Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Giúp Học Sinh Ham Thích Đọc Sách

--- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 2 Hứng Thú Và Ham Thích Đọc Sách
  • Kể Tên Và Nêu Ưu Nhược Điểm Của Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học *
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Sinh Học 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • – Sau khi áp dụng những cách thực hiện như trên tôi Hs lớp tôi đã hứng thú say mê đọc sách hơn, các em có thể mạnh dạn tự tin trao đổi với bạn bè, thầy cô những nội dung các em đã tìm hiểu thông qua sách, báo.

    – Hs tôi sẽ ngày càng tự tin hơn vì trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy khi đề cập đến một vấn đề mà các em hiểu biết thì các em sẽ mạnh dạn hơn trong quá trình giao tiếp.

    – Các em trước còn hạn chế về khả năng giao tiếp, viết chính tả còn sai nhiều hoặc viết văn chưa tốt thì giờ đây đã tiến bộ hơn rất nhiều.

    – Lớp tôi sẽ xây dựng được một thư viện vui với nhiều loại sách và mẫu truyện hay để giúp các em tự chủ động tìm hiểu và tự chủ động rèn bản thân có thói quen đọc sách mà không cần nhắc nhở.

    – Thông qua việc đọc sách cũng sẽ giáo dục đạo đức các em : tham gia các trò chơi nhẹ nhàng không chạy giỡi nhiều, không nóng vội khi giải quyết vấn đề,

    V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

    Khi thực nội dung này tôi rút được một số kinh nghiệm như sau:

    + Giáo viên cần có sự theo sát ban quản thư của lớp để giúp các em sắp xếp các loại sách phù hợp để dễ tìm kiếm.

    + Giáo dục các em ý thức giữ gìn sách và biết sắp xếp đúng vị trí sau khi đọc xong.

    + Giáo viên cần có sự kiểm tra và chọc lọc nội dung các loại sách phù hợp để các em tham khảo theo đúng chủ ý của giáo viên và theo từng giai đoạn, từng đối tượng.

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HAM THÍCH ĐỌC SÁCH I.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Bác Hồ đã từng dạy nhân dân ta " Học tập là việc suốt đời" và Bác luôn đặt niềm tin vào thế hệ tương lai của đất nước. Trong thời buổi công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay việc cập nhật thông tin từ sách báo, các trang báo mạng càng được phổ biến rộng rãi.Đặc biệt các em học sinh cập nhật công nghệ thông tin ở mức độ phủ sóng rộng rãi hơn Đó cũng là một lý do khiến các em ít quan tâm đến việc đọc sách mà thay vào đó là tìm hiểu trên laptop, ipad, Một sự thật là ngày nay chúng ta rất ít thấy các em yêu thích sách và thích đọc sách.Đầu năm học tôi và các em học sinh cũng xây dựng một thư viện vui trong lớp nhưng theo quan sát tôi thấy hầu như các em học sinh lớp tôi không thích đọc sách mà thay vào đó các em lại thích chạy nhảy, chơi hình, yoyo, Bản thân là một giáo viên tôi muốn giúp các em ham thích đọc sách hơn vì đó là kho tàng kiến thức vô tận " Sách là nguồn ánh sáng của nhân loại". Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này. II) THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI 1.Thuận lợi: - Thư viện nhà trường trang bị rất nhiều các đầu sách để học sinh tìm kiếm thông tin và học tập. - Thư viện nhà trường được trang trí rất đẹp tạo cảm giác thích thú, than thiện cho học sinh khi đến đọc sách. - Phụ huynh học sinh luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi trong việc trang bị sách cũng như truyện để học sinh học tập. - Trong lớp có một vài em có khả năng thuyết trình trước lớp rất tốt, chính các em có thể chia sẻ về nội dung sách cho các bạn cùng nghe. 2. Khó khăn: - Thời đại công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ như hiện nay các em thích tìm kiếm thông tin trên những thiết bị hiện đại như: máy vi tính, smartphone, ipad, hơn là đọc sách. - Các em chưa có thói quen đọc sách và chưa cảm nhận được những kiến thức bổ ích từ sách. - Phụ huynh chưa thực sự là tấm gương cho các em noi theo. III) NỘI DUNG CHỌN ĐỀ TÀI 1.Cơ sở lý luận: - Thế giới ngày càng phát triển, việc học tập ngày càng đòi hỏi con người phải chủ động tìm tòi và khám phá tri thức. - Vào thời đại chúng ta đang sống hiện nay văn hóa đôi khi bị văn hóa nghe- nhìn lấn át. Văn hóa đọc có đăc điểm sau: + Người đọc dùng mắt đọc thầm theo những dòng chữ của văn bản viết + Khi đọc thầm người đọc huy động trí tưởng tượng của mình để hình dung ra toàn bộ bối cảnh được miêu tả trong sách. - Hiện tại, phần lớn các em học sinh học quá nhiều không nên những lúc rãnh rỗi các em lại không còn hứng thú để đọc sách giải trí - Hiện nay Bộ Giáo dục và đào tạo đang thực hiện thông tư 30 đối với học sinh Tiểu học, việc các em có thói quen đọc và ham thích đọc cũng sẽ phát huy hết tác dụng lời phê của giáo viên. Các em sẽ thấy được mặt hạn chế và có hướng khắc phục. - Các em có thói quen đọc sách sẽ có hướng giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng, cư xử , giao tiếp than thiện lịch sự vì qua thời gian đọc va 2tim2 hiểu sách sẽ giúp các em phần nào rèn luyện sự kiên nhẫn. 2. Nội dung và biện pháp thực hiện a) Giúp học sinh hiểu được vai trò, ý nghĩa của sách - Việc đọc sách không chỉ giúp học sinh tiếp thu tri thức mà đôi khi còn rèn cho học sinh những kĩ năng, tình cảm và thói quen hữu ích ." Sách là nguồn tri thức của nhân loại" thông qua các hoạt động giáo viên cần giúp các em hiểu được vai trò, ý nghĩa của sách Đọc sách giúp tăng cường khả năng giao tiếp - Giáo viên đặt vần đề với học sinh: Em có thấy ngại ngùng khi đứng trước đám đông? Em có bao giờ thấy run không biết diễn đạt như thế nào khi đứng trước mọi người? Em có bao giờ cố giải thích một vấn đề nhưng bạn vẫn không hiểu được? Từ những ý kiến trả lời của các em Giáo viên sẽ giúp các em hiểu đọc sách thực chất là một quá trình giao tiếp , khi đó chỉ có học sinh và sách tham gia vào quá trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp này chỉ diễn ra một chiều mà không có sự đối đáp lại như khi các em giao tiếp cùng bạn. Rèn thói quen đọc sách một thời gian dài sẽ giúp cho các em biết trình bày vấn đề mạch lạc, dễ hiểu, từ đó sẽ mạnh dạn hơn trong giao tiếp. - Không chỉ vậy khi đọc sách sẽ tinh tế hơn khi cảm nhận, phán đoán những cảm xúc, thái độ của người khác, hình thành những phản xạ và sự nhanh nhạy khi học tập và giải quyết mọi việc Đọc sách giúp rèn luyện năng lực, khà năng tưởng tượng, sáng tạo Khi các em đọc một quyển sách nói về "bạn bè" trong suy nhĩ của các em sẽ hình dung và liên tưởng đến người bạn thân của mình. Hoặc khi nói về " hoa mai" các em sẽ nghĩ đến đây là loại hoa nhiều cánh, thường nở vào mùa cuân và mọi người rất thích ngắm nhìn,Như vậy thông việc đọc sách hằng ngày thực chất đây là một quá trình quan sát mọi vật xung quanh thông qua chữ viết để rèn luyện tính tưởng tượng, sáng tạo và có thể so sánh những nội dung đọc trong sách với những điều diễn ra trong cuộc sống. Không đọc sách chúng ta khó có thể thực hiện được những điều này. Đọc sách giúp sống tốt trong xã hội và dạy làm người Lời nói, suy nghĩ và việc làm của một người luôn hướng tới lẽ phải, cái hay cái đẹp, hướng tới lợi ích của những người xung quanh. Cách sống đó thể hiện là một người sống tốt trong xã hội VD: Dạy các em đọc những quyển sách thể dục thể thao sẽ giúp các em rèn luyện sức khỏe dẻo dai và bền bỉ hơn.Đọc sách lịch sử sẽ giúp các em tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc, tự hào là người Việt nam và thêm yêu tổ quốc. Đọc sách văn học sẽ giúp các em sử dụng tốt từ ngữ khi viết, biết cảm nhận văn chương, Đọc sách giúp rèn luyện năng lực ngôn ngữ - GV đặt vấn đề để học sinh tự nhận xét bản thân: Em thường viết sai chính tả và rất ngại vì sợ các bạn chê trách.Em thường viết câu không đúng ngữ pháp hoặc các câu không có đủ chủ ngữ, vị ngữ.Hoặc vốn từ vựng của em quá ít nên em gặp khó khăn trong việc trình bày ý kiến để các bạn hiểu,Việc đọc sách là việc làm hữu hiệu nhất để giúp các em học sinh giải quyết những vấn đề nêu trên, đọc sách sẽ giúp học sinh khắc phục được sai sót trong việc sử dụng từ ngữ. Vd: Khi đọc một cuốn sách văn, em thấy tác giả dùng những từ ngữ rất hay để miêu tả bầu trời với những trạng thái khác nhau. Em sẽ thấy những câu văn ngắn nhưng lại đầy đủ các thành phần câu,Em sẽ thấy được cách sử dụng những từ ngữ mà trước đây em chưa biết sử dụng như thế nào cho phù hợp,Qua việc đọc sách trong thời gian dài, sự tập trung và tinh ý sẽ giúp em hình thành kĩ năng ngôn ngữ. b) Tìm hiểu đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhằm trang bị những loại sách phù hợp với các em - Trẻ em trong độ tuổi 3- 12 tuổi rất hiếu động nên các em còn thiên về tư duy trực quan thích chơi game, xem phim hoạt hình trên tivi, phim siêu nhân, những truyện tranh nhiều màu sắc. Ở lứa tuổi này các em nặng về tính hành động, rất ít trẻ thích đọc sách ( đây là hoạt động tĩnh mang tính cá nhân ). Chính vì vậy nên giới thiệu với các em những quyển sách ít chữ, có hình ảnh, đọc sách có nội dung " cổ tích" và truyện tranh lành mạnh, dần dần sẽ giới thiệu với các em các loại sách danh nhân, văn hóa, lịch sử Vd: để giúp các em ham thích Toán học Gv có thể giới thiêu với các em các loại sách như: Những cuộc phiêu lưu của Penrose- chú mèo ham học toán, Fractal GooGol và những câu chuyện toán học khác. Bên cạnh đó, nên hướng các em đọc các quyển sách dạy về kỹ năng xử lý tình huống trong cuộc sống như: Sách cho con trai để trở thành người hùng ( NXB Kim Đồng), sách cho con gái để có vẻ đẹp tựa nữ thần ( NXB Kim Đồng ) - Các em từ 10- 13 tuổi bắt đầu bước vào giai đoạn tuổi dậy thì, vì vậy cần trang bị những loại sách" về lứa tuổi dậy thì" để các em tìm hiểu.Đồng thời hướng dẫn những nội dung phù hợp để các em tìm hiểu để tránh tình trạng các em tìm những nội dung không lành mạnh c) Xây dựng" thư viện vui ", sắp xếp sách phù hợp, tạo không gian xanh cho các em đọc sách - Các em sẽ chính là người tạo nên "thư viện vui " của lớp. Các em sẽ cùng trang trí với những đồ vật các em yêu thích và sắp xếp các loại sách do các em mang vào. Những loại sách ở giai đoạn này là những quyển truyện tranh vui, tranh lịch sử,.. màu sắc đẹp và hấp dẫn. - Tổ chức các giờ đọc sách để tạo cho các em rèn thói quen đọc vào các giờ sinh hoạt tập thể. Cho các em trao đổi, chia sẻ những nội dung các em vừa đọc. Thường xuyên thay đổi không gian đọc để các em hứng thú và không bị nhàm chán, gò bó VD: đọc ở thư viện, lớp học, sân trường, - Các loại sách sẽ được thay đổi phù hợp với từng thời điểm và phù hợp với nhu cầu của học sinh theo giai đoạn Vd: Giai đoạn cuối học kì I giáo viên có thể thay thế các quyển truyện tranh lịch sử bằng những câu chuyện lịch sử, các danh nhân, sách dạy làm người,Giai đoạn học kì II có thể bổ sung thêm các loại sách về tìm hiểu, khám phá thiên nhiên, khoa học, d) Gv cần có sự định hướng cho học sinh khi đọc sách . Vd: Trước khi tổ chức giờ đọc sách cho các em giáo viên có thể nêu yêu cầu cho Hs về: nhân vật, nội dung, ý nghĩa , diễn biến, bài học cho bản thân, - Gv cần có sự tuyên dương, khen thưởng kịp thời những học sinh giới thiệu được nhiều quyển sách hay hoặc những em có tiến bộ trong việc đọc và tìm hiểu sách để kích thích các em thi đua đọc sách. e) Kết hợp với nhà trường và phụ huynh học sinh - Gv có thể kết hợp với cô quản thư để giới thiệu với các em những quyển sách phù hợp với từng lớp nhằm giúp các em định hướng được nên đọc những quyển sách nào theo từng giai đoạn của kiến thức đang học Vd: Ở khối lớp 4,5 cô quản thư có thể giới thiệu những quyển truyện tranh về lịch sử ( chiến thắng của Ngô Quyền trên song Bạch Đằng, Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long,) Kết hợp với Phụ huynh học sinh trang bị một vài loại sách phù hợp với các em để các em đọc và giải trí. Có thể cho các em giao lưu trao đổi sách với nhau sẽ giúp các em thấy vui và thích tìm hiểu về sách hơn để có thể chia sẻ nội dung cùng bạn IV.KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC Sau khi áp dụng những cách thực hiện như trên tôi Hs lớp tôi đã hứng thú say mê đọc sách hơn, các em có thể mạnh dạn tự tin trao đổi với bạn bè, thầy cô những nội dung các em đã tìm hiểu thông qua sách, báo. Hs tôi sẽ ngày càng tự tin hơn vì trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy khi đề cập đến một vấn đề mà các em hiểu biết thì các em sẽ mạnh dạn hơn trong quá trình giao tiếp. Các em trước còn hạn chế về khả năng giao tiếp, viết chính tả còn sai nhiều hoặc viết văn chưa tốt thì giờ đây đã tiến bộ hơn rất nhiều. Lớp tôi sẽ xây dựng được một thư viện vui với nhiều loại sách và mẫu truyện hay để giúp các em tự chủ động tìm hiểu và tự chủ động rèn bản thân có thói quen đọc sách mà không cần nhắc nhở. Thông qua việc đọc sách cũng sẽ giáo dục đạo đức các em : tham gia các trò chơi nhẹ nhàng không chạy giỡi nhiều, không nóng vội khi giải quyết vấn đề, V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM Khi thực nội dung này tôi rút được một số kinh nghiệm như sau: + Giáo viên cần có sự theo sát ban quản thư của lớp để giúp các em sắp xếp các loại sách phù hợp để dễ tìm kiếm. + Giáo dục các em ý thức giữ gìn sách và biết sắp xếp đúng vị trí sau khi đọc xong. + Giáo viên cần có sự kiểm tra và chọc lọc nội dung các loại sách phù hợp để các em tham khảo theo đúng chủ ý của giáo viên và theo từng giai đoạn, từng đối tượng. VI. LỜI KẾT Sách là nguồn kho tàng kiến thức vô tận, nó giúp cho con người khám phá nhiều điều, mở rộng hiểu biết và hình thành nhân cách. Vì vậy, việc rèn thói quen đọc sách cho các em học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm vô cùng ý nghĩa PHIẾU KHẢO SÁT HỌC SINH Họ và tên: Trường:.. Lớp : 1) Em thường chọn chọn hình thức giải trí nào vào những lúc rãnh rỗi? . 2) Em có thường đọc truyện,sách, báo không? Có Không 3) Em có thích đọc truyện, sách, báo không? Có Không 4) Em thích đọc những loại sách nào? 5) Em muốn " Thư viện vui" của lớp em trông như thế nào? .. PHỤ LỤC I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI II .THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI CHỌN CÁC GIẢI PHÁP 1.Thuận lợi 2.Khó khăn III.NỘI DUNG ĐỀ TÀI Cơ sở lý luận Nội dung và biện pháp thực hiện IV. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC V. BÀI HỌC KINH NGHIỆM VII. LỜI KẾT HÌNH ẢNH MINH HỌA PHIẾU KHẢO SÁT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Chuyên Đề; Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi, Hs Năng Khiếu
  • Một Số Biện Pháp Phát Hiện Học Sinh Có Năng Lực Trở Thành Học Sinh Giỏi Hoá Học Ở Trường Ptth
  • Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Bậc Thcs
  • Các Biện Pháp Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Tiếng Việt Lớp 5 Ở Các Trường Tiểu Học Quốc Tế Tại Việt Nam
  • Luận Văn Đề Tài Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Môn Tiếng Việt
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 2 Hứng Thú Và Ham Thích Đọc Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Tên Và Nêu Ưu Nhược Điểm Của Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Các Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học *
  • Nêu Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Sinh Học 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Giải Bài Tập Trang 195 Sgk Sinh Lớp 7: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • àng ngày 2A2 35 Số lượng % Số lượng % 15 42.9 8 22.9 Như vậy theo thống kê trên thì số học sinh thích đọc sách chiếm gần nữa sĩ số lớp, tuy nhiên số học sinh có thói quen đọc sách hàng ngày lại rất ít. Đây sẽ là một khó khăn trong việc tìm ra các biện pháp giúp các em thích đọc sách và có thói quen đọc sách hàng ngày. III. Các biện pháp giúp học sinh lớp 2 hứng thú và ham thích đọc sách 1. Giúp học sinh hiểu được vai trò của việc đọc sách, thắp sáng tình yêu đọc sách cho các em 1.1. Đặt ra các câu hỏi để giúp các em hiểu được vai trò của việc đọc sách Việc đọc sách không chỉ giúp học sinh tiếp thu tri thức mà đôi khi còn rèn cho học sinh những kĩ năng, tình cảm và thói quen hữu ích ."Sách là nguồn tri thức của nhân loại", thông qua các hoạt động giáo viên cần giúp các em hiểu được vai trò, ý nghĩa của sách. Đọc sách giúp tăng cường khả năng giao tiếp Giáo viên đặt vấn đề với học sinh: Em có thấy ngại ngùng khi đứng trước đám đông? Em có bao giờ thấy run không biết diễn đạt như thế nào khi đứng trước mọi người? Em có bao giờ cố giải thích một vấn đề nhưng bạn vẫn không hiểu được? Từ những ý kiến trả lời của các em giáo viên sẽ giúp các em hiểu đọc sách thực chất là một quá trình giao tiếp, khi đó chỉ có học sinh và sách tham gia vào quá trình giao tiếp. Quá trình giao tiếp này chỉ diễn ra một chiều mà không có sự đối đáp lại như khi các em giao tiếp cùng bạn. Rèn thói quen đọc sách một thời gian dài sẽ giúp cho các em biết trình bày vấn đề mạch lạc, dễ hiểu, từ đó sẽ mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Không chỉ vậy khi đọc sách các em sẽ tinh tế hơn khi cảm nhận, phán đoán những cảm xúc, thái độ của người khác, hình thành những phản xạ và sự nhanh nhạy khi học tập và giải quyết mọi việc. Đọc sách giúp rèn luyện năng lực, khả năng tưởng tượng, sáng tạo Khi các em đọc một quyển sách nói về "bạn bè" trong suy nghĩ của các em sẽ hình dung và liên tưởng đến người bạn thân của mình. Hoặc khi nói về "hoa mai" các em sẽ nghĩ đến đây là loại hoa nhiều cánh, thường nở vào mùa xuân và mọi người rất thích ngắm nhìn, Như vậy việc đọc sách hằng ngày thực chất là một quá trình quan sát mọi vật xung quanh thông qua chữ viết để rèn luyện trí tưởng tượng, sự sáng tạo và có thể so sánh những nội dung đọc trong sách với những điều diễn ra trong cuộc sống. Không đọc sách chúng ta khó có thể thực hiện được những điều này. Đọc sách giúp sống tốt trong xã hội và dạy làm người Lời nói, suy nghĩ và việc làm của một người luôn hướng tới lẽ phải, cái hay cái đẹp, hướng tới lợi ích của những người xung quanh, cách sống đó thể hiện là một người sống tốt trong xã hội. Ví dụ: Dạy các em đọc những quyển sách thể dục thể thao sẽ giúp các em rèn luyện sức khỏe dẻo dai và bền bỉ hơn, đọc sách lịch sử sẽ giúp các em tự hào về truyền thống hào hùng của dân tộc, tự hào là người Việt Nam và thêm yêu tổ quốc, đọc sách văn học sẽ giúp các em sử dụng tốt từ ngữ khi viết, biết cảm nhận văn chương, Đọc sách giúp rèn luyện năng lực ngôn ngữ Giáo viên đặt vấn đề để học sinh tự nhận xét bản thân: Em thường viết sai chính tả và rất ngại vì sợ các bạn chê trách. Em thường viết câu không đúng ngữ pháp hoặc các câu không có đủ các thành phần chính. Em thường diễn đạt câu chưa rõ ràng, mạch lạc, hoặc vốn từ vựng của em quá ít nên em gặp khó khăn trong việc trình bày ý kiến để các bạn hiểu,Việc đọc sách là việc làm hữu hiệu nhất để giúp các em học sinh giải quyết những vấn đề nêu trên, đọc sách sẽ giúp học sinh khắc phục được sai sót trong việc sử dụng từ ngữ. Chẳng hạn khi đọc một cuốn sách văn, em thấy tác giả dùng những từ ngữ rất hay để miêu tả bầu trời với những trạng thái khác nhau. Em sẽ thấy những câu văn ngắn nhưng lại đầy đủ các thành phần câu. Em sẽ thấy được cách sử dụng những từ ngữ mà trước đây em chưa biết sử dụng như thế nào cho phù hợp, Qua việc đọc sách trong thời gian dài, sự tập trung và tinh ý sẽ giúp em hình thành kĩ năng ngôn ngữ. 1.2. Thắp sáng tình yêu đọc sách cho học sinh qua đoạn phim: "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than" Để có thể thắp sáng tình yêu đọc sách cho học sinh thì giáo viên có thể cho các em xem đoạn phim: "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than". Có thể nhìn người lớn đọc sách các em cũng bắt chước đọc theo, tuy nhiên các em sẽ không có tình yêu và niềm say mê đọc sách hàng ngày nếu không hiểu được ý nghĩa của việc đọc sách. Vì vậy đoạn phim này sẽ phần nào khơi gợi tình yêu và niềm say mê đọc sách trong chính các em. (Nội dung câu chuyện "Cuốn sách và chiếc giỏ đựng than" ở phần phụ lục, đoạn phim kèm theo đĩa CD). 2. Xây dựng thư viện vui, sắp xếp sách phù hợp, tạo không gian xanh cho các em đọc sách Các em sẽ chính là người tạo nên thư viện vui của lớp. Các em sẽ cùng trang trí thư viện với những đồ vật các em yêu thích và sắp xếp các loại sách do các em mang đến. Những loại sách ở giai đoạn này là những quyển truyện tranh vui, tranh lịch sử,.. có màu sắc đẹp và hấp dẫn. Tổ chức các giờ đọc sách để tạo cho các em rèn thói quen đọc vào các giờ Thư viện buổi chiều thứ 4 hàng tuần, sinh hoạt tập thể. Ban đầu, giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe một đoạn của quyển sách để thu hút các em, sau đó có thể cho các em đọc theo nhóm và trao đổi, chia sẻ những nội dung các em vừa đọc. Thường xuyên thay đổi không gian đọc để các em hứng thú và không bị nhàm chán, gò bó. Ví dụ đọc sách ở thư viện, lớp học, sân trường, Các loại sách sẽ được thay đổi phù hợp với từng thời điểm và phù hợp với nhu cầu của học sinh theo giai đoạn. Ví dụ: Giai đoạn cuối học kì I giáo viên có thể thay thế các quyển truyện tranh lịch sử bằng những câu chuyện lịch sử, các danh nhân, sách dạy làm người, Giai đoạn học kì II có thể bổ sung thêm các loại sách về tìm hiểu, khám phá thiên nhiên, khoa học, 3. Theo dõi việc đọc sách hàng ngày của học sinh Tháng 9: 50 điều cần thiết cho học sinh tiểu học. Tháng 10: Bộ sách rèn kĩ năng sống cho học sinh. Tháng 11: Kĩ năng sống - 168 câu chuyện hay nhất. Tháng 12: Góc sân và khoảng trời. Tháng 1: Cái ô kì diệu. Tháng 2: Chuyện Hoa, chuyện Quả. Tháng 3: Dế Mèn phiêu lưu ký. Tháng 4: Truyện khoa học cho bé. Tháng 5: Phép màu tuổi thơ. Để nắm được việc đọc sách của học sinh, giáo viên nên có hình thức theo dõi phù hợp, chẳng hạn dùng phiếu thống kê học sinh hoàn thành cuốn sách. Mỗi tháng, giáo viên sẽ dán phiếu thống kê vào góc thư viện lớp để theo dõi việc học sinh đã đọc và hoàn thành quyển sách đó hay chưa. Khi học sinh đọc xong cuốn sách sẽ tô màu vào ô số thứ tự của mình. Những tháng đầu tiên số lượng học sinh hoàn thành việc đọc sách của cả lớp còn ít, nhưng những tháng tiếp theo số lượng học sinh hoàn thành cuốn sách ngày càng nhiều hơn. Có thể định hướng việc đọc sách của các em bằng các bước khi đọc sách như sau: Khi đó giáo viên sẽ thưởng cho học sinh bằng một mặt cười hoặc phần quà nhỏ để động viên, khích lệ các em. Điều đó sẽ làm các em có thêm động lực để đọc sách mỗi ngày, giúp các em ham thích đọc sách hơn, thi đua để đọc sách với nhau. 4. Tổ chức các cuộc thi để giúp các em hứng thú và ham thích đọc sách hơn 4.1. Thi thiết kế các khẩu hiệu để tuyên truyền về ý nghĩa của việc đọc sách Trong lớp giáo viên nên treo các khẩu hiệu cổ động cho việc đọc sách, điều này sẽ một phần nhắc nhở các em hàng ngày đọc sách và hiểu được hơn ý nghĩa của việc đọc sách. Giáo viên nên cho học sinh thi thiết kế khẩu hiệu này theo nhóm, mỗi nhóm tự thiết kế một khẩu hiệu và treo ở một vị trí trong lớp dễ nhìn thấy nhất. Học sinh lớp tôi đã thiết kế một số khẩu hiệu sau: Học sinh sẽ nhìn thấy các khẩu hiệu này mỗi ngày, mỗi giờ ra chơi nên các em như được nhắc nhở và sẽ ngày càng hứng thú hơn với việc đọc sách. 4.2. Thi thiết kế bìa sách, truyện đã đọc Để học sinh hào hứng hơn sau mỗi khi đọc sách, giáo viên có thể tổ chức cho học sinh thi thiết kế lại bìa sách theo nhóm, mỗi nhóm thiết kế một bìa sách, truyện đã đọc, các em có thể chọn một chi tiết, nhân vật hoặc nội dung mà mình thích nhất trong sách đó để vẽ thành bìa sách, không nhất thiết phải vẽ giống bìa ngoài của sách đó. Học sinh lớp tôi đã vẽ lại bìa một số bìa sách sau: 4.3. Thi kể chuyện, đọc thơ về các câu chuyện tìm hiểu được trong sách Sau khi học sinh đọc xong các câu chuyện trong sách, đặc biệt là các câu chuyện cổ tích, giáo viên có thể cho học sinh thi kể lại các câu chuyện đó theo từng đoạn, chẳng hạn khi đọc xong câu chuyện "Nàng tiên ốc", học sinh sẽ kể lại câu chuyện theo nhóm 3, mỗi bạn kể một đoạn tương ứng với từng tranh. Khi được kể lại câu chuyện đã đọc cho cả lớp nghe, các bạn sẽ ghi nhớ hơn câu chuyện đó và cũng làm cho học sinh thích thú, các bạn sẽ tìm đọc câu chuyện này. Ngoài ra, giáo viên cũng có thể cho học sinh đọc các bài thơ về các câu chuyện, qua đó học sinh sẽ ghi nhớ hơn nội dung truyện và yêu thích hơn câu chuyện đó. Ví dụ khi đọc xong quyển sách: "Chuyện Hoa chuyện Quả - Cái ô đỏ", có thể cho học sinh đọc bài thơ: Truyện cái ô đỏ Bạn ơi cùng nghe truyện kể Nguồn gốc ra đời của quả, của hoa Phạm Hổ ngòi bút tài ba "Chuyện Hoa, chuyện Quả" kể ra tài tình. Râm Bụt loài hoa nhỏ xinh Sắc màu đỏ chói ấm lòng thiết tha. Truyện kể với cả chúng ta: Ngày xưa, xưa ấy có anh là Cành Có em là Búp, liệt chân. Anh Cành thương xót quyết tâm chữa lành. Liền đi lên núi tìm Tiên Để xin bài thuốc chữa cho em mình. Ngờ đâu thấy Bụt hiện hình, Rồi rằng: Nếu chữa, Cành lại liệt thay! Cành gật đầu, đồng ý ngay. Về may ô đỏ hôm sau đón mừng Bụt từ núi về chữa chân Cho Búp lành lặn tung tăng vui vầy Lạ thay em Búp khỏe rồi Mà chân Cành vẫn chẳng hề liệt đi. Bụt cười, Bụt nói: Thử thôi! Để xem anh có thật lòng thương em? Nay ta chữa khỏi cho xem Anh em Cành - Búp thỏa mong tháng ngày Nói rồi Bụt nhẹ cầm ô, Chấm lên cái bụi cây xanh trước nhà. Bất ngờ muôn ngàn đóa hoa Rực rỡ nở rộ trên nền cây xanh Hoa ấy ngày nay gọi nhanh, Là hoa Râm Bụt thắm tình anh em. Mời anh, mời chị gần xa Cùng bao bạn nhỏ chúng ta đọc cùng Cuốn sách Phạm Hổ kì công Sáng tạo nên những cuộc đời đáng ghi Đọc để hiểu, đọc để thông. Mở mang tri thức muôn bề cho em "Chuyện Hoa, Chuyện Quả" tặng nhau Món quà ý nghĩa, sách vui hội này! Học sinh có thể học thuộc các bài thơ này hoặc sưu tầm thêm những bài thơ khác về các câu chuyện trong sách mình đọc. 4.4. Thi đua: Triệu phú tri thức Các con sẽ hào hứng và ham thích việc đọc sách hơn nếu được khích lệ kịp thời. Vì vậy giáo viên có thể tổ chức cho các em cuộc thi "Triệu phú tri thức", mỗi khi học sinh đọc hết một quyển sách, giáo viên sẽ tặng các em một đồng xu "Chăm đọc sách", cuối tuần sẽ tổng kết xem bạn nào dành được nhiều đồng xu nhất sẽ trở thành triệu phú tri thức của lớp trong tuần đó và sẽ được vinh danh lên bảng thi đua, nhận quà của lớp. Đây là những đồng xu mà các em được nhận sau khi hoàn thành cuốn sách. Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Chăm đọc sách Cứ như vậy, sau mỗi tuần các em sẽ càng thích đọc sách hơn và thi đua nhau cùng đọc sách. 4.5. Thi tìm hiểu nội dung sách, thi vẽ tranh về câu chuyện tìm hiểu được trong sách Nhằm giúp học sinh ôn lại nội dung truyện, rút ra bài học cho bản thân mình qua mỗi câu chuyện, giáo viên có thể tổ chức cho các em thi tìm hiểu về câu chuyện, vẽ một bức tranh về câu chuyện em đã đọc. Học sinh lớp tôi đã rất tích cực tham gia và chia sẻ với các bạn trong lớp về nội dung câu chuyện đó. Khuất Trung Đức - 2A2 Đỗ Thu Hà - 2A2 Ngô Lan Hương - 2A2 Đinh Thế Sơn - 2A2 Đinh Hoàng Tùng - 2A2 Phan Hà Trang - 2A2 Đỗ Tú Khanh - 2A2 Điều đó sẽ làm cho các em thấy được ý nghĩa của việc đọc sách, còn rèn được tính kiên trì, lối tư duy khái quát, tư duy sáng tạo và khả năng vẽ tranh. 5. Tổ chức ngày hội đọc và đổi sách ở trường Để học sinh có cơ hội được đọc nhiều quyển sách mới và khám phá thế giới tri thức mới thì các giáo viên trong trường có thể kết hợp để tổ chức ngày hội đọc và đổi sách cho học sinh. Các em sẽ mang những quyển sách, truyện mà mình đã được đọc đến, mỗi quyển sách sẽ được quy đổi thành phiếu tương ứng với giá tiền trên bìa của sách, cụ thể như sau: Sau đó các lớp sẽ cùng bày gian hàng sách của lớp mình rồi dùng phiếu đổi sách đi đến các gian hàng khác đổi lấy sách mà mình yêu thích. Nhờ vậy các bạn sẽ có thể chia sẻ cho nhau những quyển sách hay mà mình đã đọc. 6. Tổ chức một số trò chơi 6.1. Trò chơi sắm vai Sắm vai là một trò chơi giúp các em dễ ghi nhớ nội dung câu chuyện sau khi đọc sách, giúp các em hứng thú nhiều hơn với việc đọc sách. Chẳng hạn khi đọc xong câu chuyện Tôm Càng và Cá Con, học sinh có thể sắm vai các nhân vật để kể lại câu chuyện. Khi được thể hiện nhân vật mà mình thích, các em rất hào hứng và kể lại một cách sôi nổi. Từ đó các em sẽ càng yêu thích đọc sách và tự giác đọc sách mỗi ngày. Trò chơi này có thể áp dụng được với nhiều câu chuyện, đặc biệt là các câu chuyện có nhiều nhân vật. 6.2. Trò chơi múa rối Học sinh tiểu học rất yêu thích hình ảnh, màu sắc, vì vậy có thể tổ chức cho các em trò chơi múa rối, chẳng hạn sau khi đọc xong câu chuyện "Rùa và Thỏ", các em sẽ vẽ tranh trên giấy A0 làm bối cảnh, vẽ các nhân vật: Rùa, Thỏ và điều khiển các con vật này theo diễn biến câu chuyện (giống như múa rối cạn). Trò chơi này vừa giúp các em ghi nhớ nội dung câu chuyện, vừa rèn cho các em trí tưởng tượng phong phú và sự sáng tạo. 7. Kết hợp với nhà trường và phụ huynh học sinh Giáo viên có thể kết hợp với cô giáo dạy thư viện của lớp để giới thiệu với các em những quyển sách phù hợp với từng khối lớp nhằm giúp các em định hướng được nên đọc những quyển sách nào theo từng giai đoạn của kiến thức đang học. Ví dụ: Ở khối lớp 2 cô giáo có thể giới thiệu những quyển truyện tranh về một số nhà tri thức nổi tiếng như: "Anh-xtanh Cuộc đời và vũ trụ", "Những câu chuyện về Đạo đức Hồ Chí Minh", hoặc các sách về lễ hội Việt Nam như: "Lễ hội Tây Nguyên", "Lễ hội dân gian ở Nam Bộ" Bên cạnh đó, giáo viên nên kết hợp với phụ huynh học sinh trang bị một vài loại sách phù hợp với các em để các em đọc và giải trí ở nhà, hoặc cho các em đi đến nhà sách để chọn những quyển sách mà mình yêu thích. Có thể cho các em giao lưu trao đổi sách với nhau sẽ giúp các em thấy vui và thích tìm hiểu về sách hơn để có thể chia sẻ nội dung cùng bạn. Ở nhà, phụ huynh cũng nên là một tấm gương về việc đọc sách cho các em noi theo, phụ huynh nên đọc sách cùng con em mình mỗi ngày và điều đó sẽ kích thích các em đọc sách nhiều hơn. Ngoài ra hãy coi sách là một món quà mà giáo viên, phụ huynh có thể tặng cho các em vào các dịp sinh nhật, Tết Trung thu, Tết Thiếu nhi, cuối năm học hay khi các em có thành tích đáng khen ngợi... Khi đó, các em sẽ trân trọng món quà mà mình được tặng và sẽ càng yêu quý sách hơn. Như vậy, tất cả các biện pháp nêu trên sẽ giúp các em ngày càng yêu sách và thích đọc sách hơn. Để dễ hình dung lại và ghi nhớ các biện pháp đó, có thể tóm tắt bằng sơ đồ tư duy sau. IV. Kết quả thu được của sáng kiến kinh nghiệm Sau khi áp dụng những biện pháp như trên tôi thấy học sinh lớp tôi đã hứng thú, say mê đọc sách hơn, tự giác đọc sách hàng ngày như một thói quen. Các em có thể mạnh dạn trao đổi với bạn bè, thầy cô những nội dung các em đã tìm hiểu thông qua sách, báo. Học sinh của lớp tôi ngày càng tự tin hơn vì trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy khi đề cập đến một vấn đề mà các em hiểu biết thì các em sẽ mạnh dạn hơn trong quá trình giao tiếp. Điều đặc biệt là sau khi áp dụng những biện pháp trên, tôi thấy tất cả các giờ Tập đọc, Kể chuyện, học sinh lớp tôi đều rất thích học. Chính vì vậy mà trong hội thi Giáo viên dạy giỏi năm học 2022- 2022, bản thân tôi đã đạt giải Nhất cấp huyện với phần thực hành dạy tiết Tập đọc bài Bé Hoa - Lớp 2. Đây cũng là động lực để giúp tôi viết SKKN này. Ngoài ra, các em trước còn hạn chế về khả năng giao tiếp, viết chính tả còn sai nhiều hoặc viết văn chưa tốt thì giờ đây đã tiến bộ hơn rất nhiều, khắc phục được các lỗi chính tả và diễn đạt câu hay gặp. Lớp tôi đã xây dựng được một thư viện vui với nhiều loại sách và truyện hay để giúp các em tự chủ động tìm hiểu và tự chủ động rèn bản thân có thói quen đọc sách mà không cần nhắc nhở. Thông qua việc đọc sách cũng đã giáo dục đạo đức cho các em, các em đã rèn được tính kiên trì trong học tập cũng như trong cuộc sống, không bỏ cuộc một sách dễ dàng, tham gia các trò chơi nhẹ nhàng, không chạy nhảy đùa nghịch nhiều, không nóng vội khi giải quyết vấn đề, Cụ thể kết quả thực nghiệm thu được của sáng kiến kinh nghiệm như sau: Lớp Sĩ số Số học sinh thích đọc sách Số học sinh đọc sách hàng ngày 2A2 35 Trước khi áp dụng các biện pháp Sau khi áp dụng các biện pháp Trước khi áp dụng các biện pháp Sau khi áp dụng các biện pháp Số lượng % Số lượng % Số lượng % Số lượng % 15 42.9 35 100 8 22.9 32 91.4 Như vậy rõ ràng những biện pháp mà sáng kiến kinh nghiệm đưa ra đã mang lại hiệu quả rất khả quan trong việc giúp học sinh yêu thích đọc sách hơn và có thói quen đọc sách hàng ngày. Đó là điều động viên, khích lệ rất lớn đối với giáo viên chúng tôi. PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ I. Kết luận Sách là nguồn kho tàng kiến thức vô tận, nó giúp cho con người khám phá nhiều điều, mở rộng hiểu biết và hình thành nhân cách. Vì vậy, việc rèn thói quen đọc sách cho các em học sinh ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một việc làm vô cùng ý nghĩa. Giáo viên nên áp dụng những biện pháp phù hợp với đối tượng học sinh của lớp mình để giúp các em ham thích đọc sách hơn cũng như có thói quen đọc sách hàng ngày. Nếu các em duy trì được thói quen đó thì sau này nó sẽ giúp ích cho các em rất nhiều trong công việc và trong cuộc sống. Để có được điều đó cũng không phải dễ dàng ngày một ngày hai, mà đòi hỏi cả một quá trình giáo viên kiên trì theo dõi học sinh, kịp thời động viên khích lệ các em đọc sách và giúp các em khắc phục những khó khăn thường gặp khi đọc sách. Tôi hi vọng sáng kiến trên sẽ giúp ích được cho các đồng nghiệp của tôi khi hướng dẫn học sinh đọc sách, giúp học sinh thực sự yêu thích việc đọc sách và đọc sách một cách thường xuyên như một thói quen không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày. II. Khuyến nghị Để sáng kiến kinh nghiệm được thực hiện một cách hiệu quả nhất, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số ý kiến sau: - Đối với giáo viên: Giáo viên cần sát sao ban thư viện của lớp để giúp các em sắp xếp các loại sách phù hợp để dễ tìm kiếm. Giáo dục các em ý thức giữ gìn sách và biết sắp xếp đúng vị trí sau khi đọc xong. Giáo viên cần có sự kiểm tra và chọn lọc nội dung các loại sách phù hợp để các em tham khảo theo đúng chủ ý của giáo viên và theo từng giai đoạn, từng đối tượng. Cần thường xuyên kết hợp với phụ huynh học sinh để theo dõi việc đọc sách ở nhà của học sinh. - Đối với nhà trường: Nhà trường nên trang bị đầy đủ hơn nữa về cơ sở vật chất cho thư viện của các lớp, thư viện của trường, trang bị thêm nhiều sách truyện để tất cả học sinh đều được đọc sách mình yêu thích, thực hiện hiệu quả hơn nữa các tiết học thư viện của học sinh để mỗi giờ đọc sách tại thư viện đối với học sinh sẽ thực sự có ý nghĩa. Đồng thời kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để họ thực sự hiểu về vai trò, ý nghĩa của sách đối với học sinh. Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác! Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 5 năm 2022 TÀI LIỆU THAM KHẢO GS.TS. Bùi Văn Huệ - Giáo trình Tâm lý học Tiểu học - NXB Giáo dục Hà Nội. Nguyệt Minh - Làm gì khi con ham chơi - NXB Từ điển Bách Khoa. Phạm Hổ - Chuyện Hoa - Chuyện Quả - NXB Kim Đồng. Suglyama Koulchi - Phương pháp giáo dục con của người Nhật - NXB Văn hóa thông tin. Thông tư 22/2016/TT - BGDĐT về quy định đánh giá học sinh tiểu học.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Biện Pháp Giúp Học Sinh Ham Thích Đọc Sách
  • Báo Cáo Chuyên Đề; Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi, Hs Năng Khiếu
  • Một Số Biện Pháp Phát Hiện Học Sinh Có Năng Lực Trở Thành Học Sinh Giỏi Hoá Học Ở Trường Ptth
  • Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Bậc Thcs
  • Các Biện Pháp Phát Hiện Và Bồi Dưỡng Học Sinh Giỏi Tiếng Việt Lớp 5 Ở Các Trường Tiểu Học Quốc Tế Tại Việt Nam
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yêu Thích Môn Lịch Sử Ở Trường Thcs

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Ôn Tập Môn Lịch Sử Lớp 6
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Môn Thể Dục Thpt
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm:một Số Giải Pháp Trong Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Môn Thể Dục Lớp 5 : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Skkn Môn Thể Dục: “các Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Bài Tập Quay Phải, Quay Trái Đối Với Học Sinh Lớp 1”. : Phòng Gd&đt Tp Nam Định
  • Chuyên Đề Môn Thể Dục Giai Phap Huu Ich Td Thcs Doc
  • Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH

    MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS

    A. PHẦN MỞ ĐẦU

    I. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI :

    Hiện nay, các trường phổ thông đang phải đối mặt với tình trạng học

    sinh chán Sử, ghét Sử. Đó là một thực tế đáng suy ngẫm. Làm sao để biến

    giờ Sử khô khan thành một giờ học hấp dẫn, cuốn hút, khiến học sinh yêu

    thích môn học này là trăn trở có lẽ không chỉ của giáo viên môn Lịch sử.

    Từ trong bản chất, con người là động vật khát khao hiểu biết. Sự

    hiểu biết sẽ trở thành mục đích cho chính nó. Muốn làm được điều đó thì

    người dạy phải có những biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở

    trường THCS nói riêng và các trường phổ thông nói chung. Điều quan

    trọng và cần thiết nhất là luôn tạo cho các em niềm khát khao tìm hiểu, biết

    tự đánh giá và nhận xét khách quan các sự kiện hay nhân vật lịch sử nào

    đó, khiến các em đam mê thực sự chứ không bị gò bó hay ép buộc bởi bất

    cứ một lí do nào.

    II. CƠ SỞ THỰC TIỄN :

    Trong cuộc sống kinh tế thị trường ngày nay khi hầu hết các giá trị

    đều qui đổi thành hàng hóa tiền bạc và lợi nhuận thì kiến thức từ các môn

    tự nhiên được phụ huynh và học sinh hết sức đề cao. Ngược lại các môn

    khoa học xã hội, đặc biệt các “môn phụ” như Sử, Địa… thì học sinh chỉ

    học cho qua loa đại khái thậm chí còn cảm thấy “chán ngán” nếu như giáo

    viên dạy môn đó không cải tiến phương pháp, dạy theo lối truyền thống

    “đọc-chép”. Câu hỏi ” Học lịch sử để làm gì?” cũng sẽ được qui về giá trị

    lợi ích mà nó đem lại. Điều này cũng được phản ánh rõ nét nhất bằng các

    kì thi tốt nghiệp THPT và kì thi ĐH, Cao đẳng những năm gần đây, số học

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -1Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    sinh được điểm không môn lịch sử ngày càng nhiều là điều chúng ta dễ

    hiểu.

    Ở các trường THCS nói chung ,đa số học sinh còn lười học và chưa

    có sự say mê môn học Lịch sử, ngay cả khi hỏi đến những mốc quan trong

    nhất của lịch sử dân tộc nhiều em cũng không trả lời được, khi được giải

    đáp về câu hỏi đó thì cũng không hiểu gì về sự kiện lịch sử ấy.

    Việc gây hứng thú học tập cho học sinh nói chung, giúp học sinh yêu

    thích môn Lịch sử nói riêng không phải lúc nào cung được chú ý thường

    xuyên. Đây không phải là vấn đề mới nhưng để thực hiện tốt không dễ.

    Làm thế nào để học sinh yêu thích môn Lịch sử? Làm thế nào để Lịch sử

    trở thành bộ môn được học sinh coi trọng như các môn học khác chính là

    vấn đề đặt ra với mỗi giáo viên mỗi trường học, mỗi cấp học hiện nay. Bởi

    vậy trong khuôn khổ sáng kiến kinh nghiệm này tôi mạnh dạn đặt ra vấn đề

    và bước đầu đề xuất ra những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giờ học

    Lịch sử cũng như giúp học sinh yêu thích môn học này hơn nữa.

    B. NỘI DUNG

    I. THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS :

    1. Về phía giáo viên :

    Đa số giáo viên coi môn này là môn phụ, học xong chỉ kiểm tra đơn

    thuần không tổ chức thi vượt cấp do đó sự tâm huyết với môn sử của đại đa

    số giáo viên dạy môn này còn ít. Sự chuẩn bị chu đáo cho bài dạy chỉ tập

    trung ở tiết thanh tra, thao giảng mà thôi.

    2. Về phía phụ huynh và học sinh :

    – Học sinh không thích học môn lịch sử vì cho rằng đó chỉ là môn

    phụ không quan trọng, nội dung kiến thức quá dài, khó nhớ, nhiều sự kiện

    – Phụ huynh : Nếu con em mình chọn thi môn lịch sử trong các kì thi

    học sinh giỏi, Đại học, Cao đẳng…thì đại đa số phụ huynh học sinh đều

    phản đối kịch liệt vì cho rằng không thực tế, ra trường khó xin việc…

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -2Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    3. Nguyên nhân của thực trạng trên :

    Trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang phát triển, trước tác

    động ngày càng mạnh của xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang gặp nhiều

    khó khăn trở ngại do chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo còn thấp hơn

    so với yêu cầu. Hơn thế nữa, khi hội nhập toàn cầu sẽ có nhiều cái mới,

    nhiều nét văn hóa khác biệt du nhập và ảnh hưởng đến nước ta. Nếu không

    khéo lựa chọn, không có bản lĩnh để tiếp thu tinh hoa, loại bỏ những mặt

    trái, những tiêu cực sẽ là một thảm họa lớn với nền văn hóa dân tộc. Và tất

    nhiên khi văn hóa bị lai căng, xuống dốc, bản sắc dân tộc sẽ không còn.

    Thực tế này đang dần hiển hiện trong lối sống, cách ứng xử hiện nay và cả

    trong môn Lịch sử những năm gần đây đặc biệt là năm 2012 vừa qua, điểm

    thi môn Lịch sử trong các kì thi quá thấp đã đặt ra cho chúng ta một vấn

    đề: Vì sao lại như vậy? Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến học sinh không

    yêu thích môn Lịch sử. Theo cá nhân tôi thì do những nguyên nhân sau:

    – Nguyên nhân quan trọng hàng đầu và trước tiên là sự đối xử không

    công bằng đối với môn Lịch sử trong chương trình giảng dạy của hệ thống

    giáo dục phổ thông, trong khi chúng ta đều biết và đều coi Toán, Lí, Hóa,

    Văn, Sử, Địa là những môn khoa học có vị trí vai trò ngang nhau ở các cấp

    học phổ thông thì thời gian học môn Lịch sử chỉ được bố trí từ 1-1,5 tiết/

    tuần trong khi môn Văn, Toán là 4 đến 5 tiết/tuần. Hay là trong nhà trường

    hạn chế tối đa môn Toán, Văn có tiết 5 trong mỗi buổi học thay vào đó là

    môn Sử, GDCD…Sự đối sử bất bình đẳng đó kéo dài trong nhiều năm dần

    dà làm nảy sinh trong thầy cô và học trò một lối ứng xử ngầm phi văn bản

    là xem môn Sử là môn học phụ.

    – Nguyên nhân thứ hai ảnh hưởng rất lớn đến việc học môn Lịch sử

    giảm sút là chế độ thi cử. Các trường Đại học quân sự trước đây bắt buộc

    thi môn Lịch sử, những năm gần đây đã bỏ hẳn. Các trường Đại học An

    Ninh ngày trước cũng bắt buộc thi môn Lịch sử giờ đây chỉ còn một ít chỉ

    tiêu khối C còn lại nhường chỗ cho khối A. các trường Luật, Báo chí, Văn

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -3Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    Hóa trước đây thi khối C hiên nay chỉ tiêu khối A, D còn nhiều hơn. Thi

    đầu vào cấp III, ngoài đầu vào Toán, Văn là bắt buộc thì môn thứ ba rơi tự

    do nhưng môn Sử ở tỉnh An Giang tôi thấy chỉ được thi vài năm. Chính vì

    vậy qua tiếp xúc trao đổi với học sinh, tìm hiểu các em cũng như các bậc

    phụ huynh tôi hiểu rằng: không phải các em không thích học mà là không

    muốn học các môn khoa học xã hội chứ không riêng gì môn Lịch sử đơn

    giản chỉ vì các môn học này không phải là phương tiện để giúp các em

    kiếm sống dễ dàng trong xã hội ngày nay.

    – Nguyên nhân thứ ba có thể nói xuất phát chủ yếu từ 2 nguyên nhân

    trước. Đó là hầu hết giáo viên dạy môn Lịch sử cấp THCS đều được đào

    tạo 2 chuyên môn như Văn – Sử; Sử – GDCD … Chính vì thế những giáo

    viên này đều chú trọng vào môn Ngữ văn. Mặt khác thái độ “phân biệt”

    với môn Lịch sử dẫn đến tiết dạy ít được đầu tư nên không gây hứng thú

    với học sinh. Từ đó kết quả bộ môn thấp là không thể tránh khỏi.

    – Nguyên nhân thứ tư: Cách viết sách giáo khoa môn Lịch sử hiện nay

    chưa thực sự hấp dẫn với người học bời lối viết dài, cứng nhắc, quá nhiều

    sự kiện.

    – Một nguyên nhân nữa khiến học sinh chưa yêu thích học môn Lịch sử

    là công tác tuyên truyền trong và ngoài nhà trường chưa thực sự quan tâm

    mạnh mẽ. Đa số các trường đều chưa tổ chức cho học sinh tham quan thực

    tế, các buổi ngoại khóa tìm hiểu kiến thức lịch sử, do đó mà hầu hết các em

    đều “ngoảnh lưng” với môn học này.

    II. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH MÔN

    LỊCH SỬ :

    1. Thay đổi cách nhận thức về môn học này :

    – Giáo viên và học sinh coi môn Lịch sử là một môn khoa học. Muốn

    vậy người thầy phải luôn luôn nghiêm túc với tiết dạy Lịch sử. Thường ở

    trường THCS giáo viên dạy Văn thì đi đôi với dạy Sử, Địa…do đó giáo

    viên chỉ coi trọng môn Văn còn môn Sử thì dạy cho hết giờ rồi thôi.

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -4Năm học 2013-1014

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -5Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    có các trò chơi phù hợp, ví dụ các trò chơi: Nhận diện lịch sử, giải ô chữ

    lịch sử, sưu tầm và thuyết minh về những hình ảnh lịch sử, trả lời nhanh…

    Theo báo cáo của trung tâm nghiên cứu kĩ thuật của Mỹ vào năm 1993:

    ” Con người lưu lại trong bộ nhớ được khoảng 20% những gì họ thấy và

    khoảng 30% những gì họ nghe và con số này có thể lên đến 80% nếu họ

    thấy và nghe sự vật, hiện tượng một cách đồng thời”. Qua những số liệu

    này và quá trình giảng dạy thực tế ở trường phổ thông có thể thấy việc dạy

    học Lịch sử chỉ với những phương tiện truyền thông như bảng đen, lời nói

    của thầy cô giáo và một ít phương tiện dạy học mang tính tĩnh( Bản đồ,

    tranh ảnh, sơ đồ…) chắc chắn mức độ ghi nhớ sẽ không cao và nhanh

    quên. Trong khi đó nếu học sinh được xem phim tư liệu, bản đồ, sơ đồ

    động( được thực tế theo logic sự kiện) tranh ảnh, màu sắc sinh động, kết

    hợp với lời nói của giáo viên thì khả năng ghi nhớ của các em sẽ tăng lên.

    Không những thế nếu làm được điều này chúng ta sẽ tạo lên được bầu

    không khí học tập sinh động, khơi gợi hứng thú học tập cho các em, đồng

    thời khắc sâu những kiến thức mà các em tiếp thu được. Nói như vậy

    không có nghĩa là chúng ta gạt bỏ phương pháp dạy học truyền thống mà là

    ” kê thừa” phát triển mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đồng

    thời cần phải học hỏi, vận dụng những phương pháp dạy học mới theo

    hướng tích cực khắc phục những vấn đề mà phương pháp dạy học cũ còn

    nhiều vấn đề chưa phù hợp.

    3. Khơi dậy niềm yêu thích môn Lịch sử ở học sinh :

    Môn học lịch sử không chỉ trang bị kiến thức mà còn khơi dậy niềm

    tự hào dân tộc ở người học, cung cấp cho họ nền tảng văn hóa – điều rất

    cần thiết trong thời kì đất nước đang hội nhập sâu rộng với quốc tế. Hiện

    nay, môn học này đã được quan tâm đầu tư đúng mức hay chưa, là điều mà

    dư luận đang đặt nhiều tranh cãi. Nhất là khi có không ít học sinh không

    còn yêu thích, hào hứng với việc học lịch sử.

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -6Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    “Học Lịch sử để làm gì?”, “Lịch sử có ích gì cho cuộc sống của học

    sinh?”.

    “Khi đưa ra câu hỏi này nhiều người sẽ trả lời ngay: “Học Lịch sử

    để yêu nước”, “giữ gìn truyền thống”, “để rút ra bài học trong quá khứ”….

    Những câu trả lời này không sai nhưng theo tôi nó là sản phẩm thể hiện tư

    duy nhìn từ góc độ “quốc gia”. Trên thực tế, con người hành động vì lợi

    ích. Lợi ích càng cụ thể, thiết thực thì hành động càng mạnh mẽ. Giáo dục

    Lịch sử muốn thu hút được sự quan tâm, chú ý của người học thì nó phải

    đem lại lợi ích mà người học nhìn thấy và hưởng thụ trực tiếp”.

    Chính vì vậy, khi dạy Lịch sử, bên cạnh các lợi ích nhìn từ góc độ

    quốc gia, cũng rất chú ý đến những lợi ích nhìn từ góc độ cá nhân – công

    dân. Xét ở góc độ này, giáo dục lịch sử phải góp phần giúp học sinh cải

    thiện được giao tiếp của bản thân đối với gia đình (nhiều thế hệ), cộng

    đồng xung quanh (địa phương, những người trong một nước và những

    người đến từ nền văn hóa khác).

    Giáo dục lịch sử cũng phải giúp học sinh nhận thức được hiện thực

    đang diễn ra trước mắt, giải thích nó từ góc độ lịch sử bằng các sử liệu

    thực chứng. Giáo dục lịch sử phải giúp cho học sinh có những năng lực cần

    thiết như năng lực tư duy phê phán, năng lực đưa ra quyết định, năng lực

    sáng tạo, năng lực biểu hiện…

    Xa hơn nữa là phải nhắm tới việc tạo nên những phẩm chất công dân

    tốt đẹp ở người học sinh. Giáo dục lịch sử phải góp phần quan trọng để tạo

    nên hình ảnh người công dân mơ ước của đông đảo nhân dân. Đó là những

    con người có khả năng nhận thức và cải tạo hiện thực để tạo nên một hiện

    thực khác tốt đẹp hơn.

    Nói cách khác đó là việc học sinh đi từ học tập Lịch sử đến hành

    động trong thực tiễn với vai trò của người công dân góp phần sáng tạo nên

    lịch sử. Nghĩa là, người giáo viên khi dạy Lịch sử phải nhắm đến hình

    thành ở học sinh hai thứ cần thiết: năng lực nhận thức lịch sử một cách

    khoa học và phẩm chất công dân.

    Một khi trả lời được rõ ràng câu hỏi “Dạy Lịch sử để làm gì?”, người

    giáo viên sẽ tìm kiếm được câu trả lời cho cho các câu hỏi tiếp theo: “Dạy

    cái gì?”, “Dạy như thế nào?”. Và khi làm được điều đó, giáo viên sẽ làm

    cho học sinh yêu thích môn Lịch sử.

    4. Thường xuyên tổ chức hoạt động ngoại khóa :

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -7Năm học 2013-1014

    Vua nào mặt sắt đen sì?

    Vua nào trong thuở hàn vi ở chùa?

    (Là những ai? – Đáp án: Mai Thúc Loan, Lý Công Uẩn)

    3.

    Đố ai trên Bạch Đằng Giang

    Làm cho cọc nhọn dọ ngang sáng ngời

    Phá quân Nam Hán tơi bời

    Gươm thần độc lập, giữa trời vung lên?

    ( Là ai?- Đáp án: Ngô Quyền)

    4.

    Ngàn năm trang sử còn ghi

    Mê Linh, sông Hát chỉ vì non sông

    Chị em một dạ, một lòng

    Đuổi quân Tô Định khỏi vùng biên cương

    (Là ai?- Đáp án: Hai Bà Trưng)

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -8Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    5.

    Đố ai qua Nhật sang Tàu

    Soạn thành huyết lệ hơn cầu tàn thư

    Hô hào vận động Đông Du

    Kết đoàn cùng với sĩ phu khắp miền

    (Là ai?- Đáp án: Phan Bội Châu)

    Ngoài ra còn rất nhiều vần thơ khác đồng nghiệp có thể tìm hiểu ở

    cuốn Câu đố Việt Nam(NXB Hồng Đức).

    Qua áp dụng tôi thấy một không khí thi đua tìm hiểu Lịch sử diễn ra

    sôi nổi và các em rất mong được có nhiều câu hỏi, câu đố vui như thế. Cứ

    như vậy, nội dung kiến thức cơ bản về lịch sử sẽ giúp các em khắc sâu hơn

    để rồi vào giờ học chính khóa môn Lịch sử các em tiếp thu bài nhanh hơn,

    tự nhiên hơn.

    III. ÁP DỤNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TRONG MỘT

    TIẾT DẠY CỤ THỂ MÔN LỊCH SỬ LỚP 6 :

    Tiết 1: SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ

    Với bài này tôi đã vận dụng linh hoạt rất nhiều phương pháp khác nhau

    khiến bài giảng sinh động: Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, kể chuyện,

    đồng thời tôi ứng dụng vào tiết dạy này.

    SƠ LƯỢC VỀ MÔN LỊCH SỬ

    I. Mục tiêu bài học :

    1. Kiến thức :

    – Xã hội loài người có lịch sử hình thành và phát triển.

    – Mục đích học tập Lịch sử (để biết gốc tích tổ tiên, quê hương đất nước,

    để hiểu hiện tại).

    2. Kỹ năng : Bồi dưỡng về tính chính xác và sự ham thích học tập môn

    lịch sử.

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    -9Năm học 2013-1014

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    NỘI DUNG

    1. Lịch sử là gì ?

    – Lịch sử là những gì đã

    diễn ra trong quá khứ.

    – Lịch sử là khoa học tìm

    hiểu và dựng lại toàn bộ

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 10 Năm học 2013-1014

    2. Học lịch sử để làm gì ?

    – Học lịch sử để hiểu được

    cội nguồn của dân tộc, tổ

    tiên, làng xóm.

    – Biết quá trình đấu tranh

    với thiên nhiên và chống

    ngoại xâm để giữ gìn độc

    lập dân tộc.

    – Biết Lịch sử phát triển

    của nhân loại để rút ra

    những bài học kinh

    nghiệm cho hiện tại và

    tương lai.

    3. Dựa vào đâu để biết và

    dựng lại Lịch sử ?

    Căn cứ vào:

    – Tư liệu truyền miệng

    ( Truyền thuyết).

    – Tư liệu chữ viết (Văn

    bia, tư liệu thành văn).

    – Tư liệu hiện vật ( Trống

    đồng, bia đá).

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 11 Năm học 2013-1014

    7A1 (37 HS)

    7A2 ( 39HS)

    7A3 (40HS)

    Tỉ lệ

    Tỉ lệ

    Tỉ lệ

    22

    59. 4%

    24

    61.5%

    22

    55%

    10

    27.1%

    12

    30.8%

    15

    37.5%

    5

    13.5%

    3

    7.7%

    3

    7.5%

    5

    13.5%

    6

    15.4%

    5

    12.5%

    17

    46%

    19

    48.7%

    19

    47.5%

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 12 Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    kinh

    nghiệm

    15

    40.5%

    14

    35.9%

    16

    40%

    II. NHỮNG VẤN ĐỀ BỎ NGÕ :

    – Để giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ngoài những biện pháp mà

    tôi nêu ở trên thì cần có các giải pháp trước mắt như: chỉnh sửa Sách

    giáo khoa, thay đổi chế độ thi cử, về lâu dài cần đưa môn Lịch sử thành

    môn thi bắt buộc bên cạnh môn Văn, Toán như các nước vẫn làm đối

    với giáo dục phổ thông. Nước Mĩ có hơn 200 năm lịch sử dân tộc

    nhưng họ dành 5 tiết học lịch sử/ tuần, trong khi nước ta có hàng 1000

    năm lịch sử dân tộc thì chỉ dành 1,5 tiết/ tuần. Việc đưa ra các giải pháp

    hữu hiệu khắc phục sự sa sút đáng lo ngại của môn lịch sử trong nhà

    trường là trách nhiệm không chỉ của cơ quan chức năng mà của giới Sử

    học cả nước nói chung rằng môn Lịch sử cần được nâng tầm cho đúng

    chức năng, vai trò của nó. Đặc biệt trong quá trình đất nước hội nhập thì

    môn Lịch sử nhất là quốc sử càng cần được coi trọng để giúp giới trẻ

    xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người để giữ gìn bản sắc dân tộc

    trước sự giao thoa văn hóa thế giới.

    – Cần thay đổi nếp nghĩ, không coi môn Lịch sử là “môn phụ” trong

    nhà trường và toàn xã hội.

    III. ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG :

    – Những biện pháp trên của môn Lịch sử áp dụng cho các cấp học

    phổ thông đặc biệt là cấp THCS.

    – Người giáo viên phải yêu nghề, phải say bộ môn, có thời gian nhất

    định để đầu tư khai thác xây dựng bài, lựa chọn phương tiện dạy học và

    có được hình thức tổ chức dạy học hợp lý gây dược hứng thú với học

    sinh.

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 13 Năm học 2013-1014

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 14 Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    – Đối với giáo viên: Ngoài những kiến thức có trong Sách giáo khoa,

    người giáo viên cần không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ chuyên

    môn, tiếp cận sự kiện mới nhất để giảng cho học sinh.

    Lời kết: Với mục tiêu thực hiện tốt các cuộc vận động ” Học tập và làm

    theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và cuộc vận động ” Mỗi thầy, cô

    giáo là một tấm gương đạo đức, tự học sáng tạo” cùng với phong trào ”

    Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực.” Bản thân tôi với tư

    cách là một giáo viên bộ môn, tôi luôn suy nghĩ tìm tòi các phương pháp

    dạy học sao cho học sinh của mình có thể nắm bắt kiến thức một cách dễ

    hiểu nhất, giúp các em có hứng thú với bộ môn, tránh được áp lực khi

    học bộ môn này. Bằng sáng kiến của mình, tôi rất mong muốn được đóng

    góp một phần nhỏ cùng với các bạn đồng nghiệp để học sinh yêu thích

    học môn Lịch sử hơn. Trong quá trình viết, không thể tránh khỏi những

    sai sót, rất mong các đồng nghiệp góp ý để sáng kiến được hoàn thiện

    hơn. Trong thời gian tôi làm sáng kiến tôi đã nhận được không ít sự giúp

    đỡ của các bạn đồng nghiệp, của tổ chuyên môn, và sự tạo điều kiện của

    nhà trường. Tôi xin trân trọng cảm ơn!

    Hòa Bình Thạnh, ngày 28 tháng 10

    Người thực hiện

    Lê Ngọc Khánh

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 15 Năm học 2013-1014

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử ở trường THCS

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    A. Phần mở đầu

    I. Tính mục đích của đề tài

    II.Cơ sở thực tiễn

    B. Nội dung và phương pháp tiến hành

    I. Thực trạng dạy – học lịch sử ở Trường THCS

    II. Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích môn Lịch sử

    III. Áp dụng đổi mới phương pháp dạy học …

    C. Kết luận

    I. Kết quả thu được

    II. Vấn đề bỏ ngỏ

    III. Điều kiện áp dụng

    IV. Bài học kinh nghiệm

    V. Đề xuất kiến nghị

    Giáo viên: Lê Ngọc Khánh

    Tổ: Sử-GD-KTPV

    TRANG

    Trường THCS Hòa Bình Thạnh

    – 16 Năm học 2013-1014

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Pháp Hữu Ích: “một Vài Biện Pháp Giai Phap 2013 Doc
  • Skkn: Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 1 Rèn Kĩ Năng Phát Âm Chuẩn Các Từ Ngữ Và Dấu Thanh Khó Khi Học Môn Tiếng Việt
  • Giải Pháp Hữu Ích Nâng Cao Chất Lượng Đọc Lớp 1 Vai Bien Phap Nang Cao Chat Luong Tap Doc Lop 1 Doc
  • Giải Pháp Hữu Ích Nâng Cao Chất Lượng Đọc Lớp 1
  • Sử Dụng Và Bảo Quản Tbdh Môn Vật Lí
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Yêu Thích Và Học Tốt Môn Lịch Sử Lớp 4 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Năng Khiếu Bơi Lội
  • Ưu Và Nhược Điểm Của Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học?
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Rèn Kỉ Năng Đọc Cho Học Sinh Yếu Kém Lớp 2
  • Skkn Rèn Học Sinh Yếu Lớp 2
  • Một Số Biện Pháp Rèn Luyện Học Sinh Yếu Môn Toán Lớp 3
  • Lịch sử ở các lớp 4- 5 còn hạn chế.

    Vậy làm thế nào để các em yêu thích môn Lịch sử? Các em tự tìm đến với Lịch sử

    dân tộc và học tốt môn này?, cũng như về phía Giáo viên cần có sự quan tâm xứng

    đáng cho những tiết dạy đạt hiệu quả cao, đó chính là niềm trăn trở của tôi và của cả

    chúng ta- những người làm công tác trồng người. Từ những thực tế trên, tôi đã chọn đề

    1

    tài này để nghiên cứu, mong sao giúp cho việc dạy và học ngày càng được cải thiện rõ

    nét hơn!

    3. Phạm vi và đối tượng áp dụng:

    Đề tài này tôi đã thực nghiệm dạy và học nhiều năm trên một số lớp 4 – 5 tại trường

    tôi, kết quả mang lại rất khả quan; đến thời điểm cuối năm học hầu như 100% các em

    có thái độ yêu thích và học tốt môn học này, không còn tư tưởng thái độ chán nản hay

    gò bó bắt buộc như trước nữa.

    4. Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm:

    – Giúp cho học sinh yêu thích và học tốt môn học Lịch sử cũng như các em có sự suy

    nghĩ và thái độ hiểu đúng đắn và tự hào về lịch sử dân tộc mình.

    5. Để việc dạy và học được tốt, tôi thường lựa chọn một số phương pháp trong

    dạy- học môn Lịch sử như sau:

    – Phương pháp Vấn đáp

    – Phương pháp Giảng giải

    – Phương pháp Đàm thoại

    – Phương pháp Quy nạp

    – Phương pháp Chứng minh

    – Phương pháp Củng cố- thực hành- luyện tập

    – Phương pháp Nêu gương

    * Có thể nói: việc lựa chọn các phương pháp- biện pháp (Phương pháp Tổng- Phân-

    Hợp) cho mỗi bài dạy trong môn Lịch sử là rất cần thiết và nó sẽ giúp cho mỗi tiết học

    thêm sinh động hơn.

    6. Điểm mới của vấn đề nghiên cứu:

    a/ Cách dạy và học trước đây:

    2

    – Thầy dạy học chủ động, trò học tập thụ động dẫn đến kết quả dạy và học chưa cao.

    – Thầy chưa có sự quan tâm đầu tư cho tiết dạy thỏa đáng, trò chưa có y thức tự học,

    còn lơi là trong học tập.

    b/ Cách dạy và học qua nghiên cứu, thực nghiệm:

    – Giáo viên đã có sự đầu tư cho mỗi tiết dạy như: Biết sử dụng các phương pháp-

    biện pháp đa dạng, linh hoạt, có sử dụng tốt các Đồ dùng dạy học cần thiết để phục vụ

    bài học, có y thức tự trau rồi những kiến thức cần thiết để phục vụ trong việc dạy học.

    – Với học sinh, các em đã có cách suy nghĩ, cách hiểu đúng về môn học mà mình

    học, không còn lơ mơ theo kiểu đối phó như trước nữa; các em đã biết tự mình sưu tầm

    11

    MỤC LỤC

    Đề tài

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH VÀ HỌC TỐT

    MÔN LỊCH SỬ LỚP 4- 5

    Phần 1: Mở đầu

    1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu: trang

    2. Lí do chọn đề tài:

    3. Phạm vi và đối tượng áp dụng:

    4. Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm:

    5. Mục tiêu nghiên cứu của sáng kiến kinh nghiệm:

    6. Điểm mới của vấn đề nghiên cứu:

    a/ Cách dạy và học trước đây:

    b/ Cách dạy và học qua nghiên cứu, thực nghiệm:

    Phần 2: Nội dung

    1.Phạm vi triển khai thực hiện:

    2. Mô tả sáng kiến:

    * Thuận lợi:

    * Khó khăn:

    * Số liệu thống kê thực trạng:

    Một số biện pháp giúp học sinh yêu thích và học tốt môn Lịch sử lớp

    4- 5

    * Đối với giáo viên, cần:

    12

    a. Khai thác môi trường học tập:

    b. Khai thác phương tiện dạy học:

    3. Kết quả, hiệu quả mang lại:

    4. Đánh giá phạm vi ảnh hưởng của sáng kiến:

    Phần 3. Kết luận:

    – Kết luận

    – Kiến nghị và đề xuất với các cấp quản lí ngành giáo dục:

    + Đối với nhà trường:

    + Đối với cấp trên:

    HẾT

    13

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO PHÚ TÂN

    14

    SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    Đề tài: “MỘI SỐ BIỆN GIÚP HỌC SINH YÊU THÍCH VÀ HỌC TỐT MÔN LỊCH SỬ 4- 5

    XÁC NHẬN HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN CẤP CƠ SỞ

    (Hình thức, bố cục, nội dung, xếp loại)

    ………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………….

    ………………………………………………………………….

    Tiêu chí Điểm Trung bình Xếp loại

    Tính mới

    Tính hiệu quả

    Phạm vi ảnh hưởng

    Tổng điểm

    Phú Tân, ngày…… tháng……năm 2014

    TRƯỞNG PHÒNG

    15

    16

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Lịch Sử Lớp 5
  • Giáo Án Môn Sinh Học Lớp 7 Bài 64
  • Lý Thuyết Sinh Học Lớp 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Bài 51. Đa Dạng Của Lớp Thú: Các Bộ Móng Guốc Và Bộ Linh Trưởng
  • Chuyên Đề Sinh Học 7
  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 3 Hiểu Về Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Bài Tập Đọc

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Rèn Kỹ Năng Nhận Biết Biện Pháp Tu Từ So Sánh Cho Học Sinh Lớp 3
  • Phòng Trừ Sinh Vật Hại Bằng Biện Pháp Sinh Học
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Hại Bằng Biện Pháp Sinh Học
  • Phòng Trừ Sâu Bệnh Bằng Biện Pháp Sinh Học * Tin Cậy
  • Biện Pháp Sinh Học Trong Sử Lý Ô Nhiễm Đất
  • Đề tài: Hướng dẫn học sinh lớp 3 tìm hiểu biện pháp so sánh tu từ trong các bài tập đọc

    (

    PHẦN MỞ ĐẦU

    1) Lý do chọn đề tài :

    Môn học Tiếng Việt ở tiểu học được coi là môn học quan trọng nhất trong 9

    môn học của chương trình, là môn học công cụ để học tập các môn học khác và

    qua đó giáo dục học sinh về mọi mặt.

    Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua các phân môn như

    Tập đọc, Tập viết, Kể chuyện, chính tả, luyện từ và câu, tập đọc. Phân môn tập

    đọc có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc dạy học tiếng Việt xét trên hai nhiệm

    vụ :

    – Tập đọc là một môn học thực hành. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó hình

    thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc được tạo nên từ bốn kỹ năng cũng

    là bốn yêu cầu về chất lượng của “đọc” : đọc đúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, đọc

    trôi chảy), đọc có ý thức(thông hiểu được nội dung những điều mình đọc hay còn

    gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kỹ năng này được hình thành theo hai hình

    thức đọc : đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng được rèn luyện đồng thời và hỗ

    trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kỹ năng này sẽ có tác động tích cực

    đến những kỹ năng khác.

    – Giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phương pháp và thói quen làm

    việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành một sự

    tôn sùng ngự trị trong nhà trường, đó là một trong những điều kiện để trường học

    thực sự trở thành trung tâm văn hoá. Nói cách khác, thông qua việc dạy học, phải

    làm cho học sinh thích đọc và thấy được rằng khả năng đọc là có lợi ích cho các

    em trong cả cuộc đời, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con

    đường đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển.

    Ngoài ra phân môn tập đọc còn làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và

    kiến thức văn học cho học sinh. Phát triển ngôn ngữ và tư duy cho học sinh.

    Đồng thời giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ cho học sinh.

    Giáo dục đó của phân môn tập đọc được thiết kế dựa trên nhiều biện pháp,

    mỗi biện pháp là một hình thức giáo dục như sử dụng thêm các câu hỏi tìm hiểu

    bài, các biện pháp ẩn dụ, nhân hoá, so sánh tu từ để làm tăng giá trị nghệ thuật

    của bài tập đọc, qua đó giáo dục cho học sinh về tư tưởng, đạo đức, tình cảm, thị

    hiếu thẩm mỹ cho học sinh.

    So sánh tu từ trong bài tập đọc lớp 3 cũng là một biện pháp giáo dục sâu sắc

    nhất, hướng học sinh vào những giá trị đạo đức của tác phẩm, nhấn mạnh hàm ý

    của bài học, qua đó xây dựng cho học sinh cách nhìn, cách nghĩ về tác phẩm và

    rút ra những bài học sâu sắc cho mình. Vậy những biện pháp đó ra sao, được sử

    dụng trong các hình thức nào của bài tập đọc? Mỗi biện pháp giáo dục học sinh

    những mắt nào? Đó chính là nội dung của đề tài mà tôi đang nghiên cứu ” Hướng

    dẫn học sinh lớp 3 tìm hiểu về biện pháp tu từ trong bài tập đọc”

    2/ Phạm vi nghiên cứu của đề tài :

    Biện pháp so sánh tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật có giá trị

    cao trong các bài tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 3 nói riêng. Biện pháp này

    Trang 8

    Giáo viên :

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh lớp 3 tìm hiểu biện pháp so sánh tu từ trong các bài tập đọc

    (

    giúp cho học sinh hiểu sâu hơn về những giá trị nghệ thuật cũng như ý nghĩa giáo

    dục có trong tác phẩm.

    Chính vì thế nội dung của đề tài tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu giá

    trị nghệ thuật của biện pháp tu từ qua đó có biện pháp thiết thực khi hướng dẫn

    học sinh tiếp thu những giá trị đó của nội dung bài học. Đây là một nội dung

    nghiên cứu mới của bản thân được rút ra từ những kinh nghiệm dạy học nhằm

    tăng cường công tác dạy môn tập đọc ở lớp 3 nâng cao chất lượng đại trà cho học

    sinh. Do đó phạm vi nghiên cứu được tập trung chủ yếu vào các bài tập đọc ở lớp

    3 theo chương trình sách giáo khoa hiện hành.

    Trang 8

    Giáo viên :

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh lớp 3 tìm hiểu biện pháp so sánh tu từ trong các bài tập đọc

    (

    PHẦN THỨ NHẤT : THỰC TRẠNG

    I) NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC TRẠNG:

    1) Khái niệm so sánh tu từ :

    So sánh tu từ là một biện pháp so sánh dùng cách đối chiếu của một sự vật

    này với một sự vật kia dưới hình thức so sánh trừu tượng làm nhấn mạnh ý nghĩa

    của đối tượng muốn so sánh.

    2) Đặc điểm :

    So sánh tu từ không giống với so sánh logic, đặc điểm của so sánh tu từ là

    để cảm hơn để hiểu, hình ảnh dùng để so sánh thường không có thực hoặc không

    mấy khi thấy được mà ta vẫn cảm nhận được phương diện so sánh.

    Ví dụ : Khi ta đọc câu thơ :

    “Đây con sông như dòng sữa mẹ.

    Nước về xanh ruộng lúa vườn cây

    và ăm ắp như lòng người mẹ

    chở tình thương trang trải bao ngày

    Chỉ cần đọc xong câu thơ, tuy không thể thấy được dòng sữa mẹ chảy như

    thế nào, có giống con sông đang chảy hay không. Nhưng trong tâm trí ta đã cảm

    nhận được sự ngọt ngào êm dịu của dòng sông mà sức mạnh về giá trị của vế so

    sánh đã lấn át về hình ảnh bên ngoài. Xét về góc độ hình ảnh bên ngoài ta không

    thể so sánh được dòng sông như dòng sữa mẹ. Nhưng bên trong khi ta đọc là cảm

    nhận sâu sắc ngay giá trị của hình ảnh dòng sông.

    So sánh tu từ ngoài ý nghĩa so sánh ra, còn có đặc điểm cực cấp và tính chất

    thành ngữ có sắc thái ngoa dụ. Khi sử dụng so sánh tu từ tác giả thường dùng các

    hình thức so sánh như : từ cụ thể đến cụ thể, từ cụ thể đến trừu tượng, từ trừu

    tượng đến cụ thể, nhằm tăng giá trị hay vẻ đẹp của đối tượng muốn so sánh.

    3) Giá trị của so sánh tu từ:

    Trong so sánh có nhiều hình thức để biểu thị vế so sánh. Nếu hình ảnh hay

    sự vật hiện tượng đó chỉ ở mức độ so sánh hai hay nhiều sự vật hiện tượng cùng

    có một nét giống nhau nào đó mà đặc điểm của nó được hiện diện trên từ ngữ thì

    người ta sử dụng biện pháp so sánh từ vựng.

    Ví dụ : “Từ xa nhìn lại cây gạo sừng sững như một tháp đến khổng lồ”. Ở

    đây ta thấy hình ảnh so sánh và được so sánh (cây gạo, tháp nến) có nét giống

    nhau về đặc của từ (đều có có độ cao)

    Còn nếu nếu hình ảnh hay sự vật hiện tượng ở mức độ so sánh hai hay nhiều

    sự vật hiện tượng cùng có một nét giống nhau nào đó mà đặc điểm của nó là

    không được nói thẳng trên từ ngữ mà được suy ra từ A và B thì người ta sử dụng

    biện pháp so sánh logic.

    Ví dụ : “Lá rau như mạ bạc trông như được phủ một lớp tuyết cực mỏng”.

    Như vậy qua hai vế so sánh này ta thấy hình ảnh của lá rau và lớp tuyết mỏng có

    nét giống nhau về sắc thái nhưng không được ví về từ ngữ.

    Còn so sánh tu từ khác với hai hình thức so sánh trên là ở tác dụng của vế

    dùng để so sánh trong chức năng gợi hình, gợi cảm về đối tượng được so sánh.

    Trang 8

    Giáo viên :

    Đề tài: Hướng dẫn học sinh lớp 3 tìm hiểu biện pháp so sánh tu từ trong các bài tập đọc

    (

    Trong mô hình cấu trúc của so sánh tu từ, đối với học sinh tiểu học yếu tố

    phương diện so sánh không phải lúc nào cũng dễ chỉ ra được trong các ngữ liệu

    văn chương cụ thể.

    Ví dụ : Quê hương là chùm khế ngọt

    Quê hương là đường đi học

    Phương diện so sánh là một mặt nào đó của đối tượng muốn miêu tả bằng so

    sánh. Đó là sự nhận xét về hình thể, về một phẩm chất, một hoạt động hay một

    trạng thái của đối tượng.

    Ví dụ :

    – Đi đến ngày khai trường, vui như là đi hội (rất vui khi đến ngày khai

    trường).

    – Những hạt sương sớm đọng trên lá long lanh như những bóng đèn pha lê

    ( vẻ đẹp lộng lẫy của những hạt sương)

    – Bình minh mặt trời như chiếc thau đồng đỏ ối chiếu xuống mặt biển (màu

    đỏ của mặt trời)

    Giá trị của những câu có sử dụng biện pháp so sánh tu từ có trong bài tập

    đọc lớp 3 là ở cách chọn đối tượng để so sánh, niềm vui như đi hội; hạt sương

    như bóng đèn pha lê, mặt trời đỏ như chiếc thau đồng. Các đối tượng ấy đã gợi tả

    rất hiệu quả tính chất, hình thể của đối tượng được so sánh

    Để nhận đầy đủ nội dung, mời quý thầy cô bấm vào đây:

    http://tailieugiaoduc.edu.vn/t.aspx?id=318

    Trang 8

    Giáo viên :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Dạy Học Biện Pháp So Sánh Tu Từ Trong Phân Môn Luyện Từ Và Câu Lớp 3
  • Bài Giảng Bài 6: Biện Pháp Sử Dụng,cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Bài 6. Biện Pháp Sử Dụng, Cải Tạo Và Bảo Vệ Đất
  • Biện Pháp Tu Từ So Sánh
  • Biện Pháp So Sánh, Nhân Hóa
  • Giúp Học Sinh Tìm Hiểu Vẻ Đẹp Của Biện Pháp Tu Từ Trong Các Bài Tập Đọc Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Ngữ Văn 11: Chỉ Ra Và Nêu Hiệu Quả Nghệ Thuật Của Các Biện Pháp Tu Từ Trong Khổ Thơ
  • Đặc Sắc Nội Dung, Giá Trị Nghệ Thuật Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Chuyện Người Con Gái Nam Xương
  • Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Việc Tạo Nên Tính Hình Tượng Ở Câu Ca Dao Sau: “thân Em Như Quế Giữa
  • Dạy Tiếng việt cho học sinh, nhất là học sinh tiểu học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì đây là bậc học đầu tiên, đặt nền móng cho hình thành và phát triển về ngôn ngữ của trẻ sau này. Trong đó, khởi điểm cho môn học tiếng Việt là phân môn Tập đọc, phân môn này trở thành một đòi hỏi cơ bản đầu tiên của những người đi học.

    Với nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy lớp 5 ở tiểu học, tôi đã nghiên cứu rất kỹ về các biện pháp Tu từ được sử dụng trong các tác phẩm ở môn tập Đọc lớp 5. Có thể nói biện pháp Tu từ giúp cho bài văn thêm phần mạch lạc, rõ ràng, thu hút người đọc, người nghe, không gây cảm giác nhàm chán bằng cách nhấn mạnh những gì đang muốn nhắc tới. Hay có thể nói biện pháp Tu từ tô thêm vẻ đẹp cho tác phẩm.

    Với ý nghĩa ý đó, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Giúp học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của biện pháp Tu từ trong các bài tập đọc lớp 5” làm sáng kiến kinh nghiệm năm học 2014 – 2022.

      Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp

    * Một số hình thức Tu từ thường gặp trong các bài tập đọc lớp 5:

    – Phóng đại:Là cách nói cách sử dụng từ ngữ theo hướng cố tình nói quá sự thật nhằm làm nổi bật bản chất của đối tượng miêu tả gây ấn tượng đặc điểm mạnh mẽ qua đó người tiếp nhận sẽ hiểu được nội dung và tình cảm thực sự mà người nói muốn thể hiện:

    “Người ta đi cấy lây công

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

    Trông trời, trông đất, trông mây

    Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm

    (ca dao về lao động sản xuất) (TV 5- Tập 1)

    Phóng đại ở đây góp phần thể hiện ý chí mạnh mẽ quyết tâm phấn đấu khắc phục mọi khó khăn của người nông dân lao động.

    – So sánh tu từ: Là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai vật có một nét tương đồng nào đó để gợi ra hình ảnh cụ thể những cảm xúc thẩm mĩ trong nhận thức của người đọc người nghe.

    VD: “Dưới từng đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng. Rừng ngập hương thơm. Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.

    Ma Văn Kháng (Mùa thảo quả, TV5- Tập 1)

    Bức tranh tĩnh vật này trở nên sôi động nổi bật vì tác giả đã sử dụng hình thức so sánh tu từ.

    – Phản ngữ : là biện pháp tu từ dùng những từ ngữ biểu thị những khái niệm đối lập nhau cùng xuất hiện trong một văn cảnh nhằm mục đích làm rõ hơn đặc điểm của đối tượng được miêu tả và tăng cường sức biểu cảm cho thơ, văn.

    VD: Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy

    Trần Đăng Khoa (Hạt gạo làng ta, TV5-tập 1)

    – Điệp ngữ: là lặp lại có ý thức những từ ngữ nhằm mục đích nhấn mạnh nhấn mạnh mở rộng ý gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm xúc trong lòng người nghe người đọc.

    Em yêu màu đỏ

    Như máu con tim

    Lá cờ tổ quốc

    Khăn quàng đội viên

    Em yêu màu xanh…

    Phạm Đình Ân (sắc màu em yêu,TV5-tập 1)

    *Trong các biện pháp Tu từ được sử dụng trong các bài tập đọc lớp 5 thì các biện pháp so sánh tu từ là được dùng nhiều, phổ biến nhất hầu hết ở các bài tập đọc. Vì biện pháp này mang chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm, cảm xúc và do cấu tạo đơn giản cho nên so sánh tu từ được dùng nhiều trong hầu hết các bài tập đọc, đặc biệt là trong các bài tập đọc ở bậc tiểu học.

    Mỗi bài tập đọc trong chương trình lớp 5 đều có sử dụng một số biện pháp tu từ. Nó làm cho nội dung miêu tả của bài tăng thêm phần phong phú và đa dạng. Chính vì thế mà trong tiết dạy, ngoài những nội dung yêu cầu về hướng dẫn luyện đọc, ở phần đọc hiểu tôi thường giúp cho các em hiểu thêm về nghệ thuật sử dụng biện pháp tu từ của tác giả nhằm tạo cho các em hứng thú và cảm nhận được những chuyển tải của tác giả đến với các em tôi thường cho các đọc lại các hình thức tu từ có trong bài và phân tích kỹ để các em hiểu. Chẳng hạn:

    BÀI: HẠT GẠO LÀNG TA

    Có vị phù sa…

    Có hương sen thơm…

    Có lời mẹ hát…

    Lặp đầu cùng với sóng đôi ở đây có tác dụng làm nổi bật những từ ngữ quan trọng, nhấn mạnh vào những sắc thái ý nghĩa, biểu cảm, làm cho những dòng thơ ngắn, tự nhiên, mộc mạc- như câu đồng dao- nối liền thành một mạch câu mà vẫn giữ được giọng điệu nhịp nhàng, trong trẻo: hạt gạo phù sa-của sông kinh thầy-có lời mẹ hát-ngọt bùi hôm nay. Đối với Trần Đăng Khoa, hạt gạo không chỉ là dẻo, thơm, mà cái sâu sắc, tinh tế hơn là ở chỗ: vị dẻo thơm đó được chắt lọc từ những cái gì đẹp đẽ, thân thiết nhất ở cái làng nghèo bé nhỏ bên bờ sông Kinh Thầy: Dòng sông với cánh đồng màu mỡ phù sa, hương sen thơm và lời ru của mẹ, cuộc sống hàng ngày nơi làng quê với bao điều thân thương.

    Lặp dầu kết hợp với sóng đôi cũng nhấn mạnh được sắc thái ý nghĩa- cảm xúc” khắc nghiệt, dữ tợn” của thời tiết. Mưa tháng ba ghê gớm: mưa phùn đi với cái rét, rét cắt da cắt thịt. Bão giật tháng bảy: Sau trận bão cả cánh đồng mất trắng:

    “Hạt gạo làng ta

    Có bão tháng bảy

    Có mưa tháng ba”

    Lặp đầu kết hợp với sóng đôi cũng làm nổi bật được những năm đánh Mĩ hào hùng : Giặc Mĩ ném bom xuống làng quê ta, người ra đi chiến đấu, người ở lại vừa sản xuất vừa chiến đấu, gặt những vụ mùa bội thu:

    “Hạt gạo làng ta

    Những năm bom Mĩ

    Trút lên mái nhà…”

    Lặp đầu kết hợp với sóng đôi cũng tô đậm được cái sứ mệnh cao cả của hạt gạo bé nhỏ, cũng đồng thời là cái đức tính chịu đựng hi sinh cao quý của những người làm ra hạt gạo: quanh năm độn khoai, độn sắn để dành gạo cho chiến trường. Câu thơ cũng có được một nhịp điệu dồn dập khẩn trương:

    “hạt gạo làng ta

    Gửi ra tiền tuyến

    Gửi về phương xa

    Em vui em hát

    Hạt vàng làng ta”

    Trong bài thơ trên có một hình ảnh có một tư tưởng nghệ thật bất ngờ được xây dựng trên cơ sở của đối chọi:

    “Nước như ai nấu

    Chết cả cá cờ

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy”

    Phải có con mắt trẻ thơ mới có thể viết được câu thơ: “nước như ai nấu; chết cả cá cờ”. phải sống ở nông thôn mới có thể biết được nước ruộng nóng quá cua phải ngoi lên bờ. Nhưng phải là người có thơ mới có thể viết được:

    Cua ngoi lên bờ

    Mẹ em xuống cấy

    Đối chọi ở dây đã nêu bật bản chất của đối tượng được miêu tả nhờ thể đối lập tương phản và do đó không cần nói gì nhiều mà có thể biểu hiện được những nổi vất vả, nhọc nhằn của người mẹ để làm ra hạt gạo. Đối chọi đã tạo được một sự diễn đạt ngắn gọn, cô đúc có tiết tấu và gây ấn tượng mạnh mẽ.

    Dựa trên các biện pháp của từng nội dung bài tập đọc mà tôi phân tích nghệ thuật một cách có chiều sâu để giúp học sinh cảm nhận giá trị nghệ thuật đó có hệ thống logic. Chẳng hạn:

    Bài: MÙA THẢO QUẢ

    Bài văn trên là một bài văn miêu tả rất sinh động vì tác giả của nó đã khéo léo kết hợp tả với kể, tả với suy tưởng, kết hợp với suy tư.

    Dấu hiệu báo tin đã đén mùa thảo quả, là hương thơm của nó.”hương” được lặp đi lặp lại ba lần. “thơm” được láy lại năm lần với những biến đổi về chất (thơm-thơm nồng-thơm đậm)trong những câu dài câu ngắn khác nhau, câu dài được ngắt từng đoạn có quan hệ nối tiếp không dùng liên từ cũng trở thành ra ngắn đem lại một âm điệu nhịp nhàng, êm ái, phù hợp với sự diễn tả cái hương thơm ngọt lịm của thảo quả bay đi khắp nơi quyện vào cây cỏ đất trời, nếp khăn, nếp áo.

    Sự miêu tả động “dùng những động từ chỉ hoạt động: lướt thướt bay qua, cuộn đi, rải theo, đưa vào” kết hợp với miêu tả tĩnh”dùng tính từ chỉ phẩm chất : ngọt lựng, thơm,thơm nồng, thơm, thơm đậm” và động từ chỉ tình thái: ấp ủ) góp phần làm cho bức tranh miêu tả thật có hồn, có sức sống, khơi gợi ở người đọc những rung động sâu xa trước cái đẹp, cái quến rũ của thảo quả ở một vùng cao của đất nước.

    Đoạn văn thứ ba của bài là đoạn văn tường thuật. Tác giả đã chọn lối tường thuật rất ấn tượng:

    – Kể kết hợp với suy tưởng trong hai câu:”Thảo quả trên rừng Đản Khao đã chín nục. Chẳng có thứ quả nào hương thơm lại ngây ngất kì lạ đến thế.”

    – Suy tưởng kết hợp miêu tả động trong cùng một câu: “mới đầu xuân năm kia, những hạt thảo quả gieo trên đất rừng, qua một năm bỏ mặc, đã lớn cao đến bụng người; một năm sau nữa, từ một chân lẻ, thảo quả đâm thêm hai nhánh mới.”

    – Kể kết hợp với tả trong cùng một câu: “thảo quả sầm uất…lan toả, vươn ngọn, xoè lá, lấn chiếm không gian, gió tây lướt thướt bay, qua rừng, quyến hương thảo quả đi, rải theo triền núi, đưa hương thảo quả ngọt lựng, thơm nồng vào những thôn xóm…”

    – Với miêu tả tĩnh: “dưới tầng đáy rừng, tựa như đột ngột, bỗng rực lên những chùm thảo quả đỏ chon chót, bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng. Rừng ngập hương thơm. Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dưới đáy rừng.

    Rừng say ngây và ấm nóng. Thảo quả như những đốm lửa hồng, ngày qua ngày lại thắp thêm nhiều ngọn mới, nhấp nháy vui mắt”.

    Câu một chỉ sự tồn tại. Những câu sau là những câu có quan hệ sóng đôi với nhau. Ngoài ra bức tranh tĩnh vật này trở nên rât sống động nổi bật còn là vì tác giả đã sử dụng những định ngữ, bổ ngữ giàu sức gợi hình,gợi cảm dựa trên những hình thức tu từ như so sánh, ẩn dụ,nhân hoá.” Những chùm thảo quả đỏ chon chót, bóng bẩy như chứa lửa, chứa nắng (so sánh). Rừng ngập hương thơm(ẩn dụ bổ sung). Rừng sáng như có lửa hắt lên từ dươí đáy rừng(so sánh). Rừng say ngây và ấm nóng (nhân hoá). Thảo quả như những đốm lưả hồng (so sánh), ngày qua ngày lại thắp lên nhiều ngọn mới, nhấp nhánh vui mắt (ẩn dụ).

    Trong những hình thức tu từ nói trên, nhà văn tỏ rõ một con mắt tinh tế, táo bạo. Với cách dùng từ chọn lọc, sáng tạo, cách đặt câu uyển chuyển, ngắt giọng nhịp nhàng, cách kết hợp khéo léo, nhà văn đã dựng lên được một bức tranh mùa thảo quả đẹp và sống động đến từng chi tiết khiến cho người đọc cũng phải ngỡ ngàng.

    Bài:CA DAO VỀ LAO ĐỘNG, SẢN XUẤT

    Người ta đi cấy lấy công,

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề

    Trời yên, biển lặng mới yên tấm lòng…

    Để làm ra hạt gạo trắng ngần các bác nông dân đã phải đổ xuống ruộng bao nhiêu giọt mồ hôi. Hai câu thơ mở đầu đã khái quát nên nỗi vất vả đó:

    “Cày đồng đang buổi ban trưa

    Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.”

    Cày ruộng là một công việc vất vả. Cày ruộng đã vất vả rồi lại làm vào thời điểm nắng nóng nhất, lúc “ban trưa”. Miêu tả những giọt mồ hôi của người nông dân tác giả đã dùng từ “thánh thót” thể hiện sự trân trọng của tác giả đối với người lao động. Tác giả đã sử dụng hình ảnh so sánh độc đáo “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày”. Biện pháp so sánh ấy gợi tả hình ảnh những giọt mồ hôi liên tiếp nhau rơi xuống, cho thấy sự cực nhọc, vất vả của những người nông dân khi caỳ ruộng. Những giọt mồ hôi như mưa là công sức, là tâm huyết của người dân lao động đổ xuống mỗi thửa ruộng để tạo nên sức sống cho cây lúa. Hình ảnh so sánh này không những chỉ gợi tả mà còn hàm chứa những ý nghĩa sâu xa. Những hạt thóc mẩy vàng là kết quả của quá trình tích tụ mồ hôi và công sức của người nông dân. Vì thế bài ca dao khuyên:

    “Ai ơi, bưng bát cơm đầy

    Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”

    Để có được bát cơm đầy biết bao giọt mồ hôi của người lao động đã đổ xuống đồng ruộng. tác giả đã sử dụng phép đối trong câu thơ cuối để làm nổi bật ý nghĩa ấy.

    Từ đó nhắc nhở mọi người phải biết trân trọng hạt gạo, biết tiết kiệm và nhất là phải quý trọng và biết ơn người nông dân, những người đã phải hàng ngày hàng giờ tưới lên đồng ruộng những cơn mưa mồ hôi để đồng lúa xanh hơn, bông lúa trĩu nặng hơn.

    “Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu.”

    Sự lặp lại cấu trúc “nơi thì” đã tái hiện được phần nào không khí lao động khẩn trương, cần mẫn cho kịp thời vụ của người nông dân. Họ hăng say lao động bởi họ luôn tin tưởng:

    “Công lênh chẳng quản bao lâu

    Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.”

    Công lênh nghĩa là công sức, người nông dân và tin tưởng, công sức lao động bỏ ra sẽ được trả bằng những hạt thóc vàng. Từ đó, tác giả đưa ra lời khuyên:

    “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu.”

    Mỗi tấc đất là một tấc vàng, với bàn tay lao động cần cù, con người sẽ biến thành những mảnh đất khô cằn hoang hoá thành những đồng lúa chín vàng. Bài ca dao đã đưa ra một lời khuyên bổ ích cho con người phải chăm chỉ, phải cần cù lao động. Lòng yêu lao động của nhân dân ta đã được thể hiện rất rõ ràng trong bài ca dao này:

    “Người ta đi cấy lấy công

    Tôi nay đi cấy còn trông nhiều bề.”

    Sự lặp lại nhiều từ”trông” đã diễn tả được nỗi lo lo lắng trăm bề của người nông dân khi đưa cây lúa xuống đồng. Điều đó cũng thể hiện được nỗi vất vả của người nông dân khi làm ra hạt gạo. Thế nhưng, dù phải đứng trước bao nhiêu khó khăn vất vả, cả những bất trắc có thể xảy ra trong sản xuất, người nông dân vẫn kiên trì, cần cù làm lụng và quết tâm vượt khó khăn.

    Những nổi lo lắng của người lao động thì thực sự vơi đi khi tự tin rằng sức lao động của con người sẽ chiến thắng được thiên nhiên.

    “Trông cho chân cứng đá mềm

    Trời yên bể lặng mới yên tấm lòng

    Chân cứng đá mềm “là câu thành ngữ nói đến khả năng vượt qua mọi khó khăn của con người. Câu thành ngữ được đưa vào bài ca dao này với ý nghĩa khẳng định tinh thần kiên cường của người lao động. Để tìm ra hạt gạo, người nông dân phải đối diện với rất nhiều nỗi khó khăn, vất vả bao nỗi lo lắng về khí hậu và thời tiết nhưng họ vẫn quyết tâm, vẫn kiên cường để vượt lên sản xuất.

    Lo lắng, để tránh được những tai hoạ do thiên nhiên gây ra va người nông dân chỉ thực sự yên lòng khi “trời yên biển lặng”. Bài ca dao một lần nữa khẳng định sự vất vả của người nông dân khi làm ra hạt gạo để nhắc nhở mọi người hãy nhớ đến những con người phải một nắng hai sương ấy. Đồng thời bài ca dao đã khẳng định và ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người lao động, phẩm chất được ngợi ca ở đây là ý chí, là quết tâm sắt đá, là lòng yêu lao động của con người.

    Đoạn văn thứ hai là đoạn văn vừa kể vừa tả. Mỗi câu trong đoạn được chia ra thành hai phần cách nhau bằng dấu hai chấm:phần trước là kể, phần sau là tả, tả để giải thích cho kể để cụ thể hoá phần vừa kể: “Kĩ thật tranh làng hồ đã đạt đến sự trang trí tinh tế: những bộ tranh Tố Nữ áo màu, quần hoa chanh, nền đen lĩnh của một thứ màu đen rất Việt Nam. Màu đen không pha bằng thuốc mà luyện bằng bột than của bột rơm nếp, than của cói chiếu, của lá tre mùa thu rụng, là những chất liệu gợi nhắc thiết tha đến đồng quê dất nước.. Cái màu tráng điệp lấy từ vỏ sò cũng là một sự sáng tạo góp vào kho tàng màu sắc của dân tộc trong hội hoạ. Điệp ngữ “tăng thên…tăng thêm…” trong những thành phần câu đẳng lập có tác dụng nhấn mạnh, nhiệt tình ca ngợi tác dụng của màu trắng điệp.

    Khác với những phân môn khác, phân môn tập đọc dùng phương tiện là các tác phẩm văn chương cụ thể là (là những bài văn, bài thơ) để giáo viên và học sinh cùng tìm hiểu. Thông qua việc học tập này các em sẽ làm quen tiếp xúc với các tác phẩm văn học và ngày càng cao hơn. Điều này tạo cơ sở để các em trau dồi năng lực cảm thụ văn học và cố gắng học giỏi môn tiếng việt.

    Ơû mỗi bài văn, thơ đều mang giá trị biểu cảm khác nhau. Chính vì vậy việc tìm hiểu biện pháp tu từ trong mỗi bài tập đọc được sử dụng cũng ở mức độ khác nhau. Nên khi liệt kê các biện pháp tu từ trong các bài tập đọc lớp 5 và rất thiết thực nhằm giúp học sinh hiểu rõ và hệ thống được một loạt các biện pháp tu từ được học và sử dụng.

    Việc nghiên cứu các biện pháp tu từ không chỉ dành cho giáo viên mà học sinh cũng nắm rõ. Cụ thể là khi hướng dẫn học sinh tập đọc giáo viên phải kết hợp với việc hướng dẫn tìm hiểu bài để giúp học sinh nắm bắt các giá trị nghệ thuật, những cảm xúc mà tác giả thể hiện bằng biện pháp tu từ.

    Tóm lại, việc tìm vẻ đẹp của các biện pháp tu từ trong các bài tập đọc lớp 5 là yếu tố cốt lõi để học sinh cảm thụ hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm thơ, văn để giúp các em có cơ sở để tiếp tục học lên các bậc học tiếp theo.

    Bấm vào đây để tải về

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ôn Tập He Tiếng Việt 5 Tieng Viet On Tap He Lop 5 Doc
  • Top 5 Bài Soạn “tập Làm Thơ Bốn Chữ” Lớp 5 Hay Nhất
  • Một Số Bài Tiếng Việt Nâng Cao Lớp 5
  • Soạn Bài: Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Lớp 9: Luyện Tập Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Biện Pháp Rèn Kĩ Năng Đọc Trong Phân Môn Tập Đọc Cho Học Sinh Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Thử Nghiệm Một Số Biện Pháp Sinh Học Phòng Trừ Sâu Tơ Hại Rau Họ Hoa Thập Tự Tại Tỉnh Gia Lai
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Chưa Hoàn Thành Môn Toán Lớp 3
  • Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học
  • Ngăn Chặn Đà Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học Ở Việt Nam
  • Tên đề tài: “Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc

    cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”.

    Họ và tên tác giả: Trần Thị Thanh Thúy

    Đơn vị: Trường Tiểu học Trâm Vàng – Thanh Phước – Gò Dầu – Tây Ninh.

    1/ Lí do chọn đề tài:

    – Xuất phát từ tầm quan trọng của môn học.

    – Học sinh còn đọc sai từ, đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nghỉ tùy tiện,…

    – Đa số các em chưa đọc diễn cảm được bài văn, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú.

    – Rèn cho học sinh kỹ năng đọc diễn cảm tốt, hiểu được nội dung tác phẩm nhằm giúp các em nhận thức được cái hay, cái đẹp trong Tiếng Việt.

    – Giúp học sinh học tốt và hứng thú trong học tập nhằm đạt được mục tiêu của môn học đề ra.

    2/ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:

    – Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng.

    – Khảo sát chất lượng học sinh lớp 4C.

    3/ Đề tài đưa ra giải pháp mới:

    – Hướng dẫn học sinh thực hiện thành thạo các thao tác nghe, nói đọc viết trong Tiếng Việt.

    – Để tạo niềm say mê trong học tập, giáo viên rèn cho học sinh tình yêu quê hương, đất nước qua các tác phẩm văn học.

    – Sử dụng các phương pháp nhẹ nhàng, thoải mái, linh hoạt nhằm giúp học sinh tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao hơn.

    4/ Hiệu quả áp dụng:

    Áp dụng có hiệu quả trong việc giảng dạy môn Tập đọc ở Lớp 4C.

    5/ Phạm vi áp dụng:

    Học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng.

    Trâm Vàng, ngày 28 tháng 02 năm 2014

    Người thực hiện

    Trần Thị Thanh Thúy

    A. MỞ ĐẦU

    1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

    Tiếng Việt là một trong những môn học ở bậc Tiểu học góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọng của nhân cách con người. Môn Tiếng Việt còn giúp các em hiểu được cái hay, cái đẹp của cuộc sống xung quanh, bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm chân chính trong sáng như: Tình cảm gia đình, tình thầy trò, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, yêu con ngườiMuốn học sinh học tốt môn Tiếng Việt để sau này các em biết sử dụng Tiếng Việt thành thạo và có khả năng giao tiếp tốt hơn thì học sinh phải học tốt phân môn Tập đọc.

    Trong phân môn Tập đọc, đọc là khâu quan trọng nhất. Đọc là hoạt động ngôn ngữ làm cho con người mở rộng khả năng tiếp nhận thông tin và thông báo thông tin. Do đó đọc là một trong những kĩ năng chính của học sinh Tiểu học.

    Trong quá trình giảng dạy, tôi thấy kĩ năng đọc của các em chưa đáp ứng yêu cầu mà giáo viên mong muốn. Các em còn đọc chậm, đọc nhỏ, ngắt nghỉ hơi tùy tiện, chưa biết đọc diễn cảm nên các em chưa cảm nhận được tâm tư, tình cảm của tác giả muốn gửi gắm trong từng tác phẩm. Chính vì những vấn đề trên tôi nhận thấy việc rèn cho các em có kĩ năng đọc là rất cần thiết và quan trọng. Vậy làm thế nào để giúp các em đọc tốt, cảm thụ tốt các tác phẩm? Chúng ta cần thực hiện quy trình giảng dạy bài Tập đọc ở Lớp 4 như thế nào để giúp các em đọc đúng, đọc hiểu, đọc diễn cảm được tác phẩm. Đồng thời đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh? Chính vì vậy, tôi chọn giải pháp “Rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng”.

    2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

    – Nội dung và phương pháp dạy phân môn Tập đọc lớp 4.

    – Biện pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 4.

    3. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

    Đề tài nghiên cứu giới hạn trong phạm vi học sinh Lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng, huyện Gò Dầu năm học 2013 – 2014.

    4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

    Để hoàn thành đề tài tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

    a/ Phương pháp đọc tài liệu:

    b/ Phương pháp quan sát:

    Quan sát cách học của học sinh và thường xuyên dự giờ hữu nghị các tiết Tập đọc của giáo viên trong đơn vị để rút kinh nghiệm.

    c/ Phương pháp đàm thoại:

    Tôi luôn trao đổi với bạn bè đồng nghiệp để học hỏi cách giảng dạy, thường xuyên trò chuyện với học sinh để thấy được những thuận lợi và khó khăn trong việc dạy và học.

    d/ Phương pháp thực hành:

    Học sinh cần được thực hành nhiều thì mới rèn kĩ năng đạt hiệu quả cao.

    e/ Phương pháp phân tích tổng hợp:

    So sánh, đối chiếu đánh giá thực trạng và thực tế áp dụng.

    f/ Giả thiết khoa học:

    Tiếng Việt nói chung, phân môn Tập đọc nói riêng đều mang nhiệm vụ chung là hình thành và phát triển ngôn ngữ cho học sinh, rèn kĩ năng giao tiếp, làm giàu vốn từ, trau dồi về ngữ pháp Tiếng Việt, góp phần phát triển một số thao tác tư duy (nhận xét, so sánh, đối chiếu, liên tưởng, ghi nhớ,..)

    Vì thế, nếu chúng ta tìm được biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn Tập đọc, học tốt môn Tiếng Việt là chúng ta đã góp phần thực hiện được một trong những mục tiêu giáo dục của bậc Tiểu học, giúp các em tự tin hơn khi giao tiếp, đồng thời học tốt các môn học khác trong chương trình.

    B. NỘI DUNG

    I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:

    Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học là:

    – Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy và học môn Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy của học sinh.

    – Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hóa của Việt Nam và nước ngoài.

    – Bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng và giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Phân môn Tập đọc lớp 4 giúp học sinh củng cố và phát triển kĩ năng đọc trơn, đọc thầm đã được hình thành ở lớp dưới. Đồng thời tăng cường tốc độ đọc, khả năng đọc lướt để chọn thông tin nhanh và bồi dưỡng thêm khả năng đọc diễn cảm cho học sinh. Phân môn Tập đọc còn xây dựng cho học sinh thói quen tìm đọc sách ở thư viện, sử dụng sách công cụ (từ điển, sổ tay từ ngữ ngữ pháp) và ghi chép những thông tin cần thiết khi đọc. Chức năng của phân môn Tập đọc là luyện đọc: rèn cho học sinh đọc đúng, đọc trôi chảy, tiến tới đọc diễn cảm để học sinh cảm thụ được cái hay, cái đẹp trong các tác phẩm văn học. Đồng thời giúp học sinh nhận ra được những tin hoa văn hóa của dân tộc trong mỗi bài tập đọc. Mỗi một bài tập đọc là một văn bản, là một bức tranh thu nhỏ về hiện thực cảnh đẹp của thiên nhiên, đất nước, con người, xã hộilà một lời dạy sâu sắc đối với học sinh.

    II. CƠ SỞ THỰC TIỂN:

    1/ Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:

    Lớp 4C của Trường Tiểu học Trâm Vàng với tổng số học sinh là 32/22 em nữ có những thuận lợi và khó khăn như sau:

    1.1. Thuận lợi:

    – Được sự quan tâm hỗ trợ của Ban giám hiệu nhà trường và sự giúp đỡ nhiệt tình của Tổ chuyên môn.

    – Giáo viên được trang bị đầy đủ kiến thức về đổi mới phương pháp dạy học, được cung cấp đủ tài liệu, sách giáo khoa phục vụ tốt việc giảng dạy.

    – Học sinh đi học đều có động cơ học tập đúng đắn.

    1.2. Hạn chế về phía học sinh:

    – Học sinh còn đọc chưa trôi chảy, chưa đúng, chưa hay, ngắt nhịp còn tùy tiện.

    – Đa số các em chưa biết cách đọc diễn cảm, chưa hiểu nghĩa từ, vốn từ chưa phong phú.

    – Trình độ học sinh chưa đồng đều.

    – Các em còn phát âm sai các phụ âm đầu d/v/gi, s/x,chưa phân biệt thanh hỏi/ thanh ngã.

    1.3. Hạn chế về phía giáo viên:

    – Việc rèn đọc cho học sinh trong giờ Tập đọc còn ít, do đó giáo viên không có thời gian rèn đọc cho học sinh nhiều khi các em phát âm sai, ngắt nghỉ chưa đúng.

    – Việc rèn đọc diễn cảm cho học sinh còn mang tính hình thức, giáo viên còn chú trọng nhiều đến việc tìm hiểu nội dung bài.

    – Số lượng học sinh đọc bài còn ít.

    2/ Sự cần thiết của đề tài:

    Nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh trong phân môn Tập đọc. Rèn cho học sinh từ chỗ đọc đúng, đọc hay, biết ngắt nghỉ, biết đọc diễn cảm, hiểu được nội dung tác phẩm giáo viên cần khắc phục những hạn chế trên để giúp học sinh phát triển khả năng đọc của mình.

    III. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

    1. Vấn đề đặt ra:

    Trong quá trình giảng dạy từ đầu năm tôi nhận thấy việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học phân môn Tập đọc là tạo điều kiện để giáo viên đạt được mục tiêu dạy học của mình và thực hiện phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học trong đó giáo viên đóng vai trò người tổ chức hoạt động.

    1.1 Khảo sát chất lượng đọc của học sinh ở các tiết Tập đọc đầu năm học:

    TSHS

    Phát âm sai

    Ngắt nghỉ sai

    Đọc đúng

    Đọc diễn cảm

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    32/22

    7/5

    21.9%

    9/4

    28.1%

    12/9

    37.5%

    4/4

    12.5%

    1.2 Nguyên nhân:

    a/ Về phía học sinh:

    Học sinh yếu thì lười học, không chú ý trong giờ học, không nghe bạn và giáo viên đọc để sửa chữa cho bạn điều chỉnh cho mình.

    Các em chưa chuẩn bị bài kĩ ở nhà, không luyện đọc trước ở nhà.

    Những học sinh đọc đúng thì chưa rèn đọc diễn cảm.

    b/ Về phía giáo viên:

    Trong giờ Tập đọc giáo viên chưa chú ý nhiều đến học sinh đọc sai.

    Nặng nề về nội dung bài đọc.

    Giáo viên thường gọi các em đọc đúng, đọc hay vì vậy các em đọc tốt sẽ càng tốt hơn.

    Khi rèn đọc diễn cảm cho học sinh giáo viên chưa quan tâm nhiều chỉ gọi 2 – 3 em đọc cho cả lớp nghe. Ít cho học sinh nhận xét cách đọc của bạn, học sinh còn nhận xét chung chung là bạn đọc hay hoặc chưa hay mà giáo viên chưa nhấn mạnh và chỉnh sửa cụ thể hay ở chỗ nào? chưa hay ở chỗ nào ?

    2. Giải pháp thực hiện:

    3.1 Để tiết Tập đọc đạt kết quả, đạt mục tiêu cần đạt giáo viên và học sinh cần chuẩn bị một số công việc sau:

    * Đối với giáo viên:

    – Tham khảo kĩ nội dung sách hướng dẫn giảng dạy để lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức dạy học phù hợp với học sinh lớp mình.

    – Chuẩn bị đồ dùng dạy học phong phú gây hứng thú học tập cho học sinh.

    – Chú ý rèn đọc nhiều cho học sinh; quan tâm nhiều hơn đến học sinh đọc yếu; sửa dứt điểm, nhanh chóng, kịp thời việc phát âm sai, đọc không đúng tiếng hoặc ngắt nghỉ chưa đúng của học sinh.

    * Đối với học sinh:

    – Học sinh cần chuẩn bị bài kĩ ở nhà, đọc bài trước nhiều lần.

    – Có thói quen đọc sách thường xuyên, rèn đọc đúng ở bất kì văn bản nào.

    3.2 Để thực hiện tốt mục đích yêu cầu của việc “Rèn kĩ năng đọc cho học sinh” trong giờ Tập đọc tôi chú ý các vấn đề sau:

    3.2.1 Giải pháp 1: Rèn học sinh đọc đúng âm, vần, dấu thanh.

    * Đọc đúng các âm dễ lẫn:

    Đọc đúng là phát … hau thả diều thi. Cánh diều mềm mại như cánh bướm. Chúng tôi vui sướng đến phát dại nhìn lên trời. Tiếng sáo diều vi vu trầm bổng. Sáo đơn, rồi sáo kép, sáo bè,như gọi thấp xuống những vì sao sớm.

    Bước 2: Hướng dẫn giọng đọc và một số từ ngữ cần được nhấn giọng (đọc với giọng vui, tha thiết, nhấn giọng những từ ngữ gợi tả, gợi cảm, thể hiện vẻ đẹp của cánh diều)

    Bước 3: Giáo viên đọc mẫu.

    Bước 4: Tổ chức cho học sinh đọc diễn cảm theo nhóm và thi đua trình bày.

    Bước 5: Nhận xét – Biểu dương các nhóm đọc tốt, thể hiện đúng giọng đọc.

    * Khi dạy các bài thơ, bài văn có câu hỏi, câu cảm giáo viên cần hướng dẫn các em đọc đúng giọng của từng loại câu để thể hiện cảm xúc của nhân vật và của tác giả.

    Ví dụ: Bài Chị em tôi – Liên Hương (Tiếng Việt 4, tâp 1)

    Mày tập văn nghệ ở rạp chiếu bóng à?

    Ủa, chị cũng ở đó sao? Hồi nãy chị bảo đi học nhóm mà!

    Tôi sẽ hướng dẫn học sinh đọc cao giọng ở cuối câu hỏi nhấn giọng ở những từ để hỏi. Hay câu: “ Hồi nãy chị bảo đi học nhóm mà! ” đọc với giọng tinh nghịch, giả bộ ngây thơ.

    * Đối với văn bản phi nghệ thuật: Chúng ta cần hướng dẫn học sinh xác định giọng đọc sao cho phù hợp nội dung cần thông báo, làm rõ thông tin giúp người đọc tiếp nhận được vấn đề trong văn bản.

    Ví dụ: Bài Vẽ về cuộc sống an toàn – Báo Đại Đoàn Kết (Tiếng Việt 4, tập 2) cần hướng dẫn học sinh đọc to, rõ ràng, rành mạch, dứt khoát giữa các câu, đoạn nhằm thể hiện đầy đủ nội dung của bản tin.

    Để tiết Tập đọc đạt hiệu quả tôi cần chú ý cho học sinh đọc nhiều lần, học sinh nào cũng được đọc. Trong giờ học nên tuân theo nguyên tắc học sinh là chủ thể, giáo viên là người hướng dẫn tổ chức. Giáo viên chúng ta nên chú ý quan tâm đến học sinh yếu nhiều hơn. Rèn cho học sinh đọc từ thấp đến cao, ban đầu là phát âm đúng, đọc đúng tiếng, đúng tốc độ, ngắt nghỉ hơi đúng và nâng cao hơn là đọc diễn cảm bài văn, bài thơ.

    Để rèn kĩ năng đọc cho học sinh chúng ta cần hướng dẫn các em thực hiện đạt các yêu cầu sau:

    – Đọc phát âm đúng.

    – Đọc ngắt nghỉ hơi theo dấu câu; ngắt nghỉ hơi đúng giữa các cụm từ ở những câu dài.

    – Đọc to rõ ràng, trôi chảy, lưu loát.

    – Biết đọc nhấn giọng, thay đổi sắc thái giọng đọc phù hợp với văn cảnh, lời nhân vật.

    Ngoài ra, trong quá trình giảng dạy để tiết Tập đọc đạt yêu cầu chúng ta cần tạo không khí sôi động như tổ chức cho các em đọc thi đua theo nhiều hình thức: đọc cá nhân, đọc nhóm, đọc theo vai,; Có thể tổ chức đọc truyện cho các em nghe, cho các em nghe băng đĩa kể chuyện trong các tiết sinh hoạt ngoài giờ, sinh hoạt tập thể.

    3. Hướng dẫn thực hiện:

    Để thực hiện rèn kĩ năng đọc cho học sinh tôi vận dụng các giải pháp trên vào một bài tập đọc cụ thể như sau: Bài Tuổi Ngựa – Xuân Quỳnh (Tiếng Việt 4, tập 1)

    Khi rèn phát âm cho học sinh tôi chú ý lắng nghe học sinh đọc bài và sửa chữa kịp thời những phát âm chưa đúng của các em về:

    – Âm: ngọn gió, vùng, giấy, viết, vẫn, xôn xao, sao,

    – Vần: đen hút, đại ngàn, ngạt ngào, triền núi, …

    – Thanh: chỗ, sẽ, dẫu, …

    Khi học sinh đã phát âm chuẩn tôi hướng dẫn cho học sinh về tốc độ, cường độ và giọng điệu của bài thơ: Đọc bài thơ với giọng nhẹ nhàng, hào hứng, nhanh hơn và trải dài ở khổ thơ (2, 3) miêu tả ước vọng lãng mạn của đứa con tuổi Ngựa; lắng lại đầy trìu mến ở hai dòng kết bài thơ – cậu bé đi đâu cũng nhớ mẹ, nhớ đường về với mẹ.

    Hướng dẫn cách ngắt nhịp của bài thơ: Đa số các câu thơ đều được ngắt theo nhịp 3/2. Tuy nhiên để miêu tả được ước vọng lãng mạng của đứa con. Lắng lại đầy trìu mến của tình cảm mẹ con, thể hiện rõ sự ngắt nhịp, nhấn giọng như:

    Mẹ ơi/con sẽ phi/ nhịp 2/3

    Qua bao nhiêu/ngọn gió/ nhịp 3/2

    Gió xanh/miền trung du/ nhịp 2/3

    Gió hồng/vùng đất đỏ nhịp 2/3

    Gió đen hút/đại ngàn/…. nhịp 3/2

    Con/mang về/ cho mẹ/ nhịp 1/2/2

    Ngọn gió của/ trăm miền.// nhịp 3/2

    Tôi tổ chức cho các em luyện đọc theo nhóm để nắm vững những nội dung trên. Đồng thời kết hợp đọc thầm để giải nghĩa một số từ khó “tuổi Ngựa; đại ngàn; trung du”.

    Để giúp các em hiểu được nội dung bài thơ tôi tiếp tục rèn cho học khả năng đọc hiểu:

    – Học sinh đọc thành tiếng khổ thơ 1 (lời đối đáp giữa hai mẹ con cậu bé) và trả lời: Bạn nhỏ tuổi gì? Mẹ bảo tuổi ấy tính nết thế nào?

    – Học sinh đọc thầm từng khổ 2, 3 và trả lời hai câu hỏi tiếp theo trong sách giáo khoa: “Ngựa con” theo ngọn gió rong chơi những đâu? và Điều gì hấp dẫn “ngựa con” trên những cánh đồng hoa?

    – Tiếp theo, tôi yêu cầu học sinh đọc thầm lại bài thơ và nêu lên nội dung, ý nghĩa bài thơ.

    Sau khi đã hiểu được nội dung bài thơ, hiểu được tâm tư, tình cảm của tác giả. Tôi tiếp tục hướng dẫn các em đọc diễn cảm và học thuộc lòng bài thơ theo các bước:

    – Giáo viên nêu khổ thơ cần luyện đọc diễn cảm (khổ 2).

    – Giáo viên đọc mẫu và nêu lên giọng đọc, các từ ngữ cần nhấn giọng.

    – Tổ chức cho học sinh luyện đọc diễn cảm theo cặp.

    – Học sinh thi đua đọc diễn cảm trước lớp.

    – Nhận xét, tuyên dương học sinh đọc hay.

    – Tổ chức cho học sinh nhẩm học thuộc lòng từng khổ thơ và cả bài thơ.

    4. Kết quả:

    Thực tế áp dụng “Biện pháp rèn kĩ năng đọc trong phân môn Tập đọc cho học sinh lớp 4C Trường Tiểu học Trâm Vàng” năm học 2013 – 2014, tôi đã đạt được kết quả như sau:

    TSHS/nữ

    Đọc phát âm sai

    Đọc ngắt nghỉ sai

    Đọc đúng

    Đọc diễn cảm

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    SL

    TL

    32/22

    2/1

    6.3%

    3/1

    9.4%

    15/10

    46.9%

    12/10

    37.4%

    C. KẾT LUẬN

    1. Kết luận chung:

    Theo sự phát triển chung của nền giáo dục hiện đại, mỗi môn học khi được xây dựng đều phải nhằm mục đích phát triển tâm lí, nhân cách của học sinh nhằm chuyển thành tựu của nền văn minh hiện đại thế giới thành thành tựu cá nhân của học sinh.

    Muốn nâng cao hiệu quả của các tiết dạy Tập đọc để học sinh đọc đúng, đọc hay và cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài học thì việc rèn đọc đúng có vai trò quan trọng, học sinh có đọc đúng thì các em mới hiểu đúng nội dung bài, mới diễn tả được cảm xúc của mình. Để đạt được những điều trên mỗi cá nhân chúng ta cần phải mẫu mực trong lời nói, việc làm, phải yêu nghề, luôn nghiên cứu tìm hiểu nội dung nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực bản thân, thường xuyên dự giờ ở đồng nghiệp để học hỏi thêm kinh nghiệm giảng dạy.

    Để giúp cho học sinh Lớp 4 có kĩ năng đọc tốt. Giúp các em nhận thức được cái hay, cái đẹp trong tiếng Việt… góp phần hình thành nhân cách con người. Thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc, có khả năng tư duy cao và thích ứng với cuộc sống xã hội sau này. Mặt khác mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã hội, con người. Thông qua đọc diễn cảm giúp học sinh tiếp thu nội dung của bài dễ dàng hơn. Nắm được dàn ý sơ lược. Tóm tắt được nội dung chính của bài. Biết phát hiện giá trị nghệ thuật và nhận xét đánh giá bài. Từ đó các em có thể tự viết được các câu, đoạn, bài văn bằng chính sự hiểu biết của mình.

    Để học sinh đọc tốt, thực hiện được mục tiêu, yêu cầu của bộ môn. Chúng ta cần nắm được:

    – Mục tiêu của bậc tiểu học

    – Mục tiêu của bộ môn Tiếng Việt

    – Mục tiêu của phân môn cần đạt.

    – Xác định đúng mục tiêu của bài.

    + Nắm vững nội dung chương trình tiếng Việt bậc học nhất là chương trình của Lớp 4, xem có hợp lý, vừa sức học sinh không.

    + Cần lựa chọn, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học của bộ môn, phân môn. Để gây hứng thú quá trình học tập của học sinh, huy động được mọi học sinh cùng tích cực học tập.

    + Thực hiện tốt tất cả các giải pháp mà tôi đã đưa ra trong sáng kiến kinh nghiệm này.

    Thực hiện tốt các giải pháp trên giúp học sinh đọc tốt, góp phần không nhỏ trong việc giúp học sinh Lớp 4 tiếp thu các bộ môn khoa học khác. Nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường.

    2. Bài học kinh nghiệm:

    Sau một thời gian tiến hành tìm hiểu, điều tra thực tiễn lớp học trong việc thực hiện các kĩ năng đọc cho học sinh, tôi đã rút ra một số bài học sau:

    – Trong giờ Tập đọc giáo viên nên cho nhiều học sinh luyện đọc thì mới có hiệu quả.

    – Việc rèn đọc cho học sinh phải kiên trì và thường xuyên.

    – Cần khắc phục tình trạng học sinh đọc thầm một cách hình thức.

    – Khi học sinh đọc sai giáo viên cần có cách sửa sai phù hợp với từng đối tượng học sinh.

    – Giáo viên phải nắm chắc trình độ của từng học sinh.

    – Giáo viên phải phát âm chuẩn và đọc mẫu rõ ràng, chính xác mới có tác dụng để học sinh học theo.

    – Dạy Tập đọc nói riêng, Tiếng Việt nói chung giáo viên cần phải trang bị cho mình những kiến thức về văn học.

    – Trong giờ học cần tạo không khí vui tươi, thoải mái tránh các qui định máy móc tạo áp lực cho học sinh.

    3. Hướng phổ biến áp dụng đề tài:

    Đề tài này được áp dụng có hiệu quả cho học sinh Lớp 4C và các lớp khác trong khối. Tôi nghĩ giải pháp này có thể vận dụng cho các trường khác trong huyện.

    4. Hướng nghiên cứu tiếp:

    Năm học sau tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu về phân môn Chính tả để giúp các em có thể học tốt các mạch kiến thức trong chương trình Tiếng Việt lớp 4.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Đổi mới phương pháp dạy học ở tiểu học.

    Phó Tiến sĩ Đỗ Đình Hoan

    – Phương pháp dạy học Tiếng Việt

    Bộ Giáo dục và Đào tạo – Đại học Huế

    – Trung tâm đào tạo từ xa.

    – Sách giáo khoa, sách giáo viên Tiếng Việt 4.

    – Tạp chí thế giới trong ta.

    – Tập san giáo dục thời đại.

    – Hướng dẫn chung về điều chỉnh nội dung dạy học các môn học cấp tiểu học.

    MỤC LỤC

    —-–&——-

    BẢN TÓM TẮT ĐỀ TÀI: 1

    A. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài: 2

    2. Đối tượng nghiên cứu: 2

    3. Phạm vi nghiên cứu: 2

    4. Phương pháp nghiên cứu: 2

    B. NỘI DUNG

    I. Cơ sở lý luận: 4

    II. Cơ sở thực tiễn: 4

    1. Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:. 4

    2. Sự cần thiết của đề tài: 5

    III. Nội dung vấn đề: 5

    1. Vấn đề đặt ra: 5

    2. Giải pháp thực hiện: 6

    3. Hướng dẫn thực hiện: 17

    4. Kết quả: 18

    C. KẾT LUẬN

    1. Kết luận chung: 19

    2. Bài học kinh nghiệm: 21

    3. Hướng phổ biến áp dụng đề tài: 21

    4. Hướng nghiên cứu tiếp đề tài: 21

    TÀI LIỆU THAM KHẢO: 22

    MỤC LỤC: 23

    NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI

    1/ Hội đồng khoa học nhà trường.

    – Nhận xét:

    – Xếp loại :

    2/ Hội đồng khoa học Phòng Giáo dục và Đào tạo Gò Dầu

    – Nhận xét :

    – Xếp loại :

    3/ Hội đồng khoa học ngành

    – Nhận xét :

    – Xếp loại :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Phòng Trừ Rầy Lưng Trắng Gây Hại Trên Lúa Hè Thu
  • Cách Phòng Trừ Rầy Nâu Cho Lúa Hiệu Quả, Bảo Vệ Mùa Màng
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Các Biện Pháp Hạn Chế Tình Trọng Học Sinh Bỏ Học Chơi Game Online
  • Skkn Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp Một
  • Sáng Kiến Về Giải Pháp Bồi Dưỡng Học Sinh Yếu, Kém Môn Toán
  • Các Biện Pháp Giúp Học Sinh Mau Tiến Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Giáo Dục Đạo Đức Cho Học Sinh Thcs
  • Động Đất + Sóng Thần Và Các Biện Pháp Hạn Chế
  • Phòng Chống Tác Hại Của Thuốc Lá:biện Pháp Nào Hạn Chế Hút Thuốc Lá?
  • Biện Pháp Hạn Chế Việc Hút Thuốc Lá
  • Hạn Chế Tác Hại Của Thuốc Lá, Bằng Cách Nào?
  • 10 kinh nghiệm rèn luyện học sinh nhanh tiến bộ

    Biện pháp rèn luyện học sinh tiến bộ hiệu quả

    Kinh nghiệm rèn luyện học sinh tiến bộ hiệu quả

    1. Lao động

    Tổ chức cho các em lao động, chẳng hạn như vệ sinh trường lớp: Hình thức này áp dụng cho đối tượng học sinh xả rác bừa bãi, viết bậy hoặc vấy bẩn lên tường lớp học, làm hư hại cơ sở vật chất của trường,… Học sinh bị phạt sẽ vệ sinh trường lớp, tự khắc phục hậu quả do hành vi vô ý thức của các em gây ra, giúp các em biết trân trọng môi trường sạch đẹp mình đang có, ý thức rằng việc giữ gìn cảnh quan trường lớp không phải chỉ là công việc của những lao công mà là trách nhiệm của mỗi học sinh với ngôi trường của mình.

    Ngoài ra các thầy cô có thể áp dụng hình thức kỷ luật: yêu cầu các em học sinh trồng cây xanh, cây thuốc nam để các em nhận thức được việc bảo vệ cây cối.

    Học sinh tham gia buổi lao động cắt cỏ ở vườn trường.

    2. Đọc sách

    Giáo viên đưa ra hình thức kỷ luật với các em lười học như là yêu cầu các em đến thư viện để đọc tìm đọc những cuốn sách mà giáo viên yêu cầu. Trong khoảng thời gian một tuần các em phải chia sẻ hiểu biết, những điều học được từ những cuốn sách ấy cho các bạn trong lớp vào giờ sinh hoạt đầu giờ hoặc sinh hoạt lớp. Tuy nhiên khả năng hiểu biết của từng em khác nhau, nên để làm được điều này giáo viên cần có kế hoạch cụ thể và cần lựa chọn những cuốn sách phù hợp với trình độ từng em học sinh. Các em đọc sách ở thư viện.

    3. Hộp thư vui

    Giáo viên nên thiết kế hộp thư vui gồm khen thưởng những bạn học tốt, ngoan ngoãn vào hộp thư góp ý những bạn còn nghịch ngợm, lười học. Cuối tuần tổng hợp vào tiết sinh hoạt lớp. Giáo viên cũng nên có những lời tuyên dương học sinh ngoan và phê bình những em còn chưa nghiêm túc, để động viên, khích lệ và giúp đỡ các em tiến bộ hơn. Hộp thư vui trong lớp học.

    5. Phối hợp phụ huynh

    Mối quan hệ liên kết giữa giáo viên, phụ huynh rất quan trọng. Thầy cô không thể theo sát các em mọi lúc, mọi nơi được. Mà ngược lại giáo viên nên phối hợp với phụ huynh của các em. Khi thấy các em chưa ngoan ngoãn, nghiêm túc giáo viên có thể gọi điện trao đổi với phụ huynh, khi thấy các em tiến bộ giáo viên cũng nên thông báo với phụ huynh để động viên, khích lệ con em. Giáo viên phối hợp với phụ huynh thông qua các buổi họp phụ huynh

    6. Tăng cường tham gia hoạt động

    Thông qua các hoạt động giáo viên có thể giúp các em khắc sâu nội dung bài học hơn. Chẳng hạn, trong trò chơi môn Toán thì tìm ra bạn tính nhanh nhất, bạn tính cẩn thận nhất,… Hoặc trong môn Tiếng Việt thì khen bạn có giọng đọc truyền cảm nhất, bạn có vốn từ ngữ phong phú nhất,…

    Biện pháp này giúp học sinh tăng thêm lòng tự tin với bản thân và khuyến khích các em nhìn nhận những mặt tích cực của các bạn khác để từ đó bản thân các em tự tiến bộ.

    7. Hình thức xử phạt hợp lý

    Giáo viên không nên quá coi trọng các hình thức xử phạt, bởi mục đích cuối cùng của việc xử phạt là giúp các em tiến bộ. Nên giáo viên phải đưa ra các hình thức xử phạt hợp lý.

    “Dừng” học tập để học sinh tự kiểm điểm bản thân: Những học sinh hay mắc sai phạm thường không có thời gian yên tĩnh để suy nghĩ về việc mình làm.

    Chẳng hạn lớp có học sinh đánh nhau với bạn. Giáo viên có thể cho em tạm dừng việc học, ngồi yên lặng một mình để giảm căng thẳng và viết ra giấy câu trả lời một số câu hỏi của cô giáo như: Em đã là gì? Có thể giải quyết chuyện đó theo cách nào khác không?

    Viết bản tự kiểm điểm để các em nhận ra lỗi của mình.

    Tước bỏ đặc quyền: Khi học sinh ngoan sẽ được tham gia những hoạt động mà các em yêu thích. Khi các em mắc lỗi những đặc quyền đó sẽ bị hủy bỏ cho đến khi em tiến bộ hơn.

    Các em nghịch phá, năng động rất sợ hình thức xử phạt này. Bởi lẽ với các em không gì khổ sở hơn việc phải ngồi im nhìn các bạn mình chơi đùa. Vì thế các em sẽ cố gắng để không phạm lỗi nữa.

    9. Tổ chức điều tra

    Hàng tuần, hàng tháng giáo phải có kế hoạch điều tra thông qua ban cán sự lớp và thông qua phụ huynh. Việc điều tra nhằm mục đích phát hiện những em học sinh chưa ngoan,những em có tiến bộ, những em có hoàn cảnh khó khăn để kịp thời tuyên dương, động viên cũng như có các hình thức xử phạt và giúp đỡ các em khi cần thiết nhằm tạo mọi điều kiện tốt nhất để các em học tốt.

    10. Gặp riêng học sinh

    Nếu cứ luôn phê bình, chỉ trích học sinh trước mặt các bạn khác có thể các em sẽ mất tự tin vào bản thân, khiến tâm lý tự ti, sợ sệt. Vì vậy, giáo viên có thể gặp riêng và nhắc nhở các em để các em cùng tiến bộ. Tuy nhiên, nếu đã nhắc nhở riêng nhiều lần vẫn tái phạm thì phải đưa ra cảnh cáo trước lớp, có hình thức xử phạt thích đáng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Dạy Học Phát Huy Tính Tích Cực, Tự Giác Học Tập Của Học Sinh
  • Một Số Biện Pháp Phát Huy Tính Tích Cực Nhận Thức Của Học Sinh Lớp 4,5 Trong Dạy Học Luyện Từ Và Câu
  • Nếu Mẹ Muốn Con Tự Tin Trong Giao Tiếp, Sớm Tự Lập Thì Đừng Quên 13 Điều Cần Làm Mỗi Ngày Này Nhé
  • 7 Bí Quyết Vàng Giúp Trẻ Mạnh Dạn Tự Tin Trong Giao Tiếp
  • Một Số Biện Pháp Để Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 2 Trong Giờ Tập Đọc Skkn Loại A Cấp Tỉnh
  • Kinh Nghiệm Dạy Học: Rèn Học Sinh Yếu Kém
  • Hiệu Quả Các Biện Pháp Sinh Học Phòng Trừ Sâu Đục Trái Bưởi
  • Giải Vbt Sinh Học 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Giải Sbt Sinh 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • I. ĐỀ TÀI: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN ĐỌC CHO HỌC SINH LỚP 2 II . ĐẶT VẤN ĐỀ : Môn tập đọc là một phân môn có tầm quan trọng to lớn với bậc tiểu học, nó hình thành khả năng giao tiếp, là cơ sở để phát triển tư duy cho trẻ để tiếp thu các môn học khác. Trong năng lực hoạt động ngôn ngữ ở con người thể hiện ở kĩ năng: Nghe, nói, đọc, viết. Như vậy kĩ năng đọc là một trong bốn kĩ năng hoạt động của ngôn ngữ. Đặc biệt ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng, kĩ năng đọc có ý nghĩa rất sâu sắc, đọc để nắm được ý chính của đoạn văn, biết đặt đầu đề cho đoạn văn, biết nhận xét về một số hình ảnh, nhân vật hoặc chi tiết trong bài học. Môn này giúp học sinh trau dồi vốn tiếng việt, vốn văn học, phát triển tư duy, mở rộng sự hiểu biết của học sinh về cuộc sống. Muốn học giỏi thì trước hết phải đọc thông, viết thạo thì các em mới nắm được nội dung bài, yêu cầu của đề. Từ đó các em mới cảm thụ được cái hay, cái đẹp, suy luận, tìm tòi để làm bài được tốt. Trong quá trình dạy Tập đọc lớp hai tôi thấy kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 còn nhiều hạn chế. Vì thế tôi băn khoăn, trăn trở và mạnh dạn đề xuất một số biện pháp góp phần trong việc rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 . III. CƠ SỞ LÍ LUẬN - Học môn tập đọc, việc đọc và hiểu là 2 khâu có quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó, hỗ trợ đắc lực cho nhau. Cảm thụ tốt giúp cho việc đọc tốt. Ngược lại việc đọc tốt giúp cho việc hiểu bài thêm sâu sắc. Để có kết quả cao mỗi giáo viên phải nhận thức rõ trong phương pháp giảng dạy. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN: 1. Về học sinh: Học sinh mới qua lớp 1 nên chỉ mới biết đọc thành tiếng bài văn, bài thơ và đọc chưa đúng các phụ âm khó. Nhưng đọc hiểu, nắm nội dung bài còn khó hơn. Qua khảo sát chất lượng đầu năm kết quả cho thấy: hầu hết các em đọc còn yếu. Khi đọc ở các dấu chấm, dấu phẩy còn ngừng nghỉ như nhau, viết còn thiếu, đọc ê a, ngắc ngứ, thậm chí một số em còn phải đánh vần để đọc từng chữ . Thực trạng của nhiều học sinh yếu kém có nhiều nguyên nhân dẫn đến. Một số em đến lớp không tập trung chú ý nghe giảng, chưa chịu khó luyện đọc, luyện viết, đi học chưa chuyên cần, phụ huynh không kiểm tra, nhắc nhở con em học tập ở nhà. Tất cả những điều trên đã dẫn đến kết quả học tập của đa số học sinh là chưa cao. Nhất là phân môn tập đọc, các em chỉ biết đọc, chứ đọc chưa hay . 2. Về giáo viên: - Bản thân tôi được giảng dạy lớp 2 nhiều năm. Tôi nhận thấy dạy phân môn tập đọc, rèn cho học sinh đọc đúng đã khó, mà phải tập cho học sinh đọc hay, đọc diễn cảm, đọc hiểu càng khó hơn. Do vậy bản thân tôi đang tạo mọi cách để tìm và khắc phục những tồn tại mà thực tế học sinh đang mắc phải như đã nêu trên, cố gắng để giúp những em chưa đọc được dần dần biết đọc, đọc đúng, đọc hiểu, đọc truyền cảm. - Nhận thức rõ nhiệm vụ và chức năng của người giáo viên, đầu tiên tôi tìm hiểu đến tận gia đình học sinh còn yếu kém. - Lên kế hoạch dạy học, phụ đạo thêm, kiên trì, chịu khó dạy âm, vần cho học sinh biết ghép rồi đọc thành tiếng. -Theo dõi sự chuyển biến trong từng tiết học hằng ngày, hàng tuần. Giáo dục học sinh ý thức được tầm quan trọng của việc học tập, kết hợp tay ba: gia đình, nhà trường và xã hội. 3. Đối tượng nghiên cứu: - Giáo viên lựa chọn đúng đối tượng . - Phân ra từng nhóm đối tượng để kèm cặp, giúp đỡ. - Nắm tình hình khảo sát từng bước đầu. Sau một thời gian giảng dạy tôi đã khảo sát thấy các em còn mắc một số nhược điểm như sau: Tổng số học sinh Lỗi Số lượng Tỉ lể % 24em - Đọc ê-a , ngắc ngứ 8em 33,3% - Đọc còn sai âm, sai vần nhiều 7em 29,2% - Đọc liến thoắng . 2em 8,3% - Đọc giọng đều đều, không phù hợp nội dung bài. 5em 20,9% Ngắt nghỉ đúng, phù hợp nội dung 2em 8,3% Qua đợt khảo sát trên bản thân tôi thấy học sinh đọc còn yếu, tôi rất băn khoăn và lo lắng. Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy tôi đã tìm ra và đưa vào vận dụng một số biện pháp sau: V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU: Qua thực tế giảng dạy tôi đã tiến hành các biện pháp theo thứ tự sau: + Biện pháp 1: Giáo viên đọc mẫu diễn cảm: Giáo viên đọc mẫu một cách chuẩn xác, phù hợp với từng văn bản. Biết hướng dẫn học sinh về cách đọc; sử dụng các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động rèn kĩ năng đọc (đọc thành tiếng, đọc thầm để tìm hiểu nội dung bài, tham gia các trò chơi luyện đọc, ...) phát triển kĩ năng đọc cho học sinh. Tôi luôn chú trọng cách đọc mẫu làm thế nào cho hấp dẫn, lôi cuốn được các em bắt chước cách đọc diễn cảm. Ví dụ : Bài thơ: ''Cô giáo lớp em '' Giáo viên đọc mẫu với giọng tình cảm, trìu mến, nhấn giọng ở các từ ngữ gởi tả, gợi cảm: mỉm cười, tươi, thoảng, Ví dụ : Bài : ''Bà cháu''. - Đọc mẫu giọng to, rõ ràng, thong thả, phân biệt giọng đọc ở các nhân vật, nhấn giọng ở các từ gợi tả: nảy mầm, vất vả, kết bao nhiêu là trái vàng trái bạc, móm mém,... '' + Người dẫn chuyện: thong thả, chậm rãi. + Giọng cô tiên: trầm ấm, dịu dàng: " Nếu bà sống lại thì ba bà cháu sẽ cực khổ như xưa, các cháu có chịu không?". Nhấn giọng ở các từ "Gieo hạt đào, giàu sang, sung sướng''. + Giọng hai anh em: Cảm động, tha thiết, kiên quyết. Nhấn giọng các từ, cụm từ: ''nhớ bà , xin bà sống lại '' . Đối với các bài thơ, tuỳ theo từng thể loại thơ mà tôi hướng dẫn học sinh cách đọc sao cho đúng nhịp câu thơ. Ví dụ : Bài thơ : '' Gọi bạn'' Lang thang / quên đường về/ Chạy khắp nẻo / tìm Bê Đến bây giờ Dê Trắng/ Vẫn gọi hoài:/ "Bê!//Bê!// Bài thơ "Gọi bạn" thuộc thể thơ 5 chữ, thể hiện tình bạn cảm động giữa Bê Vàng và Dê Trắng. Việc đọc diễn cảm thường gắn liền với ngữ điệu nên tôi thường dùng cử chỉ, nét mặt, để làm tăng thêm tính gợi cảm của câu văn. Vì vậy khi học sinh luyện đọc giáo viên phải tạo được không khí trong lớp học thoải mái để học sinh có tâm trạng chờ đợi và chú ý nghe giáo viên đọc và cũng từ đó các em học tập và bắt chước thầy. Biện pháp 2: Luyện phát âm đúng. Yêu cầu đầu tiên đối với khả năng đọc chính xác. Luyện đọc chính xác thực chất là rèn luyện ngữ âm cho học sinh. Thống kê lỗi phát âm ở lớp mà các em hay sai, tôi qui về 3 loại sau đây: + Sai phụ âm đầu : ch/tr , s/x , l/n. + Sai vần : ac/at, âc/ât, ân/âng , on/ôn,.. + Sai dấu thanh : dấu ngã đọc thành dấu hỏi . Ví dụ : "đã'' đọc là ''đả '', ''ngã ba'' đọc là ''ngả ba'' , ... Để dạy cho học sinh phát âm đúng, tôi không quên rèn kĩ năng nghe. Ở đây vai trò giọng đọc của giáo viên rất quan trọng. Giữa nghe và phát âm có mối quan hệ rất chặt chẽ cho nên rèn luyện kĩ năng nghe cũng hỗ trợ rất nhiều cho kĩ năng đọc. Lỗi mà học sinh còn phát âm sai do 2 nguyên nhân : + Nguyên nhân chủ quan : như nói lắp , nói ngắn lưỡi, khó đọc do tật bẩm sinh . Ví dụ : s / x : sung / xung , sâu / xâu , lắm/nắm + Nguyên nhân khách quan : do cách phát âm sai của phương ngữ tạo cho các em thói quen nghe và nói từ khi nhớ . Để chữa lỗi phát âm sai tôi dùng biện pháp giảng giải trên cơ sở lí thuyết ngữ âm và ý nghĩa từ . Cho học sinh luyện đọc lại từ ngữ phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần. Ví dụ : phát âm s / x : + Khi phát âm s ( sờ ) : phải uốn lưỡi , hơi thoát ra chân răng đầu lưỡi. + Khi phát âm x ( xờ) : hơi ra ở mặt lưỡi và chân răng . Ví dụ : phát âm tr / ch : Ví dụ : '' rộn rã '' phân biệt với '' rộn rả '' , '' nâng/lân ''; phân biệt với '' xâu / sâu '' : '' xâu kim '' với '' sâu trong lòng đất '' Biện pháp 3: Luyện đọc : Từ chỗ đọc đúng âm, đúng thanh tiến tới cho học sinh đọc được mức độ cao hơn : Đọc rành mạch, tốc độ đọc 50 tiếng / phút, nắm được ý cơ bản của bài, đọc lưu loát và bước đầu đọc diễn cảm bằng đọc thành tiếng và đọc thầm, đọc chữ in và đọc chữ viết . Tôi chú trọng hình thức đọc cá nhân để rèn luyện, uốn nắn cho từng học sinh, kết hợp hình thức đọc theo nhóm để nhiều học sinh được tham gia và tham gia nhiều lần đọc trong một tiết học. Xen kĩ hợp lý đọc đồng thanh để tạo không khí lôi cuốn học sinh yếu, học sinh hay rụt rè vào hoạt động học. Đảm bảo toàn bộ học sinh được tham gia luyện đọc và càng được đọc nhiều lần càng tốt. a. Đọc rành mạch: - Cho học sinh đọc theo từng từ, cụm từ để luyện đọc từng câu chứ không đọc từng con chữ, từng chữ rời rạc. Ví dụ : Bài thơ: '' Tiếng chổi tre '': Khi cơn giông // Vừa tắt / Tôi đứng trông // Trên đường lặng ngắt // * - Đọc văn xuôi : Ngoài việc hướng dẫn đọc theo từ, cụm từ tôi tiến tới hướng đẫn đọc theo câu. Cuối câu học sinh phải biết lên giọng hoặc xuống giọng phù hợp. Nếu câu có dấu chấm cảm ta phải đọc thay đổi giọng theo đúng ngữ cảnh và tình cảm của câu. Ví dụ : Bài '' Voi nhà ''. Toàn bài đọc với giọng linh hoạt. Cuối câu có dấu chấm cảm thì đọc lên cao giọng. Đoạn đầu thể hiện tâm trạng thất vọng khi xe bị sự cố: '' Thế này thì hết cách rồi ! '' Đoạn 2 : giọng hoảng hốt khi voi xuất hiện : ''Chạy đi ! Voi rừng đấy ! ''. Tôi hướng dẫn học sinh biết ngắt nghỉ ở các dấu câu, ở các từ ngữ cần nhấn giọng: '' ập xuống, khựng lại, chạy đi, vội vã, lừng lững, quặp chặt vòi,...'' * Đọc văn vần: Học sinh đọc văn xuôi đã khó, đọc văn vần lại càng khó hơn. Khi đọc văn vần cần chú ý tiết tấu của đoạn văn. Tiết tấu là nhịp điệu của âm nhạc, ở sách tiếng việt lớp 2 có nhiều thể văn vần chúng ta thường gặp như: Thơ lục bát, thơ đường, thơ 5 chữ, thơ 4 chữ, thơ tự do. Ở đây không phải thể thơ nào cũng giống nhau phải thay đổi theo tiết tấu của câu, bài thơ theo thể thơ nào . - Khi đọc thơ lục bát thường đọc ngắt nhịp 2/4 (ở câu 6 chữ ) và nhịp 4/4 (ở câu 8 chữ ). Ví dụ : Bài thơ '' Mẹ '' Lặng rồi / cả tiếng con ve Con ve cũng mệt/ vì hè nắng oi Nhà em/ vẫn tiếng ạ ơi Kẽo cà tiếng võng/ mẹ ngồi mẹ ru. - Thơ 7chữ ( thơ đường ): đọc theo nhịp 4/3 hay 3/4. Ví dụ : Bài thơ '' Gió ''. Gió ở rất xa / rất rất xa. Nhưng thơ lục bát cũng có khi đọc theo nhịp 3/3 và 3/5 Những ngôi sao / thức ngoài kia Chẳng bằng mẹ / đã thức vì chúng con. - Đọc thơ 4 chữ theo nhịp 2/2 Ví dụ : Bài thơ '' Tiếng võng kêu '' Có gặp / con cò / Lặn lội / bờ sông ?/ Có gặp / cánh bướm / Mênh mông / mênh mông / - Đọc thơ 5 chữ theo nhịp 2/3 hoặc 3/2 Ví dụ : Bài thơ '' Cô giáo lớp em '' Đáp lời / " chào cô ạ ! '' / Cô mỉm cười / thật tươi . / Yêu thương em ngắm mãi Những điểm mười / cô cho . / Tóm lại : Khi hướng dẫn học sinh đọc thơ, tôi hướng dẫn các em đọc theo nhịp kết hợp nghĩa của từ và cụm từ. b. Đọc lưu loát : Từ mức độ đọc rành mạch, tôi hướng dẫn các em nâng dần lên mức độ đọc lưu loát tức là biết đọc theo cụm từ, tốc độ đọc nhanh hơn, đọc rành mạch và theo ngữ điệu có dấu câu . Ví dụ : Bài '' Câu chuyện bó đũa '' . Tôi hướng dẫn đọc: lời kể chậm rãi, lời giảng giải của người cha ôn tồn. Tôi đã hướng dẫn các em nhấn mạnh ở các từ, cụm từ: ''chia lẻ ra thì yếu '', "hợp lại thì mạnh '', ''đoàn kết mới có sức mạnh ''. Ví dụ: Bài " Sơn Tinh,Thuỷ Tinh '' Tôi hướng dẫn đọc đoạn 1: Giọng đọc thong thả, trang trọng. Lời của Vua dõng dạc. Đoạn tả cuộc chiến đấu giữa Sơn Tinh và Thuỷ Tinh hào hùng, nhấn mạnh các từ ngữ, cụm từ: tuyệt trần, một trăm ván, hai trăm nệp, chín hồng mao, đùng đùng tức giận, bốc, dời,... + Biện pháp: Đọc diễn cảm : Đọc diễn cảm có nhiều mức độ nhưng ở lớp 2 tôi chỉ dừng lại ở mức biết phân biệt lời tác giả, lời nhân vật, đọc văn đối thoại, đọc phân vai. Khi đọc lời tác giả, giọng đọc phải phù hợp với nội dung của đoạn văn. Tôi đã cho học sinh đọc phân vai trong các bài: Ví dụ : Bài '' Những quả đào '' Chia nhóm 5 học sinh đọc phân các vai: người dẫn chuyện, ông, Xuân, Vân, Việt. Ví dụ : Bài: '' Chuyện bốn mùa '' Chia nhóm 6 em đọc phân các vai : người dẫn chuyện, 4 nàng tiên Xuân, Hạ, Thu, Đông và Bà Đất. Đọc kết hợp giảng giải của giáo viên, kết hợp tóm tắt ý của từng đoạn tiến tới nội dung cả bài. VI- KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU : Qua một thời gian giảng dạy ở lớp 2, áp dụng các biện pháp trên tôi nhận thấy kĩ năng đọc của học sinh lớp tôi đã tiến bộ rõ rệt, học sinh đọc tốt hơn nhiều so với trước đây chưa áp dụng các biện pháp trên. Kết quả cụ thể sau khi thực hiện các biện pháp trên: Tổng số học sinh 24em Nội dung Số lượng Tỉ lể % Đọc đúng 8em 33,3% Đọc rành mạch 4em 16,7% Đọc lưu loát 6em 25% Đọc diễn cảm 6em 25% VII-BÀI HỌC KINH NGHIỆM : Thông qua các biện pháp tôi đã giảng dạy tại lớp và kết quả đạt được tôi rút ra cho bản thân những bài kinh nghiệm trong quá trình rèn luyện kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 nói riêng và học sinh các khối khác nói chung: 1. Giáo viên đọc mẫu phải thật hấp dẫn để lôi cuốn học sinh. Giáo viên đọc chuẩn xác, phù hợp với từng văn bản để học sinh học tập. 2. Phải rèn cho học sinh luyện phát âm đúng, chú ý các từ ngữ, luyện đọc những từ ngữ học sinh phát âm sai ngay lúc đó nhiều lần. 3. Cho học sinh luyện đọc: đọc rành mạnh, đọc lưu loát cả văn xuôi, văn vần. Đọc đúng nhịp thơ, thể hiện ngắt nghỉ đúng chỗ, nhấn giọng các từ ngữ, biết thay đổi giọng đọc theo đúng ngữ cảnh và tình cảm của câu. 4. Cho học sinh luyện đọc diễn cảm theo hình thức phân vai, đọc biết kết hợp giảng giải của giáo viên, kết hợp việc tóm tắt ý của từng đoạn và nội dung cả bài. Giáo viên phải giàu lòng yêu nghề, mến trẻ, nhiệt tình, gương mẫu trong phương pháp soạn giảng. Giáo viên phải kiên trì, uốn nắn, sửa chữa cách phát âm sai cho học sinh thật tận tình, chu đáo tránh giảng triền miên, nói nhiều, viết nhiều trong khi học sinh đọc còn yếu. Phối hợp nhịp nhàng về chương trình môn tập đọc với các môn học khác như : tập làm văn, kể chuyện, chính tả... VIII. KẾT LUẬN : IX. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN KIẾN NGHỊ: Để rèn kĩ năng đọc của học sinh tiếp tục được nâng cao, tôi mạn phép đưa ra một vài ý kiến đề xuất với các cấp chỉ đạo như sau: - Cần quan tâm hơn nữa đối với giáo viên tiểu học, thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên ở các phân môn, nhất là môn tập đọc. - Có đầy đủ đồ dùng dạy học cho giáo viên. - Hàng năm tổ chức phong trào thi kể chuyện, ngâm thơ, đọc diễn cảm cho giáo viên, cho học sinh trong khối, trong trường. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tháng 3 năm 2022 Người viết Trương Thị Liễu TÀI LIỆU THAM KHẢO Căn cứ vào SGK và SGV lớp 2 Tài liệu hướng dẫn giảng dạy các môn ở lớp 2 theo các vùng miền của Bộ giáo dục. - Phương pháp dạy học các môn học ở lớp 2 của Bộ giáo dục và đào tạo. Căn cứ vào thực trạng dạy và học Tập đọc của lớp. MỤC LỤC TT Tiêu đề Trang 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tên đề tài Đặt vấn đề Cơ sở lí luận Cơ sở thực tiễn Nội dung nghiên cứu Kết quả nghiên cứu Bài học kinh nghiệm Kết luận Những vấn đề kiến nghị Tài liệu tham khảo Phiếu đánh giá xếp loại SKKN 1 1 1-2 2-3 3-8 8 8 9 9 10 11 12 CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh phúc PHIẾU ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM Năm học: 2010- 2011 I. Đánh giá xếp loại của HĐKH Trường . 1. Tên đề tài: .. 2. Họ và tên tác giả: 3. Chức vụ : 4. Nhận xét của Chủ tịch HĐKH về đề tài: a) Ưu điểm: b) Hạn chế: 5. Đánh giá, xếp loại: Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Trường: thống nhất xếp loại: Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) .. .. .. III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Phòng GD&ĐT Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH PhòngGD&ĐT . thống nhất xếp loại: Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) . .. .. III. Đánh giá, xếp loại của HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam Sau khi thẩm định, đánh giá đề tài trên, HĐKH Sở GD&ĐT Quảng Nam thống nhất xếp loại: Những người thẩm định: Chủ tịch HĐKH (Ký, ghi rõ họ tên) (Ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên) . ..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Toán Lớp 1 Tiến Bộ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Rèn Học Sinh Học Yếu Toán Lớp 1 Tiến Bộ
  • Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 3

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 2 Trong Giờ Tập Đọc Skkn Loại A Cấp Tỉnh
  • Kinh Nghiệm Dạy Học: Rèn Học Sinh Yếu Kém
  • Hiệu Quả Các Biện Pháp Sinh Học Phòng Trừ Sâu Đục Trái Bưởi
  • Giải Vbt Sinh Học 7 Bài 59: Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • A.Đặt vấn đề:

    Môn Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có nhiệm vụ hình thành những năng lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ thể hiện trong bốn dạng hoạt động tương ứng với chúng là bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết. Nhưng ưu tiên nhất là kỹ năng đọc, viết cho học sinh lớp 3.Đọc là một phân môn trong chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học. Đây là phân môn có vị trí đặc biệt quan trọng trong chương trình, vì nó giảm việc hình thành và phát triển cho học sinh kỹ năng đọc- một kỹ năng quan trọng hàng đầu, cũng là nền tảng đầu tiên quyết định cho việc học tập của các em sau này.

    Ở trường Tiểu học, việc dạy đọc cho học sinh bên cạnh có những thành công còn có nhiều hạn chế. Học sinh chúng ta chưa đọc được như mong muốn, kết quả học đọc của các em chưa đáp ứng yêu cầu của việc hình thành kỹ năng đọc. Giáo viên còn lúng túng trong việc rè đọc cho học sinh. Làm thế nào để học sinh đọc đúng, đọc nhanh hơn, hay hơn, phát âm chuẩn hơn, các em hiểu được văn bản các em đang đọc. Đó chính là những băn khoăn, trăn trở của giáo viên trong mỗi giờ dạy Học vần cũng như Tập đọc lớp 3.

    Bản thân tôi là giáo viên dạy lớp 3, để đáp ứng yêu cầu đổi mới phải không ngừng tìm tòi nghiên cứu rút ra những kinh nghiệm góp phần nhỏ bé của mình vào sự nghiệp đổi mới giáo dục.

    Khi thực hiện đề tài này, tôi mong muốn học sinh đọc đúng, nhiều em đọc hay, đọc diễn cảm, đọc phân vai theo đúng nội dung và yêu cầu của bài. Bên cạnh đó tôi mong muốn giải quyết tình trạng dạy Tập đọc còn hời hợt, tẻ nhạt, học sinh tiếp thu bài một cách thụ động. Thông qua đó đáp ứng được nhu cầu đổi mới hiện nay, nhằm tìm ra các phương pháp tối ưu nhất giúp cho giờ dạy đạt kết quả cao.

    -Phương pháp thu thập, phân tích các tài liệu dạy học Tiểu học.

    -Phương pháp điều tra thực tế.

    B.Nội dung

    I.Cơ sở khoa học:

    Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quả trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó, là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành đơn vị nghĩa không có âm thanh.

    Đọc được xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện.

    Thứ nhất, là quá trình vận đọng của mắt, sử dụng “bộ mã chữ” để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Quán trình này gọi là quá trình đọc thành tiếng.

    Thứ hai, đó là sự động của tư tưởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ- nghĩa” tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc.

    Dạy đọc có ý nghĩa rất to lớn ở Tiểu học. Đầu tiên các em phải yêu thích học đọc, sau đó các em phải dọc để học. Đọc để giúp các em chiếm lĩnh được ngôn ngữ dùng trong giao tiếp và học tập. Đọc là một công cụ để học tập các môn học khác. Đọc tạo ra hứng thú và động cơ học tập, tạo điều kiện để học sinh có khả năng tự học và học suốt đời. Nó là khả năng không thể thiếu được của con người thời đại văn minh.

    -Đọc thành tiếng: biết cầm sách đọc đúng tư thế, đọc đúng và đọc trơn tiếng, đọc liền từ, đọc cụm từ và câu, tập ngắt, nghỉ hơi đúng chỗ.

    -Đọc hiểu: hiểu được các từ thông thường, hiểu ý được diễn đạt trong câu đã học. Học thuộc lòng một số bài văn vần trong SGK.

    II.Thực trạng của việc dạy và học môn Học vần,

    Tập đọc lớp 3:

    : Giáo viên đã được tập huấn thay sách lớp 3 năm học 2002- 2003.

    -Nắm được nội dung chương trình môn học, đổi mới phương pháp dạy, cách tổ chức lớp học, cách đánh giá học sinh để đáp ứng yêu cầu dạy học trong giai đoạn hiện nay.

    -Giáo viên thực sự yêu nghề, mến trẻ, quan tâm đến việc học, rèn đọc cho học sinh lớp 3.

    b.Đối với học sinh:

    -Các em đã được học qua lớp Mầm non có cùng độ tuổi.

    -Các em yêu thích đến trường, đến lớp.

    -Nhiều em có khả năng đọc tốt.

    -Tuy được tập huấn thay sách lớp 3 nhưng GV còn gặp một số lúng túng từ khâu soạn thiết kế bài cho đến việc đổi mới phương pháp dạy học.

    -Mặc dù các em đã được học qua lớp MN nhưng trí nhớ một số em còn chậm, thể lực của các em còn yếu. Một số em chưa biết được tác dụng của việc học tập.

    III.Một số biện pháp rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp3 tại trường TH số 2 Võ Ninh (TRÚC LY).

    -Có 3 phương pháp cơ bản.

    +Phương pháp luyện tập theo mẫu: GV phải đọc mẫu đúng.

    +Phương pháp đọc từ, câu, đoạn: biết đọc từ; câu đễ lẫn lộn d, gi, tr, ch, dấu hỏi, dấu ngã. Đọc đúng những từ (sai do phương ngữ).

    +Phương pháp giao tiếp: luyện đọc diễn cảm, đọc theo phân vai.

    -Sử dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức dạy học: hoạt động các nhân, nhóm, lớp.

    Ví dụ: Hình thức cá nhân khi học sinh phát hiện tiếng, từ khó, luyện đọc các tiếng, từ khó.

    +Hình thức cả lớp: lúc GV giảng giải, huy động kết quả và chữa sai cho học sinh.

    +Hình thức trò chơi: có nhiều hình thức trò chơi (cá nhân, nhóm, lớp phục vụ cho mục tiêu bài học. Thông qua trò chơi đó rèn kỹ năng đọc cho học sinh (đọc phân vai).

    Muốn rèn đọc tốt thì việc gây hứng thú trong giờ học là quan trọng nhất. Đối với các em đọc kém phải kích thích cho các em thích đọc. Các em thấy giờ học Tập đọc như một sân chơi. Giáo viên đọc mẫu thật diễn cảm, thật có hồn. Lời đọc phải lột tả hết cái hay, cái đẹp của văn bản. Từ đó cuốn hút học sinh nghe nghe để các em thấy được cái hay riêng trong mỗi bài văn, câu chuyện, các em sẻ thấy thích đọc hơn, thích khám phá và thích được đọc giống cô giáo.

    Giáo viên cần phân học sinh thành ba loại để rèn:

    -Đọc kém: 2 em

    -Đọc bình thường: 8 em

    -Đọc tốt: 10 em .

    Cách đọc như sau:

    a.Đối với học sinh học kém:

    Tâm lý các em rất ngại đọc, nhất là các bài dài vì thế không nên ép các em đọc nhiều. GV động viên các em đọc tốt từng câu của mỗi bài sau đó nâng dần lên đọc đoạn. Tổ chức đọc nhóm để các em khá kèm cặp để các em thấy tự tin hơn. ngoài ra GV có thể kết hợp với phụ huynh mua các truyện tranh thiếu nhi để các em đọc sẻ thích hợp hơn.

    b. Đối với học sinh đọc bình thường:

    Tâm lý các em này ngại thể hiện, các em nghỉ biết đọc là được. GV cần khuyến khích như khen, cho điểm để các em mạnh dạn hơn. Ngoài ra cho các em tham gia đóng vai nhân vật trong giờ tập đọc hoặc kể chuyện để lôi cuốn các em thích đọc.

    c. Đối với các em đọc tốt:

    Tâm lý các em này thích bộc lộ, tự tin. GV cần đòi hỏi các em ở mức độ cao hơn như là đọc diễn cảm, đọc theo vai. Lấy các em làm nhân tố tích cực từ đó phát triển thêm các em khác.

    Đối với giáo viên: biết lượng hoá được tốc độ đọc của học sinh trong từng giai đoạn. Cuối năm học sinh đọc phải đạt tốc độ 50 tiếng/phút.

    -Sử dụng các ký hiệu trong quá trình rèn đọc cho học sinh lớp 3, GV tập cho các em biết được những ký hiệu ngắt, ngừng, nghỉ và cách đọc khi gặp các dấu câu (dấu hỏi, dấu cảm.. .)

    -Biện pháp chữa sai triệt để cho học sinh trong quá trình rèn đọc:

    +GV cho HS nhận biết bạn đọc phát hiện tiếng, từ ngắt nghỉ, dấu sai và sai ở chỗ nào? sau đó cho học sinh đọc sai đọc lại. GV giúp học sinh uốn sữa cách đọc từ, câu, dấu câu.

    +GV phải bình tỉnh, không nôn nóng, tin tưởng vào sự tiến bộ của các em.

    +GV phải động viên khích lệ sự tiến bộ của các em(tuy là tiến bộ rất nhỏ của học sinh yếu)

    +GV lập sổ theo dõi tốc độ đọc của HS thật cụ thể những tiếng từ nào học đọc sai, GV ghi lại và thường xuyên kiểm tra giúp HS đọc và đọc lại được.

    +Trong quá trình kiểm tra bài cũ cũng như dạy bài mới nên cho các em đọc nhiều lần.

    -Sử dụng hiệu quả ở SGK hoặc tranh vẽ tự làm.

    -Sử dụng bảng phụ để giúp các em luyện đọc các câu dài, câu hỏi, câu cảm.

    – Xây dựng hệ thống câu hỏi phải phù hợp với mục tiêu dạy học và đối tượng HS.

    -Câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn.

    -GV phải đặt câu hỏi phụ để dẫn dắt gợi mở HS chiếm lĩnh nội dung bài học.

    -GV cho nhiều HS đọc: hình thức đọc cá nhân, nhóm, lớp.

    -GV xoá bảng dần cho HS đọc, chú ý xoá theo động từ, tính từ, xoá cụm từ để lại tiếng đầu câu.

    -GV cho HS luyện đọc theo các hình thức ca nhân, nhóm, lớp sau đó xoá hết, cho HS thi đua học thuộc bài ngay tại lớp, đọc đúng và đọc hay

    Ví dụ: Khi dạy bài “Cái cầu” (TV3-tập 2,SGK)

    -Hướng dẫn luyện đọc

    -Tìm hiểu bài

    -Học thuộc lòng bài thơ

    -GV đọc lại bài thơ và nhắc lại cách đọc.

    -GV cho HS luyện đọc theo lớp, nhóm, cá nhân. Trong khi đó GV kết hợp xoá bảng theo thứ tự sau khi HS đọc đã thuộc GV cho từng cặp HS: một em đọc từng đoạn hay cả bài, em khác nghe và kiểm tra, sau đó đổi lại hoặc gọi đọc thuộc theo nhóm. Phần luyện đọc này GV nên chú ý đến đối tượng HS yếu nhiều hơn. Đối với những em đọc khá, tốt nên khuyến khích thi đọc diễn cảm.

    -GV có thể phân loại để thi đọc thuộc

    – HS loại TB, yếu thì tổ chức thi đọc thuộc lòng bài thơ. Đọc to, rõ ràng.

    -Đối với HS loại khá, tốt thì tổ chức thi đọc thuộc lòng bài thơ. Đọc hay, lưu loát, có diễn cảm.

    IV. Một số kết quả đạt được:

    Qua một năm thực hiện chương trình với những việc làm trên tôi thấy giờ Tập dọc rất nhẹ nhàng, thoải mái. Các em rất thích học giờ này, kết quả về kỹ năng đọc của học sinh qua các đợt khảo sát có nhiều tiến bộ rõ rệt.

    Kết quả qua các kỳ khảo sát như sau:

    Ưu điểm về đọc tiếng và câu:

    -Các em đã phát âm đúng chính âm, hạn chế được giọng đọc phương ngũ, nắm chắc tiếng.

    -Nhiều em dọc tốc độ nhanh, đọc tiếng đạt thời gian quy định.

    -Các em có khả năng đọc liền mạch trong câu tốt. Biết ngắt, nghỉ đúng chỗ theo sự hướng dẫn của giáo viên.

    -Từ đó hiểu được nội dung của đoạn, bài đọc thông qua các câu hỏi gợi ý của GV.

    V.Một số bài học kinh nghiệm

    -Để đạt được kết quả như mong muốn, trước hết GV phải nắm được mục tiêu , nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học của môn học. Nắm được các yêu cầu đạt qua từng giai đoạn, từng học kỳ để có biện pháp chống lõi kịp thời cho học sinh.

    -Xây dựng hệ thống câu hỏi phù hợp với học sinh ở địa phương mình, lớp mình đanh giảng dạy.

    -Dự kiến các tình huống có thể xẩy ra trong việc dạy kỹ năng đọc.

    -Có biện pháp dạy học thuộc lòng thích hợp.

    -Thông qua trò chơi rèn đọc cho HS, GV nên tập cho các em đọc được nhiều văn bản khác nhau, không những đọc ở SGK mà cho các em đọc văn bản, báo chí, văn học, hành chính…..

    c.Kết luận

    Qua quá trình dạy học, bản thân tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm nhỏ trong việc rèn đọc cho HS lớp 3 thực sự có hiệu quả, chất lượng kỹ năng đọc được nâng lên rõ rệt. Bản thân tôi rất mong sự góp ý bổ sung của các đồng chí đồng nghiệp để bản sáng kiến kinh nghiệm ngày càng hoàn thiện, đầy đủ hơn.

    Võ Ninh, ngày 08 tháng 5 năm 2009

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Rèn Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Đề Tài Một Số Biện Pháp Rèn Kỹ Năng Đọc Cho Học Sinh Lớp 3
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Về Một Số Biện Pháp Rèn Học Sinh Yếu Toán Lớp 1 Tiến Bộ
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Vài Biện Pháp Rèn Học Sinh Học Yếu Toán Lớp 1 Tiến Bộ
  • Giải Pháp Quản Lý Học Sinh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100