Cách Thức Xử Lý Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

--- Bài mới hơn ---

  • Hàng Loạt Giải Pháp Để Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Đồng Bộ Giải Pháp Kiểm Soát Và Giảm Dần Bội Chi Ngân Sách
  • Tiếp Tục ‘kéo’ Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Kiểm Soát Chặt Chi Tiêu Công, Kéo Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Bất Bình Đẳng Cơ Hội Và Bất Bình Đẳng Thu Nhập
  • Bội chi ngân sách nhà nước đang diễn ra phổ biến khắp các quốc gia. Các thức xử lý bội chi gân sách Nhà nước là gì? Lựa chọn cách thức khắc phục bội chi ngân sách nhà nước?

    Thiếu hụt ngân sách nhà nước là một trong nhiều vấn đề nan giải ở nhiều quốc gia, trong khi nguồn lực hạn chế nhưng vẫn phải điều chỉnh sao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội đất nước. Vì vậy, mỗi quốc gia cần phải đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục xử lý bội chi ngân sách nhà nước. Bài viết sẽ đưa ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề này.

    – Nghị định 163/2016/NĐ-CP. Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật ngân sách nhà nước

    1. Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước

    Trước hết, khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2022 quy định:

    “Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.”

    Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2016/NĐ-CP cũng ghi nhận:

    “1. Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh:

    a) Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương và tổng thu ngân sách trung ương trong một năm ngân sách;

    b) Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương trong một năm ngân sách.”

    2. Cách thức xử lý khắc phục bội chi ngân sách nhà nước

    Vấn đề thiếu hụt NSNN xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới và việc lựa chọn cách thức xử lý bội chi NSNN sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển thực tế và sự phát triển trong tương lai cho một đất nước luôn là bài toán khó cho các chính trị gia. Có nhiều cách để chính phủ bù đắp thiếu hụt ngân sách như tăng thu từ thuế, phí, lệ phí; giảm chi ngân sách, vay nợ trong nước, vay nợ nước ngoài hoặc phát hành tiền để bù đắp chi tiêu… Sử dụng phương pháp nào, nguồn nào tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Xử lý khắc phục bội chi ngân sách nhà nước có thể áp dụng một số giải pháp sau:

    a, Nhà nước phát hành thêm tiền.

    Phát hành thêm tiền để xử lý bội chi NSNN: Giải pháp này đơn giản dễ thực hiện nhưng sẽ gây ra lạm phát nếu Nhà nước phát hành thêm quá nhiều tiền để bù đắp bội chi NSNN, ảnh hưởng đến tiêu cực đến đời sống kinh tế-xã hội-chính trị.

    Thực tế chúng ta đẩy mạnh phát hành thêm trái phiếu chính phủ và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, điều này góp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên trong trường hợp nền kinh tế suy thoái, mức độ lạm phát không cao thì việc phát hành thêm tiền cần phải được tiến hành nhằm trang trải mục tiêu trước mắt là có tiền để tiến hành các chương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo kế hoạch, bù đắp bội chi. Việc phát hành tiền ở mức độ và thời điểm hợp lý sẽ tạo ra mức lạm phát nhẹ, kích tiêu dùng, giảm gánh nặng về nghĩa vụ trả nợ của nhà nước, thúc đẩy phát triển kinh tế.

    b, Vay nợ cả trong và ngoài nước.

    Vay nợ trong nước và vay nợ nước ngoài: Việc vay nợ nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo vấn đề phục thuộc nước ngoài cả về kinh tế lẫn chính trị và còn làm giảm dự trữ khi trả nợ, làm cạn dự trữ quốc gia sẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Còn vay nợ trong nước sẽ làm tăng lãi suất và vòng nợ – trả lãi- bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng và kéo theo gánh nặng chi trả của NSNN cho các thời kỳ sau.

    Tăng các khoản thu: Việc tăng các khoản thu (đặc biệt là thuế) có thể bù đắp thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN.Tăng thu ngân sách nhà nước bằng biện pháp tích cực khai thác mọi nguồn thu, thay đổi và áp dụng các sắc thuế mới, nâng cao hiệu quả thu. Tuy nhiên, cần lưu ý khi tăng thu vẫn phải chú ý khuyến khích các ngành, vùng trọng điểm để tạo lực đẩy cho nền kinh tế và phải xác định cái gốc cơ bản là phải tăng thu ngân sách nhà nước bằng chính sự tăng trưởng kinh tế. Dù vậy, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, bởi vì nếu tăng thuế không hợp lý sẽ làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất, đời sống nhân dân, đặc biệt nghiêm trọng hơn sẽ triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất, kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    Thuế là khoản thu mang tính chất cưỡng chế do nhà nước huy động từ các tổ chức, cá nhân và tập trung vào quỹ NSNN. Thuế đánh vào hầu hết các lĩnh vực: xây dựng, cải tạo, sửa chữa, khai thác, chế biến, xuất-nhập khẩu…Do vậy thu từ thuế là khoản thu chiếm tỉ trọng chủ yếu trong NSNN. Việc tăng các khoản thu đặc biệt là thuế sẽ góp phần bồi đắp sự thâm hụt và bội chi NSNN. Thu đúng và đủ thuế sẽ góp phần khuyến khích sản xuất kinh doanh phát triển, bảo đảm phát triển kinh tế xã hội.

    Tuy nhiên, việc tăng thu này cần phải đúng và đủ theo quy định của pháp luật, nếu không sẽ gây ra hậu quả tăng giá cả hàng hóa gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân, nghiêm trọng hơn sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của các doanh nghiệp.

    d, Triệt để tiết kiệm các khoản chi.

    Tiết kiệm các khoản chi đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN. Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế nhưng vô cùng quan trọng đối với mỗi quốc gia khi xảy ra tình trạng bội chi NSNN và xuất hiện lạm phát. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả để tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm trí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng cần phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết.

    đ, Tăng cường vai trò quản lý của cơ quan Nhà nước.

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Để thực hiện vai trò của mình, nhà nước sử dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động và đời sống kinh tế – xã hội nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội.

    Đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi lạm phát là một vấn nạn của tất cả các nước trên thế giới thì việc tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với quản lý NSNN nói chung và xử lý bội chi NSNN nói riêng là vô cùng cấp thiết. Vậy, giải pháp để có nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hợp lý là kết hợp tăng thu, giảm chi và các nguồn vay nợ trong và ngoài nước.

    Khi có những dấu hiệu của việc bội chi NSNN các quốc gia phải thực hiện ngay những biện pháp để hạn chế sự ảnh hưởng đến nền tài chính quốc gia. Tăng cường vai trò của quản lý nhà nước là điều tất yếu, tăng cường quản lý nhà nước có vai trò quan trọng trong việc bình ổn giá, kiểm soát mức lạm phát. Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền, là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó. Khi mức giá chung tăng cao, một đơn vị tiền tệ sẽ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn so với trước đây, do đó lạm phát phản ánh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Tăng Thu, Giảm Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Đề Án: Thất Nghiệp Và Biện Pháp Giải Quyết
  • Giải Pháp Giải Quyết Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam.
  • Các Biện Pháp Giải Quyết Thất Nghiệp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Để Hạn Chế Bội Chi Ngân Sách
  • Vấn Đề Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam
  • Bất Bình Đẳng Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay: Thực Trạng Và Khuyến Nghị
  • Giảm Bất Bình Đẳng Thu Nhập Để Giảm Nghèo
  • Phân Phối Thu Nhập Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Bội chi ngân sách nhà nước và các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước.

    Nguồn bù đắp bội chi bao gồm vay trong nước, ngòai nước (chậm nhưng không gây lạm phát), không chấp nhận phát hành tiền. Chỉ vay cho đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai. Không thừa nhận việc bội chi tại địa phương và buộc giải quyết bằng ngân sách trung ương.

    Việc giải quyết bội chi NSNN cũng theo quy định của điều này, bao gồm:

    Các khoản vay trong nước từ phát hành trái phiếu CP và các nguồn tài chính khác.

    Các khoản CP vay ngoài nước được đưa vào cân đối ngân sách.” -Các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng bội chi NSNN:

    + Tăng thu: Tăng thu ngân sách nhà nước bằng biện pháp tích cực khai thác mọi nguồn thu, thay đổi và áp dụng các sắc thuế mới, nâng cao hiệu quả thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, vì tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.

    + Giảm chi: Xét cơ cấu chi ngân sách nhà nước gồm 3 phần chủ yếu: chi tích lũy cho đầu tư phát triển, chi cho tiêu dùng kinh tế – văn hóa – xã hội và chi trả nợ trong và ngoài nước. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cầnthiết.

    Giải pháp để có nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hợp lý là kết hợp tăng thu, giảm chi và các nguồn vay nợ trong và ngoài nước. Về lâu dài muốn cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước thì phải đảm bảo tính hiệu quả hợp lý của các khoản thu.

    Có thể bù đắp được các khoản bội chi mà lại không gây rasức ép lạm phát cho nền kinh tế. Là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên cũng khiến chi gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ đồng thời khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Ngoài ra có những khoản vay còn đi kèm các điều khoản về chính trị, kinh tế, quân sự khiến cho các nước đi vay phụ thuộc nhiều.

    Nhu cầu tiền để bù dắp ngân sách trong nước được đáp ứng 1 cách nhanh chóng, không phải trả lãi, cũng không phải ghánh thêm các gánh nặng nợ nần. Tuy nhiên việc in và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền, làm cho việc làm phát trở nên không kiểm soát. Biện pháp này rất ít khi được sử dụng.Từ 1992 nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi NSNN.

    – Điều kiện chi phối đến bội chi ngân sách Nhà nước

    – Khái niệm pháp luật bội chi ngân sách nhà nước

    – Cách thức xử lý bội chi ngân sách nhà nước

    Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách hàng vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6568 hoặc gửi thư về địa chỉ email: [email protected]

    – Tư vấn pháp luật về thuế trực tuyến miễn phí

    – Tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại

    – Tư vấn luật miễn phí qua điện thoại

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ảnh Hưởng Của Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Đối Với Kinh Tế Xã Hội
  • Xử Lý Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Nhằm Kiềm Chế Lạm Phát Hiện Nay
  • Luận Văn Đề Tài Phân Tích Tình Hình Thất Nghiệp Ở Việt Nam Trong 4 Năm Gần Đây (2008
  • Giải Quyết Tắc Nghẽn Giao Thông Với Công Nghệ Giám Sát Thông Minh
  • Xe Buýt Chống Tắc Đường Trung Quốc Bị Bỏ Hoang, Cản Trở Giao Thông
  • Khắc Phục Bất Cập Trong Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tỷ Trọng Chi Thường Xuyên Giảm, Chi Đầu Tư Cao Hơn Mục Tiêu
  • Làm Cách Nào Để Giảm Căng Thẳng Trong Công Việc
  • 5 Cách Giảm Căng Thẳng Trong Công Việc
  • Biện Pháp Giải Tỏa Căng Thẳng Trong Công Việc
  • Làm Sao Để Bớt Căng Thẳng Trong Công Việc Và Cuộc Sống?
  • (BKTO) – Báo cáo quyết toán NSNN năm 2022 vừa được trình Quốc hội cho thấy, mặc dù Chính phủ đã triển khai quyết liệt nhiều biện pháp trong tổ chức điều hành dự toán chi ngân sách song vẫn còn không ít hạn chế, bất cập, trong đó có những bất cập đã diễn ra nhiều năm nhưng chậm được khắc phục. Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội đề nghị, Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân và có giải pháp khắc phục những bất cập này.

    KTNN xuất toán hàng trăm tỷ đồng chi sai chế độ

    Báo cáo trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, nhiệm vụ chi NSNN năm 2022 đã được thực hiện theo nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, HĐND các cấp, cơ bản đảm bảo kinh phí đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ chính trị, khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, xói lở bờ sông, bờ biển, hỗ trợ giống khôi phục sản xuất sau thiên tai, bảo đảm an sinh xã hội, công tác quốc phòng, an ninh quốc gia… Công tác quản lý, kiểm soát NSNN chặt chẽ theo quy định của Luật NSNN và nghị quyết của Quốc hội. Các Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, điều hành dự toán NSNN từng bước có hiệu quả và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo nghị quyết của Quốc hội.

    Tuy nhiên, báo cáo của Chính phủ cũng nhìn nhận, tình trạng chi tiêu sai chế độ vẫn còn ở một số đơn vị. KTNN đã kiến nghị thu hồi khoản chi sai chế độ hàng trăm tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước phát hiện nhiều khoản chi không đúng định mức quy định, từ chối thanh toán 96 tỷ đồng. Việc triển khai nhiệm vụ chi ngân sách ở một số Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương còn chậm so với quy định, đặc biệt là mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về đấu thầu, nên chuyển nguồn sang năm sau thực hiện tiếp.

    Thẩm tra báo cáo của Chính phủ, Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cũng có chung đánh giá: Tình trạng chi NSNN chưa đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức vẫn chưa được khắc phục triệt để. Qua kiểm toán, KTNN đã kiến nghị xuất toán thu hồi nộp NSNN 331 tỷ đồng, phát hiện 34/45 địa phương được kiểm toán sử dụng sai nguồn 889 tỷ đồng, 20/45 địa phương chi hỗ trợ không đúng nhiệm vụ chi theo phân cấp 145 tỷ đồng…

    Cơ quan thẩm tra cũng chỉ ra nhiều hạn chế, bất cập đã tái diễn nhiều năm. Cụ thể, công tác lập, giao dự toán chi đầu tư vẫn tái diễn tình trạng giao vốn nhiều lần, chưa sát thực tế, bố trí vốn dàn trải. Một số dự án chưa tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí phân bổ vốn, giao vốn chậm, không đúng đối tượng… Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến giải ngân vốn đầu tư đạt tỷ lệ thấp, kéo dài trong nhiều năm, gây lãng phí trong sử dụng nguồn vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, một số khoản chi quan trọng không đạt dự toán như: chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề; chi sự nghiệp y tế; chi sự nghiệp khoa học, công nghệ… Tình trạng này đã diễn ra nhiều năm, do đó, Ủy ban Tài chính – Ngân sách đề nghị Chính phủ cần xác định rõ nguyên nhân và có giải pháp để khắc phục.

    Giải ngân chậm và nhiều sai sót trong quản lý vốn đầu tư

    Một bất cập khác tái diễn trong năm 2022 được KTNN và Ủy ban Tài chính – Ngân sách chỉ ra, đó là công tác giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản vẫn chậm chuyển biến. Đến hết ngày 31/01/2019 giải ngân được 75,8% dự toán. “Việc giải ngân đạt tỷ lệ thấp đã diễn ra nhiều năm, Chính phủ cần làm rõ nguyên nhân, kiểm điểm, xử lý trách nhiệm tổ chức, cá nhân và quyết liệt chỉ đạo để khắc phục tình trạng nêu trên” – Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải đề nghị.

    Cùng với đó, tình trạng chấp hành chưa nghiêm quy định trong hoạt động xây dựng và quản lý vốn đầu tư vẫn xảy ra khá phổ biến. Kết quả kiểm toán tại các Bộ, cơ quan T.Ư, địa phương đã chỉ ra nhiều sai phạm trong hầu hết các khâu của quá trình đầu tư. Công tác phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành vẫn còn chậm. Nhiều địa phương được kiểm toán phát sinh nợ mới năm 2022 số tiền 1.818 tỷ đồng; nhiều địa phương còn nợ đọng xây dựng cơ bản lớn nhưng chưa xử lý dứt điểm. Đến ngày 31/12/2018, số dư ứng trước đến hết kế hoạch năm 2022 chưa thu hồi vẫn còn 74.300 tỷ đồng. Một số địa phương còn tình trạng tạm ứng sai quy định, tạm ứng từ ngân sách T.Ư kéo dài, quá thời hạn…

    Việc thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế để giảm chi thường xuyên còn chậm, cơ cấu chi thường xuyên chưa bảo đảm mục tiêu đặt ra. Theo đó, chi thường xuyên năm 2022 vẫn chiếm 65% tổng chi NSNN, cao hơn mục tiêu Kế hoạch tài chính 5 năm quốc gia giai đoạn 2022-2020 (giảm tỷ trọng chi thường xuyên xuống dưới 64% tổng chi NSNN). Tổng số chi lương, phụ cấp lương và các khoản đóng góp theo lương từ NSNN năm 2022 là 364.228,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 39% chi thường xuyên.

    Đặc biệt, theo cơ quan thẩm tra, số chi chuyển nguồn năm 2022 sang năm sau là 434.356 tỷ đồng, tăng 33,1% (107.977,4 tỷ đồng) so với năm trước; kết dư ngân sách địa phương là 157.886,2 tỷ đồng, tăng 22% so với năm 2022 và là mức tăng lớn nhất trong 5 năm gần đây. Việc bố trí kinh phí nhưng không hoàn thành nhiệm vụ chi phải chuyển nguồn hoặc để kết dư ngân sách địa phương lớn thể hiện sự lãng phí nguồn lực, chất lượng lập dự toán thấp, công tác chấp hành, hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách chưa cao. Cơ quan thẩm tra cũng cho rằng, bội chi NSNN là bằng 2,8% GDP, giảm 0,9% GDP so với dự toán Quốc hội quyết định, thể hiện sự nỗ lực trong công tác điều hành của Chính phủ. Tuy nhiên, bội chi giảm chủ yếu là do giải ngân vốn đầu tư công từ nguồn vốn vay chậm, không thực sự là do tiết kiệm chi để giảm vay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ô Nhiễm Môi Trường Và Các Biện Pháp Phòng Tránh
  • Trách Nhiệm Kiểm Soát Ô Nhiễm Môi Trường Đất Của Các Cơ Quan
  • Đắk Lắk: Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em
  • Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng, Chống Bạo Lực, Xâm Hại Trẻ Em.
  • Các Biện Pháp Phòng Chống Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em
  • Tiểu Luận Phân Tích Những Giải Pháp Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín. 11 Cách Tiết Kiệm Điện Điều Hòa.
  • Liệu Có Nên Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín?
  • 11 Kinh Nghiệm Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín Giúp Tiết Kiệm Điện
  • Lắp Điều Hòa Cho Phòng Không Kín
  • Góc Tư Vấn Tháo Lắp Điều Hòa Hà Nội
  • Tiểu luận Phân tích những giải pháp khắc phục bội chi ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    PHẦN 1 :NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    1, NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    – Ngân sách nhà nước là hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thái giá trị phát sinh giữa nhà nước với các chủ thể trong xã hội trong quá trình tập trung và sử dụng nguồn lực tài chính quốc gia ,để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiên các chức năng nhiện vụ của mình .

    -Vai trò của ngân sách nhà nước :

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động các nguồn lực tài chính quóc gia để đảm bảo cho nhu cầu chi tiêu của nhà nước và thực hiên sự cân đối thu chi của nhà nước .

    Ngân sách nhà nước có vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế

    Ngấn sách nhà nước là công cụ để điều tiết thu nhập ,góp phần giải quyết nhũng vấn đề xã hội , đảm bảo công bằng xã hội quan

    – Ngân sách nhà nước gồm 2 hoạt động thu và chi ngân sách

    Thu ngan sách nhà nước : chính phủ dùng quyền lực chính trị của mình để huy động các ngồn lực taì chính trong xã hội ,hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung quan trọng nhất của mình nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước .

    Chi ngân sách nhà nước là quá trình phân phối ,sử dụng quỹ ngân sách nhà nước nhằm trang trải các chi phí cho sự tồn tại ,hoạt đọng của bộ máy nhà nước và thực hiên các chức năng và nhiêm vụ của nhà nước theo những nguyên tắc nhất định

    2. BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC LÀ GÌ ?

    Bảng: Tóm tắt nội dung cân đối ngân sách nhà nước hằng năm

    Tình trạng mất cân đối của ngân sách nhà nước khi mà thu ngân sách không đủ bù đắp cho chi ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định gọi là bội chi ngân sách nhà nước . Nhưng thu gồm những khoản nào, chi gồm những khoản gì? Theo thông lệ quốc tế, có thể tóm tắt báo cáo về NSNN hằng năm như sau:

    A + B +C = D + E + F

    Công thức tính bội chi NSNN của một năm sẽ như sau:

    Bội chi NSNN = Tổng chi – Tổng thu = (D + E + F) – (A + B) = C

    Có 2 nhóm nguyên nhân cơ bản gây ra bội chi NSNN:

    – Nhóm nguyên nhân thứ nhất là tác động của chu kỳ kinh doanh. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.

    – Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.

    Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi NSNS

    4. ẢNH HƯỞNG CỦA BỘI CHI NGÂN SÁCH TỚI NỀN KINH TẾ

    Bội chi ngân sách là một ăn bệnh tác hạị đến sự phát triển kinh tế nếu biên pháp sử lý bội chi không đúng đắn ,cho dù bội chi ngân sách từ nguyên nhân nào đi chăng nữa .bội chi ngân sách là một căn bệnh không chỉ dành riêng cho bất kỳ một quốc gia nào .Một nguyên nhân mang tính phổ biến tồn tại ở khắp các quốc gia trên thế giới ,từ những nước chưa phát triển đến những nước có nền kinh tế phát triển , đó là nhu cầu chi tiêu và thực tế của nhà nước không thể cắt giảm mà ngày càng tăng lên , trong khi đó việc tăng thu ngân sách bằng công cụ thuế sẽ dẫn đến sự phản hồi từ phía dân cư và các tổ chức kinh tế -xã hội,và hậu quả nhận được là kìm hãm tốc độ tích tụy vốn cho sản xuất , hạn chế tiêu dùng dẫn đến khả năng suy thoái nền kinh tế cao .Còn đối với các nước đang phát triển , đặc biệt là các nước nghèo thì bội chi ngân sách là không thể tránh khỏi .Bởi tình trạng thu nhập bình quân đầu người quá thấp không cho phép chính phủ tăng tỷ lệ đông viên từ GDP vào ngân sách nhà nước ,trong khi đó nhu cầu chi tiêu theo chức năng của chính phủ lại tăng lên nhất là khi nhà nước thực hiện chương trình đầu tư nhằm cải thiện cơ cấu kinh tế và hướng dẩn sự tăng trưởng .

    Thực tế cho thấy ,bội chi ngân sách không có nguồn bù đắp hợp lý sẽ dẫn tới lạm phát ,gây tác hại xấu đối với nền kinh tế cũng như đời sống xã hội .Nếu bội chi ngân sach được bù đắp bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông sẽ dẫn đến bùng nổ lạm phát

    Bội chi ngân sách không phải là hoàn toàn tiêu cực . Nếu bội chi ở một mức nhất định ( dưới 5% so với tổng chi ngân sách trong năm )thì lại có tác dụng kích thích sản xuất phát triển .Vì thế ở những quốc gia có nền kinh tế phát triển cao nhà nước vẫn chỉ cố gắng thu hẹp bội chi ngân sách chứ không loại trừ nó hoàn toàn .Nhưng cho dù bôi chi ngân sách ở mức độ nào thì mọi chính phủ đều phải có biện pháp để kiểm soát và kiềm chế bội chi ngân sách

    PHẦN 2 : THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIÊN NAY .

    Thực tế trong những năm qua chúng ta đã kiểm soát được mức độ chi ngân sách nhà nước ở mức giới hạn cho phép ( không quá 5% GDP trên năm) và nguồn vay chủ yếu là chi cho đầu tư phát triển. Ngoài ra chúng ta cũng tích lũy được một phần từ nguồn thu thuế ,phí, lệ phí, chi đầu tư phát triển. Đây là những thành công bước đầu đáng ghi nhận trong công tác quản lí cân đối ngân sách nhà nước cũng như kiểm soát vấn đề bội chi ngân sách nhà nước.

    Bảng cân đôidự toán ngân sách nhà nước năm 2007

    Dự toán thu ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 281900 tỉ đồng; phấn đấu cả năm ước đạt 287900 tỉ đổng, vượt 2,1% (6000 tỉ đồng). So với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm 2006. Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao, quá trình điều hành phát sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách như sản lượng dầu thô, thanh toán giảm lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường… thì kết quả thu như vậy là tích cực. Dự toán chi quốc hội quyết định là 357400 tỉ đồng, bao gồm cả nhiệm vụ chi từ số thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007 (19000 tỉ đồng); ước cả năm đạt 368340 tỉ đồng, tăng 3,1% (10940 tỉ đồng) so với dự toán bằng 32,3% tăng 14,6% so với thực hiện năm 2006.

    Bộ chi ngân sách năm 2007 được quốc hội quyết định là 56500 tỉ đồng ước cả năm là 56500 tỉ đồng, chiếm 4,95% GDP (tính theo thống kê tài chính CP-GFS là 1,7% GDP bằng mức quốc hội quyết định, được đảm bảo bằng các nguồn vay bù đắp bộ chi đúng với dự toán năm.)

    Thực hiện nghị quyết của quốc hội trong chỉ đạo điều hành ngân sách nhà nước năm 2007 dự kiến sẽ dành 9080 tỉ đồng (ngân sách trung ương 7000 tỉ đồng, ngân sách địa phương 2080 tỉ đồng) kết chuyển sang năm 2008 để thực hiện cải cách tiền lương. Đến 31/12/2007 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 35,9% GDP dư nợ nước ngoài của quốc gia bằng 30,4% GDP, trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2008

    Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2008 là 323000 tỉ đồng phấn đấu cả năm đạt 399000 tỉ đồng, vượt 23,5% (76000 tỉ đồng so với dự toán, tăng 26,3% so với thực hiện năm 2007, đạt tỉ lệ động viên 26,8% GDP, trong đó từ thuế và phí đạt 24,9% GDP, ;loại trừ yếu tố tăng thu do tăng giá dầu thô thì đạt tỉ lệ động viên 23,5% GDP (thuế và phí đạt 21,6% GDP) chính phủ tập trung chỉ đạo tăng cường công tác quản lý thu ngân sách năm 2008.

    Dự toán chi cân đối ngân sách nhà nước quốc hội quyết định là 398900 tỉ đồng ước thực hiện cả năm đạt 474280 tỉ đồng vượt 18,9% so với dự toán, tăng 22,3% so với thực hiện năm 2007.

    Bộ chi ngân sách nhà nước năm 2008 quốc hội quyết định là 66900 tỉ đồng. Ước cả năm bộ chi ngân sách thực hiện là 66200 tỉ đồng bằng 4,95% GDP khi xây dựng kiểm toán. Đến ngày 31/12/2008 dư nợ chính phủ (bao gồm cả nợ trái phiếu chính phủ) bằng 33,5% GDP dư nợ ngoài nước của quốc gia bằng 27,2% GDP trong giới hạn đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và ổn định các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.

    Công tác tài chính ngân sách năm 2008 còn những khó khăn tồn tại.

    Thu ngân sách tăng nhưng chưa vững chắc chủ yếu là do giá dầu thô và thuế xuất nhập khẩu .Thu ngân sách những tháng cuối năm có chiều hướng giảm do sản xuất kinh doanh gặp khó khăn

    Các bộ ,ngành ,địa phương đã bám sát điều hành dự toán ngân sách nhà nước được giao nhưng triển khai vốn đầu tư xây dựng cơ bản cả từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn trái phiếu chính phủ còn chậm

    Quản lý chi tiêu ngân sách đã được tăng cường nhưng vẫn còn tình trạng lãng phí ,kém hiệu quả ,một số nơi chưa thật sự quán triệt để tiết kiệm chi ngân sách nhà nước .

    Bảng cân đối dự toán ngân sách nhà nước năm 2009

    Dự toán thu ngân sách nhà nước : dự toán tổng thu cân đối ngân sách nhà nước năm 2009 là 389900 tỉ đồng,đạt tỷ lệ động viên 23%GDP trong đó từ thuế phí và lệ phí là 21,5% GDP là mức động viên ích cực .

    Về cơ cấu thu năm 2009 dự toán thu nội địa chiếm 59,8% tông thu ngân sách nhà nước ,thu dầu thô chiếm 16,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 22,6% tông thu cân đối ngân sách nhà nước

    Dự toán chi ngân sách nhà nước năm 2009 được xây dựng trên cơ sở cơ cấu lại chi ngân sách mục tiêu góp phần kiềm chế lạm phát ổn định vĩ mô ,đảm bảo các nguyên tắc :

    -Tếp tục cơ cấu lại ngân sách ,dảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điêu chỉnh tiền lương ,các khoản tăng chi theo tiền lương

    – bố trí tăng chi dự phòng ,dự trữ quốc gia để đảm bảo an ninh lương thực và chủ động phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai dịch bệnh ,bố trí đảm bảo chi trả nợ theo đúng cam kết

    – bố trí kinh phí cho các lĩnh vực giáo dục -đào tạo -dạy nghề y tế ,khoa học -công nghệ ,văn hoá thông tin ,bảo vệ môi trường ,nông nghiệp nông thôn chúng tôi nghị quyết của đảng ,quốc hội

    -đáp ứng nhu cầu chi cho các nhiệm vụ khác trên tinh thần triệt để tiết kiệm ,tiếp tục rà soát thắt chặt chi xây dưng ,bố trí dự toán chi thường xuyên cho các bộ các cơ quan trung ương và các địa phương cơ bản không tăng so với năm 2008 ,giảm mức bội chi ngân sách nhà nước dưới 5%GDP

    Dự toán chi ngân sách năm 2009 là 491300 tỉ đồng ,tăng 23,1% so với dự toán năm 2008: số tăng chi này tập trung cho các nhiệm vụ chính

    Về chi ngân sách nhà nước đã bố trí theo hướng cơ cấu lại các khoản chi tập trung chi cho an sinh xã hội ,đầu tư phát triển con người thông qua giáo dục ,y tế ,khoa học công nghệ ,đồng thời thực hiện điều chỉnh tiền lương ở mức cao hơn so với lộ trình đã được duyệt

    Được xây dựng trong bối cảnh cơ sở dự báo tình hình kinh tế vãn còn khó khăn ,diễn biến thất thường của thị trường và các biện pháp kiềm chế lạm phát vẫn tiếp tục thực hiện ,việc điều chỉnh chính sách thuế tạo thuận lợi hơn cho sản xuất kinh doanh nhưng bước đầu làm giảm thu ngân sách nhà nước

    Về cân đối ngân sách nhà nước

    Bội chi ngân sách nhà nước ở mức 4,82% GDP (giảm 3700 tỉ đồng so với tính bội chi ở mức 5%) để góp phần kiềm chế lạm phát

    Những vấn đề cần có giải pháp khắc phục trong tổ chức thực hiện :

    Về thu ngân sách nhà nước : dự toán xây dựng vẫn còn chứa đựng các yếu tố rủi ro ,chưa lường hết ,trong đó :thu nội địa từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào khả năng kiểm soát lạm phát ,bình ổn kinh tế vĩ mô và phát triển sản xuất kinh doanh . thu dầu thô phụ thuộc vào yếu tố sản lượng và đặc biệt là yếu tố giá dâng có biến động khó lường .

    Dự toán chi ngân sách nhà nước da thực hiện cơ cấu lại để tăng cường an sinh xã hội , nhưng vẫn còn khó khăn : dự toán chi đầu tư phát triển NSTW bố trí tăng 10,1% so với dự toán năm 2008 ,nhưng vẫn còn thấp so với nhu cầu ,đòi hỏi phải rà soát ,lựa chọn công trình ,dự án quan trọng để triển khai thực hiện . đồng thời phải tăng cường huy động nguồn lực đầu vào tư từ các thành phần kinh tế khác để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế

    • một số nhu cầu chi chưa có khả năng bố trí đủ theo yêu cầu ,như chi bù chênh lệch lãi suất tín dụng ưu đãi ,chi thu hồi vốn ứng theo kế hoạch …trong quá trình điều hành ,trường hợp có tang thêm thu NSTW sẽ bổ sung nguồn xử lý
    • để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát , đã bố trí giảm bội chi ngân sách nhà nước , nhưng mức giảm chưa nhiều do nhu cầu an sinh xã hội và đầu tư phát triển còn lớn . nếu giảm tiếp mức bội chi ngân sách thì sẽ phải giảm chi đầu tư phát triển ,hiện dang rất khó khăn .
    • Dự toán chi thường xuyen bố trí cho cac bộ ,cơ quan trung ương ,các địa phương ngoài các khoản tăng chi theo chính sách ,chế độ và nhiệm vụ mới phát sinh ,các khoản chi còn lại không tăng so với dự toán năm 2008 trong khi giá cả tawng là khó khăn lớn ,đòi hỏi các bộ ,cơ quan trung ương phải tiếp tục thực hiện triệt để các biện pháp sử dụng hiệu quả kinh phí và tiết kiệm chi

    Dự phòng ngân sách nhà nước bố trí đạt 2,8% tổng chi ngân sách nha nước ,trong đó dự phòng NSĐP bằng 3,5% ,đảm bảo dự phong của c địa phương ở mức 3-4%, dự phòng NSTW 2,4% tổng chi NSTW , mức bố trí này là raat mỏng so với yêu cầu chủ động phòng chống thiên tai dịch bệnh và sử lý các nhiệm vụ đột xuất khác phát sinh trong năm .

    PHẦN 3 :CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở VIÊT NAM HIỆN NAY

    Xử lý bội chi ngân sách nhà nước là một vấn đề nhạy cảm , bởi nó không chỉ tác động trước mắt tới nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia .Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang có những biến động lớn như : giá dầu tăng cao .khủng hoảng tái chính tại mỹ ,tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thế giới,vấn đề kiềm chế lạm phát đặt ra vô cùng cấp bách không chỉ ở việt nam .Vậy xử lý bội chi ngan sách như thế nào đẻ ỏn định vĩ mô ,thực hiện hiệu quả các mục tiêu chiến lược về phát triển kinh tế -xã hội ,tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát hiện nay ?

    1.TĂNG THU GIẢM CHI

    Đây là biện pháp cơ bản nhất mà chính phủ thương dùng để giảm hộ chi ngân sách .Bằng quyền lực và nghĩa vụ của mình chính phủ tính toán để tăng các khoản thu và cắt giảm chi tiêu .

    Tăng thu và giảm chi là biện pháp cổ tryền nhưng không phải bao giờ cũng thực hiện thành công được bởi vì ở đây xả ra hai nghịch lí khó giải quyết .Một là: trong bối cảnh tỉ lệ tăng trưởng GDP chưa lớn sẽ ảnh hưởng đến khả năng đầu tư vào tiêu dùng ở khu vực tư nhân bị hạn chế ,tức giảm động lực phát triển kinh tế .Hai là: khả năng giảm chi cũng có giới hạn nhất định ,nếu giảm chi vượt quá giới hạn thì cũng ảnh hưởng không tốt đến quá trình phát triển xã hội

    TĂNG THU

    Chính vì thế vấn đề đặt ra là chính phủ pohai tính toán phí tăng thu và giảm chi như thế nào để gây ảnh hưởng ít nhất đến tăng trưởng kinh tế

    Công tác thu ngân sách nhà nước phải đảm bảo mức động viên vào ngân sách nhà nước hợp lý tăng nhanh tỉ trọng nội địa trong tổng thu ngân sách nhà nước tập trung thực hiện thu đúng,đủ ,kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý ,khuyến khích sản cuất kinh doanh phát triển và đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế chủ động ứng phó với cấc tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước ;đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải các thủ tục hành chính ,hải quan và mổ rộng cơ chế tự khai tự nộp tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu ;tăng cường kiểm tra chống thất thu ,nợ đọng tạo môi trường thuận lợi bình đẳng trong mọi doanh nghiệp của các thành phần kinh tế .Có cơ chế khuyến khích các cấp tăng thu được hưởng hợp lý kết quả tăng thu so với nhiệm vụ nhà nước giao theo quy định pháp luật .Hiện nay tình trạng nợ đọng thuế chưa được kiểm soát chặt chẽ .Vì vậy chính phủ cần phải có giải pháp kiên quyết hơn trong việc kiểm soát nguồn thu từ thuế ,có biện pháp kiểm soát hiệu quả thì sẽ góp phần tăng thu ngân sách nhà nước như :Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục để nâng cao hiểu biết và tự giác thực hiện nghĩ vụ thuế ;đẩy mạnh kiểm tra ,thanh tra phát hiện và xủ lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng ,không đủ số thuế phải nộp để tăng thu tiền thuế cho ngân sách nhà nước

    Chính phủ cũng cần phải caỉ thiện các nguồn thu ngân sách này tránh tình trạng ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40% vào các nguồn thu không bền vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay ) Cải cách thuế đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% ngân sách nhà nước của Việt Nam, trong khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động sản. Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững trong ngân sách nhà nước, đồng thời giúp nhà nước thực hiện được các chương trình đầu tư cơ sở hạ tầng vì quốc tế nhân sinh.

    GIẢM CHI

    Chính phủ điều chỉnh tăng mức thuế xuất, thuế nhập bằng trần tối đa theo cam kết trong WTO của năm 2008 đối với các hàng hóa tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu ( ô tô nguyên chiếc, linh kiện và phụ tùng mô tô, một số mặt hàng điện tử điện lạnh…) ; điều chỉnh giảm thuế nhập khẩu đối với một số nhóm mặt hang thiết thực phục vụ sản xuất (clinke một số mặt hang sản xuất thức ăn chăn nuôi, giấy in báo…) để góp phần bình ổn giá điều chỉnh tăng thuế xuất khẩu đối với hang hóa là tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản (dầu thô,than đá, quặng kim loại…) điều chỉnh tăng lệ phí trước bạ đối với ô tô con nguyên chiếc dưới 10 chỗ ngồi; thực hiện biện pháp kéo dài, giãn thời hạn nộp thuế và giảm thuế đối với các đơn vị sản xuất kinh doanh, hoạt động chế biến và xuất khẩu, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vượt qua khó khăn do giá đầu vào tăng cao, duy trì và tăng sản xuất xuất khẩu.

    Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ ngân sách nhà nước . Đây là một giải pháp tuy mang tính tình thế ,nhưng vô cùng quan trọng với mỗi quốc gia khi sảy ra bội chi ngân sách và xuất hiện lạm phát .triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công có nghĩa là chi đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo , hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế _xã hội ,đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm ,thậm chí không đầu tư .Mặt khác bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản thu đầu tư công ,những khoản chi thường xuyên của nhưng cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cần thiết

    Một trong những giải pháp quan trọng được quốc hội thông qua là cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho an sinh xã hội; tăng chi có trọng điểm cho phát triển nông nghiệp, nông thôn và những vùng khó khăn, nhất là 61 huyện có tỉ lệ nghèo cao.

    Quốc hội quyết định: cần rà soát kĩ nguồn vốn nhà nước bố trí cho các dự án, công trình thuộc trách nhiệm đầu tư của ngân sách nhà nước sao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thực hiện. Không bố trí vốn ngân sách nhà nước cho các dự án công trình không thuộc lĩnh vực ngân sách nhà nước đầu tư.

    Chính phủ việt nam vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách tài khóa của chính phủ trong thời gian vừa qua chỉ hướng đến mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên ) và qua đó giảm tổng cầu .Cụ thể chính phủ chỉ định :

    – Cắt giảm nguồn đầu tư từ ngân sách và tín dụng nhà nước

    -Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước

    -Cắt giảm chi thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp

    Tổng đầu tư nhà nước (từ ngân sách ,tín dụng nhà nước thông qua doanh nghiệp nhà nước ) luôn chiếm trên 50% tổng đầu tư của toàn xã hội .Vì vậy không nghi ngờ gì ,nếu nhà nước có thể cắt giảm một số hạng mục đầu tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc chắn sẽ nhẹ đi .Cũng tương tự vậy ,lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi tiêu thường xuyên (chiếm 56% tổng chi ngân sách năm 2007)

    Mặc dù việc cắt giảm chi tiêu là hoàn toàn đúng đắn , song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu còn chưa chắc chắn vì ít nhất có 4 lý do :

    -thứ 2 :nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư của các DNNN một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư ,và mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng

    – thứ 3 : Với tốc độ lạm phát nhanh như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng ức đầu tư công theo đúng dự toán cũng được coi là một thành tích đáng kể

    -thứ 4 : kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng việc giảmchi thường xuyên rất khó khăn nên đây là hạng mục cuối cùng nằm trong danh sách cắt giảm . Hơn thế với thực tế ở việt nam thì phạm vi chi thường xuyên có thể cắt giảm không nhiều . Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương ( chiếm khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên ),sau đó trừ đi các khoản phụ cấp có tính chất lương ,chi chính sách chế độ ,tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức quốc te, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện …

    Theo ước lượng của bộ kế hoạch và đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì sẽ giảm được khoảng 3000 tỷ đồng chi hội họp và mua sắm xe ,tức giảm được khoảng 0,8 tổng chi ngân sách nhà nước .

    a, Vay nợ trong nước

    2. BIỆN PHÁP VAY NỢ

    Tập trung các khoản vay do trung ương đảm nhận các nhu cầu đầu tư của địa phương cần được xem xét và thực hiện bổ xung từ ngân sách cấp trên thực hiện như vậy ,tránh được đầu tư tràn lan kém hiệu quả va để tồn ngân sách quá lớn quản lý chặt chẽ số bội chi ngân sách nhà nước .Hiên tại chúng ta đang đưng rước mâu thuẫn giưa nhu cầu vốn cho vay đầu tư với nguồn nhân lực hạn hẹp . Nếu thực hiên thắt chặt ,hạn chế vay để đầu tư sẽ kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế đang có nhu cầu vay vốn rất cao .Nhưng nếu chung ta không kiểm soát chặt chẽ các khoản vay của ngân sách nhà nước ,nhất là vay vốn của ngân sách địa phương thi nguy cơ ảnh hưởng tới nên an ninh tài chính quốc gia ,sự bền vững của ngan sách nhà nước .Thực hiên đầu tư tập trung cũng có lợi là bảo đảm phát triển hài hòa cân đối giưa các vùng miền trong toàn quốc . khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ kien quyết không bố trí nguồn chi thường xuyên cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu ,bả dưỡng các công trình ,làm giảm hiệu quả đầu tư . Có như vậy các địa phương phải tự cân đói nguồn kinh phí này chứ không thể yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách nhà nước

    Vay trong nước được chính phủ thực hiện dưới hình thức phát hành công trái ,trái phiếu .Công trái ,trái phiếu là những chứng chỉ ghi nhận nợ của nhà nước ,là một loại chứng khoán hay trái khoán do nhà nước phát hành để vay các dân cư ,các tổ chức kinh tế xã hội vầccs ngân hàng .Ở việt nam chính phủ thường ủy nhiệm cho kho bạc nhà nước phát hành trái phiếu dưới các hình thức tín phiếu kho bạc và trái phiếu kho bạc, trái phiếu công trình

    Ưu điểm :Đây là biện pháp cho phép chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách mà không cần phải tăng cơ sở tiền tệ hoặc giảm dư trữ quốc tê . Vì vậy ,biện pháp này được coi là một cách hiệu quả để kiềm chế lạm phát

    Nhược điểm : viêc khắc phục bội chi ngân sách bằng nợ tuy không gây ra lạm phát trước mắt nhưng nó lại có thể làm tăng áp lực lạm phát trong tương lai nếu như tỷ lệ nợ trong GDP liên tục tăng . Thứ nữa ,viêc vay từ dâ trực tiếp sẽ làm giảm khả năng khu vực tư nhân trong việc tiếp cận tín dụng và gây sức ép làm tăng lãi suất trong nước

    Đặc biệt ,ở những nước trải qua giai đoạn lạm phat cao (như nước ta hiên nay) , giá trị thực của trái phiếu chính phủ giảm nhanh chóng ,làm cho chúng trở nên ít hấp dẫn .Chính phủ có thể sử dụng quyền lực của mình để buộc các chủ thể khác trong nền kinh tế phải giữ trái phiếu ,.Tuy nhiên ,nếu việc làm này kéo dài sẽ gây ảnh hưởng nghieem trọng đến uy tín của chính phủ và khiến cho việc huy động vốn thông qua kênh này sẽ trở nên khó khăn hơn vào các năm sau .

    b, Vay nợ nước ngoài

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ trong nước : hằng năm ngan hàng phải huy động một khoản tền nhàn rỗi trong nước tương đói lớn để bù đắp bội chi ngân sách .để việc huy đông vốn không ảnh hưởng lớn đến thị trường tiền tệ ,đến lãi suất ,Bộ tài chính thực hiện chính sách trước hết thực hiện vay vốn nhàn rỗi từ các quỹ tài chính nhà nước như : quỹ bảo hiểm xã hội ,quỹ tích lũy trả nợ ..phần còn thiếu sẽ thực hiện phát hành trái phiếu và tín phiếu chính phủ .Đối với tín phiếu (loại thời hạn 1 năm) ,thực hiện phối hợp với ngân hàng nhà nước đấu thầu (đấu thầu về lãi suất ) qua ngân hàng nhà nước ,đây là biện pháp vừa để đảm bảo nguồn bù đắp bội chi cho ngân sách nhà nước ,đồng thời cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có nguồn vốn nhàn rỗi ,chưa cho vay được thực hiện mua trái phiếu này (kết quả cho thấy trong năm qua nhiều tổ chức tín dụng đã mua tín phiếu kho bạc )

    Chính phủ có thể giảm bội chi ngân sách bằng các nguồn vốn nước ngoài thông qua việc nhận viện trợ nước ngoài hoặc vay nợ nước ngoài từ các chính phủ nước nước ngoài ,các định chế tài chính thế giới như ngân hàng thế giới(WB), Qũy Tiền tệ Quốc tế (IMF) ,Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB),các tổ chức liên chính phủ ,toor chức quốc tế …

    Viên trợ nước ngoài là nguồn vốn phát triển của các chính phủ ,các tổ chức nhằm thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế xã hội và hiện nay chủ yếu là nguồn vốn phát triển chính thức ODA

    Vay nợ nước ngoài có thể thực hiện dướicác hình thức :phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ mạnh ra nước ngoài ,vay bằng hình thức tín dụng …

    Ưu điểm :nó là một biện pháp giảm bội chi ngân sách hữu hiệu ,có thể bù đắp được các khoản bội chi mà lại không gây sức ép lạm pháp cho nền kinh tế .Đây cũng là một nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước ,góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -xã hội

    Nhược điểm : Nó sẽ khiến chi gánh nặng nợ nần ,nghĩa vụ trả nợ tăng lên ,giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ .Đông thời ,nó cũng dễ khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài .Thậm chí ,nhiều khoản vay ,khoản viện trợ còn đòi hỏi kèm theo đó là nhiều các điều khoản về chính trị ,quân sự ,kinh tế khiến cho các nước đi vay bị phụ thuộc nhiều .

    Một số điểm đã đạt được ,đối với vay nợ nước ngoài ,thực hiện chính sách chỉ vay ưu đãi nước ngoài ,không vay thương mại nước ngoài cho đàu tư phát triển .Đối với những khoản vay thương mại nước ngoài và nợ quá hạn trước đây đã được xử lý qua câu lạc bộ Pari và câu lạc bộ luân đôn . thực hiện xử lý nợ với Nga ,Angiêri … Nhờ thực hiện tốt quá trình cơ cấu lại nợ ,cũng như chính sách vay mới mà dư nợ Chính phủ hiện nay ở mức 35% GDP vào năm 2005 ,mức an toàn ,đảm bảo an ninh tài chính quốc gia .

    3.VAY NGÂN HÀNG (IN TIỀN )

    Chính phủ khi bị thâm hụt ngân hàng sẽ đi vay ngân hàng trung ương để bù đắp .đáp ứng nhu cầu này ,tất nhiên ,ngân hàng trung ương sẽ tăng việc in tiền .Điều này sẽ tạo ra thêm cơ sở tiền tệ .Chính vì vậy ,nó được gọi là tiền tệ hóa thâm hụt

    Ưu điểm :của biện pháp này là nhu cầu tiền để bù đắp ngân sách nhà nước được dáp ứng một cá nhanh chóng ,không phải trả lãi ,không phải gánh thêm các gánh nặng nợ nần

    Nhược điểm :của biện pháp này là lại lớn hơn rát nhiều lần .Việc in thêm và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền . nó đẩy cho việc lạm phat trở nên không thể kiểm soát nổi .Viêt nam từ năm1988 trở về trước bội chi ngân sách được nhà nước bù đắp chủ yếu bằng cách phát hành thêm tiền vào lưu thông dẫn đến tốc độ lạm phát rất cao ,năm 1986 là 774,7% ,năm 1987 là 223,1% ,1988 là 393,8% ;nhưmg từ năm1991 mặc dù bôi chi ngân sách còn ở mức lớn ,đô bù đắp bằng các biện pháp tích cực khác nên lạm phát đã giảm nhanh và đã được kiểm soát ở mức một con số cho đến nay .Chính vì những hậu quả đó ,biện pháp này rất ít khi được sử dụng . Và từ năm 1992 ,nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

    4, TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

    Tăng cường vai trò quản lý của nhà nước nhằm bình ổn giá cả ,ổn định chính sách kinh tế vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế .Để thực hiện vai trò của mình ,nhà nước sư dụng một hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển ,tác động vào đời sống kinh tế _xã hội ,nhằm giải quyêt các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội ,nhất là mối quan hệ tăng trưởng và công bằng xã hội .giưa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn mội trường v.v..Đặc biệt trong điều kiện hiện nay ,khi lạm phát là một vấn nạn của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò quản lý của các nước trên thế giới ,vấn đề tăng cường vai trò vai trò quản lý của nhà nước đối với quản lý ngân sách nhà nước nói chung và xử lý bội chi ngân sách nói riêng có ý nghĩa vô cùng cấp thiết

    Có nhiều cách để chính phủ bù đắp bội chi ngân sách nhà nước ,nhưng phải sử dụng cách nào ,nguồn nào thì còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế ,chính sách kinh tế tài chính trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia , bởi mỗi giải pháp bù bắp đều có những ưu nhược điểm làm ảnh hưởng đến cân đối kinh tế vĩ mô .Vì vậy,chính phủ Việt Nam cần phải tính toán kỹ lưỡng để đưa ra các giải pháp bù đưa phù hợp với thực trạng hiện nay ,khi nền kinh tế của Việt Nam đang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước ,nền tài chính quốc gia cũng được đổi mới .

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhóm 7(Chính), Chủ Đề Thâm Hụt Ngân Sách Nhà Nước
  • Cách Gửi Tin Nhắn Cho Nhiều Người Trên Fanpage Đơn Giản Hiệu Quả
  • Tiếp Cận Khách Hàng Bằng Cách Nhắn Tin Với Tư Cách Fanpage
  • Giải Pháp Inbox Tới Khách Hàng Từ Fanpage Cho Doanh Nghiệp, By Bizfly App
  • Giải Pháp Inbox Tới Khách Hàng Từ Fanpage
  • Không Làm Tăng Mức Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Cách Giảm Bội Chi
  • Cắt Giảm Chi Phí Logistics Trong Bối Cảnh Mới
  • Đổi Mới Quản Lý Chi Gắn Với Phát Triển Kinh Tế
  • Hà Nội: Cắt Giảm Thêm 5% Chi Thường Xuyên, Đẩy Nhanh Giải Ngân Trong Đầu Tư Công
  • Nâng Cao Hiệu Quả, Giảm Chi Phí Vận Tải
  • DIỄN ĐÀN KINH TẾ

    KHÔNG LÀM TĂNG MỨC BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI tháng 3-2010 tăng 0,75% so với tháng trước và so với tháng 12-2009, CPI tháng 3 đã tăng 4,12%.

    Không làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước

    Ðã có những ý kiến đánh giá khác nhau, trong đó

    có ý kiến cho rằng tăng giá đang dẫn lạm phát quay trở lại. Điều này khiến

    nhiều chuyên gia lo ngại Việt Nam khó thực hiện được mục tiêu giữ mức tăng

     

    CPI năm 2010 không quá 7% như chỉ tiêu Quốc

    hội thông qua. Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh đã trả lời phỏng vấn PV Tạp

    chí Nghiên cứu Khoa học Kiểm toán xung quanh vấn đề tham mưu cho Chính phủ

    trong điều hành các chính sách giá.

         *

    Thưa Bộ trưởng, để đạt được mục tiêu vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa kiềm

    chế được lạm phát, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ những biện pháp gì

    trong chỉ đạo điều hành?

    * Thưa Bộ trưởng, để đạt được mục tiêu vừa đảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa kiềm chế được lạm phát, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ những biện pháp gì trong chỉ đạo điều hành?

    – Trước

    hết tôi phải khẳng định, cơ sở để thực hiện mục tiêu này là Chính phủ đánh giá

    sát tình hình, xác định được mục tiêu tổng quát của năm 2010: nỗ lực phấn đấu

    phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn năm 2009, tăng tính ổn định

    kinh tế vĩ mô; nâng cao chất lượng tăng trưởng; ngăn chặn lạm phát cao trở lại;

    tăng khả năng bảo đảm an sinh xã hội… từ đó tổ chức thực hiện quyết liệt đồng

    bộ 6 nhiệm vụ chủ yếu, 8 giải pháp quan trọng nêu tại Nghị quyết số 03/NQ-CP

    ngày 15/01/2010 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành

    thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước

    năm 2010. Để đạt được mục tiêu vừa đảm bảo được tăng trưởng kinh tế vừa kiềm

    chế được lạm phát, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ một số biện pháp chỉ

    đạo điều hành. Cụ thể về chính sách giá, tập trung vào việc thực hiện nhất quán

    cơ chế giá thị trường có sự quản lý của nhà nước, tránh hiện tượng để giá cả

    của những hàng hoá ở mức cao bất hợp lý, bất chấp sự giảm giá trên thị trường

    thế giới hoặc “đông giá” tại thị trường trong nước quá thấp. Bên cạnh

    đó cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả với việc kiểm soát hàng hoá, dịch vụ độc

    quyền; khuyến khích cạnh tranh về giá. Hơn nữa, kiểm tra chặt chẽ các phương án

    giá, mức giá, bình ổn giá, đăng ký giá, kê khai giá những hàng hoá, dịch vụ

    được Nhà nước sử dụng ngân sách để đặt hàng phục vụ các chương trình, mục tiêu

    quốc gia.

    Về

    chính sách tài khoá sẽ điều hành theo hướng linh hoạt có kiểm soát chặt chẽ,

    phấn đấu tăng thu tối thiểu 5% so với dự toán Quốc hội thông qua; điều chỉnh

    hợp lý chính sách thu phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, tăng cường quản

    lý thu; thực hiện giãn thời hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp một quý cho các

    doanh nghiệp nhỏ, vừa và các doanh nghiệp trong ngành dệt may, da, giầy.

    Đối với

    chính sách tiền tệ sẽ điều hành tệ chủ động, linh hoạt, thận trọng, bảo đảm khả

    năng thanh khoản của nền kinh tế. Kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng tổng phương

    tiện thanh toán và dư nợ tín dụng khoảng 25%. Điều hành linh hoạt theo nguyên

    tắc thị trường, công cụ nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn, công cụ dự trữ

    bắt buộc. Điều hành thị trường ngoại hối và tỷ giá linh hoạt trong mối quan hệ

    với lãi suất, giá tiêu dùng và cán cân thương mại nhằm khuyến khích xuất khẩu,

    giảm nhập siêu. Ứng phó có hiệu quả với các biến động của các luồng vốn; giữ ổn

    định cán cân thanh toán tổng thể và mức dự trữ ngoại hối cần thiết.

    Nếu thực hiện tốt chính sách về giá cả, chính sách về tài khoá nêu trên kết hợp

    với việc thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp về tiền tệ, tỷ giá, lãi suất,

    chính sách về xuất nhập khẩu, chính sách thị trường, công tác cải cách hành

    chính, đồng thời, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền đúng định hướng chỉ

    đạo về công tác quản lý giá, điều hành giá của Chính phủ nhằm tạo sự đồng thuận

    của các doanh nghiệp, người dân và toàn xã hội thì chúng ta sẽ giữ không để lạm

    phát tăng cao trở lại, đạt được mục tiêu Quốc hội đã quyết định chỉ số giá tiêu

    dùng tăng không quá 7% trong năm 2010.

    * Thưa Bộ trưởng, nhiều ý kiến lo ngại rằng sau đợt tăng giá những mặt hàng

    thiết yếu vừa qua sẽ dẫn đến nhiều trường hợp “té nước theo mưa”,

    hình thành những mặt bằng giá mới bất hợp lý. Bộ Tài chính sẽ có những biện

    pháp nào để bình ổn giá trong những tháng tiếp theo của năm 2010?

    – Bộ

    Tài chính sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành, địa phương tháo gỡ

    khó khăn cho các doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư tốt hơn, rà soát bãi

    bỏ các khoản phí, các khoản thu không hợp lý giúp doanh nghiệp giảm chi phí.

    Bên cạnh đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải tích cực đổi mới quản lý, cải tiến công

    nghệ, tiết kiệm nhiên liệu, vật liệu để khắc phục khó khăn do giá đầu vào tăng

    để có mức giá đầu ra phù hợp. Từ nay đến hết năm 2010, giữ ổn định giá điện và

    giá than bán cho điện như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.

    Bộ đã

    phối hợp với các ngành tổ chức các đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về

    thuế và pháp luật về giá đối với các mặt hàng xi măng, thép, xây dựng, khí hoá

    lỏng, phân bón hoá học, đường ăn, thức ăn chăn nuôi; ngoài ra, Bộ Tài chính

    cũng có văn bản chỉ đạo Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tổ chức ngay các

    đoàn thanh tra, kiểm tra đối với cước vận tải ô tô, các mặt hàng bình ổn giá

    nêu trên và một số mặt hàng thiết yếu khác tại địa phương; đề nghị Bộ Y tế tổ

    chức ngay các đoàn thành tra, kiểm tra đối với thuốc phòng và chữa bệnh cho

    người.

    Bộ đã

    báo cáo Thủ tướng Chính phủ chỉ thị cho các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà

    nước thực hiện biện pháp bình ổn giá, đảm bảo đủ lượng hàng hoá đáp ứng nhu cầu

    của sản xuất và tiêu dùng, thực hiện chủ trương kiềm chế lạm phát, bảo đảm an

    sinh xã hội, chăm lo đời sống cho người lao động trong doanh nghiệp và cùng

    tham gia với Chính phủ thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo…

    Về giá

    xăng dầu, để tránh tác động tâm lý khi thời gian giữa các lần điều chỉnh giá

    quá dày, Bộ Tài chính cũng có công văn chỉ đạo doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu

    từ nay đến hết tháng 6/2010, nếu giá vốn cơ sở tăng cao hơn giá bán hiện hành

    theo cách tính toán quy định tại khoản 9 Điều 3 Nghị định số 84/2009/NĐ-CP,

    doanh nghiệp cần giãn thời gian giữa các lần điều chỉnh tăng giá xăng, dầu.

    * Thực hiện điều hành một số mặt hàng theo cơ chế thị trường và việc tăng

    lương cho cán bộ công chức từ 1/5 tới sẽ có tác động đến chi ngân sách. Bộ Tài

    chính sẽ có biện pháp gì để giữ bội chi ngân sách nhà nước ở dưới mức 6,2% như

    mục tiêu Quốc hội đề ra?

    – Dự

    toán ngân sách nhà nước năm 2010 đã bố trí đủ nguồn lực để thực hiện điều chỉnh

    tiền lương tối thiểu lên mức 730.000 đồng/tháng, thực hiện từ 1/5/2010; đồng

    thời đã bố trí ngân sách cho các Bộ, ngành và hỗ trợ các địa phương để đáp ứng

    yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội đặt ra cho năm 2010.

    Vì vậy, việc điều chỉnh tăng giá các mặt hàng như xăng, điện, nước,… và thực

    hiện điều chỉnh cải cách tiền lương năm 2010 theo lộ trình đã đề ra sẽ không

    tác động làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước so với dự toán đã được Quốc

    hội thông qua.

    Bộ Tài

    chính sẽ phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương triển khai đồng bộ và nhất quán

    các giải pháp lớn, trọng tâm theo chỉ đạo và Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và

    Chính phủ. Tổ chức điều hành ngân sách nhà nước năm 2010 tích cực, chủ động;

    tăng cường công tác quản lý thu ngân sách nhà nước, theo dõi, kiểm tra, kiểm

    soát chặt chẽ để thu đúng, đủ, kịp thời các khoản phát sinh vào ngân sách nhà

    nước; đẩy mạnh công tác chống thất thu, gian lận và xử lý nợ đọng thuế, phấn

    đấu tăng thu để giảm bội chi ngân sách nhà nước. Đồng thời điều hành chi ngân

    sách nhà nước chặt chẽ, tiết kiệm và trong phạm vi dự toán được giao, hạn chế

    tối đa việc xử lý chi ngoài dự toán, trừ trường hợp thật sự cần thiết, cấp

    bách. Bên cạnh đó, sử dụng linh hoạt các nguồn vốn để đảm bảo nguồn cân đối

    ngân sách nhà nước, đáp ứng yêu cầu chi ngân sách nhà nước và chi cho đầu tư

    phát triển theo tiến độ thực hiện, qua đó góp phần hoàn thành ở mức cao nhất

    các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đặt ra cho năm 2010 và giai đoạn

    2006-2010.

    Xin cảm ơn Bộ trưởng !

    Thùy

    Phương (thực hiện)

    CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNG

    Tập đoàn không chỉ là tập hợp các doanh nghiệpLãi suất thỏa thuận: Lợi nhiều hơnThị trường chứng khoán đang bước vào thời kì lạc quan?Ổn định hệ thống tài chính tiền tệ Tác động từ tăng giá điện đã được tính toán kỹẤn tượng thị trường chứng khoán Việt Nam 2009Những góc nhìn đa chiềuDừng hoạt động các sàn giao dịch vàng để ổn định hệ thống tài chính tiền tệ và nền kinh tế vĩ mô“Tôi rất ấn tượng với công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ của Kiểm toán Nhà nước Việt Nam”Kiểm toán môi trường tại Việt Nam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Trạng Ngân Sách Nhà Nước Và Một Số Khuyến Nghị
  • Giải Pháp An Ninh Giám Sát Cho Ngôi Nhà Bạn
  • Giải Pháp Về Thiết Bị An Ninh Và Giám Sát
  • Giải Pháp Giám Sát An Ninh Thành Phố
  • Giải Pháp Mạng Không Dây, Tìm Hiểu Giải Pháp Mạng Không Dây
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Mục Tiêu Điều Hành Lạm Phát Năm 2022 Là 3,5%
  • Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội, Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng, Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế
  • Kinh Tế Việt Nam 2011: Giữ Lạm Phát Ở Mức 18%, Tăng Trưởng Gdp 6%
  • Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng, Thấp Còi Ở …
  • Cải Thiện Tình Trạng Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Bội chi ngân sách nhà nước là tình trạng mất cân đối của ngân sách, phản ánh sự thiếu hụt của nền tài chính. Bội chi ngân sách kéo dài sẽ rối loạn lưu thông tiền tệ và giá cả, dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sản xuất toàn bộ nền kinh tế và đời sống của các tầng lớp nhân dân. Vậy nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước là gì?

    Bội chi ngân sách nhà nước là gì?

    Bội chi ngân sách nhà nước là (Tổng số) chi lớn hơn (tổng số) thu trong năm ngân sách, tình trạng mất cân đối của ngân sách, phản ánh sự thiếu hụt của nền tài chính. Bội chi ngân sách kéo dài sẽ rối loạn lưu thông tiền tệ và giá cả, dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sản xuất toàn bộ nền kinh tế và đời sống của các tầng lớp nhân dân.

    Ngoài ra, theo quy định hiện hành tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2016/NĐ-CP thì bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh:

    a) Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương và tổng thu ngân sách trung ương trong một năm ngân sách;

    b) Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương trong một năm ngân sách.

    Nguyên nhân của bội chi ngân sách nhà nước

    Bội chi ngân sách nhà nước là tổng số chi lớn hơn tổng số thu trong năm ngân sách, là tình trạng mất cân đối của ngân sách. Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước xuất phát từ nhiều khía cạnh. Có rất nhiều nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước(NSNN) nhưng ta có thể phân ra hai nhóm nguyên nhân cơ bản như sau:

    a. Nhóm nguyên nhân thứ nhất là do tác động của chu kỳ kinh tế.

    Mức bội chi Ngân sách Nhà nước do nhóm nguyên nhân này gây ra được gọi là bội chi chu kỳ bởi vì nó phụ thuộc vào giai đoạn của nền kinh tế đó. Nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn phồn thịnh thì thu Ngân sách Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi Ngân sách Nhà nước không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi ngân sách nhà nước. Và ngược lại, nếu nền kinh tế đang trong giai đoạn khủng hoảng thì sẽ làm cho thu nhập của Nhà nước giảm đi, nhưng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước lại tăng lên do giải quyết những khó khăn mới của nền kinh tế và xã hội.

    b. Nhóm nguyên nhân thứ hai là tác động của chính sách cơ cấu thu chi  ngân sách của Nhà nước.

    Ở nhóm nguyên nhân này mức bội chi được gọi là bội chi cơ cấu. Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi ngân sách nhà nước. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi ngân sách nhà nước sẽ giảm bớt.chính sách cơ cấu thu chi của Nhà nước.

    – Khi Nhà nước thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi NSNN. Ngược lại, thực hiện chính sách giảm đầu tư và tiêu dùng của Nhà nước thì mức bội chi NSNN sẽ giảm bớt. Mức bội chi do tác động của chính sách cơ cấu thu chi gây ra được gọi là bội chi cơ cấu.

    Trong điều kiện bình thường (không có chiến tranh, không có thiên tai lớn,…), tổng hợp của bội chi chu kỳ và bội chi cơ cấu sẽ là bội chi ngân sách nhà nước.

    Thứ nhất, nguyên nhân gây bội chi ngân sách nhà nước về mặt khách quan gồm: do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ. Kinh tế suy thoái thì sẽ làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước  sút giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng (trợ cấp xã hội, những khoản chi để phục hồi nền kinh tế), kết quả ngân sách nhà nước có thể bị bội chi. Thiên tai, tình hình bất ổn của an ninh thế giới. Tình hình bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai sẽ làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi ngân sách nhà nước để khắc phục hậu quả của thiên tai. Khủng hoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầu chi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội. Điều đó làm cho mức bội chi NSNN tăng lên. ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhà nước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tương ứng. Điều đó làm giảm mức bội chi NSNN. Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi là bội chi chu kỳ.

    Thứ hai, nguyên nhân dẫn tới bôi chi ngân sách nhà nước về mặt chủ quan gồm: Do quản lý và điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Quản lý và điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý được thể hiện qua việc đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt; phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước; phân cấp quản lý ngân sách nhà nước chưa khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả. Kết quả là thu ngân sách nhà nước không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu. Do nhà nước chủ động sử dụng bội chi như một công cụ của chính sách tài khóa để kích cầu, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế. Do cách đo lường bội chi.

    – Ngoài ra, căn cứ vào yếu tố thời gian, có sự phân chia bội chi ngân sách nhà nước thành bội chi ngắn hạn và bội chi dài hạn. Dựa trên những nguyên nhân cụ thể mà dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách nhà nước .Tình trạng này được xem như là một điều tất yếu do nước ta đang trong giai đoạn phát triển, cần thiết phải sử dụng nguồn lực của nhà nước cho đầu tư phát triển mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc chưa có khả năng làm được.

    – Từ đó bắt buộc phải tăng vay nợ và chấp nhận tình trạng bội chi ngân sách nhà nước ở mức cao. Tuy nhiên, nền kinh tế phải chịu đựng bội chi ngân sách nhà nước trong bao lâu là vô cùng quan trọng. Theo quan điểm của Phó chủ nhiệm Ủy ban tài chính và ngân sách Quốc hội thì bội chi ngân sách nhà nước dài hạn sẽ ảnh hưởng rất xấu đối với an ninh tài chính quốc gia và nền kinh tế nước ta chỉ chịu được bội chi ngân sách nhà nước ngắn hạn và không nên duy trì quá lâu tình trạng bội chi ngân sách nhà nước cao như hiện nay. Việc công khai tình hình chi tiêu ngân sách đã có tiến bộ hơn trước nhưng các số liệu nên được công khai chi tiết hơn nữa, mặc dù chấp nhận bội chi trong bối cảnh cần đầu tư phát triển nhưng phải xem xét lại các khoản chi thường xuyên để mạnh dạn cắt bớt nhiều khoản chi chưa hợp lý.

    – Theo Bộ Tài chính, bội chi ngân sách nhà nước (NSNN) cả năm 2022 là 209.500 tỉ đồng, bằng 3,4% GDP, tăng thêm 18.000 tỉ đồng so với năm 2022. Chuẩn bị cho năm 2022, Bộ Tài chính dự kiến tỷ lệ bội chi NSNN năm 2022 là 234.800 tỉ đồng, bằng 3,44% GDP, tương ứng tăng 25.300 tỉ đồng so với bội chi năm 2022.

    – Ngoài ra, Bộ Tài chính cũng công bố dự kiến đến hết năm 2022, dư nợ công bằng 56,1% GDP và đến cuối năm 2022, dự kiến nợ công là 54,3% GDP. Tỷ lệ này đã giảm so với năm 2022 là 58,4% GDP. Tổng mức vay của NSNN ước cả năm 2022 là 407.720 tỉ đồng và năm 2022 theo kế hoạch sẽ vay 488.921 tỉ đồng. Về tỷ lệ bội chi và nợ công của nước ta giảm xuống mà nguyên nhân chính là do Tổng cục Thống kê đánh giá lại quy mô GDP giai đoạn 2010 – 2022 bình quân mỗi năm tăng 25,4%.

    – Bộ Tài chính ước tính số chi NSNN cả năm 2022 là khoảng 1,666 triệu tỉ đồng, tăng 33.500 tỉ đồng so với kế hoạch. Bao gồm chi thường xuyên cả năm đạt 1,005 triệu tỉ đồng, tăng 6.430 tỉ đồng so với dự toán. Bên cạnh đó, chi đầu tư phát triển theo dự toán cả năm nay là 429.300 tỉ đồng nhưng 9 tháng 2022 chỉ mới chi được 44,8% số này. Số còn lại là chi trả nợ lãi cả năm là 124.880 tỉ đồng. Trong khi đó ở chiều thu NSNN, cả năm nay ước đạt 1,457 triệu tỉ đồng, tăng 46.000 tỉ đồng so với kế hoạch (theo số liệu công bố tại báo thanh niên ngày 28/20/2019).

    – Bội chi ngân sách nhà nước có ảnh hưởng lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Việc thâm hụt ngân sách nhà nhà nước ở mức độ cao và kéo dài sẽ làm cho nhà nước phải tìm cách tăng các khoản thu, như vậy sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội của người dân, làm tăng lãi suất thị trường, thúc đẩy nhập siêu, gây ra những khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm và đời sống của người lao động.

    CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

    Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

    Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

    Trân trọng !

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ielts Speaking Chủ Đề “Vấn Nạn Kẹt Xe”
  • Nỗ Lực Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
  • Xây Dựng Giải Pháp Network Cho Khách Sạn Và Resort
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Thực Hiện Công Tác Gdqp&an Trong Tình Hình Mới
  • ​​​​hội Thảo “Bàn Giải Pháp Xây Dựng Xã Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu”
  • Đề Tài: Kiểm Soát Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước Ở Nước Ta, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Phân Tích Tình Hình Thu Chi Ngân Sách Nhà Nước Ở Việt Nam Giai Đoạn 2011
  • Hoàn Thiện Công Tác Kiểm Soát Chi Ngân Sách Nhà Nước Qua Kho Bạc Nhà Nước Trà Vinh
  • Tìm Kiếm Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Vietinbank
  • Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Huy Động Vốn Tại Ngân Hàng Tmcp Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam Chi Nhánh Hà Nội
  • Published on

    Download luận văn đồ án tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh với đề tài: Giải pháp nhằm kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 3. MỤC LỤC MỤC LỤC 1 LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 3 1.1. Những vấn đề cơbản về ngân sách nhà nước 3 1.1.1. Khái niệm, bản chất ngân sách nhà nước 3 1.1.2. Vai trò của ngân sách nhà nước 4 1.2. Nội dung hoạt động của ngân sách nhà nước 7 1.2.1. Thu ngân sách nhà nước 7 1.2.2. Chi ngân sách nhà nước 9 1.2.3. Cân đối ngân sách nhà nước – Bội chi ngân sách nhà nước 10 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC GIAI ĐOẠN 2011-2013 19 2.1. Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2011-2013 19 2.2. Thực trạng hoạt động ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2013. 22 2.2.1. Dựtoán cân đối ngân sách nhà nước 2011-2013 22 2.2.2.Thực hiện thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2011-2013 26 2.2.3. Thực trạng thực hiện chi ngân sách nhà nước 2011-2013 30 2.2.4. Bội chi ngân sách nhà nước 40 CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH 45 3.1. Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014-2015 45 3.2. Các giải pháp kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước 49 3.2.1.Các giải pháp mang tính kinh tế 49
    2. 4. 3.2.2. Các giải pháp tài chính kiểm soát bội chi ngân sách nhà nước 51 3.2.3. Các biện pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước 54 3.2.3. Kiểm soát bội chi do những tác động khách quan 56 3.3. Đề xuất chính sách và các giải pháp hỗtrợ 56 3.3.1. Cải cách quản lý tài chính công. 56 3.3.2. Phát triển hệ thống thông tin quản lý tài chính và hệ thống kế toán tài chính công. 57 3.3.3. Đổi mới cơchế quản lý quỹ, các đị nh chế tài chính 57 3.3.4. Xác đị nh mức bội chi ngân sách nhà nước hợp lý trong bối cảnh hậu khủng hoảng 58 KẾT LUẬN 60 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC: DỰ TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 42
    3. 5. LỜI CAM ĐOAN Chúng tôi cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực, các kết quả nghiên cứu do chính chủ nhiệm đề tài và những người tham gia thực hiện, các tài liệu tham khảo đã được trích dẫn đầy đủ. Chủ nhiệm đề tài (ký và ghi rõ họ và tên)
    4. 6. 1 LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Ngân sách nhà nước (NSNN) là khâu quan trọng của hệ thống tài chính.Nó đóng vai trò chỉ đạo và tổ chức hoạt động của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn chưa có dấu hiệu hồi phục mạnh mẽ, nền kinh tế trong nước còn khá nhiều khó khăn chưa được giải quyết triệt để, đòi hỏi Nhà nước ta phải sử dụng một cách có hiệu quả các công cụ, chính sách tài chính, tiền tệ, đặc biệt là chính sách thu chi NSNN.Nhằm điều tiết nền kinh tế có hiệu quả và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều biện pháp kịp thời và hiệu quả trong việc nâng cao hiệu quả quản lí thu-chi NSNN. Gần đây nhất, nhiệm vụ cân đối NSNN được Quốc hội khóa XIII thông qua với yêu cầu đảm bảo các nhu cầu cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội… Thực hiện nhiệm vụ này thu chi NSNN đóng góp vai trò quan trọng. Chính vì vậy nghiên cứu về thu chi NSNN ở Việt Nam trong những năm gần đây sẽ góp phần làm rõ được thực trạng quản lý NSNN giai đoạn 2011 – 2013, những mặt ưu điểm và hạn chế đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát bội chi NSNN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 2. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tìm hiểu và phân tích thực trạng thu chi NSNN ở Việt Nam hiện nay (2011-2013) nhằm làm rõ hơn vai trò của NSNN trong các lĩnh vực kinh tế xã hội đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm kiểm soát bội chi NSNN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 3. Phƣơng pháp nghiên cứu – Phương pháp tổng hợp được sử dụng để tổng hợp các kiến thức, thông tin, số liệu phục vụ đề tài
    5. 7. 2 – Phương pháp phân tích, so sánh được sử dụng để thực hiện việc phân tích, so sánh số liệu thu thập được nhằm rút ra được các kết luận phục vụ mục tiêu của đề tài. – Phương pháp chuyên gia: tham khảo, hỏi ý kiến các chuyên gia về vấn đề cần tìm hiểu của đề tài, về các kết quả của để tài. 4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Thực hiện chủ trương về việc nâng cao tính công khai, minh bạch trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, thực hiện các quy định của Luật Phòng chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chương trình hành động chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Chính phủ và phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua, Bộ tài chính đã cung cấp các thông tin công khai về số liệu NSNN qua cổng thông tin điện tử của Bộ tài chính và các kênh khác. Tuy nhiên để có thể hiểu được rõ nội dung, ý nghĩa của các thông tin này thì đòi hỏi người đọc cũng phải có những kiến thức nhất định về tài chính. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài sẽ làm rõ ràng hơn ý nghĩa của các thông tin, thực hiện chủ trương của chính phủ đồng thời sẽ nâng cao được ý thức công dân của mỗi người trong hoạt động chung của NSNN.
    6. 8. 3 CHƢƠNG 1:LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1. Những vấn đề cơ bản về ngân sách nhà nƣớc 1.1.1. Khái niệm, bản chất ngân sách nhà nƣớc Trong tiến trình lịch sử, vai trò của Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân ngày càng quan trọng.Nhà nước đã tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ quốc gia để thực hiện các mục tiêu của mình, từ đó, khái niệm Ngân sách Nhà nước đã xuất hiện. Với tư cách là công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước, NSNN ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở hai tiền đề khách quan là tiền đề nhà nước và tiền đề kinh tế hàng hóa -tiền tệ. Theo Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam,NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước đã được Quốc hội quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ở Việt Nam, năm ngân sách trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12. Hoạt động củaNSNN là hoạt động phân phối các nguồn tài chính của xã hội gắn liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN, trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể khác trong xã hội. Vì vậy, về mặt bản chất NSNN là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước Tuy nhiên, do điều kiện nước ta còn nhiều khó khăn, nguồn thu ngân sách còn hạn hẹp trong khi nhu cầu giải quyết các vấn đề xã hội lại rất lớn, việc sử dụng NSNN làm công cụ điều chỉnh là không đơn giản, cần có sự chung tay góp sức của người dân và quán triệt tinh thần tiết kiệm, hiệu quả. 1.1.2.4. Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị trường) Do trong điều kiện kinh tế thị trường, giá cả chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ cung cầu hàng hóa trên thị trường. Nên để ổn định giá cả, Chính phủ có thể tác động vào cung hoặc cầu hàng hóa trên thị trường thông qua thuế hay thực hiện thông qua chính sách chi tiêu chúng tôi thị trường có nhiều biến động, giá cả lên cao hoặc xuống thấp, nhà nước có thể thực hiện bình ổn giá cả trên thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ổn định sản xuất nhờ các quỹ dự trữ nhà nước về hàng hóa và tài chính được hình thành hàng năm từ nguồn vốn cấp phát của NSNN.
    7. 12. 7 Để khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả, chính phủ cũng có thể thực hiện chính sách cắt giảm các khoản chi tiêu ngân sách, đồng thời có thể tăng thuế tiêu dùng để hạn chế cầu, mặt khác giảm thuế đầu tư, kích thích sản xuất phát triển để tăng cung. Ngoài ra, chính phủ có thể phát hành các công cụ nợđể vay nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt NSNN cũng góp phần quan trọng trong việc làm giảm tốc độ lạm phát trong nền kinh tế. 1.2. Nội dung hoạt động của ngân sách nhà nƣớc 1.2.1. Thu ngân sách nhà nƣớc Thu NSNN là quá trình nhà nước huy động các nguồn tài chính để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Cơ cấu thu NSNN ở Việt Nam: – Thu từ thuế, phí, lệ phí- là nguồn thu chủ yếu chiếm trên 94% tổng nguồn thu của NSNN. – Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước: nhà nước đầu tư vào các doanh nghiệp, các doanh nghiệp đó hoạt động mang lại nguồn thu cho nhà nước. – Thu từ các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội do nhà nước quản lí. – Thu hồi quỹ sử dụng đất. – Các khoản huy động góp của các tổ chức cá nhân để xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở. – Các khoản đóng góp tự nguyện của các cá nhân trong và ngoài nước. – Các khoản tiền phạt, tiền tịch thu. – Các khoản tiền viện trợ không hoàn lại. – Các khoản thu khác. Nhìn vào cơ cấu thu ta có thể thấy, thu NSNN bao gồm các khoản thu chủ yếu từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, các
    8. 14. 9 – Thu nhập GDP bình quân đầu người: Nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN. – Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế: Nhân tố quyết định đến việc nâng cao tỉ suất thuNSNN (hiện nay tỉ suất lợi nhuận trong nền kinh tế nước ta đạt thấp, trong khi chi phí tiền lương ngày càng tăng, vì vậy tỉ suất thu NSNN không cao…) – Tiềm năng đất nước về tài nguyên thiên nhiên: Nhân tố rất quan trọng ảnh hưởng to lớn trong việc nâng cao NSNN. – Mức độ trang trải các khoản chi phí của nhà nước: Việc phát triển mức độ chi phí của nhà nước sẽ dẫn đến tỉ suất thu NSNN tăng. – Tổ chức bộ máy thu nộp: Gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống được thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỉ suất thu NSNN mà vẫn đáp ứng được nhu cầu chi tiêu của NSNN. 1.2.2. Chi ngân sách nhà nƣớc Chi NSNN là quá trình Nhà nước phân bố và sử dụng các quỹ tiền tệ đã được tập trung vào ngân sách để đáp ứng cho các nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.Chi NSNN chính là sự phối hợp giữa hai quá trình: Quá trình phân phối (quá trình cấp phát kinh phí từ NSNN để hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng) và quá trình sử dụng (quá trình trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ NSNN mà không trải qua việc hình thành các loại quỹ trước khi đưa vào sử dụng). Phần lớn các khoản chi NSNN là các khoản cấp phát, không hoàn trả trực tiếp và luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước.Quốc hội sẽ quyết định cơ cấu, nội dung, mức độ các khoản chi NSNN.Mức độ phạm vi chi tiêu thì luôn phụ thuộc vào tính chất nhiệm vụ của chính phủ trong mỗi thời kì nhất định.
    9. 15. 10 Chi NSNN bao gồm các khoản chi đầu tư phát triển kinh tế – xã hội làm tăng thêm tài sản quốc gia, các khoản chi thường xuyên bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước và sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động kinh doanh, văn hóa, xã hội để cải thiện đời sống nhân dân. Ngoài các khoản thực chi còn có các khoản được liệt kê vào chi NSNN là: chi trả nợ (bao gồm cả gốc và lãi) các khoản tiền do chính phủ vay, chi cho vay, chi viện trợ của ngân sách trung ương cho các chính phủ và tổ chức nước ngoài, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính NSNN… 1.2.3. Cân đối ngân sách nhà nƣớc – Bội chi ngân sách nhà nƣớc 1.2.3.1. Cân đối ngân sách nhà nước Cân đối NSNN là quan hệ cân bằng giữa thu và chi của NSNN trong một thời kỳ (thường là một năm ngân sách). Khái niệm cân đối NSNN xuất phát từ yêu cầu khách quan đối với phân bổ và điều hòa thu, chi NSNN trong sự vận động của nguồn lực tài chính, cũng là quá trình kinh tế do Nhà nước vận dụng các biện pháp điều tiết tài chính để tiến hành kiểm soát và điều hòa sự phân phối nguồn lực tài chính xã hội. Về bản chất, cân đối NSNN là cân đối giữa nguồn lực tài chính mà nhà nước huy động và tập trung được vào quỹ NSNN trong một năm, với nguồn lực được phân phối, sử dụng để thỏa mãn nhu cầu của nhà nước cũng trong năm đó. Theo đó, xét trên góc độ tổng thể, cân đối NSNN phản ánh mối tương quan giữa thu và chi NSNN trong một năm tài khóa và cả tính hài hòa, hợp lý trong cơ cấu giữa các khoản thu và các khoản chi NSNN, để qua đó thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội ở tầm vĩ mô cũng như trong từng lĩnh vực và địa bàn cụ thể. Xét trên phương diện phân cấp quản lý NSNN, cân đối NSNN là cân đối về phân bổ và chuyển giao nguồn lực giữa các cấp ngân sách, để qua đó các cấp chính quyền thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao . Chẳng hạn chính sách chủ động bội chi trong phạm vi kiểm soát được có thể đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Song bội chi kéo dài sẽ làm cho nợ công gia tăng, kết quả là tạo sức ép đối với chính sách quản lý nợ và chèn ép đầu tư của khu vực tư, áp lực gia tăng lạm phát… Nhưng cũng như mọi sự vật và hiện tượng khác, cân bằng thu chi NSNN là tương đối chứ không tuyệt đối, luôn ở trạng thái vận động. Nói cách khác bên cạnh việc xem xét từng tài khóa, việc xem xét cân đối NSNN trong cả một chu kì là hết sức cần thiết, mặt khác nếu mức bội chi ở phạm vi kiểm soát được và tình trạng đó đảm bảo cho NSNN thực hiện được các vai trò vốn có của nó thì bội chi trong trường hợp này là cần thiết và chủ động. Để đảm bảo chủ động trong quản lý NSNN, Luật NSNN 2002 ở Việt Nam qui định nguyên tắc cân đối thu chi NSNN như sau:
    10. 18. 13 NSNN được cân đối theo nguyên tắc: tổng thu về thuế, phí và lệ phí phải lớn hơn tổng chi thường xuyên và giành một phần tích luỹ ngày càng cao cho chi đầu tư và phát triển; trường hợp có bội chi thì số bội chi phải nhỏ hơn số chi đầu tư và phát triển, tiến tới cân bằng thu chi ngân sách. Bội chi NSNN được bù đắp bằng nguồn vay trong và ngoài nước. Vay bù đắp bội chi phải đảm bảo nguyên tắc không chi cho tiêu dùng, chỉ sử dụng cho chi đầu tư và phát triển. Các ngành các cấp khi sử dụng khoản vay này phải có kế hoạch thu hồi nguồn vốn vay và đảm bảo cân đối ngân sách để chủ động trả nợ khi đến hạn. Ngân sách địa phương được cân đối theo nguyên tắc tổng chi không được vượt quá tổng thu. Trường hợp tỉnh có nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh mà vượt quá khả năng cân đối của ngân sách cấp tỉnh thì được phép huy động vốn đầu tư trong nước theo qui định của Thủ tướng chính phủ theo từng công trình và phải cân đối ngân sách tỉnh để chủ động trả nợ khi đến hạn . * Đo lường bội chi NSNN Về mặt kỹ thuật, NSNN có bội chi hay không, bội chi nhiều hay ít còn tùy thuộc vào cách đo lường bội chi NSNN. Căn cứ vào cách xác định các khoản thu, chi trong cân đối NSNN thì trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích chính trị, mục tiêu của chính sách tài khóa… mỗi nền kinh tế sẽ có những quan điểm khác nhau về vấn đề này.Chẳng hạn, khoản vay nợ qua phát hành trái phiếu và viện
    11. 19. 14 trợ (nếu có) có nên ghi vào cân đối NSNN hay không thì câu trả lời đôi khi là khác nhau giữa các quốc gia.Nhật Bản ghi các khoản này vào số thu NSNN hàng năm, trong khi Mỹ thì đưa các khoản này để xử lý bội chi NSNN. Ở Việt Nam, Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 quy định tính các khoản viện trợ không hoàn lại vào thu NSNN nhưng không tính các khoản vay nợ kể cả trong và ngoài nước. Việc ghi các khoản này vào số thu NSNN hàng năm để cân đối NSNN nổi lên hai vấn đề cần xem xét: (1) nếu đưa các khoản này vào cân đối NSNN, thì sẽ làm cho mức bội chi NSNN trở nên nhỏ hơn. Ở mức độ nào đó, đây cũng là cách để các nhà chính trị vẽ lại bức tranh cân đối NSNN tốt hơn, qua đó không làm mất đi tín nhiệm đối với cử tri về năng lực quản lý chính phủ; (2) Tuy vậy, việc đưa khoản này vào cân đối NSNN sẽ làm gia tăng rủi ro tiềm ẩn đối với cân đối NSNN, tính ổn định của NSNN không cao. Và gánh nặng nợ là mối đe dọa lớn đến tính ổn định của nền tài chính quốc gia trong dài hạn. – Ngoài ra, mục đích sử dụng của các báo cáo về bội chi NSNN cũng ảnh hưởng đến việc quyết định các khoản thu, chi trong cân đối NSNN. Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá sự tích lũy của chính phủ cho nhu cầu đầu tư phát triển thì bội chi NSNN là bội chi ngân sách vãng lai, là chênh lệch của số thu, chi thường xuyên. Bội chi ngân sách vãng lai = Chi thường xuyên – Thu thường xuyên Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá tình hình ngân sách tổng thể của Nhà nước và tác động của nó đến môi trường kinh tế vĩ mô (tình hình lưu thông tiền tệ, cầu trong nước và cán cân thanh toán quốc tế) thì bội chi NSNN là bội chi ngân sách qui ước (bội chi ngân sách thông thường). Bội chi ngân sách qui ước = Thu thường xuyên và viện trợ không hoàn lại -tổng chi (bao gồm cả cho vay thuần) Trong đó: Cho vay thuần = Số cho vay ra – Số thu hồi nợ gốc
    12. 20. 15 Tuy nhiên, cách tính này chưa cho phép phân tích sự tác động của bội chi NSNN đến tổng cầu cũng như sự phân bổ nguồn lực và tái phân phối thu nhập trong nền kinh tế. Cùng một mức bội chi như nhau nhưng nếu cơ cấu thu, chi và nguồn bù đắp bội chi khác nhau thì tác động hoàn toàn khác nhau. IMF khuyến cáo rằng khi phân tích ngân sách để lập dự toán thì chỉ nên coi cácnguồn viện trợ, kể cả viện trợ không hoàn lại, là nguồn bù đắp thâm hụt như các khoản vay nợ. Vì các khoản viện trợ thường không có kế hoạch chắc chắn, không ổn định, nếu lập dự toán chi ngân sách có tính đến các khoản viện trợ có thể sẽ phải điều chỉnh chi NSNN trong quá trình thực hiện, gây những tác động tiêu cực đến hoạt động ngân sách. Nếu báo cáo được sử dụng cho mục đích đánh giá tính bền vững tài khóa thì bội chi ngân sách căn bản sẽ thích hợp. Bội chi ngân sách căn bản = Bội chi ngân sách qui ước – Chi trả lãi Với các tính này, nếu Chính phủ có các quyết định thu – chi làm giảm bội chi ngân sách căn bản, thì số chi cho hoạt động của Chính phủ trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ côngsẽ ít đi. Nếu Chính phủ mở rộng các nhu cầu tài chính của mình và làm tăng chi trả lãi thì có nghĩa là Chính phủ phải giảm các cơ hội chi thường xuyên không bắt buộc cũng như chi đầu tư để có thể cải thiện hệ thống giáo dục, y tế, cơ sở hạ tầng… Trong trường hợp muốn so sánh với quốc gia khác trong bối cảnh mức độ lạm phát của hai quốc gia là khác nhau, hoặc khắc phục tình trạng bội chi bị đánh giá quá cao do lạm phát (đặc biệt là đối với những nước có mức lạm phát và nợ công cao) thì bội chi NSNN là bội chi ngân sách nghiệp vụ. Bởi vì, lạm phát sẽ làm giảm giá trị thực số dư nợ danh nghĩa của khu vực công, khi chính phủ trảlãi tiền vay thì một phần trong đó mang tính chất hoàn lại tiền gốc đã bị trượt giá theo năm tháng cho chủ thể cho vay. Khi tính bội chi NSNN nếu phần này không được loại ra thì mức bội chi thực chất đã bị đánh giá cao hơn mức bội chi thực sự.
    13. 21. 16 Bội chi ngân sách nghiệp vụ = Bội chi ngân sách qui ước – trả lãi do lạm phát =Bội chi ngân sách căn bản + trả lãi thực(trả lãi danh nghĩa = trả lãi do lạm phát+ trả lãi thực) Theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm các khoản thu vào quỹ NSNN mà khoản thu đó không kèm theo, không làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả trực tiếp. Chi trong cân đối NSNN là các khoản chi ra từ NSNN được đảm bảo bằng các nguồn thu NSNN trong cân đối. Điều này cũng có nghĩa là những khoản chi của nhà nước nhưng do các nguồn khác đảm nhiệm thì không tính vào chi trong cân đối NSNN. Như vậy, theo thông lệ quốc tế, thu trong cân đối NSNN bao gồm: Các khoản thu thuế, phí và các khoản thu khác (kể cả viện trợ không hoàn lại) mà không bao gồm các khoản vay trong và ngoài nước. Chi trong cân đối NSNN bao gồm chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên, các khoản chi khác, chi trả lãi vay mà không bao gồm chi trả nợ gốc tiền vay. Chi trả lãi tiền vay cần được xếp vào chi NSNN vì nó là hệ quả của việc điều hành chính sách NSNN có bội chi và được chính nguồn thu trong cân đối NSNN đảm bảo. Ở Việt Nam hiện nay, cách tính bội chi khác với thông lệ quốc tế này ở điểm là Việt Nam tính vào chi NSNN tất cả các khoản chi trả nợ cả gốc và lãi.Cách tính này cho kết quả định lượng bội chi cao hơn so với cách tính không bao gồm trả nợ gốc nhưng thuận tiện khi nhận thấy được số bội chi của một năm chính bằng các khoản vaybù đắp bội chi trong năm đó. * Tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế vĩ mô – Ảnh hưởng đến tổng cầu (AD = Ckh + Ikh + Gkh + NXkh) nền kinh tế: Xuất phát từ đẳng thức kinh tế xác định tổng sản phẩm quốc nội GDP = C + I + G + NX Trong đó GDP là tổng sản phẩm quốc nội, C là tiêu dùng tư nhân, I là tổng đầutư tư nhân, G là chi tiêu chính phủ, NX là xuất khẩu ròng.
    14. 24. 19 CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC GIAI ĐOẠN 2011-2013 2.1.Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam 2011-2013 Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn dự báo; Trong nước, những hạn chế, yếu kém vốn có của nền kinh tế chậm được khắc phục cùng với những vấn đề mới phát sinh tác động không thuận đến ổn định kinh tế vĩ mô. Thiên tai, bão lũ liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Trước tình hình đó ngay trong tháng 2/2011, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 11/NQ- CP, chuyển trọng tâm điều hành chính sách sang “tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội”. Quan điểm chỉ đạo này được khẳng định tại – t vài năm tiếp theo”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và nỗ lực phấn đấu của cả hệ thống Chính trị, tình hình kinh tế – xã hội đã có chuyển biến tích cực, đúng hướng và cơ bản thực hiện được mục tiêu đề ra, dự kiến có 11/15 chỉ tiêu đạt, vượt kế hoạch. Kết quả 3 năm 2011- 2013 cơ bản thực hiện được mục tiêu theo Nghị quyết 11/NQ-CPlà “tập trung ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tăng trưởng ở mức hợp lý”, một số cân đối lớn của nền kinh tế đạt kết quả tích cực . Dự toán thu chi NSNN trong những năm qua đã được điều chỉnh như số liệu phân tích ở bảng sau:
    15. 29. 24 Bảng 2.3. Bảng phân tích sô liệu cơ cấu dự toán ngân sách nhà nƣớc 2011-2013 Đơn vị tính: Tỷ đồng Stt Chỉ tiêu Dự toán 2011 Tỉ trong (GDP) Dự toán 2012 Tỉ trong (GDP) Dự toán năm 2013 Tỉ trong (GDP) GDP 2.275.000 100% 2.920.000 100,00% 3.375.800 100,00% A Tổng thu và viện trợ 595.000 26,15% 740.500 25,36% 816.000 24,17% 1 Thu từ thuế và phí 559.402 24,59% 697.883 23,90% 771.231 22,85% 2 Thu về vốn 30.598 1,34% 37.617 1,29% 39.769 1,18% 3 Thu viện trợ không hoàn lại 5000 0,22% 5.000 0,17% 5.000 0,15% B Thu kết chuyển 10.000 0,44% 22.400 0,77% C Tổng chi ngân sách (không bao gồm chi trả nợ gốc) 676.360 29,73% 852.760 29,20% 917.190 27,17% 1 Chi đầu tư phát triển 152.000 6,68% 180.000 6,16% 175.000 5,18% 2 Chi thường xuyên 505.960 22,24% 651.060 22,30% 718.790 21,29% 3 Chi chuyển nguồn 4 Dự phòng 18.400 0,81% 21.700 0,74% 23.400 0,69% D Chi trả nợ gốc 49.240 2,16% 50.340 1,72% 60.810 1,80% E Bội chi ngân sách theo thông lệ QT -71.360 -3,14% -89.860 -3,08% -101.190 -3,00% Bội chi so với GDP (%) -3,14% -3,08% -3,00% F Bội chi ngân sách theo phân loại của VN -120.600 -5,30% -140.200 -4,80% -162.000 -4,80% Bội chi so với GDP (%) -5,30% -4,80% -4,80% G Thu, chi quản lý qua NSNN 57.424 2,52% 64.689 2,22% 86.801 2,57% H Vay về cho vay lại 28.640 1,26% 34.110 1,17% 34.430 1,02% (Nguồn: số liệu ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn)
    16. 30. 25 Dự toán thu NSNN tăng đều qua các năm về con số tuyệt đối: Năm 2011 là 595.000 tỉ đồng, 2012 là 740.500 tỉ đồng, năm 2013 là 816.000 tỉ đồng song về tỉ lệ huy động trên GDP thì vẫn khá ổn định và có xu hướng giảm dần qua các năm: Năm 2011 là 26,15%, năm 2012 là 25,36%, năm 2013 là 24,17%. Trong đó, thu từ thuế và phí lệ phí chiếm tỉ trọng trên 94% tổng thu NSNN. Về dự toán chi NSNN năm 2011 là 676.360 tỉ đồng chiểm tỉ lệ 29,73% GDP, năm 2012 là 852.760 tỉ đồng, chiểm tỉ lệ 29,72% GDP, năm 2013 là 917.190 tỉ đồng chiếm tỉ lệ 27,17% GDP. Trong đó chi thường xuyên chiếm tỉ trọng 74% năm 2011, năm 202 là 76% và năm 2013 là 78% tổng chi NSNN; Chi đầu tư phát triến có xu hướng giảm về tỉ trọng. Điều này thể hiện rõ mục tiêu ưu tiên đảm bảo xã hội, trợ giúp nền kinh tế ổn định và phát triển trong giai đoạn có nhiều khó khăn này. Về bội chi NSNN năm 2011 dự toán là 120.000 tỉ đồng đạt 5,3% GDP, năm 2012 là 140.200 tỉ đồng và năm 2013 là 162.000 tỉ đồng đạt 4,8%GDP. Đồthị2.2.Tỉlệdựtoánthu,chi,bộichiNSNN,thutừthuếphílệphísovớiGDP 0.00% 5.00% 10.00% 15.00% 20.00% 25.00% 30.00% 35.00% Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Thu ngân sách nhà nước/GDP Chi ngân sách nhà nước/GDP Bội chi ngân sách nhà nước/GDP Tỉ lệ thu từ thuế, phí, lệ phí/GDP
    17. 31. 26 2.2.2.Thực hiện thu ngân sách nhà nƣớc giai đoạn 2011-2013 Nhìn chung tổng thu NSNN qua 3 năm có sự dao động mạnh mẽ, giảm tới 192.450 tỷ đồng từ năm 2011-2012 và tăng đáng kể 25.210 tỷ đồng từ 2012 tới 2013. Tuy nhiên trong khi thu cân đối 2 năm 2011 và 2012 đều vượt dự toán thì năm 2013 không đạt dự toán đặt ra. Năm 2011, tổng thu NSNN đạt 962.982 tỷ đồng (bao gồm cả chuyển nguồn từ năm 2010), vượt 126.804 tỷ đồng (21,3%) so với chỉ tiêu được Quốc hội giao. Trong đó, cả 4 nguồn thu chủ yếu của NSNN đều tăng so với dự toán được giao. Thu từ dầu thô tăng 40.905 tỷ đồng, thu nội địa từ sản xuất kinh doanh tăng 35.812 tỷ đồng, thu cân đối từ xuất nhập khẩu tăng 17.065 tỷ đồng, thu về nhà đất tăng 25.918 tỷ đồng. Theo Ủy ban Tài chính-Ngân sách của Quốc hội, số thu NSNN vượt dự toán chủ yếu từ yếu tố khách quan, nhất là do giá cả tăng (chỉ số giá tiêu dùng năm 2011 tăng 18,13% so với năm 2010, giá dầu thô tăng 28 USD/thùng so với giá dự toán, tỷ giá tính thuế thực tế cao hơn tỷ giá khi xây dựng dự toán). Bên cạnh đó, tăng thu còn nhờ việc điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu đối với một số mặt hàng không khuyến khích nhập khẩu và tăng thu các khoản về nhà đất. Thu từ sản xuất kinh doanh chỉ chiếm khoảng 20% trong tổng số tăng thu. Điều này phản ánh thu NSNN tuy tăng cao nhưng chưa bắt nguồn từ nội lực kinh tế và chưa thực sự vững chắc. Dự toán thu cân đối NSNN năm 2012 là 740.500 tỷ đồng. Tuy những tháng cuối năm thu NSNN vẫn rất khó khăn nhưng với quyết tâm cao, nên thực hiện thu ngân sách cả năm đạt 743.190 tỷ đồng, bằng 100,4% dự toán; Tỷ lệ huy động thu nội địa (trừ thu tiền sử dụng đất, tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước) đạt 14,3% GDP,giảm 27.170 tỷ đồng và thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 26.072 tỷ đồng so dự toán nhưng lại được bù đắp bằng số vượt thu từ dầu thô 53.107 tỷ đồng so dự toán. Năm 2013, theo số liệu ước tính thực hiện lần 1 thu NSNN là 790.800 tỉ đồng, đạt 96,91% so với dự toán. Trong đó thu tự thuế, phí lệ phí là 678.598 tỉ đồng
    18. 32. 27 Bảng 2.4. BẢNG PHÂN TÍCH SỐ LIỆU THỰC HIỆN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 2011 -2013 Đơn vị: Tỷ đồng TT No Chỉ tiêu Dự toán 2011 QT 2011 Tỉ lệ (%) Dự toán 2012 ƢTH (lần2) 2012 Tỉ lệ (%) Dự toán 2013 ƢTH (lần1) 2013 Tỉ lệ (%) Tổng thu 962.982 765.590 790.800 A Thu NSNN và viện trợ (I+II+III) 595.000 721.804 121,31 740.500 743.190 100,36 816.000 790.800 96,91 I Thu thƣờng xuyên 559.402 655.476 117,17 697.883 688.936 98,72 771.231 745.564 96,67 I.1 Thu thuế 526.329 618.846 117,58 674.920 637.706 94,49 728.150 678.598 93,19 1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 154.086 196.058 127,24 206.362 213.953 103,68 219.713 222.399 101,22 2 Thuế thu nhập cá nhân 28.902 38.469 133,10 46.333 44.970 97,06 54.861 45.772 83,43 3 Thuế sử dụng phi nông nghiệp 1.373 1.589 115,73 1.323 1.193 90,17 1.257 1.205 95,86 4 Thuế môn bài 1.299 1.478 113,78 1.458 1.572 107,82 1.526 1.590 104,19 5 Lệ phí trước bạ 12.397 15.700 126,64 15.970 11.820 74,01 13.442 12.991 96,64 6 Thuế giá trị gia tăng (VAT) 181.793 192.064 105,65 230.358 193.787 84,12 258.494 222.168 85,95 7 Thuế TTĐB hàng sản xuất trong nước 40.112 42.686 106,42 47.365 43.356 91,54 50.620 50.096 98,96 8 Thuế tài nguyên 25.935 38.123 146,99 32.016 42.278 132,05 32.892 36.368 110,57 9 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 32 72 225,00 36 69 191,67 28 55 196,43 10 Thuế XNK, TTĐB và BVMT hàng NK 80.400 81.406 101,25 80.500 72.028 89,48 81.022 74.300 91,70 11 Thuế bảo vệ môi trường 11.201 3.200 12.680 96,06 14.295 11.654 81,53 I.2 Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế 33.073 36.630 110,75 22.963 51.230 223,10 43.081 66.966 155,44 12 Thu phí, lệ phí 19.743 10.341 52,38 8.967 8.198 91,42 10.378 15.205 146,51 13 Thu tiền cho thuê đất 3.064 5.869 191,55 3.824 7.762 202,98 5.080 5.740 112,99 14 Thu khác ngân sách 10.226 20.420 199,69 10.173 35.270 346,70 27.623 46.021 166,60 II Thu về vốn (bán nhà ở, tiền sd đất) 30.598 54.225 177,22 37.617 46.429 123,4 39.769 40.236 101,17 III Viện trợ không hoàn lại 5.000 12.103 242,06 5.000 7.825 156,5 5.000 5.000 100 B Thu kết chuyển năm trƣớc 10.000 236.500 2365 22.400 22.400 100 C Thu Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN 4.678 (Nguồn: số liệu ngân sách nhà nước, www.mof.gov.vn)
    19. 33. 28 chỉ đạt 93,19% so với dự toán. Nguyên nhân là do tình hình kinh tế có nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp giải thể và ngừng hoạt động tăng cao (60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm 2012), hàng tồn kho cao, lưu thông hàng hóa chậm… Tuy nhiên thực tế đến ngày 30/12/2013, theo Báo cáo tại hội nghị tổng kết toàn ngành sáng 30/12, Bộ Tài chính và Chính phủ đã dự báo về khả năng ngân sách 2013 sẽ vượt khoảng 1% khi tính đến ngày 29/12 con số này đã ở khoảng 0,33%. Có được kết quả này là do sự chỉ đạo kiên quyết của chính phủ, các địa phương đã mạnh “tay thu”. Trong số này đã thu vào ngân sách trên 20.000 tỷ đồng cổ tức doanh nghiệp Nhà nước và phần lợi nhuận còn lại sau khi trích nộp các quỹ theo quy định của pháp luật của các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ theo Nghị quyết của Quốc hội và Nghị định số 204/2013/NĐ-CP ngày 5/12/2013 của Chính phủ”(Bộ Tài chính). Biểu đồ 2.4. Thực hiện thu ngân sách nhà nƣớc Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Dự toán 595,000 740,500 816,000 Thực hiện 721,804 743,190 790,800 100,000 200,000 300,000 400,000 500,000 600,000 700,000 800,000 900,000 Dự toán Thực hiện Tỷ Đồng
    20. 34. 29 Bảng 2.5. CƠ CẤU THỰC HIỆN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 2011-2013 Đơn vị tính: tỉ đồng TT Chỉ tiêu Quyết toán Tỉ trọng ƢTH (lần2) Tỉ trọng ƢTH (lần1) Tỉ trọng No 2011 % 2012 % 2013 % Tổng thu 962.982 765.590 790.800 A Thu NSNN và viện trợ (I+II+III) 721.804 100 743.190 100 790.800 100 I Thu thƣờng xuyên 655.476 90,81 688.936 92,70 745.564 94,28 I.1 Thu thuế 618.846 85,74 637.706 85,81 678.598 85,81 1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 196.058 27,16 213.953 28,79 222.399 28,12 2 Thuế thu nhập cá nhân 38.469 5,33 44.970 6,05 45.772 5,79 3 Thuế sử dụng phi nông nghiệp 1.589 0,22 1.193 0,16 1.205 0,15 4 Thuế môn bài 1.478 0,20 1.572 0,21 1.590 0,20 5 Lệ phí trước bạ 15.700 2,18 11.820 1,59 12.991 1,64 6 Thuế giá trị gia tăng (VAT) 192.064 26,61 193.787 26,08 222.168 28,09 7 Thuế TTĐB hàng sản xuất trong nước 42.686 5,91 43.356 5,83 50.096 6,33 8 Thuế tài nguyên 38.123 5,28 42.278 5,69 36.368 4,60 9 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 72 0,01 69 0,01 55 0,01 10 Thuế xuất khẩu, nhập khẩu, TTĐB và BVMT hàng NKhẩu 81.406 11,28 72.028 9,69 74.300 9,40 11 Thuế bảo vệ môi trường 11.201 1,55 12.680 1,71 11.654 1,47 I.2 Thu phí, lệ phí và thu ngoài thuế 36.630 5,07 51.230 6,89 66.966 8,47 12 Thu phí, lệ phí 10.341 1,43 8.198 1,10 15.205 1,92 13 Thu tiền cho thuê đất 5.869 0,81 7.762 1,04 5.740 0,73 14 Thu khác ngân sách 20.420 2,83 35.270 4,75 46.021 5,82 II Thu về vốn (thu bán nhà ở, thu tiền sử dụng đất) 54.225 7,51 46.429 6,25 40.236 5,09 III Viện trợ không hoàn lại 12.103 1,68 7.825 1,05 5.000 0,63 B Thu kết chuyển năm trƣớc 236.500 32,77 22.400 3,01 C Thu Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN 4.678 0,65 (Nguồn: số liệu ngân sách nhà nước www.mof.gov.vn)
    21. 35. 30 Xét về cơ cấu thu ngân sách, thu nội địa chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN và có xu hướng tăng. Thu NSNN từ các sắc thuế gắn trực tiếp với sản xuất, kinh doanh trong nước như thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN), thuế thu nhập cá nhân (TNCN), thuế giá trị gia tăng(GTGT) trong tổng thu NSNN ngày càng tăng. Nhờ đó, thu nội địa (không kể dầu thô) trong tổng thu NSNN đã tăng từ 50,7% năm 2001 lên 61,5% năm 2011, ước đạt 62,9% năm 2012 và 66,3% năm 2013. Điều này cho thấy tác động hiệu quả của chính sách thu đến tháo gỡ khó khăn cho DN. Biểu đồ 2.3. Cơ cấu thu ngân sách một số sắc thuế chính 2010 – 2013 (%/ tổng thu NSNN) 2.2.3. Thực trạng thực hiện chi ngân sách nhà nƣớc 2011-2013 Nhìn chung trong 3 năm chi NSNN liên tục tăng về con số tuyệt đối, song vẫn đảm bảo bám sát dự toán được phê duyệt. Căn cứ vào dự toán chi NSNN năm 2011, kết hợp với dự kiến phân bổ sử dụng nguồn dự phòng và nguồn vượt thu năm 2011, tổng chi NSNN quyết toán năm 2011 đạt 706.428 tỷ đồng (Nếu bao gồm cả chi kết chuyển năm sau thì tổng chi là 953.118 tỷ đồng), tăng 4.45% so với dự toán. Trong đó chi đầu tư phát triển thực hiện cả năm bằng 137.04% dự toán, chiếm 29.49% tổng chi NSNN,(trong đó chi đầu tư xây dựng cơ bản đạt 134.55% dự toán, các nhiệm vụ chi về vốn
    22. 36. 31 Bảng 2. 6. BẢNG PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 2011 – 2013 (Nguồn: Số liệu công khai ngân sách nhà nước chúng tôi Đơn vị: Tỷ đồng STT Chỉ tiêu Dự toán 2011 Quyết toán 2011 Tỉ lệ % Dự toán 2012 ƢTH(lần 2) 2012 Tỉ lệ % Dự toán 2013 ƢTH(lần 1) 2013 Tỉ lệ % Tổng chi 953.118 850.385 917.190 930.730 101,48 A Tổng chi NSNN 676.360 706.428 104,45 852.760 850.385 99,72 917.190 930.730 101,48 I Chi thƣờng xuyên 505.960 498.122 98,45 651.060 655.331 100,66 718.790 729.175 101,44 1 Chi quản lý hành chính 62.060 72.423 116,70 77.460 87.060 112,39 95.229 97.224 102,09 2 Chi sự nghiệp kinh tế (1) 49.790 45.543 91,47 58.538 61.719 105,43 63.788 66.667 104,51 3 Chi sự nghiệp xã hội 243.950 222.792 91,33 291.040 322.561 110,83 342.609 348.839 101,82 Trong đó: 3.1 Chi giáo dục – đào tạo, dạy nghề 110.130 99.369 90,23 135.920 152.590 112,26 164.401 167.992 102,18 3.2 Chi Y tế 43.200 30.930 70,17 51.100 54.500 106,65 58.102 58.604 100,86 3.3 Chi dân số và kế hoạch hoá gia đình 880 7.160 1.070 14,94 887 887 100 3.4 Chi khoa học công nghệ 6.430 5.758 89,55 5.450 7.242 132,88 7.733 7.617 98,50 3.5 Chi văn hoá thông tin (2) 4.640 8.645 98,13 2.890 5.560 192,39 6.019 5.950 98,85 3.6 Chi phát thanh truyền hình 2.410 1.990 2.955 148,49 3.055 3.051 99,87 3.7 Chi thể dục thể thao 1.760 970 2.020 208,25 2.172 2.177 100,23 3.8 Chi lương hưu và đảm bảo xã hội 74.500 78.090 104,82 85.560 96.624 112,93 100.240 102.561 102,32 4 Chi trả nợ lãi 35.760 29.786 39,98 48.510 43.445 89,56 42.890 48.130 112,22 5 Chi cải cách tiền lương 27.000 21.184 78,46 59.300 15.600 6 Chi thường xuyên khác 4.620 5.152 II Chi đầu tƣ phát triển 152.000 208.306 137,04 180.000 195.054 108,36 175.000 201.555 115,17 1 Chi xây dựng cơ bản 145.290 195.483 134,55 173.980 187.977 108,05 170.057 196.348 115,46 2 Chi về vốn khác 6.710 12.823 191,10 6.020 7.077 117,56 4.943 5.207 105,34 III Dự phòng 18.400 21.700 23.400 B Chi kết chuyển năm sau 145.290 246.690 169,79 Ghi chú: (1) Bao gồm cả chi sự nghiệp môi trường. (2) Năm 2011 bao gồm cả chi Phát thanh truyền hình và chi thể dục thể thao.
    23. 37. 32 khác đạt 191.10% dự toán). So với dự toán, số chi đầu tư phát triển tăng 56,306 tỷ đồng được tập trung sử dụng cho các dự án quan trọng, cấp bách có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng năm 2011 – 2012, các dự án đầu tư sửa chữa, nâng cấp công trình sạt lở đê kè cấp bách và giảm nhẹ tác hại thiên tai, bổ sung tăng dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực…Chi thường xuyên đạt 98.45% dự toán, chiếm 70.51% tổng chi NSNN (chi quản lý hành chính đạt 116.70% dự toán, chi sự nghiệp kinh tế đạt 91.47% và chi sự nghiệp xã hội đạt 91.33% dự toán). Các khoản chi này chủ yếu để khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và bảo đảm an sinh xã hội … Chi thường xuyên tăng 0.66% dự toán, chiếm 77.06% tổng chi NSNN (chi quản lý hành chính đạt 112.39% dự toán, chi sự nghiệp kinh tế đạt 105.43% và chi sự nghiệp xã hội đạt 110.83% dự toán). So với dự toán số chi thường xuyên tăng 4.271 tỷ đồng về cơ bản đã đảm bảo được các nhu cầu chi theo dự toán đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách. Số liệu ước thực hiện lần 1 năm 2013, tổng chi NSNN ước tính đạt 930.730tỷ đồng, bằng 101.48% dự toán năm. Trong đó chi đầu tư phát triển 201.555 tỷ đồng, tăng 15.17% và chiếm 21.66% tổng chi (chi đầu tư xây dựng cơ bản 196,348 tỷ đồng, chiếm 21.1%, đạt 115.46% dự toán, chi về vốn khác đạt 105.34% dự toán). Đây là mức tăng khá cao, tuy nhiên vẫn nhỏ hơn tốc độ tăng thu NSNN. Điều này cho thấy nguồn lực nhà nước đã được tận dụng tốt hơn, chất lượng công tác điều hành NSNN cũng đạt hiệu quả cao hơn. Bước sang năm 2012 tốc độ tăng chi NSNN giảm nhẹ không đáng kể xuống mức 20.38%, tuy nhiên năm 2013 lại giảm mạnh gần 11%, tốc độ tăng chi giữ ở mức 9.45% . Những thành tựu đạt đƣợc Mặc dù nguồn thu NSNN còn nhiều khó khăn nhưng với chính sách điều hành chi ngân sách linh hoạt, chủ động, tăng cường tiết kiệm chi ngân sách nên NSNN vẫn đảm bảo đủ nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ chi ngân sách đầy đủ, kịp thời. Trong bối cảnh yêu cầu thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, có thể nói, công tác tổ chức điều hành NSNN đã được triển khai tích cực, chủ động. Trong điều kiện thu khó khăn, chi ngân sách được điều hành theo đúng chủ trương thắt chặt chính sách tài khoá,công tác quản lý chi NSNN được tăng cường, bảo đảm tiết kiệm, chặt chẽ và hiệu quả, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát chi NSNN, đảm bảo chi ngân sách đúng chế độ. Chi đầu tư phát triển tập trung cải tạo và xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng các công trình kinh tế mũi nhọn, trọng yếu, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế – xã hội, khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài. NSNN đã đảm bảo nguồn đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi theo dự toán, đáp ứng kịp thời, đầy đủ các nhiệm vụ chi về đảm bảo quốc phòng, an ninh và chi các sự nghiệp giáo dục – đào tạo, y tế, văn hoá, đảm bảo xã hội; Phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… Nguồn chi thực hiện cải cách tiền lương đã được phân bổ, sử dụng phù hợp với số đối tượng thụ hưởng thực tế và đúng chính sách, chế độ. Chính sách an sinh xã hội được đảm bảo, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đảm bảo đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân. Các bộ, ngành và địa phương cũng đã nghiêm túc thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên; Rà soát, sắp xếp lại, cắt giảm hoặc lùi thời gian thực hiện các nhiệm vụ chi chưa thực sự cần thiết [14].
    24. 44. 39 Trong chỉ đạo điều hành, Chính phủ đã tập trung kinh phí thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Bên cạnh việc đảm bảo chi cho những chính sách đã được bố trí dự toán đầu năm và thực hiện chi trả tiền lương, lương hưu và trợ cấp xã hội theo mức tiền lương tối thiểu mới theo đúng kế hoạch, Chính phủ đã ban hành và tổ chức thực hiện một số chính sách mới như: Trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên chức, người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn… Đặc biệt, NSNN đã chú trọng đầu tư cho con người. Chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo,dạy nghề là một trong những khoản mục chiếm tỷ lệ lớn trong tổng chi(năm 2011: 14,07%, năm 2012: 17,94%, năm 2013: 18,05) và có tốc độ tăng khá nhanh trong những năm gần đây (năm 2011 là 27.06%, năm 2012 là 53.56%, năm 2013 là 10.09%), khẳng định chủ trương của Nhà nước ưu tiên cho giáo dục. Những hạn chế còn tồn tại Chi NSNN vẫn chưa dứt bỏ hoàn toàn cơ chế bao cấp, không tính đến hiệu quả, gây lãng phí nguồn lực tài chính Nhà nước. Tình trạng gia hạn nợ đọng thuế hoặc đảo nợ, giảm nợ… cho các DNNN làm ăn thua lỗ vẫn tiếp tục diễn ra. Điều này về lâu dài sẽ tạo nên gánh nặng cho NSNN. Bên cạnh đó, việc quản lý, điều hành chi đầu tư phát triển cũng còn tồn tại, trong đó vẫn còn những dự án tiến độ triển khai chậm so với yêu cầu nhiệm vụ. Bố trí vốn cho các dự án chưa đủ thủ tục; Phân bổ vốn không đúng với cơ cấu, chương trình hỗ trợ được giao; Một số cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương còn chần chừ, thiếu kiên quyết trong cắt giảm đầu tư công, khởi công dự án mới trái quy định… Các hoạt động đầu tư bằng vốn NSNN không thật sự được công khai hóa, sự phân định trách nhiệm thiếu minh bạch, thiếu sự giám sát toàn diện từ công chúng, năng lực quản lý của các bộ ngành yếu kém không theo kịp xu hướng phát triển của nền kinh tế, dẫn đến thất thoát, lãng phí vốn đầu tư của NSNN.
    25. 45. 40 NSNN ẫn còn tình trạng một số nhiệm vụ chi còn chưa thực sự hiệu quả, tiết kiệm khiến NSNN còn thất thoát. B ề được bãi bỏ kịp thời, nhiều khoản chi còn lãng phí, chưa chủ độ ật sự . 2.2.4. Bội chi ngân sách nhà nƣớc 2.2.4.1. Mức độ bội chi ngân sách trong thời gian qua Từ các số liệu về thu chi NSNN trên, trong các năm 2011, 2012 do nguồn thu đồi đào nên bội chi nhìn chung bám sát và vượt dự án, riền năm 2013, do khả năng cân đối NSNN năm 2013 rất khó khăn, vì vậy Chính phủ đã báo cáo Quốc hội quyết định giữ tỷ lệ bội chi NSNN năm 2013 như năm 2012 là 4,8% GDP (162.000 tỷ đồng) để có thêm nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, Theo Tổng cục Thống kê, sau nhiều năm vượt thu, 2013 là năm đầu tiên số thu NSNN ớc tính không đạt dự toán thu cân đối ngân sách, ảnh hưởng lớn tới việc điều hành ngân sách và cân đối, bố trí vốn để thực hiện các nhiệm vụ chi NSNN. Bội chi NSNN 2013 là trên 195 nghìn tỷ đồng. Tỷ lệ bội chi NSNN năm ở mức 5,3% GDP, vượt mức 4,8% đã dự toán.
    26. 46. 41 BẢNG PHÂN TÍCH THỰC HIỆN CÂN ĐỐI THU – CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 2011-2013 Đơn vị: Tỷ đồng Stt Dự toán Quyết toán Tỉ lệ Dự toán ƢTH (lần2) Tỉ lệ Dự toán ƢTH (lần1) Tỉ lệ Chỉ tiêu 2011 2011 % 2012 2012 % 2013 2013 % GDP 2.275.000 2.546.200 111,92 2.920.00 0 2.951.500 101,08 3.375.80 0 3.694.100 109,43 A Thu NSNN và viện trợ 595.000 721.804 121,31 740.500 743.190 100,36 816.000 790.800 96,91 1 Thu từ thuế và phí 559.402 655.476 117,17 697.883 688.936 98,72 771.231 745.564 96,67 2 Thu về vốn 30.598 54.225 177,22 37.617 46.429 123,43 39.769 40.236 101,17 3 Thu viện trợ không hoàn lại 5.000 12.103 242,06 5.000 7.825 156,50 5.000 5.000 100,00 B Thu kết chuyển 10.000 236.500 2.365,0 22.400 22.400 100,00 C Thu Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN 4.678 D Tổng chi ngân sách nhà nƣớc (không bao gồm chi trả nợ gốc) 676.360 953.118 140,92 852.760 850.385 99,72 917.190 930.730 101,48 1 Chi đầu tư phát triển 152.000 208.306 137,04 180.000 195.054 108,36 175.000 201.555 115,17 2 Chi thường xuyên 505.960 498.122 98,45 651.060 655.331 100,66 718.790 729.175 101,44 3 Chi chuyển nguồn 246.690 4 Chi dự phòng 18.400 21.700 – 23.400 E Chi trả nợ gốc 49.240 81.126 164,76 50.340 55.405 110,06 60.810 55.570 91,38 F Chênh lệch thu, chi ngân sách ĐP 40.772 G Bội chi ngân sách theo thông lệ QT -71.360 -30.908 43,31 -89.860 -84.795 94,36 -101.190 -139.930 138,28 Bội chi so với GDP (%) -3,14% -1,21% -3.08% -2,87% -3,00% -3,79% H Bội chi ngân sách theo phân loại VN -120.600 -112.034 92,90 -140.200 -140.200 100,00 -162.000 -195.500 120,68 Bội chi so với GDP (%) -5,30% -4,4% -4.8% -4,75% -4,80% -5,3% I Thu, chi quản lý qua NSNN 57.424 96.541 168,12 64.689 86.801 88.646 102,13 J Vay về cho vay lại 28.640 28.613 99,91 34.110 34.430 27.350 79,44
    27. 47. 42 Biểu đồ2.8. Hoạt động ngân sách nhà nƣớc qua các năm Đồ thị 2.3. Tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nƣớc trên GDP Bội chi NSNN tăng liên tục qua các năm,từ 4.4% GDP năm 2011 đến nay đã vượt trên 5%. Theo giới hạn mà Quốc hội đề ra, bội chi ngân sách tối đa được phép là 5% GDP/năm. Nhưng trên thực tế rất khó để thực hiện đúng được quy định đó. Vấn đề thực sự là với nền tài khóa quốc gia như hiện nay, nếu bội chi ngân sách cứ luôn vượt quá 5% GDP trong một thời gian dài sẽ nguy hiểm. Điều này có khiến cho thị trường hiểu rằng đang có sự không thống nhất giữa chủ trương và thực thi chính sách của Chính phủ, làm giảm niềm tin của thị trường, gây sức ép rất lớn lên việc điều hành kinh tế vĩ mô. -400,000 -200,000 0 200,000 400,000 600,000 800,000 1,000,000 1,200,000 2011 2012 2013 Thu Chi Bội chi Tỷ đồng 4.4% 4.8% 5.3% 0.0% 1.0% 2.0% 3.0% 4.0% 5.0% 6.0% 2011 2012 2013
    28. 48. 43 2.2.4.2. Nguyên nhân của bội chi ngân sách Các nguyên nhân khách quan: Do kinh tế suy thoái mang tính chu kỳ, làm cho nguồn thu NSNN sút giảm, nhu cầu chi tiêu gia tăng (trợ cấp xã hội, những khoản chi để phục hồi nền kinh tế), dẫn đến bội chi NSNN. Bên cạnh đó, tình hình bất ổn của an ninh thế giới và diễn biến phức tạp của thiên tai cũng làm gia tăng nhu cầu chi cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội, gia tăng nhu cầu chi NSNN để khắc phục hậu quả của thiên tai. Các nguyên nhân chủ quan của bội chi ngân sách thể hiện ở chính sách của chính phủ khi chấp nhận bội chi ngay khi lập dự toán để tăng cường nguồn lực cho xây dựng cơ sở hạ tầng, và sau đó cố gắng khiểm soát mức bội chi đã đề ra để góp phần tăng trưởng kinh tế. Nguyên nhân chủ quan còn do quản lý và điều hành NSNN bất hợp lý. Chính sách thu NSNN còn nhiều bất cập, đánh giá và khai thác nguồn thu chưa tốt. Chính sách phân bổ, sử dụng nguồn lực và cân đối giữa các khoản chi chưa hợp lí đưa đến tình trạng thất thoát, lãng phí nguồn lực tài chính nhà nước, phân cấp quản lý NSNN chưa khuyến khích địa phương nỗ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả. Kết quả là thu NSNN không đủ để trang trải nhu cầu chi tiêu. Việc đối mới tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước với tình hình hiện nay là rất khó khăn. Các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, sản phẩm tồn kho tiêu thụ chậm dẫn đến thua lỗ. Bên cạnh đó, nhiều loại thuế suất cao giảm mạnh dẫn đến thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu thấp so với dự toán. Tuy nhiên không thể không tính đến tình trạng nợ đọng thuế, trốn thuế làm hụt thu và một số khoản chi chưa hợp lý gây lãng phí. Trên thực tế, nỗ lực đẩy nhanh quá trình xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật ở đô thị, xã hội và thực hiện chính sách xã hội giảm khoảng cách giàu nghèo, sự cách biệt nông thôn và thành thị, thực hiện các chương trình quốc gia cũng làm tăng mức bội chi song vẫn đem lại khết quả tích cực.
    29. 49. 44 Đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn nhiều những khoản chi không cần thiết, không hợp lý, gây lãng phí cho NSNN. Vấn đề chi tiêu công nhất là trong xây dựng trụ sở, mua sắm trang thiết bị… chưa được kiểm soát chặt chẽ. Việc nới rộng bộ máy, kỷ cương ngân sách chưa nghiêm gây thất thoát, quản lý điều hành chưa hiệu quả…
    30. 50. 45 CHƢƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT BỘI CHI NGÂN SÁCH 3.1. Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2014-2015 Triển vọng kinh tế Việt Nam 2014-2015 gắn liền với nhiệm vụ dài hạn mà các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu kinh tế được thực hiện để tạo ra được mô hình tăng trưởng mới. Theo cách tiếp cận này, nền kinh tế đang phải đối mặt với một số những thách thức mới như sau: Một là, thách thức của việc phục hồi và nâng cao tốc độ tăng trưởng Báo cáo Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 đã nêu rõ: Phấn đấu đến năm 2022, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD. Muốn đạt mức này, GDP năm 2022 theo giá so sánh (1994) phải bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010 và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7%-8%/năm (2011-2020). Ba năm qua, tốc độ tăng GDP đều đã thấp hơn so với mục tiêu kế hoạch đã điều chỉnh (6%-6,5%). Trong khi đó, những nước xung quanh ta về cơ bản vẫn giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, kể cả Lào và Campuchia, làm tăng nguy cơ bị tụt hậu. Nếu trong một vài năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế không được phục hồi trở lại ở mức bình quân khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2 thập kỷ (1991- 2010) vừa qua, thì việc đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nữa cho những năm sau đó (đến 2022) để bù đắp cho những năm tăng trưởng giảm đi hiện nay, sẽ là một thách thức không nhỏ. Vì vậy, đã đến lúc cần nhấn mạnh đến các giải pháp khẩn cấp về tái cơ cấu để chuyển đổi mô hình tăng trưởng trong tình hình hiện nay. Hai là, thách thức của việc bảo đảm những nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược. Để đẩy nhanh tốc độ thực hiện hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế phải có khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn vốn đầu tư. Nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức
    31. 51. 46 khoảng 7,5% như thời gian vừa qua, nền kinh tế đã phải duy trì mức đầu tư cao tới trên 35% GDP, cá biệt có năm lên tới trên 40% GDP. Trong khi đó, do khả năng tích lũy, tiết kiệm để đầu tư từ trong nước có hạn, chúng ta đã phải dựa một phần vào FDI, một phần vào vốn vay (cả trong nước và quốc tế). Tình hình đó nếu cứ tiếp tục kéo dài, có thể sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô. Hiện nay, do Việt Nam đã bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình (tuy là mức thu nhập trung bình thấp: ≥ 1.000 USD), nhưng điều đó cũng có nghĩa là những khoản vốn vay ưu đãi sẽ thu hẹp dần lại. Ngân hàng thế giới đang đề nghị Việt Nam “tốt nghiệp” về vay ODA (không cho vay giá rẻ nữa)! Vì vậy, đã đến lúc cần phải có những thay đổi kể cả từ nhận thức đến hành động chính sách về việc bảo đảm những cân đối lớn trong nền kinh tế, đặc biệt là cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư, thu hút được các nhà đầu tư tốt cho phát triển. Ba là, thách thức của việc tạo ra mô hình tăng trưởng mới từ việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô. Trong thời điểm hiện tại, tuy tình hình ổn định kinh tế vĩ mô đã được cố gắng giải quyết và đã đạt được một số kết quả quan trọng: lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô ổn định hơn, nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm… Nhưng nhìn tổng thể, Thông báo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI (10/2012) đã nêu rõ những mặt hạn chế: Nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định; kết quả kiềm chế lạm phát chưa vững chắc. Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là khó vay vốn tín dụng, hàng tồn kho cao.Nợ xấu cao và có xu hướng tăng.Giải quyết việc làm khó khăn. Thị trường bất động sản đình trệ chưa có khả năng phục hồi, tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn…
    32. 52. 47 Một năm sau, tại Thông báo của Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (10/2013) cho thấy, tình hình cải thiện chưa được nhiều: Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiềm chế nhưng chưa thật vững chắc. Nợ xấu còn cao, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp.Sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, sức mua chậm phục hồi, số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động còn lớn.Tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng còn chậm so với yêu cầu.Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư còn thấp.Tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước và các tổ chức tín dụng chưa đạt yêu cầu.Triển khai thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược tuy đạt được một số kết quả bước đầu nhưng vẫn còn chậm. Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã xác định mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế – xã hội 2 năm 2014-2015 là: “Tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, phục hồi tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh gắn với tái cơ cấu nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược”. Trong đó, “năm 2014 tập trung cao cho ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh”. Vì vậy, cần khẩn trương nghiên cứu những chính sách để nền kinh tế nhanh chóng vượt qua trạng huống “kinh tế vĩ mô chưa thật ổn định”, làm cơ sở cho việc tập trung nguồn lực, thực hiện thật tốt ba đột phá chiến lược để chuyển sang mô hình tăng trưởng kinh tế mới. Bốn là, thách thức của bước chuyển giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH). Có thể thấy, cho đến nay Việt Nam vẫn còn ở bước sơ khởi của quá trình CNH. Việc xếp kinh tế Việt Nam hiện nay ở vào giai đoạn 1 trong tiến trình phát triển 4 nấc thang về CNH của chúng tôi cũng trùng hợp với quan điểm của Jungho Yoo (KDI School of Public Policy and Management, Korea, 2008), khi chỉ dựa trên một tiêu chí duy nhất là coi thời điểm bắt đầu tiến trình CNH ở một
    33. 53. 48 nền kinh tế khi tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm 50% tổng lao động xã hội và kết thúc khi tỷ trọng lao động nông nghiệp chỉ còn 20% tổng lao động xã hội; vì hiện nay lao động trong khu vực nông nghiệp của Việt Nam vẫn còn chiếm gần 50% tổng số lao động xã hội. Thông thường, tại thời điểm diễn ra các bước chuyển, các “điểm ngoặt” của sự phát triển, ngoài sự tăng tiến về lượng, còn đòi hỏi phải có sự trưởng thành về chất. Ở giai đoạn này, nhiều nước đã không vượt qua được “bẫy” thu nhập trung bình, mức phân hóa giàu nghèo gia tăng… Chính điều này cũng đặt ra như một thách thức không nhỏ đối với các nghiên cứu chính sách kinh tế ở Việt Nam trong thời điểm hiện nay. Năm là, thách thức của việc giải quyết mối quan hệ giữa ổn định để phát triển và phát triển để ổn định. Trong bối cảnh hiện nay, cần thiết phải nhấn mạnh sự ổn định, coi ổn định là tiền đề cần thiết để phát triển. Mặc dù đã trải qua gần 30 năm đổi mới, nhưng nhiều vấn đề về ổn định kinh tế vĩ mô vẫn được đặt ra, nhất là khi tốc độ tăng trưởng có chiều hướng đi xuống, trong khi những yếu tố gây bất ổn kinh tế vĩ mô vẫn chưa được xử lý một cách căn bản. Tuy vậy, những chính sách ổn định chỉ có ý nghĩa khi nó tạo tiền đề cho phục hồi tăng trưởng và chỉ có duy trì được mức tăng trưởng hợp lý (đủ cao ở mức cần thiết) mới có thể giữ vững được ổn định (ổn định nhờ phát triển, thông qua phát triển và trong sự phát triển). Đối với trường hợp của một nước chỉ mới vừa bước qua ngưỡng nghèo, những nhân tố đòi hỏi phải phát triển nhanh mới giữ được ổn định đang ngày càng tăng lên. Đổi mới mà người dân không thấy được cuộc sống của họ được cải thiện thì sức hấp dẫn của đổi mới sẽ suy giảm. Trước yêu cầu mới của tình hình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước thời kỳ 2011-2020 với những dự báo kinh tế thế giới bước vào thời kỳ toàn cầu hóa rất sâu, rộng; Nền kinh tế tri thức sẽ hình thành và phát triển, tương quan lực lượng kinh tế và chính trị thế giới có khả năng có nhiều thay đổi, những diễn

    --- Bài cũ hơn ---

  • “một Số Giải Pháp Chủ Yếu Nhằm Hoàn Thiện Kiểm Soát Chi Thường Xuyên Ngân Sách Nhà Nước Qua Kho Bạc Nhà Nước Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên”
  • Bảy Nguyên Tắc Giúp Bạn Giao Tiếp Tiếng Anh Như Người Bản Ngữ Nhanh Và Hiệu Quả
  • Skkn Giup Hoc Sinh Hoc Tu Vung Tieng Anh
  • Cách Học Tiếng Anh Hiệu Quả Cho Sinh Viên
  • Skkn Làm Thế Nào Để Giáo Viên Sử Dụng Thiết Bị Ngày Càng Nhiều, Tốt Hơn
  • Đồng Bộ Nhiều Giải Pháp Tăng Thu, Giảm Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Thức Xử Lý Khắc Phục Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Hàng Loạt Giải Pháp Để Giảm Bội Chi, Kiềm Chế Nợ Công Phình To
  • Đồng Bộ Giải Pháp Kiểm Soát Và Giảm Dần Bội Chi Ngân Sách
  • Tiếp Tục ‘kéo’ Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Kiểm Soát Chặt Chi Tiêu Công, Kéo Giảm Bội Chi Ngân Sách
  • Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình đề nghị Quốc hội phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2022.

    Tăng thu 6,7%, giảm bội chi 41.337 tỷ đồng

    Theo tờ trình của Chính phủ, quyết toán thu ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2022 là 1.293.627 tỷ đồng, tăng 6,7% so với dự toán chủ yếu do tăng thu từ tiền sử dụng đất, thuế xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô. Trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2022 đạt 197.272 tỷ đồng, vượt 17.272 tỷ đồng so với dự toán.

    Năm 2022, Việt Nam đã thực hiện giảm thuế suất theo cam kết với các thị trường Hàn Quốc, ASEAN do đó làm giảm thu mạnh. Tuy nhiên, nhờ giá trị kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng gần 22% so với năm 2022, và việc tăng cường quản lý thuế (thanh tra, kiểm tra với 8.200 cuộc, thu 2.790 tỷ đồng), nên đã góp phần tăng thu NSNN trong năm 2022. Cùng với đó, công tác hoàn thuế giá trị gia tăng cho các đơn vị trong năm 2022 cũng được ngành Tài chính thực hiện kịp thời, đầy đủ theo đúng quy định là 99.143 tỷ đồng.

    Bên cạnh những kết quả tích cực trong hoạt động thu NSNN, công tác chi cũng được triển khai đồng bộ, tích cực, chủ động bằng nhiều biện pháp trong tổ chức điều hành dự toán theo đúng tinh thần nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ.

    Kết quả là, quyết toán chi NSNN đạt 1.355.034 tỷ đồng, bằng 97,5% (giảm 35.446 tỷ đồng) so với dự toán, chủ yếu do một số khoản chi triển khai chậm (như các chương trình mục tiêu quốc gia và các chương trình mục tiêu) nên bị hủy dự toán hoặc chuyển nguồn sang năm sau chi tiếp theo quy định của Luật NSNN.

    Các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã thực hiện điều hành chi ngân sách bám sát mục tiêu, dự toán ngân sách được giao. Trong đó, riêng chi đầu tư phát triển là 372.792 tỷ đồng, tăng 4,4% (15.642 tỷ đồng) so với dự toán, do tăng chi từ nguồn tăng thu của địa phương, nguồn dự phòng ngân sách và nguồn năm trước chuyển sang. Số chi đầu tư phát triển chiếm 27,5% tổng chi NSNN, bằng 7,4% GDP.

    Cũng theo Tờ trình, trong năm 2022, các nhiệm vụ chi thường xuyên quan trọng như chi sự nghiệp khoa học công nghệ, chi giáo dục đào tạo, chi sự nghiệp y tế, chính sách an sinh xã hội, tiếp tục được chú trọng bố trí ngân sách để thực hiện các nhiệm vụ quan trọng, đồng thời tích cực đổi mới, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tổ chức bộ máy và cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập theo lộ trình tính chi phí đầy đủ theo tinh thần nghị quyết của Quốc hội.

    Tuy nhiên, tình trạng chi tiêu sai chế độ vẫn còn ở một số đơn vị, Kiểm toán Nhà nước đã kiến nghị thu hồi khoản chi sai chế độ hàng trăm tỷ đồng, Kho bạc Nhà nước phát hiện nhiều khoản chi không đúng định mức quy định; Việc triển khai nhiệm vụ chi ngân sách ở một số bộ, cơ quan trung ương, địa phương còn chậm so với quy định, đặc biệt là mua sắm hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật về đấu thầu, nên chuyển nguồn sang năm sau thực hiện tiếp theo chế độ quy định.

    Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính, với số thu chi như trên, quyết toán bội chi NSNN năm 2022 là 136.963 tỷ đồng, bằng 2,74% GDP thực hiện, giảm 41.337 tỷ đồng so với dự toán. Trong đó, ngân sách địa phương quyết toán không bội chi, giảm so với dự toán 6.000 tỷ đồng; ngân sách trung ương quyết toán 136.963 tỷ đồng, bằng 2,74% GDP, giảm về số tuyệt đối là 35.337 tỷ đồng, giảm 0,76% GDP so với dự toán Quốc hội quyết định.

    Đồng bộ nhiều giải pháp thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN

    Đó là đánh giá tại Báo cáo thẩm tra về quyết toán NSNN năm 2022 do Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách (UBTCNS) Nguyễn Đức Hải trình bày ngay sau khi Bộ trưởng Bộ Tài chính trình bày tờ trình của Chính phủ.

    Theo Báo cáo thẩm tra, năm 2022 là năm đầu tiên thực hiện Luật NSNN 2022, năm đầu của thời kỳ ổn định NSNN 2022-2020, với mức điều chỉnh tiêu chí, định mức phân bổ chi thường xuyên và chi đầu tư tăng cao đã gây áp lực nhất định cho việc lập dự toán và điều hành ngân sách.

    Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã quyết tâm cao, kịp thời ban hành và chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp để bảo đảm tăng trưởng kinh tế, thực hiện các nhiệm vụ thu, chi NSNN. Theo đó, tổng thu ngân sách vượt dự toán, chi NSNN cơ bản tuân thủ các qui định góp phần cho phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng, an sinh xã hội; bội chi thấp hơn dự toán cả số tương đối và số tuyệt đối, nợ công trong giới hạn Quốc hội quyết định.

    Tuy nhiên, Báo cáo thẩm tra, UBTCNS cũng đưa ra một số lưu ý trong điều hành ngân sách năm 2022. Cụ thể: Cơ cấu thu ngân sách tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN tăng dần qua từng năm song còn khoảng cách so với mục tiêu đề ra trong kế hoạch tài chính 05 năm 2022-2020; tốc độ chuyển dịch có xu hướng chậm lại. Chính sách thu chậm được sửa đổi…

    Sắp xếp bộ máy, tinh giản biên chế khu vực nhà nước, thực hiện tự chủ tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập đã đạt được kết quả nhất định, song triển khai còn chậm, ảnh hưởng đến việc cơ cấu lại NSNN. Tỷ trọng chi lương, phụ cấp và các khoản đóng góp theo lương cao, chiếm 39% tổng chi thường xuyên nếu tính thêm lương hưu và trợ cấp BHXH thì chiếm 44%.

    Trên cơ sở Tờ trình và kết quả thẩm tra, UBTCNS của Quốc hội thống nhất với báo cáo, số liệu của Chính phủ và trình Quốc hội xem xét, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2022. Cụ thể như sau: Tổng số thu cân đối NSNN là 1.683.045 tỷ đồng (bao gồm cả nguồn năm 2022 chuyển sang năm 2022, thu kết dư NSĐP năm 2022, và thu từ quỹ dự trữ tài chính của ngân sách địa phương theo quy định của Luật NSNN và chênh lệch bội thu với bội chi ngân sách địa phương để trả nợ gốc 9.521 tỷ đồng); Tổng số chi cân đối NSNN là 1.681.414 tỷ đồng (bao gồm cả chuyển nguồn từ năm 2022 sang năm 2022); Bội chi NSNN 136.963 tỷ đồng, bằng 2,74% GDP (không bao gồm kết dư ngân sách địa phương 129.073 tỷ đồng).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Án: Thất Nghiệp Và Biện Pháp Giải Quyết
  • Giải Pháp Giải Quyết Vấn Đề Thất Nghiệp Ở Việt Nam.
  • Các Biện Pháp Giải Quyết Thất Nghiệp
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Giảm Thất Nghiệp Ở Việt Nam Hiện Nay
  • Giải Pháp Máy Giám Sát Tuần Tra An Ninh Người Bào Vệ
  • Chi Ngân Sách Nhà Nước Là Gì? Phân Loại Chi Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Quát Về Ngân Hàng Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Hà Nội
  • Luận Văn Cơ Cấu Tổ Chức Và Chức Năng Của Các Phòng Ban Tại Pg Bank Hà Nội
  • Ngân Hàng Phát Triển Việt Nam
  • Phân Cấp Quản Lý Ngân Sách Địa Phương Nghiên Cứu Tại Tp. Hà Nội
  • Ngân Sách Địa Phương Là Gì? Khái Niệm Và Vai Trò Của Ngân Sách Địa Phương
  • Định nghĩa

    Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quĩ ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định.

    Cơ cấu chi ngân sách Nhà nước là nội dung các khoản chi và tỉ trọng của các khoản chi trong tổng chi ngân sách Nhà nước.

    Chi ngân sách Nhà nước là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được tập trung vào ngân sách Nhà nước và đưa chúng đến mục đích sử dụng.

    Do đó, chi ngân sách Nhà nước là những việc cụ thể không chỉ dừng lại trên các định hướng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước.

    Quá trình chi ngân sách Nhà nước

    Quá trình chi ngân sách Nhà nước bao gồm:

    (1) Quá trình phân phối là quá trình cấp phát kinh phí từ ngân sách Nhà nước để hình thành các loại quĩ trước khi đưa vào sử dụng.

    (2) Quá trình sử dụng là trực tiếp chi dùng khoản tiền cấp phát từ ngân sách Nhà nước mà không phải trải qua việc hình thành các loại quĩ trước khi đưa vào sử dụng.

    Phân loại chi ngân sách Nhà nước

    Cũng giống như thu ngân sách Nhà nước, để đánh giá và phân tích các khoản chi. Người ta cũng xây dựng các tiêu chí, và chính các tiêu chí này là căn cứ để phân loại các khoản chi.

    * Căn cứ vào tính chất các khoản chi

    – Chi thường xuyên

    Là khoản chi có tính đều đặn, liên tục gắn với nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế – xã hội. Chi thường xuyên được mang tính ổn định, phần lớn mang tính tiêu dùng và gắn với cơ cấu tổ chức có tính bắt buộc.

    – Chi đầu tư phát triển

    Là khoản chi nhằm tạo cơ sở vật chất kĩ thuật, có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Thông thường là các khoản chi lớn, không mang tính ổn định, có tính tích luỹ, gắn với mục tiêu, định hướng, qui mô vốn phụ thuộc vào nguồn, tính chất…

    – Chi trả nợ, viện trợ

    Bao gồm các khoản chi để Nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế.

    – Chi dự trữ Nhà nước

    * Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ

    Chi tích luỹ: Là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản tích lũy khác.

    Chi tiêu dùng: Là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; bao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành chính, quốc phòng, an ninh…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Về Ngân Sách Nhà Nước Và Chính Sách Tài Khoá
  • Bản Chất, Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước Nói Chung, Của Hà Giang Nói Riêng Trong Sự Nghiệp Phát Triển Kinh Tế
  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Chức Năng Và Vai Trò Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Chức Năng Của Ngân Sách Nhà Nước
  • Ngân Sách Nhà Nước Và Biện Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Pháp Tăng Cường Nguồn Thu, Đảm Bảo Nhu Cầu Chi Ngân Sách Nhà Nước Tỉnh An Giang
  • Kịp Thời Đề Ra Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Giải Pháp Nào Hiệu Quả Để Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước?
  • Vafi Đề Xuất 5 Giải Pháp Tăng Thu Ngân Sách Nhà Nước
  • Lời mở đầu

    Ngân sách nhà nước đóng một vai trò vô cùng quan trọng không chỉ đối với sự phát

    triển kinh tế nước ta mà còn đối với bất cứ quốc gia nào trên thế giới.Vào dịp đầu

    năm chính phủ mỗi nước đều tổ chức một cuộc họp thường niên nhằm tổng kết tài

    chính đã phân bổ chi tiêu trong năm vừa qua,đồng thời báo cáo về tình hình ngân sách

    và phân bổ ngân sách cho các bộ ngành trong năm tới.Tại cuộc họp thường niên này

    việc tăng nguồn thu cho NSNN (chủ yếu dựa vào các chính sách thuế và xuất khẩu)

    cũng được đề cập đến.Dựa vào việc đầu tư-phân bổ-tài chính báo cáo mà chúng ta có

    thể biết được chiến lược phát triển kinh tế trong những năm tới. Thực tế, các cường

    quốc kinh tế trên thế giới đều có một chính sách thu ổn định, đồng thời chi tiêu ngân

    sách hợp lý.

    Ngân sách là công cụ quản lý vĩ mô nên kinh tế. Thông qua công cụ này, Nhà nước

    sẽ tham gia vào việc điều chỉnh một số quan hệ kinh tế cân đối của nền kinh tế như:

    tích luỹ và tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, cơ cấu tiêu dùng và điều tiết thu nhập để

    đảm bảo cân bằng.

    Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

    hiện nay việc từ bỏ nguyên tắc quản lý trực tiếp theo kiểu “cấp phát và giao nộp” đối

    với khu vực kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước, đã tạo điều kiện cho NSNN

    đảm nhận vai trò quản lý vĩ mô đối với toàn bộ nền kinh tế – xã hội. Thu NSNN nói

    một cách đơn giản chính là công tác lập quỹ NSNN, từ đó NSNN có thể chi cho các

    hoạt động của mình, thực hiện được vai trò của mình. Do đó có thể nói thu NSNN là

    một công tác rất quan trọng, nó quyết định việc thực hiện các vai trò của NSNN nói

    chung cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến các khoản chi NSNN nói riêng

    Phần nội dung

    I. Cơ sở lý luận:

    1. Khái niệm của ngân sách nhà nước.

    1.1 Ngân sách nhà nước là gì?

    Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính chất lịch sử, là một thành

    phần trong hệ thống tài chính, nó phản ánh những mặt nhất định của các quan hệ kinh

    tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xã hội và được sử dụng như một công cụ thực

    hiện các chức năng của Nhà nước. Sự ra đời và tồn tại của ngân sách nhà nước luôn

    gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và sự xuất hiện của sản xuất hàng hoá.

    Khi nhà nước ra đời, để đảm bảo cho sự tồn tại của mình, Nhà nước đã đặt ra chế độ

    thuế khoá bắt toàn dân phải cống nạp, các khoản thu này hình thành nên quỹ tiền tệ

    của Nhà nước và nó được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Thuật ngữ “Ngân sách nhà nước” được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế, xã

    hội, ở mọi quốc gia. Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất,

    người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các trường phái

    và các lĩnh vực nghiên cứu.

    – Các nhà kinh tế học hiện đại đã dưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về ngân sách

    nhà nước:

    + Các nhà kinh tế Nga quan niệm: NSNN là bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng

    tiền trong một giai đoạn nhất định của quốc gia.

    + Một cách hiểu tương tự,người Pháp cho rằng: NSNN là toàn bộ tài liệu kế toán

    mô tả và trình bày các khoản thu và kinh phí của nhà nước trong một năm

    Theo quan điểm của những nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển:NSNN là một văn kiện tài

    chính, mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm

    – Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua

    ngày 16/12/2002 định nghĩa: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của

    Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được

    thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà

    nước.

    Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát

    triển của kinh tế hàng hóa – tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và

    nhà nước của từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của

    kinh tế hàng hóa – tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của

    ngân sách nhà nước.

    Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân

    sách trung ương là ngân sách của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

    và các cơ quan khác ở trung ương. Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn

    vị hành chính các cấp có Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân.

    1.2 Đặc điểm của NSNN:

    Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể

    hiện ở hai lãnh vực thu và chi của nhà nước

    Hoạt động thu chi của ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước, và việc thực hiện các chức năng của nhà nước, được nhà nước

    tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định,thường được thực hiện theo nguyên tắc

    không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu

    Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với sở hữu nhà nước, luôn chứa đựng những quan

    hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia,

    lợi ích tổng thể bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác

    trong hoạt động của ngân sách nhà nước

    Ngân sách nhà nước cũng có những đặc điểm như các quỹ tiền tệ khác. Nét khác biệt

    của ngân sách nhà nước với tư cách là một quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nó

    được chia thành nhiều quỹ nhỏ có tác dụng riêng, sau đó mới được chi dùng cho

    những mục đích đã định

    Khái niệm ngân sách nhà nước không chỉ biểu hiện các quan hệ sản xuất nhất định,

    mà còn có sự thể hiện vật chất hoá. Sự vật chất hoá các quan hệ ngân sách được biểu

    hiện ở quỹ tiền tệ của Nhà nước. Đằng sau các con số phản ánh khối lượng của ngân

    sách là quá trình phân phối hiện thực. Đó chính là tính hai mặt của phạm trù kinh tế mặt chất lượng và mặt số lượng. Quỹ tiền tệ của Nhà nước – ngân sách nhà nước cũng có những đặc trưng chung như các quỹ tiền tệ khác được tạo lập trên cơ sở các

    quan hệ tài chính, được chia thành nhiều quỹ có tác dụng riêng và chỉ sau đó ngân

    sách mới được chi dùng cho những mục đích đã định trước

    1.3 Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường:

    Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá – tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sự vận hành

    của nền kinh tế chịu sự tác động của các quy luật kinh tế khách quan như: quy luật giá

    trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… đã bộc lộ những ưu thế cũng như

    những khuyết tật của kinh tế thị trường. Để hạn chế và khắc phục những khuyết tật đó,

    Nhà nước can thiệp vào quá trình vận hành của nền kinh tế là một đòi hỏi khách quan

    để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định. Sự can thiệp của Nhà nước vào nền

    kinh tế thị trường là sự can thiệp gián tiếp thông qua các công cụ chủ yếu như: pháp

    luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ… trong đó ngân sách nhà nước được coi là

    công cụ quan trọng nhất của Nhà nước

    Vai trò quan trọng đó của ngân sách nhà nước được thể hiện trên các mặt như sau:

    Ngân sách nhà nước là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

    cầu chi tiêu của Nhà nước.

    Đây là vai trò truyền thống của ngân sách nhà nước trong mọi mô hình kinh tế, nó gắn

    chặt với các chi phí của Nhà nước trong quá trình tồn tại và thực hiện nhiệm vụ của

    mình. Mối quan hệ hữu cơ giữa Nhà nước với ngân sách được C.Mác tổng kết như

    sau: “Sức mạnh chuyên chính của Nhà nước được quyết định bởi ngân sách và ngược

    lại”.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.

    Vai trò này xuất phát từ yêu cầu khắc phục những khuyết tật vốn có của nền kinh tế

    thị trường. Vai trò này được thể hiện trên các mặt như sau:

    Thứ nhất, ngân sách nhà nước là công cụ định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới,

    kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.

    Để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, Nhà nước phải hướng hoạt

    động của các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà Nhà nước đã hoạch định, để

    hình thành nên cơ cấu kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định

    và bền vững. Thông qua công cụ là ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp kinh phí để

    Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các

    ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và

    phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Việc cấp vốn hình thành

    các doanh nghiệp nhà nước là một trong những biện pháp căn bản để chống độc

    quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. Mặt

    khác, trong những điều kiện cụ thể, nguồn kinh phí ngân sách cũng có thể được sử

    dụng để hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp, đảm bảo tính ổn định về cơ

    cấu hoặc chuẩn bị cho việc chuyển sang cơ cấu mối hợp lý hơn. Ngoài ra, bằng việc

    huy động nguồn tài chính thông qua thuế, ngân sách nhà nước đảm bảo thực hiện vai

    trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh.

    Thứ hai, ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc điều tiết thị trường,

    bình ổn giá cả, chống lạm phát.

    Trong nền kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối

    cung cầu. Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, Nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc

    biệt sự hình thành quỹ dự phòng trong ngân sách nhà nước để đối phó với sự biến

    động của thị trường đóng vai trò quan trọng để bình ổn giá cả. Mặt khác, hoạt động

    thu – chi của ngân sách nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với vấn đề lạm phát. Lạm

    phát là căn bệnh nguy hiểm đối với nền kinh tế và chống lạm phát là một nội dung

    quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường. Nguyên nhân gây ra và thúc đẩy lạm

    phát có nhiều và xuất phát từ nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thu chi tài chính của

    Nhà nước. Do đó, bằng các biện pháp đúng đắn trong quá trình thu-chi của ngân sách

    nhà nước như: thắt chặt và nâng cao hiệu quả các khoản chi tiêu của ngân sách nhà

    nước, tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư… Nhà nước có thể hạn chế và

    kiểm soát lạm phát.

    Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết thu nhập giữa các thành phần kinh tế và

    các tầng lớp dân cư nhằm đảm bảo công bằng xã hội.

    Từ năm 1986 nền kinh tế Việt Nam chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao

    cấp sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước với mục tiêu xây dựng một

    xã hội thịnh vượng, công bằng và văn minh. Nhưng nền kinh tế thị trường với khuyết

    tật vốn có của nó là phân hoá giai cấp, phân hoá giàu nghèo. Do vậy, để đạt được mục

    tiêu mà Đảng đã đề ra, Nhà nước phải sử dụng công cụ ngân sách để điều tiết thu

    nhập, giảm bớt khoảng cách về thu nhập giữa các tầng lớp trong xã hội. Việc điều tiết

    này được thực hiện thông qua hoạt động thu chi ngân sách.

    Thông qua hoạt động thu ngân sách, dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực

    thu Nhà nước điều tiết bớt một phần thu nhập của tầng lớp có thu nhập cao trong xã

    hội, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo thu nhập chính đáng của người

    lao động. Mặt khác, thông qua hoạt động chi ngân sách dưới hình thức các khoản cấp

    phát, trợ cấp trong các chính sách về dân số kế hoạch hoá gia đình, về bảo trợ xã hội,

    về việc làm… Nhà nước hỗ trợ để nâng cao đời sống của tầng lớp người nghèo trong

    xã hội.

    Tuy nhiên trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, việc giải quyết các vấn đề

    xã hội chưa thể thực hiện một cách triệt để, vấn đề này phải thực hiện theo phương

    châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

    2. Thu NSNN:

    2.1 Khái niệm:

    Là việc nhà nước dùng quền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính

    quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của nhà nước.

    – Nguồn tài chính tập trung vào NSNN là những khoản thu nhập của nhà nước được

    hình thành trong quá trình nhà nước tham gia phân phối của cải xã hội dưới hình thức

    giá trị

    2.2 Đặc điểm:

    Thu ngân sách nhà nước thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà

    nước và các chủ thể khác trong xã hội dựa trên quyền lực của Nhà nước nhằm giải

    quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích kinh tế . Sự phân chia đó là 1 tất yếu quan

    xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước và thực hiện các chức

    năng của Nhà nước

    Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các phạm

    trù như giá cả, thu nhập, lãi suất… Chỉ tiêu quan trọng biểu hiện thực trạng của nền

    kinh tế là tổng sản phẩm quốc nội (GDP). GDP là yếu tố khách quan quyết định mức

    động viên của thu ngân sách nhà nước

    Thu NSNN được thực hiên theo nguyên tắc hoản trả không trực tiếp là chủ yếu

    2.3 Cơ cấu thu ngân sách nhà nước bao gồm:

    Thu trong cân đối ngân sách là các khoản thu nằm trong hoạch định của Nhà nước

    nhằm cân đối ngân sách. Các khoản này gồm: thuế, lệ phí, lợi tức của Nhà nước, thu

    tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, và các khoản thu khác.

    Thu ngoài cân đối ngân sách hay còn gọi là thu bù đắp thiếu hụt ngân sách.

    Thu bù đắp thiếu hụt ngân sách thực chất là vay để bù đắp, bao gồm vay trong nước

    và vay nước ngoài. Vay trong nước được thực hiện thông qua việc phát hành công trái

    quốc gia, trái phiếu chính phủ… để huy động tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư.

    Vay nước ngoài được thực hiện thông qua vay nợ hoặc viện trợ Chính phủ, các tổ

    chức tài chính quốc tế.

    2.4 Nội dung kinh tế của thu NSNN:

    2.4.1 Thu thuế

    Thuế là sự đóng góp theo nghĩa vụ đối với nhà nước được quy định bởi pháp luật do

    các pháp nhân và thể nhân thực hiện.

    Thuế mang tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp. Thuế được nhà nước áp đặt

    bằng quyền lực chính trị, được thể chế hoá bằng luật pháp, cho nên mọi tổ chức phải

    chấp hành nghiêm chỉnh, nếu không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước tức

    là phạm luật và sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tính bắt buộc của thuế được giải thích bởi

    mối quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, mọi tổ chức đối với nhà

    nước. Thuế không hoàn trả trực tiếp ngang cho cho người nộp thuế, một phần số thuế

    đã được nộp cho NSNN được hoàn trả một cách gián tiếp cho người nộp thuế dưới

    những hưởng thụ về giáo dục, y tế, phúc lợi công cộng và an ninh quốc phòng… Tất

    cả mọi công dân đều được hưởng các dịch vụ công cộng đó như nhau cho dù nghĩa vụ

    đóng góp có thể khác nhau.

    Thuế được thiết lập dựa trên nguyên tắc luật định nên mọi sự thay đổi hay bổ sung

    phải được đưa ra để bàn bạc tại cơ quan lập pháp và phải được chính cơ quan này phê

    chuẩn thì mới được áp dụng

    Thuế làm chuyển đổi quyền sở hữu từ sở hữu tập thể và cá thể thánh sở hữu toàn dân.

    Việc chuyển quyền sở hữu này được quyết định bởi chức năng quản lí toàn bộ nền

    kinh tế quốc dân của nhà nước và biểu hiện sự thống nhất về lợi ích giữa nhà nước với

    các thành phần kinh tế, các cá nhân trong xã hội.

    Trong nền kinh tế thị trường, thuế được coi là công cụ quan trọng để điều tiết vĩ mô

    nền kinh tế, là nguồn thu quan trọng và chủ yếu của ngân sách nhà nước, góp phần

    điều chỉnh nền kinh tế, kích thích tích luỹ tư bản, định hướng sản xuất và tiêu dùng.

    Thuế là công cụ phân phối lại lợi tức, làm gia tăng trong tiết kiệm tư nhân và đảm bảo

    công bằng trong xã hội

    2.4.2 Lệ phí:

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bắt buộc, nhưng có tính chẩt đối giá, nghĩa

    là lệ phí là một khoản tiền mà dân chúng trả cho Nhà nước khi họ hưởng thụ những

    dịch vụ do Nhà nước cung cấp.

    So với thuế, tính pháp lý của lệ phí thấp hơn. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành,

    mang tính quyền lực của nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.

    Lệ phí là một khoản thu mang tính chất bù đắp, mức thu lệ phí được đặt ra trên cơ sở

    đáp ứng yêu cầu bù đắp chi phí của các dịch vụ công cộng của Nhà nước. Quản lý tốt

    các khoản thu lệ phí có tác dụng tăng thu cho ngân sách nhà nước và giảm bớt gánh

    nặng chi ngân sách trong việc tạo ra các dịch vụ công cộng.

    2.4.3 Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước:

    Trong nền kinh tế thị trường, hình thức cấp vốn trực tiếp từ ngân sách cho các doanh

    nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp nhà nước, đã bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu

    tư vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần được

    hình thành nên các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước với tư cách là một cổ

    đông. Khi các doanh nghiệp cổ phần hoạt động kinh doanh có lợi nhuận, số lợi nhuận

    đó sẽ được chia cho các cổ đông theo lượng vốn góp và Nhà nước sẽ có một khoản

    thu.

    Trong các doanh nghiệp nhà nước khi hoạt động có lợi nhuận thì một phần lợi nhuận

    đó được huy động vào ngân sách nhà nước thông qua khoản thu về tiền thu sử dụng

    vốn ngân sách nhà nước, và mặt bản chất đây chính là khoản lợi tức thu được từ

    khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư. -Thu lợi tức từ cổ phần nhà nước là một nguồn thu

    chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu ngân sách các khoản vốn đã đầu tư

    vào nền kinh tế

    2.4.4 Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước:

    Khoản thu này mang tính chất thu hồi vốn và một phần mang tính chất phân phối lại.

    Khoản thu này vừa có tác dụng tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa có tác

    dụng nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên quốc gia. Khoản thu này bao gồm:

    Thu về bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên

    Thu về bán tài sản thuộc quyền sở hữu của nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài

    nguyên như bán hoặc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước

    ngoài.

    2.4.5 Thu về từ hợp tác lao động với nước ngoài va thu khác:

    Trong xu hướng mở cửa hội nhập, hợp tác lao động giữa các nước ngày càng diễn ra

    sôi động, việc xuất khẩu lao động của các nước đông dân tạo nên một khoản thu cho

    ngân sách nhà nước.

    Thực chất khoản tiền này là khoản tiền thu hồi của quốc gia đã bỏ ra những chi phí

    ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người lao động, đồng thời là khoản

    tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của mình đóng góp cho tổ quốc.

    Ngoài các khoản thu trên, còn có các khoản thu khác như : thu từ bán tài sản không

    có người nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không hoàn lại của

    chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

    2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN:

    Thu ngân sách chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội. Trong thực tế,

    mức thu ngân sách ở mỗi nước khác nhau cho dù có những tương đồng về mặt kinh tế,

    xã hội. Sự khác nhau đó bắt nguồn từ các nhân tố ảnh hưởng sau đây:

    GDP bình quân đầu người: là một chỉ tiêu phản ánh khả năng tăng trưởng và phát

    triển của một quốc gia, khả năng tiết kiệm, tiêu dung và đầu tư của một nước. GDP

    bình quân đầu người là nhân tố khách quan quyết định mức thu ngân sách nhà nước,

    vì vậy khi ấn định mức thu ngân sách, Nhà nước cần căn cứ vào chỉ tiêu này.

    -Khi GDP/người cao – dẫn đến thu ngân sách cao

    -Khi GDP/Người thấp – dẫn đến thu ngân sách nhà nước thấp

    Khả năng xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên: Đối với các nước có nguồn tài

    nguyên thiên nhiên dồi dào phong phú thì xuất khẩu tài nguyên sẽ đem lại nguồn thu

    lớn cho ngân sách nhà nước. Đây là nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến số thu của ngân

    sách

    Tỷ suất doanh lợi của nền kinh tế: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của đầu tư phát triển

    kinh tế. Tỉ suất doanh lợi là tỉ số giữa kết quả thu đươc trên tổng chi phi bỏ ra. Tỉ suất

    doanh lợi trong nền kinh tế càng lớn thì thu NSNN càng lớn. Do vậy, khi xác định tỷ

    suất thu ngân sách cần căn cứ vào tỉ suất doanh lợi của nền kin tế để đảm bảo việc

    huy động của ngân sách nhà nước không gây khó khăn về mặt tài chính cho các chủ

    thể trong xã hội.

    Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước: phụ thuộc vào các yếu tố: quy mô

    tổ chức bộ máy nhà nước và hiệu quả hoạt động của bộ máy đó, những nhiệm vụ kinh

    Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường thì phải ổn định mức thu, ổn định các

    sắc thuế, không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên

    của ngân sách nhà nước phải thích hợp, đảm bảo

    kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu.

    Đối tượng tính thuế: đối tượng ít có sự biến động.

    Ý nghĩa thực hiện nguyên tắc:tạo thuận lợi cho việc kế hoạch hóa ngân sách nhà

    nước, tạo điều kiện kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất

    kinh doanh.

    2.6.2 Nguyên tắc đảm bảo sự công bằng:

    Thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với người chịu thuế, không

    phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế.

    Việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế.

    Để đảm bảo đươc nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc

    thuế trực thu với sắc thuế gián thu.

    2.6.3 Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế

    phải rõ ràng cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế… Các từ

    ngữ được sử dụng của văn bản thông thường, dễ hiểu, không chứa đựng nhiều hàm ý

    để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau.

    Giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tinh trang lách luật, trốn

    lậu thuế.

    2.6.4 Nguyên tắc đơn giản:

    Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định

    rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế.

    Tạo điều kiện thuận lợi cho viêc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những

    hiện tượng tiêu cực trong thu thuế.

    II. Thực trạng thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay:

    Việc thực hiện hàng loạt biện pháp tài khóa và tiền tệ chặt chẽ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP, ngày

    24/2/2011 của Chính phủ đã mang lại nhiều tác động tích cực đến bình ổn nền kinh tế trong năm

    2012 song cũng có những tác động phụ, ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước.Khái quát về tình

    hình thu ngân sách nhà nước năm 2012,đề xuất giải pháp 2013

    Thu ngân sách năm 2012

    Năm 2012 được đánh giá là một trong những năm mà nhiệm vụ thu ngân sách nhà

    nước (NSNN) gặp nhiều khó khăn nhất. Ngành Tài chính đã thực hiện chủ trương:

    “Giảm thuế, nuôi dưỡng nguồn thu để tăng thu” thông qua việc đề xuất Chính phủ

    ban hành Nghị quyết 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 về một số giải pháp tháo gỡ khó

    khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Với việc triển khai Nghị quyết

    13/NQ-CP, NSNN giảm thu 1,2% dự toán tổng thu cả năm 2012 và tổng giá trị thực

    tế doanh nghiệp (DN) được hưởng tương đương 1% GDP dự tính so với quy mô xấp

    xỉ 10% GDP của gói kích thích kinh tế năm 2009.

    Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, đến hết tháng 11/2012, ngành Thuế đã xử

    lý miễn, giảm, gia hạn tiền thuế theo các Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ cho

    khoảng 457.500 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền khoảng

    19.025 tỷ đồng; trong đó: Thực hiện miễn và gia hạn tiền thuế giá trị gia tăng (GTGT)

    đối với khoảng 216.450 lượt DN và hộ sản xuất, hộ gia đình và cá nhân, với số tiền

    khoảng 11.160 tỷ đồng; Thực hiện miễn, giảm và gia hạn tiền thuế thu nhập doanh

    nghiệp (TNDN) đối với khoảng 203.550 lượt DN, với số tiền khoảng 4.940 tỷ đồng;

    Gia hạn tiền sử dụng đất cho trên 340 DN, với số tiền gần 2.470 tỷ đồng; giảm 50%

    tiền thuê đất năm 2012 cho khoảng 3.610 DN, với số tiền 445 tỷ đồng; Miễn thuế

    môn bài năm 2012 cho 33.510 hộ đánh bắt hải sản và hộ làm muối, với số tiền khoảng

    10 tỷ đồng…

    Cùng với các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho DN thì hàng loạt các biện pháp

    cải thiện và chống thất thu NSNN cũng được triển khai như: cải cách thủ tục hành

    chính; thường xuyên đôn đốc kịp thời người nộp thuế; tích cực thanh tra, kiểm tra

    thuế; chống gian lận thuế, nhất là chống chuyển giá trong các doanh nghiệp FDI…

    Hàng loạt giải pháp nói trên đã mang lại kết quả tích cực cho thu NSNN năm 2012.

    Tính đến 31/12/2012, tổng thu NSNN cả nước đạt 741.500 tỷ đồng, tức vượt 1.000 tỷ

    đồng so với dự toán kế hoạch là 740.500 tỷ đồng. Thu từ dầu thô ước đạt ước đạt

    128,7% so với dự toán – tăng 1,6% so với thực hiện năm 2011, đạt khoảng 112.000 tỷ

    đồng. Thu NSNN từ các hoạt động sản xuất kinh doanh nội địa ước đạt 467.200 tỷ

    đồng, đạt 96,4 % dự toán và tăng 10,7 % so với số thực hiện năm 2011. Tuy nhiên,

    thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu theo ước tính chỉ đạt khoảng 82 %

    dự toán và thu từ đất đai ước tính chỉ đạt hơn 65 % dự toán thu. Số thu này cũng phản

    ánh đúng tình trạng kinh tế năm 2012.

    Tình trạng “đóng băng” của thị trường bất động sản đã tác động mạnh đến thu NSNN

    từ đất đai, đặc biệt là thu ở các địa phương có số thu từ đất đai lớn như Hà Nội, TP.

    Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Hầu hết các địa phương đều không đạt dự toán thu NSNN từ

    đất như Đà Nẵng năm 2012 chỉ đạt 37,1% dự toán thu từ đất.

    Đánh giá về tình hình thu NSNN năm 2012, có thể rút ra một vài bài học:

    Một là, sự chỉ đạo điều hành kịp thời với những thay đổi của tình hình kinh tế đóng

    vai trò quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi dự toán NSNN. Chủ trương giảm

    thuế để tăng thu NSNN của Chính phủ với Nghị quyết 13/NQ-CP là lý do quan trọng

    giải thích cho sự thành công của năm tài khóa 2012.

    Hai là, ngay trong bối cảnh khó khăn kinh tế thì việc tăng cường kiểm tra, giám sát

    trong quản lý thu thuế, chống thất thu thuế; tập trung xử lý các khoản nợ đọng thuế;

    triển khai các biện pháp cưỡng chế nợ thuế để thu hồi nợ đọng và hạn chế phát sinh số

    nợ thuế mới cần đặc biệt được quan tâm

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn, số thu cân đối ngân

    sách dự kiến 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà đất

    dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và từ

    dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Ba là, kiểm soát chặt chẽ nguồn thu ngân sách, thường xuyên kiểm tra, rà soát để nắm

    bắt kịp thời số lượng, tình trạng hoạt động của DN, hộ kinh doanh trên địa bàn để đưa

    vào diện quản lý. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách,

    chú trọng việc thanh tra đối với các chuyên đề như: chuyển giá, thương mại điện tử,

    kinh doanh qua mạng, hoàn thuế, hộ kinh doanh cá thể; thanh tra đối với các DN lớn,

    DN có vốn đầu tư nước ngoài.

    Bốn là, đẩy mạnh áp dụng các biện pháp thu nợ và cưỡng chế nợ thuế nhằm hạn chế

    nợ mới phát sinh, động viên kịp thời nguồn lực cho NSNN.

    Năm là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế nhằm cắt giảm chi phí

    tuân thủ, tạo mọi điều kiện thuận lợi để DN phát triển sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh

    triển khai thực hiện các đề án thuộc Chiến lược phát triển hệ thống thuế giai đoạn

    2011-2020, đảm bảo lộ trình và yêu cầu đã đề ra.

    Một số giải pháp thực hiện thu ngân sách nhà nước năm 2013

    Theo dự toán NSNN năm 2013 đã được Quốc hội phê chuẩn thì số thu cân đối ngân

    sách dự kiến là 816.000 tỷ đồng, trong đó thu nội địa là 545.500 tỷ đồng (thu từ nhà

    đất dự kiến là 45.707 tỷ đồng), thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 166.500 tỷ đồng và

    từ dầu thô là 99.000 tỷ đồng, bội chi dự kiến là 162.000 tỷ đồng, tương đương 4,8 %

    GDP.

    Phân tích tình hình kinh tế và dự toán NSNN năm 2013, có thể thấy việc thực hiện thu

    NSNN có một số thuận lợi như sau:

    Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ có thể thoát ra khỏi giai đoạn suy giảm vào

    giữa năm 2013, góp phần làm tăng thu ngân sách. Năm 2013, hệ số ICOR theo mục

    tiêu giảm (từ gần 6,7 lần xuống 5,5 lần), do tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm xuống (30%

    so với 33,5%), do tốc độ tăng trưởng GDP cao lên (5,5% so với 5,03%); tốc độ tăng

    năng suất lao động cũng cao lên (năm 2012 tăng gần 2,3%, mục tiêu năm 2013 tăng

    lên 2,7%). Theo ước tính, nếu GDP năm 2013 tăng trưởng đạt 5,5 – 6% thì tăng thu

    NSNN có thể tăng từ 9-10% so với thực hiện năm 2012, tức là đạt mức theo dự toán.

    Thứ hai, các DN và cả nền kinh tế được kỳ vọng sẽ từng bước hồi phục khi lạm phát

    được kiểm soát và lãi suất cho vay giảm đi. Các biện pháp hỗ trợ DN qua miễn, giảm

    thuế sẽ từng bước có tác dụng khôi phục lại hoạt động của DN. Điều này góp phần

    vào việc tăng nguồn thu cho NSNN. Hơn nữa, do lạm phát năm 2012 thấp nên việc

    lập dự toán thu theo số danh nghĩa cho năm 2013 cũng không bị thổi phồng như đã

    xảy ra với dự toán năm 2012. Nói cách khác là dự toán thu NSNN năm 2013 sẽ sát

    với thực tiễn hơn.

    Tuy nhiên, thực hiện dự toán thu NSNN năm 2013 cũng sẽ đối mặt với những thách

    thức không nhỏ:

    Thứ nhất, rủi ro của các yếu tố bên ngoài có thể tác động xấu đến tăng trưởng làm

    giảm nguồn thu NSNN.

    Kinh tế Việt Nam hiện nay đang phụ thuộc khá lớn vào tình hình biến động của kinh

    tế thế giới (độ mở của nền kinh tế, tính theo quy mô ngoại thương/ GDP trong giai

    đoạn gần đây lên đến 150%). Tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào xuất

    khẩu khi kinh tế khu vực EU và Mỹ khó khăn thì kinh tế Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.

    Theo dự báo của IMF vào tháng 12/2012 thì kinh tế thế giới sẽ chỉ tăng trưởng 3,6%

    trong năm 2013 và nhóm các nước phát triển chỉ tăng trưởng ở mức 1,6 %.

    Thứ hai, nguồn thu giảm do chính sách miễn giảm thuế của Chính phủ:

    Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 07/01/2013, tháo gỡ khó khăn

    cho DN trong đó có gia hạn thời hạn nộp thuế, miễn, giảm thuế TNDN. Việc áp dụng

    thuế thu nhập cá nhân mới với sự thay đổi về ngưỡng chiết trừ gia cảnh và thang thu

    nhập chịu thuế dự kiến sẽ làm giảm thu NSNN. Thu thuế xuất nhập khẩu cũng có thể

    giảm đi khi Việt Nam tiếp tục cắt giảm thuế suất theo cam kết gia nhập Tổ chức

    Thương mại Thế giới (WTO) và hoạt động xuất nhập khẩu bị tác động của suy giảm

    tăng trưởng kinh tế.

    Thứ ba, rủi ro kinh tế khiến một số nguồn thu khó đạt dự toán

    Việc giải quyết nợ xấu trong hệ thống các ngân hàng thương mại và của hệ thống DN

    sẽ đòi hỏi chi phí không nhỏ. Về ngắn hạn, các chính sách này có thể làm giảm nguồn

    thu từ thuế TNDN, thuế thu nhập cá nhân.

    Một trong những nguồn thu quan trọng là thu NSNN từ dầu thô cũng sẽ khó tăng khi

    dự báo giá dầu năm 2013 sẽ ít có biến động mạnh, thậm chí có thể giảm đi nếu tình

    hình khu vực Trung Đông ổn định.

    Thị trường bất động sản chưa khởi sắc sẽ làm nguồn thu từ đất đai tiếp tục khó đạt

    mục tiêu đặt ra. Theo dự toán, thu NSNN từ đất đai năm 2013 tăng 7,7 % so với dự

    toán 2012, song trong bối cảnh hiện nay và thực tế tình hình năm 2013 thì cũng sẽ

    không dễ thực hiện được số thu này.

    III.Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam

    trong giai đoạn hiện nay:

    1.Nguyên nhân gây thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam:

    Thất thu ngân sách do rất nhiều nguyên nhân, và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự

    cân đối vĩ mô của nền kinh tế. Về cơ bản, tình trạng thất thu ngân sách nhà nước gồm

    các nguyên nhân chính sau:

    1.1 Thất thu thuế nhà nước:

    Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các

    nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ…tuy

    nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẻ

    hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho

    ngân sách nhà nước. lấy ví dụ:lượng thuốc lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của

    đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến

    sự phát triển kinh tế.

    Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh nghiệp

    có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, việc miễn thuế,

    giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm

    hụt ngân sách nhà nước.

    1.2 Đầu tư công kém hiệu quả:

    Trong năm 2007 và 2008, nước ta đã tiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài

    nhằm đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc

    gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước. Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư

    dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi

    công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí

    nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên

    nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước.

    1.3 Cần đấu thầu dự án sử dụng đất:

    Bên cạnh đó, nền hành chính công – dịch vụ của chúng ta quá kém hiệu quả. Chính sự

    kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng.

    1.4 Nhà nước huy động vốn để kích cầu:

    Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bội chi

    ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương). Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế

    phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ

    ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới.

    Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và

    được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm. -Vì vậy, khi các địa phương

    vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận

    hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo

    dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư. Chính điều đó luôn tạo sự căng

    thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc

    yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi NSNN.

    1.6 Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn:

    Tăng chi tiêu của chính phủ một mặt giúp nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn

    hạn, nhưng lại tạo ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính do

    sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự

    hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính. Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách

    rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế. Tuy

    nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi

    vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra phân bổ

    nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối

    cùng là gây ra lạm phát.

    1.7 Bên cạnh đó, sự thiếu hụt ngân sách trong những năm qua còn đươck sử dụng như

    một công cụ trong chính sách tài khoá để kích thích sự tang trưởng kinh tế:

    Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số

    thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm. Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng

    ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội

    cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau.

    Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng lý thuyết bội chi một cách chủ

    động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân

    nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng để chi đầu tư phát triển cho

    các dự án trọng điểm và hiệu quả qua đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền

    kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không

    2. Giải pháp để tránh thất thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam trong

    giai đoạn hiện nay.

    Giải pháp giảm thất thu ngân sách nhà nước nhờ tổ chức bộ máy thu nộp:

    -Tổ chức bộ máy thu nộp gọn nhẹ, đạt hiệu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thì sẽ

    là nhân tố tích cực làm giảm tỉ xuất thu ngân sách nhà nước mà vẫn đảm bảo nhu cầu

    chi tiêu của NSNN.

    -Chúng ta cần tập trung cho giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng. Bên cạnh đó,

    cần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và có chính sách đầu tư

    phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp phụ trợ.

    -Cần phải đưa nguồn thu từ trái phiếu Chính phủ vào trong ngân sách để có những

    tính toán và phân bổ cho phù hợp hơn.

    -Chính phủ cần siết chặt chi tiêu ngân sách, tập trung vốn hoàn thành những dự án,

    công trình dở dang, hạn chế khởi công dự án mới, nhất là những dự án có tổng mức

    đầu tư lớn.

    Vấn đề nợ công của nước ta hiện nay và giải pháp cho vấn đề nợ công để tránh thất thu

    ngân sách nhà nước.

    -Công khai và minh bạch hóa các khoản nợ nhà nứơc của các tập đoàn và đảm bảo

    nợ công trong mức an toàn.

    -Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý nợ công, kiểm soát nợ quốc gia ở ngưỡng an

    toàn bằng việc tiếp tục hoàn thiện chính sách quản lý về vốn ODA, vay ưu đãi, phát

    hành trái phiếu, quản lý phòng ngừa rủi ro…; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay; thu

    thập, báo cáo, công khai các chỉ tiêu giám sát an toàn nợ; xây dựng quy chế quản lý

    rủi ro.

    Chống thất thu ngân sách nhà nước- nhìn từ hoạt động kiểm tra sau thông qua:

    -Trong khi khai thác, cho thuê, nhượng bán tài sản, tài nguyên quốc gia tăng thu cho

    ngân sách, nhà nước cần phải dành kinh phí thỏa đáng cho để nuôi dưỡng, tái tạo và

    phát triển các tài sản, tài nguyên ấy, không làm cạn kiệt và phá hủy tài sản, tài nguyên

    vì mục đích trước mắt.

    -Chính sách thuế phải vừa huy động được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, vừa

    khuyến khích tích tụ vốn cho doanh nghiệp và dân cư.

    -Chính sách vay dân để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước phải được đặt trên cơ

    sở thu nhập và mức sống của dân.

    -Dùng ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp vào một số doanh nghiệp quan trọng trong

    những lĩnh vực then chốt, nhằm tạo ra nguồn tài chính mới.

    -Nhà nước cần có chính sách tiết kiệm, khuyến khích mọi người tiết kiệm tiêu dùng,

    tinh giản bộ máy, cải cách hành chính để tích lũy vốn chi cho đầu tư

    TÊN : LÊ HỒNG NHUNG

    MSSV :1154020712

    LỚP

    :11DTDN4

    ĐỀ BÀI: Ngân sách nhà nước và biện pháp tăng thu ngân sách nhà

    nước

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Giải Pháp Tăng Hiệu Quả Trong Thu Nsnn
  • Bài Tập Lý Thuyết Thường Gặp Về Amin (Có Lời Giải Chi Tiết)
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Biện Pháp Giúp Giáo Viên Sáng Tạo Trong Tổ Chức Hoạt Động Cho Trẻ 4
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Giúp Trẻ 3
  • Dịch Vụ Số Hóa Tài Liệu Chất Lượng, Uy Tín
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100