Top 7 # Biện Pháp Hạn Chế Quá Trình Phản Nitrat Hóa Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 1/2023 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Quá Trình Nitrat Hóa Là Gì?Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Nitrat Hóa

Trong nước có chứa 2 loại chất dinh dưỡng cần sự quan tâm hàng đầu đó là nitrogen và phosphorus. Các sinh vật đều cần hai dưỡng chất này để phát triển. Tuy nhiên nếu chúng hiện diện ở số lượng lớn sẽ làm mất cân bằng dinh dưỡng trong thủy vực đưa đến một số loài sẽ phát triển nhanh trong khi một số loài có thể giảm số lượng cá thể hoặc tiêu diệt hoàn toàn. Quá trình nitrat hóa chính là giải pháp cho vấn đề này.

Quá trình nitrat hóa là gì?

– Quá trình nitrat hóa là một quá trình tự dưỡng (năng lượng cho sự phát triển của vi khuẩn được lấy từ các hợp chất ôxy hoá của Nitơ, chủ yếu là Amôni.

+ Vi khuẩn nitrit: oxy hóa amoniac thành nitrit hoàn thành giai đoạn thứ nhất.

+ Vi khuẩn nitrat: oxy hóa nitrit thành nitrat, hoàn thành giai đoạn thứ hai.

– Quá trình nitrat hóa diễn ra qua hai giai đoạn

+ Giai đoạn 1: Chuyển hóa NH4+ thành NO2- bởi nhóm vi khuẩn Nitrite hóa

+ Giai đoạn 2: Chuyển hóa NO2- thành NO3- bởi nhóm vi khuẩn Nitrat hóa

– Tốc độ của giai đoạn thứ nhất xảy ra nhanh gấp 3 lần so với giai đoạn hai.

– Độ pH

Quá trình nitrat hóa sẽ tạo ra axit, do đó làm giảm độ pH của quần thể sinh học, từ đó làm giảm tốc độ tăng trưởng của vi khuẩn nitrat hóa. Quá trình nitrat hóa bị ức chế khi pH dưới 6.5 và dừng ở pH 6.0.

– Nhiệt độ

Ở nhiệt độ 40°C và cao hơn, tỷ lệ nitrat hóa giảm xuống gần bằng không. Ở nhiệt độ dưới 20°C, quá trình nitrat hóa diễn ra ở tốc độ chậm hơn, nhưng sẽ tiếp tục ở nhiệt độ dưới 10°C nhưng sẽ không thể tiếp tục nếu mất đi độ kiềm, cho đến khi nhiệt độ nước thải tăng lên gần 15°C.

– Chất độc

Một số hợp chất độc hại nhất đối với vi khuẩn nitrat hóa bao gồm xianua, thiourea, phenol và kim loại nặng như bạc, thủy ngân, niken, crôm, đồng và kẽm.

Những điều cần biết về quá trình nitrat hóa

– Tùy thuộc vào pH, amoniac gây độc hại đối với thủy sinh ngay tại nồng độ thấp như 0.5 mg/l.

– Ni-tơ chiếm 12-14% khối lượng protein trong tế bào.

– Độc tính của amoniac chủ yếu bắt nguồn từ dạng chưa ion hóa (NH3), trái ngược với dạng ion (NH4+). Nhìn chung, hàm lượng NH3 và độc tính càng tăng khi pH càng cao.

Hiện nay, việc ứng dụng vi khuẩn Nitrat hóa vẫn được ứng dụng đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam. Quý bà con còn thắc mắc về quá trình Nitrat hóa hãy liên hệ ngay 1900 2620 để nhận được sự hỗ trờ từ các chuyên gia.

Biện Pháp Khắc Phục Hạn Chế Trong Quá Trình Thi Công Sàn Nhẹ Uboot

Mô tả chi tiết

Khi thi công sàn nhẹ Ubot nếu không tính toán kỹ lưỡng rất dễ xảy ra các vấn đề. Phú Hòa An xin chia sẻ các nguyên nhân cùng những biện pháp khắc phục hạn chế trong quá trình thi công sàn nhẹ Uboot. Giúp giảm tối đa chi phí và những thiệt hại không đáng có về người và của.

1. Hiện tượng đẩy nổi hộp Box

– Do việc dùng thép C neo hai lớp thép trên và dưới với nhau chưa đủ mật độ 4 chiếc/1m2.

– Do tốc độ bơm bê tông lớp 1 quá nhanh và mạnh dẫn đến việc hộp bị xô lệch, đẩy nổi.

– Do khi sử dụng không đúng theo hướng dẫn đổ đầy bê tông ngập toàn bộ hộp bê tông dẫn đến áp lực bê tông vào hộp lớn.

– Do quá trình đổ và dùng đầm dùi không đúng theo hướng dẫn vì vậy dẫn đến việc áp lực của bê tông làm đẩy nổi hộp bot.

– Do quá trình đổ bê tông lớp thứ 2 vòi bơm xả thẳng vào các khe hộp làm tăng áp lực bê tông dẫn đến đẩy nổi hộp ubot.

– Do quá trình đầm bê tông lớp thứ 2, đầm quá kỹ, đầm sâu xuống lớp 1 làm tăng áp lực bê tông dẫn đến đẩy nổi hộp bot.

– Thời gian chuyển giao giữa lần đổ bê tông lớp 1 và lớp 2 quá nhanh khi chưa đảm bảo bê tông lớp 1 ổn định giữ chân hộp ubot (bê tông lớp 1 cần se lại trước khi đổ lớp 2).

– Trước khi đổ gia cường đẩy đủ thép C cấu tạo chống đẩy nổi.

– Khi đẩy ống bơm nên bơm đúng khe của hàng hộp ubox, đẩy ống bơm chạy theo hình zic zắc đồng thời các đầm đi theo cần bơm và đầm bê tông đảm bảo tràn kíp chân Hộp.

2. Hiện tượng có vết nứt

Nguyên nhân gây ra hiện tượng rạn nứt bê tông nứt ngang thuộc về vật liệu và hỗn hợp trộn, công tác thi công và các yếu tố khác như thiết kế kết cấu. Các vết nứt ngang thường xuất hiện sau khi đổ xong bê tông và độ rộng của vết nứt phát triển theo thời gian. Hiện tượng này rất phổ biến ở khắp mọi nơi, trên nhiều loại kết cấu, nó có thể làm đẩy nhanh quá trình ăn mòn cốt thép của bê tông. Nên việc xử lý rạn nứt sàn, rạn nứt bê tông giúp chống thấm cho công trình được hiệu quả.

– Sử dụng phụ gia R3/R7/R14 là phụ gia siêu hóa dẻo, phát triển nhanh cường độ cho bê tông ở giai đoạn đầu. Các loại phụ gia này tăng tốc quá trình thủy hóa để đạt cường độ sớm đồng nghĩa với mức độn tỏa nhiệt của bê tông sẽ bị thay đổi vì vậy làm giảm hàm lượng nước trong bê tông. Kết quả bê tông sẽ bị khô vì mất nước và dẫn tới hiện tượng rạn nứt.

– Tháo cốt pha sớm khi sàn bê tông chưa đạt cường độ.

– Tháo cốt pha tầng dưới sớm khi đổ bê tông tầng tiếp theo dẫn tới hiện tượng nứt do tải trọng thi công lớn hơn tải trọng thiết kế.

+ Do quá trình bảo dưỡng sàn không đúng quy trình.

+ Do điều kiện khí hậu trong lúc đổ bê tông.

+ Mác bê tông không đủ theo thiết kế.

+ Tỉ lệ cốt liệu không đảm bảo.

+ Đầm không kĩ trong quá trình đổ bê tông.

+ Nước sử dụng trộn bê tông không đảm bảo. Xảy ra hiện tượng mất nước xi măng(do ngấm xuống đất, do ván khuôn sàn bị hở…).

+ Đổ bê tông không đều. Đô dày sàn giảm ở giữa (do thi công không kiểm tra kỹ)

+ Thời gian cấp bê tông không liên tục, dẫn tới bê tông bị khô cứng/phân tầng.

+ Bề rộng khe nứt bé đi tại vị trí gặp các thanh cốt thép (dọc) trong cấu kiện bê tông cốt thép và mở rộng theo bề mặt của cấu kiện. Vì vậy chiều dày lớp bê tông bảo vệ và khoảng cách giữa các thanh cốt ảnh hưởng tới bề mặt khe nứt. Các thanh thép nên được bố trí đều và tương đối gần với hai mặt bên và mặt đáy của dầm hoặc sàn.

+ Bố trí thép ít và đặt quá thưa, bản quá rộng.

+ Nối buộc không cẩn thận.

* Xử lý vết nứt bằng hệ thống xy lanh

Vệ sinh và kiểm tra kích thước vết nứt

Xác định vị trí đặt xy lanh

– Khoan và vệ sinh lỗ khoan trước khi lắp đế nhựa gắn vào xy lanh, cần đảm bảo các đế nhựa gắn cố định vào mũi khoan.

– Trám bề mặt vết nứt bằng keo kết dính DY-101

– Lắp xy lanh Epoxy SL-1400 (khoảng cách Xy Lanh từ 20-25cm). Gỡ bỏ xy lanh khi keo DY-101 đạt cường độ.Tiến hành thử nước trong vòng 24 giờ sau khi thi công 48 giờ.

* Xử lý vết nứt bằng LEAFSEAL WP 503

+ Nguyên lý hoạt động của LEAFSEAL WP 503LEAFSEAL WP 503 kết hợp với nước và bê tông để thúc đẩy phản ứng của những phản ứng của xi măng chưa được thủy hóa, tạo ra những tinh thể hình kim, không hòa tan. Sau vài tuần hoặc vài tháng nhưng tinh thể sẽ phát triển và lấp đầy các khe nứt và lỗ rỗng tự nhiên trong bê tông, chặn đứng hoàn toàn đường dẫn nước vào bê tông

Việc tinh thể hình thành từ bệ mặt và phát triển sâu vào bên trong, giữa các hệ thống mao dẫn của bê tông giúp cho bê tông được hình thành vĩnh cửu.

3. Hiện tượng có lỗ rỗng dưới đáy hộp ubot

– Do độ sụt quá thấp (bê tông khô) dẫn tới quá trình đầm bê tông không lấp đầy chân hộp ubox.

– Yêu cầu độ sụt bê tông trong quá trình thi công sàn ubot: 16 ± 2cm

– Do quá trình đầm bê tông không đủ các vị trí quy định, đầm sót vị trí.

– Do lắp đặt thép khoảng cách thép gia cường quá gần với chân hộp ubot dẫn đến cốt liệu bê tông không thể lèn qua để lấp đầy chân hộp ubot.

– Sử dụng độ sụt bê tông theo đúng yêu cầu kỹ thuật.

– Đổ và đầm bê tông đúng phương pháp theo chỉ dẫn kỹ thuật.

– Lắp đặt thép gia cường có khoảng cách 30-40mm đủ để hỗn hợp bê tông lèn và lấp đầy chân hộp.

– Đầm không bỏ sót tại các vi trí góc hộp ubot.

ĐỐI TÁC

THỐNG KÊ

Lượt truy cập: 12660297 Đang online: 17

Quá Trình Chuyển Hóa Mỡ Trong Cơ Thể

Tỉ lệ người mắc thừa cân/béo phì đang tăng nhanh ở khu vực Đông Nam Á, trong đó dẫn đầu về tốc độ là Việt Nam. Thừa cân/béo phì kéo theo nhiều rủi ro về sức khỏe như huyết áp cao, bệnh tim, tiểu đường, ngưng thở khi ngủ, các vấn đề về hô hấp… nhưng có vẻ nhiều người vẫn rất thờ ơ về nó. Có bao giờ bạn tự hỏi mỡ là gì? Khi chúng ta “béo lên” – tăng cân – điều gì thực sự xảy ra bên trong cơ thể? Làm gì để giải quyết số lượng mỡ thừa này?

1. Thế nào là thừa cân/béo phì

Thừa cân/béo phì được định nghĩa là sự tích tụ mỡ bất thường hoặc quá mức làm ảnh hưởng đến sức khỏe. Thông qua chỉ số khối cơ thể ( Body mass index_BMI) bạn có thể biết chính xác mình đang mắc bệnh béo phì, thừa cân hay suy dinh dưỡng. BMI được tính bằng cách lấy trọng lượng của một người tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao của người đó theo mét (kg/m2).

Thừa cân và béo phì là nguy cơ đứng hàng thứ sáu về số trường hợp tử vong trên toàn cầu, ít nhất 3,4 triệu người lớn tử vong mỗi năm do hậu quả của tình trạng thừa cân hoặc béo phì. Ngoài ra, 44 % gánh nặng do bệnh tiểu đường, 23% gánh nặng bệnh tim thiếu máu cục bộ và từ 7% – 41% gánh nặng về một số bệnh ung thư là do thừa cân và béo phì.

2. Mỡ trong cơ thể là gì

Mỡ được tìm thấy ở một số nơi trong cơ thể như bên dưới da (mỡ dưới da ), trên đầu thận, trong gan, trong các cơ bắp…

Giới tính nam hay nữ cũng quyết định đến việc mỡ tập trung nhiều ở đâu:

✔ Một người đàn ông trưởng thành có xu hướng tập trung mỡ ở ngực, bụng và mông, tạo thành hình “quả táo”.

✔ Một phụ nữ trưởng thành có xu hướng tập trung mỡ ở ngực, hông, eo và mông, tạo thành hình “quả lê”.

Sự khác biệt về vị trí tập trung mỡ đến từ hormone giới tính estrogen và testosterone. Các tế bào mỡ được hình thành ở thai nhi đang phát triển trong thai kì thứ ba. Khi bắt đầu dậy thì, các hormone giới tính “khởi động”, sự khác biệt trong việc tích mỡ giữa nam và nữ bắt đầu hình thành. Một sự thật đáng ngạc nhiên là các tế bào mỡ thường không được tạo ra thêm sau tuổi dậy thì, số lượng tế bào mỡ vẫn giữ nguyên. Mỗi tế bào mỡ chỉ đơn giản là lớn hơn!

*Có hai trường hợp ngoại lệ: cơ thể có thể tạo ra nhiều tế bào mỡ hơn nếu người trưởng thành tăng cân đáng kể hoặc thực hiện hút mỡ.

3. Phân loại mỡ trong cơ thể

Cơ thể con người chứa hai loại mô mỡ:

Tế bào mỡ trắng như một túi nhựa nhỏ chứa một giọt chất béo. Tế bào mỡ trắng là những tế bào lớn có rất ít tế bào chất, chỉ có 15% thể tích tế bào, một nhân nhỏ và một giọt chất béo lớn chiếm tới 85% thể tích tế bào. Mỡ trắng ít ty thể và mạch máu, do đó có màu trắng nhạt hoặc màu vàng. Mỡ trắng chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong cơ thể, được tìm thấy ở dưới da, bụng, đùi và nội tạng.

Mỡ trắng có nhiệm vụ lưu trữ năng lượng cần thiết cho các hoạt động hàng ngày trong các giọt chất béo tích tụ xung quanh cơ thể; giúp giữ ấm và là tấm đệm cơ học cho cơ thể.

Mỡ trắng thường tăng nhiều trong cơ thể do năng lượng calo nhập vào quá nhiều do ăn uống thừa mứa, và tiêu tốn quá ít do lười vận động. Việc tích tụ quá nhiều mỡ trắng không tốt vì có thể dẫn đến béo phì. Chất béo trắng tích tụ nhiều ở bụng còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường và các bệnh khác.

Mỡ nâu gồm những giọt nhỏ chất béo và một số lượng lớn ty thể có chứa sắt, cùng với rất nhiều mạch máu khiến mỡ có màu nâu. Mỡ nâu thường tích tụ quanh vai và cổ. Mỡ nâu chiếm khoảng 5% tổng khối lượng cơ thể trẻ sơ sinh. Sau khi sinh ra lượng mỡ nâu giảm dần khiến người trưởng thành có nồng độ mỡ nâu thường thấp hơn trẻ con.

Khi được kích hoạt, mỡ nâu đốt cháy mỡ trắng sinh ra năng lượng, vì thế mỡ nâu thường được gọi là chất béo “tốt”, hỗ trợ điều trị bệnh béo phì, giúp kiểm soát lượng đường trong máu, cải thiện nồng độ insulin, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường týp 2… Loại mỡ này cũng có thể giúp bạn loại bỏ chất béo trong máu và giảm nguy cơ tăng mỡ máu.

Vì người trưởng thành có ít hoặc không có mỡ nâu, bài viết này sẽ tập trung vào mỡ trắng là chủ yếu. Khi chúng tôi đề cập đến mỡ trong cơ thể, nó có nghĩa là mỡ trắng.

Khi bạn mới sinh ra, cơ thể bạn không có nhiều mỡ trắng để giúp cách nhiệt và giữ nhiệt cho cơ thể; mặc dù có các tế bào mỡ trắng, nhưng không có nhiều chất béo được lưu trữ trong chúng. Các tế bào mỡ nâu bao gồm một số giọt chất béo nhỏ hơn và được nạp với ty thể, có thể tạo ra nhiệt. Một em bé sơ sinh sinh ra nhiệt chủ yếu bằng cách phá vỡ các phân tử chất béo thành axit béo trong các tế bào mỡ nâu. Thay vì các axit béo rời khỏi tế bào mỡ nâu, như xảy ra trong các tế bào mỡ trắng, chúng bị phá vỡ thêm trong ty thể và năng lượng của chúng được giải phóng trực tiếp dưới dạng nhiệt. Quá trình tương tự này xảy ra ở động vật ngủ đông, có nhiều mỡ nâu hơn con người. Một khi bé sơ sinh bắt đầu ăn nhiều hơn, phát triển các lớp mỡ trắng, mỡ nâu sẽ biến mất. Con người trưởng thành có ít hoặc không có mỡ nâu.

Mỡ từ thức ăn đi vào cơ thể như thế nào?

Khi bạn ăn thực phẩm có chứa mỡ, chủ yếu là chất béo trung tính triglyceride, nó sẽ đi qua dạ dày và ruột của bạn. Tại ruột sẽ diễn ra quá trình sau:

✔ Các giọt chất béo lớn được trộn với muối mật từ túi mật trong một quá trình gọi là nhũ hóa. Hỗn hợp phá vỡ các giọt lớn thành nhiều giọt nhỏ hơn gọi là micelles, làm tăng diện tích bề mặt của chất béo.

✔ Tuyến tụy tiết ra các enzyme gọi là lipase tấn công bề mặt của mỗi micelle và phá vỡ chất béo thành các phần nhỏ hơn là glycerol và axit béo.

✔ Những phần này được hấp thụ vào các tế bào niêm mạc ruột.

✔ Trong tế bào ruột, những phần này được ghép lại thành các gói phân tử chất béo (triglyceride) với lớp phủ protein gọi là chylomicrons. Lớp phủ protein làm cho chất béo hòa tan dễ dàng hơn trong nước.

✔ Các chylomicron được giải phóng vào hệ bạch huyết – chúng không đi trực tiếp vào máu vì chúng quá lớn để đi qua thành mao mạch.

✔ Hệ thống bạch huyết cuối cùng hợp nhất với các tĩnh mạch, tại đó các chylomicron đi vào máu.

Bạn có thể tự hỏi tại sao các phân tử chất béo bị phân hủy thành glycerol và axit béo trong khi vẫn được ghép lại về sau. Điều này là do các phân tử chất béo quá lớn để dễ dàng xuyên qua màng tế bào. Vì vậy, khi đi từ ruột qua các tế bào ruột vào bạch huyết, hoặc khi vượt qua bất kỳ hàng rào tế bào nào, chất béo phải bị phá vỡ. Nhưng, khi chất béo được vận chuyển trong bạch huyết hoặc máu, tốt hơn là nên có một vài phân tử chất béo lớn hơn nhiều axit béo nhỏ hơn, bởi vì chất béo lớn hơn không “thu hút” nhiều phân tử nước dư thừa bằng cách thẩm thấu như nhiều phân tử nhỏ hơn.

Mỡ được tích tụ trong cơ thể như thế nào?

Các Chylomicron không tồn tại lâu trong máu – chỉ khoảng tám phút – bởi vì các enzyme gọi là lipoprotein lipase phá vỡ chất béo thành axit béo. Lipase lipoprotein được tìm thấy trong các thành mạch máu trong mô mỡ, mô cơ và cơ tim.

Khi bạn ăn, sự hiện diện của glucose, axit amin hoặc axit béo trong ruột kích thích tuyến tụy tiết ra một loại hormone gọi là insulin. Insulin tác động lên nhiều tế bào trong cơ thể bạn, đặc biệt là những tế bào ở gan, cơ và mô mỡ. Insulin bảo các tế bào làm như sau:

Hấp thụ glucose, axit béo và axit amin

Ngừng phân hủy glucose, axit béo và axit amin; glycogen thành glucose; chất béo thành axit béo và glycerol; và protein thành axit amin

Bắt đầu xây dựng glycogen từ glucose; chất béo (triglyceride) từ glycerol và axit béo; và protein từ axit amin

Hoạt động của lipoprotein lipase phụ thuộc vào mức độ insulin trong cơ thể. Nếu insulin cao, thì lipase có hoạt tính cao; nếu insulin thấp, lipase không hoạt động.

Các axit béo sau đó được hấp thụ từ máu vào các tế bào mỡ, tế bào cơ và tế bào gan. Trong các tế bào này, dưới sự kích thích của insulin, các axit béo được tạo thành các phân tử chất béo và được lưu trữ dưới dạng các giọt chất béo.

Các tế bào mỡ cũng có thể hấp thụ glucose và axit amin đã được hấp thụ vào máu sau bữa ăn và chuyển chúng thành các phân tử chất béo. Việc chuyển đổi carbohydrate hoặc protein thành chất béo kém hiệu quả gấp 10 lần so với việc lưu trữ chất béo trong tế bào mỡ, nhưng cơ thể có thể làm được.

Nếu bạn có thêm 100 calo chất béo (khoảng 11 gram) trôi nổi trong máu, các tế bào mỡ có thể lưu trữ nó chỉ bằng 2,5 calo năng lượng. Mặt khác, nếu bạn có thêm 100 calo glucose (khoảng 25 gram) trôi nổi trong máu, bạn cần 23 calo năng lượng để chuyển glucose thành chất béo và sau đó lưu trữ. Có một sự lựa chọn, một tế bào chất béo sẽ lấy chất béo và lưu trữ nó chứ không phải là carbohydrate vì chất béo rất dễ lưu trữ.

Mỡ được tiêu thụ trong cơ thể như thế nào?

Khi bạn không ăn, cơ thể bạn không hấp thụ thức ăn. Nếu cơ thể bạn không hấp thụ thức ăn, có rất ít insulin trong máu. Tuy nhiên, cơ thể bạn luôn sử dụng năng lượng; và nếu bạn không hấp thụ thức ăn, năng lượng này phải đến từ carbohydrate, chất béo và protein phức tạp. Trong hoàn cảnh này, các cơ quan khác nhau trong cơ thể bạn tiết ra hormone:

★tuyến tụy – glucagon

★tuyến yên – hormone tăng trưởng

★tuyến yên – ACTH (hormone vỏ thượng thận)

★tuyến thượng thận – epinephrine (adrenaline)

★tuyến giáp – hormone tuyến giáp

Những hormone này hoạt động trên các tế bào của gan, cơ và mô mỡ và có tác dụng ngược lại với insulin.

Khi bạn không ăn, hoặc bạn đang tập thể dục, cơ thể bạn phải rút ra các kho dự trữ năng lượng bên trong. Nguồn năng lượng chính của cơ thể bạn là glucose. Trên thực tế, một số tế bào trong cơ thể bạn, chẳng hạn như tế bào não, chỉ có thể lấy năng lượng từ glucose.

Tuyến phòng thủ đầu tiên trong việc duy trì năng lượng là phá vỡ carbohydrate, hay glycogen, thành các phân tử glucose đơn giản – quá trình này được gọi là glycogenolysis. Tiếp theo, cơ thể bạn phân hủy chất béo thành glycerol và axit béo trong quá trình lipolysis. Các axit béo sau đó có thể được phân hủy trực tiếp để lấy năng lượng, hoặc có thể được sử dụng để tạo glucose thông qua một quá trình gồm nhiều bước gọi là gluconeogenesis. Trong gluconeogenesis, axit amin cũng có thể được sử dụng để tạo glucose.

Trong tế bào chất béo, các loại lipase khác có tác dụng phân hủy chất béo thành axit béo và glycerol. Những lipase này được kích hoạt bởi các hormone khác nhau, chẳng hạn như glucagon, epinephrine và hormone tăng trưởng. Kết quả là glycerol và axit béo được giải phóng vào máu và đi đến gan qua đường máu. Khi ở trong gan, glycerol và axit béo có thể được phân hủy hoặc sử dụng để tạo glucose.

Nguyên tắc duy trì cân nặng khỏe mạnh

Cân nặng của bạn được xác định bởi tốc độ bạn lưu trữ năng lượng từ thực phẩm bạn ăn, và tốc độ sử dụng năng lượng đó. Hãy nhớ rằng khi cơ thể bạn phân hủy chất béo, số lượng tế bào mỡ vẫn giữ nguyên; mỗi tế bào mỡ chỉ đơn giản là nhỏ hơn.

Hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng cách để duy trì cân nặng khỏe mạnh là:

Ăn một chế độ ăn uống cân bằng – lượng carbohydrate, chất béo và protein thích hợp

Không ăn quá nhiều – đối với hầu hết mọi người, chế độ ăn từ 1.500 đến 2.000 calo mỗi ngày là đủ để duy trì cân nặng khỏe mạnh

Tập thể dục thể thao đều đặn.

Mỡ là loại chất béo vô cùng quan trọng cho cơ thể. Hiểu về quá trình hình thành và chuyển hóa mỡ sẽ giúp bạn duy trì được cân nặng khỏe mạnh đúng phương pháp và khoa học hơn. Theo chúng tôi

Chức Năng Của Gan Trong Quá Trình Tiêu Hóa?

Một trong những nhiệm vụ chính của gan là cung cấp cho cơ thể một nguồn năng lượng liên tục, ngày cũng như đêm, no cũng như đói. Thực phẩm hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa, sẽ được gan biến chế và chuyển hóa thành nhiều thể loại rồi được dự trữ dưới nhiều hình thức khác nhau. Các nhiên liệu dự trữ này sẽ được mang ra dùng trong lúc chúng ta không ăn uống hoặc nhịn đói. Ðây là quá trình rất phức tạp và lệ thuộc vào nhiều cơ quan khác nhau như tuyến giáp trạng (thyroid glands), tuyến tụy tạng (pancreas), tuyến thượng thận (adrenal glands), cũng như hệ thống thần kinh (parasympathetic & sympathetic systems), v.v.

1) CHUYỂN HÓA CHẤT ÐƯỜNG: Ðường là nguồn năng lượng chính cho óc, hồng huyết cầu, bắp thịt và thận. Khi sự cung cấp nhiên liệu và thức ăn từ hệ thống tiêu hóa bị gián đoạn, sự sống còn của các tế bào và cơ quan kể trên sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào gan. Trong thời gian “nhịn ăn” này, gan là cơ quan chính chế tạo và cung cấp chất đường cho cơ thể, nhất là cho óc. Khi gan bị chai, khả năng biến hóa chất đường bị tổn thương dễ đưa đến sự thăng giảm thất thường của chất đường trong máu.

Ðường trong thức ăn nằm dưới nhiều dạng khác nhau: đường đơn (monosaccharide), đường đôi (disaccharide), và tinh bột. Từ hệ thống tiêu hóa, đường đơn được hấp thụ thẳng vào máu và có thể được tiêu thụ ngay lập tức mà không cần phải biến chế hoặc thay đổi. Ðường trong đa số các loại thực phẩm và trái cây thường nằm dưới dạng đường đôi. Một trường hợp ngoại lệ là nho, một loại trái cây chứa đựng nhiều glucose (một loại đường đơn) nhất. Ðường đôi như lactose (đến từ sữa), sucrose (đến từ các loại đường mía, đường củ cải cũng như đa số các loại trái cây) cần phải được tách ra thành đường đơn trước khi được hấp thụ. Nhiều người Việt Nam, vì thiếu phân hóa tố lactase, nên không thể tiêu hóa được chất sữa (lactose intolerance). Những người này thường bị sình bụng, đau quặn bụng hoặc tiêu chảy sau mỗi lần uống sữa hoặc tiêu thụ các sản phẩm pha chế từ sữa như bơ, cheese, v.v.

Tinh bột (starch) cũng là một dạng tồn trữ chất đường trong nhiều loại thực vật khác nhau như gạo, mì, khoai, v.v. Khi chúng ta ăn cơm, tinh bột từ gạo sẽ được chuyển hóa thành nhiều đơn vị đường khác nhau. Vì thế, khi tiêu thụ thức ăn với nhiều tinh bột, chất đường trong máu của chúng ta sẽ tăng lên chậm chạp hơn, so với trường hợp nếu chúng ta uống một ly nước nho với toàn là đường đơn.

2) SẢN XUẤT VÀ CHUYỂN HÓA CHẤT ACID BÉO (Fatty Acid) và MỠ (lipids): Acid béo là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất được dự trữ trong cơ thể chúng ta và cũng là thành phần cơ bản của nhiều loại mỡ (lipids) quan trọng, kể cả chất triglyceride. Các loại mỡ này có thể được so sánh như những viên gạch của một căn nhà. Vì thế, khi gan bị tổn thương, “nhà” sẽ bị rạn nứt, dễ đổ vỡ. Gan cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp thu và biến chế các chất mỡ và cholesterol đến từ thức ăn thành những chất đạm mỡ (lipoproteins). Những chất mỡ này không những chỉ là những nguồn nguyên liệu quý báu khi đói, mà còn là những thành phần cơ bản của nhiều chất hóa học và kích thích tố khác nhau. Sự điều chỉnh các chất mỡ này là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể chúng ta trước nhiều bệnh tật. Chất mỡ và cholesterol được tìm thấy nhiều nhất ở các loại thịt mỡ, thịt nâu (dark meat), một số đồ biển như tôm, cua v.v.

3) BÀO CHẾ & THOÁI BIẾN CHẤT ÐẠM (Protein Synthesis & Degradation): Gan là cơ quan chính trong việc bào chế và thoái biến chất đạm. Mỗi ngày gan bào chế khoảng 12g chất albumin, một trong những chất đạm quan trọng nhất trong cơ thể. Ngoài nhiệm vụ duy trì áp suất thể tích (oncotic pressure), chất albumin này là những “xe vận tải” chuyên chở nhiều chất hóa học khác nhau. Khi gan bị chai, chất albumin giảm dần, dễ đưa đến phù thủng (edema). Ngoài ra, gan là cơ quan chính bào chế những yếu tố đông máu (clotting factors). Khi gan bị viêm lâu năm, sự đông đặc của máu trở nên khó khăn, người bệnh dễ bị chảy máu. Hơn nữa, khi thiếu chất đạm, bệnh nhân viêm gan sẽ dễ bị nhiễm trùng và các vết thương sẽ khó lành hơn.

4) THANH LỌC ÐỘC TỐGan và thận là hai cơ quan chính trong cơ thể có khả năng loại bỏ các độc tố. Những độc tố dễ-tan-trong-nước (water-soluble) sẽ được loại qua thận. Những độc tố tan-trong-mỡ (lipid-soluble), sẽ được biến chế bởi những tế bào gan thành những chất kém nguy hiểm hơn, hoặc dễ hòa tan trong nước hơn. Khi gan bị chai, những độc tố sẽ ứ đọng lại trong cơ thể.

5) TỔNG HỢP CHẤT MẬTChất mật (bile) sau khi được chế tạo trong tế bào gan, sẽ được cô đọng và dự trữ trong túi mật. Sau mỗi bữa cơm, chất mật sẽ theo ống dẫn mật đi xuống tá tràng, trà trộn với thức ăn và giúp cơ thể nhũ hóa các chất béo. Khả năng sản xuất chất mật của người bị chai gan sẽ từ từ giảm dần gây ra trở ngại trong vấn đề hấp thụ chất mỡ và chất béo. Vì thế, họ sẽ dần dần mất ký rồi trở nên thiếu dinh dưỡng cũng như thiếu những vitamins tan-trong-mỡ như vitamin A, D, E, K. Khi thiếu vitamin K, họ sẽ dễ bị chảy máu hơn.

Tóm lại, gan đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sức khỏe của chúng ta. Gan được so sánh như người lính dũng cảm, canh gác những tiền đồn, giao tranh và phân giải tất cả các hóa tố đến từ hệ thống tiêu hóa, cũng như những cặn bã từ những hệ thống khác “lang thang” trong máu. Vì thế, một trong những nhiệm vụ chính của gan là thanh lọc độc tố. Tuy nhiên, vì không hoàn toàn là một “bộ phận siêu Việt” (super organ), gan cũng có thể bị tàn phá bởi độc tố, vi trùng, vi khuẩn và nhiều bệnh tật khác nhau. May mắn thay, với khả năng tự tái tạo, trong đa số trường hợp viêm gan kinh niên (còn được gọi là mãn tính), gan vẫn tiếp tục hoạt động một cách tương đối bình thường trong một thời gian dài.