Top 16 # Biện Pháp Khắc Phục Già Hóa Dân Số Địa 11 / 2023 Xem Nhiều Nhất, Mới Nhất 12/2022 # Top Trend | Theindochinaproject.com

Già Hóa Dân Số Và Một Số Giải Pháp Khắc Phục / 2023

Chủ đề: Già hóa dân số (GHDS)

I. Một số khái niệm

II. Tình hình giàhóa dân số trênthế giới

III. Tình hình giàhóa dân số ở ViệtNam

1. Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi

2. Cơ cấu xã hộiI. Một số kháiniệm

3. Tháp dân số

4.Già hóa dân số

5. Tác động của già hóa dân số

+ Độ tuổi theo khoảng cách đều nhau, thông thường trong dân số học,người ta nghiên cứu cơ cấu theo tuổi với khoảng cách đều 5 năm.

3. Tháp dân số* Là một loại biểu đồ biểu diễn thành phần nam, nữtheo các độ tuổi ở một thời điểm nhất định.

* Tháp được xây dựng theo các lớp tuổi cách nhau 1năm, 5 năm, 10 năm.* Tháp sẽ có dạng khác nhau tùy theo đặc trưng củamức độ sinh, chết và chuyển cư.* Do dân số các nước khác nhau nên tháp dân số cũngkhác nhau. Tuy nhiên người ta phân biệt được 3 kiểu(dạng) tháp dân số cơ bản đó là:

Hình 1. Các kiểu tháp dân số cơ bản (Nguồn kiemtailieu.com)

Kiểu mởrộng– Đây là tháp dân số trẻ.– Tháp có hình dạng đáy rộng, càng lêncao càng hẹp lại nhanh.– Đây là kiểu kết cấu dân số của các nướcchậm phát triển có dân số trẻ và tăng nhanh

Tỷ xuất sinh cao,tỷ lệ người già thấp, tuổi thọ trung bìnhkhông cao.

Kiểu thuhẹp– Đây là kiểu tháp dân số trưởng thành.– Thể hiện tỷ suất sinh thấp, tỷ lệ trẻ emthấp hơn kiểu mở rộng và đang giảm, tỷ lệchết thấp, tuổi thọ TB cao, số người trongđộ tuổi lao động nhiều.– Đây là kiểu tháp chuyển từ dân số trẻ sangdân số già.

4. Già hóa dân số– Theo quy ước của Liên Hợp Quốc, một quốc gia có tỷ lệ ngườitừ 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% trở lên hoặc tỷ lệ người từ 65 tuổitrở lên chiếm từ 7% trở lên thì được gọi là quốc gia “già hóa dânsố”.” Già hóa dân số là một quá trình mà tỷ lệ người trưởng thành vàngười cao tuổi tăng lên trong cơ cấu dân số, trong khi tỷ lệ trẻ emvà vị thành niên giảm đi, quá trình này dẫn tới tăng tuổi trung vịcủa dân số ”.

5. Tác động của già hóa dân sốa. Thuận lợi

* Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩđại nhất của loài người.* Người già có nhiều kinh nghiệm sản xuất, có công laoto lớn trong các cuộc kháng chiến của dân tộc..

* Hạn chế tệ nạn xã hội.* Người lớn tuổi được xem là trụ cột, là”chất kết dính”giữa các thế hệ trong gia đình…

Suy giảm tăng trưởngkinh tế quốc gia

Là gánh nặng của xãhội

.

Tạo áp lực lớn chochính phủ

II. Vấn đề già hóa dân sốtrên thế giới– Vào thập kỉ đầu của TK XXI, ở hầuhết các quốc gia diển ra sự thay đổinhân khẩu học dần dần từ dân sốtrẻ sang dân số già hơn.– Già hóa dân số đang diễn ra trêntất cả các khu vực và các quốc giavới các mức độ khác nhau.– Các nước phát triển quá trình giàhóa dân số diễn ra sớm do có nềnkinh tế phát triển sớm, khoa học kĩthuật tiên tiến, đời sống vật chất cao,…

– Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triểnkể cả các nước có nhóm dân số trẻ đông đảo.đang gia tăngnhanh nhất ở các nước đang phátó nhóm dân số trẻ đông đảo.nhóm dân số trẻ đông đảo.

Biểu đồ thể hiện số người từ 60 tuổi trở lên giai đoạn 1950- 2050

Hiện tại

Dự báo ( trước 2030)

Nhật Bản

25,8%

32,3 %

Đức

21,1%

27,9%

Ý

21%

25,5%

Pháp

18,3%

23,4%

Tây Ban Nha

17,6%

22%

Anh

17,5%

21,3%

Canada

17,3%

24,9%

Ukraine

15,9%

22%

Ba Lan

15%

23,1%

Mỹ

14,5%

20,3%

Nguồn: Theo số liệu từ Cục điều tra dân số của Mỹ (8/2014)

– Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinhnhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệungười tròn 60 tuổi.

– Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới.– Hiện nay, có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên80 tuổi; trong khi đó 5 năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt consố này.Giai đoạn

Các nước phát triển

Các nước đang phát triển

2010- 2015

78 tuổi

68 tuổi

Dự kiến 2045- 2050

83 tuổi

74 tuổi

– Nhật Bản là quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già, nhưngđến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số giànhư Nhật Bản.

– Người cao tuổi trên thế giới ngày càng tăng về cả tỷ lệ và sốtuyệt đối.Thế giớiNăm

Các nước phát triển

Các nước đang pháttriển

Số lượng (triệungười)

Số lượng (triệungười)

8,2

85

11,7

110

6,4

606

10

232

19,4

374

7,7

1964

21,1

395

33,5

19,3

19,3

Số lượng (triệungười)

1950

205

Tình hình già hóa dân số thế giới ( Nguồn:kiemtailieu.com)

* Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên.Đến năm 2012, số người cao tuổi tăng lên đến gần 810 triệungười. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người.Năm

1950

1975

2000

2025

2050

Số dân(triệu)

2.500

3.900

6.080

8.011

9.150

205

350

606

1.193

1.964

Tỉ lệ ngườicao tuổi (%)

8,2

9,1

10

14,9

21,1

 Tình trạng “già hóa dân số” ởnhiều nước phát triển đang đặtra nhu cầu xem xét lại giới hạnđộ tuổi lao động tích cực củangười cao tuổi. Các nước đang phát triển cầnđáp ứng nhu cầu giáo dục, chămsóc sức khỏe cho thế hệ trẻ, sứckhỏe sinh sản vị thành niên. Các quốc gia cần có giải phápthiết thực đối với người già vềsức khỏe, vật chất và tinh thầntrước sự già hóa của dân số.

III. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam1. Hiện trạng GHDS ở Việt Nam– Nước ta là một nước có cơ cấu dân số trẻ (2005).Nhóm tuổi

1979

1989

1999

2005

0- 1

42,5

38,9

33,6

27,0

15- 59

50,4

53,2

58,3

64,0

7,1

7,9

8,1

9,0

Tổng (%)

100

100

100

100

Cơ cấu dân số Việt Nam theo nhóm tuổi giai đoạn 1979- 2005

– Tuy nhiên do quá trình giảm sinh tương đối nhanh trong nhữngnăm qua tỷ trọng dân số trẻ đã có xu hướng giảm mạnh và tỷtrọng dân số già đã tăng lên từ 7,1% năm 1979 lên 9% vào năm2005.– Năm 2009, Tổng cục Thống kêdự báo đến 2017 nước ta mớibước vào giai đoạn già hóa dânsố. – Nhưng chỉ 2 năm sau dự báonày đã trở nên lạc hậu.– Năm 2011, Việt Nam chính thứcbước vào giai đoạn già hóa dânsố. Tốc độ già hóa dân số củanước ta nhanh hàng đầu châu Ávà cũng thuộc diện nhanh nhấtthế giới.

Biểu đồ thể hiện tỉ lệ người già của nước ta ngày càng tăng giai đoạn2010- 2014.

Già Hóa Dân Số Tại Nhật / 2023

Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm.

Vòng xoáy suy giảm dân số tại Nhật Bản đang quay nhanh hơn khi số phụ nữ ở vào độ tuổi sinh đẻ ngày càng giảm. Trong tháng 5/2014, một báo cáo đã dự đoán rằng đến năm 2040, sẽ có ít nhất 500 thị trấn trên khắp cả nước sẽ biến mất khi nhiều phụ nữ trẻ tuổi di cư đến các thành phố lớn.

Lực lượng lao động đã bắt đầu thu hẹp lại, làm giảm tăng trưởng trong tương lại. Trong những năm gần đây, chính phủ đã bắt tay vào thực hiện hàng loạt các đề án khuyến khích sinh đẻ, bao gồm cả phát hành cuốn “Cẩm nang phụ nữ” để giáo dục phụ nữ trẻ về các thời điểm dễ và khó mang thai trong thời kỳ sinh nở của họ. Chính phủ cũng tổ chức nhiều sự kiện mai mối để kết nối các cặp đôi với nhau.

Lý do chính dẫn đến tỷ lệ sinh của Nhật Bản ngày càng thấp là do tỷ lệ kết hôn của người dân nước này giảm dần theo từng năm. Ngày càng có ít người muốn kết hôn, và họ kết hôn ngày càng muộn hơn. Ít nhất một phần ba phụ nữ trẻ muốn trở thành những bà nội trợ toàn thời gian và vẫn đang tìm kiếm người đàn ông có đủ tiềm lực tài chính để gánh vác một gia đình truyền thống.

Trong những giai đoạn kinh tế ổn định hơn, những người ở trong độ tuổi kết hôn thường có việc làm ổn định trong hệ thống “việc làm trọn đời” đặc trưng của quốc gia Đông Á này. Giờ đây, nhiều người phải làm các công việc tạm thời hoặc bán thời gian khi nền kinh tế đang biến động theo từng ngày. Đối với phụ nữ Nhật Bản, họ từ chối hôn nhân và sinh con do văn hóa doanh nghiệp kiểu cũ của Nhật, trong khi dịch vụ chăm sóc trẻ em vẫn còn thiếu hụt buộc họ phải từ bỏ sự nghiệp của mình.

Cuối cùng, những người trẻ tuổi đang bị bó buộc với các quy chuẩn xã hội. Chỉ có khoảng 2% trẻ em được sinh ra mà cha mẹ của chúng không kết hôn (con số này ở hầu hết các nước phát triển là 30-50%). Điều này có nghĩa là khi tỷ lệ kết hôn giảm thì tỷ lệ sinh cũng giảm. Ngay cả đối với những người đã lập gia đình, chi phí nuôi dạy trẻ tăng cao cũng khiến nhiều bậc cha mẹ quyết định chỉ sinh một con.

Rất may là cho dù chính phủ khó có thể can thiệp trực tiếp vào việc tăng tỷ lệ sinh, chính sách thị trường lao động đang dần được cải cách hứa hẹn sẽ đem lại hiệu quả trong dài hạn. Nếu các công ty có nhiều chính sách ưu đãi hơn đối với các nhân viên trẻ, đồng thời giảm bớt đặc quyền của những người lao động khác, thì các cặp vợ chồng trẻ sẽ có một cơ sở ổn định hơn để kết hôn và xây dựng tổ ấm. Cho đến nay, chính phủ của Thủ tướng Shinzo Abe đã nhiều lần đưa vấn đề này ra bàn luận trong các chương trình nghị sự, song vẫn trì hoãn việc thực hiện chúng. Thay vào đó, ông Abe đang đưa ra các chính sách giúp phụ nữ vừa duy trì được sự nghiệp vừa có thể sinh con.

Giải Pháp Nào Ứng Phó Già Hóa Dân Số? / 2023

Nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Ảnh: DN

Khái quát bức tranh dân số Việt Nam thời gian qua, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế cho biết, từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng, chất lượng dân số được cải thiện về nhiều mặt. Tuổi thọ trung bình tăng nhanh, đạt 73,5 tuổi năm 2018, cao hơn nhiều nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người.

Tuy nhiên, Việt Nam đang ở giai đoạn già hóa dân số với tỷ trọng và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng. Điều này đã đặt ra những thách thức lớn cho Việt Nam trong việc thích ứng với già hóa dân số, trong đó có bao gồm việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, với tốc độ già hóa như hiện nay, đến năm 2038, nhóm dân số từ 60 trở lên của nước ta sẽ khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Cũng từ năm 2038, số người trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm. Các chuyên gia nhấn mạnh, xu hướng già hóa là tất yếu, chính vì vậy cần có những can thiệp chính sách kịp thời để duy trì cơ cấu dân số hợp lý.

Các chuyên gia thừa nhận, quá trình già hóa dân số, nhu cầu được chăm sóc của người cao tuổi ngày càng tăng, là một thách thức rất lớn với hệ thống an sinh xã hội, hệ thống y tế và cộng đồng khi hiện nay chúng ta chưa chuẩn bị đầy đủ điều kiện để ứng phó.

Thống kê của ngành Y tế cho thấy, phần lớn người cao tuổi có cuộc sống khó khăn, thu nhập thấp, không ổn định hoặc không có thu nhập, sống phụ thuộc vào con, cháu… Số người cao tuổi có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng.

Hiện nay, khoảng 70% số người cao tuổi nước ta sống ở nông thôn, làm nông nghiệp; hơn 70% số người cao tuổi không có tích lũy vật chất và chỉ có chưa đầy 30% số người cao tuổi sống bằng lương hưu hay trợ cấp xã hội.

TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, cán bộ chương trình, Quỹ Dân số Liêp hợp quốc (UNFPA) cho biết, nghiên cứu ở 4.000 người tại 12 tỉnh của Việt Nam cho thấy, 70% người cao tuổi có ít nhất 2 bệnh. Trung bình mỗi người cao tuổi có 2,7 bệnh; 14% người cao tuổi gặp khó khăn trong các hoạt động sống hàng ngày và cần hỗ trợ.

“Số người cao tuổi gặp ít nhất 1 loại khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày tăng từ 28% ở người 60- 69 tuổi lên hơn 50% ở người 80 tuổi. Đặc biệt, gần 50% người cao tuổi không có thẻ BHYT”, TS. Quỳnh nêu.

Nghiên cứu cũng chỉ rõ, nếu năm 2011 chỉ khoảng 1,5 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày thì tới năm 2019 số lượng đã lên tới 4 triệu người. Dự báo đến năm 2049, có khoảng 10 triệu người cao tuổi có nhu cầu hỗ trợ trong các hoạt động sống hàng ngày.

Đa dạng mô hình chăm sóc người cao tuổi

Để thích ứng với già hóa dân số, theo các chuyên gia dân số, Việt Nam cần phát triển và tăng cường quản lý dịch vụ chăm sóc xã hội, cũng như có cơ chế phối hợp công- tư trong cung ứng dịch vụ chăm sóc xã hội. Ðặc biệt, cần khuyến khích khu vực tư nhân tham gia vào cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi cũng như gắn kết giữa chăm sóc y tế tại cộng đồng với dịch vụ chăm sóc xã hội.

TS. Nguyễn Ngọc Quỳnh, Việt Nam cần có chiến lược sức khỏe và thúc đẩy già hóa khỏe mạnh trong suốt vòng đời, nhấn mạnh vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, chăm sóc phòng ngừa. Đồng thời phối hợp chăm sóc y tế và chăm sóc phi y tế (chăm sóc xã hội).

Bên cạnh đó, theo TS. Quỳnh, Việt Nam cũng cần xây dựng chính sách, kế hoạch về dịch vụ và phân bổ ngân sách theo các cấp và các ngành để đảm bảo người cao tuổi tiếp cận được dịch vụ phù hợp.

Để công tác chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi đạt hiệu quả cao nhất, thích ứng với già hóa dân số, theo TS. Vũ Công Nguyên, Phó Viện trưởng Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, nước ta cần tích cực xây dựng môi trường thân thiện với người cao tuổi để hỗ trợ đáp ứng những nhu cầu của người cao tuổi nhằm đạt mục tiêu sống khỏe mạnh, tham gia các hoạt động, an sinh xã hội.

Bên cạnh đó, theo TS. Nguyên, Việt Nam cần đa dạng hóa mô hình chăm sóc người cao tuổi hiệu quả, chuyên nghiệp và phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc, điều dưỡng người cao tuổi gắn với chăm sóc tại gia đình, cộng đồng. Trong đó, cần phát triển nhiều mô hình như nhà dưỡng lão phù hợp với truyền thống văn hóa của người Việt. Đẩy mạnh phát triển y tế cơ sở để không chỉ phòng bệnh chăm sóc sức khỏe ban đầu mà đặc biệt là chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, tập trung vào các bệnh mãn tính.

Còn ông Mai Xuân Phương, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số, Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế, Việt Nam cần phải chuẩn bị tiềm lực kinh tế, phát triển an sinh xã hội để mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người cao tuổi. Đồng thời, phải có chiến lược dài hạn làm chậm thời gian chuyển đổi từ già hóa dân số sang dân số già.

Ngoài ra, theo ông Phương, hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần được tiến hành toàn diện. Để làm được điều này, Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục nhấn mạnh, không chỉ ngành Dân số mà cần có sự vào cuộc cả hệ thống chính trị các bộ, ngành đoàn thể, địa phương nhằm thích ứng với một xã hội già hóa dân số, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe nâng cao chất lượng cuộc sống của người cao tuổi.

D.Ngân

Áp Lực Và Giải Pháp Cho Dân Số Già Hóa / 2023

(SK&MT) – Châu Á là khu vực có dân số đang già đi nhanh hơn bất kỳ nơi nào trên thế giới. Dân số già sẽ khiến khu vực này phải tiêu tốn 20.000 tỷ USD cho chăm sóc y tế đến năm 2030.Đây là đánh giá được đưa ra trong báo cáo mới được công bố của Trung tâm nghiên cứu rủi ro châu Á – Thái Bình Dương có trụ sở tại Singapore.

Theo báo cáo, đến năm 2030, sẽ có 511 triệu người cao tuổi ở khu vực châu Á trên tổng số 3,8 tỷ dân. Nhật Bản sẽ là quốc gia siêu già với tỷ lệ người già chiếm 28% dân số, trong khi 1/5 dân số ở Hong Kong, Hàn Quốc và Đài Loan sẽ ở tuổi 65.Báo cáo thu thập dữ liệu tại 14 quốc gia và vùng lãnh thổ trong đó có Việt Nam, cho biết, các hệ thống y tế, doanh nghiệp và các gia đình ở khu vực châu Á Thái Bình Dương sẽ đứng trước áp lực lớn khi người trong độ tuổi lao động giảm trong khi người cao tuổi tăng.

Sự bùng nổ dân số ở nhiều nước châu Á – Thái Bình Dương trong mấy thập kỷ qua đã tạo nên nguồn lao động lớn, từ đó dần thúc đẩy năng suất và nâng cao thu nhập. Nhưng xu hướng đó giờ đang đảo chiều khi những người sinh ra trong giai đoạn bùng nổ dân số đó ngày càng trở nên già đi, đặt gánh nặng chăm sóc cho thế hệ sau.

Theo thống kê, hiện nay trên thế giới có gần 7 tỷ người và 1/9 trong số này là người từ 60 tuổi trở lên. Theo dự báo, đến năm 2050 dân số thế giới đạt 9,2 tỷ người và tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên sẽ là 1/5, nghĩa là cứ 5 người thì có một người cao tuổi.

Năm 1950, toàn thế giới có 205 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Dự tính con số này sẽ đạt 1 tỷ người trong vòng gần 10 năm nữa và đến năm 2050 sẽ tăng gấp đôi là 2 tỷ người. Có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Ví dụ, năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, 5 Số người từ 60 tuổi trở lên: Toàn thế giới, các nước phát triển, các nước đang phát triển, 1950-2050 Châu Đại dương là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%. Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi sẽ tăng lên chiếm 10% tổng dân số, so với 24% ở Châu Á, 24% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ Latinh và vùng biển Caribe, 27% ở Nam Mỹ và 34% ở Châu Âu.

Theo Liên hợp quốc, già hóa dân số đang diễn ra ở tất cả các châu lục và các quốc gia trên toàn thế giới với tốc độ khác nhau. Già hóa dân số đang tăng nhanh ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Chẳng hạn, tỷ lệ người già trong tổng số dân của Hàn Quốc tăng từ 7% lên 14% chỉ mất có 18 năm, ở Nhật Bản mất 24 năm, thì ở Thụy Điển mất 85 năm, ở Mỹ mất 73 năm… Tương tự như vậy, để tỷ lệ người già tăng từ 14%- 20% Hàn Quốc chỉ mất có 8 năm, Nhật Bản là 12 năm, thì ở Thụy Điển – 39 năm và Mỹ- 21 năm.

Già hóa dân số cũng tạo ra thách thức về mặt kinh tế, xã hội và văn hóa ở các cấp độ cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội trên toàn thế giới. Thách thức lớn nhất là thay đổi cơ cấu lao động, tỷ lệ người ở độ tuổi cao (từ 45-60 tuổi) sẽ tăng lên và tỷ lệ gia nhập thị trường lao động sẽ có xu hướng giảm đi và như vậy, để đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế, các nước phải sử dụng lao động già hơn (đồng nghĩa với việc tăng tuổi nghỉ hưu để có thêm nhân lực cho nền kinh tế). Về mặt kinh tế, già hóa dân số và dân số già có ảnh hưởng kép đến nền kinh tế. Một mặt, năng suất lao động của nhóm tuổi cao sẽ kém hơn so với các nhóm tuổi trẻ khác trong lực lượng lao động, dẫn đến thu nhập của nền kinh tế nói chung và của từng gia đình nói riêng bị ảnh hưởng. Điều này dẫn đến hệ lụy là những người trẻ tuổi phải làm việc nhiều hơn để bù đắp thiếu hụt thu nhập của gia đình. Mặt khác, chi phí chăm sóc y tế và các phúc lợi khác cho người cao tuổi tăng lên, ảnh hưởng đến đầu tư cho phát triển. Về mặt xã hội, trong một xã hội dân số già, các vấn đề xã hội sẽ phát sinh như quan hệ giữa các thế hệ, sự chăm sóc cho người già của từng gia đình và xã hội… sẽ là những vấn đề các quốc gia phải quan tâm.

Tại cuộc họp tổ chức ngày 26/ 5/ 2016, Tổ chức tế Thế giới (WHO) đã thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch Hành động về người cao tuổi trong đó đề ra những hành động cần thiết nhằm bảo đảm cho tất cả người cao tuổi ở mọi nơi có thể sống lâu và mạnh khỏe. Kế hoạch Hành động đặt ra 2 mục tiêu chính, đó là tập trung hỗ trợ để tất cả người già có thể tự làm được những việc quan trọng với họ, và thu thập các bằng chứng, tìm kiếm hợp tác để chuẩn bị cho “Thập kỷ của Già hóa khỏe mạnh” sẽ bắt đầu từ năm 2020.

Việc thông qua Chiến lược toàn cầu và Kế hoạch hành động đánh dấu một mốc thực sự quan trọng để bảo đảm cho tất cả mọi người già ở bất cứ đâu có thể sống lâu và khỏe mạnh./.

Linh Đức