Nguyên Nhân Suy Thoái Tài Nguyên Rừng Và Biện Pháp Khắc Phục

--- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Kích Cầu (Pump Priming) Là Gì? Những Tác Động Của Chính Sách Kích Cầu
  • Thúc Đẩy Các Biện Pháp Để Kích Cầu Tiêu Dùng
  • Quảng Ninh: Phát Động Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Quảng Ninh:​​​​​​​ Triển Khai Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Quảng Ninh: Tìm Các Biện Pháp Kích Cầu Du Lịch
  • Đề bài: Nguyên nhân suy thoái tài nguyên rừng và biện pháp khắc phục

    Giáo viên hướng dẫn: Phan Thị Thuý

    Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thanh Thuỷ

    Lê Thị Mỹ Linh

    Lê Minh Khuê

    Vũ Ngọc An

    Bài làm

    A.Đặt vấn đề

    Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh

    tế – xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà

    khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định

    và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá

    khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Nhưng ngày

    nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái. Những năm qua, ở Việt Nam nạn phá

    rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại. Mất rừng

    và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình

    trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi

    trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất

    trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt

    suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng khác…

    Hiểu rõ về hiện trạng rừng Việt Nam, tìm ra các biện pháp khắc phục những hậu quả do suy

    thoái tài nguyên rừng gây ra đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay mà chúng ta cần quan tâm.

    B.Nội dung

    1. Hiện trạng tài nguyên rừng

    Nước ta, diện tích rừng bị suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% (1943 – 1995). Trong những năm gần

    đây diện tích rừng đã không ngừng tăng trở lại (năm 2006 dự báo độ che phủ của rừng khoảng 38

    %, trong khi đầu những năm 90 chỉ còn khoảng 27-28 %).

    1

    Diễn biến diện tích rừng qua các thời kì

    Đơn vị tính:1.000.000ha

    Năm

    Loại rừng

    1945 1976 1980 1985 1990 1995 1999 2002

    Tổng diện tích 14300 11,169 10,608 9,892 9,175 9,302 10,995060 11,784589

    Rừng trồng 0 0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,524323 1,919569

    Rừng tự nhiên 14300 11,076 10,186 9,3083 8,4307 8,2525 9,470737 9,865020

    Độ che phủ (%) 43,0 33,8 32,1 30,0 27,8 28,2 33,2 35,8

    Nguồn:Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,tính đến tháng 12 năm 2003

    2.Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng

    Với rất nhiều nguyên nhân tác động trực tiếp nhưng có thể kể đến 7 nguyên nhân tiêu biểu

    sau đóng vai trò chính của việc góp phần làm suy thoái tài nguyên rừng Việt Nam, và những

    nguyên nhân trên tương đương với mức độ quan trọng của chính bản thân nó:

    -Chuyển đổi mục đích sử dụng đất

    -Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép

    -Cháy rừng

    -Sức ép dân số

    -Nghèo đói

    -Hậu quả của cuộc chiến tranh để lại

    -Tập quán du canh du cư

    -Các nguyên nhân khác

    2

    Để có thể nhìn nhận được mức độ suy thoái rừng ở viêt nam đang là vấn đề đáng lo ngại, ta

    đi phân tích từng nguyên nhân

    2.1 Chuyển mục đích sử dụng đất

    Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất, là mở

    rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là nguyên nhân quan trọng nhất làm

    suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinh học. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả

    làm suy thoái rừng. Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu

    người dân nghèo ven biển Việt Nam. Đặc biệt rừng ngập mặn ở Nam Bộ là những căn cứ kháng

    chiến vững chắc, nơi cất giấu vũ khí chuyển từ miền Bắc vào trong cuộc chiến tranh Đông Dương

    lần thứ hai. Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn

    có tính đa dạng sinh học rất cao. Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê

    biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái

    rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất

    khẩu nên rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái nghiêm trọng.

    Ngoài ra con người còn chuyển đổi 1 số lượng lớn diện tích rừng để làm các khu du lịch,các

    khu nghỉ mát. Vừa qua uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cho phép chuyển đổi mục đích

    sử dụng 20% diện tích trong tổng số 56 ha đất rừng phòng hộ để xây dựng cơ sở hạ tầng và các

    công trình phục vụ di lịch.

    2.2 Khai thác nguồn lâm sản quá mức.

    Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tài nguyên rừng

    Việt Nam. Đây là nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bị suy thoái một cách nghiêm

    trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sự phong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và

    chất lượng rừng bị giảm sút gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn

    cầu. Khai thác rừng là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác

    nhau mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyên rừng. Với

    các mục đích khác nhau cho nên hoạt động khai thác nguồn lâm sản ở đây được chia thành 3 hoạt

    động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ.

    3

    *Khai thác gỗ. Trong giai đoạn từ năm 1986-1991 các lâm trường quốc doanh đã khai thác

    trung bình 3,5 triệu m

    3

    gỗ mỗi năm ( khoảng 80.000 ha rừng), đó là chưa nói đến hậu quả của

    nạn khai thác trộm gỗ đã xảy ra khắp mọi nơi thậm chí cả trong các khu bảo tồn. Kết quả là rừng

    đã bị suy giảm nhanh chóng cả về diện tích lẫn chất lượng. Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con

    người đã không ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích của mình. Họ

    khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo, cốppha. Đối với loài gỗ bền

    chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, đối với loài gỗ quý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và

    xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của con người. Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để

    phục vụ mục đích kinh doanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho quốc gia

    có trữ lượng lớn gỗ quý như Việt Nam.

    Với tốc độ đáng lo ngại, nạn khai thác rừng diễn ra chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới

    đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng.

    *Khai thác củi . Đối với các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục

    vụ kinh doanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khai thác với

    mục đích là làm củi đốt. Trong phạm vi toàn quốc, 90% năng lượng dùng cho gia đình là các sản

    phẩm từ thực vật, hàng năm 1 lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng để phục vụ cho

    nhu cầu sinh hoạt trong gia đình và lượng củi này nhiều hơn lượng gỗ xuất khẩu hàng năm. Hơn

    nữa, Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đời sống của người dân đang dần có sự

    biến đổi nhưng tỉ lệ thay đổi đó vẫn còn thấp. Nhiều người dân ở vùng miền núi và nông thôn

    chiếm một phần dân số đông so với cả nước, đã theo thói quen trong sinh hoạt họ chỉ dùng củi để

    làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao. Những hộ gia đình nghèo không có đất sản

    4

    xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều có thêm thu nhập. Với dân số 84 triệu người

    hiện nay, thì nhu cầu về lượng củi đốt như hiện nay cũng tăng theo. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho

    việc tàn phá rừng tiếp tục tiếp diễn.

    Ông Nguyễn Dài, xã Phú Thuận ngồi chẻ những gốc cây được bốc

    lên từ rừng phòng hộ ven biển để… lấy củi. Ảnh: Nguyễn Phương.

    *Khai thác lâm sản ngoài gỗ. Rừng không chỉ có giá trị về gỗ mà còn có các giá trị lâm sản

    ngoài gỗ. Đây có thể xem là nguyên nhân tác động làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất. Lâm

    sản ngoài gỗ bao gồm các loài động vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các

    sản phẩm ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, lá các loại cây thuốc, dầu… Tất cả các loài trên có thể

    được sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buôn bán trái phép,

    xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ. Ở Việt Nam trong những năm

    gần đây, việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm từ động vật và thực vật quý hiếm, kể cả những

    5

    loài được bảo vệ đang phát triển rất nhanh. Vì thiếu kế hoạch quản lý hợp lý, thiếu sự kiểm tra chặt

    chẽ trong việc khai thác tài nguyên sinh vật rừng mà ở nhiều vùng, một số loài động vật như tê

    giác, hổ, báo, voi, gấu, khỉ…, các loại cây như: pơmu, trầm hương, gõ đỏ…đã ngày càng trở nên

    rất hiếm. Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đã

    thúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi. Cùng xuất phát từ sự nghèo đói mà

    người dân đổ xô vào rừng khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ. Và đang còn rất nhiều hoạt động

    khai thác các loài động vật thực vật khác theo từng mục đích riêng ảnh hưởng tới môi trường. Các

    hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sự phục hồi rừng không kịp với

    tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái. Cần có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và

    làm giảm các hoạt động trái phép này.

    2.3. Cháy rừng

    Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất

    nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu

    quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người. Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều

    nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do

    các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ

    liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những

    nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy.

    6

    Với tổng diện tích rừng bị cháy là 2.304,07 ha; diện tích rừng tự nhiên 962.79 ha; diện tích

    rừng trồng là: 1.341,28 ha; số vụ được cứu là 440 vụ so với năm trước là 138 vụ cháy với tổng diện

    tích là 551.40 ha. Kết quả này cho thấy số vụ cháy rừng năm nay cao hơn và đang ở mức cảnh báo

    như: 6.000 ha rừng ở Đồng Tháp có nguy cơ cháy, Rừng An Giang báo động nguy cơ cháy cấp độ

    5, nhiều khu vực đang ở cấp cảnh báo cháy rừng cực kỳ nguy hiểm như Nghệ An, Thừa Thiên

    Huế… Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu

    nguồn, đất dốc, vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng chống cát di động nên dễ gây

    lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá. Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích

    rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng. Sự phục hồi và tái tạo lại rừng

    trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi. Do vậy, đòi hỏi ý

    thức bảo vệ của người dân và dân và cần có sự quản lý chặt chẽ, sự quan tâm nguồn tài nguyên

    rừng của ngành kiểm lâm để hạn chế được sự suy giảm diện tích tài nguyên rừng.

    2.4 Sức ép dân số

    Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học,

    suy thoái môi trường. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết

    yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến

    nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay

    dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của họ,

    gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị. Người dân ồ ạt ra thành thị

    kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hỏi nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương

    đối để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân. Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực

    tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt

    đầu được hình thành. Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất cả các

    hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, buộc họ phải chuyển

    đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng

    cở sở sản xuất cho mình. Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành

    khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Ở nông thôn thì dân số tăng thì buộc

    người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống,

    buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bắt đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất. Ban đầu chỉ

    7

    khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà

    nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên. Do nền kinh tế phát triển, giá cả đất tại các đô thị

    rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên

    họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống

    tiềm năng. Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một

    thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị

    tiêu diệt làm cho số lượng và các chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi. Vì vậy, có thể nói sức ép

    dân số có tác động rất lớn đối với suy thoái tài nguyên rừng. Con người cần có sự khai thác

    hợp lý có kế hoạch để hạn chế khai thác rừng một cách bừa bãi làm giảm tài nguyen rừng

    một cách đáng kể.

    2.5 Đói nghèo

    Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần do sự đói nghèo tác động nên.

    Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên

    quá mức làm tăng tình trạng khan hiếm và suy thoái. Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn,

    Việt Nam là một nước phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu

    nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc

    vào diện đói nghèo. Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh

    sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài

    nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh

    chóng. Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá

    rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán. Vì nghèo, không có đất sản

    xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để rừng nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy hoạt

    động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian

    khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng. Khi rừng ngày

    càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rừng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn

    hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém. Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính

    những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng. Vốn dĩ họ đã

    nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó

    có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập. Vì

    8

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hà Nội : Triển Khai Các Biện Pháp Giảm Thiểu Ô Nhiễm Không Khí
  • Giải Địa Lý Lớp 7 Bài 9: Hoạt Động Sản Xuất Nông Nghiệp Ở Đới Nóng
  • Bài 3: Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Dự Án Cải Tạo Hồ Sinh Học Làm Nơi Tiếp Nhận Rác
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Công Cụ Kinh Tế Trong Luật Bảo Vệ Môi Trường (Sửa Đổi)
  • Doanh Nghiệp Với Vấn Đề Bảo Vệ Môi Trường
  • Đề Tài Nguyên Nhân Suy Thoái Tài Nguyên Rừng Và Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giải Pháp Quản Trị Bất Trắc Của Yếu Tố Môi Trường
  • Quản Trị Sự Bất Trắc Của Môi Trường
  • các Biện Pháp Phòng Chống Ô Nhiễm Bụi Silsíc Bảo Vệ Sức Khoẻ Người Lao Động
  • Áp Dụng Mạnh Tay 6 Biện Pháp, Thượng Hải Giảm Đáng Kể Nồng Độ Bụi Mịn Trong Không Khí
  • Giải Pháp Nào Giảm Thiểu Ô Nhiễm Môi Trường Trong Sơ Chế Nông Sản?
  • Đề bài: Nguyên nhân suy thoái tài nguyên rừng và biện pháp khắc phục Giáo viên hướng dẫn: Phan Thị Thuý Sinh viên thực hiện: Phạm Thị Thanh Thuỷ Lê Thị Mỹ Linh Lê Minh Khuê Vũ Ngọc An Bài làm A.Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế – xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Nhưng ngày nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái. Những năm qua, ở Việt Nam nạn phá rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại. Mất rừng và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng khác… Hiểu rõ về hiện trạng rừng Việt Nam, tìm ra các biện pháp khắc phục những hậu quả do suy thoái tài nguyên rừng gây ra đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay mà chúng ta cần quan tâm. B.Nội dung 1. Hiện trạng tài nguyên rừng Nước ta, diện tích rừng bị suy giảm từ 43% xuống còn 28,2% (1943 – 1995). Trong những năm gần đây diện tích rừng đã không ngừng tăng trở lại (năm 2006 dự báo độ che phủ của rừng khoảng 38 %, trong khi đầu những năm 90 chỉ còn khoảng 27-28 %). Diễn biến diện tích rừng qua các thời kì Đơn vị tính:1.000.000ha Năm Loại rừng 1945 1976 1980 1985 1990 1995 1999 2002 Tổng diện tích 14300 11,169 10,608 9,892 9,175 9,302 10,995060 11,784589 Rừng trồng 0 0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,524323 1,919569 Rừng tự nhiên 14300 11,076 10,186 9,3083 8,4307 8,2525 9,470737 9,865020 Độ che phủ (%) 43,0 33,8 32,1 30,0 27,8 28,2 33,2 35,8 Nguồn:Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn,tính đến tháng 12 năm 2003 2.Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng Với rất nhiều nguyên nhân tác động trực tiếp nhưng có thể kể đến 7 nguyên nhân tiêu biểu sau đóng vai trò chính của việc góp phần làm suy thoái tài nguyên rừng Việt Nam, và những nguyên nhân trên tương đương với mức độ quan trọng của chính bản thân nóKhông viết kiểu gạch đầu dòng như thế : -Chuyển đổi mục đích sử dụng đất -Khai thác nguồn lâm sản quá mức cho phép -Cháy rừng -Sức ép dân số -Nghèo đói -Hậu quả của cuộc chiến tranh để lại -Tập quán du canh du cư -Các nguyên nhân khác Để có thể nhìn nhận được mức độ suy thoái rừng ở viêt nam đang là vấn đề đáng lo ngại, ta đi phân tích từng nguyên nhân 2.1 Chuyển mục đích sử dụng đất Chuyển đổi mục đích sử dụng đất chính là sự mở rộng đất nông nghiệp, đất sản xuất, là mở rộng đất canh tác nông nghiệp bằng cách lấn sâu vào đất rừng, là nguyên nhân quan trọng nhất làm suy thoái tài nguyên rừng, suy thoái đa dạng sinh học. Phá rừng ngập mặn để nuôi tôm là hậu quả làm suy thoái rừng. Rừng ngập mặn đóng một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của hàng triệu người dân nghèo ven biển Việt Nam. Đặc biệt rừng ngập mặn ở Nam Bộ là những căn cứ kháng chiến vững chắc, nơi cất giấu vũ khí chuyển từ miền Bắc vào trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai. Do vị trí chuyển tiếp giữa môi trường biển và đất liền, nên hệ sinh thái rừng ngập mặn có tính đa dạng sinh học rất cao. Rừng ngập mặn là bức tường xanh vững chắc bảo vệ bờ biển, đê biển, hạn chế xói lở và các tác hại của bão lụt. Do chưa hiểu hết giá trị nhiều mặt của hệ sinh thái rừng ngập mặn, hoặc do những lợi ích kinh tế trước mắt, đặc biệt là nguồn lợi từ tôm nuôi xuất khẩu nên rừng ngập mặn Việt Nam đã bị suy thoái nghiêm trọng. Ngoài ra con người còn chuyển đổi 1 số lượng lớn diện tích rừng để làm các khu du lịch,các khu nghỉ mát. Vừa qua uỷ ban nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng 20% diện tích trong tổng số 56 ha đất rừng phòng hộ để xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phục vụ di lịch. 2.2 Khai thác nguồn lâm sản quá mức. Khai thác nguồn lâm sản đang là tình trạng đáng lo ngại hiện nay đối với tài nguyên rừng Việt Nam. Đây là nguyên nhân quan trọng trực tiếp dẫn đến rừng bị suy thoái một cách nghiêm trọng làm cho sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên, sự phong phú về các loài sinh vật, độ che phủ và chất lượng rừng bị giảm sút gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sinh vật và cây trồng trên toàn cầu. Khai thác rừng là hành động do chính con người tạo ra là phần lớn, vì rất nhiều mục đích khác nhau mà con người đã sử dụng dưới nhiều hình thức để tác động và tàn phá tài nguyên rừng. Với các mục đích khác nhau cho nên hoạt động khai thác nguồn lâm sản ở đây được chia thành 3 hoạt động: khai thác gỗ, khai thác củi, khai thác lâm sản ngoài gỗ. *Khai thác gỗ. Trong giai đoạn từ năm 1986-1991 các lâm trường quốc doanh đã khai thác trung bình 3,5 triệu m3 gỗ mỗi năm ( khoảng 80.000 ha rừng), đó là chưa nói đến hậu quả của nạn khai thác trộm gỗ đã xảy ra khắp mọi nơi thậm chí cả trong các khu bảo tồn. Kết quả là rừng đã bị suy giảm nhanh chóng cả về diện tích lẫn chất lượng. Ngày nay, khi giá gỗ tăng cao, con người đã không ngừng tiến hành khai thác các loài nhóm gỗ trên theo các mục đích của mình. Họ khai phá để phục vụ cho các công trình xây dựng như làm giàn giáo, cốppha. Đối với loài gỗ bền chắc thì họ khai thác để xây dựng nhà ở, đối với loài gỗ quý hiếm thì họ khai thác nhằm để bán và xuất khẩu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng xa xỉ của con người. Việc khai thác các loài gỗ quý hiếm để phục vụ mục đích kinh doanh xuất khẩu hiện nay đang là một nguồn lợi tức đáng kể cho quốc gia có trữ lượng lớn gỗ quý như Việt Nam. Với tốc độ đáng lo ngại, nạn khai thác rừng diễn ra chủ yếu ở các khu rừng nhiệt đới đang dần đưa đến nguy cơ mất rừng. *Khai thác củi . Đối với các loại gỗ ngoài giá trị xây dựng công trình, xây dựng nhà ở, phục vụ kinh doanh xuất khẩu thì những loại thực vật kém giá trị khác lại được con người khai thác với mục đích là làm củi đốt. Trong phạm vi toàn quốc, 90% năng lượng dùng cho gia đình là các sản phẩm từ thực vật, hàng năm 1 lượng củi khoảng 21 triệu tấn được khai thác từ rừng để phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt trong gia đình và lượng củi này nhiều hơn lượng gỗ xuất khẩu hàng năm. Hơn nữa, Việt Nam là một nước có nền kinh tế đang phát triển, đời sống của người dân đang dần có sự biến đổi nhưng tỉ lệ thay đổi đó vẫn còn thấp. Nhiều người dân ở vùng miền núi và nông thôn chiếm một phần dân số đông so với cả nước, đã theo thói quen trong sinh hoạt họ chỉ dùng củi để làm nguyên liệu đốt và dùng với lượng củi khá cao. Những hộ gia đình nghèo không có đất sản xuất, vốn đầu tư đã vào rừng khai thác củi bán đều có thêm thu nhập. Với dân số 84 triệu người hiện nay, thì nhu cầu về lượng củi đốt như hiện nay cũng tăng theo. Đây là vấn đề đáng lo ngại cho việc tàn phá rừng tiếp tục tiếp diễn. Ông Nguyễn Dài, xã Phú Thuận ngồi chẻ những gốc cây được bốc lên từ rừng phòng hộ ven biển để… lấy củi. Ảnh: Nguyễn Phương. *Khai thác lâm sản ngoài gỗ. Rừng không chỉ có giá trị về gỗ mà còn có các giá trị lâm sản ngoài gỗ. Đây có thể xem là nguyên nhân tác động làm suy kiệt tài nguyên rừng nhanh nhất. Lâm sản ngoài gỗ bao gồm các loài động vật quý, động vật hoang dã… và các loại thực vật mà cho các sản phẩm ngoài gỗ như: song, mây, tre, nứa, lá các loại cây thuốc, dầu… Tất cả các loài trên có thể được sử dụng trong gia đình, bán và xuất khẩu cho nên tình trạng khai thác, buôn bán trái phép, xuất khẩu các loài động vật thực vật đang được diễn ra mạnh mẽ. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, việc buôn bán và xuất khẩu các sản phẩm từ động vật và thực vật quý hiếm, kể cả những loài được bảo vệ đang phát triển rất nhanh. Vì thiếu kế hoạch quản lý hợp lý, thiếu sự kiểm tra chặt chẽ trong việc khai thác tài nguyên sinh vật rừng mà ở nhiều vùng, một số loài động vật như tê giác, hổ, báo, voi, gấu, khỉ…, các loại cây như: pơmu, trầm hương, gõ đỏ…đã ngày càng trở nên rất hiếm. Giá trị xuất khẩu cao của các loài nói trên cùng với sự kém hiểu biết, hám lợi nhuận đã thúc đẩy con người tìm cách săn bắt chúng ở khắp mọi nơi. Cùng xuất phát từ sự nghèo đói mà người dân đổ xô vào rừng khai thác các nguồn lâm sản ngoài gỗ. Và đang còn rất nhiều hoạt động khai thác các loài động vật thực vật khác theo từng mục đích riêng ảnh hưởng tới môi trường. Các hoạt động khai phá trái phép này kéo dài âm ỉ, liên tục, tốc độ của sự phục hồi rừng không kịp với tốc độ phá rứng cho nên rừng đang bị suy thoái. Cần có các biện pháp tích cực để ngăn chặn và làm giảm các hoạt động trái phép này. 2.3. Cháy rừng Cháy rừng cũng là một nguyên nhân quan trọng làm suy thoái tài nguyên rừng một cách rất nhanh gây ảnh hưởng tới các hoạt động sống của sinh vật trên một diện tích rộng lớn và gây ra hậu quả xấu như xói mòn, lũ lụt, hạn hán đến cuộc sống con người. Ngày nay cháy rừng cũng do nhiều nguyên nhân gây ra, chúng ta có thể kể đến một số nguyên nhân như: hiện tượng elnino gây ra, do các hoạt động khai thác của con người như đốt lửa tìm mật ong, tìm mật gấu hay đốt hương tìm mộ liệt sĩ trong chiến tranh, do hoạt động đốt nưong làm rẫy của người dân tộc miền núi… những nguyên nhân này đều có thể khiến rừng bị cháy. Với tổng diện tích rừng bị cháy là 2.304,07 ha; diện tích rừng tự nhiên 962.79 ha; diện tích rừng trồng là: 1.341,28 ha; số vụ được cứu là 440 vụ so với năm trước là 138 vụ cháy với tổng diện tích là 551.40 ha. Kết quả này cho thấy số vụ cháy rừng năm nay cao hơn và đang ở mức cảnh báo như: 6.000 ha rừng ở Đồng Tháp có nguy cơ cháy, Rừng An Giang báo động nguy cơ cháy cấp độ 5, nhiều khu vực đang ở cấp cảnh báo cháy rừng cực kỳ nguy hiểm như Nghệ An, Thừa Thiên Huế… Và hầu hết các diện tích rừng bị cháy đều nằm trong những vùng nhạy cảm như rừng đầu nguồn, đất dốc, vùng sinh thái đất ngập nước, rừng tràm, vùng rừng chống cát di động nên dễ gây lũ quét, xói lở, đất dễ bị khô hạn và thoái hoá. Cháy rừng sẽ nhanh chóng lan ra trên một diện tích rộng lớn và rất khó dập tắt cho nên thiệt hại cũng rất nghiêm trọng. Sự phục hồi và tái tạo lại rừng trong điều kiện này là rất chậm vì thế mà tài nguyên rừng đang cạn kiệt dần đi. Do vậy, đòi hỏi ý thức bảo vệ của người dân và dân và cần có sự quản lý chặt chẽ, sự quan tâm nguồn tài nguyên rừng của ngành kiểm lâm để hạn chế được sự suy giảm diện tích tài nguyên rừng. 2.4 Sức ép dân số Tăng dân số nhanh là một trong những nguyên nhân chính làm suy thoái đa dạng sinh học, suy thoái môi trường. Sự gia tăng dân số đòi hỏi tăng nhu cầu trong sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác, nhất là tài nguyên đất cho sản xuất nông nghiệp. Sự gia tăng về mật độ dân đã dẫn đến nạn phá rừng và sự suy thoái nghiêm trọng về các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. Hiện nay dân cư ngày càng tập trung ở các đô thị để dễ dàng trao đổi buôn bán… thoã mãn nhu cầu của họ, gây nên tình trạng mất cân đối giữa dân cư ở nông thôn và thành thị. Người dân ồ ạt ra thành thị kiếm sống dẫn đến tình trạng đô thị hoá, đòi hỏi nền kinh tế ở khu vực này phải phát triển tương đối để đáp ứng đầy đủ việc làm cho người dân. Và khi nhu cầu con người trong tất cả các lĩnh vực tăng cao, nhu cầu việc làm cũng tăng thì các nhà máy, xí nghiệp, các công ty, cơ sở chế biến… bắt đầu được hình thành. Nhưng diện tích đất thành thị chỉ chiếm một phần rất nhỏ cho nên tất cả các hoạt động tiêu dùng và sản xuất, khai thác chế biến không thể diễn ra ở đây, buộc họ phải chuyển đến một nơi cách xa thành thị, cách xa nơi sinh sống, chuyển đến một địa bàn nào đó để xây dựng cở sở sản xuất cho mình. Và dần họ lấn chiếm vào rừng, nơi có diện tích khá rộng và tiến hành khai thác tàn phá rừng để xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Ở nông thôn thì dân số tăng thì buộc người dân phải mở rộng diện tích đất canh tác để sản xuất đủ lương thực đảm bảo cho cuộc sống, buộc họ phải tiến sâu vào rừng, bắt đầu chặt phá rừng để lấy đất tiến hành sản xuất. Ban đầu chỉ khai thác một phần diện tích nhỏ và sau một thời gian dài, ngoài nhu cầu mở rộng đất canh tác mà nhu cầu về nhà ở của con người cũng tăng lên. Do nền kinh tế phát triển, giá cả đất tại các đô thị rất cao nhưng người dân họ không đủ khả năng để mua nhà tại các vùng đồng bằng và đương nhiên họ sẽ chuyển lên địa bàn mà nơi họ có khả năng mua nhà ở và rừng được xem là địa bàn sinh sống tiềm năng. Tài nguyên rừng thì có hạn mà nhu cầu con người thì ngày càng tăng và chỉ trong một thời gian ngắn các loài động vật, thực vật quý hiếm đã bị khai thác cạn kiệt, thậm chí có nguy cở bị tiêu diệt làm cho số lượng và các chủng loài sinh vật ngày càng giảm đi. Vì vậy, có thể nói sức ép dân số có tác động rất lớn đối với suy thoái tài nguyên rừng. Con người cần có sự khai thác hợp lý có kế hoạch để hạn chế khai thác rừng một cách bừa bãi làm giảm tài nguyen rừng một cách đáng kể. 2.5 Đói nghèo Suy thoái môi trường có nhiều nguyên nhân trong đó một phần do sự đói nghèo tác động nên. Đói nghèo luôn đi đôi với sự khan hiếm tài nguyên sản xuất dẫn đến tình trạng khai thác tài nguyên quá mức làm tăng tình trạng khan hiếm và suy thoái. Với khoảng 80% dân số sống ở nông thôn, Việt Nam là một nước phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên Đất nông nghiệp ở nhiều nơi thiếu nghiêm trọng và nhiều người phải sống dựa vào rừng, đời sống rất thấp khoảng 50% gia đình thuộc vào diện đói nghèo. Vì thiếu ruộng, thiếu vốn đầu tư những người nghèo đói thường phải đến sinh sống tạo những nơi có điều kiện không thuận lợi mà cần ít vốn đầu tư phải bóc lột đất và tài nguyên thiên nhiên để duy trì cuộc sống làm cho các loại tài nguyên nay dần bị suy thoái nhanh chóng. Nhưng cũng phải chứng tỏ một điều là: nghèo đói không đồng nghĩa với việc được tàn phá rừng như hoạt động khai thác gỗ, củi, đặc sản rừng… để đem đi bán. Vì nghèo, không có đất sản xuất, không có vốn đầu tư, buộc họ phải tàn phá để rừng nuôi sống bản thân và gia đình. Tuy hoạt động ấy mang tính nhỏ lẻ, manh múm, không ồ ạt nhưng lại được lặp đi lặp lại trong một thời gian khá dài nên rất khó quản lý và gây nên tình trạng cạn kiệt dần của tài nguyên rừng. Khi rừng ngày càng giảm về số lượng cây trồng, vật nuôi hay diện tích rừng bị thu hẹp đã dẫn đến hiện tượng hạn hán lũ lụt, khả năng ngăn chặn xói mòn đất là rất kém. Cho nên mỗi lần thiên tai ập đến lại chính những người nghèo tiếp tục gánh chịu tổn thất nặng nề hơn do phải sống gần rừng. Vốn dĩ họ đã nghèo nay lại càng nghèo hơn, sự nghèo đói luôn xây quanh cuộc sống của họ, dường như họ khó có thể thoát ra được cuộc sống tiếp tục phá rừng lấy gỗ,củi, đặc sản rừng bán để có thu nhập. Vì mục đích là có thu nhập nuôi sống gia đình mình mà các hộ dân nghèo đói đang dần dần làm suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vậy cần có các chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho hộ nghèo đói như các chương trình phát triển ngành nghệ phụ… để giảm bớt hiện tượng khai thác rừng. 2.6 Hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học để lại. Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 2, quân đội mỹ đã tiến hành một cuộc chiến tranh hoá học với quy mô lớn nhất trong mọi thời đại của lịch sử. Trong cuộc chiến tranh này, quân đội Mỹ đã rải khoảng hơn 80 triệu lít chất diệt cỏ và phát quang xuống một diện tích khoảng 24,67% tổng diện tích lãng thổ Việt Nam. Trong đó, phần lớn là chất độc da cam, là chất có chứa tạp chất độc đioxin. Nồng độ các chất được rải trong các phi vụ thường cao hơn gấp từ 20-40 lần nồng độ dùng trong Nông nghiệp và các chất diệt cỏ và phát quang thông thường được phân huỷ sau 1 tháng hoặc đến dưới 1 năm riêng hợp chất đioxin có trong chất da cam rất bền vững, với thời gian bán phân huỷ được ước tính khoảng 15-20 năm hoặc lâu hơn nữa. Với số lượng rất lớn chất độc hoá học đã rải lặp lại nhiều lần trong một quãng thời gian dài với nồng độ cao, chúng ngấm và dần phân huỷ trong đất, không những đã làm chết cây cối mà còn gây ô nhiễm môi trường trong một thời gian dài và làm đảo lộn các hệ sinh thái tự nhiên. Những hậu quả tức thời và lâu dài của chất độc hoá học đối với tài nguyên và môi trường rừng là rất rõ ràng. Trong quá trình bị tác động, hàng trăm loài cây đã bị trút lá, đáng quan tâm nhất là những cây gỗ lớn thuộc tầng nhô và tầng ưu thế sinh thái thuộc họ dầu, họ đậu. Nhiều loài cây gỗ quý hiếm như giáng hương, gụ, sao đen… và một số cây họ dầu thuộc tầng cao trong rừng đã bị chết dẫn đến khan hiếm nguồn hạt giống củamột số loài cây quý. Tán rừng bị phá vỡ, môi trường rừng bị thay đổi nhanh chóng, những loài cây của rừng thứ sinh như tre, nứa, các loài cây gỗ ưa ánh sáng mọc nhanh, kém giá trị kinh tế thì chúng xuất hiện và lấn át cây gỗ bản địa. Nhiều khu rừng đã bị phá huỷ nặng nề do quy mô phá hoại rộng lớn và lặp đi lặp lại nhiều lần, kéo dài trong nhiều năm, kèm theo với các tác động khác của bom đạn… Hậu quả là cây rừng bị chết đi, các loài cây cỏ dại như cỏ Mỹ, cỏ tranh, lau lách xâm lấn và đến nay rừng vẫn chưa được phục hồi. Và theo tính toán sơ bộ, trên 3,3 triệu ha đất đai tự nhiên bị rải chất độc trong đó rừng nội địa bị tác động nặng nề với nhiều mực độ khác nhau, làm tổng số gỗ bị thiệt hại là 119.536.000 m3, bao gồm lượng gỗ bị mất tức thời 90.284.000m3 gỗ tăng trưởng lâu dài do rừng bị phá huỷ. Ngoài ra, chất độc hoá học rải lên rừng còn gây thiệt hại nhiều cho các loại tài nguyên khác ngoài gỗ chưa được tính đến như dầu nhựa, cây thuốc, song mây và các loài động vật rừng. Và hậu quả của cuộc chiến tranh hoá học của Mỹ rải xuống còn dẫn đến nhiều thiệt hại khác về môi trường và tính đa dạng sinh học làm cho quá trình trút lá ồ ạt đã dẫn đến hiện tượng ứ đọng dinh dưỡng và có 10-15 triệu hố bom chiếm khoảng 1% diện tích rừng Nam Việt Nam làm cho lớp đất mặt bị đảo lộn và thúc đẩy quá trình rửa trôi đất. hậu quả trên cản trở trực tiếp đến diễn thế phục hồi rừng và tác động xấu đến rừng phòng hộ đầu nguồn. Tuy những năm gần đây, cây rừng cũng đã được chăm sóc, được đầu tư phát triển thêm nhưng chất lượng và số lượng vẫn không được cao. Qua phân tích trên chúng ta thấy rằng hậu quả mà cuộc chiến tranh hoá học để lại là giảm diện tích rừng, làm cho tài nguyên rừng Việt Nam bị tổn thương rất nặng nề. Mặc dù, đã trải qua trên 30 năm nhưng vết thương đó vẫn chưa lành, diện tích rừng thì có nhiều biến đổi theo xu hướng suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chiến tranh hoá học của Mỹ đã để lại một hậu quả tàn khốc lên tài nguyên rừng Việt Nam. 2.7 Tập quán du canh du cư. Du canh du cư là tập quán sản xuất nông nghiệp lâu đời của nhiều dân tộc ít người ở Việt Nam mà thường xuất hiện tại các vùng đồi núi và cao nguyên. nơi nhằm ổn định sản xuất và đời sống trong một phạm vi lãnh thổ cố định. Vào mùa khô và thường là cuối mùa đông, người dân thường vào sâu trong rừng tìm một khoảnh đất rừng phù hợp, đốt cháy mảnh diện tích đủ rộng theo ý muốn, thường là không thể điều khiển theo mục đích người đốt vì lửa rừng bị tác động của gió và độ ẩm, nhiệt độ tại khoảnh rừng. Và đến đầu mùa mưa, người ta đi tra hạt, hoặc ươm sắn, lợi dụng lượng nước ẩm do mưa, hạt giống sẽ nảy mầm, cây sinh trưởng rất tốt do đất dưới tán rừng có hàm lượng dinh dưỡng rất cao và cũng nhờ than tro của việc đốt rừng tiến hành. Người dân canh tác ít tác động tới cây trồng mà chủ yếu là thoái mặc chúng tự nhiên và tới mùa thì thu hoạch. Thông thường chỉ sau 3-4 mùa rẫy, do nước mưa rửa trôi và xói mòn, lại không được bổ sung các chất dinh dưỡng nên đất rẫy sẽ nghèo dinh dưỡng, cây trồng phát triển kém. Lúc này, người dân sẽ bỏ rẫy cũ, tìm đến một khoảnh rừng mới và lại đốt rừng thành rẫy. Cuộc sống của họ thường gắn bó với rẫy nên cả gia đình, bản làng cùng di cư theo rẫy. Và đây chính là tập quán du canh du cư, là một tập tục cũ, lạc hậu, năng suất cây trồng thấp, cuộc sống người dân bấp bênh gây thoái hoá đất, mất rừng. Vì tập tục này thường xuất hiện ở các vùng miền núi nên cũng có thể hiểu rằng, họ không có đất để

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Khắc Phục Sự Suy Thoái Về Môi Trường
  • Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Về Phòng Ngừa Tình Hình Tội Phạm Và Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Bvpl: Vks Kiến Nghị Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm, Vi Phạm Pháp Luật Về Môi Trường
  • Bắc Giang: Tập Trung Các Biện Pháp Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Kinh Doanh
  • Hà Nội Tăng Cường Các Biện Pháp Cải Thiện Chất Lượng Môi Trường Không Khí
  • Khắc Phục Suy Thoái Đa Dạng Sinh Học

    --- Bài mới hơn ---

  • Đa Dạng Sinh Học, Nguyên Nhân, Biện Pháp Hạn Chế Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học
  • Các Nguyên Nhân Của Sự Suy Giảm Đdsh
  • Soạn Bài Thực Hành Một Số Phép Tu Từ Cú Pháp (Chi Tiết)
  • Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp
  • Soạn Văn Bài 28: Thực Hành Một Số Biện Pháp Tu Từ Cú Pháp
  • Nhận định về những nguyên nhân đã và đang gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam, các nhà khoa học chuyên ngành cho rằng, nguyên nhân chính yếu là do việc sử dụng, khai thác bất hợp pháp, không khoa học đa dạng sinh học vốn có.

    Đó là khai thác bừa bãi mang tính hủy diệt nguồn lợi, chuyển đổi sự dụng đất lâm nghiệp tràn lan chia cắt nơi ở, vùng phân bố của sinh vật, gây ô nhiễm các nguồn nước, đất và không khí…Vì vậy, cần có định hướng cụ thể về chiến lược bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học có hiệu quả rõ ràng, để khắc phục các nguyên nhân suy thoái và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, trên cơ sở mối quan hệ qua lại chặt chẽ của đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

    Tổng diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam năm 1943 có 14,3 triệu ha, với tỷ lệ che phủ là 43,8%, trên mức an toàn sinh thái là 33%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn 10,88 triệu ha. Nguyên nhân chính làm mất rừng là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu. Tổng diện tích rừng ngập mặn cũng trong năm 1943 có tới 400.000ha, hiện chỉ còn 155.000ha, trong đó rừng nguyên sinh chiếm tỷ lệ rất thấp. Còn diện tích các rạn san hô (chưa kể hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) năm 2001 có 110.000ha, đến năm 2010 còn 14.000ha, chất lượng các rạn san hô cũng rất kém, nhiều loài đã chết.

    Một chỉ số hiển thị suy thoái về đa dạng sinh học các loài là số các loài được ghi trong Sách đỏ. Qua 2 lần điều tra năm 1992 và năm 2007, số lượng các loài được ghi trong Sách đỏ đã tăng lên 1,5 lần. Trong đó thực vật có 37 loài rất nguy cấp, 178 loài nguy cấp. Động vật có 4 loài tuyệt chùng, 5 loài tuyệt chủng trong thiên nhiên, 48 loài rất nguy cấp và 113 loài nguy cấp. Bên cạnh đó, số lượng các giống, chủng động vật, thực vật được nuôi trồng phục vụ cho sản xuất nông, lâm, thủy sản, y tế…đã mất đi khá nhanh, trong số này có rất nhiều gốc bản địa quý. Giai đoạn điều tra từ năm 1997-2006, về giống lúa từ 156 còn 75 giống; đậu tương 22 còn 9; lạc 14 còn 4; cà chua 14 còn 7; cao su 14 còn 2; cà phê 14 còn 5. Rất nhiều giống vật nuôi bản địa như lợn, gà, vịt, bò…nay đã mất giống.

    Ngoài các nguyên nhân do con người gây ra, ngày càng rõ nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam là do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Các nhà sinh thái học trên thế giới đã xác nhận tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học gồm: Tăng áp lực tiêu diệt các loài quý hiếm, phân bố hẹp, số lượng cá thể ít. Làm biến đổi, phân mảnh (do nước biển dâng cao) các hệ sinh thái biển, nhấn chìm một số đảo và dải bờ ven biển… Làm thay đổi vùng phân bố của các loài “nhạy cảm” với các yếu tố của biến đổi khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, lũ, hạn…

    Các loài thích ứng với biến đổi khí hậu (giới hạn sinh thái phù hợp) sẽ có ưu thế trong cạnh tranh nơi ở và dinh dưỡng. Sự xâm hại gia tăng của các loài sinh vật ngoại lai. Tăng khả năng cháy rừng. Những tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học sẽ ngày càng nguy cấp, đe dọa đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và trên toàn cầu nói chung.

    Phải chặn đứng các nguyên nhân

    Các nhà khoa học của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) khẳng định, theo yêu cầu của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường), cả 3 nội dung là đa dạng sinh học-biến đổi khí hậu-phát triển bền vững phải được xử lý, điều chỉnh, phối hợp đạt hiệu quả cao nhất. Theo đó, muốn mối quan hệ giữa 3 nội dung được tốt nhất, cần phải làm cho tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và phát triển bền vững đến mức thấp nhất. Đa dạng sinh học có thể giảm thiểu biến đổi khí hậu và tác động tích cực đến phát triển bền vững. Còn phát triển bền vững hạn chế được tác hại của biến đổi khí hậu và đóng góp tích cực cho đa dạng sinh học.

    Muốn chặn đứng các nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại đến đa dạng sinh học, cần thực hiện đầy đủ và có hiệu quả nội dung yêu cầu của Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt số 1250 ngày 31/7/2013.

    Chiến lược đã đề ra 5 nội dung nhiệm vụ Chủ yếu: Bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên; Bảo tồn các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm; Sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến đa dạng sinh học; Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục suy thoái đa dạng sinh học ở nước ta.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Sử Dụng Và Cải Tạo Đất (Cự Cool) Baiday Ppt
  • Một Số Biện Pháp Phụ Đạo Học Sinh Yếu Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán Ở Lớp 3
  • Giúp Đỡ Học Sinh Yếu Kém Môn Toán
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Xây Dựng Tập Thể Lớp Vững Mạnh
  • Cần Khắc Phục Sự Suy Thoái Về Môi Trường

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Tài Nguyên Nhân Suy Thoái Tài Nguyên Rừng Và Biện Pháp Khắc Phục
  • Các Giải Pháp Quản Trị Bất Trắc Của Yếu Tố Môi Trường
  • Quản Trị Sự Bất Trắc Của Môi Trường
  • các Biện Pháp Phòng Chống Ô Nhiễm Bụi Silsíc Bảo Vệ Sức Khoẻ Người Lao Động
  • Áp Dụng Mạnh Tay 6 Biện Pháp, Thượng Hải Giảm Đáng Kể Nồng Độ Bụi Mịn Trong Không Khí
  • YBĐT – Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên địa bàn tỉnh Yên Bái, cấp ủy, chính quyền các cấp luôn coi trọng nhiệm vụ bảo vệ môi trường (BVMT), xác định đây là một trong những mục tiêu cơ bản của phát triển bền vững.

    Ở nhiều nơi, nước thải công nghiệp đang gây tác động xấu đến môi trường.

    Tuy vậy, chúng ta vẫn không thể chủ quan trước thực trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm và suy thoái do phải chịu sự tác động và ảnh hưởng nhiều mặt của xã hội…

    Ông Lê Đình Đạo – Phó giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cho biết: “Trong thời gian qua, Yên Bái đã hình thành được hệ thống tổ chức làm công tác BVMT từ tỉnh đến cơ sở, thành lập Quỹ BVMT của tỉnh, tăng cường một bước năng lực về quan trắc môi trường nhằm theo dõi, dự báo những diễn biến môi trường; thực hiện chặt chẽ quy định về đánh giá tác động môi trường của các dự án đầu tư, thường xuyên thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về môi trường, hình thành cơ chế phối hợp giữa ngành tài nguyên và môi trường với các đoàn thể trong việc thực hiện công tác truyền thông môi trường, tạo nên những bước phát triển mới trong hoạt động BVMT trên địa bàn tỉnh, góp phần hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm và từng bước cải thiện chất lượng môi trường ở một số khu vực trọng điểm”.

    Môi trường tại các khu công nghiệp được quan tâm nhiều hơn, một số doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, xây dựng các công trình xử lý chất thải, chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn, xây dựng hố xí hợp vệ sinh, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, chương trình phòng ngừa dịch hại tổng hợp (IPM) đạt được một số kết quả nhất định, tình hình phá rừng, cháy rừng được hạn chế, nhiều diện tích rừng được tái sinh…

    Tuy vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội tình trạng suy thoái về môi trường vẫn là một trong những thách thức lớn nhất đối với sự phát triển bền vững trong thời gian tới. Tình hình ô nhiễm do chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp đang diễn ra khá phức tạp. Bên cạnh đó, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật và hệ sinh thái đang bị sử dụng chưa hợp lý…

    Rác thải sinh hoạt là một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng suy thoái về môi trường.

    Để giải quyết những vấn đề cơ bản về BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mục tiêu BVMT phải trở thành trụ cột của phát triển bền vững. Cần đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức và trách nhiệm BVMT. BVMT là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức, các doanh nghiệp, cộng đồng và từng người dân.

    Chỉ có sự tham gia tích cực của mọi tổ chức, mọi gia đình và mỗi người dân, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự quản lý của Nhà nước thì công tác BVMT mới đem lại hiệu quả thiết thực. Do đó, trong thời gian tới cần phát huy tính hiệu quả của phong trào Toàn dân BVMT, xây dựng xã, phường, tổ dân phố đạt chuẩn về môi trường, gắn với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và xây dựng làng, tổ dân phố văn hóa.

    Giải pháp này sẽ góp phần huy động sức mạnh của toàn dân tham gia BVMT. Bên cạnh đó, ngành tài nguyên và môi trường cần chủ động phối hợp với các đoàn thể của tỉnh để đánh giá, rút kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình liên tịch thực hiện công tác truyền thông, nâng cao nhận thức về môi trường.

    Đồng thời, xây dựng chương trình phối hợp với các cơ quan truyền thông của tỉnh nhằm phát huy hiệu quả của các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phổ biến những thông tin về môi trường, vận động hưởng ứng phong trào Toàn dân BVMT, thông báo công khai các địa chỉ gây ô nhiễm và kết quả xử phạt đối với các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường nhằm lên án những hành vi gây ô nhiễm môi trường.

    Phương châm BVMT phải lấy phòng ngừa và hạn chế những tác động đối với môi trường là chủ yếu. Vì vậy, đề nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên xem xét chặt chẽ sự bảo đảm yêu cầu về môi trường đối với các quy hoạch, dự án đầu tư ngay từ khâu phê duyệt, cấp phép, hạn chế phê duyệt và tiến tới cấm hoàn toàn những dự án có tác động lớn hoặc tiềm ẩn nguy cơ cao đối với môi trường, đồng thời kiên quyết không cho phép đưa vào vận hành, sử dụng các cơ sở sản xuất không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về BVMT…

    Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản, nắm chắc các nguồn gây ô nhiễm, nhất là tại các khu vực trọng điểm, xây dựng Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường đủ mạnh để theo dõi, phân tích, đánh giá và dự báo diễn biến các thành phần môi trường, kịp thời đề xuất những biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm, đồng thời có khả năng ứng cứu, xử lý những sự cố về môi trường; khuyến khích ứng dụng và phát triển các công nghệ sản xuất sạch, thân thiện với môi trường; nghiên cứu, ứng dụng các giải pháp công nghệ trong xử lý ô nhiễm, nhất là tại khu công nghiệp tập trung, các khu đô thị…

    Đó là những việc cần tập trung giải quyết để có thể khắc phục sự suy thoái về môi trường đang ngày càng nhanh hiện nay.

    Thiên Cầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Vấn Đề Lý Luận Cơ Bản Về Phòng Ngừa Tình Hình Tội Phạm Và Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Bvpl: Vks Kiến Nghị Tăng Cường Các Biện Pháp Phòng Ngừa Tội Phạm, Vi Phạm Pháp Luật Về Môi Trường
  • Bắc Giang: Tập Trung Các Biện Pháp Cải Thiện Môi Trường Đầu Tư Kinh Doanh
  • Hà Nội Tăng Cường Các Biện Pháp Cải Thiện Chất Lượng Môi Trường Không Khí
  • Chủ Tịch Nguyễn Đức Chung Yêu Cầu Thực Hiện Ngay Các Biện Pháp Cải Thiện Môi Trường Không Khí
  • Suy Thoái Rừng Trên Thế Giới

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Chế Đảm Bảo An Toàn Thông Tin
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế Biện Pháp Ngoại Giao Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Hội Thảo Khoa Học Quốc Tế ‘biện Pháp Ngoại Giao Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia’
  • Phát Huy Sức Mạnh Thời Đại Trong Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng Và Thấp Còi Ở Trường Mầm Non
  • Suy thoái rừng ngày càng nghiêm trọng trên thế giới (Ảnh: IUCN)

    Không thể phủ nhận vai trò to lớn của tài nguyên rừng đối với toàn hành tinh, hơn 80% đa dạng sinh học trên cạn của thế giới có thể tìm thấy trong những cánh rừng. Tuy nhiên sự suy thoái và mất rừng đang đe dọa đến sự tồn tại của nhiều loài động, thực vật và làm giảm khả năng cung cấp các yếu tố thiết yếu như không khí sạch, nước sạch, đất sạch cho nông nghiệp và điều hòa khí hậu.

    Rừng còn là sinh kế bền vững của 1,6 tỷ người trên toàn cầu, 1 tỷ trong số đó là những người nghèo nhất thế giới. Phá rừng và suy thoái rừng có tác động lớn đến cuộc sống của cộng đồng dễ bị tổn thương này.

    Suy thoái rừng làm giảm khả năng thích ứng với khí hậu bởi rừng có khả năng hấp thụ 2,4 tỷ tấn CO2 mỗi năm trên toàn thế giới, tương đương với 1/3 lượng khí CO2 phát thải từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch. Rừng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thích ứng với biến đổi khí hậu trên toàn hành tình bởi chúng giúp giảm thiểu rủi ro từ thiên tai như lũ lụt, giúp điều chỉnh lưu lượng nước và vi khí hậu, cải thiện sức khỏe của hệ sinh thái…

    Những thay đổi khí hậu trên thế giới do sự thay đổi cực đoan của nhiệt độ khí quyển trung bình là nguyên nhân hàng đầu gây suy thoái rừng. Những thay đổi này gây ra hạn hán kéo dài, thời kỳ cực khô hoặc lạnh tạo ra điều kiện môi trường không mong muốn cho việc che phủ cây.

    Hạn hán kéo dài có thể làm cạn kiệt hệ thống nước chảy qua các khu rừng, làm giảm dần số lượng cây và loài. Biến đổi khí hậu gây ra những thay đổi cực đoan đối với hệ sinh thái rừng.

    Một vụ cháy rừng ở Indonesia (Ảnh: World bank)

    Cháy rừng cũng là một nguyên nhân chính gây suy thoái rừng. Cháy rừng xóa sổ hàng ngàn loài cây, thảm thực vật. Hàng năm, các vụ cháy rừng xảy ra trên khắp thế giới đã làm ảnh hưởng đến nền kinh tế và sự đa dạng sinh học.

    Ô nhiễm không khí là một yếu tố quan trọng gây ra suy thoái rừng. Ô nhiễm do khí độc và khí thải dẫn đến sự axit hóa khí quyển, mưa axit gây thiệt hại cho cây cối và thảm thực vật. Bên cạnh đó, ô nhiễm đất do đất nhiễm các loại hóa chất khiến cây cối và thảm thực vật cũng như động vật bị hủy diệt.

    Một yếu tố khác gây ra suy thoái rừng đó là sự phân mảnh rừng do chia tách các khu rừng lớn thành những mảnh nhỏ hơn. Phân mảnh rừng chủ yếu do nguyên nhân tự nhiên như kiến tạo hoặc lũ lụt. Sự phân mảnh rừng phá hủy các hệ sinh thái do các loài động vật chủ yếu phát triển trong các khu vực rừng lớn. Sự phân mảnh rừng cũng làm thay đổi tương tác chuỗi thức ăn và các mối quan hệ lẫn nhau trong môi trường rừng.

    Tại khu vực Đông Nam Á, những nguyên nhân dẫn đến suy thoái rừng bao gồm việc khai thác gỗ không bền vững (bao gồm hợp pháp và bất hợp pháp), canh tác nương rẫy, lấn chiếm rừng, thu gom củi, khai thác gỗ để sản xuất than, cháy rừng và thậm chí do thay đổi chế độ nước tự nhiên. Trong vòng 15 năm qua, khu vực Đông Nam Á đã mất đi 14,5% diện tích rừng và có thể mất hơn 50% độ che phủ rừng nguyên sinh. Một số khu vực, bao gồm nhiều diện tích thuộc Indonesia được dự báo sẽ mất đi 98% diện tích rừng vào năm 2022.

    Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất rừng là do chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang sản xuất nông nghiệp. Tốc độ chuyển đổi mục đích sử dụng đất sẽ không chậm lại trong tương lai gần, thậm chí, tổng diện tích dành cho các đồn điền cao su còn dự kiến sẽ mở rộng thêm khoảng 4,3-8,5 triệu ha cho đến năm 2024 nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng. Bên cạnh đó, kế hoạch xây dựng các công trình thủy điện của các nước Đông Nam Á trong những năm tới sẽ càng làm thu hẹp môi trường sống.

    Trong khi đó, hơn một nửa rừng của châu Âu đã biến mất do nhu cầu về đất nông nghiệp ngày càng tăng và việc sử dụng gỗ làm nguồn nhiên liệu. Hơn hai phần ba diện tích miền Trung và Bắc Âu trước đây được che phủ bởi cây rừng. Hiện nay, diện tích rừng giảm xuống còn khoảng một phần ba ở một số khu vực phía Tây và duyên hải, bao gồm cả Anh và Cộng hòa Ireland; ở một số khu vực, diện tích rừng bị giảm xuống dưới 10%. Theo một nghiên cứu mới, khả năng hấp thu carbon của các khu rừng già cỗi ở châu Âu đang tiến dần tới điểm bão hòa, đe dọa một trong những hàng rào phòng hộ quan trọng chống lại tình trạng nóng lên toàn cầu. Các chuyên gia cảnh báo, các khu rừng từ Tây Ban Nha đến Thụy Điển đang trở nên già cỗi, với số ít cây làm tốt khả năng lưu giữ khí thải được cho là do nhiệt độ thế giới tăng lên, nước biển dâng và số lượng các đợt sóng nhiệt và lũ lụt tăng lên. 

    Chặt phá rừng bất hợp pháp đang gây suy thoái rừng nghiêm trọng (Ảnh: Huffpost)

    Tại châu Phi, các hệ sinh thái rừng suy giảm nhanh chóng do các tác động xấu của khí hậu, sức ép dân số và đô thị hóa có thể cản trở tiến trình phát triển ít carbon tại châu lục lớn thứ hai thế giới này. 

    Sa mạc hóa đang tàn phá khu vực Mỹ Latinh khiến cho tình trạng suy thoái rừng cũng đang trở thành vấn đề nghiêm trọng ở một loạt nước như Brazil, Bolivia, Chile, Cuba, Colombia, Ecuado, Guatemala, Peru, Uruguay, Jamaica, Haiti, và nhiều đảo ở vùng Caribe. 

    Tại đất nước Bắc Mỹ, Canada, chỉ trong tháng 8 vừa qua, cháy rừng đã ở mức không thể kiểm soát. Ngày 15/8, tỉnh British Columbia, miền Tây Canada đã phải ban bố tình trạng khẩn cấp vì cháy rừng lan rộng với hơn 560 vụ cháy lớn nhỏ trên toàn tỉnh. Có thể nói, trong những năm vừa qua, cháy rừng là một trong những nguyên nhân chính gây suy thoái rừng ở Canada.

    Trước thực trạng suy thoái rừng đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng ở khắp các châu lục trên thế giới, các quốc gia cần tiến hành các giải pháp dựa vào tự nhiên như phục hồi cảnh quan rừng. Giải pháp này có thể giúp các quốc gia đảo ngược tác động của suy thoái rừng và lấy lại các lợi ích sinh thái, xã hội, khí hậu và kinh tế rừng.

    Phục hồi cảnh quan rừng không chỉ là trồng cây, nó còn bao gồm nhiều hoạt động như nông lâm kết hợp, kiểm soát xói lở và tái sinh rừng tự nhiên.

    Nhiều quốc gia trên thế giới đang áp dụng phương pháp “Đánh giá cơ hội phục hồi” (ROAM) nhằm đánh giá mức độ cảnh quan bị suy thoái và mất rừng ở một số quốc gia, một số khu vực, xác định các chiến lược tốt nhất để khôi phục chúng. ROAM giúp các chính phủ, các nhà hoạt định chính sách ứng dụng phục hồi cảnh quan rừng để đáp ứng ưu tiên quốc gia và mục tiêu quốc tế về khí hậu, đa dạng sinh học…

    Một hoạt động của REDD+ tại Zimbabwe (Ảnh: Sustain Zimbabwe)

    Sáng kiến quốc tế “Giảm phát thải khí nhà kính từ mất rừng và suy thoái rừng” (REDD+) cung cấp hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển giảm phát thải khí nhà kính gây nên biến đổi khí hậu, thông qua 5 hoạt động chính: Hạn chế mất rừng; Hạn chế suy thoái rừng; Bảo tồn trữ lượng carbon rừng; Quản lý bền vững tài nguyên rừng; Tăng cường trữ lượng carbon rừng. Ý tưởng của REDD+ là: Các nước đang phát triển giảm tỷ lệ mất rừng và suy thoái rừng để được nhận thù lao về mặt tài chính từ quỹ toàn cầu do phía các nước phát triển đóng góp. Mục tiêu của REDD+ không chỉ nhằm giảm phát thải khí nhà kính mà còn cung cấp nhiều lợi ích khác như: Giảm nghèo, phát triển lâm nghiệp, bảo tồn đa dạng sinh học…

    Tại Việt Nam, nhằm khắc phục tình trạng suy thoái rừng, Chính phủ đưa ra các chính sách nhấn mạnh đến tầm quan trọng của quản lý rừng bền vững.

    Quản lý và phát triển rừng bền vững tại Việt Nam (Ảnh: Dangcongsan)

    Quản lý và phát triển rừng bền vững là 1 trong 3 chương trình phát triển được xác định trong Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006-2020 với mục tiêu “Quản lý, phát triển và sử dụng rừng bền vững, có hiệu quả nhằm đáp ứng về cơ bản nhu cầu lâm sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế quốc dân, ổn định xã hội, đặc biệt tại khu vực các dân tộc ít người và miền núi, đồng thời bảo đảm vai trò phòng hộ, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ môi trường, góp phần phát triển bền vững quốc gia”. Để thực hiện mục tiêu này, ngành lâm nghiệp Việt Nam rất cần các chính sách xác định các nguyên tắc và trình tự thực hiện nhằm tháo gỡ các khó khăn, tạo cơ hội thuận lợi trong tiến trình đạt được mục tiêu Quản lý rừng bền vững tại Việt Nam.

    Kế hoạch hành động về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng giai đoạn 2022-2020 nhằm thúc đẩy mạnh mẽ quá trình thực hiện Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; đảm bảo sử dụng tài nguyên rừng bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam. Kế hoạch hành động hướng đến 4 mục tiêu cụ thể: Nâng cao nhận thức, năng lực cho chủ rừng và cán bộ quản lý về kỹ năng Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng; Ban hành Bộ nguyên tắc Quản lý rừng bền vững của Việt Nam đảm bảo có hiệu lực trên phạm vi quốc tế; Thiết lập tổ chức về giám sát, đánh giá và cấp chứng chỉ rừng quốc gia, đáp ứng các yêu cầu trong nước và quốc tế; Đến năm 2022, có ít nhất 500.000ha rừng sản xuất có phương án quản lý rừng bền vững được phê duyệt và được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững, trong đó rừng trồng 350.000ha, rừng tự nhiên 150.000ha. 

    Hồng Nhung

    --- Bài cũ hơn ---

  • Không Khí Ô Nhiễm: Làm Thế Nào Để Bảo Vệ Sức Khỏe?
  • Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Trẻ Em (Phần 4) .công An Tra Vinh
  • Tham Vấn Các Biện Pháp Bảo Đảm Thực Hiện Bảo Vệ Trẻ Em Và Quyền Trẻ Em
  • Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Cho Học Sinh Trong Một Số …
  • Bảo Vệ Môi Trường Luôn Xanh Sạch Đẹp
  • Ba Biện Pháp Chống Suy Thoái Rừng Ngập Mặn Cần Giờ

    --- Bài mới hơn ---

  • 1Tại Sao Phải Bảo Vệ Rừng Dùng Các …
  • Bài 14. Sử Dụng Và Bảo Vệ Tài Nguyên Thiên Nhiên (Địa Lý 12)
  • Bài 38. Bảo Vệ Tài Nguyên Sinh Vật Việt Nam (Địa Lý 8)
  • Cách Nào Giữ Được Rừng Tây Nguyên?
  • Vai Trò Của Rừng Đối Với Môi Trường Sống Của Chúng Ta!
  • Dự án 💖 New Big 5 💖 được sáng lập bởi Graeme Green, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Anh. Theo đó anh cùng các nhiếp ảnh gia và nhà bảo tồn động vật đã tổ chức bình chọn toàn cầu từ tháng 4/2020 để tìm ra loài động vật mà công chúng tò mò và muốn được chiêm ngưỡng đa chiều qua ảnh chụp nhiều nhất. Và kết quả thắng cuộc đã thuộc về loài voi 🐘, sư tử 🦁, hổ 🐅 khỉ đột 🦍 và gấu Bắc cực. Năm loài động vật mang tính biểu tượng này sẽ trở thành các “đại sứ toàn cầu”, đại diện cho những loài động vật hoang dã khác đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng. Thật tuyệt khi giờ đây chúng ta không còn săn bắn động vật hoang dã bằng súng mà thay vào đó là đi săn bằng máy ảnh phải không nào. Hi vọng dự án sẽ phần nào khiến cộng đồng chú ý và có trách nhiệm hơn với những gì đang xảy ra trong thế giới động vật hoang dã. Theo newbig5.com

    Nếu khi xưa thuật ngữ “Big 5” dùng để chỉ 5 loài động vật hoang dã có giá trị nhất trong trò chơi săn bắn của con người những năm 1800 thì giờ đây “New Big 5” đã ra đời với một ý nghĩa nhân văn hơn cả: tôn vinh và bảo tồn các loài động vật hoang dã.Dự án 💖 New Big 5 💖 được sáng lập bởi Graeme Green, một nhiếp ảnh gia nổi tiếng người Anh. Theo đó anh cùng các nhiếp ảnh gia và nhà bảo tồn động vật đã tổ chức bình chọn toàn cầu từ tháng 4/2020 để tìm ra loài động vật mà công chúng tò mò và muốn được chiêm ngưỡng đa chiều qua ảnh chụp nhiều nhất. Và kết quả thắng cuộc đã thuộc về loài voi 🐘, sư tử 🦁, hổ 🐅 khỉ đột 🦍 và gấu Bắc cực. Năm loài động vật mang tính biểu tượng này sẽ trở thành các “đại sứ toàn cầu”, đại diện cho những loài động vật hoang dã khác đang phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.Thật tuyệt khi giờ đây chúng ta không còn săn bắn động vật hoang dã bằng súng mà thay vào đó là đi săn bằng máy ảnh phải không nào. Hi vọng dự án sẽ phần nào khiến cộng đồng chú ý và có trách nhiệm hơn với những gì đang xảy ra trong thế giới động vật hoang dã.Theo newbig5.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Tồn Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn Cần Giờ
  • Tại Sao Phải Đặt Vấn Đề Bảo Vệ Rừng Amazon?
  • Bảo Vệ Và Phát Triển Rừng Ngập Mặn
  • Tìm Giải Pháp Bảo Tồn Rừng Ngập Mặn
  • Nguyên Nhân Gây Mất Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm
  • Khắc Phục Suy Thoái Đa Dạng Sinh Học: Thách Thức Và Định Hướng

    --- Bài mới hơn ---

  • Shisha Pen Là Gì Và Có An Toàn Không
  • Pen Tool Là Gì? Hướng Dẫn Sử Dụng Pen Tool Cho “gà Mờ”
  • 8 Giải Pháp Marketing Online Hiệu Quả Nhất Cho Doanh Nghiệp
  • Phát Triển Doanh Nghiệp Bền Vững Nhờ Giải Pháp Marketing Tổng Thể
  • Giới Thiệu Tổng Quan Các Giải Pháp Sap Tại Việt Nam
  • Vì vậy, cần có định hướng cụ thể về chiến lược bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học có hiệu quả rõ ràng, để khắc phục các nguyên nhân suy thoái và giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu, trên cơ sở mối quan hệ qua lại chặt chẽ của đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và phát triển bền vững.

    Suy thoái ở cả 3 dạng

    Đề cập về các thách thức đối với đa dạng sinh học của Việt Nam hiện nay, giáo sư-tiến sỹ khoa học Nguyễn Ngọc Lung, Viện trưởng Viện Quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng nêu rõ suy thoái đa dạng sinh học ở cả 3 dạng là đa dạng sinh học các hệ sinh thái; đa dạng sinh học các loài; đa dạng sinh học gen di truyền đều bị suy thoái nhanh cả về số lượng và chất lượng.

    Tổng diện tích rừng tự nhiên của Việt Nam năm 1943 có 14,3 triệu ha, với tỷ lệ che phủ là 43,8%, trên mức an toàn sinh thái là 33%, nhưng đến năm 1999 chỉ còn 10,88 triệu ha. Nguyên nhân chính làm mất rừng là do dân số tăng nhanh, nạn đốt nương làm rẫy tràn lan, quá trình khai hoang lấy đất trồng cây công nghiệp như cà phê, chè, cao su và khai thác gỗ xuất khẩu.

    Tổng diện tích rừng ngập mặn cũng trong năm 1943 có tới 400.000 ha, hiện chỉ còn 155.000ha, trong đó rừng nguyên sinh chiếm tỷ lệ rất thấp. Còn diện tích các rạn san hô (chưa kể hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) năm 2001 có 110.000 ha, đến năm 2010 còn 14.000ha, chất lượng các rạn san hô cũng rất kém, nhiều loài đã chết.

    Một chỉ số hiển thị suy thoái về đa dạng sinh học các loài là số các loài được ghi trong Sách đỏ. Qua 2 lần điều tra năm 1992 và năm 2007, số lượng các loài được ghi trong Sách đỏ đã tăng lên 1,5 lần. Trong đó thực vật có 37 loài rất nguy cấp, 178 loài nguy cấp. Động vật có 4 loài tuyệt chùng, 5 loài tuyệt chủng trong thiên nhiên, 48 loài rất nguy cấp và 113 loài nguy cấp. Bên cạnh đó, số lượng các giống, chủng động vật, thực vật được nuôi trồng phục vụ cho sản xuất nông, lâm, thủy sản, y tế… đã mất đi khá nhanh, trong số này có rất nhiều gốc bản địa quý. Giai đoạn điều tra từ năm 1997-2006, về giống lúa từ 156 còn 75 giống; đậu tương 22 còn 9; lạc 14 còn 4; cà chua 14 còn 7; cao su 14 còn 2; càphê 14 còn 5. Rất nhiều giống vật nuôi bản địa như lợn, gà, vịt, bò…nay đã mất giống.

    Ngoài các nguyên nhân do con người gây ra, ngày càng rõ nguyên nhân gây suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam là do biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan. Các nhà sinh thái học trên thế giới đã xác nhận tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với đa dạng sinh học gồm tăng áp lực tiêu diệt các loài quý hiếm, phân bố hẹp, số lượng cá thể ít. Làm biến đổi, phân mảnh (do nước biển dâng cao) các hệ sinh thái biển, nhấn chìm một số đảo và dải bờ ven biển… Làm thay đổi vùng phân bố của các loài “nhạy cảm” với các yếu tố của biến đổi khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa, lũ, hạn…

    Các loài thích ứng với biến đổi khí hậu (giới hạn sinh thái phù hợp) sẽ có ưu thế trong cạnh tranh nơi ở và dinh dưỡng. Sự xâm hại gia tăng của các loài sinh vật ngoại lai. Tăng khả năng cháy rừng. Những tác động của biến đổi khí hậu lên đa dạng sinh học sẽ ngày càng nguy cấp, đe dọa đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và trên toàn cầu nói chung.

    Phải chặn đứng các nguyên nhân

    Các nhà khoa học của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) khẳng định, theo yêu cầu của phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường), cả 3 nội dung là đa dạng sinh học-biến đổi khí hậu-phát triển bền vững phải được xử lý, điều chỉnh, phối hợp đạt hiệu quả cao nhất. Theo đó, muốn mối quan hệ giữa 3 nội dung được tốt nhất, cần phải làm cho tác động của biến đổi khí hậu đến đa dạng sinh học và phát triển bền vững đến mức thấp nhất. Đa dạng sinh học có thể giảm thiểu biến đổi khí hậu và tác động tích cực đến phát triển bền vững. Còn phát triển bền vững hạn chế được tác hại của biến đổi khí hậu và đóng góp tích cực cho đa dạng sinh học.

    Muốn chặn đứng các nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp gây hại đến đa dạng sinh học, cần thực hiện đầy đủ và có hiệu quả nội dung yêu cầu của Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2022, tầm nhìn đến năm 2030 do Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt số 1250 ngày 31/7/2013.

    Chiến lược đã đề ra 5 nội dung nhiệm vụ chủ yếu: Bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên; Bảo tồn các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm; Sử dụng bền vững và thực hiện cơ chế chia sẻ hợp lý lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và đa dạng sinh học; Kiểm soát các hoạt động gây tác động xấu đến đa dạng sinh học; Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Đây chính là định hướng đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục suy thoái đa dạng sinh học ở Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Động Tình Trạng Đa Dạng Sinh Học Việt Nam Vẫn Trên Đà Suy Giảm Và Suy Thoái
  • Nguyên Nhân Gây Suy Giảm Đa Dạng Sinh Học
  • 6 Nhóm Giải Pháp Lâu Dài Để Bảo Vệ Môi Trường Và Phát Triển Bền Vững
  • Giảm Rác Thải Nhựa Với 12 “ý Tưởng” Cực Đơn Giản
  • Nâng Cao Ý Thức Nhân Dân Tham Gia Bảo Vệ Môi Trường
  • Nguyên Nhân Khiến Cho Đất Trồng Bị Thoái Hóa Và Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Đo Ph Đất ? Biện Pháp Cải Tạo Đất Chua, Đất Kiềm Nhanh Và Hiệu Quả
  • Cách Cải Tạo Đất Thoái Hóa Thành Đất Màu Mỡ
  • Cách Cải Tạo Đất Canh Tác Kém Hiệu Quả
  • Các Biện Pháp Cải Tạo Đất Cát Pha Bạc Màu Tốt Nhất
  • Kỹ Thuật Canh Tác Trên Đất Đồi Dốc Theo Hướng Nông Nghiệp Bền Vững (2)
  • I, Nguyên nhân đất trồng bị thoái hóa

    1.Trồng độc canh

    Việc trồng độc canh khá là phổ biến trong canh tác hiện nay, khi một cây trồng có giá thì bắt đầu người dân ô ạt thay nhau trồng, làm mất cân bằng hệ sinh thái. Cho dù đất phù sa phì nhiêu màu mỡ, sau một thời gian canh tác độc canh sẽ dẫn đến đất bị thoái hóa theo con đường bạc màu hóa hoặc (đất chua, mất chất hữu cơ, mất kết cấu đất, kiệt quệ chất dinh dưỡng), làm giảm khả năng sản xuất, năng suất cây trồng thấp và bấp bênh. Trồng độc canh rất dễ thấy ở những vùng chuyên trồng cây công nghiệp.

    2. Lạm dụng phân bón hóa học

    Đây là nguyên nhân gây thoái hóa đất phổ biến nhất ở vùng Tây Nguyên. Khi bón các loại phân chuồng, phân hữu cơ phải mất một thời gian thì mới có tác dụng, trong khi sử dụng phân hóa học vừa nhanh lại vừa rẻ, đa phần vì muốn cây nhanh phát triển và cho năng suất cao, mà người trồng không ngần ngại việc sử dụng lượng lớn phân hóa học bón cho cây. Việc sử dụng quá nhiều phân bón hóa học, lúc này đất bị tồn dư chất hóa học cây trồng chưa hấp thu kịp, lượng chất dư thừa làm cho đất bị acid hóa, dẫn đến tình trạng đất bị chua, đất trồng bị ngộ độc dẫn đến tình trạng cây trồng phát triển còi cọc, năng suất kém.

    3. Sử dụng thuốc BVTV quá nhiều

    Để đáp nhu cầu, con người cần ngày càng thâm canh nên ngày càng xuất hiện nhiều loại dịch hại trên đồng ruộng.Để bảo vệ thành quả của mình, người dân đã sử dụng các loại thuốc BVTV với số lượng, chủng loại ngày càng gia tăng. Thực trạng ô nhiễm môi truờng đất nông nghiệp thường sảy ra ở những vùng chuyên canh, khi chuyên canh một loại cây trồng dịch hại rất dễ lây lan với tốc độ nhanh chóng, chính vì thế mà việc sử dụng đến thuốc BVTV là điều tiết yếu để dập tắt dịch hại.

    Tình trạng chặt phá rừng diễn ra ồ ạt để lấy đất canh tác, dễ thấy ở những vùng sâu vùng xa, dân tộc thiểu số.Trong quá trình canh tác lại không có các biện pháp chống rửa trôi, xói mòn vào mùa mưa, giữ ẩm cho mùa khô hay thậm chí không bón phân hữu cơ cho đất.Điều này dẫn đến tình trạng sau khoảng vài năm canh tác đất trồng bị thiếu dinh dưỡng, tầng canh tác mỏng.thiếu nước tưới, đất không còn khả năng để canh tác nữa thì liền bị bỏ hoang.

    Đất bị thoái hóa do bị ô nhiễm chất độc bởi các hoạt động khác của con người như rác thải sinh hoạt và công nghiệp, nước thải sinh hoạt và công nghiệp, nước thải của chế biến thực phẩm. Đặc biệt nghiêm trọng khi đất bị nhiễm kim loại nặng vượt ngưỡng cho phép của tiêu chuẩn đo lường quốc gia.

    6. Đất bị nhiễm mặn do việc sử dụng phân bón không đúng cách

    Tại một số vùng trồng rau, hiện nay vẫn còn có tập quán sử dụng phân cá chưa qua xử lý.Kết quả làm cho đất bị thoái hóa nghiêm trọng. Khi bón phân cá vào đất, do trong phân có chứa các hàm lượng Nitrat tích lũy cao gây thay đổi tính chất vật lý của đất, phá hủy cấu trúc làm đất bị chai cứng, bí chặt, không thoát nước người dân phải thay đất sau một thời gian canh tác.

    7. Đất bị thoái hóa do ô nhiễm các vi sinh vật, tuyến trùng

    Hiện nay, do canh tác độc canh, sử dụng nhiều sản phẩm hóa học nên quần thể vi sinh vật trong đất thay đổi. Nhiều loài vi sinh vật có lợi bị tiêu diệt. Hình thành nhiều quần thể có hại cho đất và cây trồng.Nhiều chân đất bị ô nhiễm các nguồn bệnh trong đất, làm cho đất mất khả năng sản xuất.

    II, Giải pháp khắc phục

    1. Bảo vệ và trồng rừng

    Đẩy mạnh trồng rừng đầu nguồn; trồng rừng mới, trồng lại rừng sau khai thác; xúc tiến tái sinh phục hồi, bổ sung rừng, nâng cao giá trị đa dạng sinh học, khả năng cung cấp lâm sản, khả năng phòng hộ và các giá trị khác của rừng. Bảo vệ và quản lý nghiêm, kết hợp với tăng cường các biện pháp trồng mới, phục hồi, tái sinh rừng tự nhiên.Cần quản lý nguồn nước, điều tiết nguồn nước tưới một cách hợp lý, tăng mật độ cây xanh, trồng rừng và bảo vệ rừng để làm tăng nguồn nước ngầm, chống xói mòn. Ngăn chặn các hoạt động khai thác rừng bừa bãi và các hoạt động đốt rừng thông qua việc kiểm soát các hoạt động đốt rừng làm nương rẫy.

    2. Tưới tiêu hợp lý

    Nhằm bảo vệ nguồn nước và điều tiết nguồn nước tập trung, dự trữ nước cho mùa khô hạn và hạn chế được hiện tượng lũ lụt nên xây dựng hệ thống tưới tiêu nước và kỹ thuật tưới nước hợp lý. Đây là biện pháp rất quan trọng trong việc phục hồi khả năng sản xuất và tăng độ phì nhiêu của đất đã bị thoái hóa.

    Kỹ thuật tưới tiêu nước cũng rất quan trọng. Nhìn chung, do đặc tính vật lý của các loại đất này phần lớn là kém, khả năng giữ nước giữ  ẩm kém, nên cần áp dụng các kỹ thuật tưới đảm bảo đưa lượng nước cho đất. Mặc khác, tránh tạo dòng chảy trên bề mặt.Như vậy, vừa sử dụng được lượng nước hữu hiệu cho cây, vừa giữ ẩm cho đất, tránh được sự thất thoát nước trên bề mặt, cũng như xói mòn và rửa trôi đất khi tưới.

    3. Luân canh cây trồng

    Luân canh các loại cây trồng khác nhau trên một diện tích đất trồng nhằm hạn chế việc cạn kiệt chất dinh dưỡng trong đất. Bằng việc trồng luân canh với các loại cây có khả năng cung cấp lại dinh dưỡng cho đất sẽ giúp bảo vệ đất trồng khỏi bị thoái hóa và bổ sung lại các dinh dưỡng trong đất bị mất đi do cây trồng hấp thu qua quá trình canh tác.

    4. Bổ sung các chất hữu cơ cho đất

    Ngày nay đất trồng đang dần bị thoái hóa và mất dần đi cấu trúc cũng như chất mùn trong đất. Bón phân hữu cơ giúp cung cấp dinh dưỡng lại cho đất đồng thời cải thiện cấu trúc đất, làm cho môi trường đất trở nên khỏe mạnh, giúp bổ sung các vi sinh vật cho đất làm cho cây trồng có thể phát triển tốt. Một số Phân bón hữu cơ sinh học thường được ứng dụng trong công tác cải tạo dất như: Phân bón HCSH Trường Sinh N-P-K, HCSH Trường Sinh N-P-K-Si…..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Ô Nhiễm Ô Nhiễm Đất Do Thuốc Bảo Vệ Thực Vật
  • Đẩy Mạnh Xã Hội Hóa Phương Tiện Tránh Thai Để Đảm Bảo Tính Bền Vững Cho Công Tác Dân Số
  • Công Tác Tiếp Thị Xã Hội Các Phương Tiện Tránh Thai Tại Việt Nam
  • Chọn Phương Pháp Tránh Thai Hợp Lý, Tiện Ích
  • Trước Khi Có Thuốc Tránh Thai, Con Người Đã Từng Sử Dụng Các Biện Pháp Rất Lạ Này
  • Biện Pháp Khắc Phục Trẻ Suy Dinh Dưỡng, Thấp Còi Ở …

    --- Bài mới hơn ---

  • Cải Thiện Tình Trạng Suy Dinh Dưỡng Ở Trẻ Em
  • Đâu Là Giải Pháp Làm Mát Cho Nhà Hàng Tiệc Cưới Hiệu Quả Nhất?
  • Quán Bia, Nhà Hàng, Quán Ăn… Nườm Nượp Khách
  • Giảm Nghèo Bền Vững Bắt Đầu Từ Trẻ Em
  • Kinh Nghiệm Giảm Nghèo Ở Một Số Quốc Gia Khu Vực Đông Nam Á
  • Món ăn ngon của Bé qua hội thi: ” Cô chế biến giỏi” năm học 2022- 2022

     

    Món ăn ngon của Bé qua hội thi: ” Cô chế biến giỏi” năm học 2022- 2022

     

     

    Món ăn ngon của Bé qua hội thi: ” Cô chế biến giỏi” năm học 2022- 2022

     

     

    Hồng Mỵ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kinh Tế Việt Nam 2011: Giữ Lạm Phát Ở Mức 18%, Tăng Trưởng Gdp 6%
  • Kiềm Chế Lạm Phát, Ổn Định Kinh Tế Vĩ Mô, Bảo Đảm An Sinh Xã Hội, Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng, Cơ Cấu Lại Nền Kinh Tế
  • Mục Tiêu Điều Hành Lạm Phát Năm 2022 Là 3,5%
  • Nguyên Nhân Gây Ra Bội Chi Ngân Sách Nhà Nước
  • Ielts Speaking Chủ Đề “Vấn Nạn Kẹt Xe”
  • Hội Chứng Suy Giảm Chức Năng Gan Và Biện Pháp Khắc Phục

    --- Bài mới hơn ---

  • Cần Làm Gì Khi Chức Năng Gan Suy Giảm
  • Làm Gì Khi Suy Giảm Chức Năng Gan?
  • Hiệu Chỉnh Liều Thuốc Đối Với Bệnh Nhân Suy Giảm Chức Năng Gan Thận
  • Điều Trị Suy Giảm Chức Năng Gan Như Thế Nào
  • Vai Trò Chỉ Số Ggt Trong Chẩn Đoán Chức Năng Gan, Thận Và Lách
  • Hội chứng suy giảm chức năng gan là gì? Các biểu hiện cơ bản và làm sao để khắc phục suy giảm chức năng gan là vô cùng quan trọng

    Chức năng gan suy giảm là những triệu chứng biểu hiện lá gan hoạt động kém đi. Như bạn đã biết gan đóng nhiều vai trò quan trọng khác nhau trong việc bảo tồn sức khỏe con người. Khi lá gan bị tổn thương, bị virus tấn công, hoặ phải làm việc quá sức, hoặc do mắc căn bệnh mãn tính nào đó. Lúc này, tình trạng gan không hoạt động được bình thường hay nói cách khác là gan đang bị hội chứng suy giảm chức năng.

    Biểu hiện của suy giảm chức năng gan là gì?

    1.Rối loạn tiêu hóa

    Dấu hiệu đầu tiên nên lưu ý là tiêu hóa rối loạn, đi đại tiện nhiều lần và thường là ra phân lỏng, cơ thể mệt mỏi và có cảm giác chán ăn. Tình trạng này do các men hỗ trợ tiêu hóa, tổng hợp các chất sinh hóa như đạm, béo, nội tiết tố,… Bệnh nhân bị các bệnh khác như rối loạn tiêu hóa cũng có cảm giác ăn uống không thấy ngon miệng.

    2.Các dấu hiệu ngoài da

    Người bị hội chứng suy giảm chức năng gan có thể gây ra tình màu da, màu mắt và móng tay chân thay đổi. Khi xảy ra tình trạng chức năng gan suy giảm thì quá trình giải độc của gan cũng bị ảnh hưởng là vì gan chính là bộ máy chính đảm nhiệm chức năng quan trọng là giải độc tố và thanh lọc cho cơ thể. Màu da của người bệnh sẽ trở nên sậm vàng hơn, màu mắt và móng tay cũng theo dấu hiệu suy giảm chức năng gan mà đổi sang sắc hơi vàng.

    3.Các vấn đề về mắt

    Dấu hiệu quần thâm và mắt và nhanh mỏi mắt cũng thường gặp phải ở những bệnh nhân mắc hội chứng suy giảm chức năng gan. Có thể là do người bệnh chủ quan vì đây là biểu hiện không hiếm trong cuộc sống hiện đại ngày nay. Tuy nhiên, đây cũng là một dấu hiệu cho thấy chức năng gan của bạn đang suy yếu đấy.

    4. Mùi hơi thở:

    Hơi thở trở nên nặng mùi hơn bình thường: Đôi khi hơi thở có mùi không đơn thuần là vì răng miệng bị viêm nhiễm mà có khi là do gan. Gan suy yếu sẽ không làm tốt cơ chế giải độc cho cơ thể, lúc này hơi thở sẽ nặng mùi hơn do các rối loạn trong hệ tiêu hóa khiến vi khuẩn có điều kiện phát triển.

    5. Gan to, trướng bụng:

    Nếu gan đồng thời tiếp nhận nhiều chất độc thì sẽ không thể giải độc kịp. Lúc này, gan sẽ có dấu hiệu to lên, dạ dày theo đó mà trương phình lên, bụng trướng. Thông thường tình trạng gan lớn, trướng bụng thường đi kèm với tình trạng vàng da ở bệnh nhân.

    6.Một số dấu hiệu khác:

    Suy giảm chức năng gan còn có thể gây ra cho bệnh nhân một số dấu hiệu khác như tình trạng rụng tóc, bạch sản móng tay móng chân, mất móng,…

    Cách khắc phục suy giảm chức năng gan là gì?

    Khi phát hiện tình trạng này, có 3 vấn đề mà bạn cần đặc biệt lưu ý:

    Điều chỉnh lại chế độ ăn uống của bạn vì có thể chế độ ăn uống hiện tại là không hợp lý đang làm gan bị suy yếu. Lúc này bạn cần phải bổ sung cho cơ thể nhiều các thực phẩm chứa vitamin và protein, hạn chế các món ăn khó tiêu và nhiều dầu mỡ. Ăn nhiều các thức ăn tốt cho gan khác.

    Chế độ làm việc và nghỉ ngơi nên được sắp xếp khoa học. Không ăn quá no trong một lần và bỏ thói quen ăn khuya, đi ngủ trước 23h mỗi ngày và không để tâm trạng stress là điều cần thiết cho một lá cơ thể khỏe mạnh.

    Tập thể thao để tăng cường sưc khỏe và cũng là cách khiến chức năng gan trở lại hoạt động tốt hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Giảm Chức Năng Gan Và Những Triệu Chứng Thường Gặp
  • Bị Nổi Mề Đay Có Phải Do Suy Giảm Chức Năng Gan Không?
  • Sử Dụng Thuốc Với Người Bệnh Suy Giảm Chức Năng Gan
  • Tác Dụng Cây An Xoa Hỗ Trợ Điều Trị Chức Năng Gan Suy Giảm
  • Suy Giảm Chức Năng Gan: Nguyên Nhân, Triệu Chứng, Cách Phòng Ngừa
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100