồng chí giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, đội ngũ giáo viên phần lớn còn trẻ tuổi nên rất nhiệt tình trong mọi phong trào, ham học hỏi, yêu nghề mến trẻ, yên tâm công tác dạy học tại địa phương. Trong nhưng năm gần đây chất lượng dạy và học được năng lên rõ rệt. Đạt được điều đó trường đã gặp những thuận lơi -khó khăn sau:

    Thuận lợi: Trường luôn nhận được sự chỉ đạo chuyên môn kịp thời của Phòng Giáo dục huyện. Luôn được sự quan tâm của cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương cũng như quý bậc phụ huynh.

    Được sự quan tâm của Đảng và nhà nước cũng như ngành giáo dục đã đầu tư nhiều trang thiết bị dạy học, bên cạnh đó trường đã thường xuyên tổ chức tập huấn đổi mới phương pháp trong dạy học nhằm đưa chất lượng giáo dục ngày một nâng cao trong đó có môn địa lí.

    Sự nhận thức của các bậc phụ huynh nông thôn về việc học của con em mình ngày một khả quan. Đội ngũ giáo viên đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn chiếm hơn 100%

    Khó khăn: Bên cạnh những thuận lợi thì còn nhiều khó khăn trong dạy và học địa lí hiện nay ở trường chúng tôi đó là:

    Là một trường tiểu học duy nhất chỉ có hai điểm trường đóng trên địa bàn xã Cư kLông thuộc vùng đặc biệt khó khăn của huyện Krông Năng, địa bàn rộng gồm 8 thôn, gia đình học sinh sống xa trường, một nửa số học sinh là người dân tộc thiểu số,bố mẹ ít quan tâm đến việc học tập của con em, bên cạnh đó điều kiện kinh tế cũng như đường sá đi lại khó khăn nên phần lớn đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học nói chung và môn địa lý nói riêng.

    Ý thức học tập của học sinh chưa cao. Luôn xem môn địa lí là môn phụ kể cả cha mẹ các em. Đó là nếp nghĩ từ bao đời nay của người dân Việt Nam. Bên cạnh đó học sinh tiểu học nhớ nhanh nhưng ghi nhớ đó lại không bền vững, trình độ nhận thức của các em còn hạn chế chưa đồng đều.

    Song song với những thuận lợi -khó khăn trên, thực trạng môn địa lý ở trường có được những thành công và hạn chế sau:

    Thành công: Tuy có nhiều khó khăn nhất định nhưng trong những năm qua dạy và học môn địa lí ở trường tiểu …………….. đã có những thành công đáng ghi nhận đó là:

    – Việc thực hiện đánh giá học sinh theo thông tư 30/2014/TT-BGD ĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 Về phía học sinh, được trực tiếp tham gia đánh giá kết quả học tập của mình, của bạn, các em phát triển khả năng giao tiếp và học tập đạt kết quả tốt hơn. Phụ huynh cùng tham gia đánh giá cũng giúp họ nắm rõ hơn về tình hình học tập, rèn luyện của con. Việc đánh giá học sinh bằng lời, không dùng điểm số tránh được việc so sánh giữa học sinh này với học sinh khác, tạo tâm lý thoải mái cho các em trong học tập và các hoạt động giáo dục. Giáo viên kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ hay hạn chế của học sinh để động viên, khích lệ, hướng dẫn, hỗ trợ trong quá trình học tập, rèn luyện. Cách đánh giá này buộc giáo viên có trách nhiệm hơn với công việc, luôn tích cực đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, điều chỉnh hoạt động dạy học và giáo dục phù hợp với từng đối tượng học sinh để đạt hiệu quả cao.

    – Số học sinh có điểm môn địa lí khá giỏi trong những năm qua tăng lên đáng kể. Số em không đạt yêu cầu chiếm tỉ lệ nhỏ. Đa số các em có kiến thức cơ bản về môn địa lí trong chương trình tiểu học.

    – Về xã hội đã quan tâm hiều hơn về môn học này, biểu hiện qua một số chương trình tìm hiểu địa lí Việt Nam trên ti vi.

    – Nhà trường đã có nhiều chuyên đề, hội thảo về môn học này. Cũng như tổ chức nhiều cuộc thi tìm hiểu về địa lí như Tìm hiểu về biển đảo Việt Nam, tìm hiểu về các dân tộc Việt Nam, Thiết kê thời trang biển…

    Hạn chế: Tuy có nhiều thành công nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế chưa được khắc phục đó là:

    – Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy trên lớp là chủ yếu. Các hình thức dạy học cá nhân, ngoài trời chưa được thực hiện, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả.

    – Cơ sở vật chất phục vụ dạy học, các phương tiện dạy học còn thiếu và chưa đồng bộ.

    – Học sinh có tính ỉ lại, không chịu tìm tòi, không chủ động nắm bắt kiến thức, không tập trung vào bài học, khả năng tổng hợp kiến thức kém, tiếp thu bài chậm.

    Nhìn chung giờ học Địa lý chưa mang lại nhiều hứng thú cho học sinh. Có thể nói cách dạy và học Địa lý như trên đã gây ảnh hưởng không nhỏ đối với chất lượng dạy học, đồng thời hạn chế việc phát triển trí tuệ của học sinh khi học môn Địa lý. Vì vậy tiếp tục đổi mới một cách mạnh mẽ, có hiệu quả các phương pháp dạy học Địa lý là một trong những vấn đề quan trọng nhất cần phải được tiếp tục quan tâm và tìm cách giải quyết.

    Mặt mạnh: Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm đầu tư chất lượng chuyên môn nói chung trong đó có môn địa lí nói riêng. Khuyến khích động viên giáo viên tham gia hội giảng với nhiều hình thức, với nhiều môn học khác nhau. Luôn động viên khen thưởng kịp thời với những giáo viên giỏi, giáo viên có nhiều sáng kiến trong dạy học.

    Một số giáo viên vẫn chưa thực sự thấm nhuần tích cấp thiết, tầm quan trọng, bản chất phương hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy học Địa lý, hiểu biết về cơ sở lý luận, thực tiễn của đổi mới phương pháp dạy học còn chưa sâu sắc.

    – Đa số giáo viên vẫn chú trọng truyền thụ kiến thức theo kiểu thuyết trình xen kẽ với hỏi đáp, nặng về thông báo, giảng giải kiến thức, nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy học sinh, học sinh tiếp thu kiến thức một cách thụ động.

    Có nhiều nguyên nhân và yếu tố dẫn đến những thực trạng trên, tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài đi sâu vào nghiên cứu mở rộng nhiều vấn đề tôi nhận thấy:

    – Giáo viên mới chỉ quan tâm đến kiến thức nội dung chính của bài và những kiến thức nào cần học thuộc.

    – Bài giảng còn chưa thật hấp dẫn, chưa thu hút học sinh.

    – Các phương pháp giảng dạy còn hạn chế, chưa thật sự phát huy được vai trò của đồ dùng dạy học (mà ở đây là bản đồ; tranh ảnh…)

    – Bài giảng cứng nhắc, nặng về nội sung văn bản, thiếu tính sáng tạo. Giáo viên chưa cập nhật thông tin địa lí thường xuyên và chưa có kiến thức chuyên sâu về môn học này.

    -Thời lượng 1 tiết trong 1 tuần với môn học này quả là ít, nếu không muốn nói là “cưỡi ngựa xem hoa”.

    – Suy nghĩ của phụ huynh vẫn chưa mấy thay đổi khi xem địa lí là môn phụ dẫn đến hệ quả là không hướng dẫn con em mình đầu tư thời gian học và nghiên cứu về môn học này.

    Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những thực trạng trên nhưng theo tôi nguyên nhân cơ bản sau gây nên việc học sinh chưa mặn mà với môn học này. Đó là:

    Thứ nhất: Hiện nay, các trường tiểu học đã có bản đồ, lược đồ, tranh, ảnh, quả địa cầu,… nhưng các thiết bị và phương tiện dạy học hiện đại thì đa số là chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay. Cơ sở vật chất ở các trường tiểu học còn thiếu, chưa đủ, các tài liệu nghiên cứu chưa cập nhật kiến thức mới thường xuyên. Trong mỗi lớp học ở tiểu học tính trung bình chỉ có một đến hai bản đồ treo tường, một vài tranh ảnh treo tường và vài lớp chung nhau 1 một quả địa cầu. Các thiết bị hiện đại kèm theo chúng như ti vi, đầu video, đèn chiếu, máy vi tính… chưa được trang bị.

    Thứ hai: Giáo viên hiện nay rất ngại sử dụng đồ dùng dạy học trong giờ học. Tình trạng dạy “chay” là phổ biến, các đồ dùng nếu được sử dụng thì cũng chỉ mang tính chất hình thức, đối phó là chính và hầu như chúng được sử dụng như là những phương tiện minh hoạ, hỗ trợ cho lời giảng của giáo viên trên lớp. Giáo viên chỉ quan tâm đến tính chất minh hoạ của thiết bị mà chưa chú ý hoặc chú ý chưa đầy đủ đến việc khai thác tri thức bên trong của chúng. Bên cạnh đó, việc sử dụng đồ dùng không phù hợp với tiến trình bài học, không đúng lúc, đúng chỗ cũng là một trường hợp khá phổ biến. Một lí do khác rất quan trọng là, những giáo viên có ý thức sử dụng đồ dùng trong giờ học nhưng lại không biết cách tổ chức cho học sinh làm việc với các đồ dùng như thế nào cho hiệu quả. Với cách tổ chức giờ học và cách sử dụng các đồ dùng dạy học như hiện nay, hoạt động của học sinh trong giờ học trên lớp chủ yếu là nghe giảng, quan sát, ghi nhớ và tái hiện thông tin đã được giáo viên truyền đạt. Như vậy học sinh chỉ đóng vai trò thụ động trong quá trình nhận thức chứ chưa phải là chủ thể trong quá trình nhận thức. Học sinh không khai thác được nội dung kiến thức tiềm ẩn trong các đồ dùng dạy học, không phát huy được tính tích cực nhận thức trong quá trình học tập, không được phát huy tư duy, mối quan hệ giữa người học và các đồ dùng dạy học chỉ mang tính chất hình thức bên ngoài. Điều đó đồng nghĩa với việc học sinh chưa tiếp cận được với mục tiêu cần đạt được của bài học, không nắm được khái niệm một cách đầy đủ, chính xác. Do đó, không nâng cao được chất lượng dạy học, đặc biệt là kết quả nhận thức của học sinh.

    Thứ ba: Một vấn đề nữa là công tác quản lí, chỉ đạo lãnh đạo của nhà trường còn thiếu chặt chẽ, không kiểm tra thường xuyên việc sử dụng các đồ dùng dạy học của giáo viên. Bên cạnh đó giáo viên ý thức để học, trau dồi tay nghề cho mình còn hạn chế. Việc thăm lớp dự giờ không thường xuyên nếu không muốn nói là đối phó.

    Thứ tư: Phụ huynh và học sinh chưa đầu tư thời gian cho môn học này. Bên cạnh đó hoạt động ngoài giờ lên lớp tìm hiểu về địa lí chưa phong phú, chưa thu hút được các em tham gia.

    Thực trạng trên đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp thay đổi phương pháp dạy, tích cực hơn nữa trong việc dạy và học môn địa lí nhằm tạo hứng thú, ý thức học tập cho học sinh, từ đó nâng cao chất lượng giảng dạy.

    II.3. Biện pháp thực hiện.

      Mục tiêu của biện pháp: Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu:

    – Giúp học sinh có kĩ năng khai thác tri thức địa lí từ bản đồ, lược đồ, từ những tranh ảnh về địa lý, khai thác tri thức địa lý qua sách giáo khoa.

    – Giúp giáo viên biết cách sử dụng tục ngữ, ca dao vào bài giảng để giúp học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn, bài giảng của giáo viên sinh động hơn. Từ đó gây hứng thú cho các em trong khi học địa lí.

    – Từ những kiến thức địa lí bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, đất nước, tự hào về con người và đất nước Việt Nam.

    – Bản đồ là một phưng tiện trực quan, một nguồn tri thức địa lý quan trọng. Qua bản đồ, học sinh có thể nhìn một cách bao quát các khu vực lãnh thổ rộng lớn, những vùng lãnh thổ xa xôi trên bề mặt Trái Đất mà học sinh chưa bao giờ có điều kiện đi đến tận nơi để quan sát.

    – Về mặt nội dung, bản đồ có khả năng phản ảnh sự phân bố và những mối quan hệ của các đối tượng địa lý trên bề mặt Trái Đất một cách cụ thể, mà không có một phương tiện nào khác có thể làm được. Những kí hiệu, màu sắc, cách biểu hiện trên bản đồ là những nội dung địa lý đã được mã hóa, trở thành một ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ bản đồ.

    – Về mặt phương pháp, bản đồ được coi là phương tiện trực quan, giúp học sinh khai khác, củng cố tri thức và phát triển tư duy trong quá trình dạy học địa lý.

    – Để khai thác được những tri thức trên bản đồ, trước hết học sinh phải hiểu bản đồ, đọc được bản đồ, nghĩa là phải nắm được những kiến thức lý thuyết về bản đồ, trên cơ sở đố có được những kỹ năng làm việc với bản đồ.

    – Đối với giáo viên, hướng dẫn học sinh khai thác tri thức trên bản đồ, chủ yếu là hướng dẫn học sinh đọc được bản đồ ở các mức độ trên, quan trọng nhất là hai mức độ sau.

    – Giáo viên hướng dẫn học sinh cách chỉ bản đồ, một địa danh, một khu vực, một con sông,…giáo viên hướng dẫn chậm để các em theo kịp.

    – Muốn hiểu và đọc được bản đồ học sinh cần phải xem bảng chú giải để biết được các kí hiệu thể hiện trên bản đồ.

    Các em cần phải xác định rõ các khu vực địa hình, cấu trúc của từng khu vực dựa trên các kí hiệu bản đồ, thang màu sắc để thấy rõ đặc điểm của từng khu vực địa hình, phân biệt sự khác biệt giữa các khu vực thông qua câu hỏi hướng dẫn của giáo viên.

    Do đó tôi hướng dẫn giáo viên sử dụngn bản đồ trong dạy học địa lý bằng hai cách:

    Cách 1: in Màu phóng to trên giấy A0, đây là phương pháp sử dụng thông thường nên không tạo được nhiều hứng thú trong học tập cho học sinh.

    Cách 2 (tôi khuyên khích giáo viên tăng cường sử dụng):

    Dùng bản đồ bằng hình ảnh động trình chiếu qua máy tính. Đây là một hình thức dạy học phong phú và hấp dẫn sẽ thu hút được học sinh học tập.

    Với cách sử dụng này, giáo viên tuy mất chút ít thời gian mà bản đồ nhưng lại mang đến tính hiệu quả cao hơn.

    Ví dụ: Khi dạy bài Địa hình và khoáng sản (địa lí lớp 5). Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát lược đồ Địa hình Việt Nam trang 69 và thực hiện các yêu cầu sau:

    – Chỉ vùng đồi núi và đồng bằng so sánh diện tích của vùng đồi núi và đồng bằng nước ta. (lúc giáo viên bấm máy, những vùng sáng ở hai vùng trên sẽ nấp nháy, vừa vui mắt vừa giúp học sinh dễ nhận biết

    – Kế tên các dãy núi và cho biết dãy núi nào có hướng Tây-Bắc; Đông- Nam. Những dãy núi nào có hình cánh cung. Chỉ trên lược đồ đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ và đồng bằng duyên hải miền Trung. (tương tự như trên, giáo viên có thể tạo nhiều hiệu ứng khác nhau sao cho học sinh thích thú và dễ hiểu bài)

    Như vậy để thực hiện được yêu cầu trên học sinh phải tư duy vừa quan sát lược đồ đồng thời phân tích tổng hợp kiến thức thể hiện qua lược đồ để so sánh và hoàn thiện yêu cầu. nhưng nhờ cách sử dụng bản đồ bằng máy chiếu nên học sinh sẽ tập trung hơn so với cách xem bản đồ trong sách giao khoa hoặc trong bản đồ giấy giáo viên treo bảng.

    Tóm lại: Khi các em được quan sát trên bản đồ trong máy chiếu và kết hợp lược đồ sách giáo khoa thông qua các hiện tượng địa lý được thể hiện các em sẽ biết được kiến thức địa lí tốt hơn. Như vậy dựa vào các kiến thức địa lý thông qua bản đồ học sinh có thể phân tích, giải thích được các mối quan hệ giữa các đối tượng địa lý rồi rút ra kết luận.

    Một loại bản đồ khác được sử dụng trong học tập địa lý cũng góp phần rèn luyện kĩ năng và củng cố kiến thức cho học sinh, nhấn mạnh thêm những hiện tượng, sự vật địa lý được Giáo viên sử dụng thêm đó là bản đồ trống. Loại này được sử dụng trong những tiết ôn tập, thực hành…

    Để thực hiện hiệu quả việc sử dụng bản đồ và lược đồ giáo viên cần lưu ý:

    + Trong quá trình học tập môn Địa lý việc sử dụng bản đồ để rèn các kĩ năng cho học sinh thì giáo viên phải cần có kế hoạch từng bước, liên tục bồi dưỡng cho học sinh những tri thức về bản đồ, học tập kết hợp bản đồ dần dần hình thành thói quen nhớ lâu hiểu sâu, khi không trực tiếp sử dụng bản đồ thì các em vẫn hình dung được. Và giáo viên cũng cần chú ý kết hợp đối tượng trên bản đồ với thực tế địa phương (nếu có).

    + Sử dụng bản đồ và tranh ảnh thường xuyên trong mỗi tiết học. Ngay từ những bài đầu tiên chúng ta rèn luyện cho học sinh kĩ năng sử dụng bản đồ theo từng bước, từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.

    + Sử dụng bản đồ tranh ảnh trong các kiểu bài lên lớp như bài mới, bài ôn tập, thực hành.

    + Phải khéo léo khi sử dụng, chọn những đồ dùng thích hợp nhất, đánh giá đồ dùng trước khi sử dụng để khỏi lãng phí thời gian và làm loãng trọng tâm giờ học, không nên sử dụng quá nhiều đồ dùng trong một tiết dạy.

    Phim tư liệu là một phần minh chứng sống động và thực tế nhất trong quá trình dạy học, không chỉ là nguồn kiến thức cung cấp cho học sinh mà còn phát triển tư duy cho học sinh, có sức thu hút học sinh bởi vì Địa lý tiểu học đa số các tranh ảnh chỉ được nêu ra trong lý thuyết mà thực tế các em chưa được thấy thực tế. Trong giảng dạy địa lý, việc quan sát các sự vật, hiện tượng bằng thực tế qua phim tư liệu về địa lý xảy ra trong các không gian lãnh thổ khác nhau không phải lúc nào cũng làm được, vì vậy trong việc hình thành các biểu tượng và khái niệm cụ thể cũng rất hạn chế.

    Để giúp học sinh khắc phục nhược điểm này, trong quá trình dạy học địa lý, giáo viên thường bắt buộc phải hình thành cho học sinh những biểu tượng và khái niệm tưởng tượng dựa vào một số phương tiện dạy học như: tranh ảnh, mẫu vật, mô hình …

    Cần xác định và đánh giá được những đặc điểm và thuộc tính của đối tượng mà chúng biểu hiện. Trong các đặc điểm và thuộc tính đó, học sinh có thể khai thác được những gì cần thiết cho việc hình thành biểu tượng và khái niệm.

    Xác định những đặc điểm và thuộc tính cần phải bổ sung bằng các nguồn tri thức khác như: bản đồ, tài liệu giáo khoa, tài liệu tham khảo…

    Dự kiến cách hướng dẫn học sinh khai thác những tri thức cần thiết phục vụ cho mục đích dạy học.

    Khi dạy bài Châu Mĩ (lớp 5) thay vì yêu cầu học sinh quan sát các bức tranh ở trang 122 để khai thác kiến thức, giáo viên sử dụng một đoạn phim tư liệu các em sẽ biết được ở châu Mĩ có núi An-đét ở Pê-ru, đồng bằng trung tâm ở Hoa Kì, thác Ni-a-ga-ra ở Hoa Kì, sông A-ma-dôn ở Bra-xin, hoang mạc A-ta-ca-ma ở Chi-lê, biển Ca-ri-bê.

    Ngoài tranh ảnh trang 122 trong bài. Giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những kiến thức mở rộng thông qua các hình ảnh sau để biết được đặc điểm của rừng rậm nhiệt đới mùa mưa và mùa khô.

    Trong thực tế địa lí đã có trong những câu tục ngữ, ca dao. Từ xa xưa, trải qua hàng nghìn năm những câu ca dao tục ngữ đã được cha ông ta đúc kết lại từ những kinh nghiệm thực tế: các mối quan hệ giữa tự nhiên với tự nhiên, giữa thiên nhiên – con người, thiên nhiên – sản xuất, các quy luật thời tiết khí hậu, các quy luật tự nhiên…mặc dù trình độ nhận thức chưa được sâu sắc lắm.

    Chính ý nghĩa phong phú và rộng rãi của ca dao, tục ngữ mà nó trở thành một phần trong kho tàng kiến thức của khoa học địa lí. Tận dụng điều này giáo viên có thể làm mới bài giảng của mình giúp bài học trở nên sáng tạo, mới lạ, phong phú hơn và giảm bớt tính khô khan như nhiều người thường nhận xét.

    Để rèn luyện kĩ năng học đi đôi với hành, vốn là một kĩ năng còn yếu đối với học sinh khi học môn địa lí thì việc khai thác ý nghĩa của những câu ca dao, tục ngữ này giúp học sinh cảm thấy dễ dàng liên hệ kiến thức sách vở với các hiện tượng tự nhiên của cuộc sống bên ngoài.

    “Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng

    Ngày tháng mười chưa cười đã tối”

    Khi dạy bài Hoạt động sản xuất của người dân ở đồng bằng Bắc bộ (lớp4) giáo viên cho học sinh biết thời tiết của từng mùa, từng tháng trong năm là yếu tố quyết định cây trồng thể hiện qua các câu sau:

    Tháng chạp là tháng trồng khoai,

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà.

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng

    Khi dạy bài Khí hậu (lớp 5) giáo viên có thể cho học sinh nhận biết dự đoán đặc điểm khí hậu của từng mùa, từng tháng trong năm thể hiện qua những hình ảnh trong các câu sau.

    “Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

    “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

    “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

    “Mồng chín, tháng chín có mưa

    Thì con sắm sửa cày bừa làm ăn

    Mồng chín, tháng chín không mưa

    Thì con bán cả cày bừa đi buôn”

    Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng”

    “Trời nồm tốt mạ, trời giá tốt rau”

    “Én bay thấp mưa ngập bờ ao

    Én bay cao mưa rào lại tạnh”

    “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa

    Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

    “Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão”

    “Trăng quầng thì hạn trăng tán thì mưa”

    Giáo viên có thể giải thích vào tháng 7, mùa hè của miền Trung và Bắc Bộ Việt Nam, nhiệt độ không khí ở trên lục địa cao hình thành khu áp thấp hút gió (khối khí ẩm) từ Thái Bình dương vào gây nên những trận mưa lớn cùng với sự xuất hiện của các khí áp thấp gây nên mưa bão ở Bắc bộ và Bắc trung Bộ.

    Nên trong dân gian mới có câu: “Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy”

    Nhưng nếu thấy: “Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”

    Hay: “Cơn đàng Bắc đổ thóc ra phơi”

    Do ảnh hường của địa hình: dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Bộ, dãy Trường Sơn Bắc ở Bắc Trung Bộ nên khi có gió Tây Nam chỉ gây mưa ở Nam bộ và Tây Nguyên. Còn ở vùng đồng bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và ven biển Nam Trung Bộ không có mưa. Tương tự “cơn đàng Bắc…” là ảnh hưởng của khối khí ôn đới xuất phát từ cao áp lục địa tính chất lạnh và khô nên không gây mưa.

    Khi dạy bài Thương mại và du lịch (lớp 5) ta có thể sử dụng câu sau để biết được vẻ đẹp cũng như nhưng danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử của những vùng đất trên lãnh thổ nước ta.

    Vui ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”

    “Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ”

    Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh”

    Khi dạy bài Đồng bằng duyên hải miền Trung (lớp 4) giáo viên sử dụng các câu sau để biết được vị trí địa lí và đặc điểm của từng địa danh.

    “Đường thủy thì sợ sóng thần Hang Dơi”

    Qua những câu ca dao trên chúng ta thấy rằng không những giúp học sinh lĩnh hội kiến thức hiệu quả mà nó còn có ý nghĩa giáo dục rất lớn.

    Như vậy qua thực hiện áp dụng đề tài vào giảng dạy đã thu được kết quả như sau:

    – Có hiểu biết cơ bản và nâng cao về văn hóa, phong tục tập quán, những nét sinh hoạt truyền thống đặc sắc của dân tộc ta.

    – Các em hào hứng hăng say khi học địa lí.

    – Có thể vận dụng những điều đã học vào thực tế sản xuất.

    – Biết được các thế mạnh về điều kiện tự nhiên, về kinh tế, xã hội của nước nhà.

    – Có khả năng nhận biết một số hiện tượng địa lí nơi mình sinh sống.

    – Có niềm tin vào sự phát triển của địa phương và nâng cao ý thức xây dựng quê hương và bảo vệ tổ quốc.

    – Biết sưu tầm hình ảnh, ca dao, tục ngữ, tư liệu vào bài học.

    – Có kĩ năng tốt trong việc sử dụng bản đồ, lược đồ và sách giáo khoa để khai thác kiến thức.

    – Đã nhận thức được tầm quan trọng của môn học địa lí.

    – Từ đó đã tự học, tự bồi dưỡng kiến thức địa lí cho mình.

    – Tự tin hơn khi dạy chuyên đề, thao giảng với môn học này.

    – Riêng bản thân tôi đã tham dự giáo viên dạy giỏi cấp Huyện 3 lần với môn tự chọn là Địa lí.

    Đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt môn địa lí tuy làm một nội dung không phải quá mới, có thể đã có nhiều giáo viên sử dụng trên toàn quốc. Nhưng với trường tiểu học …………….. xã Cư Klông thì hoàn toàn mới vì đây là một đơn vị thuộc vùng khó khăn của huyện Krông Năng nên cơ sở vật chất còn hạn chế, máy chiếu mới chỉ có một cái dùng chung cho toàn trường nên tương đối khó khăn cho giáo viên triển khai làm phương tiện dạy học theo ý kiến trình bày trong đề tài. Tuy nhiên giáo viên không thể dùng thường xuyên thì cũng áp dụng 1 tuần một lần nhằm gây hứng thúc cho các em và giúp các em hăng say trở lại với môn học Địa lí. Việc sử dụng phương tiện dạy học vừa phải dựa trên chức năng, tác dụng của mỗi loại, đồng thời phải sử dụng phù hợp với từng đối tượng học sinh đặc biệt là học sinh tiểu học. Đây là việc đòi hỏi người giáo viên phải phát huy cao độ vai trò của mình trong giảng dạy, phát huy được tính tích cực chủ động sáng tạo của các em trong quá trình học tập. Vì vậy, trong viêc giúp học sinh học tốt môn địa lí là việc làm khó, đòi hỏi sự nỗ lực rất nhiều từ cả hai phía: Thầy và trò.

      Nhà trường cần quan tâm và đầu tư nhiều trang thiết bị phục vụ môn học. Cần tổ chức chuyên đề, hội thảo về môn học này để giáo viên chia sẽ những khó khăn khi dạy môn này về cách sử dụng bản đồ, lược đồ, khai thác tranh ảnh…cũng như kinh nghiệm mà họ đã có khi dạy môn này.

    – Khuyến khích giáo viên dạy môn địa lí thi tham gia hội thi, hội giảng…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Dạy Học Tích Cực
  • Một Số Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học
  • Biện Pháp Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Theo Hướng Tích Cực
  • Những Biện Pháp Hay Nhằm Duy Trì Sĩ Số Học Sinh
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Duy Trì Sĩ Số Học Sinh Trong Công Tác Chủ Nhiệm
  • ★ Mẫu Đơn Đăng Ký Nhãn Hiệu Độc Quyền Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đăng Ký Nhãn Hiệu Hàng Hóa Chính Xác Nhất 2021
  • Cách Làm Tờ Khai Đăng Ký Nhãn Hiệu Đầy Đủ Và Chính Xác Nhất
  • Đăng Ký Nhãn Hiệu Hàng Hóa Độc Quyền Với Nhãn Hiệu Tập Thể
  • Hồ Sơ Đăng Ký Bảo Hộ Nhãn Hiệu Độc Quyền Nhanh Và Chính Xác
  • Cách Đăng Ký Nhãn Hiệu Thức Ăn Nhanh
  • Mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu độc quyền do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành bao gồm những loại giấy tờ thủ tục nào? Đó hẳn là điều mà nhiều doanh nghiệp đang có nhu cầu trong việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu quan tâm.

    Để giúp các bạn tìm hiểu rõ hơn về các giấy tờ có liên quan để tiến hành hoàn thiện thủ tục này, nhằm thực hiện việc bảo hộ thương hiệu của bạn một các dễ dàng hơn. Trong bài viết dưới đây, Phan Law sẽ cung cấp những thông tin để giúp bạn có cái nhìn rõ ràng hơn về loại thủ tục đặc biệt này!

     

    Mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu độc quyền năm 2021 bao gồm những gì?

    Mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu độc quyền do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành là loại giấy tờ không thể thiếu trong hồ sơ đăng ký, chứa đựng những thông tin quan trọng có liên quan đến nhãn hiệu bao gồm:

    • Mẫu nhãn hiệu ( kích thước tối đa 80 mm x 80 mm) Trình bày rõ ràng bố cục, màu sắc. Thể hiện rõ loại nhãn hiệu yêu cầu đăng ký:Nhãn hiệu thường, Nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận.
    • Các thông tin của tổ chức/cá nhân nộp đơn theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: Họ tên đầy đủ, địa chỉ, số điện thoại và các hình thức liên lạc khác.
    • Các thông tin về đại diện của chủ đơn (Cá nhân, tổ chức được chủ đơn ủy quyền thực hiện đăng ký đơn): Họ tên, địa chỉ…
    • Yêu cầu hưởng quyền ưu tiên khi đăng ký (nếu có)
    • Danh mục sản phẩm hàng hóa, dịch vụ có mang nhãn hiệu được liệt kê và phân thành nhóm theo bảng phân loại quốc tế về hàng hóa, dịch vụ (NICE 11)
    • Các tài liệu bổ trợ kèm theo (nếu có)
    • Chứng từ nộp phí và lệ phí.

    Sau khi hoàn thành việc điền các thông tin vào tờ khai đính kèm bộ hồ sơ và nộp cho Cơ quan đăng ký, trong khoảng thời gian từ 1 – 2 tháng, đơn đăng ký sẽ được thẩm định sơ bộ về hình thức nhằm kiểm tra sự đầy đủ và chính xác của các thông tin có trong tờ khai.

    Nếu tờ khai của bạn đã thực sự đạt tiêu chuẩn về hình thức, hồ sơ đăng ký sẽ được chuyển sang những giai đoạn thẩm định tiếp theo của Cơ quan đăng ký.

    Làm thế để nào điền các thông tin trong mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu độc quyền chính xác nhất

    Để mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu độc quyền được hoàn thiện tối ưu, tránh khỏi những sai sót trong quá trình thẩm định hình thức của Cơ quan đăng ký, một trong những lý do phổ biến nhất khiến hồ sơ bị trả về, bạn cần tìm cho mình một cố vấn có kiến thức trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

    Không đâu khác ngoài chúng tôi – Phan Law là đại diện sở hữu trí tuệ được pháp luật công nhận, với kinh nghiệm hoạt động lâu dài trong lĩnh vực này, chúng tôi có đội ngũ luật sư, chuyên viên pháp lý am hiểu sâu sắc về chuyên môn, cùng với những mối quan hệ cần thiết để mang đến sự trợ giúp tốt nhất cho bạn trên con đường bảo vệ thương hiệu cho doanh nghiệp của mình.

    ~~~

    Mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Cục Sở hữu trí tuệ

    Mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa theo mẫu của Cục Sở hữu trí tuệ có lẽ là loại giấy tờ được đề cập đến nhiều nhất trong tất cả các bài viết về thủ tục bảo hộ độc quyền nhãn hiệu!

    Vậy mẫu đơn này là gì và có cấu tạo, cũng như đặc điểm gì nổi bật chính là nội dung của bài viết hôm nay Phan Law muốn chia sẻ đến bạn. Hy vọng, thông qua bài viết dưới đây bạn có thể hình dung được một tờ khai/mẫu đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Cục Sở hữu trí tuệ cụ thể.

    Mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

    Theo quy định của Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam, một bộ hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu không thể thiếu mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa. Nếu thiếu tờ đơn này, mặc định bộ hồ sơ của bạn sẽ bị từ chối ngay lập tức. Vậy một mẫu đơn đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa yêu cầu những gì?

    • Thông tin của nhãn hiệu cần đăng ký: Mẫu nhãn hiệu, loại nhãn hiệu, mô tả nhãn hiệu cụ thể (bố cục, màu sắc, đối tượng bảo hộ..)
    • Thông tin của chủ sở hữu nhãn hiệu, chủ đơn đăng ký nhãn hiệu: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, địa chỉ, email, số điện thoại liên lạc…
    • Thông tin của đại diện chủ sở hữu, chủ đơn đăng ký nhãn hiệu: Thông tin cá nhân, số điện thoại, địa chỉ, fax, email…
    • Danh mục sản phẩm, dịch vụ sử dụng nhãn hiệu: Chia theo bảng phân loại NICE 11, sắp xếp theo từng nhóm (sản phẩm trong nhóm)
    • Phí và lệ phí: tích vào ô phù hợp với nhu cầu bảo hộ nhãn hiệu của bạn
    • Tài liệu kèm theo đơn: Tích vào các ô phù hợp với những tài liệu bạn cung cấp trong bộ hồ sơ đăng ký nhãn hiệu hàng hóa
    • Chữ ký, con dấu của chủ sở hữu nhãn hiệu

    Tất cả các nội dung bạn cung cấp trong đơn phải được thực hiện bằng tiếng Việt phổ thông, trung thực và chính xác. Vì Cục sẽ tiến hành thẩm định hình thức đơn trước khi bắt đầu các vòng thẩm định khác, vì vậy nếu đơn của bạn không hợp lệ đồng nghĩa với việc nhãn hiệu của bạn sẽ không được bảo hộ!

    Tiến hành mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cùng Phan Law

    Phan Law là đơn vị có thâm niên hơn 10 năm trong lĩnh vực pháp lý sở hữu trí tuệ. Với đội ngũ luật sư có trình độ cao, cùng với đội ngũ chuyên viên pháp lý chuyên nghiệp, Phan Law đã giúp đỡ – hỗ trợ – đồng hành cùng hàng nghìn doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bảo vệ thương hiệu của mình thành công cả trong và ngoài nước!

    Chúng tôi tự tin có thể hỗ trợ bạn có được mẫu đơn xin đăng ký nhãn hiệu hàng hóa độc quyền nhanh chóng, chính xác.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thời Kỳ Hoàng Kim Của Những Bộ Mỹ Phẩm Trị Nám Whoo
  • Tìm Kiếm Mỹ Phẩm Whoo Giá Bao Nhiêu
  • Những Bạn Nên Nắm Bắt Trước Khi Mua Mỹ Phẩm Whoo Gói
  • ★ Bộ Mỹ Phẩm Của Whoo- Trọn Bộ Sản Phẩm Làm Đẹp Hiệu Quả
  • Bạn Đã Biết Đến Rượu Vang Bonjour Đà Lạt Chưa?
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50