Ipm: Hàng Tồn Kho Của Các Biện Pháp Phòng Ngừa

--- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Biện Pháp Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp
  • Ứng Dụng Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp (Ipm) Trên Cây Họ Cải
  • Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp Ibm
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Công Trình Xả Lũ Dự Án Hồ Chứa Nước Thượng Nguồn Sông Trí
  • Thi Công Xây Dựng Bể Xử Lý Nước Thải Nhanh Chóng, Giá Cả Siêu Hấp Dẫn
  • IPM có nghĩa là gì? IPM là viết tắt của Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của IPM được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài IPM, Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    IPM = Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa

    Tìm kiếm định nghĩa chung của IPM? IPM có nghĩa là Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của IPM trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của IPM bằng tiếng Anh: Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, IPM được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa. Trang này là tất cả về từ viết tắt của IPM và ý nghĩa của nó là Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa. Xin lưu ý rằng Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa không phải là ý nghĩa duy chỉ của IPM. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của IPM, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của IPM từng cái một.

    Ý nghĩa khác của IPM

    Bên cạnh Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa, IPM có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của IPM, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Hàng tồn kho của các biện pháp phòng ngừa bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hãy So Sánh Hai Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Câu Thơ Có Biện Pháp Hoán Dụ
  • Phân Biệt Biện Pháp Tu Từ Ẩn Dụ, Hoán Dụ Và Sự Phát Triển Từ Vựng Tiếng Việt Qua Việc Xác Định Nghĩa Gốc, Nghĩa Chuyển
  • Biện Pháp Ẩn Dụ, Hoán Dụ Và Bài Tập Vận Dụng (Có Đáp Án Gợi Ý)
  • Ứng Dụng Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp (Ipm) Trên Cây Họ Cải

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Phòng Trừ Tổng Hợp Ibm
  • Thuyết Minh Biện Pháp Thi Công Công Trình Xả Lũ Dự Án Hồ Chứa Nước Thượng Nguồn Sông Trí
  • Thi Công Xây Dựng Bể Xử Lý Nước Thải Nhanh Chóng, Giá Cả Siêu Hấp Dẫn
  • Ngày Ngày Mặt Trời Đi Qua Trên Lăng Thấy Một Mặt Trời Trong Lăng Rất Đỏ. Phân Tích Giá Trị Biểu Cảm Của Biện Pháp Tu Từ Đó.
  • Tài Liệu Luyện Thi: Tổng Hợp Các Biện Pháp Tu Từ Từ Vựng Thường Gặp Trong Tiếng Việt
  • Trong nhiều năm qua, nhiều bà con nông dân tỉnh Trà Vinh trong quá trình trồng rau vẫn có thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phun cho rau mỗi khi có sâu bệnh. Tuy nhiên, khi sử dụng thuốc trừ sâu bệnh không phải ai cũng sử dụng đúng cách. Từ đó, không những không diệt trừ được sâu bệnh mà vô tình giết chết một số thiên địch có ích trong ruộng. Do đó để diệt trừ sâu bệnh trên rau đạt hiệu quả, chúng ta nên áp dụng các biện pháp phòng trừ sâu bệnh tổng hợp hay còn gọi là IPM. Để giảm thiểu sâu hại đến mức thấp nhất chúng ta cần áp dụng tổng hợp các biện pháp như biện pháp canh tác, biện pháp thủ công, biện pháp sinh học và biện pháp hóa học để quản lý tốt sâu bệnh trên cây họ cải. Nhằm tạo ra các sản phẩm rau an toàn cho con người và môi trường.

    1. Biện pháp canh tác

    1.1. Biện pháp làm đất

    Điều đầu tiên trong biện pháp canh tác đó là chọn đất trồng. Đa số các cây rau cải đều thích hợp trồng ở đất có độ pH từ 6 – 7, có khả năng giữ ẩm và thoát nước tốt.

    Hình 1. Làm đất tơi xốp và phơi ải đất

    Tiến hành làm đất tơi xốp và phơi ải đất, giúp cho vi sinh vật hảo khí trong đất hoạt động tốt, làm cho đất tơi xốp, thông thoáng và cây dễ hấp thu các chất dinh dưỡng có trong đất. Ngoài ra, phơi ải đất còn có tác dụng diệt một số mầm bệnh, cỏ dại còn tồn dư trong đất ở vụ trước.

    Dùng vôi bột xử lý đất 50- 100 kg/ 1000 m2 trước 5-7 ngày lên líp. Bón vôi có tác dụng cải tạo đất thông qua khả năng hạ phèn, khử chua cho đất, khử trùng và phòng trừ nấm bệnh cho cây trồng. Ngoài ra nó còn cung cấp canxi cho đất và làm tăng khả năng phát triển cho bộ rễ cây rau.

    Sử dụng phân hữu cơ ủ với chế phẩm Trichoderma bón cho cây rau giúp làm phong phú hệ vi sinh vật có ích cho đất, phòng được một số bệnh cây do nấm gây ra, góp phần bền vững môi trường đất canh tác nông nghiệp.

    1.2. Trồng luân canh, xen canh

    Tùy từng mùa vụ mà chúng ta chọn loại rau trồng cho thích hợp. Cần tận dụng triệt để các biện pháp canh tác để góp phần hạn chế thấp nhất các điều kiện và nguồn phát sinh các loại dịch hại trên rau cải. Chú ý thực hiện chế độ luân canh: lúa – rau hoặc xen canh giữa các loại rau khác họ với nhau như: Bắp cải với cà chua để giảm bớt sâu tơ và một số sâu hại khác.

    1.3. Bẫy cây trồng

    Ngoài biện pháp luân canh, xen canh, có thể tiến hành bẫy cây trồng để dẫn dụ sâu hại hoặc xua đuổi sâu hại. Ví dụ như bẫy chua ngọt dẫn dụ sâu khoang, sâu tơ, sâu xanh; bẫy dính màu vàng hoặc màu xanh để bẫy một số con trưởng thành có cánh như ruồi đục lá, đục quả, bướm sâu tơ… gây hại cây trồng. Các loại bẫy này có chi phí thấp, dễ sử dụng, an toàn và hiệu quả.

    Hình 2. Bẫy dính màu vàng

    2. Biện pháp thủ công

    Trong quá trình chăm sóc nên thường xuyên kiểm tra đồng ruộng để ngắt bỏ những lá già, lá bệnh, ngắt bỏ ổ trứng một số sâu hại như sâu tơ, sâu xanh bướm trắng… thu gom tiêu hủy.

    Dùng hàng rào bằng lưới che chắn để quản lý bọ nhảy. Hàng rào che phải cao trên 80cm vì bọ nhảy không có khả năng nhảy cao hơn 7 0cm.

    Hình 3. Hàng rào che chắn

    3. Biện pháp sinh học

    Biện pháp sinh học phòng trừ sâu bệnh hại rau là lợi dụng các thiên địch để tiêu diệt sâu hại trên đồng ruộng. Một số thiên địch của sâu hại rau như: Các loài bọ rùa ăn rệp, ăn sâu hại; các loài ong ký sinh trứng, sâu non, nhộng của sâu hại; các loài kiến, nhện ăn sâu hại; các loài cóc, nháy ăn bướm sâu hại; các loài nấm đối kháng như nấm Trichoderma … Để bảo vệ được các loài có ích này không nên sử dụng thuốc hóa học. Khi rau nhiễm bệnh nên xay gừng, tỏi, ớt sau đó ngâm với rượu khoảng 15 ngày, rồi phun lên rau, trị được tất cả các loại sâu bệnh của rau.

    4. Biện pháp hóa học

    Chúng ta chỉ sử dụng thuốc hóa học để phòng trừ sâu bệnh khi điều tra ruộng phát hiện sâu bệnh đến ngưỡng gây hại kinh tế mà các biện pháp trên không điều hòa được, thì lúc đó chúng ta mới nên sử dụng thuốc phun. Ưu tiên các loại thuốc sinh học, thuốc thảo mộc trước, nếu vẫn không diệu trừ được sâu bệnh thì mới sử dụng thuốc hóa học được phép sử dụng trên rau để phun.

    Lưu ý khi sử dụng thuốc hóa học để phun trên cây họ cải, chúng ta cần tuân thủ thời gian cách lý đối với từng loại thuốc để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng. Phun theo nguyên tắc 4 đúng.

    Nguyễn Thành Đông

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Biện Pháp Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp
  • Ipm: Hàng Tồn Kho Của Các Biện Pháp Phòng Ngừa
  • Hãy So Sánh Hai Biện Pháp Nghệ Thuật Tu Từ: Ẩn Dụ Và Hoán Dụ
  • Câu Thơ Nào Sau Đây Sử Dụng Biện Pháp Tu Từ Hoán Dụ
  • Câu Thơ Có Biện Pháp Hoán Dụ
  • Ipm Và Icm Trong Nông Nghiệp

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Phương Pháp Iui Là Gì Và Những Điều Bạn Nên Biết
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo (Iui) Là Gì? Quy Trình Thực Hiện & Chi Phí
  • Tôi nghe nói nhiều đến các chương trình IPM và ICM trong SXNN nhưng không hiểu?

    Tập huấn kỹ thuật IPM trong sản xuất rau an toàn

    Hỏi: Tôi nghe nói nhiều đến các chương trình IPM và ICM trong SXNN nhưng không hiểu?

    (Trần Trọng Hoàng – xã Hoằng Lộc, Hoằng Hóa, Thanh Hóa)

    Trả lời: Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pests Management, viết tắt theo tiếng Anh là IPM) là “Hệ thống quản lý dịch hại trong đó căn cứ vào môi trường và các điều kiện sinh thái cụ thể và sự biến động quần thể các loài sinh vật gây hại mà sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các biện pháp thích hợp để khống chế quần thể sinh vật gây hại luôn ở mức dưới ngưỡng gây hại kinh tế”.

    Quản lý dịch hại tổng hợp trong nhiều trường hợp đồng nghĩa với phòng trừ sâu bệnh tổng hợp (Integrated Pestt Control, viết tắt theo tiếng Anh là IPC). Sinh vật gây hại trong IPM là các loài động vật hại (như côn trùng) và các loài vi sinh vật là tác nhân gây bệnh hại cây trồng. Đối với cỏ dại, việc phòng trừ chúng ngày càng trở nên quan trọng và được thực hiện trong chương trình quản lý cỏ dại tổng hợp (Integrated Weed Management, viết tắt theo tiếng Anh là IWM).

    Cấu thành nên IPM là hệ thống các biện pháp phòng ngừa (kiểm dịch thực vật, điều tra phát hiện các tác nhân lạ gây hại cây trồng và nông sản để có biện pháp bao vây tiêu diệt kịp thời), biện pháp canh tác, sử dụng giống chống chịu, biện pháp sinh học và công nghệ sinh học, biện pháp dùng thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng: đúng thuốc, đúng nồng độ liều lượng, đúng lúc và đúng cách v.v…

    Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp IPM được đưa vào áp dụng tại Việt Nam bắt đầu từ năm 1992 cho đến nay đã thu được nhiều kết quả khả quan. Tổng kết hiệu quả của chương trình sau 7 năm thực hiện, ngành BVTV tỉnh Thái Bình nhấn mạnh: Việc ứng dụng IPM ở Thái Bình đã góp phần đưa năng suất lúa đạt trên 130 tạ/ha, sản lượng lương thực đạt trên 1 triệu tấn; nông dân hiểu được tiếp thu ứng dụng hiệu quả IPM vào sản xuất và đời sống.

    Sử dụng các loại vật tư cân đối, giảm được lượng đạm, tăng lượng lân và kali trên đơn vị diện tích, cấy mật độ vừa phải, giảm lượng giống, tạo cho cây trồng phát triển cân đối, cứng, khỏe, tăng sức chống chịu; giảm được 51,50% số lần phun thuốc, giảm 41,84% lượng thuốc sâu. Lượng thuốc trừ sâu, trừ bệnh giảm trên rau màu cũng đáng kể, trước đây thường phải phun từ 13 đến 15 lần/vụ, ứng dụng IPM giảm xuống 5-6 lần. Ở những ruộng ứng dụng IPM, mức đầu tư phân bón tuy có tăng hơn ruộng bình thường (không ứng dụng IPM) từ 50 đến 60 ngàn đồng/ha/vụ, nhưng năng suất lúa tang từ 9 đến 17%, thu nhập tăng từ 1,2 đến 1,4 triệu đồng/ha/vụ.

    Ngoài ra việc ứng dụng IPM vào sản xuất giảm được lượng thuốc BVTV trên đồng ruộng, bảo vệ được các loài thiên địch có ích như: ếch nhái, rắn, chim, ong, bọ rùa, nhện vồ mồi v.v… Chương trình IPM rất phù hợp với cơ chế khoán trong nông nghiệp hiện nay, góp phần nâng cao dân trí và xóa đói, giảm nghèo ở nông thôn, góp phần đắc lực vào chương trình sản xuất nông nghiệp bền vững.

    Chương trình quản lý tổng hợp dinh dưỡng và dịch hại cây trồng: IPM và IWM là bộ phận quan trọng của chương trình quản lý cây trồng tổng hợp (Integrated Crop Management, viết tắt theo tiếng Anh là ICM). Thực hiện tốt chương trình ICM cây trồng phát triển tốt, ít sâu bệnh, cho năng suất cao, sản phẩm sạch, chất lượng tốt. Ở nước ta chương trình ICM còn được gọi là chương trình “3 giảm, 3 tăng (ở miền Nam) hay “2 giảm, 3 tăng” (ở miền Bắc). Trong đó 3 giảm là: giảm lượng giống hoặc lượng nước tưới, giảm lượng đạm bón dư thừa, giảm thuốc BVTV; 3 tăng là: tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng nông sản, tăng hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích.

    Chương trình ICM được đưa vào thực hiện tại Việt Nam từ năm 2001. Nghệ An là một trong những tỉnh đi đầu và triển khai rộng rãi nhất, thu được nhiều kết quả đáng khích lệ nhất. Sau 7 năm thực hiện, đến nay toàn tỉnh đã xây dựng được hơn 400 mô hình ứng dụng ICM tại 12 huyện, thị trọng điểm trồng lúa của tỉnh, đã huấn luyện cho hơn 9.000 lượt nông dân với diện tích có ứng dụng chương trình lên tới hàng nghìn ha.

    Mục đích của chương trình là nâng cao năng lực, nhận thức cho cán bộ ngành nông nghiệp và bà con nông dân về mối quan hệ giữa phân bón, dịch hại và khả năng sinh trưởng, phát triển cây trồng, từ đó sử dụng lượng giống hợp lý, giảm lượng đạm dư thừa, giảm sử dụng thuốc BVTV, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển khỏe, tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế. Kết quả chương trình: lượng giống giảm bình quân từ 10-40kg/ha, giảm 1-2 lần phun thuốc/vụ, giảm lượng đạm bón dư thừa 20-60kg/ha, năng suất bảo đảm và tăng từ 4-8 tạ/ha, chất lượng sản phẩm được nâng cao, hiệu quả kinh tế tăng từ 1,5-3 triệu đồng/ha.

    nguyên khê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp (Ipm) Trên Cây Lúa
  • Nguyên Tắc Cơ Bản I.p.m (Trong Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp)
  • E Muốn Sử Dụng Biện Pháp Iui Thì Có Cần Đợi Tới Ngày Chu Kỳ Thứ 3. 2 Vo Chồng Di Khám Rồi Điều Trị Luôn Được Không A.
  • Kỹ Thuật Bơm Tinh Trùng Vào Buồng Tử Cung Iui
  • Tinh Trùng Yếu Có Làm Iui Được Không?
  • Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp (Ipm) Trên Cây Lúa

    --- Bài mới hơn ---

  • Ipm Và Icm Trong Nông Nghiệp
  • Tìm Hiểu Phương Pháp Iui Là Gì Và Những Điều Bạn Nên Biết
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Các Bước Chuẩn Bị, Quy Trình Và Chi Phí
  • Phương Pháp Bơm Tinh Trùng Vào Tử Cung (Iui) Là Gì?
  • Iui Là Gì Và Bạn Đã Sẵn Sàng Để Thực Hiện Phương Pháp Này?
  • I- ĐỊNH NGHĨA, NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG QUẢN LÝ DỊCH HẠI TỔNG HỢP.

    1. Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là gì?

    Theo nhóm chuyên gia của tổ chức nông lương thế giới (FAO), “Quản lý dịch hại tổng hợp” là một hệ thống quản lý dịch hại mà trong khung cảnh cụ thể của môi trường và những biến động quần thể của các loài gây hại, sử dụng tất cả các kỹ thuật và biện pháp thích hợp có thể được, nhằm duy trì mật độ của các loài gây hại ở dưới mức gây ra những thiệt hại kinh tế.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    2. Năm nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) a. Trồng và chăm cây khoẻ:

    – Chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương.

    – Chọn cây khoẻ, đủ tiêu chuẩn.

    – Trồng, chăm sóc đúng kỹ thuật để cây sinh trưởng tốt có sức chống chịu và cho năng suất cao.

    b. Thăm đồng thư­ờng xuyên– Kiểm tra đồng ruộng thường xuyên, nắm được diễn biến về sinh trưởng phát triển của cây trồng; dịch hại; thời tiết, đất, nước… để có biện pháp xử lý kịp thời.

    c. Nông dân trở thành chuyên gia đồng ruộng

    – Nông dân hiểu biết kỹ thuật, có kỹ năng quản lý đồng ruộng cần tuyên truyền cho nhiều nông dân khác.

    d. Phòng trừ dịch hại

    – Sử dụng các biện pháp phòng trừ thích hợp tuỳ theo mức độ sâu bệnh, thiên địch ký sinh ở từng giai đoạn.

    – Sử dụng thuốc hoá học hợp lý và phải đúng kỹ thuật.

    e.Bảo vệ thiên địch

    – Bảo vệ những sinh vật có ích, giúp nhà nông tiêu diệt dịch hại.

    II – NỘI DUNG QUẢN LÝ DỊCH HẠI T��”NG HỢP 1. Biện pháp canh tác a. Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng sau mỗi vụ gieo trồng có thể diệt được nhiều sâu non và nhộng sâu đục thân lúa sống trong rạ và gốc rạ; đồng thời làm mất nơi trú ngụ và nguồn thức ăn của rầy nâu, rầy xanh… là những môi giới truyền các bệnh siêu vi trùng nguy hiểm cho lúa như bệnh vàng lụi, bệnh lúa lùn xoăn lá và bệnh lại mạ.

    Nguyên lý tác động của biện pháp vệ sinh đồng ruộng và xử lý tàn dư cây trồng sau vụ thu hoạch là cắt đứt được vòng chu chuyển của sâu bệnh từ vụ này sang vụ khác và hạn chế nguồn sâu bệnh tích luỹ, lây lan ngay từ đầu vụ.

    Luân canh lúa với các cây trồng khác tránh được nguồn bệnh tích luỹ trên lúa từ vụ này sang vụ khác

    c. Thời vụ gieo trồng thích hợp

    Thời vụ gieo trồng thích hợp đảm bảo cho lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đạt được năng suất cao, tránh được rủi ro về thời tiết. Việc xác định thời vụ thích hợp còn phải dựa vào đặc điểm phát sinh gây hại của các loài sâu bệnh quan trọng, đảm bảo cho lúa tránh được các đợt cao điểm của dịch bệnh.

    d. Sử dụng hạt giống khoẻ, giống chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày

    – Hạt giống khoẻ, sạch bệnh giúp cho cây lúa phát triển thuận lợi

    – Sử dụng giống chống chịu giảm sử dụng thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh; giảm ô nhiễm môi trường, bảo vệ được thiên địch; giữ được cân bằng hệ sinh thái nông nghiệp.

    – Giống lúa ngắn ngày với thời gian sinh trưởng khoảng 100- 110 ngày, trồng trong vụ sớm có thể tránh được sâu đục thân, sâu cắn gié. Giống lúa cực ngắn với thời gian sinh trưởng 80-90 ngày cũng là biện pháp phòng trừ rầy nâu hiệu quả, vì rầy nâu không kịp tích luỹ số lượng đủ gây hại nặng trên những giống cực ngắn ngày.

    e. Gieo trồng với mật độ hợp lý

    Mật độ và kỹ thụật gieo, cấy phụ thuộc vào giống lúa, thời vụ, đất và dinh dưỡng, tuổi mạ, chất lượng mạ, trình độ thâm canh…

    Mật độ quá dầy hoặc quá thưa đều ảnh hưởng đến năng suất, đồng thời còn ảnh hưởng đến sự phát sinh và phát triển của sâu bệnh, cỏ dại.

    Các ruộng lúa gieo quá dầy thường khép hàng sớm, gây nên ẩm độ cao, tạo điều kiện cho rầy nâu và bệnh khô vằn phát sinh phá hại mạnh vào cuối vụ.

    f. Sử dụng phân bón hợp lí

    Bón phân quá nhiều hoặc bón phân không hợp lý sẽ làm cho cây phát triển không bình thường và dễ bị sâu bệnh phá hại. Ruộng lúa bón quá nhiều phân dễ bị lốp và nhiễm các bệnh đạo ôn, khô vằn, bạc lá…

    2. Biện pháp thủ công

    Bẫy đèn bắt bướm, ngắt ổ trứng, dùng rào chà tướp lá phun sâu cuốn lá, đào hang bắt chuột…

    3. Biện pháp sinh học a. Tạo môI trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại:

    – Bảo vệ thiên địch tránh khỏi độc hại do dùng thuốc hoá học bằng cách sử dụng những loại thuốc chọn lọc, thuốc có phổ tác động hẹp, dùng thuốc khi thật cần thiết và phải dựa vào ngưỡng kinh tế…

    – Tạo nơi cư trú cho thiên địch sau vụ gieo trồng bằng cách trồng xen, trồng cây họ đậu trên bờ ruộng, làm bờ rạ cho thiên địch ẩn nấp…

    – Áp dụng các kỹ thuật canh tác hợp lí tạo điều kiện cho thiên địch phát triển.

    b. ưu tiên sử dụng các loại thuốc Bảo vệ thực vật sinh học;

    Các loại thuốc sinh học chỉ có tác dụng trừ dịch hại, không độc hại với các loại sinh vật có ích an toàn với sức khỏe con người và môi trường

    Một số loại sinh vật có ích trên đồng lúa 4. Biện pháp hoá học a. Sử dụng hợp lý thuốc hoá học BVTV

    – Sử dụng thuốc theo ngưỡng kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, giữ cân bằng sinh học trên đồng ruộng, hạn chế ô nhiễm môi trường.

    – Sử dụng thuốc an toàn với thiên địch: Lựa chọn thuốc ít độc hại, chọn thời gian và phương thức xử lý ít ảnh hưởng với thiên địch.

    – Sử dụng thuốc theo nguyên tắc 4 đúng:

    + Đúng chủng loại:

    Mỗi loại sâu hay bệnh đều có những loại thuốc thích hợp để phòng trừ. Dùng không đúng thuốc sẽ không diệt được sâu bệnh mà còn gây lãng phí và ảnh hưởng tới thiên địch và môi trường.

    + Đúng liều l­ượng và nồng độ:

    Liều lượng: Là lượng thuốc quy định cho một đơn vị diện tích (ha, sào hay công đất… mét khối kho tàng…)

    Nồng độ sử dụng: Là độ pha loãng của thuốc dạng lỏng, dạng bột để phun lên cây, lượng đất bột, cát để trộn với thuốc hạt rắc vào đất.

    Dùng thuốc không đủ liều lượng và nồng độ hiệu quả sẽ kém, dịch hại dễ nhờn thuốc. Sử dụng quá liều lượng và nồng độ (lạm dụng thuốc) vừa lãng phí, vừa độc hại.

    Phun rải thuốc không đúng cách hiệu quả sẽ kém, thậm chí không có hiệu quả.

    + Đúng thời điểm (Đúng lúc):

    Tác hại của dịch hại cây trồng chỉ có ý nghĩa khi mật độ quần thể đạt tới số lượng nhất định, gọi là ngưỡng kinh tế. Do vậy, chỉ sử dụng thuốc đối với sâu hại khi mật độ của chúng đạt tới ngưỡng kinh tế. Các biện pháp “phun phòng” chỉ nên áp dụng trong những trường hợp đặc biệt. Phun thuốc định kỳ theo lịch có sẵn hoặc phun theo kiểu cuốn chiếu là trái với nguyên tắc của phòng trừ tổng hợp.

    + Đúng kỹ thuật (đúng cách):

    Dùng thuốc phải căn cứ vào đặc điểm của sâu bệnh hại. Ví dụ khi phun thuốc trừ rầy nâu phải rẽ hàng lúa để đưa vòi phun vào phần dưới của khóm lúa, nơi rầy tập trung chích hút bẹ lá.

    b. Sử dụng thuốc có chọn lọc

    Trong quản lý dịch hại tổng hợp, người ta chủ trương ưu tiên dùng các loại thuốc có phổ tác động hẹp hay còn gọi là thuốc có tác động chọn lọc. Tuy nhiên, cho đến nay những nghiên cứu về tác động chọn lọc và độ an toàn của thuốc đối với thiên địch còn rất ít.

    K.s Phạm Công Khải

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Cơ Bản I.p.m (Trong Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp)
  • E Muốn Sử Dụng Biện Pháp Iui Thì Có Cần Đợi Tới Ngày Chu Kỳ Thứ 3. 2 Vo Chồng Di Khám Rồi Điều Trị Luôn Được Không A.
  • Kỹ Thuật Bơm Tinh Trùng Vào Buồng Tử Cung Iui
  • Tinh Trùng Yếu Có Làm Iui Được Không?
  • Thụ Tinh Nhân Tạo Iui Là Gì? Quy Trình Thụ Tinh Nhân Tạo Tại Tâm Anh
  • Thế Nào Là Quản Lý Dịch Hại Tổng Hợp Ipm?

    --- Bài mới hơn ---

  • Ô Nhiễm Không Khí – Nguyên Nhân Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Khắc Phục Nạn Ô Nhiễm Không Khí: Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường Đề Xuất Ban Hành Một Loạt Biện Pháp Cấp Bách
  • Tác Động Nguy Hại Đến Sức Khỏe Người Dân Và Các Biện Pháp Cải Thiện
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước – Nguyên Nhân, Giải Pháp Khắc Phục
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nước Là Gì? Nguyên Nhân, Hậu Quả, Cách Khắc Phục
  • Trong những năm gần đây, nền nông nghiệp Việt Nam gặp khó khăn trong việc sử dụng các loại thuốc BVTV không kiểm soát, dẫn đến mất cân bằng hệ sinh thái, làm phá hủy mối quan hệ bền vững giữa cây trồng – sâu hại – thiên địch. Các nhà khoa học đã định hướng ra một chiến lược phòng trừ sâu bệnh mới bằng cách bảo vệ mối quan hệ cân bằng tự nhiên trong hệ sinh thái và không cần sử dụng đến các loại thuốc BVTV. Từ đó đã hình thành nên biện pháp phòng trừ sâu bệnh mới trên nền tảng tôn trọng tự nhiên, đó chính là biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

    1/ Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) là gì?

    Quản lý dịch hại tổng hợp trong tiếng anh được gọi là Integrated Pests Management và thường được viết tắt thành IPM.

    Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO), quản lý dịch hại tổng hợp là “hệ thống quản lý dịch hại trong đó căn cứ vào môi trường và các điều kiện sinh thái cụ thể và sự biến động quần thể các loài sinh vật gây hại mà sử dụng các phương tiện kỹ thuật và các biện pháp thích hợp để khống chế quần thể sinh vật gây hại luôn ở mức dưới ngưỡng gây hại kinh tế”.

    “IPM” nhấn mạnh vào cây trồng khỏe mạnh, có ảnh hưởng tối thiểu tới hệ sinh thái nông nghiệp và khuyến khích cơ chế phòng trừ dịch hại bằng biện pháp tự nhiên.

    Mục đích cuối cùng của IPM là tìm ra những biện pháp có hiệu quả, có lợi về mặt kinh tế nhằm hạn chế tác hại của sâu bệnh, làm cho cây trồng đạt năng suất cao và phẩm chất nông sản tốt. Trên ý nghĩa đó, IPM không chỉ nhằm tiêu diệt nguồn sâu bệnh mà muốn điều hoà các mối cân bằng trong hệ sinh thái.

    Như vậy, quản lý dịch hại tổng hợp phải được giải quyết trên tinh thần: tổng hợp, toàn diện và chủ động. Tuy nhiên khi xây dựng chương trình IPM cho cây trồng, áp dụng ở một vùng sản xuất nhất định, phải tùy thuộc vào các đặc điểm về môi trường, thời tiết, khí hậu, tình hình dịch hại, trình độ nhận thức và khả năng kinh tế của nông dân để lựa chọn các biện pháp thích hợp.

    2/ Nguyên tắc cơ bản trong quản lý dịch hại tổng hợp (IPM)

    • Trồng cây khỏe: Chọn giống tốt, bón phân cân đối và chăm sóc hợp lý nhằm tạo tiền đề cho cây trồng sinh trưởng khỏe, có khả năng cho năng suất cao và đền bù lại những mất mát (lá, thân) do sâu hại hay tác nhân khác gây ra.

    • Bảo vệ  thiên địch: Thiên địch là côn trùng có ích và sử dụng nguồn thức ăn chính là sâu hại, do đó có tác dụng kìm hãm mật độ sâu hại một cách đáng kể. Thiên địch cần được bảo vệ bằng cách không phun thuốc BVTV lên đồng ruộng.

    • Thăm đồng thường xuyên: Quan sát sự sinh trưởng của cây trồng để có biện pháp tác động thích hợp giúp cây trồng phát triển tốt. 

    • Nông dân trở thành chuyên gia: Tập huấn nông dân trở thành chuyên gia vì chính họ có khả năng ứng dụng thành công IPM trên ruộng nhà và hướng dẫn cho nhiều nông dân khác cùng làm theo IPM. 

    3/ Nguyên lý trong quản lý dịch hại tổng hợp IPM?

    • Trong hệ thống quản lý dịch hại tổng hợp, tất cả các biện pháp kỹ thuật tham gia cần phải hài hoà với các yếu tố môi trường, đặc biệt cần khai thác tối đa các yếu tố gây chết tự nhiên của sâu hại.

    • Không nên cho rằng phải tiêu diệt hết các cá thể gây hại trên đồng ruộng mà chỉ có thể duy trì mật độ chúng ở dưới ngưỡng gây hại cho phép.

    • Sâu hại ở mật độ thấp không được xem là dịch hại mà đôi khi còn có lợi vì là nguồn thức ăn để duy trì sự sống của quần thể thiên địch. Chấp nhận một mật độ sâu hại nhỏ trên đồng ruộng là một ý tưởng tốt.

    • Không thể quan niệm quản lý dịch hại tổng hợp là một quy trình cứng nhắc để áp dụng trong mọi trường hợp mà cần phải coi đó như là một nguyên tắc cần phải tuân theo để xác định một giải pháp tối ưu trong một tình huống cụ thể.

    • IPM là sự vận dụng linh hoạt trên nền tảng khoa học cũ và những tiến bộ kỹ thuật mới.

    4/ Nội dung của 5 biện pháp cơ bản trong IPM

    4.1 Biện pháp canh tác kỹ thuật

    • Làm đất sớm và vệ sinh đồng ruộng

    • Luân canh

    • Thời vụ gieo trồng thích hợp

    • Sử dụng hạt giống khỏe, giống chống chịu sâu bệnh, giống ngắn ngày

    • Gieo trồng với mật độ hợp lý

    • Sử dụng phân bón hợp lý

    4.2 Biện pháp thủ công 

    Bẫy đèn bắt bướm và rầy, ngắt ổ trứng, đào hang bắt chuột, bẫy bả, sử dụng pheremore để dẫn dụ một số loại côn trùng,…

    4.3 Biện pháp sinh học 

    Tạo môi trường thuận lợi cho các loại sinh vật có ích là kẻ thù tự nhiên của dịch hại phát triển nhằm góp phần tiêu diệt dịch hại. Ưu tiên sử dụng các loại thuốc có nguồn gốc sinh học.

    4.4 Biện pháp hoá học 

    Phải sử dụng các loại thuốc hóa học một cách hợp lý và có chọn lọc, đặc biệt không sử dụng các loại thuốc có khả năng cao gây hại đến sức khỏe con người.

    chúng tôi

    5

    /

    5

    (

    5

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Biển – Nguyên Nhân Và Giải Pháp Khắc Phục
  • Hoán Dụ Là Gì? Có Mấy Hình Thức Trong Biện Pháp Hoán Dụ?
  • Xử Lý Rác Thải Nhựa Đúng Cách – Giải Pháp Giảm Rác Thải Nhựa
  • Giảm Rác Thải Nhựa Với 12 “Ý Tưởng” Cực Đơn Giản – Giải Pháp Hay
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Về Đô Thị Hoá Vùng Ven Đô Thành Phố Hồ Chí Minh Từ Sau Đổi Mới
  • Biện Pháp Tư Pháp Là Gì ? Có Những Biện Pháp Tư Pháp Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Biệt Hình Phạt Với Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự?
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Trong Bộ Luật Hình Sự 2022
  • So Sánh Hình Phạt Và Biện Pháp Tư Pháp
  • Thi Hành Các Biện Pháp Tư Pháp Hình Sự
  • Biện Pháp Tư Pháp Trong Luật Hình Sự Việt Nam Và Vấn Đề Bảo Vệ Quyền Con Người
  • Các biện pháp tư pháp quy định trong Bộ luật Hình sự là những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với người phạm tội hoặc người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội hoặc gây nguy hiểm cho xã hội và giáo dục họ trở thành những công dân có ích cho xã hội.

    Các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 41 đến Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 1999 ( Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009) .

    – Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

    – Vật hoặc tiền phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có.

    – Vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành.

    Biện pháp thứ hai: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại, buộc công khai xin lỗi (Điều 42 Bộ luật Hình sự). Đây là biện pháp tư pháp buộc người phạm tội trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hoặc đã sửa chữa những tài sản bị hư hòng do hành vi phạm tội gây ra. Trường hợp người phạm tội gây ra thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc họ phải công khai xin lỗi người bị hại.

    Biện pháp thứ ba: bắt buộc chữa bệnh (Điều 43 Bộ luật Hình sự) là biện pháp tư pháp áp dụng với người phạm tội mà trước, trong hoặc sau khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội họ đã mắc bệnh và buộc phải chữa bệnh dưới sự giám sát của cơ sở điều trị hoặc của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Biện pháp thứ tư: là biện pháp áp dụng với người chưa thành niên phạm tội gồm: giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng.

    Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ 1 năm đến 2 năm đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng. Người được giáo dục tại xã, phường thị trấn phải chấp hành đầy đủ nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm.

    Thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 1 năm đến 2 năm đối với người chưa thành niên phạm tội, nếu thấy do tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống của người đó mà cần thiết đưa họ vào nơi quản lý giáo dục chặt chẽ.

    Bộ phận tư vấn Luật Hình sự – Công ty luật Minh Khuê

    Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

    Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Thuế Quan Và Phi Thuế Quan Trong Chính Sách Ngoại Thương Của Nhật Bản
  • Thương Mại Quốc Tế (P3: Hàng Rào Phi Thuế Quan)
  • Tìm Hiểu Phi Thuế Quan Là Gì Và Khu Phi Thuế Là Gì?
  • “các Biện Pháp Phi Thuế Quan”
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Quan
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Và Hủy Bỏ Biện Pháp Cưỡng Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Cưỡng Chế Tiền Nợ Thuế?
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Đối Với Pháp Nhân Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022 Và Những Vấn Đề Đặt Ra Khi Triển Khai Áp Dụng
  • Biện Pháp Cưỡng Chế Trong Tố Tụng Hình Sự Là Gì ?
  • Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Các Biện Pháp Chống Xuất Tinh Sớm
  • Biện pháp cưỡng chế là biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện một nghĩa vụ, trách nhiệm theo quyết định đã có hiệu lực của một cá nhân, tổ chức có thẩm quyền.

    Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Điều 126 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022 quy định về biện pháp cưỡng chế như sau:

    “Để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tổ tụng có thể áp dụng biện pháp áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.”

    Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự , ngoài việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, để bảo đảm hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, trong phạm vi thẩm quyền của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản.

    Hủy bỏ biện pháp cưỡng chế

    Điều 130 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022 quy định về hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản như sau:

    “1.Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp:

    a)Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    b)Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    c)Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    d)Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    2.Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản khi thấy không còn cần thiết.

    Đối với biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản trong giai đoạn điều tra, truy tố thì việc hủy bỏ hoặc thay thế phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.”

    Các trường hợp cần hủy bỏ biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài sản

    Biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản là biện pháp cưỡng chế cần thiết cần được áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Tuy nhiên, những biện pháp này không bắt buộc phải áp dụng trong mọi trường hợp, mọi thời điểm trong quá trình tiến hành tổ tụng. Khỉ có căn cứ cho rằng việc áp dụng là không cằn thiết, biện pháp kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản đang áp dụng phải được hủy bỏ khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    -Đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án;

    -Đình chỉ điều tra đối với bị can, đình chỉ vụ án đối với bị can;

    -Bị cáo được Tòa án tuyên không có tội;

    -Bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại.

    Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp cấp trong giai đoạn điều tra, truy tổ khi hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp kê biên tài sàn, phong tỏa tài khoản phải thông báo cho Viện kiểm sát trước khi quyết định.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

    1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
    2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Tuổi 30 Không Thể Không Biết
  • Các Biện Pháp Chống Lão Hóa Da Cho Tuổi Trung Niên
  • 3 Biện Pháp Chống Lão Hóa Da
  • Bật Mí Các Biện Pháp Phòng Chống Lão Hóa Da Mặt Tuổi 40 Hiệu Quả Cao
  • Bí Quyết Ngăn Ngừa Lão Hóa Da Tuổi 30 Hiệu Quả
  • Biện Pháp Tu Từ: Các Biện Pháp Tu Từ Trong Văn Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học, Khái Niệm Và Tác Dụng Của Các Biện Pháp Tu Từ
  • Chuyên Đề: Các Biện Pháp Tu Từ
  • Tổng Hợp Về Các Biện Pháp Tu Từ Và Các Ví Dụ Cụ Thể
  • Biện Pháp Tu Từ: Lý Thuyết Và Một Vài Ví Dụ
  • Các Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Ngữ Văn
  • Biện pháp tu từ là gì? Biện pháp tu từ là sử dụng biện pháp ẩn dụ, so sánh, nói quá, chơi chữ,…Trong một câu, một đoạn văn hay một bài thơ để tạo ra một hiệu quả nhất định. Làm cho câu văn trở nên hay hơn sinh động hơn và ấn tượng, biểu cảm, hấp dẫn hơn với người đọc người nghe.

    1. Biện pháp tu từ so sánh

    Biện pháp tu từ so sánh là sử dụng biện pháp so sánh, đối chiếu sự vật này với sự vật kia có nét tương đồng với nhau.

    Cấu trúc của dạng so sánh mà chúng ta thường gặp: …là…; …như…; chúng tôi nhiêu……bấy nhiêu.

    Biện pháp tu từ so sánh có tác dụng làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho câu văn, lời nói. Nếu một bài văn, câu văn có chứa biện pháp tu từ bạn sẽ thấy nó sinh động, hấp dẫn bạn đọc hơn.

    Một số ví dụ biện pháp tu từ: Cấu trúc A như B:

    Ví dụ 1: “Trẻ em như búp trên cành” – Trích câu nói của Bác Hồ

    Ví dụ 2: “Công cha như núi Thái Sơn.

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” – Trích ca dao

    Ví dụ 3: Trích tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên

    “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét

    Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng

    Như xuân đến chim rừng lông trở biếc

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”

    Cấu trúc A là B:

    Ví dụ 1: Nhà là nơi bình yên nhất, hay nhà là nơi để về

    Ví dụ 2: ” Quê hương là chùm khế ngọt” – Quê Hương ( Trung Đỗ Quân)

    Cấu trúc bao nhiêu..Bấy nhiêu:

    Ví dụ 1:

    “Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 2: “Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Ví dụ 3:

    “Ngó lên nuộc lạt mái nhà

    Bao nhiêu nuộc lạt nhớ ông bà bấy nhiêu” – Trích Ca dao

    Trong pháp tu từ so sánh sẽ có các kiểu so sánh: Ngang bằng, không ngang bằng; theo đối tượng: so sánh theo đối tượng cùng loại, So sánh khác loại,; so sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại.

    Ví dụ: Trích Sáng tháng năm – Tố Hữu

    “Người là cha, là bác, là anh

    Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” – Sử dụng so sánh ngang bằng.

    ” Cô giáo em hiền như cô Tấm”- So sánh đối tượng cùng loại,…

    2. Biện pháp tu từ nhân hóa

    Biện pháp tu từ nhân hóa là biện pháp sử dụng từ ngữ để chỉ hoạt động, suy nghĩ, tên gọi, tính cách,..vv. vốn chỉ để miêu ta con người lại sử dụng để miêu tả đồ vật, con vật, sự vật, cây cối làm cho câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên sinh động, hấp dẫn, có hồn và thu hút bạn đọc hơn.

    Cách nhận biết biện pháp tu từ nhân hóa là: Gọi sự vật, hiện tượng, cây cối , con vật,..bằng tên người như ông mặt trời, chị ong,..

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nhân hóa:

    • Dùng vốn từ để chỉ sự vật: Bác cối xay gió, Chị hoa mặt trời, chị gió, chị ong nâu nâu, Bác xe điện,..
    • Sử dụng các hoạt đống, tính chất của con người để chỉ sự vật:

    Ví dụ:

    ” Heo hút cồn mây súng ngửi trời”- Trích bài thơ “Tây tiến” – Quang Dũng’

    “Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ” – Sang Thu -Hữu Thỉnh

    “Sông Đuống trôi đi

    Một dòng lấp lánh

    Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kì” – Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm

      Vốn dĩ con người chỉ nói chuyện được với con người, nhưng thông qua biện pháp nhân hóa con người nói chuyện với con vật, đồ vật,..

    Ví dụ:

    “Trâu ơi ta bảo trâu này

    Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta” – Trích Ca dao

    3. Biện pháp tu từ ẩn dụ

    Biện pháp tu từ ẩn dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ tương đồng. Sử dụng biện pháp ẩn dụ làm cho bài văn, câu văn, lời nói, bài thơ,..trở nên hấp dẫn, gợi hình gợi cảm hơn cho người đọc.

    Có nhiều kiểu ẩn dụ khác nhau: Ẩn dụ hình thức, cách thức , phẩm chất, chuyển đổi cảm giác.

    Các kiểu biện pháp và lấy ví dụ:

      Ẩn dụ hình thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng về hình thức

    Ví dụ:

    ” Vân xem trang trọng khác vời

    Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”- Truyện Kiều – Nguyễn Du

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác

    “Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông” – Truyện Kiều – Nguyễn Du

      Ẩn dụ cách thức: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng cách thức

    Ví dụ:

    “Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh

    ” Về thăm nhà Bác làng sen

    Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng” – Về thăm quê Bác. Đây là đoạn trích vừa có ẩn dụ hình thức và ẩn dụ cách thức.

    ” Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”

    ” Không thầy đó mày làm nên”

      Ẩn dụ phẩm chất: Đây là ẩn dụ có sự tương đồng phẩm chất

    Ví dụ:

    “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” – Câu nói chủ tịch Hồ Chí Minh.

    “Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” – Viếng Lăng Bác – Viễn Phương

    ” Người cha mái tóc bạc

    Đốt lửa cho anh nằm” – Đêm nay Bác không ngủ – Nguyễn Huệ

    “Thuyền về có nhớ bến chăng

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền” – Ca dao

      Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác : Đây là ẩn dụ cho người đọc có sự chuyển đổi cảm giá; chuyển từ cảm giác này sang cảm giác khác, cảm nhận bằng giác quan khác.

    Vì dụ:

    ” Bỗng nhận ra hương ổi

    Phả vào trong gió se

    Sương chùng chình qua ngõ

    Hình như thu đã về” – Sang Thu – Hữu Thỉnh

    ” Cát lại vàng giòn

    Ánh nắng chảy đầy vai” – Những cánh buồm -Hoàng Trung Thông

    ” Một tiếng chim kêu sáng cả rừng” – Khương Hữu Dụng

    “Ngoài thêm rơi chiếc lá đa

    Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng”- Đêm côn Sơn – Trần Đăng Khoa

    4. Biện pháp tu từ hoán dụ

    Biện pháp tu từ hoán dụ là biện pháp dùng để gọi tên sự vật – hiện tượng này bằng một tên sự vật – hiện tượng khác dựa trên mỗi quan hệ gần gũi, thân thiết để làm cho câu văn, bài thơ, đoạn văn, lời nói trở nên hấp dẫn hơn, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho người đọc, người nghe.

    Có 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ mà chúng ta thường gặp: Lấy bộ phận để chỉ toàn thể, lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng, lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật, lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng.

    Ví dụ cho 4 kiểu biện pháp tu từ hoán dụ:

      Ví dụ lấy bộ phận để chỉ toàn thể:

    ” Một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ” – Tục ngữ

    “Bàn tay ta làm nên tất cả

    Có sức người sỏi đá cũng thành cơm” – Bài ca vỡ đất – Hoàng Trung Thông

    ” Một trái tim lớn đã từ giã cuộc đời

    Một khối óc lớn đã ngừng sống ” – Xuân Diệu

      Ví dụ lấy vật chứa đựng chỉ vật bị chứa đựng:

    “Vì sao trái đất nặng ân tình,

    Nhắc mãi tên người Hồ Chí Minh” -Tố Hữu

      Ví dụ lấy dấu hiệu của sự vật để chỉ sự vật:

    ” Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” – Việt Bắc – Tố Hữu

    ” Sen tàn, cúc lại nở hoa

    Sầu dài ngày ngắn, đông đà sang xuân” – Nguyễn Du

    ” Áo nâu cùng với áo xanh

    Nông thôn cùng với thành thị đứng lên” – Tố Hữu

      Ví dụ lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng:

    ” Một cây làm chẳng nên non

    3 cây chụm lại nên hòn núi cao” -Ca dao

    ” Ngày Huế đổ máu

    Chú Hà Nội về

    Tình cờ chú cháu

    Gặp nhau hàng bè” – Tố Hữu

    5. Biện pháp tu từ nói quá( Phóng đại, cường điệu, khoa trương,..)

    Một số ví dụ về biện pháp thu từ nói quá:

    ” Ước gì sông rộng một gang

    Bắc cầu dải yếm đón chàng sang chơi” – Ca dao

    “Độc ác thay, trúc Nam sơn không ghi hết tội

    Dơ bẩn thay, nước Đông hải không rửa sạch mùi” – Bình ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    “Ngẩng đầu mái tóc mẹ rung

    Gió lay như sóng biển tung trắng bờ” – Mẹ suốt – Tố Hữu

    “Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”- Việt Bắc – Tố Hữu

    6. Biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    Biện pháp tu từ nói giảm nói tránh là biện pháp sử dụng tu từ dùng trong diễn đạt tế nhị, uyển chuyển, tránh gây cảm giác đau thương,ghê sợ, nặng nề, thô tục, thiếu lịch sự trong một hoàn cảnh nhất định nào đó trong đời sống, trong bài văn, bài thơ.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm, nói tránh:

    “Bác Dương thôi đã thôi rồi

    Nước mây man mác ngậm ngùi lòng ta” – Khóc dương khuê – Nguyễn Khuyến.

    Hãy nói ” Anh ấy đã hi sinh anh dũng trên chiến trường” thay vì nói” Anh ấy đã chết trên chiến trường”

    “Bác đã đi rồi sao Bác ơi!”- Bác ơi – Tố Hữu

    7. Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ

    Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ là sử dụng biện pháp nhắc đi nhắc lại nhiều lần 1 cụm từ . Cụm từ này có tác dụng trong việc làm tăng cường điệu, gợi liên tưởng, cảm xúc diễn đạt của người nói, người viết đối với người đọc, người nghe.

    Điệp ngữ gồm có nhiều dạng khác nhau: Điệp ngữ cách quãng, điệp ngữ nối tiếp, điệp ngữ vòng tròn.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ điệp ngữ, điệp từ:

    “… Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…” – Việt Bắc – Tố Hữu. Đây là một ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Buồn trông cửa bể chiều hôm,

    Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

    Buồn trông ngọn nước mới sa,

    Hoa trôi man mác biết là về đâu ?

    Buồn trông nội cỏ dàu dàu,

    Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

    Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

    Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi” – Truyện kiều – Nguyễn Du. Cũng là 1 ví dụ về điệp ngữ ngắt quãng.

    “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy

    Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu

    Ngàn dâu xanh ngắt một màu

    Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?’ – Trích Chinh phụ ngâm khúc. Sử dụng điệp ngữ vòng

    “Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín” – Điệp ngữ nối tiếp

    8. Biện pháp tu từ chơi chữ

    Biện pháp tu từ chơi chưa là biện pháp tu từ sử dụng các sắc thái về âm, về nghĩa của từ để tạo cho câu nói, đoạn văn, đoạn thơ trở nên dí dỏm, hấp dẫ và thú vị hơn người đọc, người nghe.

    Một số lối chơi chữ mà chúng ta thường gặp: Từ đồng âm, cách điệp âm, lối nói lái, lối nói trại âm, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, gần nghĩa.

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ chơi chữ:

    ” Bà già đi chợ cầu Đông

    Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng?

    Thầy bói xem quẻ nói rằng,

    Lợi thì có lợi, nhưng răng không còn” – Ca dao

    ” Không răng đi nữa cũng không răng,

    Chỉ có thua người một miếng ăn.

    Miễn được nguyên hàm nhai tóp tép,

    Không răng đi nữa cũng không răng” – Không răng- Tôn Thất Mỹ

    “Em đây là gái năm con,

    Chồng em rộng lượng, em còn chơi xuân” – Ca dao ( sử dụng lối chơi chữ đồng nghĩa)

    ” Nắng cực lúa mất mùa, đứng đầu làng xin xỏ,

    Nở lòng nào chị chẳng cho'” – sử dụng lối chơi chữ nói lái.

    9. Biện pháp tu từ liệt kê

    Biện pháp tu từ liệt kê là cách sắp xếp các từ, cụm từ cùng loại nối tiếp nhau để diễn tả đầy đủ, sâu sắc hơn về tư tưởng, tình cảm trong các đoạn văn, bài thơ, lời nói tạo sự gợi hình, gợi cảm, hấp dẫn cho người đọc, người nghe.

    Một số kiểu liệt kê: Liệt kê tăng tiến, liệt kê không tăng tiến, liệt kê theo từng cặp

    Một số ví dụ về biện pháp tu từ liệt kê:

    “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng

    Em đã sống lại rồi, em đã sống!

    Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung

    Không giết được em, người con gái anh hùng!” – Người con gái anh hùng – Trần Thị Lý

    ” Nhà em nuôi rất nhiều con vật: Con mèo, con chó, con trâu, con bò, con lợn, con dê, con gà,..”

    “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên

    Chiến sĩ anh hùng

    Đầu nung lửa sắt

    Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt

    Máu trộn bùn non

    Gan không núng

    Chí không mòn!” – Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu

    10. Biện pháp tu từ tương phản

    Biện pháp tu từ tương phản là cách cách sử dụng từ ngữ đối lập, trái ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt.

    Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu

    Ra thế, to gan hơn béo bụng

    Anh hùng đâu cứ phải mày râu”.

    Nguồn : Nhóm sinh viên trường Cao đẳng Y Dược Sài Gòn năm 2022

    --- Bài cũ hơn ---

  • 12 “biện Pháp Tu Từ” Cần Thuộc Nằm Lòng Môn Ngữ Văn Thi Thpt
  • Phân Biệt 8 Biện Pháp Tu Từ Đã Học Và Cách Ghi Nhớ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Về Từ Thường Gặp
  • Biện Pháp Tu Từ Là Gì? Tìm Hiểu Đặc Điểm Và So Sánh Các Biện Pháp Tu Từ
  • Các Biện Pháp Tu Từ Đã Học Trong Chương Trình Thpt
  • Áp Dụng Biện Pháp Tư Pháp

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giảng Dạy Của Giáo Viên Trong Các Trường Trung Học Cơ Sở Quận Gò Vấp, Thành Phố Hồ Chí Minh
  • Khái Niệm Và Các Phương Pháp Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • 8 Biện Pháp Hành Chính Trong Hoạt Động Quản Lý Ngoại Thương
  • Biện Pháp Chống Trợ Cấp Trong Quản Lý Hoạt Động Ngoại Thương Là Gì?
  • Luật Quản Lý Ngoại Thương 2022
  • Biện pháp tư pháp (BPTP) là biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự (BLHS), do cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) áp dụng đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm hỗ trợ hoặc thay thế hình phạt.

    1. Đặc điểm của biện pháp tư pháp 2. Phân loại biện pháp tư pháp

    Căn cứ vào đối tượng bị áp dụng và ý nghĩa thay thế hình phạt có thể chia các BPTP thành hai nhóm:

    vật, tiền là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội là vật hoặc tiền do người phạm tội sử dụng làm công cụ hoặc phương tiện phạm tội. Việc phân biệt công cụ với phương tiện phạm tội tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, ví dụ, trong vụ án người phạm tội sử dụng xe máy chở đồng phạm khác mang sung đi cướp tài sản thì sung là công cụ phạm tội , xe máy là phương tiện phạm tội. Trong vụ án khác, người phạm tội điều khiểm xe máy gây tai nạn làm chết người đi đường thì xe máy vừa là công cụ vừa là phương tiện phạm tội. Tuy pháp luật hiện hành không quy định cụ thể, nhưng có thể hiểu rằng chỉ áp dụng BPTP là tịch thu công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm do lỗi cố ý, bởi ngay trong điều văn của điều luật diễn đạt rất rõ: ” Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội“, nghĩa là người thực hiện hành vi phạm tội đã sử dụng công cụ, phương tiện ấy vào mục đích phạm tội với lỗi cố ý, do vậy, với phương tiện gây ra tội phạm do lỗi vô ý như tội phạm quy định tại Điều 202 BLHS thì không bị tịch thu. Tuy nhiên từ thực tiễn xét xử đã đặt ra vấn đề rất cần sự hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thống nhất về nhận thức và áp dụng đối với trường hợp công cụ, phương tiện là tiền hoặc vàng mà người phạm tội dùng vào việc cho vay lãi nặng theo Điều 163 BLHS, khi xét xử Tòa án có tịch thu số tiền hoặc vàng gốc không? Do pháp luật hiện hành chưa có quy định rõ công cụ, phương tiện phạm tội nào là đối tượng phải áp dụng theo điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS, để HĐXX quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước, nên đang tồn tại hai quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất, số tiền gốc hoặc vàng hay ngoại tệ mà người phạm tội dùng để cho vay với lãi suất rất cao về bản chất đó là phương tiện phạm tội, nên phải bị tịch thu sung quỹ nhà nước, vì nếu như người thực hiện hành vi không dùng số tiền gốc hoặc vàng hay ngoại tệ đó để cho vay lãi nặng thì không cấu thành tội phạm này; động cơ phạm tội là vì vụ lợi nhằm thu lợi bất chính, cũng giống như người phạm tội buôn lậu, ngoài việc bị cáo phải chịu chế tài về hình sự, còn phải bị tịch thu toàn bộ vật chứng là hàng hóa mà bị cáo đã buôn lậu. Hơn nữa, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS không có trường hợp ngoại lệ. Quan điểm thứ hai, riêng dấu hiệu đặc trưng của tội cho vay lãi nặng là số tiền lãi vượt mức quy định của pháp luật, chứ không phải là số tiền gốc mà họ bỏ ra để cho vay, do vậy, không máy móc áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS để tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngay đối với số tiền lãi thì cũng chỉ tịch thu số tiền lãi cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định, đó mới là ” tiền thu lợi bất chính “. Do chưa có quy định cụ thể, nên đây có lẽ là kẽ hở của pháp luật và có thể bị lợi dụng khi xử lý vì mục đích cá nhân.

    -Vật, tiền mà người phạm tội chiếm đoạt được trong quá trình thực hiện tội phạm có yếu tố chiếm đoạt;

    -Vật, tiền mà người phạm tội có được sau khi định đoạt vật, tiền đã chiếm đoạt được trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội chiếm đoạt. Đó có thể là vật, tiền do mua, bán, đổi chác những thứ đã chiếm đoạt mà có; vật, tiền lãi từ việc sử dụng trái phép tiền của Nhà nước, tập thể, cá nhân gửi tiết kiệm, cho vay,…

    -Vật, tiền không thuộc hai loại trên, như tiền của người khác thuê, thưởng cho người phạm tội vì đã thực hiện hành vi phạm tội theo yêu cầu họ; vật, tiền là đối tượng chứa chấp, tiêu thụ do người khác phạm tội mà có.

    Như vậy, những vật, tiền mà người phạm tội… hoặc do mua, bán, đổi chác những thứ này mà có (ý 2 điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS), chỉ là một dạng của những vật, tiền bạc mà người phạm tội do thực hiện tội phạm mà có.

    “1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản. 2. Vật chứng được xử lý như sau: a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ Nhà nước hoặc tiêu huỷ; b) Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước; c) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước; d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ. 3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án. 4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự.”

    Từ quy định trên có thể hiểu, CQTHTT có quyền áp dụng biện pháp xử lý vật chứng “tịch thu tiêu hủy” đối với công cụ, phương tiện phạm tội, vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành là vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được.

    Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra do nhận định sai hướng điều tra hoặc xác định không đúng mối liên hệ giữa đồ vật, tài sản của người phạm tội hay của người khác với đối tượng chứng minh mà Cơ quan Điều tra đã thu giữ tài liệu, đồ vật nào đó theo thủ tục tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án tiếp theo, CQTHTT có thẩm quyền xác định những tài sản đó không phải là vật chứng của vụ án, việc trả lại tài sản đó cho chủ sở hữu đó hiện nay cũng chưa có điều luật nào quy định. Theo quan điểm của người viết, cần bổ sung quy định xử lý những loại tài sản không phải là vật chứng được thu giữ trong quá trình điều tra vào Điều 76 BLTTHS, cụ thể là bổ sung vào khoản 3 Điều 76 và được viết lại như sau: “Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp những đồ vật, tài sản không phải là vật chứng của vụ án mà đã bị thu giữ, tạm giữ; trả lại những vật chứng đó cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không thuộc các trường hợp quy định tại điểm a, điểm c khoản 2 của Điều này, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án”.

    Một vấn đề khác, tuy pháp luật có quy định nhưng thực tế cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, nên trong thực tiễn áp dụng còn nhiều vướng mắc, đó là, việc tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng có thể xẩy ra bất kỳ giai đoạn nào của quá trình tố tụng từ khi điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án. Theo quy định “trong trường hợp có sự tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”, vật chứng ở đây là những vật, tài sản không thuộc vật cấm lưu hành, không thuộc đối tượng tịch thu sung quỹ nhà nước hay tiêu hủy. Việc giải quyết đúng tranh chấp quyền sở hữu đối với vật chứng không những bảo vệ được quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của chủ sở hữu, mà còn là điều kiện để CQTHTT mà chủ yếu là HĐXX có cơ sở xử lý vật chứng đúng đắn.

    -Trường hợp hai bên mua bán trả tiền ngay tức là bên bán đã giao hàng cấm kinh doanh, lưu hành và nhận tiền hoặc vật từ bên mua thì áp dụng điểm b khoản 1 Điều 41 BLHS để tịch thu ở người bán với nghĩa vật, tiền do phạm tội mà có;

    -Trường hợp hai bên mua bán chịu (chưa thanh toán tiền hoặc vật ngay), nghĩa là bên bán đã giao hàng cấm nhưng bên mua chưa giao tiền hoặc vật thì áp dụng điểm a khoản 1 Điều 41 BLHS để tịch thu ở người mua với nghĩa là vật, tiền dùng vào việc phạm tội.

    -Đối với vật, tiền thuộc cở hữu của người khác bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép và được thu thập làm vật chứng của vụ án mà khi xét xử không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, từ thực tiễn xét xử có những trường hợp dù xác định rõ chủ sở hữu đối với tài sản là vật chứng của vụ án bị người phạm tội chiếm đoạt, nhưng khi xét xử người bị hại không nhận lại tài sản của họ trước đó bị chiếm đoạt, do trước khi xét xử phía bên bị cáo đã bồi thường thỏa đáng giá trị tài sản là vật chứng thu được, nên Tòa án không thể áp dụng khoản 2 Điều 41 BLHS tuyên trả lại tài sản đã thu hồi được cho người bị hại, do không còn cách nào khác, buộc HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS để tịch thu sung quỹ nhà nước, nhưng cũng có nơi vẫn tuyên trả lại vật chứng cho người bị hại dù thực tế biết rõ thi hành án sẽ không thể thi hành được. Xoay quanh tình huống pháp lý vừa nêu, rõ ràng pháp luật hiện hành quy định về BPTP vẫn chưa dự liệu hết những trường hợp có thể xảy ra trong thực tiễn, chính vì lẽ đó sự vận dụng pháp luật vào thực tiễn chưa bảo đảm tính thống nhất.

    -Đối với những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành nhưng thuộc sự quản lý của cơ quan nhà nước cụ thể và bị người phạm tội chiếm đoạt thì không tịch thu sung quỹ nhà nước mà phải trả lại cho người hoặc cơ quan quản lý hợp pháp.

    3.1.2.Áp dụng biện pháp trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 42 BLHS: “Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.” Với quy định này, nhà làm luật đã quy định ba chế tài được áp dụng đối với người phạm tội, đó là, “phải trả lại”; “phải sửa chữa”; “phải bồi thường”, mà theo đó, điều kiện áp dụng từng loại chế tài, cụ thể như sau:

    -Người phạm tội phải trả lại vật, tiền đã chiếm đoạt cho người sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp khi vật, tiền đó còn nguyên và được thu giữ, quản lý trong quá trình điều tra hoặc người phạm tội đang cất giữ và không thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng, lưu hành.

    -Người phạm tội phải sửa chữa (khắc phục) thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra. Việc phải sửa chữa thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra được áp dụng khi vật bị thiệt hại bị hư hỏng có thể sửa chữa được. Vật đó có thể là đối tượng bị người phạm tội chiếm đoạt làm hư hỏng hoặc sử dụng trái phép vào việc phạm tội. Việc “phải sửa chữa” có thề tiến hành bằng cách người phạm tội sửa chữa trước khi trả lại người chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp hoặc trả tiền cho người bị thiệt hại chi phí việc sửa chữa.

    -Người phạm tội phải bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra. Đây là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, do vậy, khi áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS buộc người phạm tội phải bồi thường những thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra cần chú ý:

    +Việc xác định thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự(BLDS). Thiệt hại vật chất do hành vi phạm tội gây ra bao gồm: Thiệt hại do tài dản bị xâm phạm; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm. Cụ thể:

    Trường hợp thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, thì các khoản bồi thường bao gồm: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Ngoài các khoản bồi thường nêu trên, người xâm phạm đến tính mạng của người khác phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng khoản tiền này. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án ấn định mà theo đó mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. Khi buộc người phạm tội phải bồi thường thiệt hại về tính mạng bị xâm hại, Tòa án phải áp dụng đồng thời khoản 1 Điều 42 BLHS với các khoản tương ứng của Điều 610 BLDS.

    + Vì là bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho nên khi áp dụng BPTP này, Tòa án phải thực hiện đúng nguyên tắc bồi thường thiệt hại và phải tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên về mức bồi thường, hình thức bồi thường, phương thức bồi thường, nếu thỏa thuận đó không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội. Do vậy, trường hợp các bên thỏa thuận được với nhau về bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra thì Tòa án phải ghi nhận sự thỏa thuận đó trong phần quyết định của bản án mà không áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS và các điều khoản tương ứng của BLDS để buộc người phạm tội phải bồi thường.

    + Mặc dù tại khoản 1 Điều 42 BLHS chỉ quy định ” Người phạm tội phải bồi thường …” nhưng không chỉ người phạm tội phải bồi thường mà tùy từng vụ án cụ thể việc xác định trách nhiệm bồi thường được thực hiện, như sau:

    Trong các trường hợp trên, nếu người phải bồi thường thiệt hại không phải là người bị kết án thì Tòa án không áp dụng khoản 1 Điều 42 BLHS mà áp dụng các điều luật tương ứng của BLDS để buộc họ phải bồi thường thiệt hại.

    -Theo quy định tại khoản 2 Điều 42 BLHS: ” Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần, Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.” Thiệt hại về tinh thần của con người được hiểu là do sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại phải gánh chịu những đau thương, buồn phiền, mất mát về tinh thần, giảm sút về uy tín, bị bạn bè xa lánh do hiểu nhầm,…và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ đã gánh chịu. Tuy khoản 2 Điều 42 BLHS chỉ quy định “Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần…” mà không nêu cụ thể là những tội phạm nào gây thiệt hại về tinh thần cho người bị hại, nhưng theo quan điểm của người viết, các tội xâm phạm đến tính mạng (trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt), sức khỏe, danh dự, nhân phẩm là những tội phạm gây thiệt hại về tinh thần cho người bị hại. Việc bồi thường tổn thất về tinh thần cho người bị xâm hại về sức khỏe đã được đề cập ở phần trên, do vậy, có thể hiểu thiệt hại về tinh thần mà người phạm tội phải bồi thường theo quy định tại khoản 2 Điều 42 BLHS là thiệt hại về tinh thần do các tội xâm phạm đến tính mạng (trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt), danh dự, nhân phẩm gây ra cho người bị thiệt hại. Tuy là thiệt hại về tinh thần nhưng người phạm tội phải bồi thường bằng vật chất theo quy định tại Điều 611 BLDS, mà theo đó, mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    3.2. Áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh

    Theo quy định tại Điều 43 BLHS, có 3 trường hợp áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh thuộc thẩm quyền của Tòa án như sau:

    Khi áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với các trường hợp trên cần lưu ý:

    vì điều luật chỉ quy định ” Tòa án… có thể quyết định ” nên phải hiểu người có thẩm quyền áp dụng BPTP này là Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án. Vì, khoản 2 Điều 38 BLTTHS quy định khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự, Chánh án, Tòa án có quyền ra các quyết định và tiến hành các hoạt độgn tố tụng thuộc thẩm quyền của Tòa án và tại khoản 3 Điều 38 BLTTHS quy định khi được phân công giải quyết vụ án, Phó Chánh án Tòa án có nhiệm vụ và quyền hạn quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật này.

    về thời gian bắt buộc chữa bệnh, tại Điều 44 BLHS quy định: “Căn cứ vào kết luận của cơ sở điều trị, nếu người bị bắt buộc chữa bệnh quy định tại Điều 43 của Bộ luật này đã khỏi bệnh, thì tuỳ theo giai đoạn tố tụng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án xét và quyết định đình chỉ việc thi hành biện pháp này.”, như vậy, khi đình chỉ áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với người phạm tội trong khi có năng lực TNHS nhưng trước khi bị kết án đã mắc bệnh tới mức mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, Tòa án khôi phục lại hoạt động tố tụng đối với họ.

    4. Áp dụng biện pháp tư pháp thay thế hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội 4.1.Áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

    Giáo dục tại xã, phường, thị trấn là BPTP được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng. Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn từ một năm đến hai năm do Tòa án quyết định. Theo khoản 4 Điều 69 BLHS, thì ” Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này”, như vậy, cần phải hiểu Tòa án ở đây là Hội đồng xét xử và việc quyết định áp dụng BPTP phải được thể hiện bằng quyết định của bản án tại phiên tòa. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án không có quyền áp dụng các BPTP này. Người phạm tội được giáo dục tại xã, phường, thị trấn phải chấp hành đầy đủ những nghĩa vụ về học tập, lao động, tuân theo pháp luật dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền xã, phường, thị trấn và tổ chức xã hội được Tòa án giao trách nhiệm.

    4.2. Áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng

    Đưa vào trường giáo dưỡng là BPTP áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội có tính nghiêm khắc hơn so với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Luật không quy định điều kiện để Tòa án quyết định đưa người chưa thành niên phạm tội vào trường giáo dưỡng, nhưng theo quy định tại khoản 3 Điều 70 BLHS, Tòa án phải xem xét và quyết định có cần hay không việc đưa người chưa thành niên phạm tội vào trường giáo dưỡng, việc quyết định đưa họ vào trường giáo dưỡng phải căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân người phạm tội và những tác động không thuận lợi từ môi trường sống của người đó.

    Thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng là từ một năm đến hai năm. Khi chấp hành được ½ thời hạn do Tòa án quyết định, nếu có nhiều tiến bộ, theo đề nghị của tổ chức, cơ quan, nhà trường được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục, tòa án có thể quyết định chấm dứt thời hạn giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc thời hạn ở trường giáo dưỡng. Thực tiễn xét xử có trường hợp khi thực hiện hành vi phạm tội họ chưa đủ 18 tuổi, khi xét xử chỉ còn 09 đến 12 tháng nữa là đủ tròn 18 tuổi, nên theo quan điểm của người viết, Tòa án không nên quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với trường hợp này, vì chỉ một thời gian ngắn họ là người thành niên, mà không thể để người đã thành niên ở lại trường giáo dưỡng, vì trường giáo dưỡng là môi trường giáo dục chỉ dành riêng cho đối tượng là người chưa thành niên, do vậy, khi xét xử Tòa án cần xem xét thật kỹ độ tuổi của bị cáo để quyết định có áp dụng BPTP này hay không, thời gian có lẽ là thích hợp nhất để áp dụng BPTP này tính đền thời điểm xét xử, bị cáo ít nhất còn 24 tháng tuổi nữa mới là người thành niên. Bởi nếu như, họ đã chấp hành được ½ thời gian tại trường giáo dưỡng, nhưng thực tế không có nhiều tiến bộ, điều này đồng nghĩa với việc không thể xem xét chấm dứt thời hạn ở trường giáo dưỡng được, trong khi đó họ đã là người thành niên, mà việc họ tiếp tục ở lại trường giáo dưỡng như những người chưa thành niên là tác nhân xấu đến công tác giáo dục, cải tạo của nhà trường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thi Hành Biện Pháp Tư Pháp Bắt Buộc Chữa Bệnh
  • Các Biện Pháp Tư Pháp Của Việt Nam
  • Điều 46. Các Biện Pháp Tư Pháp
  • Các Biện Pháp Phi Thuế Trong Thương Mại Thế Giới Và Khu Vực Asean
  • Luận Văn: Biện Pháp Bảo Lĩnh Trong Tố Tụng Hình Sự, Hay
  • Biện Pháp Hành Chính Là Gì ? Khái Niệm Về Biện Pháp Hành Chính ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cưỡng Chế Hành Chính Là Gì? Những Hiểu Biết Pháp Luật Chuẩn Nhất
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Đảm Bảo Việc Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính
  • Trình Bày Các Biện Pháp Cưỡng Chế Hành Chính Nhà Nước
  • Các Biện Pháp Ngăn Chặn Và Bảo Đảm Xử Lý Vi Phạm Hành Chính
  • Giải Pháp Điều Hòa Nhiệt Độ Thông Minh
  • Cách thức được quy định mà chủ thể quản Ií (tổ chức, cá nhân có thẩm quyển) sử dụng quyền lực quản lí được giao để tác động lên đối tượng quản Ií (tổ chức, cá nhân thuộc quyển quản lý) có hành vị vị phạm hành chính, buộc các đối tượng quản Ií phải thực hiện một hành vi nhất định theo ý chí của chủ thể quản lí.

    Biện pháp hành chính có đặc trưng mộnh lệnh đơn phương: 1) Quyền lực – phục tùng của cấp trên đối với cấp dưới, của chủ thể quản Ií đối với đối tượng quản lý; 2) Chỉ có tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lí hành chính mới được sử dụng biện pháp hành chính. Nội dung của các biện pháp hành chính phải được quy định rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật hoặc các điều lệ, nội quy của cơ quan, tổ chức.

    Có biện pháp hành chính công quyền – do các tổ chức, cá nhân có thẩm quyển quản lí hành chính nhà nước thực hiện và biện pháp hành chính ngoài công quyền – do tổ chức, cá nhân trong tố chức đoàn thể xã hội, đơn vị kinh tế… thực hiện.

    Biện pháp hành chính được thực hiện trong mối quan hệ hành chính giữa cấp trên với cấp dưới (trong hệ thống cơ quan quản lí nhà nước, trong hệ thống hành chính nội bộ của tổ chức), giữa cơ quan quản lí nhà nước thẩm quyền chung với cơ quan nhà nước có thẩm quyển chuyên môn; giữa cơ quan quản lí nhà nước chuyên ngành với cơ quan nhà nước khác trong lĩnh vực chuyên ngành đó; giữa cơ quan quản lí nhà nước với các tổ chức – đoàn thể xã hội; giữa cơ quan quản lí nhà nước với công dân…

    Biện pháp hành chính được bắt đầu bằng việc ban hành các quyết định quản lí, các mệnh lệnh hành chính tron đó thể hiện ý chí của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lí hành chính đối với tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng quản lí hành chính. Tiếp theo là việc đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra việc thực hiện. Và cuối cùng, trong trường hợp có vi phạm thì áp dụng các chế tài xử lí. Tuỳ tính chất, mức độ vi phạm, có thể áp dụng các chế tài xử lí kỉ luật, chế tài xử lí vi phạm hành chính; chế tài hình sự, chế tài dân sự (nếu có thiệt hại). Việc áp dụng chế tài phải đúng thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục đã được quy định.

    Biện pháp hành chính khác với một số biện pháp khác như biện pháp kinh tế (dùng các lợi ích kinh tế để tác động, điểu chỉnh hành vi), biện pháp giáo dục, thuyết phục… Trong thực tế, để bảo đảm hiệu quả quản lí, chủ thể quản lí thường hay sử dụng đan xen, kết hợp các biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp giáo dục thuyết phục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Là Gì? Những Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Hiện Nay
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học Là Gì? Ưu Điểm, Nhược Điểm Của Biện Pháp Đấu Tranh Sinh Học
  • Khái Niệm Về Ẩn Dụ? Các Hình Thức Ẩn Dụ? Các Phân Biệt Ẩn Dụ Với Các Biện Pháp Khác
  • Ta Dùng Hệ Thống Cưới Tiên Nữ
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100