Quá Trình Nitrat Hóa Là Gì?các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Quá Trình Nitrat Hóa

--- Bài mới hơn ---

  • Chặn Đứng Nạn Cát Bay, Cát Nhảy
  • Hiện Tượng Cát Bay, Cát Chảy Lấn Đồng Ruộng Xảy Ra Nghiêm Trọng Ở Vùng Ven Biển Miền Trung Nước Ta Là Do Nhân Tố Nào Sau Đây Gây Ra?
  • Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương Và Biện Pháp Phòng Chống
  • Nguyên Nhân Gây Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương Hiện Na
  • Trình Bày Hiện Trạng, Nguyên Nhân, Hậu Quả Của Vấn Đề Ô Nhiễm Nguồn Nước Ngọt Biển Và Đại Dương. Nêu Cách Khắc Phục Câu Hỏi 67216
  • Trong nước có chứa 2 loại chất dinh dưỡng cần sự quan tâm hàng đầu đó là nitrogen và phosphorus. Các sinh vật đều cần hai dưỡng chất này để phát triển. Tuy nhiên nếu chúng hiện diện ở số lượng lớn sẽ làm mất cân bằng dinh dưỡng trong thủy vực đưa đến một số loài sẽ phát triển nhanh trong khi một số loài có thể giảm số lượng cá thể hoặc tiêu diệt hoàn toàn. Quá trình nitrat hóa chính là giải pháp cho vấn đề này.

    Quá trình nitrat hóa là gì?

    – Quá trình nitrat hóa là một quá trình tự dưỡng (năng lượng cho sự phát triển của vi khuẩn được lấy từ các hợp chất ôxy hoá của Nitơ, chủ yếu là Amôni.

    + Vi khuẩn nitrit: oxy hóa amoniac thành nitrit hoàn thành giai đoạn thứ nhất.

    + Vi khuẩn nitrat: oxy hóa nitrit thành nitrat, hoàn thành giai đoạn thứ hai.

    – Quá trình nitrat hóa diễn ra qua hai giai đoạn

    + Giai đoạn 1: Chuyển hóa NH4+ thành NO2- bởi nhóm vi khuẩn Nitrite hóa

    + Giai đoạn 2: Chuyển hóa NO2- thành NO3- bởi nhóm vi khuẩn Nitrat hóa

    – Tốc độ của giai đoạn thứ nhất xảy ra nhanh gấp 3 lần so với giai đoạn hai.

    – Độ pH

    Quá trình nitrat hóa sẽ tạo ra axit, do đó làm giảm độ pH của quần thể sinh học, từ đó làm giảm tốc độ tăng trưởng của vi khuẩn nitrat hóa. Quá trình nitrat hóa bị ức chế khi pH dưới 6.5 và dừng ở pH 6.0.

    – Nhiệt độ

    Ở nhiệt độ 40°C và cao hơn, tỷ lệ nitrat hóa giảm xuống gần bằng không. Ở nhiệt độ dưới 20°C, quá trình nitrat hóa diễn ra ở tốc độ chậm hơn, nhưng sẽ tiếp tục ở nhiệt độ dưới 10°C nhưng sẽ không thể tiếp tục nếu mất đi độ kiềm, cho đến khi nhiệt độ nước thải tăng lên gần 15°C.

    – Chất độc

    Một số hợp chất độc hại nhất đối với vi khuẩn nitrat hóa bao gồm xianua, thiourea, phenol và kim loại nặng như bạc, thủy ngân, niken, crôm, đồng và kẽm.

    Những điều cần biết về quá trình nitrat hóa

    – Tùy thuộc vào pH, amoniac gây độc hại đối với thủy sinh ngay tại nồng độ thấp như 0.5 mg/l.

    – Ni-tơ chiếm 12-14% khối lượng protein trong tế bào.

    – Độc tính của amoniac chủ yếu bắt nguồn từ dạng chưa ion hóa (NH3), trái ngược với dạng ion (NH4+). Nhìn chung, hàm lượng NH3 và độc tính càng tăng khi pH càng cao.

    Hiện nay, việc ứng dụng vi khuẩn Nitrat hóa vẫn được ứng dụng đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam. Quý bà con còn thắc mắc về quá trình Nitrat hóa hãy liên hệ ngay 1900 2620 để nhận được sự hỗ trờ từ các chuyên gia.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vi Sinh Vật Môi Trường
  • Khái Niệm Và Ví Dụ Chi Tiết Nhất Về Phép Hoán Dụ
  • Hoán Dụ Là Gì, Lấy Ví Dụ Ngữ Văn 6 (Có Giải Bài Tập)
  • Hoán Dụ Là Gì? Các Kiểu Hoán Dụ? Sự Khác Nhau Giữa Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Phương Pháp Phân Biệt Hai Biện Pháp Tu Từ: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Biện Pháp Khắc Phục Hạn Chế Trong Quá Trình Thi Công Sàn Nhẹ Uboot

    --- Bài mới hơn ---

  • Thiết Kế Và Sử Dụng Cừ Nhựa Upvc Trong Thực Tế
  • Giải Pháp Chống Sói Lở Bằng Cừ Bản Nhựa Upvc
  • Thi Công Đóng Cừ Nhựa Upvc Uy Tín Giá Rẻ Chuyên Nghiệp Tại Tphcm
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Vỉa Hè
  • Tài Liệu Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Vỉa Hè
  • Mô tả chi tiết

    Khi thi công sàn nhẹ Ubot nếu không tính toán kỹ lưỡng rất dễ xảy ra các vấn đề. Phú Hòa An xin chia sẻ các nguyên nhân cùng những biện pháp khắc phục hạn chế trong quá trình thi công sàn nhẹ Uboot. Giúp giảm tối đa chi phí và những thiệt hại không đáng có về người và của.

    1. Hiện tượng đẩy nổi hộp Box

    – Do việc dùng thép C neo hai lớp thép trên và dưới với nhau chưa đủ mật độ 4 chiếc/1m2.

    – Do tốc độ bơm bê tông lớp 1 quá nhanh và mạnh dẫn đến việc hộp bị xô lệch, đẩy nổi.

    – Do khi sử dụng không đúng theo hướng dẫn đổ đầy bê tông ngập toàn bộ hộp bê tông dẫn đến áp lực bê tông vào hộp lớn.

    – Do quá trình đổ và dùng đầm dùi không đúng theo hướng dẫn vì vậy dẫn đến việc áp lực của bê tông làm đẩy nổi hộp bot.

    – Do quá trình đổ bê tông lớp thứ 2 vòi bơm xả thẳng vào các khe hộp làm tăng áp lực bê tông dẫn đến đẩy nổi hộp ubot.

    – Do quá trình đầm bê tông lớp thứ 2, đầm quá kỹ, đầm sâu xuống lớp 1 làm tăng áp lực bê tông dẫn đến đẩy nổi hộp bot.

    – Thời gian chuyển giao giữa lần đổ bê tông lớp 1 và lớp 2 quá nhanh khi chưa đảm bảo bê tông lớp 1 ổn định giữ chân hộp ubot (bê tông lớp 1 cần se lại trước khi đổ lớp 2).

    – Trước khi đổ gia cường đẩy đủ thép C cấu tạo chống đẩy nổi.

    – Khi đẩy ống bơm nên bơm đúng khe của hàng hộp ubox, đẩy ống bơm chạy theo hình zic zắc đồng thời các đầm đi theo cần bơm và đầm bê tông đảm bảo tràn kíp chân Hộp.

    2. Hiện tượng có vết nứt

    Nguyên nhân gây ra hiện tượng rạn nứt bê tông nứt ngang thuộc về vật liệu và hỗn hợp trộn, công tác thi công và các yếu tố khác như thiết kế kết cấu. Các vết nứt ngang thường xuất hiện sau khi đổ xong bê tông và độ rộng của vết nứt phát triển theo thời gian. Hiện tượng này rất phổ biến ở khắp mọi nơi, trên nhiều loại kết cấu, nó có thể làm đẩy nhanh quá trình ăn mòn cốt thép của bê tông. Nên việc xử lý rạn nứt sàn, rạn nứt bê tông giúp chống thấm cho công trình được hiệu quả.

    – Sử dụng phụ gia R3/R7/R14 là phụ gia siêu hóa dẻo, phát triển nhanh cường độ cho bê tông ở giai đoạn đầu. Các loại phụ gia này tăng tốc quá trình thủy hóa để đạt cường độ sớm đồng nghĩa với mức độn tỏa nhiệt của bê tông sẽ bị thay đổi vì vậy làm giảm hàm lượng nước trong bê tông. Kết quả bê tông sẽ bị khô vì mất nước và dẫn tới hiện tượng rạn nứt.

    – Tháo cốt pha sớm khi sàn bê tông chưa đạt cường độ.

    – Tháo cốt pha tầng dưới sớm khi đổ bê tông tầng tiếp theo dẫn tới hiện tượng nứt do tải trọng thi công lớn hơn tải trọng thiết kế.

    + Do quá trình bảo dưỡng sàn không đúng quy trình.

    + Do điều kiện khí hậu trong lúc đổ bê tông.

    + Mác bê tông không đủ theo thiết kế.

    + Tỉ lệ cốt liệu không đảm bảo.

    + Đầm không kĩ trong quá trình đổ bê tông.

    + Nước sử dụng trộn bê tông không đảm bảo. Xảy ra hiện tượng mất nước xi măng(do ngấm xuống đất, do ván khuôn sàn bị hở…).

    + Đổ bê tông không đều. Đô dày sàn giảm ở giữa (do thi công không kiểm tra kỹ)

    + Thời gian cấp bê tông không liên tục, dẫn tới bê tông bị khô cứng/phân tầng.

    + Bề rộng khe nứt bé đi tại vị trí gặp các thanh cốt thép (dọc) trong cấu kiện bê tông cốt thép và mở rộng theo bề mặt của cấu kiện. Vì vậy chiều dày lớp bê tông bảo vệ và khoảng cách giữa các thanh cốt ảnh hưởng tới bề mặt khe nứt. Các thanh thép nên được bố trí đều và tương đối gần với hai mặt bên và mặt đáy của dầm hoặc sàn.

    + Bố trí thép ít và đặt quá thưa, bản quá rộng.

    + Nối buộc không cẩn thận.

    * Xử lý vết nứt bằng hệ thống xy lanh

    Vệ sinh và kiểm tra kích thước vết nứt

    Xác định vị trí đặt xy lanh

    – Khoan và vệ sinh lỗ khoan trước khi lắp đế nhựa gắn vào xy lanh, cần đảm bảo các đế nhựa gắn cố định vào mũi khoan.

    – Trám bề mặt vết nứt bằng keo kết dính DY-101

    – Lắp xy lanh Epoxy SL-1400 (khoảng cách Xy Lanh từ 20-25cm). Gỡ bỏ xy lanh khi keo DY-101 đạt cường độ.Tiến hành thử nước trong vòng 24 giờ sau khi thi công 48 giờ.

    * Xử lý vết nứt bằng LEAFSEAL WP 503

    + Nguyên lý hoạt động của LEAFSEAL WP 503LEAFSEAL WP 503 kết hợp với nước và bê tông để thúc đẩy phản ứng của những phản ứng của xi măng chưa được thủy hóa, tạo ra những tinh thể hình kim, không hòa tan. Sau vài tuần hoặc vài tháng nhưng tinh thể sẽ phát triển và lấp đầy các khe nứt và lỗ rỗng tự nhiên trong bê tông, chặn đứng hoàn toàn đường dẫn nước vào bê tông

    Việc tinh thể hình thành từ bệ mặt và phát triển sâu vào bên trong, giữa các hệ thống mao dẫn của bê tông giúp cho bê tông được hình thành vĩnh cửu.

    3. Hiện tượng có lỗ rỗng dưới đáy hộp ubot

    – Do độ sụt quá thấp (bê tông khô) dẫn tới quá trình đầm bê tông không lấp đầy chân hộp ubox.

    – Yêu cầu độ sụt bê tông trong quá trình thi công sàn ubot: 16 ± 2cm

    – Do quá trình đầm bê tông không đủ các vị trí quy định, đầm sót vị trí.

    – Do lắp đặt thép khoảng cách thép gia cường quá gần với chân hộp ubot dẫn đến cốt liệu bê tông không thể lèn qua để lấp đầy chân hộp ubot.

    – Sử dụng độ sụt bê tông theo đúng yêu cầu kỹ thuật.

    – Đổ và đầm bê tông đúng phương pháp theo chỉ dẫn kỹ thuật.

    – Lắp đặt thép gia cường có khoảng cách 30-40mm đủ để hỗn hợp bê tông lèn và lấp đầy chân hộp.

    – Đầm không bỏ sót tại các vi trí góc hộp ubot.

    ĐỐI TÁC

    THỐNG KÊ

    Lượt truy cập: 12660297

    Đang online: 17

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thi Công Sàn Uboot Beton
  • Lập Biện Pháp Thi Công Tầng Hầm Theo Công Nghệ Bottom
  • Công Nghệ Thi Công Tầng Hầm Bottom
  • Hướng Dẫn Quy Trình Trát Tường Nhà Chi Tiết, Đầy Đủ, Đúng Kĩ Thuật
  • Biện Pháp Thi Công Phần Hoàn Thiện
  • Tác Dụng Của Từng Loại Vitamin Và Cách Hạn Chế Hao Tổn Trong Quá Trình Chế Biến

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Cấu Tạo Và Chức Năng Của Làn Da
  • Sử Dụng Các Phương Tiện Dạy Học Khác Như Tranh Ảnh Sơ Đồ, Biểu Bảng, … Trong Dạy Học Hóa Học
  • Hướng Dẫn Cách Dùng Các Tính Năng Trên Điều Khiển Điều Hòa Gree
  • Sử Dụng Remote Điều Khiển Điều Hòa Gree 1 Chiều Như Thế Nào Cho Đúng?
  • Tìm Hiểu Về Wifi Cách Hoạt Động Của Wifi
  • Hạn chế hao tổn vitamin trong chế biến

    Phần lớn các vitamin hoạt động như một phức hợp hoạt hóa men, tham gia vào quá trình biến đổi dự trữ năng lượng trong cơ thể. Một số khác ảnh hưởng tới quá trình oxy hóa. Nhiều loại có tác dụng cấu tạo nên hormon tham gia vào quá trình tăng trưởng và khoáng hóa xương, hoạt động nhân lên của tế bào, tham gia vào quá trình miễn dịch của cơ thể, tổng hợp các chất trung gian của hệ thần kinh, đào thải, trung hòa các chất độc, làm chậm quá trình lão hóa của cơ thể.

    Nhiều công trình điều tra dịch tễ học trên quy mô lớn đã cho thấy ảnh hưởng của nhiều loại vitamin đối với bệnh tật nhất là đối với người có tuổi.

    Thiếu nhiều vitamin thường gây ra một số triệu chứng dễ mệt, ăn kém ngon, người gầy, bụng đầy có nhiều hơi, hay ợ hơi, đau vùng thượng vị, đau vùng trước tim, giấc ngủ không sâu, giảm trí nhớ, chóng mặt, đau đầu, người xanh xao, đau lưng, mỏi khớp, khả năng làm việc giảm, sức đề kháng với bệnh tật kém, mắt mờ, tai nghe kém, sinh dục suy yếu…

    Từ giảm sút hàm lượng vitamin của cơ thể tất yếu đưa đến rối loạn chuyển hóa các chất dễ dẫn tới bệnh này tật khác. Tuy nhiên khi có các dầu hiệu trên thì lúc đó cơ thể chúng ta đã rất thiếu rồi.

    Vì vậy việc làm tăng độ hấp thụ, giảm tổn thất vitamin trong quá trình chế biến là vô cùng quan trọng. Khi có tuổi cũng cần bổ sung vitamin bằng những nguồn khác nữa.

    VITAMIN A

    1. Vai trò và chức năng của vitamin A:

    – Tham gia trong quá trình cảm quang của mắt

    – Thiếu vitamin A:

    + Khô mắt, khô giác mạc, nhẹ hơn là bị quáng gà

    + Da, màng nhày, niêm mạc bị khô, bị sừng hóa, VK dễ xâm nhập dẫn tới nhiễm trùng da

    – Giúp quá trình thụ phấn và thụ tinh ở thực vật thuận lợi

    – Thừa vitamin A cơ thể sẽ chuyển sang trngj thái bị nôn, đau đầu, nhìn một thành hai, đau xương, khô da, rụng tóc, tổn thương gan (u xơ gan)

    – Trong những tháng đầu của phụ nữ có thai sử dụng thừa vitamin A có thể dẫn đến sinh quái thai

    2. Nhu cầu vitamin A mỗi ngày:

    Người trưởng thành từ 1 – 2,5mg/ngày; trẻ em từ 2,5 – 5mg/ngày

    3. Nguồn cung cấp:

    Vitamin A có nhiều trong gan cá (A1: cá trong nước mặn, A2: cá trong nước ngọt), dầu cá, động vật biển, mỡ bò, trứng sữa…

    – Ở thực vật, caroten có nhiều trong các loại rau quả sẫm màu như ớt, cà rốt, hành lá, bí đỏ, gấc, cà chua….

    4. Ảnh hưởng quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm:

    + Trong quá trình chế biến thực phẩm cũng sẽ làm giảm lượng vitamin A có trong đó.

    + Lượng vitamin A bị giảm này phụ thuộc vào oxy, ánh sáng, nhiệt độ, nồng độ, pH của quá trình chế biến.

    + Trong môi trường trung tính và môi trường kiềm chỉ cần gia tăng nhiệt độ là vitamin A bị phá hủy

    + Trong muôi trường acid hoặc dầu vitamin A vẫn bị biến đổi, nhưng vẫn bảo toàn phần lớn lượng vitamin A ở bên trong sản phẩm

    + Trong môi trường có oxy, vitamin A dễ dàng bị oxy hóa

    + Bảo quản vitamin A bằng cách cho thêm chất chống oxy hóa vào sản phẩm như: Vitamin C, vitamin E

    VITAMIN D

    Vitamin D có thể chịu được các nhiệt độ thông thường. Trừng đun sôi 20 phút vẫn giữ được nguyên vẹn vitamin D.

    1. Vai trò và chức năng sinh học của vitamin D:

    – Vitamin D (canxipherol) là hoocmon D tham gia vào việc điều hòa trao đổi canxi và phốt pho chuyển phốt ph hữu cơ thành vô cơ, tăng lượng phốt pho ở huyết thanh máu

    – Thiếu vitamin D, quá trình trao đổi canxi và phốt pho sẽ rối loạn. Trẻ bị còi xương, răng mọc chậm, xương mềm và cong.

    2. Nguồn cung cấp vitamin D

    – Vitamin D (D1, D2, D3, …D6…) có nhiều trong bơ, trứng, sữa, gan động vật nhất là gan cá biển. Dạng tiền thân của vitamin D2 là ecgosterol có trong lá, rễ quả của nhiều loại thực vật, ngoài ta hàm lượng ecgosterol khá cao trong nấm mốc, nấm mem. Trên da người có 7 loại dehydrocolesterol, dạng tiền thân trực tiếp của vitamin D3

    – Nói chung các dạng tiền vitamin D dễ dàng chuyển hóa thành vitamin D dưới tác động của tia tử ngoại. Do đó, ngươi ta có phương pháp chuwac bệnh cho trẻ bị còi xương do thiếu vitamin D bằng cách cho tắm nắng

    3. Nhu cầu vitamin D

    – Vitamin D được xác định theo đơn vị quốc tế UI (1UI – 0,025mg canxipherol)

    – Nhu cầu vitamin D:

    + Trẻ em 300 – 400 UI/ ngày

    + Phụ nữ có thai: 500UI/ngày

    VITAMIN E

    1. Vai trò và chức năng sinh học

    – Vitamin E là chất chống oxy hóa, có tác dụng ngăn ngừa sự oxy hóa các axit béo không no, hợp chất cần thiết cho sự bền vững và ổn định của màng tế bào. Thiếu vitamin E, khả năng sinh sản của người và động vật bị ảnh hưởng, cơ và hệ thần kinh phát triển không bình thường.

    – Ở thực vật, vitamin E giữ vai trò như là chất vận chuyển điện tử trong quá trình photphoryl hóa oxy hóa.

    2. Nguồn cung cấp vitamin E: Có nhiều trong dầu thực vật, các loại rau cải, xà lách, mầm hạt đậu đỗ, ngũ cốc, mỡ bò, mỡ cá

    3. Nhu cầu vitamin E:

    Người bình thường cần khoảng 10 – 30mg/ngày

    4. Ảnh hưởng trong quá trình chế biến và bảo quản thực phẩm:

    – Vitamin E bền với nhiệt độ, có thể chịu được mọi quá trình chế biến mà không bị hao hụt đáng kể

    – Trong kỹ nghệ sản xuất dầu thực vật vitamin E được sử dụng làm chất chống oxy hóa

    VITAMIN K

    1. Vai trò và chức năng sinh học:

    – Cần cho quá trình đông máu: Tham gia cào nhóm hoạt động của enzim xúc tác cho quá trình tổng hợp chất protrombin: protrombin – Trombin – Fibrinigen – fibrin (giúp cho quá trình đông máu).

    – Thiếu : chảy máu tự phát (chảy máu cam, chảy máu bên trong), vết thương khó cầm máu

    – Trẻ sơ sinh, người mắc bệnh gan, bệnh đường ruột, rối loạn sự tiết mật….thường bị thiếu vitamin K – Bổ sung vitamin K cho cơ thể.

    – Ở thực vật, vitamin K tham gia vào quá trình vận chuyển điện tử trong quang hợp

    2. Nguồn cung cấp vitamin K

    – Có trong các loại rau xanh như bắt cải, rau dền….., ngoài ra còn tìm thấy trong gan, thận, thịt đỏ của động vật.

    3. Nhu cầu vitamin

    – Hệ vi khuẩn đường ruột ở người có khả năng tổng hợp được vitamin K – Nhu cầu vitamin k không lớn.

    – Ở trẻ sơ sinh, do hệ vi khuẩn đường ruột chưa phát triển nên cần khoảng 10 – 15mg/ngày.

    -Người lớn cần ít hơn 1mg/ngày

    VITAMIN C

    1.Vai trò và chức năng sinh học

    – Tham gia các phản ứng oxy hóa khử của quá trình trao đổi chất

    – Than gia quá trình trao đổi axit nuccleic, quá trình oxy hóa các axit amin có nhân thơm như Tỷ, Phe

    – Vitamin C là coenzim của enzim xúc tác phản ứng thủy phân thioglucozit, hoạt hóa hàng loạt các enzim như amilaza, acginaza, proteinaza…

    – Thiếu vitamin C sẽ mắc bệnh hoại huyết (scorbut): chảy máu ở loiwij, lỗ chân lông và các nội quan….

    2. Nguồn cung cấp vitamin C

    Có nhiều trong các loại rau, củ, quả tươi như cà chua, khoai tây, hành lá, xúp lơ, táo, chanh, ớt, cóc, ổi

    3. Nhu cầu vitamin C

    Nhu cầu trung bình khoảng 50 – 100mg/ngày

    4. Ảnh hưởng của quá tình chế biến và bảo quản thực phẩm đến hàm lượng vitamin C

    – Vitamin C có tính khử mạnh, dễ bị oxy hóa do sự hiện diện của nhóm dienol trong phân tử của nó

    + Ở môi trường acid, hàm lượng vitamin khá ổn định

    + Tính kháng O2 vủa vitamin C: đối với một số dịch quả có chứa polyphenol (chất ở sung, mơ, thị…) sự có mặt của vitamin C làm giảm sự xẫm màu, do sự khử oxy của vitamin C

    – Trong chế biến sơ bộ, vitamin C bị tổn thất ít nhiều

    + Ray của quat gọt vỏ bị mất một phần vitamin C trong vỏ thái bỏ

    + Ngâm trong nước thì vitamin tan trong nuowcs; do đó rau cần rửa sạch rồi mới thái, không nên để lâu ngoài không khí.

    – Trong chế biến nhiệt: Khi nấu ăn, thường sử dụng nước máy, trong đó bao gồm một số vi lượng (Cu, Fe, Pb,Mn…) các kim loại này sẽ xúc tác quá trình oxy hóa làm cho vitamin C bị phá hủy.

    5. Biện pháp hạn chế tổn thất vitamin C

    – Khi chế biến cần sử dụng các loại rau tươi, tránh dự trữ quá nhiều và lâu ngày. Trường hợp cần dự trữ nên tiến hành đúng yêu cầu kỹ thuật của chế độ bảo quản.

    – Rau nhặt sạch rồi mới rửa, xong mới thái sau đó khong nên ngâm rửa nước, cần chế biến ngay ( ngoại trừ trường hợp ngâm để tránh thâm đen rau củ)

    – Những thiết bị đun không nên là đồng, gang, sắt

    – Cần tiến hành nhanh quá trình giảm nhiệt: đun to lửa, không kéo dài thời gian làm chín, không đun đi đun lại nhiều lần.

    – Khi cho rau vào nồi nước đã sôi tránh khuấy trộn nhiều, đun sôi quá mạnh

    – Lượng nước luộc lấy vừa đủ, không lấy thừa để tận dụng hết

    – Sử dụng nhanh chóng, không để lâu

    VITAMIN B12

    1. Vai trò và chức năng sinh học:

    – Có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tạo máu ở cơ thể người và động vật.

    – Thiếu vitamin B12, quá trình trao đổi protein và trao đổi axit nucleic bị phá hủy. Khả năng đồng hóa thực ăn giảm, cơ thể bị thiếu máu.

    2. Nguồn cung cấp:

    – Có nhiều trong gan, thịt, cá, trứng, sữa.

    – Ở người, vitamin B12 được dự trữ ở trong gan ( vài mg) được tổng hợp nhờ hệ vi khuẩn đường ruột.

    3. Nhu cầu vitamin B12

    – Nhu cầu thông thường khoảng 3 -5y/ngày.

    – Đối với bệnh nhân thiếu máu ác tính nhu cầu nhiều hơn 50g/ngày.

    VITAMIN B6

    1. Vai trò và chức năng sinh học:

    – có thể tồn tại ở các dạng như piridoxin, piridoxal hay piridoxamin. Khi piridoxal được hoạt hóa bởi ATP để tạo thành photphopiridixal, nó sẽ tham gia cào nhóm ngoại của enzim aminotransteraza, xúc tác cho sự chuyển nhóm NH2 từ axit amin đến xetoaxit. Nhờ đó các xetoaxit và axit amin mới được tạo thành.

    – Thiếu vitamin B6, quá trình trao đổi axit amin và protein bị phá hủy, gây rối loạn hệ tuần hoàn, viêm da ở người, còn ở động vật thì rối loạn thần kinh, co giật, ngừng sinh trưởng.

    2. Nguồn cung cấp

    Vitamin B6 có trong mọi thức ăn có nguồn gốc động vật., Đặc biệt có trong men bia, lúa mì, ngô, đậu, thịt bò, gan, thận, sản phẩm cá

    3. Nhu cầu

    Người bình thường cần khoảng 1,5 – 2 mg vitamin B6/ngày

    VITAMIN B2

      Vai trò và chức năng sinh học:

    Vitamin B2 có mặt trong FMN (Flavin mononucleotit) và FAD (Flavin adenin dinucleotit), là nhóm ngoại của enzim dehydrogenaza hiếu khi, xúc tác cho quá trình vận chuyển H và e – trong các phản ứng photphoryl hóa oxy hóa của cơ thể.

    1. Nguồn cung cấp vitamin B2

    – Vitamin B2 có trong nấm men, bánh mì và bia, đậu, thịt, gan, sữa, trứng, sản phẩm cá, rau xanh

    2. Nhu cầu vitamin B2

    – Người lớn: 2 – 4mg/ngày

    – Các loại gia cầm: 2,5 – 3,5mg/ngày

    VITAMIN B1

    1. Vai trò và chức năng sinh học:

    – Vitamin B1 (tiamin) có thể nhận năng lượng từ ATP để chuyển hóa thành tiaminpirophophat (TPP). TPP là nhóm ngoại cảu enzin piruvatdecacboxylaza xúc tác quá trình chuyển hóa axit piruvic trong trao đổi gluxit.

    – Thiếu vitamin B1, axit piruvic bị tích tụ sẽ gây độc cho tế bào thần kinh, phát bệnh tê phù.

    2. nguồn cung cấp vitamin B1:

    – Vitamin B1 có nhiều trong cám gạo, nấm men, đậu, đỗ, rau quả và nhiều thực phẩm khác như gan, tim ,thận…

    3. Nhu cầu vitamin B1:

    – Nhu cầu vitamin B, thay đổi phụ thuộc vào lứa tuổi, loại hình, cường độ lao động…

    – Người trưởng thành: 1,2 – 1,8 mg/ngày

    – Trẻ em: 0,4 – 1,8mg/ngày

    – Phụ nữ có thai, cho con bú, người ốm, gà vịt trong thời kỳ đẻ trứng cần nhiều vitamin B1 hơn

    4. Ảnh hưởng của quá trình chế biến:

    – Trong khẩu phần thức ăn hàng ngày, lương thực chiến một lượng khá lớn và đây là nguồn cung caaos vitamin B1 chủ yếu. Vì vậy khi chế biến lương thực cần phải có biện pháp để giảm sự tổn thất vitamin quan trọng này

    – Vo gạo: gạo gãy nhiều hay ít cũng ảnh hưởng tới hàm lượng vitamin B1

    – Nấu cơm cũng làm tổn thất vitamin B1

    Cách nấu cơm để đảm bảo hạn chế tổn thất vitamin B1:

    + Nếu cho vào nước lạnh, còn 56%

    + Nếu cho vào nước sôi, còn 68%

    + Nếu cho vào hơi nước, còn 80%

    + Khi nầu cơm có chắt nước hay không chắt nước, lượng vitamin B1 còn lại cũng khác nhau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vitamin B1 B6 B12 Giá Bao Nhiêu: Vitamin 3B Giá Bán Lẻ & Có Tác Dụng Gì?
  • Vitamin 3B (B1 B6 B12) Có Tác Dụng Gì, Uống Lúc Nào Và Liều Dùng
  • Vitamin B1, B6, B12® Là Thuốc Gì?
  • Vitamin B1 B6 B12 Có Tác Dụng Gì, Loại Nào Tốt Nhất?
  • Tác Dụng Của Thuốc Vitamin B1
  • Dạ Dày Và Quá Trình Tiêu Hóa

    --- Bài mới hơn ---

  • Bệnh Chậm Tiêu Cơ Năng, Một Số Nguyên Nhân Và Cơ Chế – Family Hospital
  • Top 9 Thực Phẩm Chức Năng Hỗ Trợ Điều Trị Viêm Loét Dạ Dày Tốt Nhất Hiện Nay
  • 7 Thực Phẩm Chức Năng Chữa Trào Ngược Dạ Dày Phổ Biến Nhất
  • 8 Thuốc Dạ Dày Của Nhật Bản Ở Các Dạng Dùng Khác Nhau Được Tin Dùng
  • Cấu Tạo Dạ Dày Bò
  • Dạ dày có chức năng sinh lý nào?

    Dạ dày là chiếc túi lớn trong hệ tiêu hóa. Nó có thể co bóp linh hoạt. Ăn vào, dạ dày nở to. Dung lượng bình quân của dạ dày người trưởng thành khoảng 1.5 lít. Thành dạ dày do nhiều lớp cơ lớp, cơ vòng tạo thành. Bên trong có tế bào tuyến thể đặc biệt, có thể tiết dịch vị, có mạch máu, thần kinh. Đầu dưới dạ dày có cơ thắt môn vị, có thể thông với hành tá tràng.

    Dạ dày là cơ quan dung nạp và chứa thức ăn, chức năng chủ yếu là tiêu hóa sơ bộ thức ăn, tác dụng tiêu hóa này khởi nguồn từ miệng, cuối cùng hoàn thành trong ruột non.

    Màu sắc, mùi vị và thức ăn ăn vào có thể kích thích dạ dày tiết vị. Niêm mạc dạ dày tiết dịch vị chứa enzym và axit chlohydric (có thể diệt vi khuẩn và tạo môi trường thích hợp nhất để enzym dạ dày phát huy tác dụng) và factor (là chất cần thiết giúp ruột non hấp thu vitamin B12). Ngoài ra, dạ dày còn tiết niêm dịch và hydrocarbonate, hình thành màn che phòng ngừa chính dạ dày bị dịch vị tiêu hóa.

    Cơ thành dạ dày cứ khoảng 20s co bóp (nhu động) đều đặn một lần, trộn đều thức ăn với dịch vị. Vận động cơ năng của dạ dày phối hợp với tác dụng tiêu hóa, chuyển hóa thức ăn dạng rắn thành hồ nhão. Thời gian cho quá trình này lâu hay mau là do tính chất của thức ăn quyết định. Nói chung, thức ăn dạng thịt càng nhiều thì thời gian thải hết của dạ dày càng lâu. Sự co bóp của dạ dày và giãn nở của cơ thắt môn vị đưa thức ăn đã tiêu hóa sơ bộ xuống hành tá tràng theo thời gian nhất định

    Quá trình tiêu hóa thức ăn diễn ra như thế nào?

    Quá trình tiêu hóa bắt đầu từ khoang miệng. Răng nhai nhỏ thức ăn, tuyến nước bọt tiết nước bọt làm mềm thức ăn. Men bột lọc trong nước bọt có thể phân giải hydratcarbon. Đầu lưỡi nhiều dây thần kinh vị giác có nhiệm vụ khống chế thức ăn trong miệng, biến nó thành khối nhỏ để nuốt.

    Từ miệng, thức ăn đi qua họng để xuống thực quản. Thực quản không có tác dụng phân giải và hấp thu, tác dụng duy nhất của nó là nhờ làn sống nhu động chuyển thức ăn xuống dạ dày. Thức ăn được nhào đều với axit chlohydrit và enzym do niêm mạc dạ dày tiết ra, giúp phân giải protein. Dạ dày đóng vai trò tiêu hóa cơ năng thông qua nhu động trộn thức ăn. Khi thức ăn chuyển hóa thành dạng hồ nhão trong dạ dày, sẽ được đưa xuống tá tràng môn vị.

    Dịch vị tiêu hóa do tuyến tụy tiết ra chảy vào ruột non, dịch tiêu hóa này chứa nhiều enzym tiêu hóa, tiếp tục thúc đẩy phân giải hydratcarbon, mỡ và protein.

    Trong ruột non, thức ăn từ chất phân tử lớn phức tạp được phân giải, tiêu hóa thành chất phân tử nhỏ dễ hấp thu. Niêm mạc ruột non hút chất dinh dưỡng đưa vào máu và hệ bạch huyết.

    Bã thức ăn cuối cùng được đưa xuống đại tràng, niêm mạc đại tràng hút phần lớn thành phần nước trong bã, biến bã chưa tiêu hóa và thượng bì niêm mạc ống tiêu hóa bong tróc thành phân được bài tiết ra ngoài qua trực tràng và hậu môn.

    Gọi (04) 39 959 969 hoặc (04) 39 960 886

    Để được Tư vấn – Giải đáp miễn phí

    Theo dõi chúng tôi trên Zalo:

    Theo dõi chúng tôi trên Zalo:

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Cách Tạo Lựa Chọn Trong Google Sheet
  • Sống Khoẻ Cùng Bvxa –Kỳ 37: Liệt Dây Thần Kinh Số 7 – Căn Bệnh Làm Thay Đổi Diện Mạo Con Người
  • Đau Dây Thần Kinh Số 5
  • Đau Dây Thần Kinh Số 5 Có Nguy Hiểm Không? 3 Triệu Chứng Thường Gặp
  • U Dây Thần Kinh Số Viii: Phát Hiện Sớm Và Điều Trị
  • Quá Trình Chuyển Hóa Mỡ Trong Cơ Thể

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Thật Cần Biết Về Các Mô Mỡ Trong Cơ Thể
  • 10 Công Dụng Của Rau Xà Lách Không Phải Ai Cũng Biết
  • Top Những Tác Dụng Của Cây Rau Xà Lách
  • Tác Dụng Của Rau Xà Lách Với Cơ Thể Là Gì Bạn Đã Biết Chưa?
  • Top Những Lợi Ích Của Rau Xà Lách Đối Với Cơ Thể Bạn
  • Tỉ lệ người mắc thừa cân/béo phì đang tăng nhanh ở khu vực Đông Nam Á, trong đó dẫn đầu về tốc độ là Việt Nam. Thừa cân/béo phì kéo theo nhiều rủi ro về sức khỏe như huyết áp cao, bệnh tim, tiểu đường, ngưng thở khi ngủ, các vấn đề về hô hấp… nhưng có vẻ nhiều người vẫn rất thờ ơ về nó. Có bao giờ bạn tự hỏi mỡ là gì? Khi chúng ta “béo lên” – tăng cân – điều gì thực sự xảy ra bên trong cơ thể? Làm gì để giải quyết số lượng mỡ thừa này?

    1. Thế nào là thừa cân/béo phì

    Thừa cân/béo phì được định nghĩa là sự tích tụ mỡ bất thường hoặc quá mức làm ảnh hưởng đến sức khỏe. Thông qua chỉ số khối cơ thể ( Body mass index_BMI) bạn có thể biết chính xác mình đang mắc bệnh béo phì, thừa cân hay suy dinh dưỡng. BMI được tính bằng cách lấy trọng lượng của một người tính bằng kg chia cho bình phương chiều cao của người đó theo mét (kg/m2).

    Thừa cân và béo phì là nguy cơ đứng hàng thứ sáu về số trường hợp tử vong trên toàn cầu, ít nhất 3,4 triệu người lớn tử vong mỗi năm do hậu quả của tình trạng thừa cân hoặc béo phì. Ngoài ra, 44 % gánh nặng do bệnh tiểu đường, 23% gánh nặng bệnh tim thiếu máu cục bộ và từ 7% – 41% gánh nặng về một số bệnh ung thư là do thừa cân và béo phì.

    2. Mỡ trong cơ thể là gì

    Mỡ được tìm thấy ở một số nơi trong cơ thể như bên dưới da (mỡ dưới da ), trên đầu thận, trong gan, trong các cơ bắp…

    Giới tính nam hay nữ cũng quyết định đến việc mỡ tập trung nhiều ở đâu:

    ✔ Một người đàn ông trưởng thành có xu hướng tập trung mỡ ở ngực, bụng và mông, tạo thành hình “quả táo”.

    ✔ Một phụ nữ trưởng thành có xu hướng tập trung mỡ ở ngực, hông, eo và mông, tạo thành hình “quả lê”.

    Sự khác biệt về vị trí tập trung mỡ đến từ hormone giới tính estrogen và testosterone. Các tế bào mỡ được hình thành ở thai nhi đang phát triển trong thai kì thứ ba. Khi bắt đầu dậy thì, các hormone giới tính “khởi động”, sự khác biệt trong việc tích mỡ giữa nam và nữ bắt đầu hình thành. Một sự thật đáng ngạc nhiên là các tế bào mỡ thường không được tạo ra thêm sau tuổi dậy thì, số lượng tế bào mỡ vẫn giữ nguyên. Mỗi tế bào mỡ chỉ đơn giản là lớn hơn!

    *Có hai trường hợp ngoại lệ: cơ thể có thể tạo ra nhiều tế bào mỡ hơn nếu người trưởng thành tăng cân đáng kể hoặc thực hiện hút mỡ.

    3. Phân loại mỡ trong cơ thể

    Cơ thể con người chứa hai loại mô mỡ:

    Tế bào mỡ trắng như một túi nhựa nhỏ chứa một giọt chất béo. Tế bào mỡ trắng là những tế bào lớn có rất ít tế bào chất, chỉ có 15% thể tích tế bào, một nhân nhỏ và một giọt chất béo lớn chiếm tới 85% thể tích tế bào. Mỡ trắng ít ty thể và mạch máu, do đó có màu trắng nhạt hoặc màu vàng. Mỡ trắng chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong cơ thể, được tìm thấy ở dưới da, bụng, đùi và nội tạng.

    Mỡ trắng có nhiệm vụ lưu trữ năng lượng cần thiết cho các hoạt động hàng ngày trong các giọt chất béo tích tụ xung quanh cơ thể; giúp giữ ấm và là tấm đệm cơ học cho cơ thể.

    Mỡ trắng thường tăng nhiều trong cơ thể do năng lượng calo nhập vào quá nhiều do ăn uống thừa mứa, và tiêu tốn quá ít do lười vận động. Việc tích tụ quá nhiều mỡ trắng không tốt vì có thể dẫn đến béo phì. Chất béo trắng tích tụ nhiều ở bụng còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường và các bệnh khác.

    Mỡ nâu gồm những giọt nhỏ chất béo và một số lượng lớn ty thể có chứa sắt, cùng với rất nhiều mạch máu khiến mỡ có màu nâu. Mỡ nâu thường tích tụ quanh vai và cổ. Mỡ nâu chiếm khoảng 5% tổng khối lượng cơ thể trẻ sơ sinh. Sau khi sinh ra lượng mỡ nâu giảm dần khiến người trưởng thành có nồng độ mỡ nâu thường thấp hơn trẻ con.

    Khi được kích hoạt, mỡ nâu đốt cháy mỡ trắng sinh ra năng lượng, vì thế mỡ nâu thường được gọi là chất béo “tốt”, hỗ trợ điều trị bệnh béo phì, giúp kiểm soát lượng đường trong máu, cải thiện nồng độ insulin, giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường týp 2… Loại mỡ này cũng có thể giúp bạn loại bỏ chất béo trong máu và giảm nguy cơ tăng mỡ máu.

    Vì người trưởng thành có ít hoặc không có mỡ nâu, bài viết này sẽ tập trung vào mỡ trắng là chủ yếu. Khi chúng tôi đề cập đến mỡ trong cơ thể, nó có nghĩa là mỡ trắng.

    Khi bạn mới sinh ra, cơ thể bạn không có nhiều mỡ trắng để giúp cách nhiệt và giữ nhiệt cho cơ thể; mặc dù có các tế bào mỡ trắng, nhưng không có nhiều chất béo được lưu trữ trong chúng. Các tế bào mỡ nâu bao gồm một số giọt chất béo nhỏ hơn và được nạp với ty thể, có thể tạo ra nhiệt. Một em bé sơ sinh sinh ra nhiệt chủ yếu bằng cách phá vỡ các phân tử chất béo thành axit béo trong các tế bào mỡ nâu. Thay vì các axit béo rời khỏi tế bào mỡ nâu, như xảy ra trong các tế bào mỡ trắng, chúng bị phá vỡ thêm trong ty thể và năng lượng của chúng được giải phóng trực tiếp dưới dạng nhiệt. Quá trình tương tự này xảy ra ở động vật ngủ đông, có nhiều mỡ nâu hơn con người. Một khi bé sơ sinh bắt đầu ăn nhiều hơn, phát triển các lớp mỡ trắng, mỡ nâu sẽ biến mất. Con người trưởng thành có ít hoặc không có mỡ nâu.

    Mỡ từ thức ăn đi vào cơ thể như thế nào?

    Khi bạn ăn thực phẩm có chứa mỡ, chủ yếu là chất béo trung tính triglyceride, nó sẽ đi qua dạ dày và ruột của bạn. Tại ruột sẽ diễn ra quá trình sau:

    ✔ Các giọt chất béo lớn được trộn với muối mật từ túi mật trong một quá trình gọi là nhũ hóa. Hỗn hợp phá vỡ các giọt lớn thành nhiều giọt nhỏ hơn gọi là micelles, làm tăng diện tích bề mặt của chất béo.

    ✔ Tuyến tụy tiết ra các enzyme gọi là lipase tấn công bề mặt của mỗi micelle và phá vỡ chất béo thành các phần nhỏ hơn là glycerol và axit béo.

    ✔ Những phần này được hấp thụ vào các tế bào niêm mạc ruột.

    ✔ Trong tế bào ruột, những phần này được ghép lại thành các gói phân tử chất béo (triglyceride) với lớp phủ protein gọi là chylomicrons. Lớp phủ protein làm cho chất béo hòa tan dễ dàng hơn trong nước.

    ✔ Các chylomicron được giải phóng vào hệ bạch huyết – chúng không đi trực tiếp vào máu vì chúng quá lớn để đi qua thành mao mạch.

    ✔ Hệ thống bạch huyết cuối cùng hợp nhất với các tĩnh mạch, tại đó các chylomicron đi vào máu.

    Bạn có thể tự hỏi tại sao các phân tử chất béo bị phân hủy thành glycerol và axit béo trong khi vẫn được ghép lại về sau. Điều này là do các phân tử chất béo quá lớn để dễ dàng xuyên qua màng tế bào. Vì vậy, khi đi từ ruột qua các tế bào ruột vào bạch huyết, hoặc khi vượt qua bất kỳ hàng rào tế bào nào, chất béo phải bị phá vỡ. Nhưng, khi chất béo được vận chuyển trong bạch huyết hoặc máu, tốt hơn là nên có một vài phân tử chất béo lớn hơn nhiều axit béo nhỏ hơn, bởi vì chất béo lớn hơn không “thu hút” nhiều phân tử nước dư thừa bằng cách thẩm thấu như nhiều phân tử nhỏ hơn.

    Mỡ được tích tụ trong cơ thể như thế nào?

    Các Chylomicron không tồn tại lâu trong máu – chỉ khoảng tám phút – bởi vì các enzyme gọi là lipoprotein lipase phá vỡ chất béo thành axit béo. Lipase lipoprotein được tìm thấy trong các thành mạch máu trong mô mỡ, mô cơ và cơ tim.

    Khi bạn ăn, sự hiện diện của glucose, axit amin hoặc axit béo trong ruột kích thích tuyến tụy tiết ra một loại hormone gọi là insulin. Insulin tác động lên nhiều tế bào trong cơ thể bạn, đặc biệt là những tế bào ở gan, cơ và mô mỡ. Insulin bảo các tế bào làm như sau:

    • Hấp thụ glucose, axit béo và axit amin
    • Ngừng phân hủy glucose, axit béo và axit amin; glycogen thành glucose; chất béo thành axit béo và glycerol; và protein thành axit amin
    • Bắt đầu xây dựng glycogen từ glucose; chất béo (triglyceride) từ glycerol và axit béo; và protein từ axit amin

    Hoạt động của lipoprotein lipase phụ thuộc vào mức độ insulin trong cơ thể. Nếu insulin cao, thì lipase có hoạt tính cao; nếu insulin thấp, lipase không hoạt động.

    Các axit béo sau đó được hấp thụ từ máu vào các tế bào mỡ, tế bào cơ và tế bào gan. Trong các tế bào này, dưới sự kích thích của insulin, các axit béo được tạo thành các phân tử chất béo và được lưu trữ dưới dạng các giọt chất béo.

    Các tế bào mỡ cũng có thể hấp thụ glucose và axit amin đã được hấp thụ vào máu sau bữa ăn và chuyển chúng thành các phân tử chất béo. Việc chuyển đổi carbohydrate hoặc protein thành chất béo kém hiệu quả gấp 10 lần so với việc lưu trữ chất béo trong tế bào mỡ, nhưng cơ thể có thể làm được.

    Nếu bạn có thêm 100 calo chất béo (khoảng 11 gram) trôi nổi trong máu, các tế bào mỡ có thể lưu trữ nó chỉ bằng 2,5 calo năng lượng. Mặt khác, nếu bạn có thêm 100 calo glucose (khoảng 25 gram) trôi nổi trong máu, bạn cần 23 calo năng lượng để chuyển glucose thành chất béo và sau đó lưu trữ. Có một sự lựa chọn, một tế bào chất béo sẽ lấy chất béo và lưu trữ nó chứ không phải là carbohydrate vì chất béo rất dễ lưu trữ.

    Mỡ được tiêu thụ trong cơ thể như thế nào?

    Khi bạn không ăn, cơ thể bạn không hấp thụ thức ăn. Nếu cơ thể bạn không hấp thụ thức ăn, có rất ít insulin trong máu. Tuy nhiên, cơ thể bạn luôn sử dụng năng lượng; và nếu bạn không hấp thụ thức ăn, năng lượng này phải đến từ carbohydrate, chất béo và protein phức tạp. Trong hoàn cảnh này, các cơ quan khác nhau trong cơ thể bạn tiết ra hormone:

    ★tuyến tụy – glucagon

    ★tuyến yên – hormone tăng trưởng

    ★tuyến yên – ACTH (hormone vỏ thượng thận)

    ★tuyến thượng thận – epinephrine (adrenaline)

    ★tuyến giáp – hormone tuyến giáp

    Những hormone này hoạt động trên các tế bào của gan, cơ và mô mỡ và có tác dụng ngược lại với insulin.

    Khi bạn không ăn, hoặc bạn đang tập thể dục, cơ thể bạn phải rút ra các kho dự trữ năng lượng bên trong. Nguồn năng lượng chính của cơ thể bạn là glucose. Trên thực tế, một số tế bào trong cơ thể bạn, chẳng hạn như tế bào não, chỉ có thể lấy năng lượng từ glucose.

    Tuyến phòng thủ đầu tiên trong việc duy trì năng lượng là phá vỡ carbohydrate, hay glycogen, thành các phân tử glucose đơn giản – quá trình này được gọi là glycogenolysis. Tiếp theo, cơ thể bạn phân hủy chất béo thành glycerol và axit béo trong quá trình lipolysis. Các axit béo sau đó có thể được phân hủy trực tiếp để lấy năng lượng, hoặc có thể được sử dụng để tạo glucose thông qua một quá trình gồm nhiều bước gọi là gluconeogenesis. Trong gluconeogenesis, axit amin cũng có thể được sử dụng để tạo glucose.

    Trong tế bào chất béo, các loại lipase khác có tác dụng phân hủy chất béo thành axit béo và glycerol. Những lipase này được kích hoạt bởi các hormone khác nhau, chẳng hạn như glucagon, epinephrine và hormone tăng trưởng. Kết quả là glycerol và axit béo được giải phóng vào máu và đi đến gan qua đường máu. Khi ở trong gan, glycerol và axit béo có thể được phân hủy hoặc sử dụng để tạo glucose.

    Nguyên tắc duy trì cân nặng khỏe mạnh

    Cân nặng của bạn được xác định bởi tốc độ bạn lưu trữ năng lượng từ thực phẩm bạn ăn, và tốc độ sử dụng năng lượng đó. Hãy nhớ rằng khi cơ thể bạn phân hủy chất béo, số lượng tế bào mỡ vẫn giữ nguyên; mỗi tế bào mỡ chỉ đơn giản là nhỏ hơn.

    Hầu hết các chuyên gia đồng ý rằng cách để duy trì cân nặng khỏe mạnh là:

    Ăn một chế độ ăn uống cân bằng – lượng carbohydrate, chất béo và protein thích hợp

    Không ăn quá nhiều – đối với hầu hết mọi người, chế độ ăn từ 1.500 đến 2.000 calo mỗi ngày là đủ để duy trì cân nặng khỏe mạnh

    Tập thể dục thể thao đều đặn.

    Mỡ là loại chất béo vô cùng quan trọng cho cơ thể. Hiểu về quá trình hình thành và chuyển hóa mỡ sẽ giúp bạn duy trì được cân nặng khỏe mạnh đúng phương pháp và khoa học hơn. Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chức Năng Của Mỡ Trong Cơ Thể Bạn Đã Biết?
  • Cách Phát Hiện Sớm Rối Loạn Chức Năng Sinh Lý
  • Rối Loạn Chức Năng Sinh Lý Nam Nữ Ở Phụ Nữ Có Nhiều Triệu Chứng Có Thể Và Nguyên Nhân
  • Làm Thế Nào Để Giảm Hạ Cholesterol Trong Máu?
  • Thực Phẩm Chức Năng Hạt Methi Ấn Độ 800Gr Gói Hút Chân Không
  • Khái Quát Quá Trình Tiêu Hóa Của Cá

    --- Bài mới hơn ---

  • Vai Trò Của Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Việt Nam Trong Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Kinh Tế
  • Tín Dụng Chính Sách Của Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội Đối Với Doanh Nghiệp Nhỏ Và Vừa
  • Iv. Các Chức Năng Của Tín Dụng
  • Hệ Miễn Dịch Trong Phòng Chống Xơ Gan, Viêm Gan
  • 6 Dấu Hiệu Quan Trọng Giúp Bạn Nhận Biết Bệnh Về Gan
  • 1. Vài nét về bộ máy tiêu hóa của cá

    Cũng như các động vật khác; bộ máy tiêu hoá của cá bắt đầu từ miệng và kết thúc tại hậu môn. Miệng cá thường không có răng; chỉ có cá dữ xung quang xương khẩu cái, vòng quanh miệng (cả trên và dưới) có hàng răng nhỏ, sắc, nhọn, làm nhiệm vụ bắt, giữ mồi. Vì không có răng; cá không có động thái “nhai” thức ăn. Một số loài cá có “răng hầu” (là hàng răng ở sâu phía trong xoang miệng cá, nằm cạnh gốc các xương cung mang của cá, giúp đưa thức ăn xuống ruột, một số loài cá (như chép, trắm đen) dùng hàng răng này để nghiền vỡ vỏ ốc), cá trắm cỏ để cắt ngắn cỏ thành các đoạn ngắn. Nhưng cá không có răng (kiểu “răng hàm”) để nghiền nát thức ăn. Bởi vậy, thông thường cá “nuốt chửng” thức ăn. Cá cũng không có tuyến nước bọt để giúp tiêu hoá ngay từ đầu. Có sự tương quan khá chặt chẽ, thành quy luật giữa vị trí miệng cá và tính ăn của chúng. Miệng cá có 3 dạng vị trí so với trục giữa thân cá (ta tưởng tượng ra) là miệng trên, miệng giữa và miệng dưới: Cá ăn phù du, thường có miệng trên và miệng giữa (như cá ngão, cá mương, cá mè), cá ăn đáy ắt phải có miệng dưới (như cá chiên, cá trôi, cá mrigal, cá chép).

    2. Hoạt động kiếm mồi

    Đối với thức ăn trong vùng nước, cá có thể chọn lọc các loại thích hợp với nó, tuy sự chọn lọc đó chỉ là tương đối; nghĩa là cá có thể sử dụng tất cả các loại thức ăn có trong nước mà chúng có thể biết được (kể cả sinh vật và phi sinh vật). Tức là:

    – Cá có thể nhận biết được bằng cơ quan cảm giác (ngửi, sờ, nhìn).

    – Cá có thể bắt và nuốt được.

    – Hợp với khẩu vị của cá.

    Khả năng bắt mồi trước hết phụ thuộc vào cơ quan bắt mồi (miệng) sau đó là hình dạng và kích thước của mồi ăn (phải nhỏ hơn miệng). Mỗi cỡ cá có cỡ mồi thích hợp, nhỏ quá hay lớn quá cỡ đó, cá đều không ăn được, hay là: Cá không thể ăn được tất cả thức ăn mà nó nhận biết.

    + Loài cá dữ như quả, vược…chỉ có thể bắt được mồi sống, đang bơi trong nước hoặc ẩn náu trong bụi cỏ/rong, không thể bắt được mồi ẩn mình trong bùn đáy. Chúng đớp mồi, rồi giữ và nuốt chứ không xé nhỏ con mồi. Cá trắm đen, cá chép và một số loài, do có mồm dưới, không có răng miệng, chỉ có thể bắt được mồi di chuyển chậm hay không di chuyển (trai, ốc), sau đó dùng răng hầu nghiền vỡ vỏ rồi chọn lấy phần ăn được. Người ta đã quan sát được hiện tượng thú vị về hiện tượng “ăn theo” của cá vền với cá trắm đen: Cá vền không có bộ răng hầu khoẻ như trắm đen, nên không thể ăn ốc được, nhưng thịt ốc lại là món “khoái khẩu” của chúng; bởi vậy, chúng hay bám theo trắm đen, khi trắm đen bắt được ốc, chúng dùng răng hầu nghiền vỡ vỏ ốc rồi phun ra ngoài, vì vỏ ốc nặng và đã vỡ thành mảnh vụn nên chìm xuống trước, phần thịt lơ lửng chìm dần sau đó. Trong lúc trắm đen chờ bắt lại phần thịt ốc, thì cá vền “nhanh chân” hơn, chúng lao đến cướp “chiến lợi phẩm” ngay trước mõm trắm đen.

    + Các loài cá ăn phù du dùng lược mang (là cơ quan lọc, có cấu tạo như một miếng “mút xốp”, nằm ở phần lõm của cung mang, đặc biệt phát triển ở cá mè; hoặc những gai nhỏ ở trên xương cung mang như của cá rô phi) làm nhiệm vụ lọc thức ăn từ môi trường.

    + Trong hoạt động bắt mồi ở cá, các cơ quan cảm giác như mắt, đường bên, khứu giác, vị giác, xúc giác, đều có tác dụng rõ rệt, tương hỗ nhau.

    Dựa vào tập tính bắt mồi, người ta chia cá làm 2 nhóm: “Nhóm cá mắt” (như quả, vược, măng…) và “nhóm cá mũi” (như chép và một số loài thuộc họ chép).

    Bằng thị giác, cá phân biệt được hình dáng, kích thước màu sắc con mồi; bằng khứu giác, cá phân biệt được vật mồi hay kẻ thù từ xa; vị giác và xúc giác chỉ nhận biết khi có tiếp xúc: râu cá để sờ mó, có vai trò rất quan trọng để nhận biết. Các chất có vị đắng như các loại ancaloit không thấy có ảnh hưởng tới bắt mồi của cá chép.

    3. Cơ quan bắt mồi và tiêu hóa

    3.1 Răng của cá

    Răng là sản phẩm của da, do tầng biểu bì và tầng da chính thức tạo thành. Vị trí của răng cá rất khác nhau; tuỳ thuộc vào loài: Có loài răng mọc ở hàm trên, có loài ở hàm dưới, có loài cả 2 hàm, lại có cả loài răng mọc trên lưỡi; có loài răng thuộc một trong các dạng trên, lại cũng có loài thuộc 2 hay cả 3 dạng. Sự sắp xếp của răng, cũng đa dạng, theo nhiều kiểu khác nhau: Có loại thành hàng, có loại mọc thành đám; không theo quy luật. Nhưng nhìn chung, răng đều mọc khá chắc và đặc biệt phù hợp với tính ăn, tập tính bắt mồi của cá. Có thể nhìn cấu tạo của răng mà suy ra tính ăn và dinh dưỡng của cá: Răng sắc bén dùng để cắt thức ăn, răng phẳng dùng để nghiền thức ăn. Một số cá dữ có bộ răng sắc nhọn để bắt mồi (tôm, cá nhỏ, động vật nhỏ); cá ăn tạp răng hầu có dạng hình bàn chải, hình khía lá; cá ăn phù du răng hầu nhỏ, yếu; một số cá không có răng, một số cơ quan khác phát triển thay chức năng của răng. Cá trắm đen và chép không có răng hàm, răng hầu của chúng thay thế chức năng răng hàm.

    3.2 Răng hầu

    – Đa phần cá trong họ cá chép (ciprinidae) không có răng hàm, nhưng có răng hầu phát triển. Răng hầu do cặp cung mang thứ 5 được biệt hoá thành xương hầu lớn, có khớp. Cũng như các cung mang khác; răng hầu do tầng trung phôi bì phát triển tạo thành, trên xương hầu có 1 – 3 hàng răng hầu, nằm sâu phía trong xoang miệng, cạnh gốc xương cung mang.

    3.3 

    Lược mang

     3.4 Cung mang

    – Khi lật, mở nắp mang; nhìn từ phía bên, ta thấy các cung mang hình xoắn ốc; nhìn từ mặt lưng thấy phía trước hẹp, phía sau rộng; đó là các cung mang (sở dĩ gọi “cung mang” vì hình dáng nó cong như cánh cung, phía lồi của cánh cung là các sợi tơ mang màu đỏ sẫm, là nơi trao đổi ôxy; phía lõm là lược mang- cơ quan bắt mồi của cá. Các loài cá xương có 5 đôi cung mang, nằm trên xương cung mang, đối diện nhau, ở 2 phía của thân cá.

     4. Tiêu hóa của cá

     4.1 Giới thiệu cấu tạo ống tiêu hoá

    – Ống tiêu hóa của cá (ruột) kéo dài từ sau miệng (hầu) đến hậu môn. Cấu tạo của nó gồm có 3 lớp: Lớp ngoài là màng sợi tổ chức liên kết. Lớp giữa là cơ trơn; phía ngoài là cơ dọc, phía trong là cơ vòng và lớp trong-lớp niêm mạc. Các đoạn ống tiêu hoá khác nhau với các chức năng không giống nhau, chủ yếu do lớp niêm mạc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ khác nhau. Bộ máy tiêu hoá của vật nuôi (chung) còn có các tuyến tiêu hoá, bao gồm:

    – Ở các loại vật nuôi khác cá, tuyến nước bọt, gan, tụy cùng tham gia vào quá trình tiêu hoá. Cá không có tuyến nước bọt, gan và tụy được gọi chung là “gan tuỵ tạng” tuy gan và tụy là 2 cơ quan riêng biệt Tụy của cá chép là 2 mảnh nhỏ, dẹt, màu trắng ngà, dọc theo ruột, bên cạnh gan; nhiều loài cá, tụy nằm rải rác dọc theo ruột hay dạ dày. Các tuyến tiêu hoá đóng vai trò quan trọng trong “tiêu hoá hoá học11 vì chúng sản xuất và cung cấp cho cơ quan tiêu hoá các loại men (gan tiết ra mật-gồm muối mật và acid mật, giúp tiêu hoá mỡ; tụy tiết ra men trypsin, giúp tiêu hoá chất đạm); nếu thiếu chúng, “thức ăn” mãi vẫn chỉ là “thức ăn”.

     4.2 Động thái tiêu hoá

    Do không có răng; quá trình tiêu hoá của cá mất hẳn khả năng “tiêu hoá cơ học” (nhai, nghiền), mà chỉ còn khả năng “tiêu hoá hoá học”. Cá cũng không có dạ dày. Cái gọi là “dạ dày” của cá chỉ là đoạn đầu của ruột non phình to ra, ở cá dữ, “dạ dày” rõ hơn ở “cá hiền”. Khi giải phẫu cá, nếu phát hiện ra “dạ dày” tức là cá dữ. Để khắc phục tình trạng đó, ruột của cá thường rất dài, với tỷ lệ đáng kể so với chiều dài thân. Do có ruột dài, thời gian thức ăn được lưu giữ trong ống tiêu hoá ở cá khá lâu.

     4.3 Các yếu tố ảnh hưởng

    Cường độ (mức độ, khả năng) tiêu hoá phụ thuộc vào nhiều yếu tố nội tại và ngoại cảnh:

     4.3.1 Khối Lượng Thức ăn

    – Người ta đã thấy: Khối lượng thức ăn trong ống tiêu hoá càng nhiều thì sự tiêu hoá càng chậm trễ và mức sử dụng thức ăn cũng thấp. Pegen (1950) cho cá Leuciscus ăn với khẩu phần 20mg bột mì/1g thể trọng cá thì thời gian thức ăn lưu trong ống tiêu hoá là 20 tiếng. Nếu tăng đến 150 mg/g thời gian lưu kéo dài đến 37 tiếng. Kazikin (1952) lặp lại thí nghiệm này trên cá vược perca, với thức ăn là ấu trùng muỗi, cũng có nhận xét tương tự. Họ đã kết luận: Lượng thức ăn cung cấp tỷ lệ nghịch với mức độ sử dụng thức ăn. Khi cá ăn quá no, lượng thức ăn không được sử dụng sẽ tăng lên, Bởi vậy, kỹ thuật cho cá ăn đúng, sẽ là: “lượng ít; lần nhiều”; khi thức ăn dư thừa, vừa tốn lại làm nhiễm bẩn môi trường.

    – Knaut (1901) cho cá chép ăn đậu lupinus với các khẩu phần khác nhau, cũng có nhận xét: Sự tiêu hoá của các chất dinh dưỡng ở cá được ăn no thường bị giảm thấp.

     4.3.2  Chất lượng thức ăn

    – Chất lượng thức ăn sẽ quyết định hệ số tiêu hoá (tỷ lệ % của phẫn tiêu hoá so với tổng khối lượng thức ăn cung cấp). Tất nhiên, thức ăn có chất lượng càng cao, hệ số tiêu hoá sẽ cao tương ứng. Sự lợi dụng protein ở cá không có dạ dày (mè, chép, diếc, trôi…) kém loài cá có dạ dày (hồi, lóc, vược…) thấp hơn tới 7,40%. Các loại bột động vật được tiêu hoá ở cá chép khoảng 83%, các loài đậu tới 95 – 97%. Cá trê cho ăn nhuyễn thể, sau 48 tiếng, tiêu hoá được 74,8% lượng thức ăn, nếu cho ăn bằng bột thì trong cùng thời gian chỉ tiêu hoá được 55,7%, nếu thức ăn là thịt thỏ, chỉ được 31,1%. Đối với cá nuôi, thức ăn có giá trị phải đảm bảo tiêu hoá được trên 70%.

     4.3.3 Ảnh hưởng của nhiệt độ

    – Trong phạm vi nhiệt độ thích ứng, quá trình tiêu hoá của cá tỷ lệ thuận với nhiệt độ môi trường (vì cá là động vật biến nhiệt – có thân nhiệt giống với môi trường

    4.3.4 Ảnh hưởng của tuổi

    Trong thời kỳ tăng trưởng, sự tiêu hoá của cá tăng dần theo tuổi trưởng thành. Sự phụ thuộc của quá trình tiêu hoá vào tuổi cá do nhiều nguyên nhân, trước hết là do quá trình hoàn thiện các cơ quan tiêu hoá và các enzym. Kizkin khi cho cá chép ăn ấu trùng muỗi, đã phát hiện: Cá 1 tháng tuổi chỉ tiêu hoá được 40% vật chất khô và 84,4% đạm trong thức ăn. Cá 2 tuổi tiêu được 80% vật chất khô và 89,2% đạm (Trích từ Giáo trình nuôi cá. ĐHNN 1.)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan, Hạ Men Gan: Không Thể Dùng Tùy Tiện
  • Uống Thuốc Bổ Gan Đúng Cách Bạn Đã Biết?
  • Thuốc Bổ Gan, Giải Độc Gan: Không Thể Dùng Tùy Tiện
  • Nutrilite Milk Thistle & Dandelion Bảo Vệ Gan Của Amway
  • Ngân Hàng Agribank Là Ngân Hàng Gì ? Sơ Đồ Tổ Chức Agribank
  • Trình Bày Những Ưu Điểm Và Hạn Chế Của Biện Pháp Sinh Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Sinh Học Và Lý Học Quản Lý Nhóm Côn Trùng Hại Dừa
  • Phòng Trừ Sinh Học Đối Với Côn Trùng Gây Hại Giúp Bảo Vệ Rừng Nhiệt Đới
  • Một Số Biện Pháp Diệt Chuột Sinh Học An Toàn Nhất
  • Các Biện Pháp Phòng Và Diệt Chuột
  • Cho Biết Một Số Phương Pháp Sinh Học Để Tiêu Diệt Chuột Là Gì Vậy Ạ. Mong Mn Giúp Em Câu Hỏi 746639
  • 3/

    *Ưu điểm:

    Sử dụng đấu tranh sinh học đã mang lại những hiệu quả cao, tiêu diệt những loài sinh vật có hại, thế hiện nhiều ưu điếm so với thuốc trừ sâu, diệt chuột. Những loại thuốc này gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm rau, quả, ảnh hưởng xấu tới sinh vật có ích và sức khỏe con người, gây hiện tượng quen thuốc, giá thành còn cao.

    *Hạn chế:

    – Nhiều loài thiên địch được di nhập, vì không quen với khí hậu địa phương nên phát triển kém. Ví dụ, kiến vông được sử dụng đê diệt sâu hại lá cam, sẽ không sống được ở những địa phương có mùa đông quá lạnh.

    – Thiên địch không diệt hết được sinh vật gây hại mà chỉ kìm hãm sự phát triển của chúng. Vì thiên địch thường có số lượng ít và sức sinh sản thấp, chỉ bắt được những con mồi yếu hoặc bị bệnh. Khi thiên địch kém phát triển hoặc bị tiêu diệt, sinh vật gây hại được miễn dịch, thì sinh vật gây hại lại tiếp tục phát triển.

    – Sự tiêu diệt loài sinh vật có hại này lại tạo điều kiện cho loài sinh vật khác phát triển. Ví dụ để diệt một loài cây cảnh có hại ở quần đảo Hawai, người ta đã nhập 8 loài sâu bọ là thiên địch của loài cây cảnh này. Khi cây cảnh bị tiêu diệt, đã làm giảm số lượng chim sáo chuyên ăn cây cảnh, nên làm tăng số lượng sâu hại ruộng mía vôn là mồi của chim sáo. Kết quả là diệt được một loài cây cảnh có hại song sán lượng mía đã bị giam sút nghiêm trọng.

    – Một loài thiên địch vừa có thể có ích, vừa có thể có hại:

    Ví dụ, đôi với nông nghiệp, chim sẻ có ích hay có hại? Vấn đề này trước đây được tranh luận nhiều:

    + Chim sẻ vào đầu xuân, thu và đông, ăn lúa, thậm chí ở nhiều vùng còn ăn cả mạ mới gieo. Vậy chim sẻ là chim có hại.

    + Về mùa sinh sản, cuối xuân đầu hè, chim sẻ ăn nhiều sâu bọ có hại cho nông nghiêp. Vậy là chim sẻ có ích.

    Qua thực tê, có một giai đoạn Trung Quốc tiêu diệt chim sẻ (vì cho ràng chim sẻ có hại), nên đã bị mất mùa liên tiếp trong một số năm. Thực tế đó đã chứng minh chim sẻ là chim có ích cho nông nghiệp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Bệnh Hại Cây Trồng
  • Giáo Án Công Nghệ 10 Bài 17: Phòng Trừ Tổng Hợp Dịch Hại Cây Trồng
  • Nâng Cao Chất Lượng Nuôi Dưỡng, Chăm Sóc Học Sinh Bán Trú
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Quản Lý Hiệu Quả Các Hoạt Động Ngoại Khó Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Đại Trà Cho Học Sinh Bán Trú Tại Trường Ptdtbt Thcs Nhôn Mai
  • Báo Cáo Tham Luận Về Mô Hình Bán Trú
  • Chức Năng Của Gan Trong Quá Trình Tiêu Hóa?

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Cách Đơn Giản Để Tăng Cường Chức Năng Gan, Tuyến Tụy Và Thận
  • Tuyen Gan Và Tuyen Tụy
  • Làm Thế Nào Để Kiểm Soát Các Bệnh Liên Quan Đến Gan Tụy Của Tôm Thẻ Chân Trắng (Penaeus Vannamei)
  • Chức Năng Và Cách Đăng Ký Dịch Vụ Internet Banking Agribank
  • Các Loại Thẻ Atm Của Ngân Hàng Agribank 2022
  • Một trong những nhiệm vụ chính của gan là cung cấp cho cơ thể một nguồn năng lượng liên tục, ngày cũng như đêm, no cũng như đói. Thực phẩm hấp thụ từ hệ thống tiêu hóa, sẽ được gan biến chế và chuyển hóa thành nhiều thể loại rồi được dự trữ dưới nhiều hình thức khác nhau. Các nhiên liệu dự trữ này sẽ được mang ra dùng trong lúc chúng ta không ăn uống hoặc nhịn đói. Ðây là quá trình rất phức tạp và lệ thuộc vào nhiều cơ quan khác nhau như tuyến giáp trạng (thyroid glands), tuyến tụy tạng (pancreas), tuyến thượng thận (adrenal glands), cũng như hệ thống thần kinh (parasympathetic & sympathetic systems), v.v.

    1) CHUYỂN HÓA CHẤT ÐƯỜNG: Ðường là nguồn năng lượng chính cho óc, hồng huyết cầu, bắp thịt và thận. Khi sự cung cấp nhiên liệu và thức ăn từ hệ thống tiêu hóa bị gián đoạn, sự sống còn của các tế bào và cơ quan kể trên sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào gan. Trong thời gian “nhịn ăn” này, gan là cơ quan chính chế tạo và cung cấp chất đường cho cơ thể, nhất là cho óc. Khi gan bị chai, khả năng biến hóa chất đường bị tổn thương dễ đưa đến sự thăng giảm thất thường của chất đường trong máu.

    Ðường trong thức ăn nằm dưới nhiều dạng khác nhau: đường đơn (monosaccharide), đường đôi (disaccharide), và tinh bột. Từ hệ thống tiêu hóa, đường đơn được hấp thụ thẳng vào máu và có thể được tiêu thụ ngay lập tức mà không cần phải biến chế hoặc thay đổi. Ðường trong đa số các loại thực phẩm và trái cây thường nằm dưới dạng đường đôi. Một trường hợp ngoại lệ là nho, một loại trái cây chứa đựng nhiều glucose (một loại đường đơn) nhất. Ðường đôi như lactose (đến từ sữa), sucrose (đến từ các loại đường mía, đường củ cải cũng như đa số các loại trái cây) cần phải được tách ra thành đường đơn trước khi được hấp thụ. Nhiều người Việt Nam, vì thiếu phân hóa tố lactase, nên không thể tiêu hóa được chất sữa (lactose intolerance). Những người này thường bị sình bụng, đau quặn bụng hoặc tiêu chảy sau mỗi lần uống sữa hoặc tiêu thụ các sản phẩm pha chế từ sữa như bơ, cheese, v.v.

    Tinh bột (starch) cũng là một dạng tồn trữ chất đường trong nhiều loại thực vật khác nhau như gạo, mì, khoai, v.v. Khi chúng ta ăn cơm, tinh bột từ gạo sẽ được chuyển hóa thành nhiều đơn vị đường khác nhau. Vì thế, khi tiêu thụ thức ăn với nhiều tinh bột, chất đường trong máu của chúng ta sẽ tăng lên chậm chạp hơn, so với trường hợp nếu chúng ta uống một ly nước nho với toàn là đường đơn.

    2) SẢN XUẤT VÀ CHUYỂN HÓA CHẤT ACID BÉO (Fatty Acid) và MỠ (lipids): Acid béo là một trong những nguồn năng lượng quan trọng nhất được dự trữ trong cơ thể chúng ta và cũng là thành phần cơ bản của nhiều loại mỡ (lipids) quan trọng, kể cả chất triglyceride. Các loại mỡ này có thể được so sánh như những viên gạch của một căn nhà. Vì thế, khi gan bị tổn thương, “nhà” sẽ bị rạn nứt, dễ đổ vỡ. Gan cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tiếp thu và biến chế các chất mỡ và cholesterol đến từ thức ăn thành những chất đạm mỡ (lipoproteins). Những chất mỡ này không những chỉ là những nguồn nguyên liệu quý báu khi đói, mà còn là những thành phần cơ bản của nhiều chất hóa học và kích thích tố khác nhau. Sự điều chỉnh các chất mỡ này là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ cơ thể chúng ta trước nhiều bệnh tật. Chất mỡ và cholesterol được tìm thấy nhiều nhất ở các loại thịt mỡ, thịt nâu (dark meat), một số đồ biển như tôm, cua v.v.

    3) BÀO CHẾ & THOÁI BIẾN CHẤT ÐẠM (Protein Synthesis & Degradation): Gan là cơ quan chính trong việc bào chế và thoái biến chất đạm. Mỗi ngày gan bào chế khoảng 12g chất albumin, một trong những chất đạm quan trọng nhất trong cơ thể. Ngoài nhiệm vụ duy trì áp suất thể tích (oncotic pssure), chất albumin này là những “xe vận tải” chuyên chở nhiều chất hóa học khác nhau. Khi gan bị chai, chất albumin giảm dần, dễ đưa đến phù thủng (edema). Ngoài ra, gan là cơ quan chính bào chế những yếu tố đông máu (clotting factors). Khi gan bị viêm lâu năm, sự đông đặc của máu trở nên khó khăn, người bệnh dễ bị chảy máu. Hơn nữa, khi thiếu chất đạm, bệnh nhân viêm gan sẽ dễ bị nhiễm trùng và các vết thương sẽ khó lành hơn.

    4) THANH LỌC ÐỘC TỐ

    Gan và thận là hai cơ quan chính trong cơ thể có khả năng loại bỏ các độc tố. Những độc tố dễ-tan-trong-nước (water-soluble) sẽ được loại qua thận. Những độc tố tan-trong-mỡ (lipid-soluble), sẽ được biến chế bởi những tế bào gan thành những chất kém nguy hiểm hơn, hoặc dễ hòa tan trong nước hơn. Khi gan bị chai, những độc tố sẽ ứ đọng lại trong cơ thể.

    5) TỔNG HỢP CHẤT MẬT

    Chất mật (bile) sau khi được chế tạo trong tế bào gan, sẽ được cô đọng và dự trữ trong túi mật. Sau mỗi bữa cơm, chất mật sẽ theo ống dẫn mật đi xuống tá tràng, trà trộn với thức ăn và giúp cơ thể nhũ hóa các chất béo. Khả năng sản xuất chất mật của người bị chai gan sẽ từ từ giảm dần gây ra trở ngại trong vấn đề hấp thụ chất mỡ và chất béo. Vì thế, họ sẽ dần dần mất ký rồi trở nên thiếu dinh dưỡng cũng như thiếu những vitamins tan-trong-mỡ như vitamin A, D, E, K. Khi thiếu vitamin K, họ sẽ dễ bị chảy máu hơn.

    Tóm lại, gan đóng nhiều vai trò quan trọng trong việc bảo tồn sức khỏe của chúng ta. Gan được so sánh như người lính dũng cảm, canh gác những tiền đồn, giao tranh và phân giải tất cả các hóa tố đến từ hệ thống tiêu hóa, cũng như những cặn bã từ những hệ thống khác “lang thang” trong máu. Vì thế, một trong những nhiệm vụ chính của gan là thanh lọc độc tố. Tuy nhiên, vì không hoàn toàn là một “bộ phận siêu Việt” (super organ), gan cũng có thể bị tàn phá bởi độc tố, vi trùng, vi khuẩn và nhiều bệnh tật khác nhau. May mắn thay, với khả năng tự tái tạo, trong đa số trường hợp viêm gan kinh niên (còn được gọi là mãn tính), gan vẫn tiếp tục hoạt động một cách tương đối bình thường trong một thời gian dài.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Gan Là Gì? Chức Năng Chính Của Gan Trong Cơ Thể?
  • Phòng Trị Hiện Tượng Tôm Bị Teo Gan
  • Bảo Vệ Gan Tụy Để Nuôi Tôm Thành Công
  • Bảo Vệ Gan Tụy Chìa Khóa Để Nuôi Tôm Thành Công
  • Tăng Cường Chức Năng Gan Cho Tôm
  • Các Biện Pháp Hạn Chế Thuốc Lá

    --- Bài mới hơn ---

  • 7 Giải Pháp Phòng Chống Tác Hại Thuốc Lá Của Tỉnh Đoàn Tuyên Quang
  • Kích Thích Rụng Trứng Mà Chưa Đậu Thai, Có Vô Sinh Không?
  • Sử Dụng Thuốc Kích Thích Trứng Rụng Có Làm Tăng Khả Năng Thụ Thai?
  • Kích Thích Rụng Trứng Bằng Biện Pháp Dân Gian
  • Các Phác Đồ Kích Thích Buồng Trứng Trong Điều Trị Vô Sinh Hiếm Muộn
  • Cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà

    Chuyển địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà

    Việc chuyển địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà phù hợp với từng thời kỳ phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Phù hợp với định hướng, chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá; yêu cầu phòng ngừa và giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe;

    b) Mức độ nhận thức của người dân đối với tác hại của thuốc lá và sức khỏe;

    c) Số lượng người hút thuốc lá tại nơi dành riêng ít;

    Nội dung đề xuất chuyển địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá thành địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà phải bao gồm:

    a) Báo cáo đánh giá việc thực hiện quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá;

    Tăng diện tích in cảnh báo trên bao bì thuốc lá

    Việc tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốclá phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:

    a) Phù hợp với định hướng, chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của thuốc lá; yêu cầu phòng ngừa và giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe; yêu cầu kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh thuốc lá;

    b) Tăng hiệu quả tác động của việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá;

    c) Phù hợp với tình hình, xu hướng in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá của các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Nội dung đề xuất tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá bao gồm:

    a) Báo cáo đánh giá việc thực hiện quy định về in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá;

    b) Mức tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá;

    c) Dự báo tác động của việc tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá;

    d) Tài liệu tổng hợp ý kiến của tổ chức, cá nhân là đối tượng chịu sự tác động của đềxuất tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá.

    Những nơi cấm hút thuốc lá

    Theo Điều 11 và Điều 12 Luật Phòng chống tác hại của thuốc lá năm 2012, thì những địa điểm cấm hút thuốc lá quy định trong 3 không gian như sau:

    1. Những nơi cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà và trong phạm vi khuôn viên gồm: cơ sở y tế; cơ sở giáo dục, trừ trường cao đẳng, đại học, học viện; cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng, vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao.

    2. Những nơi cấm hút thuốc lá hoàn toàn trong nhà, gồm: nơi làm việc; trường cao đẳng, đại học, học viện; địa điểm công cộng.

    3. Các phương tiện giao thông công cộng, gồm ôtô, tàu bay, tàu điện bị cấm hút thuốc lá hoàn toàn.

    Ngoài ra, Luật còn quy định địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá, bao gồm: khu vực cách ly của sân bay; quán bar, karaoke, vũ trường, khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch; phương tiện giao thông công cộng là tàu thủy, tàu hỏa.

    Nơi dành riêng cho người hút thuốc lá phải bảo đảm các điều kiện sau đây:

    a) Có phòng và hệ thống thông khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá;

    b) Có dụng cụ chứa các mẩu, tàn thuốc lá; có biển báo tại các vị trí phù hợp, dễ quan sát;

    c) Có thiết bị phòng cháy, chữa cháy.

    Tuy nhiên Luật khuyến khích người đứng đầu tại những địa điểm có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá tổ chức thực hiện việc không hút thuốc lá hoàn toàn.

    Hành vi vi phạm và mức xử phạt:

    Theo Nghị định 176/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 (Phần xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động phòng chống tác hại thuốc lá) thì mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm như sau:

    * Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi:

    – Hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm. Trường hợp hút thuốc lá trên tàu bay thực hiện theo quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng không dân dụng;

    – Bỏ tàn, mẩu thuốc lá không đúng nơi quy định khi hút thuốc lá tại những địa điểm được phép hút thuốc lá.

    * Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi:

    – Không treo biển có chữ hoặc biểu tượng “cấm hút thuốc lá” tại địa điểm cấm hút thuốc lá;

    – Không yêu cầu người vi phạm chấm dứt việc hút thuốc lá trong cơ sở của mình;

    – Không tổ chức thực hiện, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện đúng quy định về cấm hút thuốc lá tại địa điểm thuộc quyền quản lý, điều hành.

    * Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây tại nơi dành riêng cho người hút thuốc lá:

    – Không có phòng và hệ thống không khí tách biệt với khu vực không hút thuốc lá;

    – Không có dụng cụ chứa mẩu, tàn thuốc lá;

    – Không có biển báo tại vị trí phù hợp, dễ quan sát;

    – Không có thiết bị phòng cháy, chữa cháy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đi Tìm Giải Pháp Cho Người Nghiện Thuốc Lá
  • Hạn Chế Tác Hại Của Thuốc Lá, Bằng Cách Nào?
  • Biện Pháp Hạn Chế Việc Hút Thuốc Lá
  • Phòng Chống Tác Hại Của Thuốc Lá:biện Pháp Nào Hạn Chế Hút Thuốc Lá?
  • Động Đất + Sóng Thần Và Các Biện Pháp Hạn Chế
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Giảm Tỷ Lệ Nợ Quá Hạn

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Làm Mát Nhà Hàng, Quán Cafe.
  • Cách Làm Mát Cho Quán Cafe Vào Mùa Nóng Tiết Kiệm Chi Phí
  • Lắp Đặt Phun Sương Quán Cafe Tiết Kiệm Chi Phí Nhất
  • Giải Pháp Làm Mát Cho Không Gian Cafe, Nhà Hàng, Quán Ăn
  • Béc Phun Sương Inox Trong Phun Sương Ống Đồng Cao Áp
  • Theo báo cáo của Chi nhánh Ngân hàng Chính sách – Xã hội tỉnh (NHCSXH), tính đến hết quý I-2015, tổng số nợ quá hạn trên địa bàn tỉnh trên 7,2 tỷ đồng, chiếm 0,43% tổng dư nợ. Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn đang nằm ở mức cho phép (dưới 1%) và đã giảm, nhưng so với bình quân khu vực đồng bằng sông Hồng (tỷ lệ nợ quá hạn chỉ còn 0,2%) thì Ninh Bình vẫn đang ở mức cao.

    Tính đến hết quý I, tổng doanh số cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi trên địa bàn tỉnh đạt 103 tỷ đồng với hơn 4.200 hộ được vay vốn. Doanh số thu nợđạt trên 81 tỷ đồng; tổng dư nợ đạt trên 1.675 tỷ đồng, bằng 99% kế hoạch. Về chất lượng tín dụng: tỷ lệ nợ quá hạn chiếm 0,43% tổng dư nợ, giảm 0,02% so với thời điểm 31-12-2014; nợ quá hạn tập trung vào các chương trình cho vay hộ nghèo, cho vay vùng khó khăn, cho vay giải quyết việc làm, cho vay xuất khẩu lao động và cho vay học sinh, sinh viên.

    Theo lãnh đạo NHCSXH chi nhánh tỉnh Ninh Bình, nguyên nhân khiến cho tỷ lệ nợ quá hạn vẫn ở mức cao là do một số hộ vay sử dụng vốn không đúng mục đích. Lao động vay vốn đi xuất khẩu lao động phải về nước trước thời hạn, không thanh lý được hợp đồng. Một bộ phận người dân địa phương áp dụng quy mô sản xuất nhỏ lẻ, đầu tư sử dụng vốn vay đạt hiệu quả không cao. Nhiều gia đình nghề nghiệp không ổn định hoặc các trường hợp vay vốn không may gặp rủi ro trong cuộc sống như tai nạn, ốm đau, bệnh tật… nên khó khăn chưa trả được nợ. Ngoài ra, tỷ lệ nợ quá hạn cao một phần là do một số Tổ tiết kiệm và vay vốn ở các địa phương hoạt động chưa hiệu quả, chưa chú trọng đến công tác sinh hoạt, cũng như đôn đốc tổ viên trả nợ vay ngân hàng, dẫn đến nguồn vốn vay ưu đãi chưa phát huy hiệu quả. Do năng lực quản lý, cũng như việc ít chú trọng đến công tác tuyên truyền của một bộ phận cán bộ của đơn vị, dẫn đến nhiều hộ gia đình vay vốn ưu đãi đã đến hạn nhưng bỏ đi khỏi địa phương mà đơn vị không phát hiện được. Còn một số trường hợp khác được vay vốn nhưng lại chây ỳ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định.

    Điển hình như huyện Nho Quan có tỷ lệ nợ quá hạn chiếm tới 0,95%, là đơn vị có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhất hiện nay. Ngoài những nguyên nhân trên, huyện Nho Quan có tỷ lệ nợ quá hạn cao còn do có 18 hộ vay vốn với tổng số tiền trên 270 triệu đồng thuộc Tổ tiết kiệm và vay vốn của tổ trưởng Hoàng Thị Liên (Hội nông dân xã Văn Phong) đã sử dụng vốn vay không đúng mục đích. Mặc dù đã triển khai nhiều biện pháp như đôn đốc, vận động sự tham gia vào cuộc của các tổ chức, chính quyền địa phương nhưng đến nay vẫn chưa thu hồi được nợ. Tương tự thành phố Ninh Bình là một trong hai đơn vị có tỷ lệ nợ quá hạn cao nhất tỉnh. Tỷ lệ nợ quá hạn trên địa bàn này chiếm tới 0,84% tổng dư nợ. Qua tìm hiểu chúng tôi được biết, hiện nay trên địa bàn có một số khoản vay khó đòi, chưa xử lý được như: Dự án vay vốn Quỹ quốc gia giải quyết việc làm, nguồn vốn do Đoàn thanh niên quản lý của DNTN Hùng Thùy (phường Nam Bình) với số tiền450 triệu đồng chưa xử lý thu hồi được. Với khoản nợ này đã phải nhờ đến pháp luật và đã chuyển hồ sơ sang Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình nhưng vẫn chưa thu hồi được.

    Năm 2022, với mục tiêu giảm nợ xấu xuống mức dưới 0,5% so với tổng dư nợ, hiện tại, NHCSXH tỉnh đã, đang tích cực triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ, giải pháp, triệt để thu hồi nợ. Theo bà Lã Thị Hồng Yến, Giám đốc NHCSXH tỉnh: Với tính chất ưu đãi của nguồn vốn chính sách, các chương trình vay vốn từ NHCSXH không yêu cầu thế chấp tài sản mà sử dụng hình thức tín chấp với lãi suất thấp, nên việc đôn đốc xử lý nợ quá hạn cần sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức để nguồn vốn được quay vòng đến với nhiều đối tượng chính sách hơn. Là đơn vị chuyên môn, NHCSXH tỉnh sẽ phân công trách nhiệm cho từng cán bộ bám sát cơ sở để động viên, nhắc nhở các tổ trưởng Tổ tiết kiệm và vay vốn phải có trách nhiệm trong việc vận động tổ viên nộp lãi và gốc theo đúng quy định. Đồng thời, hỗ trợ, phối hợp với các đơn vị nhận ủy thác có những biện pháp tích cực, kiên quyết để thu hồi nợ quá hạn, đặc biệt ở những hộ vay có biểu hiện chây ỳ, những đơn vị có tỷ lệ nợ quá hạn cao như Nho Quan, Kim Sơn, thành phố Ninh Bình. Riêng những xã có tỷ lệ nợ quá hạn cao trên mức cho phép (từ 1% trở lên), NHCSXH tỉnh tham mưu cho UBND cấp xã thành lập tổ đôn đốc thu hồi nợ khó đòi. Tiếp tục triển khai thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo của cấp trên về việc xử lý nợ quá hạn; rà soát, xử lý nợ của các hộ vay vốn bỏ đi khỏi nơi cư trú. Với những khoản nợ quá hạn do cho vay xuất khẩu lao động, NHCSXH phối hợp với Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tổ chức làm việc với công ty xuất khẩu lao động để đôn đốc làm thủ tục thanh lý hợp đồng với người lao động phải về nước trước thời hạn, làm cơ sở cho các hộ vay trả nợ ngân hàng.

    Đại diện lãnh đạo Hội Phụ nữ tỉnh, đơn vị nhận ủy thác vốn ưu đãi cho biết: Để xử lý nợ quá hạn, Hội đã chỉ đạo các cấp hội, Tổ tiết kiệm và vay vốn thuộc Hội quản lý kiểm tra, rà soát nắm bắt lại tình hình nợ quá hạn. Từ đó phân tích, đánh giá, xác định rõ nguyên nhân từng khoản nợ xấu, tháo gỡ khó khăn, thuyết phục, giải thích và có biện pháp xử lý phù hợp. Qua điều tra cho thấy, các khoản nợ quá hạn do Hội phụ nữ quản lý chủ yếu là nợ cho vay xuất khẩu lao động về trước thời hạn. Hội đã chỉ đạo kiên quyết xử lý các trường hợp nợ quá hạn, nợ chiếm dụng có khả năng trả nhưng cố tình chây ỳ, tạo tính nghiêm minh, giáo dục và răn đe các đối tượng khác, giúp bảo tồn và tăng trưởng nguồn vốn Nhà nước. Nếu thu khoản lớn không được, Hội vận động các khoản thu nhỏ, thu dần dần từ 100 nghìn đồng trở lên để chị em dễ trả nợ. Xem xét lại các tổ có nợ quá hạn cao, năng lực kém, hoạt động không hiệu quả để thay mới, củng cố cán bộ Tổ tiết kiệm và vay vốn. Cùng với biện pháp cụ thể đó, Hội cũng tích cực tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền các cấp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt hoạt động tín dụng chính sách xã hội; phối hợp chặt chẽ NHCSXH tỉnh, NHCSXH huyện, thành phố và chính quyền địa phương có biện pháp kiên quyết để thu hồi các khoản nợ sử dụng sai mục đích, xâm tiêu, chiếm dụng, quá hạn, chây ỳ…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội: Cố Gắng Giảm Nợ Quá Hạn
  • Đề Tài Giải Pháp Xử Lý Nợ Quá Hạn Tại Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Bắc Á
  • Ban Hành Hàng Loạt Giải Pháp Giảm Quá Tải Bệnh Viện
  • Thủ Tướng Chính Phủ Vừa Có Chỉ Thị Về Việc Tăng Cường Các Giải Pháp Giảm Quá Tải Bệnh Viện, Mở Rộng Mạng Lưới Bệnh Viện Vệ Tinh.
  • Thủ Tướng Chỉ Thị Tăng Cường Các Giải Pháp Giảm Quá Tải Bệnh Viện
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100