Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

--- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn?
  • Tổ Văn Trường Thpt Phú Điền Với Nhiều Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Bộ Môn
  • Một Số Giải Pháp Quản Lý Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Ngữ Văn, Lịch Sử Ở Trường Thpt Như Thanh
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học 6 Bằng Phương Pháp Dạy Dạy Học Trực Quan
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Tin Học Lớp 6 Bằng Dụng Cụ Trực Quan
  • A. Phân loại học sinh

    Xã Đạo Đức là một xã nằm phía đông nam của huyện Bình Xuyên, tiếp giáp với thành phố Phúc Yên. Xã gồm 3 thôn chính: thôn Mộ Đạo, thôn Bảo Đức, thôn Yên Lỗ. Nghề nghiệp chủ yếu là làm nông và công nhân ở các khu công nghiệp. Kinh tế ổn định, đời sống đảm bảo an ninh trật tự, trình độ dân trí không đồng đều. Trong những năm gần đây, Đảng và chính quyền địa phương đã quan tâm chú ý đến đường lối phát triển kinh tế đồng thời đẩy mạnh công tác giáo dục vì vậy đời sống văn hoá, xã hội có những bước chuyển biến rõ nét. Vì vậy, 100% học sinh khi vào lớp 1 đã qua lớp mầm non, tuy nhiên trình độ tiếp thu rất khác nhau bên cạnh đó còn có một số học sinh có biểu hiện của tăng động, chậm phát triển gây khó khăn rất nhiều cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và tìm phương pháp giảng dạy phù hợp cho lớp. Vào đầu mỗi năm học khoảng 1 tháng, tôi tiến hành khảo sát chất lượng và đánh giá trình độ tiếp thu của học sinh. Sau đó để tiện

    theo dõi và giảng dạy, tôi tạm phân học sinh theo các trình độ: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém. Trong đó, tôi quan tâm nhiều đến 3 đối tượng học sinh: trung bình, yếu và kém. Để đảm bảo cho tất cả các đối tượng học sinh đều có thể tham gia vào quá trình tìm tòi, phát hiện kiến thức, tôi chuẩn bị trước ở nhà các bài tập (dựa vào vở Bài tập Toán) có phân loại kiến thức từ dễ đến khó. Các bài tập khó dành cho học sinh khá, giỏi; các bài tập dễ dành cho học sinh trung bình trở xuống nhằm tạo hứng thú cho các em trong từng tiết học để các em chủ động tiếp thu kiến thức.

    B. Biện pháp cụ thể

    Trong cuộc họp phụ huynh học sinh đầu năm học để gặp gỡ, yêu cầu phụ huynh phải mua đầy đủ đồ dung học tập, sách giáo khoa để phục vụ cho việc học tập tất cả các môn học. Riêng môn Toán, ngoài các dụng cụ, đồ dùng học tập cần thiết như sách giáo khoa, bộ đồ dung toán, tôi yêu cầu phụ huynh học sinh chuẩn bị thêm cho mỗi em 1 cuốn vở ô li để học sinh làm lại các bài tập bị sai hoặc làm các bài tập ở tiết toán + (buổi chiều) bài tập do giáo viên biên soạn. Việc làm này sẽ giúp củng cố kiến thức cho học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn đồng thời đây cũng là cách để rèn kỹ năng viết, kỹ năng tính toán cho học sinh.

    Đối với mỗi dạng toán khác nhau, ngoài tham khảo sách thiết kế dành cho giáo viên, học hỏi kinh nghiệm giảng dạy của các thầy cô đi trước, tôi lựa chọn cho mình những phương pháp riêng phù hợp với trình độ học sinh lớp mình. Cụ thể như sau:

    Ngay từ những bài đầu tiên của chương trình toán lớp 1, các em sẽ làm quen với các hình đơn giản: hình tròn, hình vuông, hình tam giác. Đối với bài học này giáo viên cần phải cho học sinh nhận dạng, nắm được tên các hình và đặc điểm cơ bản để nhận dạng hình, vẽ được hình đó.

    Ví dụ: Khi dạy bài hình vuông, hình tròn, sau khi cho học sinh nhận dạng được hình, tôi yêu cầu học sinh lấy trong Bộ đồ dùng môn toán các hình vuông, hình tròn rồi yêu cầu học sinh tìm các đồ vật xung quanh em có hình vuông, hình tròn dưới dạng trò chơi tạo hứng thú ban đầu cho các em khi học môn toán. Sau đó cho học sinh vẽ ra bảng con hình vuông, hình tròn để các em khắc sâu hơn về hình đã học.

    2. Dạy toán về nhiều hơn, ít hơn:

    Với dạng toán về nhiều hơn, ít hơn học sinh phải nắm thật kỹ để các em chuyển sang học về dấu lớn hơn, bé hơn được dễ dàng. Đối với học sinh khá, giỏi, các em tiếp thu bài rất nhanh vì đó chỉ là những kiến thức đơn giản các em nhận biết trong giao tiếp hàng ngày với cha mẹ, với những người xung quanh. Tuy nhiên đối với những học sinh trung bình, yếu, kém các em gặp khó khăn rất nhiều trong quá trình xác định nhóm đồ vật có số lượng nhiều hơn, nhóm đồ vật có số lượng ít hơn.Vì vậy, khi dạy dạng toán này, tôi chú ý để các học sinh trung bình trở xuống được thực hành nhiều hơn.

    Để các em dễ nhận biết kiến thức, tôi áp dụng triệt để phương pháp trực quan. Từ việc cho các em quan sát cụ thể để các em phát hiện và ghi nhớ nội dung kiến thức.

    Ví dụ: Gọi hai nhóm học sinh đứng trước lớp, nhóm một có 4 học sinh nam, nhóm hai có 3 học sinh nữ.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp quan sát, sau đó gọi những học sinh thuộc nhóm đối tượng trung bình trở xuống trả lời câu hỏi: Nhóm nào nhiều bạn hơn? Nhóm nào ít bạn hơn? Tuy nhiên vẫn sẽ có những học sinh không trả lời được nhóm nào nhiều hơn, nhóm nào ít hơn. Đối với trường hợp này, tôi sẽ cho 2 nhóm bạn nam và nữ bắt tay nhau, mỗi học sinh nam sẽ bắt tay với 1 học sinh nữ, các em sẽ thấy thừa ra 1 học sinh nam từ đó thấy được nhóm học sinh nam nhiều hơn nhóm học sinh nữ.

    – Tôi tiếp tục thay đổi số học sinh của hai nhóm và nêu các câu hỏi tương tự để nhiều học sinh yếu kém có cơ hội trả lời câu hỏi nhằm phát hiện kiến thức. Ngoài ra, tôi sẽ làm nhiều phiếu bài tập có dạng bài tương tự để các em nắm vững về nhiều hơn, ít hơn. Quan trọng nhất sau mỗi 1 bài tập tôi thường cho các em trả lời cá nhân sau đó cho các em nhắc lại đồng thanh cả lớp để khắc sâu kiến thức.

    3. Dạy về số, các chữ số.

    Đối với dạng các số từ 0 đến 10, chúng ta phải hướng dẫn thật kĩ để cho học sinh biết đọc, viết các số, vì đây là tiền đề để các em năm được về vấn đề số học trong toàn bộ chương trình toán học ở tiểu học. Có những học sinh đã được cha, mẹ cho làm quen trước ở nhà nên việc nhớ cách viết, đọc các số rất đơn giản với các em. Tuy nhiên có một số ít trường hợp khó khăn trong việc nhớ cách viết, đọc các số này. Như đã nói ở trên, trong lớp tôi có một học sinh trong 3 tháng đầu tiên của năm học, em không thể nhớ nổi các số từ 0 đến 10( không thể đếm 0 đến 10, không nhớ cách viết số, không nêu được số lượng tương ứng trong các bức tranh, trong trường hợp cụ thể.

    Với những học sinh này, thầy cô giáo đặc biệt phải rất kiên trì và nhẫn nại với học sinh cũng như phải thường xuyên trao đổi với phụ huynh học sinh để có biện pháp kịp thời.

    Ở dạng toán nhận biết cách đọc, viết các số có 1 chữ số này, tôi thường cho học sinh nhận biết bằng đồ dung trực quan (que tính).

    – Ví dụ: Các số 1, 2, 3, 4, 5

    + Có mấy ngôi nhà? (có 4 ngôi nhà).

    + Giáo viên nêu: Có 4 ngôi nhà.

    + Giáo viên ghi bảng: 4 và đọc: Bốn

    + Giáo viên hướng dẫn học sinh viết bảng con số 4. Sau đó cho học sinh chỉ tay vào bảng con của mình đọc nối tiếp: Bốn.

    + Giáo viên cho học sinh thực hành lấy 4 que tính và nêu: Có 4 que tính.

    Ngoài ra, để củng cố cho các em về số tôi thường tổ chức cho các em chơi trò chơi ” Chim bay về tổ” để tạo hứng thú cho học sinh đồng thời giúp các em khắc sâu hơn về các số. Trò chơi như sau: Tôi gọi 1 nhóm học sinh tham gia chơi trò chơi, khi giáo viên hô: Chim bay về tổ, học sinh đáp: Về mấy về mấy? Giáo viên nêu số bất kì: 2, 3, 4…. Học sinh sẽ tự tạo nhóm tương ứng với số mà giáo viên đã nêu.

    Giáo viên cần cho học sinh nắm chắc thứ tự các số trong dãy số để khi làm các bài tập về điền dấu dễ dàng hơn. (có thể cho học đếm xuôi, đếm ngược hoặc cho học sinh điểm số tờ 1 đến 10 để tạo hứng thú học tập cho học sinh).

    b) Các số từ 11 đến 100

    Ở dạng toán này học sinh thường bị nhầm ở cách đọc số. Ví dụ: 22 các em thường đọc là: hai hai (đọc đúng là: hai mươi hai).

    Để học sinh nắm chắc cách đọc các số, thì khi dạy nhận biết số tôi hướng dẫn học sinh nắm chắc một số gồm mấy chục và mấy đơn vị. Khi học sinh nắm chắc được về chục và đơn vị học sinh sẽ biết cách đọc số. Ví dụ: đọc số: 67

    + 67 gồm mấy chục và mấy đơn vị? (67 gồm 6 chục và 7 đơn vị).

    + Đọc: sáu mươi bảy.

    Hoặc đối với học sinh trung bình, yếu tôi buộc phải cho học sinh nhớ máy móc bằng cách them chữ “mươi”. Ví dụ: Các em thường đọc: 67 là: sáu bảy. Khi cho them chữ “mươi” vào giữa 2 số sẽ là: sau mươi bảy.

    a) Hướng dẫn học sinh so sánh các số trong phạm vi 10:

    Đây là hai dấu bé, lớn chỉ sự quan hệ giữa các số mà học sinh rất dễ nhầm lẫn, không chỉ học sinh yếu, kém nhầm lẫn mà ngay cả học sinh khá, giỏi cũng có thể sai khi tính toán vội vàng. Để hạn chế điều này, tôi giúp học sinh phân biệt bằng cách co cánh tay của mình khi hướng dẫn các em điền dấu.

    -Với dấu bé hơn (<):

    – Để các em có thể liên hệ với dạng toán nhiều hơn ít hơn, tôi sẽ gắn các số với 1 nhóm đồ vật nhất định ví dụ: 2 quả táo và 4 quả táo.

    – Sau đó nêu câu hỏi: 2 quả táo như thế nào so với 4 quả táo?

    – Học sinh trả lời: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo.

    – Giáo viên nhắc lại: 2 quả táo ít hơn 4 quả táo hay ta còn nói: 2 < 4

    – Giáo viên ghi dấu bé hơn vào chỗ chấm (2 < 4) và cho học sinh nhận xét: Dấu bé hơn, mũi nhọn quay về bên trái giống như tay trái đang co lại chống vào hông, hay mũi nhọn quay vào số bé hơn.

    – Cho học sinh lên bảng thực hành chống tay trái vào hông trước lớp cho các bạn cùng nhận xét xem có đúng như kết luận đã nêu không (học sinh đứng quay mặt vào bảng). Tiếp tục, tôi tiến hành tương tự với một vài ví dụ khác như: 1…5; 4…7;

    Tương tự ví dụ trên, giáo viên cũng nêu câu hỏi và rút ra nhận xét: Dấu lớn hơn giống như tay phải co lại chống vào hông. Sau đó, cho học sinh thực hành, nêu nhận xét.

    – Giáo viên chọn khoảng 8 học sinh trở lên, tùy theo thực tế học sinh và không gian lớp học, xếp các học sinh này thành một hàng ngang trên bục giảng theo hai nhóm, mỗi nhóm có số lượng học sinh không bằng nhau.

    – Giáo viên yêu cầu cả lớp nhận xét, tuyên dương sau mỗi học sinh.

    – Giáo viên liên tục thay đổi số lượng học sinh trong mỗi nhóm trên bảng để học sinh có thể so sánh được nhiều giá trị giữa 2 số và cũng là để nhiều học sinh cùng được tham gia vào trò chơi.

    b) Hướng dẫn học sinh so sánh các số có hai chữ số:

    Để hướng dẫn học sinh dễ dàng so sánh các số có hai chữ số, tôi cho học sinh tách các số thành từng hàng rồi cho học sinh so sánh các số trong cùng hàng; từ đó rút ra kết luận so sánh giá trị của hai số.

    – Tôi hướng dẫn từng bước cho học sinh nhận xét:

    + 55 và 59 giống nhau ở hàng nào? (giống ở hàng chục là 5).

    + 5 đơn vị như thế nào so với 9 đơn vị? (5 đơn vị bé hơn 9 đơn vị).

    + 55 như thế nào so với 59? (55 bé hơn 59).

    – Gợi ý học sinh rút ra kết luận: 55 và 59 có 5 chục bằng nhau, 5 bé hơn 9 nên 55 bé hơn 59.

    – Gọi học sinh lên bảng điền dấu vào chỗ chấm: 55 <59.

    – Tiến hành cho học sinh so sánh ngược lại: 59…55 tương tự như trên.

    Từ phương pháp và kết quả so sánh trên, giáo viên gợi ý học sinh rút ra kết luận chung: các số có hai chữ số có số chục bằng nhau, số nào có số đơn vị bé hơn thì số đó bé hơn, số nào có số đơn vị lớn hơn thì số đó lớn hơn.

    Đối với trường hợp các số khác nhau cả hàng chục và hàng đơn vị tôi tiến hành tương tự như trên để rút ra kết luận: các số có hai chữ số, số nào có hàng chục lớn hơn thì số đó lớn hơn.

      3…4

      Dạng bài này học sinh dễ dàng điền được dấu luôn tuy nhiên vẫn có số ít học sinh điền nhầm vì vậy giáo viên có thể hướng dẫn học sinh quan sát tranh có số lượng đồ vật tương ứng với các số sau đó hỏi tranh nào có số lượng nhiều hơn từ đó học sinh nhận ra được dấu mình phải điền.

      Ở dạng này giáo viên cần cho học sinh nắm chắc kiến thức để làm bài tập các dạng b, c dễ dàng hơn.

      – Giáo viên nêu câu hỏi gợi ý:

      + Bài này có mấy phần? Gồm những phần nào? (Bài có hai phần, phần đứng trước dấu chấm và phần đứng sau dấu chấm).

      + Em có thể tính phần nào trước? (Tính 3 + 4 trước).

      + 3 + 4 bằng mấy? (3 + 4 = 7).

      + Em dùng bút chì ghi số 6 nhỏ xuống phía dưới phép tính 3 + 4.

      + 9 như thế nào so với 7? (9 lớn hơn 7).

    Ví dụ 3: Bài tập số 2; sách giáo khoa Toán lớp 1 trang 143.

    Bài 2: Khoanh tròn vào số lớn nhất:

    a) 72; 68; 80. b) 91; 87; 69.

    c) 97; 94; 92. d) 45; 40; 48.

    Các bài tập này rất khó đối với học sinh trung bình trở xuống, do đó tôi phải hướng dẫn kỹ từng mục của mỗi bài.

    – Mục a, b: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng chục để tìm được số lớn nhất (bé nhất).

    – Mục c, d: Hướng dẫn học sinh so sánh hàng đơn vị để tìm số lớn nhất (bé nhất).

    Cuối bài so sánh các số có hai chữ số, tôi tổ chức trò chơi để củng cố như sau:

    – Làm các bông hoa có mang số ở nhụy hoa, ví dụ: 34; 61; 14; 67. Mặt sau bông hoa gắn keo dính 2 mặt.

    – Tổ chức cho học sinh tham gia trò chơi thành hai đội dưới dạng thi ai nhanh hơn, số lượng học sinh của mỗi đội tương ứng với số hoa mà giáo viên đã làm cho mỗi đội.

    – Giáo viên phát lệnh, học sinh hai đội lần lượt đứng theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại (tùy theo yêu cầu của giáo viên, theo mục tiêu của từng bài học và thực tế học sinh ở mỗi lớp). Đội nào đứng nhanh hơn và đúng là thắng cuộc.

    6. Dạy các bài dạng “Tìm thành phần chưa biết của phép cộng, phép trừ”:

    Ví dụ: …+ 5= 7 …- 6 = 2.

    5 +… = 10 7 -…= 4.

    Đối với các lớp trên, dạng toán này có qui tắc cụ thể. Ở lớp Một, các em tự nhẩm rồi điền vào chỗ chấm. Vì vậy, muốn làm đúng dạng toán này, các em phải thuộc kỹ các phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Do đó, khi dạy phép cộng và trừ từ 2 đến 10, tôi chú ý rèn cho học sinh kỹ năng thuộc và nhớ kỹ tất cả các phép tính. Đối với những học sinh yếu, kém, tôi sử dụng các hình thức dạy học trực quan, gợi mở, dạy học theo nhóm ở lớp, nhóm ở nhà và thường xuyên kiểm tra để các em có thể thuộc và nhớ được các phép tính theo yêu cầu đã nêu.

    7. Dạng điền số vào ô trống:

    Để tất cả học sinh có thể làm được và làm đúng dạng toán này, tôi phát huy tối đa ưu thế của phương pháp gợi mở, phân tích – tổng hợp. Cụ thể như sau:

    + Bài toán này có mấy phần? Đó là những phần nào? (Bài toán có hai phần, phần đứng trước dấu bằng và phần đứng sau dấu bằng).

    + Chúng ta có thể tính được phần nào trước? (Tính phần đứng trước dấu bằng).

    + Phần đứng trước dấu bằng có kết quả bằng mấy? (3 + 7 = 10).

    + Phần đứng sau dấu bằng đã có 6, vậy chúng ta cộng thêm mấy nữa để bằng 10? (Cộng thêm 4).

    + Vậy 3 + 7 = 6 + mấy? (3 + 7 = 6 + 4).

    Trong các tiết Toán tự soạn sau đó, tôi sẽ đưa thêm một số bài tập tự soạn ở dạng này vào bài để các em được luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng và củng cố, khắc sâu kiến thức.

    8. Dạy toán có lời văn:

    Khi học dạng toán này, rất nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc đặt câu lời giải, thậm chí ngay cả một số học sinh khá cũng lúng túng trong việc này. Các em thường đặt sai câu lời giải hoặc chép lại nguyên văn câu hỏi trong bài toán. Để khắc phục những khó khăn trên cho học sinh, tôi phải sử dụng những qui ước theo kiểu “luật bất thành văn”. Ngay từ những bài toán đầu tiên ở dạng này, tôi qui ước đối với học sinh những nội dung sau:

    – Viết câu trả lời chính là việc trả lời câu hỏi của bài toán.

    – Khi trả lời, không lặp lại từ “hỏi”.

    – Khi trả lời, thay các từ “mấy?”, “bao nhiêu?” trong các bài toán thành các từ “số”, thêm từ là vào cuối câu trả lời.

    Đối với học sinh khá, giỏi, tôi không yêu cầu các em làm theo qui ước mà để các em trả lời tự do theo ý hiểu của mình.

    Ví dụ: Nhà An có 9 con gà, mẹ đem bán 3 con gà. Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?

    – Lời giải là câu trả lời của câu hỏi “Hỏi nhà An còn lại mấy con gà?”.

    – Khi bỏ từ “hỏi” và thay từ “mấy” bằng từ số sẽ được câu trả lời: “Nhà An có còn lại số con gà là”.

    Trong một số tiết Toán + (buổi chiều), tôi đưa ra một số bài toán tự soạn như đã nêu ở phần đầu với yêu cầu chủ yếu đối với học sinh là luyện tập kỹ năng đặt câu lời giải.

    Ngoài ra các em còn nhầm lẫn trong khi viết phép tính (nhầm phép cộng thành phép trừ, ngược lại). Để hướng dẫn học sinh viết đúng phép tính tôi thường hướng dẫn như sau:

    Ví dụ: Bài 1 trang 148

    Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con bay đi. Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?

    + Cho học sinh đọc đề bài nhiều lần.

    + Bài toán cho biết gì? (Có 8 con chim đậu trên cây, sau đó có 2 con chim bay đi).

    + Bài toán hỏi gì? (Hỏi trên cây còn lại bao nhiêu con chim?)

    + Muốn biết còn lại bao nhiêu con chim ta làm phép tính gì?( Ta làm phép tính trừ).

    + Nêu phép tính?( 8-2=6)

    + Nêu câu trả lời cho bài toán?( Trên cây còn lại số con chim là:)

    Với cách làm này, theo ghi nhận thực tế của tôi, 100% học sinh đã đặt được và đúng câu lời giải cho các bài giải toán có lời văn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Ở Lớp 6A2 Thông Qua Phương Pháp Trò Chơi
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Trong Trường Thpt
  • Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán Của Tổ Toán Trường Thpt Số 2 Tư Nghĩa
  • Xác Nhận Việc Hoàn Thành Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Theo Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường Đã Được Xác Nhận
  • Hiện Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Đất Ở Thành Phố Hcm
  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • SKKN nâng cao chất lượng môn toán lớp 5

    Năm học : 2006 – 2007

    Phần mở đầu

    1. Lý do chọn đề tài:

    Năm học 2006-2007 là năm học đổi mới chương trình và thay SGK lớp 5; là năm học tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

    Giáo viên trường TH chúng tôi đã triển khai thực hiện những thay đổi theo phương pháp dạy học mới. Mục đích giáo dục tiểu học được hoàn thiện theo hướng toàn diện hơn. Với chương trình mới, chúng ta đã và đang từng bước thay đổi nội dung dạy học cho nên người giáo viên cần tập trung đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp. Hiện nay, chúng ta đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực hoạt động của học sinh trong quá trình dạy học. Trong Luật giáo dục cũng đã khẳng định: “Phương pháp dạy học phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh”. Vậy để tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh về môn Toán cần có phương pháp dạy học phù hợp: phù hợp với nội dung kiến thức, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi cửa học sinh, phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể của nhà trường… Thực tế bản thân tôi, giáo viên trường tôi đã vận dụng thành thạo các phương pháp dạy học truyền thống vào dạy toán như: giảng giải, vấn đáp, trực quan… Ngoài những phương pháp này, hình thức thầy tổ chức trò hoạt động đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng nhiều phương pháp và các kĩ thuật khác nữa. Chẳng hạn: phải biết theo dõi từng học sinh trong quá trình giải bài tập để kịp thời giúp đỡ học sinh yếu, giao việc cho học sinh giỏi, phải biết cách nhanh chóng chia lớp thành nhóm để tổ chức giải câu đố toán học, phải biết cách làm mẫu khi hướng dẫn học sinh sử dụng đồ dùng dạy học… Giáo viên trường tôi tuy đã biết về các kĩ thuật dạy học nói trên nhưng chưa thành thục khi sử dụng chúng, giáo viên ngại sử dụng hoặc chỉ lạm dụng một vài kĩ thuật nào đó mà thôi. Đây chính là điểm yếu của tôi, của giáo viên trường tôi và cũng chính là lí do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu áp dụng giảng dạy tại lớp 5B (lớp tôi chủ nhiệm) trong năm học 2006-2007 này nhằm nâng cao chất lượng của lớp.

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Tìm hiểu nội dung dạy học toán và nghiên cứu một số biện pháp cải tiến phương pháp, hình thức dạy học toán để áp dụng nâng cao chất lượng môn toán cho học sinh lớp 5.

    3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    Phương pháp dạy học Toán của giáo viên ở trường TH

    Học sinh 5B (lớp tôi chủ nhiệm).

    4. Nhiệm vụ nghiên cứu:

    Tìm hiểu thực trạng dạy học toán ở trường TH , rút kinh nghiệm, có một số biện pháp cải tiến phương pháp dạy học toán nhằm n

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Smart Home Đà Nẵng #1 Giải Pháp Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5
  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • I. MỞ ĐẦU:

    1. Lý do chọn đề tài:

    Trước xu thế toàn cầu hóa kinh tế tri thức của thời đại, Nghị quyết đại hội

    Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra nhiệm vụ: “Nâng cao dân trí, phát huy nguồn

    lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần của con người Việt Nam”. Bởi vậy Giáo dục luôn

    được xác định là “Quốc sách hàng đầu” mà “Giáo viên là nhân tố quyết định chất

    lượng giáo dục đào tạo”. Xuất phát từ yêu cầu thực tế của nhà trường Tiểu học hiện

    nay, bên cạnh đó còn xuất phát từ mục tiêu cơ bản của ngành Giáo dục – Đào tạo đã

    đề ra, phải đào tạo con người mới phát triển toàn diện có đầy đủ tri thức, thông

    minh, sáng tạo và đức độ để sau này có thể làm chủ tương lai.

    Bậc Tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, chất lượng

    giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào kết quả đào tạo ở bậc Tiểu học. Mục tiêu giáo dục

    tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn

    và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp

    tục học lên trung học cơ sở. Trong các môn học ở bậc Tiểu học, môn Toán chiếm

    một vị trí rất quan trọng, giúp các em chiếm lĩnh được tri thức, phát triển trí thông

    minh, năng lực tư duy, sáng tạo lôgic góp phần quan trọng vào sự hình thành và

    phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Trong đó môn toán ở lớp 1 giữ vai trò

    hết sức quan trọng, bởi toán lớp 1 cung cấp cho các em những kiến thức đầu tiên,

    là cơ sở cho việc phát triển kỹ năng tính toán và tư duy, giúp học sinh nhanh chóng

    hoàn thiện mình. Hiện nay, chương trình toán tiểu học cao đòi hỏi học sinh đạt

    được chuẩn về kiến thức, kỹ năng. Ngoài ra học sinh còn được tăng cường kiến

    thức, kỹ năng vào buổi 2. Điều đó rất khó khăn, với yêu cầu là học sinh học tập

    một cách chủ động, tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự phán đoán, giải quyết các bài

    tập. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, không giảng giải nhiều. Đối tượng học sinh

    không đồng đều, có học sinh mồ côi, học sinh có hoàn cảnh khó khăn, học sinh

    khuyết tật học hòa nhập, nhận thức chậm, gia đình ít quan tâm, thêm vào đó là học

    sinh lớp 1 bước đầu chuyển từ chơi sang học. Đòi hỏi giáo viên không chỉ dạy mà

    còn phải dỗ. Kết quả về kiến thức, kỹ năng cơ bản đạt yêu cầu trở lên.

    Vậy làm thế nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được

    nâng cao là việc làm vô cùng quan trọng, nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.

    Điều đó làm giáo viên có lúc lúng túng trong việc lựa chọn và tìm ra biện pháp tốt

    nhất để nâng cao chất lượng môn Toán. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp

    một nhiều năm. Tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao để nâng cao chất lượng môn

    toán lớp 1. Tôi quyết định chọn và nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất

    lượng dạy – học môn toán lớp 1″.

    1

    2. Mục đích nghiên cứu:

    Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác giảng dạy về dạy học môn Toán ở

    trường Tiểu học Đông Vệ 1, nhằm đề xuất những biện pháp đổi mới phương pháp

    dạy học của bản thân để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán cho học sinh lớp 1

    trong nhà trường.

    3. Đối tượng nghiên cứu:

    Giáo viên và học sinh lớp 1 trong quá trình dạy học môn Toán ở trường Tiểu

    học Đông Vệ 1.

    4. Phương pháp nghiên cứu:

    – Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.

    – Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin.

    – Phương pháp điều tra thống kê.

    – Phương pháp so sánh, đối chiếu.

    – Phương pháp đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm.

    2

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận :

    Tại hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành TW Đảng Cộng sản Việt Nam lần VIII

    đã chỉ rõ nhiệm vụ quan trong của ngành giáo dục và đào tạo là “Đổi mới mạnh mẽ

    phương pháp giáo dục đào tạo khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói

    quen tích cực, tự giác và tư duy sáng tạo của học sinh”. Phương pháp tích cực đã

    được nước ta áp dụng từ năm 2002 và áp dụng đồng bộ trên tất cả các trường tiểu

    học của cả nước. Mặt khác lịch sử của toán học cho thấy rằng quá trình nhận thức

    toán học không phải lúc nào cũng suôn sẻ, thuận lợi mà luôn có những mâu thuẫn

    như quan điểm và tư tưởng nhận thức.

    Nhiệm vụ của người giáo viên

    Thực hiện giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo

    dục, kế hoạch dạy học; soạn bài lên lớp kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản

    lý học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt

    động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục.

    Chương trình và mục tiêu chương trình toán lớp 1:

    Chương trình gồm 35 tuần (4 tiết / 1 tuần x 35 = 140 tiết)

    Số học: học sinh biết đọc viết đếm các số đến 100, làm tính cộng, tính trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Đại lượng, đo đại lượng: học sinh biết đo độ dài trong phạm vi 20.

    Yếu tố hình học: Học sinh nắm được về điểm, đoạn thẳng, hình vuông, hình

    tam giác, hình tròn.

    Giải bài toán có lời văn: Biết giải bài toán đơn về cộng, trừ.

    Yêu cầu với mức độ tư duy còn thấp, quá trình nhận thức môn toán phải đi từ

    cụ thể, kỹ năng phân tích tổng hợp còn yếu hầu như chỉ dựa vào hình ảnh có sẵn

    trước mắt. Vì thế chương trình toán lớp 1 chỉ tâp trung:

    + Học xong toán lớp 1 học sinh bước đầu có kiến thức cơ bản, đơn giản thiết

    thực về phép đếm, về số lượng, về số tự nhiên trong phạm vi 100, về phép cộng và

    phép trừ không nhớ trong phạm vi 100, về độ dài, đo độ dài trong phạm vi 20, tuần

    lễ, ngày trong tuần, đọc giờ đúng trên mặt đồng hồ, về một số hình học (đoạn

    thẳng, điểm, hình vuông, tròn, hình tam giác) giải bài toán có lời văn.

    + Hình thành và rèn luyện kĩ năng thực hành: đọc, viết, đếm, so sánh các số

    trong phạm vi 100, cộng trừ không nhớ trong phạm vi 100, đo ước lượng độ dài các

    đoạn thẳng (với các số tự nhiên trong phạm vi 20), nhận biết hình vuông, hình tròn,

    hình tam giác, điểm đoạn thẳng, giải các bài toán đơn về cộng, trừ. Bước đầu biết

    diễn đạt bài toán bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài

    tập thực hành, tập dượt so sánh, phân tích tổng hợp trừu tượng hoá, khái quát hoá

    trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế học sinh.

    Những đặc điểm tâm lý của trẻ vào lớp 1

    3

    – Một số tiết học GV còn ngại sử dụng đồ dùng, hoặc sử dụng đồ dùng chưa

    thật hiệu quả Ví dụ: Sách giáo khoa hướng dẫn đồ dùng bằng hình vẽ ô tô, GV còn

    máy móc chưa mạnh dạn sáng tạo trong việc sử dụng nhiều đồ dùng khác như: que

    tính, chiếc lá, hình tam giác, chấm tròn thay thế. Hoặc những đối tượng học sinh

    nhận thức chậm, GV chưa sử dụng đồ dùng trực quan giúp học sinh khắc sâu kiến

    thức.

    – Việc tổ chức các trò chơi mới, sân chơi phong phú để thu hút HS khi học

    môn toán còn hạn chế. Khả năng tích hợp các môn học như môn Tiếng Việt còn

    chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Ví dụ: trò chơi “Truyền điện”, việc đặt câu hỏi

    để hỏi bạn, HS còn lúng túng.

    – Chưa thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm hoặc tổ chức áp

    dụng phương pháp dạy học tích cực chưa linh hoạt, chưa sáng tạo, có lúc còn dập

    khuôn máy móc, áp đặt …..ít tổ chức hoạt động ngoại khóa như: câu lạc bộ, rung

    chuông vàng, chuyên mục,…nhằm bổ trợ kiến thức toán học cho học sinh.

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    Ngay từ đầu năm khi được phân công chủ nhiệm lớp 1C, tôi đã tìm hiểu đối

    tượng, hoàn cảnh của học sinh trong lớp từ đó nắm bắt được hoàn cảnh gia đình

    cũng như khả năng của từng em để có phương pháp giảng dạy có hiệu quả. Kết quả

    điều tra cụ thể như sau:

    42

    Hoàn cảnh học sinh

    Con gia đình cán bộ

    Con gia đình lao động tự do

    Con gia đình công nhân

    SL

    %

    Qua việc nắm bắt hoàn cảnh từng đối tượng học sinh trong lớp, tôi thấy được

    những thuận lợi và khó khăn của lớp 1C do tôi phụ trách như sau:

    * Thuận lợi:

    Đối với học sinh lớp 1C trường Tiểu học Đông Vệ 1 đã được tiếp cận và làm

    quen với phương pháp dạy học tích cực của giáo viên ngay từ đầu năm học, thành

    lập được hội đồng tự quản, phân công nhiệm vụ cho từng ban: ban học tập, ban thư

    viện, ban đối ngoại…. Các ban học tập nắm bắt khá tốt việc điều hành, hướng dẫn,

    xử lí tình huống trong nhóm.

    Trong hoạt động nhóm, một số em mạnh dạn, tự tin, hướng dẫn bạn với nhiều

    hình thức đọc kết quả, viết kết quả phép tính nối tiếp nhau, kiểm tra đôn đốc những

    5

    3.2 Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp dạy học.

    – Chuẩn bị bài trước khi lên lớp rất quan trọng nên việc xây dựng mục tiêu

    bài học cũng như sắp xếp, tổ chức các hoạt động dạy – học cần được coi trọng.

    – Trong giảng dạy có nhiều học sinh nhận thức chậm. Giáo viên phải kiên trì,

    không nên khắt khe mà nên tạo điều kiện cho các em được tham gia vào các hoạt

    động học tập, được chia sẻ để tự tin hơn …

    – Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá học sinh

    thường xuyên trao đổi với giáo viên trong tổ, tổ chức các chuyên đề, sinh hoạt

    chuyên môn mới, chia sẻ, giải quyết kịp thời các khó khăn.

    – Tăng cường khảo sát chất lượng học sinh ngay tại các giờ học, buổi học,

    tuần học…

    – Chấm bài thường xuyên, động viên học sinh bằng nhiều hình thức như

    tuyên dương …

    – Giáo viên áp dụng phương pháp thường xuyên, phương pháp chứng minh tạo

    thói quen cho học sinh.

    Ví dụ cụ thể về sự kiên trì, chủ động đổi mới phương pháp.

    Khi dạy về phép công trong phạm vi 9.

    Bước 1: Các em quan sát giáo viên làm mẫu: 9 que tính thêm 1 que tính bằng 10

    que tính. 9 + 1 = 10.

    Bước 2: Học sinh làm việc cá nhân, các em dùng que tính để lập các phép tính

    cộng tiếp theo vào bảng con hoặc bảng phụ. 1 + 9 = 10; 8 + 2 = 10; 7 + 3 = 10

    Bước 3: Học sinh trao đổi nhóm 2. Đối chiếu các phép cộng đã lập.

    Bước 4: Học sinh đọc các phép cộng trong nhóm 6.

    Bước 5: Báo cáo trước lớp, dưới sự điều hành của Chủ tịch hội đồng tự quản.

    Hoạt động nhóm còn phát huy tính tự quản của cán bộ lớp, nhóm trưởng, nhằm

    kiểm tra việc học tập của các bạn trong nhóm mình một cách tốt nhất, có tác dụng

    sửa chữa uốn nắn kịp thời những thiếu hụt, sai sót về kiến thức cho học sinh học

    yếu. Giúp các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp với các bạn và thầy, cô giáo. Có

    thể nói phương pháp này hình thành tinh thần tự giác trách nhiệm đối với tập thể

    cho từng thành viên của nhóm như vậy để tránh tình trạng lười biếng, sao nhãng

    nhiệm vụ được giao, tránh sự ghen tị.

    Nhưng chỉ có tổ chức hoạt động theo nhóm và quan sát trực quan còn là chưa đủ

    nếu trong giờ toán không có luyện tập thực hành trong giờ toán thời gian học sinh

    luyện tập chiếm tới 2/3 tiết học, càng được luyện tập nhiều thì học sinh càng khắc

    sâu được kiến thức. Có khi có những nội dung lí thuyết phải qua làm bài tập thì

    học sinh mới hiểu được.

    7

    Ví dụ : Sử dụng phương pháp luyện tập thực hành trong bài phép cộng trong

    phạm vi 9.

    Một tiết dạy có 35 phút, giáo viên dành khoảng 10-12 phút để xây dựng công

    thức cộng trong phạm vi 9 (hay bảng cộng trong phạm vi 9)

    Sau khi xây dựng xong công thức

    8+1=9

    3+6=9

    1+8=9

    6+3=9

    Giáo viên cho học sinh thực hành luyện tập 15 – 20 phút bằng cách đọc cá nhân, tập

    thể, đọc thuộc bằng mọi hình thức… Sau khi luyện tập xong giáo viên lại cho học

    sinh học thuộc lại bảng cộng trong phạm vi 9 bằng cách đọc nối tiếp giữa hai tổ,

    hoặc em A nêu phép tính em B trả lời và ngược lại.

    * Lưu ý : Trong tiết học giáo viên thực hiện linh hoạt các phương pháp như:

    + Phương pháp trực quan

    + Phương pháp hỏi đáp

    + Phương pháp giảng giải ( giải nghĩa từ )

    + Phương pháp luyện tập thực hành

    + Phương pháp kỉ luật tích cực.

    + Phương pháp trò chơi

    Trong phương pháp dạy học toán lớp 1, giáo viên phải sử dụng linh hoạt đúng

    lúc, đúng chỗ các phương pháp, các hình thức tổ chức dạy học khác nhau. Việc sử

    dụng các phương pháp, các hình thức dạy học cần theo hướng tích cực hóa hoạt

    động của học sinh, tăng cường tập luyện thực hành để phát triển các kĩ năng tính

    toán, nhằm nhanh chóng đạt được yêu cầu cộng trừ trong phạm vi 10 và cộng trừ

    không nhớ trong phạm vi 100.

    Bám sát 5 yêu cầu của giáo viên:

    1. Giáo viên giao nhiệm vụ phải rõ ràng, ngắn gọn.

    2. Làm mẫu phải rõ ràng, chính xác, dứt khoát.

    3. Chú ý đến tính đồng loạt, tính cá thể của học sinh.

    4. Nói ít, tránh nói nhiều.

    5. Không chê, khuyến khích học sinh tích cực làm việc.

    Việc tổ chức lớp học, tổ chức luyện tập thực hành luyện tập cũng có thể linh

    hoạt dưới nhiều hình thức: Cá nhân – nhóm – lớp…

    Vì hình thức dạy học này có sự kết hợp tính tập thể và tính cá nhân mà

    trong đó học sinh trong nhóm được sự chỉ đạo của nhóm trưởng, trao đổi những

    hiểu biết về kiến thức với nhau, giúp học sinh hợp tác với nhau, cùng tìm tòi phát

    hiện, trình bầy và chiếm lĩnh chi thức. Các thành viên trong nhóm không chỉ quan

    tâm đến việc học tập của mình mà còn quan tâm đến việc học tập của các bạn

    khác trong nhóm ( Nhóm 2, nhóm 4, nhóm 6…).

    8

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ dùng trực

    quan.

    Giáo viên thường sử dụng các dụng cụ học tập trực quan, nhiều màu sắc hấp

    dẫn, sinh động để thu hút sự chú ý của học sinh bởi thời gian chú ý có chủ định chỉ

    kéo dài 15- 20 phút. Như vậy, cách sử dụng trực quan như trên rất có lợi cho việc

    HS tập trung chú ý kéo dài và cao độ.

    – Học sinh được học tập qua ứng dụng công nghệ thông tin bằng hình ảnh được

    trình chiếu một cách sinh động tạo sự hứng thú cho các em tập trung hơn. Tuy

    nhiên giáo viên không nên lạm dụng.

    Giáo viên cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích

    chất đặc biệt, khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác

    tích cực và chính xác và đặc biệt phải hình thành ở các em tâm lý hứng thú và vui

    vẻ khi ghi nhớ kiến thức.

    Đặc biệt là đồ dùng trực quan đã đem lại hứng thú cho học sinh. Đòi hỏi các

    em phải tư duy, sử lý nhanh các tình huống, tự tìm tòi khám phá kiến thức qua trực

    quan. Kết quả học sinh ghi nhớ được kiến thức sâu, các em chóng thuộc bài. Lớp

    học thoải mái, vui vẻ, giờ học đạt hiệu quả cao. Học sinh ham thích học toán.

    3.4 Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt hơn.

    Tổ chức nhiều trò chơi học tập như: rung chuông vàng, hái hoa học tập, trò

    chơi… nhằm bổ sung kiến thức, tạo sự tự tin, nhanh nhẹn, kỹ năng điều hành hoạt

    động nhóm …

    Nói tóm lại, sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặt lớn của trẻ thơ. Môi trường

    học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong thời gian liên tục từ

    30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò sang tính ham hiểu biết,

    hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu động, bột phát để chuyển

    thành tính kỷ luật, nền nếp, chấp hành nội quy học tập. Tinh nhạy và sức bền vững,

    tinh khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập viết được phát triển nhanh. Tất

    cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn trẻ vượt qua được tốt những

    thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, nhà trường và xã hội

    đặc biệt là giáo viên dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:

    Với việc áp dụng các giải pháp trên cho học sinh lớp 1, tôi thấy chất lượng

    giờ học được nâng lên rõ rệt. Học sinh hào hứng, phấn khởi và luôn chờ đợi để

    được học hình. Trong giờ học các em rất say sưa, hăng say phát biểu ý kiến xây

    dựng bài, không khí lớp học sôi nổi, giờ học hấp dẫn, nhẹ nhàng. Các em nắm chắc

    kiến thức và được khắc sâu kiến thức. Qua tiết học còn rèn luyện được tính nhanh

    nhẹn, tự tin, bạo dạn. Vì thế chất lượng học tập của học sinh qua các kì khảo sát

    được nâng lên rất nhiều. Cụ thể như sau:

    9

    1C

    42

    THỜI ĐIỂM KIỂM TRA

    KẾT QUẢ

    Cuối kỳ I

    10

    Thanh Hóa, ngày 20 tháng 3 năm 2022

    Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình

    viết, không sao chép nội dung của người khác.

    Người thực hiện

    Hồ Thị Mai

    11

    MỤC LỤC

    NỘI DUNG

    I. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài

    2. Mục đích nghiên cứu

    3. Đối tượng nghiên cứu

    4. Phương pháp nghiên cứu

    II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

    1. Cơ sở lý luận

    2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

    2.1. Thực trạng việc dạy học môn Toán lớp 1 của nhà trường

    2.2. Thực trạng việc học môn toán lớp 1C

    3. Một số giải pháp nâng cao chất lượng môn toán lớp 1

    3.1. Phối kết hợp giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng.

    3.2. Tích cực, kiên trì và chủ động, sáng tạo đổi mới phương pháp

    dạy học.

    3.3. Sử dụng hợp lý, có hiệu quả đồ dùng dạy học, đặc biệt là đồ

    dùng trực quan.

    3.4. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa tạo môi trường học tập tốt

    hơn.

    4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm

    III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ

    1. Kết luận

    2. Kiến nghị

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Âm Nhạc Cho Hs Lớp 5
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Âm Nhạc Cho Học Sinh Lớp 2
  • Chuyên Đề: Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Lịch Sử Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Cách Tránh Thai Hiệu Quả Nhất Hiện Nay (Siêu Đơn Giản Và An Toàn)
  • Tuyển Tập 12 Cách Tránh Thai An Toàn, Hiệu Quả Không Tác Dụng Phụ
  • 12+ Các Biện Pháp Tránh Thai An Toàn, Đơn Giản, Phổ Biến Nhất
  • 9 Biện Pháp Tránh Thai An Toàn Và Khoa Học Nhất Chị Em Nên Biết
  • Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Điện
  • Để dạy tốt môn lịch sử ở Trường Tiểu học đạt hiệu quả cao người giáo viên phải có kiến thức lịch sử, phải nắm chắc nội dung và phương pháp tổ chức quá trình dạy học. Đây là một hoạt động nhận thức khoa học, nếu giải quyết được vấn đề này sẽ có tác dụng không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng dạy học cho môn lịch sử nói chung và môn lịch sử lớp 5 nói riêng.

    Qua nghiên cứu khảo sát một số đối tượng học sinh, tôi nhận thấy: Hầu hết các em không thích học lịch sử, nắm kiến thức lịch sử còn mơ hồ. Điều này rất đáng lo ngại và là một câu hỏi lớn cho những người làm công tác giáo dục. Mở đầu bài diễn ca năm 1942 Bác Hồ đã nhắc nhở:

    “Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam” 1- Đổi mới phương pháp dạy lịch sử

    Đổi mới phương pháp dạy lịch sử ở trường tiểu học là quá trình áp dụng phương pháp dạy học hiện đại vào nhà trường, trên cơ sở phát huy những yếu tố tích cực của phương pháp dạy học truyền thống nhằm thay đổi cách thức, phương pháp học tập của học sinh: Chuyển từ học tập thụ động, ghi nhớ kiến thức là chính sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, tự rèn luyện kỷ năng vận dụng kiến thức vào thực tỉên. Để đổi mới phương pháp học tập của học sinh tất nhiên phải đổi mới phương pháp dạy học của giáo viên. Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình:

    – Chuyển từ giáo dục truyền thụ một chiều, học tập thụ động, chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cử sang học tập tích cực, chủ động sáng tạo, chú trọng hình thành năng lực tự học dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên

    – Đổi mới hình thức tổ chức dạy học, làm cho việc học tập của học sinh trở nên lý thú, gắn với thực tiển, gắn với cuộc sống; kết hợp dạy học cá nhân với dạy học theo nhóm nhỏ, tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau giữa học sinh trong quá trình học tập.

    Muốn làm tốt được những vấn đề trên việc đầu tiên người giáo viên phải đưa ra được một “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới.

      Chóng tôi xin đưa ra “mô hình dạy học” theo quan điểm đổi mới như sau:

    Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

    Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được cácc yêu cầu sau:

    + Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

    + Phải đề cập tới cốt lỏi của bài học

    + Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của học sinh

    Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu.

    Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

    + Giáo viên trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ.

    + Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

    Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

    Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học.

    d) Kết luận vấn đề

    Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì không ? Sau đó giáo viên kết luận:

    + Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.

    + Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

    2a) Bài học có nội dung về tình hình kinh tế chính trị, văn hóa – xã hội – Phương pháp dạy học theo hướng tích cực

    (Trong chương trình lớp 5 có các bài: bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21; bài 27 và bài 28)

    Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ(giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

    -Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? (tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?)

    – Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào?

    – Kết quả của việc alàm đó.

    – Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt để sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời ssống tinh thần.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Vượt qua tình thế hiểm nghèo” giáo viên phải giúp học sinh năm được:

    -Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám như thế nào? (Khó khăn chồng chất: Các đế quốc, các thế lực phản động chống phá cách mạng; lũ lụt, hạn hán, nông nghiệp đình đốn dẫn tới nạn đói, nạn dốt…)

    – Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm gì để giải quyết nạn đói, nạn dốt và giặc ngoại xâm? (Lập ” Hũ gạo cứu đói”, tổ chức ” Ngày đồng tâm”, Kêu gọi tăng gia sản xuất với khẩu hiệu: ” Không một tấc đất bỏ hoang!”, ” Tấc đất tấc vàng”, Phát động ” Tuần lễ vàng”. Phát động phong trào xoá nạn mù chữ; Ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo…)

    – Kết quả của những biện pháp đó là gì? ( Từng bước đẩy lùi giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm)

    b) Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử: (Trong chương trình SGK- Lịch sử lớp 5, Dạng bài này có ở các bài: bài 1; bài 2; bài 5; bài 6).

    Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiêp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.

    Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

    -Mỗi một bài đều có hình ảnh (Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.

    – Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? làm gì? có đặc điểm, tính cách gì nổi bật…)

    – Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

    – Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.

    Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai …. Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Quyết chí ra đi tìm đường cứu nước” giáo viên có thể dùng nhiều phương pháp như:

    – Phương pháp kể chuyện: Tìm hiểu về quê hương và thời niên thiếu của Nguyễn tất Thành: ” Nguyễn Tất Thành sinh ngày 19/05/1890 tại xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bố tên là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ là Hoàng Thị Loan. Thuở nhỏ Nguyễn Tất Thành còn có tên gọi là Nguyễn Sinh Cung. Lớn lên trong bối cảnh nước mất, phải sống trong cảnh tủi nhục. Nguyễn tất Thành sớm thấu hiểu tình cảnh đất nước và nổi thống khổ của nhân dân …”

    – Phương pháp sắm vai: Ở cuộc gặp gỡ giữa Nguyến Tất Thành và anh Lê:

    Anh Lê: – (Ngạc nhiên) Tất nhiên là có chứ. Anh Thành : – Anh có thể giữ bí mật được không? Anh Thành: – Tôi muốn ra nước ngoài xem nước Pháp và các nước khác.Sau khi xem xét họ làm thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng có điều mạo hiểm, nhất là những lúc ốm đau. Anh muốn đi với tôi không? Anh Lê: – Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi ? Anh Thành: – Đây, tiền đây – Anh Thành vừa giơ hai bàn tay ra vừa nói – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ những việc gì để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với chúng tôi chứ ? ….” c)Dạy học các bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công …..

    ” Anh Thành: – Anh Lê, anh có yêu nước không ?

    Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện: Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh,bối cảnh lịch sử của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.

    Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh …… bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi …..

    Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.

    Với dạng bài này (trong sách giáo khoa là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài 17, và bài 20) thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những phương pháp chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, giáo viên có vai trò hổ trợ, bổ sung giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một cách hoàn chỉnh hơn.

    ” Ngày 13/03/1954, quân ta nổ súng mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong suốt 5 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, quân ta lần lượt tiêu diệt các vị trí phòng ngự quan trọng của địch ở phía Bắc như: Đồi Him Lam, Đồi Độc Lập, Bản Kéo. Trong đợt tiến công này xuất hiện nhiều tấm gương anh dũng, trong đó hình ảnh anh Phan Đình Giót ở trận đánh đồi Him Lam đã lấy thân mình lấp lổ Châu Mai cho đồng đội xong lên tiêu dịch địch là một tấm gương như thế …”

    : Khi dạy bài ” Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” giáo viên cần kết hợp trực quan với tường thuật để tái hiện 3 đợt tấn công của quân ta vào Điện Biên Phủ (Sử dụng lược đồ chiến dịch Điện Biên Phủ – giáo viên vừa tường thuật vừa chỉ trên lược đồ) chẳng hạn:

    Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và cũng cố lại những kiếm thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ ( giai đoạn lịch sử), iúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn phương pháp phù hợp để mạng lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước, Trong tiến trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như vẻ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng…. Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỷ năng rèn luyện bộ môn.

    Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáô viên vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất ngoài ra cỏ thể sử dụng trò chơi lịch sử.

    Ví dụ: Khi dạy bài “Ôn tập: Chín năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc (1945-1954). Sau khi vào bài giáo viên có thể nêu hệ thống câu hỏi (dựa vào SGK) để học sinh suy nghỉ và tập trung giải quyết các vấn đề:

    -Tình hình đất nước sau Cách Mạng Tháng 8 Thành công

    – Chín năm kháng chiến chống pháp bắt đầu năm nào? Kết thúc vào năm nào?

    – Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch thể hiện điều gi ?

    3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 3.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử – tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

    – Hệ thống một số sự kiện tiêu biểu nhất trong chín năm chống thực dân Pháp xâm lược. Về hệ thống sự kiện, giáo viên có thể cho học sinh làm theo nhóm để hoàn thành. Chẳng hạn

    3.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    3.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.

    4. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề. 4.1. Bồi dưỡng kiến thức hiểu biết về lịch sử – tự làm giàu vốn sử học trong mỗi GV.

    Từ cách dạy trên, bản thân tôi đã tìm ra hướng dạy để giúp học sinh tiếp thu

    4.2. Tổ chức cho học sinh tiếp cận tốt các nguồn sử liệu qua các phương tiện trức quan nhăm nâng cao hiệu quả dạy học môn lịch sử.

    GV dạy môn Lịch sử cấp phổ thông không phải là người chỉ nắm chắc SGK để truyền thụ lại cho học sinh mà phải có tầm hiểu biết sâu rộng. Áp dụng phương pháp dạy học tích cực, tạo ra một phong cách giảng dạy sinh động, hấp dẫn đối với HS, GV tích cực tự bồi dưỡng, thường xuyên học tập nghiên cứu và ghi chép lại những sự kiện, câu chuyện, hình ảnh, nhân chứng lịch sử.

    4.3. Sử dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp với từng dạng bài học lịch sử.

    Lịch sử là môn học đặc thù, kiến thức lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, tái hiện lại bức tranh quá khứ một cách sinh động, thì phương tiện trực quan là yếu tố cần thiết giúp HS hiểu biết về quá khứ một cách sinh động nhất.

    Mỗi loại bài có những cách dạy riêng, GV phải biết lựa chọn cho phù hợp với nội dung của bài và phải biết kết hợp với nhiều phương pháp, hình thức dạy học khác nhau trong một giờ dạy. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh là một trong những yếu tố đưa đến hiệu quả cao của bài học.

    Phạm Thị Thu Hiền @ 19:51 13/05/2018

    Số lượt xem: 2350

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Ở Tiểu Học
  • Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Không Khí Mà Bạn Nên Áp Dụng
  • Ô Nhiễm Môi Trường Là Gì? Các Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hiệu Quả
  • 6 Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường, Phát Triển Bền Vững
  • Môi Trường Là Gì? Biện Pháp Nào Giúp Bảo Vệ Môi Trường Tự Nhiên
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: “Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây.

    MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MÔN TOÁN I/ Mở đầu: Việc nâng cao chất lượng dạy học là yêu cầu không thề thiếu được trong công tác dạy học. Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa môn toán lại đóng vai trò quan trọng, biết toán mới học được khoa học mà khoa học lại giữ vai trò quyết định cho sự phát triển cho đất nước. Chính vì thế bản thân tôi thầm nghĩ: "Làm thế nào cho học sinh của mình mau tiến bộ và học giỏi. Suy nghĩ đó cứ xoay quanh trong đầu, tôi đã thử nghiệm bằng phương pháp này, phương pháp khác nhằm nâng cao chất lượng môn toán. Do đó tôi rút ra vài biện pháp có hiệu quả trong quá trình công tác dạy học ở những năm gần đây. II/ Nội dung: 1/ Hoạt động xây dựng chuyên môn: - Xây dựng ý thức trách nhiệm, tinh thần tự học tự rèn. - Chú trọng công tác dạy tốt, học tốt , nâng cao chất lượng đại trà. - Sinh hoạt tổ chuyên mônthống nhất chương trình dạy học trong tuần (1 lần/ tuần ). - Soạn kế hoạch bài học phải xác định trọng tâm bài dạy và chuẩn kiến thức cần truyền đạt. - Luôn đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với các dạng bài. - Chuẩn bị đầy đủ tranh ảnh, đồ dùng dạy học phục vụ cho bài dạy. - Tìm thêm các ví dụ, câu hỏi, nhiều cách giải hay gợi sự chú ý học tập của học sinh nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức nhanh hơn. 2/ Hoạt động trên lớp: a. Khi đứng lớp: - Tình bày bảng nên sử dụng phấn màu, ghi đủ nội dung kiến thức cần truyền đạt, dùng phấn gạch dưới kiến thức trọng tâm, đóng khung kiến thức công thức cần nhớ. - Quan sát theo dõi sự tiếp thu bài học của các em. - Tùy theo kiến thức cần truyền đạt, trình độ của học sinh mà vận dụng các phương pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Luôn tạo sự thoải mái khi các em học toán với nhiều trò chơi học tập như: Thi đua giải toán nhanh, sắp xếp nhanh các hình theo yêu cầu,tổ chức thi đua nhóm đôi, thi đua nhóm 4 học sinh, thi đua theo tổ. b. Giờ dạy lý thuyết: - Chú trọng hướng dẫn học sinh nắm vững kiến thức cần bài học. - Biết vận dụng lý thuyết vừa học vào một số các bài tập đơn giản. - Hướng dẫn học sinh học thuộc lý thuyết. c. Giờ dạy luyện tập: - Giúp học sinh vận dụng thành thạo lý thuyết vào bài học một cách hợp lí. -Qua việc giải bài tập đó học sinh rút ra được kinh nghiệm về phương pháp giải toán. d. Nếu là tiết kiểm tra: - Đề kiẻm tra vừa sức với trình độ học sinh, có câu phát triển dành cho học sinh khá giỏi. - Chấm, trả bài, chữa bài kịp thời. - Đánh giá chính xác chất lượng học tập của học sinh. - Quan tâm dến các học sinh làm bài quá kém ( Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học kém ) 3/ Hoạt động dạy ngoại khóa: a. Dạy học sinh năng khiếu: - Có kế hoạch bồi dưỡng học sinh năng khiếu để xác định tuyển chọn đội tuyển học sinh giỏi. - Khuyến khích học sinh mượn sách ở thư viện tham khảo, học hỏi nhiều cách giải toán hay.. b. Dạy phụ đạo học sinh yếu: - Tách học sinh yếu ngồi học chung một nhóm ngay từ đầu ( Phân loại học sinh ). - Tìm hiểu nguyên nhân học sinh học yếu. - Vận động học sinh yếu phụ đạo vào các ngày thứ 7, hoặc dạy học sinh yếu chéo buổi. - Nên có thời gian kèm sát các học sinh học yếu. 4/ Hoạt động ngoại khóa: - Luôn dự giờ, thao giảng, dự chuyên đề để nâng cao trình độ chuyên của bản thân. - Thường xuyên sưu tầm thêm các tư liệu, tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho công tác dạy học. IV/ Kết quả: Năm học Học kì 1 Học kì 2 2006-2007 2007-2008 2008-2009 V/ Bài học kinh nghiệm: - Soạn kế hoạch bài học theo hướng đổi mới. - Áp dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh. - Tách học sinh yếu kém ngay từ đầu để phân các em thành một nhóm. - Cuối tuần có bài kiểm tra nhằm theo dõi trình độ học sinh. - Thường xuyên quan sát theo dõi học sinh yếu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Một Số Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Hướng Tới Phát Triển Bền Vững Các Tỉnh Miền Núi Phía Bắc Hiện Nay
  • Tham Luận Thực Trạng Và Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Và Học Môn Toán Lớp 5

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Toán Lớp 5
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Chủ Nhiệm Ở Trường Thcs
  • Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Biển Nha Trang Hiện Nay
  • Ô Nhiễm Môi Trường Nguyên Nhân Và Giải Pháp
  • Nguyên Nhân, Hậu Quả Của Ô Nhiễm Nguồn Nước Và Môi Trường Nước
  • PHÒNG GD-ĐT GIÁ RAI

    TRƯỜNG TH TÂN HIỆP A

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Tân Phong, ngày 05 tháng 02 năm 2012

    Trang 1

    -Đối với giáo viên được phân công dạy phụ đạo học sinh yếu rất nhiệt tình và

    thường xuyên quan tâm đến học sinh, phương pháp giảng dạy cũng phù hợp với từng

    đối tượng học sinh yếu từ đó tỉ lệ học sinh yếu giảm dần ở từng thời điểm của năm

    học.

    b/ Hạn chế :

    -Trang thiết bị, đồ dùng dạy học chưa phong phú.

    2/Chất lượng học sinh:

    So sánh kết quả môn Toán trong năm học 2010 – 2011:

    Môn Toán :

    THỜI ĐIỂM

    LOẠI

    Đầu năm

    SO SÁNH

    Cuối năm

    CHK& CN

    %

    SL

    %

    SL %

    Tăng

    GIỎI

    20

    11,11

    35

    20,0

    50

    8,89

    KHÁ

    4

    2,22

    30

    17,14 33

    TB

    46

    25,56

    50

    YẾU

    110

    61,11

    60

    28,9

    ĐN & CN

    Giảm Tăng

    Giảm Tăng

    8,9

    17,79

    19,08 14,92

    1,94

    16,86

    28,57 79

    45,66 3,01

    17,09

    20,1

    34,29 11

    6,36

    26,82

    27,93

    Bảng so sánh chất lượng thời điểm đầu năm học 2011 – 2012 và cuối học kì I

    năm 2011- 2012:

    Toán :

    Đầu năm

    Cuối học kì I

    SO SÁNH

    SL

    %

    SL

    %

    Tăng

    GIỎI

    35

    17,33

    51

    25,50

    8,17

    KHÁ

    54

    26,73

    49

    24,50

    TB

    36

    17,82

    52

    26,00

    YẾU

    77

    38,12

    48

    24,00

    *Nhận xét :

    -Ưu điểm :

    +Nhìn chung về số lượng và tỉ lệ học sinh bị điểm yếu bài kiểm tra giảm dần.

    + Có sự quan tâm chỉ đạo sâu sát, kịp thời của BGH.

    +Giáo viên có tinh thần trách nhiệm, xây dựng tốt nền nếp lớp học, tích cực đổi mới

    phương pháp dạy học.

    Trang 2

    Giảm

    54,75

    -Hạn chế :

    + Nguyên nhân:

    Trong thời gian nghỉ hè, học sinh không có điều kiện được ôn lại những kiến thức

    đã học.

    Tình hình cơ sở vật chất chưa đáp ứng nhu cầu học tập của chọc sinh. Các trang

    thiết bị còn thiếu.

    Về phía gia đình cũng ít quan tâm, còn giao khoán việc học tập của con em mình

    cho giáo viên chủ nhiệm, cho nhà trường. Nói chung hiện nay học sinh lớp 5 học tập

    chưa hàn toàn đáp ứng yêu cầu đề ra. Vẫn còn một số em chưa nắm chắc kiến thức,

    chưa thực hiện tốt các kĩ năng, các thao tác, chưa sáng tạo, suy luận, đặc biệt chương

    trình môn Toán lớp 5 lượng kiến thức hầu hết là hệ thống hóa các kiến thức của các

    lớp dưới.

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

    MÔN TOÁN.

    Sau khi tìm hiểu xong, Tổ 5 đã thực hiện các biện pháp sau để giúp các em

    ham thích học môn toán: xem kỹ nội dung chương trình môn toán, nội dung từng bài

    dạy và mục tiêu của mỗi bài để tránh việc truyền đạt quá tải cho học sinh; phối hợp

    nhịp nhàng giữa phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phát huy tính tích

    cực, chủ động, kích thích sự hứng thú của học sinh, tránh sự đơn điệu và tẻ nhạt ở

    mỗi tiết học; tổ chức các hoạt động trong từng bài để giúp các em tự mình tìm tòi,

    chủ động phát hiện kiến thức mới, rèn thêm kỹ năng mới dựa trên các kiến thức và kỹ

    năng các em đã có.

    1/Thường xuyên đổi mới phương pháp dạy học.

    Qua những năm gần đây việc tiếp tục tập trung đổi mới phương pháp dạy

    học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh bước đầu chất lượng

    giáo dục nói chung, chất lượng môn Toán đã từng bước được nâng lên đáng kể.

    -Ngay từ đầu năm học, qua từng tiết dạy, từng giai đoạn giáo viên luôn quan

    tâm theo dõi để phát hiện những em có năng khiếu về môn Toán và những em còn

    Trang 3

    yếu về môn Toán từ đó có kế hoạch bồi dưỡng nhằm mở rộng, nâng cao kiến thức

    cho các em có năng khiếu và phụ đạo những em còn yếu.

    -GV thường xuyên thay đổi các hình thức tổ chức dạy học các phương pháp

    giảng dạy để học sinh say mê và hứng thú trong học tập.

    + Đảm bảo tính trực quan (GV làm đồ dùng dạy học sáng tạo ngoài các

    thiết bị đã có).

    + Đảm bảo phát huy tính tích cực sáng tạo trong học tập của học sinh, giáo

    viên luôn tạo ra các tình huống có vấn đề lôi cuốn học sinh tự phát hiện và giải quyết

    vấn đề.

    + Coi trọng việc củng cố tri thức khi ôn tập giáo viên hệ thống hóa lại các

    kiến thức đã học theo từng mạch kiến thức, coi trọng việc rèn kĩ năng và thói quen

    thực hành trên lớp cho học sinh.

    + Liên hệ chặt chẽ với thực tế đời sống, sinh hoạt và học tập ở xung quanh

    học sinh.

    – Giao việc cho học sinh học ở nhà như làm các bài tập ở vở bài tập, bài tập

    nâng cao giúp cho học sinh khắc sâu kiến thức.

    – Sau mỗi lần kiểm tra định kì tìm được nguyên nhân dẫn đến học sinh học yếu

    môn Toán, có kế hoạch phụ đạo giúp đỡ học sinh kịp thời.

    Trong tiết dạy GV phân hóa từng đối tượng học sinh, đối với những học sinh

    khá giỏi giao những bài tập có kiến thức cao hơn, đối với những học sinh yếu và

    trung bình giao những bài tập dễ hơn đơn giản hơn.

    Thường xuyên động viên khuyến khích các em để các em có hứng thú trong

    học tập. Thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra đánh giá học sinh qua các lần kiểm

    tra định kì và có kế hoạch chăm bồi đối với những em sa sút hoặc không tiến bộ

    thêm.

    2/Sinh hoạt tổ chuyên môn.

    Lần 1: sau khi họp hội đồng SP, lần 2 là dự giờ, hội giảng thao giảng trao đổi

    kinh nghiệm chuyên môn xoay quanh những giải pháp thích hợp giải quyết những

    Trang 4

    Trang 5

    Người viết

    Lê Thị Huyền

    Trang 6

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Lớp 5
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Môn Toán 7
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán 9
  • Giải Pháp Cho Bãi Đỗ Xe Thông Minh
  • Nhà Thông Minh Tại Đà Nẵng
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Tiếng Việt Lớp 1 Theo Chương Trình Công Nghệ Giáo Dục. : Phòng Gd&đt Thị Xã Ba Đồn
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Giờ Dạy Học Môn Ngữ Văn Lớp 6
  • Một Số Biện Pháp Tích Cực Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Phân Môn Ngữ Văn Phần Văn Học Nước Ngoài Lớp 8
  • Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau :

    – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

    – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

    – Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán.

    + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

    + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

    + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

    – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

    Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

    – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

    + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

    Biện pháp thứ hai: Sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học

    Toán học là một môn khoa học mang tính trừu tượng cao. Để học sinh hiểu bài một cách sâu sắc, dễ tiếp thu ngoài việc sử dụng kiến thức, kĩ năng sư phạm thì giáo viên cũng cần chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và đồ dùng dạy học. Đối với tâm lí học sinh lớp 2, tư duy nhận thức của các em chưa có chủ định, thiếu tập trung. Việc sử dụng đồ dùng dạy học là một giải pháp sư phạm tạo ra chỗ dựa ban đầu giúp học sinh nhận thức được những kiến thức trừu tượng, giải pháp này tác động vào các hoạt động nhận thức của trẻ theo đúng quy luật: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn”. Do đó, khi sử dụng đồ dùng dạy học trong một tiết học, không những học sinh hiểu sâu bài hơn mà còn làm cho các em thấy kiến thức toán học có mối quan hệ chặt chẽ với thực tiễn, tạo cho học sinh ý thức vận dụng kiến thức toán học vào thực tiễn.

    Ví dụ: Đối với bài: Giờ, phút/ SGK trang 125

    Khi dạy học bài này, ngoài việc giúp các em nhận biết được 1 giờ bằng 60 phút, cách xem đồng hồ khi kim phút chỉ vào số 3 và số 6 thì tôi còn chuẩn bị thêm đồ dùng dạy học đó là chiếc đồng hồ. Tôi quay một số giờ cụ thể về thời gian các em thức dậy, thời gian các em ăn sáng, thời gian các em đi học, Thông qua đó các em biết vận dụng thời gian vào thực tế và sử dụng thời gian khoa học để đạt hiệu quả công việc, học tập và nghỉ ngơi phù hợp.

    Sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học là một việc làm cần thiết đối với mỗi giáo viên khi đứng lớp. Nhưng trong quá trình dạy học người giáo viên phải biết lựa chọn thiết bị đồ dùng dạy học phù hợp với nội dung bài dạy, tránh lạm dụng dẫn đến việc sử dụng thiết bị đồ dùng dư thừa, không có mục đích. Vì vậy, khi sử dụng đồ dùng dạy học giáo viên cần phải cân nhắc kĩ về mục đích, biện pháp để đồ dùng, thiết bị dạy học mang lại hiệu quả cao nhất.

    Biện pháp thứ ba: Phối hợp các phương pháp trong dạy học Toán

    Trong dạy học không có phương pháp nào là tối ưu hay vạn năng, việc kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học cùng với lòng nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của nguời thầy sẽ mang lại kết quả cao trong giảng dạy, là chiếc cầu nối giúp các em đến với tri thức của nhân loại. Khi xác định các phương pháp dạy học giáo viên phải biết tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của người học để thông qua đó giúp các em lĩnh hội vững chắc các thành phần của nội dung giáo dục nhằm đạt được mục tiêu của bài học. Như vậy việc vận dụng và phát huy có hiệu quả các phương pháp dạy học sẽ góp phần vô cùng quan trọng để phát triển trí tuệ cho các em một cách tổng hợp. Bằng kinh nghiệm thực tế, tôi đã sử dụng các phương pháp như sau:

    Phương pháp 1: Phương pháp trực quan

    Trong môn Toán, phương tiện trực quan là chỗ dựa để giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát, nhận xét, so sánh, đưa ra những nhận định, những hình ảnh đặc trưng nhằm minh họa, thể hiện các kiến thức trừu tượng của toán học.

    Ví dụ : Đối với bài: Thực hành xem đồng hồ (SGK/78)

    Từ cách cách dạy học vận dụng và liên hệ thực tế như vậy các em sẽ hiểu bài tốt hơn và vận dụng được cách xem thời gian đúng cho hoạt động trong ngày. Qua đó, giáo viên giáo dục các em thực hiện đúng nội quy trường, lớp và sử dụng quỹ thời gian trong ngày phù hợp, có hiệu quả.

    Phương pháp 2 : Phương pháp gợi mở vấn đáp

    Khi sử dụng phương pháp dạy học này, đối với việc hướng dẫn học sinh làm toán bản thân giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiến thức ở dạng hoàn chỉnh mà gợi mở để các em tư duy, tự tìm ra những kiến thức mới, suy luận để hiểu được nội dung của bài học.

    Ví dụ : Đối với bài tập 4/ SGK trang 60: Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở. Hỏi cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    Khi dạy bài tập này giáo viên đã sử dụng hệ thống câu hỏi như sau :

    – Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết : Cô giáo có 63 quyển vở, cô đã phát cho học sinh 48 quyển vở.

    – Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi : Cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ?

    – Để biết cô giáo còn bao nhiêu quyển vở ta làm như thế nào ?

    Từ hệ thống câu hỏi gợi mở, học sinh tư duy và trả lời được cách làm bài toán (lấy 63 – 48) thông qua đó sẽ hiểu và nắm được cách giải của bài toán. Hình thức hỏi – đáp giữa giáo viên – học sinh giúp giáo viên nhận biết được việc tiếp thu bài của các em trong lớp và kịp thời uốn nắn, có biện pháp hỗ trợ kịp thời để các em cùng tiến bộ.

    Phương pháp 3 : Phương pháp luyện tập

    Luyện tập có một ý nghĩa quan trọng đặc biệt với môn Toán. Môn Toán là một môn học công cụ, được sử dụng rộng rãi trong các môn khoa học khác và trong đời sống. Học toán không chỉ để lĩnh hội một tri thức mà điều quan trọng hơn là phải biết vận dụng những tri thức đã học, rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo và đặc biệt là những phương thức tư duy cần thiết. Phương pháp luyện tập được sử dụng rộng rãi trong hoạt động dạy học của giáo viên, luyện tập ngay cả trong quá trình truyền thụ tri thức ; vừa giảng, vừa rèn luyện chính là đặc điểm của bộ môn Toán. Vận dụng giải các bài tập sau khi học xong lý thuyết ; giải các bài tập có nội dung thực tế ; giải các bài tập toán tổng hợp đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo các tri thức, kĩ năng đã học, đã biết.

    Ví dụ : Đối với bài : Ngày, tháng (SGK/79).

    Sau khi dạy cho học sinh nắm ngày tháng trong một tờ lich của tháng 11 trong sách giáo khoa, giáo viên tiến hành cho các em là các bài tập vận dụng 1,2. Tiếp theo giáo viên cho học sinh luyện tập thêm bằng cách điền các ngày còn thiếu trong tháng 12 của bài tập 2, rồi đặt thêm hệ thống câu hỏi nâng cao hơn : “Thứ bảy tuần này là ngày 27 thì thứ bảy tuần trước là ngày bao nhiêu ?” Qua đó các em hiểu và vận dụng xem được ngày, tháng trên tờ lịch tháng 12 mà giáo viên đã chuẩn bị.

    Phương pháp 4 : Phương pháp dạy học phân hóa nội tại

    Học sinh trong một lớp, vừa có sự lựa chọn và sắp xếp, vừa có sự khác nhau về phát triển nhân cách, trong đó sự giống nhau là cơ bản. Nhưng bên cạnh đó do nhu cầu xã hội, môi trường sống của gia đình dẫn đến các em cũng có sự khác nhau nhiều về nhận thức. Đối với học sinh lớp tôi, tỷ lệ học sinh người đồng bào chiếm hơn 90% học sinh trong lớp, trong số đó có khoảng 40% các em theo kịp tiến độ tiếp nhận kiến thức của các em người Kinh. Chính vì vậy trong quá trình dạy học sinh môn Toán giáo viên tiến hành phân hóa đối tượng học sinh theo từng dạng bài tập.

    Ví dụ : Bài Luyện tập chung (SGK/105)

    Đây là bài tập ôn lại các dạng toán đã học về bảng nhân, tính giá trị biểu thức, đường gấp khúc và độ dài đường gấp khúc nên khi dạy bài này giáo viên dạy theo phương pháp phân hóa đối tượng học sinh như sau :

    – Đối với các em học sinh còn hạn chế về kiến thức Toán, giáo viên cho các em làm bài tập 1, 3, 5. Các em phải học thuộc được bảng nhân và vận dụng vào làm được bài tập 1 và nhận biết được về đường gấp khúc và cách tính độ dài đường gấp khúc, giúp các em rèn kĩ năng cộng các số.

    – Đối với đối tượng học sinh khá giỏi sau khi các em làm xong những bài tập theo chuẩn kiến thức, giáo viên cho các em làm thêm bài tập 2 hoặc có thể ra một số bài tập vận dụng nhằm phát triển từ duy nhận thức cho các em :

    + Tìm giá trị của M : 5 x 4 + 12 < 9 x 5 – M < 8 x 3 + 10

    + Mẹ có 46 cái kẹo, mẹ cho em 12 cái và cho anh 10 cái. Hỏi mẹ còn lại bao nhiêu cái kẹo ?

    Phương pháp 5 : Phương pháp kiểm tra, đánh giá

    Kiểm tra, đánh giá là một hình thức nhằm phát hiện những thiếu sót của học sinh và giáo viên trong quá trình dạy và học. Kiểm tra, đánh giá phải được thực hiện thường xuyên trong mỗi tiết học, theo định kì. Từ đó, giúp giáo viên và học sinh có kế hoạch dạy – học phù hợp.

    Ví dụ : Vào đầu tiết học tôi thường gọi học sinh lên làm lại bài cũ để nắm bắt bắt tình hình tiếp thu bài ở tiết trước của các em. Sau mỗi tiết dạy giáo viên thường tổ chức cho học sinh củng cố lại kiến thức bằng cách gọi các em lên bảng làm bài tương tự hoặc nêu lại quy tắc, kiến thức trọng tâm của bài học. Việc làm như vậy sẽ giúp giáo viên kiểm tra, nhận xét, đánh giá được quá trình tiếp thu bài của các em. Qua đó, giúp các em khác hiểu sâu nội dung bài học và khắc phục những thiếu sót của bản thân. Từ đó, bản thân có hình thức tổ chức dạy học phù hợp hơn.

    Qua việc kiểm tra sẽ đánh giá hiệu quả của việc nghiên cứu phối hợp một số biện pháp để nâng cao chất lượng môn Toán cho học sinh.

    Biện pháp thứ tư : Một số biện pháp cần làm giúp học sinh học tốt tuyến kiến thức Toán học lớp 2 :

    * Tuyến kiến thức về số học :

    Nội dung chủ yếu về số học trong chương trình môn Toán lớp 2 chủ yếu là cộng, trừ có nhớ trong phạm vi 100 ; bảng nhân, chia trong phạm vi từ 2 đến 5. Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của mạch kiến thức thông qua việc dạy học và tăng cường luyện thực hành, kĩ năng tính toán cho học sinh, song cũng khuyến kích học sinh tính bằng nhiều cách, lựa chọn cách tính cho phù hợp. Học thuộc bảng cộng – trừ, bảng nhân – chia, nắm được các thuật tính sẽ giúp học sinh thực hiện nhanh, thành thạo các kiến thức của môn học và vận dụng vào đời sống thực tiễn có hiệu quả.

    Khi dạy học toán cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100 cho học sinh lớp 2 giáo viên luôn yêu cầu các em tính bằng nhiều cách trong đó vận dụng tính nhẩm để tìm nhanh kết quả.

    Phép cộng :

    Các bài dạng 9 + 5 ; 29 + 5 ; 49 + 25

    Ví dụ : Đối với bài 9 cộng với một số : 9 + 5

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 9 + 5 = 14.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    9

    5

    14

    +

    Viết phép tính theo hàng dọc

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 5 = 4 + 1), sau đó lấy 9 + 1 = 10 viết 1 sang hàng chục, 0 + 4 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị. Với cách làm như vậy các em sẽ nắm được quy luật của phép cộng 9 cộng với một số và lập được bảng cộng và học thuộc nhanh bảng cộng 9 cộng với một số như sau :

    9 + 2 =

    9 + 3 =

    9 + 4 =

    9 + 9 =

    Thông qua việc học thuộc bảng cộng học sinh khắc sâu được kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan và vận dụng kiến thức cơ bản đã học để làm bài tập. Giáo viên cần khuyến kích tìm kết quả bằng nhiều cách, nhận xét đưa ra cách giải nhanh nhất.

    Bài tập 1 (SGK/15)

    9 + 3 = 9 + 6 = 9 + 8 = 9 + 7 = 9 + 4 =

    3 + 9 = 6 + 9 = 8 + 9 = 7 + 9 = 4 + 9 =

    Đối với bài tập này, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào dòng thứ nhất sau khi các em đã học thuộc bảng cộng 9 (9 + 3 = 12, 9 + 6 = 15 ). Dựa vào cách tính nhẩm ở dòng thứ nhất giáo viên hướng dẫn các em làm dòng thứ hai và điền ngay được 3 + 9 = 12 (vì khi đổi chỗ các số hạng trong một tổng thì tổng không thay đổi).

    Bài tập 3 (SGK/ 15)

    9 + 6 + 3 = 9 + 9 + 1 = 9 + 4 + 2 = 9 + 5 + 3 =

    Sau khi các em làm đúng bài tập, giáo viên yêu cầu các em nêu cách làm và chọn cách giải nhanh nhất : 9 + 6 + 3 = 15 + 3 = 18 hay 9 + 9 = 18

    2 9

    5

    34

    +

    Đối với bài 29 + 5 ; 49 + 25 giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng cộng 9 cộng với một số để làm tính cộng

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

    49

    25

    74

    +

    * 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1.

    * 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7.

    Với các bảng cộng khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng cộng và vận dụng vào thực hiện tính cộng có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép trừ :

    Các bài dạng 12 – 8 ; 32 – 8 ; 52 – 28

    Ví dụ : Đối với bài 12 trừ đi một số : 12 – 8

    Trước tiên, giáo viên cho các em thực hiện tính bằng que tính, các em sẽ trả lời được kết quả 12 – 8 = 4.

    Tiếp theo, hướng dẫn các em đặt tính như sau :

    12

    8

    4

    Viết phép tính theo cột dọc

    Dựa vào cách tính này, giáo viên hướng dẫn các em phân tích số ( 8 = 2 + 6), sau đó lấy 12 – 2 – 6 = 10 – 6 = 4 viết 4 ở hàng đơn vị.

    Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện tính theo thao tác sau :

    12 – 8 = (12 + 2) – (8 + 2)

    = 14 – 10 = 4

    Đây là phát hiện cách trừ nhẩm giáo viên đưa ra để giúp học sinh tư duy nhanh : Muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ ; khi thêm vào số trừ bao nhiêu đơn vị để tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị. Với cách tính như vậy các em sẽ vận dụng vào làm được những bài tập khó hơn.

    Bài tập 1 (SGK/52)

    9 + 3 = 8 + 4 = 7 + 5 = 6 + 6 =

    3 + 9 = 4 + 8 = 5 + 7 = 12 – 6 =

    12 – 9 = 12 – 8 = 12 – 7 =

    12 – 3 = 12 – 4 = 12 – 5 =

    Trên cơ sở học thuộc bảng cộng và bảng trừ, các em sẽ dễ dàng điền được kết quả vào phép tính. Thông qua đó các em điền đúng kết quả câu b.

    Dựa vào bảng trừ 12 trừ đi một số các em sẽ vận dụng và làm được các bài tập tiếp theo.

    Đối với bài 32 – 8 ; 52 – 28, giáo viên hướng dẫn các em vận dụng bảng trừ 12 trừ đi một số để làm tính trừ

    32

    8

    24

    Thực hiện 32 – 8 cách 1 :

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    * 3 trừ 1 bằng 2, viết 2.

    Thực hiện 32 – 8 cách 2 nhẩm như sau :

    32 – 8 = (32 + 2 ) – (8 + 2)

    = 34 – 10 = 24

    52

    28

    24

    +

    Thực hiện 52 – 28 cách 1 :

    * 2 không trừ được 8, lấy 12 trừ 8 bằng 4, viết 4, nhớ 1.

    * 2 thêm 1 bằng 3, 5 trừ 3 bằng 2, viết 2.

    Thực hiện 52 – 28 cách 2 nhẩm như sau :

    52 – 28 = (52 + 2 ) – (28 + 2)

    = 54 – 30 = 24

    Với các bảng trừ khác giáo viên cũng tiến hành tương tự. Thông qua đó các em nắm được bảng trừ và vận dụng vào thực hiện tính trừ có nhớ trong phạm vi 100 nhanh nhất.

    Phép nhân – chia:

    Trong chương trình môn Toán lớp 2, phép nhân và chia được học từ 2 đến 5. Đây là cơ sở ban đầu để các em tiếp cận với mạch kiến thức nhân – chia thông dụng trong tuyến kiến thức Toán học. Tôi chủ động cho các em nắm được quy luật của từng bài học rồi hướng dẫn các em cách học thuộc và nhớ lâu kiến thức của các bảng nhân – chia.

    Ví dụ : Bài bảng nhân 2

    Trước tiên, giáo viên cho học sinh nắm 2 x 1 = 2 (2 được lấy 1 lần), tiếp đến là các phép nhân 2 x 2 = 4 ; 2 x 3 = 6. Từ kết quả của các phép nhân trên giáo viên cho học sinh so sánh và nhận biết được tích của phép nhân liền kề hơn – kém nhau 2 đơn vị, rồi từ đó lập bảng nhân 2 thông qua cách trả lời câu hỏi 2 x 4 = 8 ; 2 x 5 = 10 ; . 2 x 10 = 20.

    Sau đó, giáo viên cho học sinh làm các bài tập vận dụng :

    Bài 1,3 (SGK/95)

    Học sinh sẽ dễ dàng tính nhẩm nhanh kết quả sau khi các em đã học thuộc bảng nhân 2. Từ bảng nhân 2 học sinh sẽ điền đúng kết quả khi đếm thêm 2 đơn vị.

    Các bảng nhân khác, giáo viên cũng tiến hành hướng dẫn các em tương tự.

    Ví dụ : Bài bảng chia 2

    Sau khi học sinh đã thuộc bảng nhân 2, giáo viên hướng dẫn các em lập bảng chia dựa vào bảng nhân. Khi các em đã nắm được phép nhân 2 x 6 = 12 thì các em sẽ trả lời được 12 : 2 = 6.

    * Tuyến kiến thức về giải toán có lời văn :

    Giải toán có lời văn được thực hiện chủ yếu là thực hành, luyện tập thường xuyên để ôn tập, củng cố, phát triển vận dụng trong học tập và trong đời sống. Trong quá trình dạy giải toán cho học sinh tôi thường thực hiện như sau :

    – Gọi học sinh đọc đề bài 1, 2 lần.

    – Tìm hiểu đề bài toán thông qua hệ thống câu hỏi : Bài toán cho biết gì ? Bài toán hỏi gì ? Sau khi học sinh trả lời giáo viên tóm tắt bài toán lên bảng.

    – Trước khi giải bài toán giáo viên gọi 1,2 học sinh nêu lại các bước giải một bài toán.

    + Bước 1 : Ghi câu lời giải của bài toán

    + Bước 2 : Viết phép tính của bài toán

    + Bước 3 : Ghi đáp số bài toán

    – Tiếp theo, giáo viên gọi 1,2 học sinh lên bảng giải bài toán.

    Ví dụ : Bài 3 (SGK/30) Lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu bạn trai ?

    – Sau khi gọi 2 em đọc lại đề bài, giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để giúp các em tìm hiểu đề bài toán.

    + Bài toán cho biết gì ? Bài toán cho biết lớp 2A có 15 học sinh gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3 bạn.

    + Bài toán hỏi gì ? Bài toán hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai ?

    – Tiếp đến giáo viên tóm tắt bài toán bằng hình vẽ như sau :

    15 học sinh

    Học sinh gái

    3 học sinh

    Học sinh trai

    ? học sinh

    – Sau khi các em đã nắm được nội dung của bài toán, thông qua tóm tắt tôi hỏi học sinh 1 số câu hỏi gợi mở :

    + Bài toán này thuộc dạng toán nào đã học ?

    + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn.

    + Bài toán thuộc dạng toán ít hơn ta làm như thế nào ?

    + Bài toán về ít hơn ta làm phép tính trừ.

    – Cuối cùng giáo viên gọi 1 em lên bảng làm bài, dưới lớp các em làm vào vở nháp. Trong quá trình học sinh làm bài giáo viên theo dõi và giúp đỡ các em kịp thời.

    Bài giải

    Số học sinh trai của lớp 2A là :

    15 – 3 = 12 (học sinh)

    Đáp số : 12 học sinh

    – Giải bài toán có lời văn các em đã được làm quen ở học kì II của chương trình môn Toán lớp 1. Từ đó sau mỗi bài học luôn có 1 bài toán giải vận dụng giúp học sinh phát triển ngôn ngữ viết trong quá trình học Toán. Lên lớp 2 các em đã thành thạo dần với giải toán có lời văn, khi giáo viên áp dụng các giải pháp trên để giải toán có lời văn đã góp phần nâng cao chất lượng môn Toán của lớp.

    * Tuyến kiến thức về hình học :

    Tuyến kiến thức hình học ở lớp 2 chủ yếu là nhận biết được đường thẳng, đường gấp khúc, hình chữ nhật, hình tứ giác; tính độ dài đường gấp khúc, chu vi hình tam giác, hình tứ giác.

    Khi dạy nhận biết các yếu tố hình học cho học sinh, việc đầu tiên là tập cho học sinh có thói quen đặt ra câu hỏi “tại sao” và tìm cách giải thích làm cho vấn đề được sáng tỏ. Hướng dẫn các em cách trình bày, lập luận thông qua các dạng toán về hình học.

    Hình học về “đoạn thẳng, đường thẳng”.

    Vấn đề “đoạn thẳng, đường thẳng” được giới thiệu ở tiểu học có thể có nhiều cách khác nhau. Trong sách toán 2, khái niệm “đường thẳng” được giới thiệu bắt đầu từ “đoạn thẳng” (đã được học ở lớp 1) như sau:

    A

    B

    – Cho điểm A và điểm B, lấy thước và bút nối hai điểm đó ta được đoạn thẳng AB.

    – Kéo dài đoạn thẳng AB về hai phía, ta được đường thẳng AB

    A

    B

    Nhận biết giao điểm của hai đoạn thẳng:

    Ví dụ: Bài 4 (trang 49)

    A

    B

    C

    D

    O

    Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm nào?

    – Khi chữa bài tôi cho học sinh tập diễn đạt kết quả bài làm bằng lời: “Đoạn thẳng AB cắt đoạn thẳng CD tại điểm O”; “hai đoạn thẳng AB và CD cắt nhau tại điểm O”, hoặc “O là điểm cắt nhau của đoạn thẳng AB và CD”.

    Nhận biết 3 điểm thẳng hàng:

    Ví dụ: Bài 2( trang 73)

    Nêu tên 3 điểm thẳng hàng (dùng thước thẳng để kiểm tra):

    O

    M

    N

    P

    Q

    D

    O

    B

    C

    A

    a)

    b)

    – Giáo viên giới thiệu cho học sinh về ba điểm thẳng hàng (ba điểm phải cùng nằm trên một đường thẳng).

    – Học sinh phải dùng thước kẻ kiểm tra xem có các bộ ba điểm nào thẳng

    hàng rồi chữa bài.

    Ví dụ như:

    a. Ba điểm O, M, N thẳng hàng; Ba điểm O, P, Q thẳng hàng.

    b. Ba điểm B, O, D thẳng hàng; Ba điểm A, O, C thẳng hàng.

    Nhận biết hình chữ nhật, hình tứ giác

    Ở lớp 2, chưa yêu cầu học sinh nắm được khái niệm, định nghĩa hình học dựa trên các đặc điểm, quan hệ các tỷ lệ của hình chỉ yêu cầu học sinh phân biệt được hình ở dạng “tổng thể”, phân biệt được hình này với hình khác và gọi đúng tên hình của nó. Bước đầu vẽ được hình đó bằng cách nối các điểm hoặc vẽ dựa trên các đường kẻ ô vuông (giấy kẻ ô ly)

    Ví dụ: Dạy học b

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán
  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Một Số Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Giảng Dạy Môn Toán Lớp 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Toán Lớp 4.
  • Để Nâng Cao Chất Lượng Môn Ngữ Văn
  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Văn Bậc Thcs
  • Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Toán
  • Biện Pháp Về Công Tác Chủ Nhiệm Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập
  • Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : “Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh.”

    Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm:

    1) Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học)

    2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học

    3) Kết thúc bài học (củng cố bài)

    Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học.

    Phßng gi¸o dôc&®µo t¹o mü ®øc Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn ®Ò tµi S¸ng kiÕn kinh nghiÖm Tªn ®Ò tµi: Mét sè biÖn ph¸p NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP 4 Ng­êi thùc hiÖn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga §¬n vÞ: Tr­êng tiÓu häc §èc TÝn- Mü §øc- Hµ Néi §Ò tµi thuéc lÜnh vùc: M"n To¸n N¨m häc: 2010- 2011 Phòng GD& ĐT Mỹ Đức CỘNG HOÀ Xà HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM Trường TH §èc TÝn Độc lập -Tự do- Hạnh phúc **************** ĐỀ TÀI s¸ng kiÕn kinh nghiÖm I- SƠ YẾU LÝ LỊCH Hä vµ tªn: Bïi ThÞ TuyÕt Nga Ngµy, th¸ng, n¨m sinh: 1966 N¨m vµo ngµnh : 1989 Chøc vô: Gi¸o viªn §¬n vÞ c"ng t¸c: Trường Tiểu học §èc TÝn - Mü §øc - Hµ Néi Tr×nh ®é chuyªn m"n: Đại học HÖ ®µo t¹o: Từ xa Bé m"n gi¶ng d¹y: Chủ nhiệm lớp 4A Tr×nh ®é chÝnh trÞ : Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp tr­êng II- TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY MÔN TOÁN LỚP4 NĂM HỌC: 2010-2011 A. LÝ DO CHỌN ĐÊ TÀI Lời Bác dạy: " Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" Đúng vậy, thực hiện lời Bác dạy: Giáo dục học sinh phát triển toàn diện ngay từ cấp Tiểu học làm nền tảng cho những lớp học, cấp học sau này chính là nhiệm vụ của giáo viên, nhà trường bậc Tiểu học. Các em học sinh, những mầm non hôm nay là chủ nhân của thế kỷ XXI- những con người thông minh, dí dỏm, hoạt bát, có ánh sáng của trí tuệ, có tâm hồn trong sáng, lành mạnh. Con người của văn hóa thời đại tiên tiến văn minh. Vậy, để hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học, ngoài việc nắm vững kiến thức, khắc sâu nội dung môn học mà mình giảng dạy, người giáo viên phải có những năng lực sư phạm nhất định. Một trong những năng lực đó là : "Năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập cho học sinh." Để đạt được mục tiêu bài dạy, khi tiến hành dạy bài mới, giáo viên phải thực hiện các hoạt động gồm: Giới thiệu bài (cách bắt đầu bài học) 2)Hướng dẫn tìm hiểu nội dung bài; tổ chức cho học sinh rèn luyện các kỹ năng tương ứng qua việc lựa chọn và sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học qua việc tổ chức hình thức dạy học 3) Kết thúc bài học (củng cố bài) Kết quả học tập của học sinh đạt được ở mức độ nào phụ thuộc rất lớn vào việc hướng dẫn học sinh học tập trên lớp của giáo viên. Vậy giáo viên phải làm gì? Làm như thế nào để tổ chức và điều khiển cả một quá trình học tập trong một tiết học của học sinh đạt kết quả cao, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, giúp các em học tập một cách tự giác, nhẹ nhàng mà có hiệu quả. Thực hiện điều này, với chương trình thay sách giáo khoa mới ở cấp Tiểu học. Tôi nghiên cứu, tìm tòi và rút ra một số biện pháp trong việc tổ chức và điều khiển hoạt động của học sinh lớp 4 trong một tiết học. B. NỘI DUNG I. KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM: 1/Đối tượng khảo sát: Học sinh lớp 4A Trường tiểu học §èc TÝn. 2/ Thời gian khảo sát: Ngày 16 tháng 9 năm 2010. 3/ Cách tiến hành: Ra đề kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm. 4/ Kết quả: Lớp Sĩ số G K TB Y SL % SL % SL % SL % 4A 20 3 15 6 30 10 50,0 1 5 5/ Nguyên nhân: Từ kết quả trên so với môn Toán mà bản thân các em đạt được ở lớp 1,2,3. Quả thật, đây là điều đáng lo ngại. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi phát hiện ra những nguyên nhân cơ bản sau: -Việc tiếp thu nội dung, kiến thức bài học của học sinh còn hạn chế, nhanh quên. -Việc lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học của giáo viên chưa được hợp lý. -Đồ dùng dạy học để phục vụ minh họa còn ít, chưa phong phú. Giáo viên lựa chọn và sử dụng còn lúng túng, khai thác chưa khoa học. - Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh còn dài dòng. -Những bài mà nội dung, kiến thức cần ghi nhớ không có trong sách giáo khoa nên giáo viên tự soạn còn chưa chuẩn, sát, chưa tập trung vào mục tiêu chính. II. CÁC BIỆN PHÁP THỰC HIỆN: Từ tình hình thực tế ở khối lớp 4 nói chung, lớp 4A nói riêng, với những nguyên nhân nêu trên. Nhiệm vụ đặt ra cho bản thân tôi là: Làm thế nào để học sinh học tập có hiệu quả hơn? Từ đó tôi áp dụng 3 biện pháp để thực hiện như sau: BIỆN PHÁP 1:GIỚI THIỆU BÀI Giới thiệu bài là khâu quan trọng trong tiến trình dạy học. Việc giới thiêu bài một cách hấp dẫn sẽ thu hút sự chú ý của học sinh, tạo hứng thú học tập và khêu gợi sự nỗ lực ở các em trong việc suy nghĩ, tìm tòi khái niệm. Như các môn học khác, môn Toán cũng có nhiều cách để giới thiệu bài học. Giáo viên lựa chọn biện pháp và hình thức dẫn dắt học sinh vào bài học mới sao cho nhẹ nhàng, hấp dẫn nhưng không cầu kì, kéo dài thời gian: gợi mở bằng tranh ảnh, bằng vật thật; cho học sinhthực hiện một ví dụ; diễn giải bằng lời hoặc bằng cách nêu tình huống có vấn đề sẽ lôi cuốn các em vào bài giảng một cách thoải mái. Ví dụ 1: Ví dụ về giới thiệu bằng cách cho học sinh làm ví dụ: Khi dạy bài " Thương có chữ số 0"- Toán 4 -Giáo viên nêu: 9450: 35=? -Học sinh thực hiện phép chia vào bảng con (chia như chia cho số có 2 chữ số) sau đó nhận xét về lượt chia cuối cùng của số bị chia (là 0) và thương( có 0 ở tận cùng: 270). -Giáo viên nhấn mạnh về thương của phép chia này và giới thiệu bài. Cách giới thiệu này phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Học sinh học tập tự giác mà có hiệu quả. Ví dụ 2: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu tình huống có vấn đề: Khi dạy bài "Phân số và phép chia số tự nhiên"-Toán 4. - Giáo viên nêu tình huống: Có 3 cái bánh, chia đều cho 4 bạn. Vậy em có những cách chia nào? Ví dụ 3: Ví dụ về giới thiệu bằng cách nêu yêu cầu. Khi dạy bài "So sánh các số có nhiều chữ số"- Toán 4. - Giáo viên ghi bảng: 99578100000 rồi yêu cầu học sinh điền dấu thích hợp váo chỗ trống và giải thích. Ví dụ 4: Ví dụ về giới thiệu bằng cách bắt đầu bài học một cách trực tiếp bằng một câu hỏi. Khi dạy bài: "Viết số tự nhiên trong hệ thập phân"- Toán 4. - Giáo viên nêu câu hỏi: Khi viết số, tự nhiên ở mỗi hàng có thể viết được mấy chữ số? Cứ mười đơn vị ở một hàng hợp thành mấy đơn vị ở hàng trên tiếp liền nó? -Học sinh trả lời rồi giáo viên dẫn dắt vào bài học. Ví dụ 5: Ví dụ về giới thiệu bằng tranh ảnh hoặc vật thật. Khi dạy bài "Yến, tạ, tấn"- Toán 4. - Giáo viên chuẩn bị cân đồng hồ cân được 100 kg. - Học sinh lần lượt cân xem mình nặng bao nhiêu( một số học sinh đại diện cân) Từ đơn vị ki-lô- gam giáo viên giới thiệu sang đơn vị yến Như vậy, việc giới thiệu bài học tốt rất có ý nghĩa trong tiến trình tổ chức và kết quả giờ dạy Toán 4. BIỆN PHÁP 2:TÌM HIỂU NỘI DUNG BÀI DẠY Để tìm hiểu nội dung bài học đạt kết quả cao. Trong tiết học Toán người giáo viên phải đảm bảo được các nội dung sau: - Biết lựa chọn phương pháp dạy học. - Biết cách đặt câu hỏi, cách nhận xét câu trả lời của học sinh. - Thông báo nội dung dạy học. - Tổ chức dạy học theo nhóm. - Lựa chọn và sử dụng đồ dùng dạy học. - Tổ chức trò chơi trong tiết dạy học Toán. - Đánh giá, ghi điểm. 1)Việc lựa chọn phương pháp dạy học. Khi tiến hành dạy học, người giáo viên có năng lực tổ chức và điều khiển quá trình học tập của học sinh là người biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học một cách hợp lý. Trước sự thay đổi về nội dung dạy học, bám sát mức độ cần đạt được về nội dung, kiến thức chứa đựng bài học. Ví dụ: Khi dạy bài "Giây, thế kỷ"- Toán 4. Giáo viên sử dụng phương pháp luyện tập, thực hành là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp khác (đàm thoại, quan sát, hướng dẫn, giảng giải) để hiểu được mối quan hệ giữa giờ và phút, phút và giây, giữa thế kỷ và năm. Từ đó rút ra kết luận: Dựa vào các đơn vị đo thời gian con người tính được khoảng thời gian từ trước cho đến nay. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp cần phải căn cứ vào lứa tuổi của học sinh, đặc thù của môn học, tính chất của từng bài và điều kiện về cơ sở vật chất và khả năng hướng dẫn của giáo viên. Đối với Toán 4, tôi sử dụng phương pháp dạy học chủ yếu là: a) Phương pháp dạy học bài mới: Khi dạy bài mới tôi hướng dẫn học sinh tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học rồi giúp học sinh sử dụng kinh nghiệm của bản thân hoặc của bạn cùng nhóm để tìm mối quan hệ của vấn đề đó với các kiến thức đã biết. Từ đó tự tìm cách giải quyết. Ví dụ: Khi dạy bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. - Giáo viên nêu: Trong hai phân số và phân số nào lớn hơn? - Học sinh nhận xét đặc điểm của và để nhận ra đó là hai phân số khác mẫu số cần phải so sánh - Vấn đề cần giải quyết. Để giải quyết tôi cho học sinh trao đổi theo nhóm, có thể theo hai phương án: Phương án 1: Lấy hai băng giấy như nhau. Chia băng giấy thứ nhất thành 3 phần bằng nhau, lấy hai phần( tức băng giấy). Chai băng giấy thứ hai thành 4 phần bằng nhau, lấy 3 phần ( tức băng giấy). So sánh độ dài của hai phần lấy đi của hai băng giấy. Phương án 2: Quy đồng mẫu số hai phân số2/3 và 3/4(học sinh đã học quy đồng) = = ; = = . Ví dụ : Sau khi học bài "So sánh hai phân số khác mẫu số"- Toán 4. Học sinh đã thực hành làm các bài tập. Tôi cho các em làm bài toán đố vui: Lan và Hoa cùng quét lớp. Lan quét được lớp học, Hoa quét được lớp học. Vậy bạn nào quét được nhiều hơn? Để tìm kết quả, học sinh phải phát hiện rồi tự giải quyết vấn đề của bài học là: " so sánh hai phân số và " vấn đề này nêu gián tiếp dưới dạng xem ai quét nhiều hơn? b) Phương pháp dạy học các bài luyện tập, luyện tập chung, ôn tập thực hành. - Với các dạng bài này tôi giúp học sinh nhận ra các kiến thức đã học hoặc một số kiến thức mới trong nội dung các bài tập đa dạng và phong phú. Ví dụ: Khi học sinh thực hành tính 2457 x 306. Nếu học sinh quên cách thực hiện, tôi nêu câu hỏi để học sinh nhớ lại đặc điểm của phép nhân dạng: nhân với số có ba chữ số, thừa số thứ hai có hàng chục là 0. Khi đặt tính không viết tích riêng thứ hai, tích riêng thứ ba viết lùi sang trái hai chữ số so với tích riêng thứ nhất. - Giúp học sinh tự luyện tập, thực hành theo khả năng của từng học sinh. Ở phương pháp này tôi quan tâm giúp học sinh làm bài đúng, trình bày gọn, rõ ràng và cố gắng tìm được cách giải hợp lí. - Tạo ra sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các đối tượng học sinh. Thông qua việc giúp đỡ bạn, bản thân các em càng nắm chắc, hiểu sâu kiến thức của bài học, càng có điều kiện hoàn thiện các năng lực của bản thân. - Tập cho học sinh có thói quen tự kiểm tra, đánh giá kết quả luyện tập, thực hành; có thói quen tìm nhiều phương án và lựa chọn phương án hợp lí nhất để giải quyết vấn đề của bài tập, không nên thỏa mãn với các kết quả đã đạt được. Ví dụ: Khi giải bài toán: Thương của phép chia 67200: 80 là số có mấy chữ số? A. 5chữ số B. 4chữ số C. 3chữ số D. 2chữ số Đối với dạy số học trong Toán 4 phương pháp chủ yếu đối với các bài bổ sung, hoàn thiện, tổng kết về số tự nhiên. Tôi sử dụng phương pháp tổ chức hướng dẫn học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài: "Phép cộng phân số" (tiếp theo)- Toán 4. Cho học sinh nêu ví dụ rồi tôi ghi bảng + sau đó yêu cầu học sinh thực hiện. Học sinh sẽ lúng túng. Lúc này tôi hướng dẫn cho học sinh nhận ra mẫu số của hai phân số này khác nhau, để cộng thì cần phải quy đồng. Đến đây học sinh có thể thực hiện dễ dàng theo trình tự: Quy đồng mẫu số rồi cộng hai phân số. Đối với các bài toán có lời văn tôi để học sinh cố gắng tự tìm ra phương pháp giải bài toán với các bước: Bước 1: Phân tích đề toán, tóm tắt đề. Bước 2: Phân tích các mối quan hệ giữa các " dữ kiện" đã cho với "kết luận" để tìm ra cách giải bài toán. Bước 3: Trình bày bài giải bài toán đầy đủ, rõ ràng. Để tránh nhàm chán khi giải bài toán có lời văn tôi thay đổi phương pháp cho học sinh đóng vai người bán hàng để giải toán. Ví dụ: Cô cần may 5 cái áo, mỗi cái áo may hết 1m 2dm. Hãy bán số vải cô cần để may số áo đó. Cô đưa 3 tờ giấy bạc mỗi tờ là 50000 đồng. Tính và trả lại số tiền dư (biết rằng1m vải giá 20000đồng) - Dành cho học sinh khá, giỏi Hoặc cho học sinh đóng vai bác nông dân. Ví dụ: Ba bác nông dân cấy lúa trên một thửa ruộng hình chữ nhật có chiều dài 54m, chiều rộng kém chiều dài 18m. Hỏi trung bình một bác nông dân cấy được bao nhiêu mét vuông ruộng? - Dành cho học sinh trung bình, khá. Vậy: Để tổ chức cho học sinh học tập trong một tiết Toán thật tốt, giáo viên cần phải xác định rõ mục tiêu, đối tượng dạy học để từ đó lựa chọn phượng pháp dạy học phù hợp nhằm đạt mục tiêu đó. 2)Cách đặt câu hỏi, nhận xét câu trả lời của học sinh. a/ Trong quá trình dạy học, giáo viên thường đặt nhiều câu hỏi cho học sinh. Đó là những câu hỏi mà giáo viên không phải để biết mà là để thực hiện việc dạy học của mình. Mục đích của việc đặt câu hỏi này là gây hứng thú, gợi trí tò mò khoa học của học sinh để tóm tắt những điểm chính hoặc để đánh giá sự tiến bộ của học sinh. Vì vậy, mặc dù hằng ngày giáo viên đặt ra không biết bao nhiêu câu hỏi nhưng không phải ai cũng nắm được kĩ thuật và có nghệ thuật đặt câu hỏi. Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh giải bài toán: Một mảnh đất hình chữ nhật có chu vi bằng 240m, chiều rộng bằng chiều dài. Tính diện tích mảnh vườn đó? Tôi dùng hệ thống câu hỏi như sau: Câu hỏi tìm dữ kiện: -Bài toán cho ta biết gì? -Bài toán yêu cầu ta phải làm gì ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Muốn tính diện tích hình chữ nhật ta làm như thế nào ? Câu hỏi đòi hỏi suy luận : -Muốn tính chiều rộng hoặc chiều dài của mảnh vườn ta làm cách nào ? Câu hỏi đòi hỏi sự nhớ lại : -Nêu những đặc điểm giống nhau của hình chữ nhật và hình bình hành ? Câu hỏi yêu cầu so sánh : -Viết các phân số; ;; ; theo thứ tự từ bé đến lớn? Câu hỏi yêu cầu học sinh tìm hiểu nguyên nhân: -Viết một phân số lớn hơn 1, một phân số bằng 1, giải thích vì sao? Câu hỏi yêu cầu học sinh hệ thống hóa, khái quát hóa kiến thức: -Tìm 3 số tự nhiên khác nhau, biết số trung bình cộng của ba số là 2. Câu hỏi yêu cầu vận dụng kiến thức đã học: -Để tính nhanh bài toán sau: 24 x 46 + 38 x 41+ 46 x 48 + 5 x 38. Em đã sử dụng tính chất gì của phép tính? b/ Khi nhận xét câu trả lời của học sinh tôi không nhận xét những câu trả lời của học sinh phát biểu mà không được chỉ định mà xác định một cách rõ ràng những câu trả lời đúng để tất cả học sinh đều biết. Có thể xác nhận bằng điệu bộ, cử chỉ mà không cần dùng ngôn ngữ nói. Khi học sinh trả lời chưa đúng, cần uốn nắn chỗ sai một cách cặn kẽ hoặc hướng dẫn học sinh tìm ra chỗ chưa đúng. Khi học sinh trả lời đúng không nên gọi nhiều học sinh khác nhận xét câu trả lời của bạn. 3)Thông báo nội dung học tập. Trong khi tổ chức và hướng dẫn học sinh học tâp, giáo viên sử dụng nhiều dạng ngôn ngữ khác nhau: ngôn ngữ nói; ngôn ngữ viết; ngôn ngữ "ẩn"Ngôn ngữ tự nhiên được dùng để phát biểu vấn đề, diễn đạt suy luận ( khi cần thiết), bằng lời nói hay chữ viết. Đặc biệt ở tiểu học, khái niệm toán học có thể diễn đạt bằng nhiều cách. Ví dụ: Khái niệm mét vuông có thể diễn đạt: - Bằng kí hiệu: "m2". - Bằng chữ viết: " mét vuông". - Bằng kí hiệu âm thanh: "đọc: mét vuông" Tuy nhiên ngôn ngữ nói có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc dạy học của giáo viên. Cách dùng từ chính xác, cách phát âm rõ ràng, chuẩn xác tiếng phổ thông có tác dụng lớn trong việc thông báo nội dung học tập cho học sinh. Ngôn từ dễ nghe, dễ hiểu của giáo viên sẽ giúp học sinh dễ nhớ và nhớ lâu nhiều điều mà giáo viên truyền đạt. Việc thông báo nội dung học tập cho học sinh của giáo viên được tiến hành bằng nhiều hình thức: - Ghi lên bảng những nội dung học tập chính. - Giảng giải một vấn đề phức tạp. - Nhấn mạnh những điểm quan trọng. - Đưa ra những ví dụ để nhận xét. - Giải thích, hướng dẫn học sinh từng bước lĩnh hội nội dung cần thông báo. - Bổ sung, sửa đổi những câu trả lời của học sinh Trong các hình thức thông báo trên, ghi bảng là hình thức thể hiện rõ trình độ hiểu biết và việc làm khoa học của giáo viên. Những gì mà giáo viên ghi lên bảng thì đó là nội dung học tập chính mà học sinh cần lĩnh hội và cần được khắc sâu. Ví dụ: Khi dạy bài: "Thương có chữ số 0" tôi ghi bảng như: Thứngày.tháng . năm Toán: Thương có chữ số 0 a) Thương có chữ số 0 ở tận cùng. 9450 : 35 = ? 9450 35 245 270 000 9450 : 35 = 270 b)Thương có chữ số 0 xen giữa. 2448 : 24 = ? 2448 24 0048 102 00 2448 : 24 = 102 * L ưu ý: VD(b ) Mỗi lần hạ một chữ số ở số bị chia xuống để chia mà nhỏ hơn số chia thì ghi 0 vào thương rồi hạ chữ số tiếp theo xuống để chia. 4)Tổ chức dạy học theo nhóm - Trong tiết học Toán việc tổ chức cho học sinh hoạt động theo nhóm là rất cần thiết.Hoạt động nhóm trong tiết Toán giúp các em tự tìm tòi, chiếm lĩnh kiến thức mới, có tác dụng gợi mở học sinh sử dụng các kiến thức và kĩ năng về môn Toán mà các em đã được lĩnh hội và rèn luyện để diễn đạt những ý kiến của mình, tham gia một chuỗi các hoạt động học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, được khuyến khích để trao đổi các kinh nghiệm và được tạo cơ hội làm việc hợp tác với nhau. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học là ham hiểu biết, ưa hoạt động, giàu trí tưởng tượng cho nên khi dạy học tôi luôn gợi trí tò mò, tránh đơn điệu về hình thức hoạt động. Còn đặc điểm nhận thức của học sinh là đi từ tư duy cụ thể đến tư duy trừu tượng, cho nên khi tổ chức dạy học theo nhóm trong môn Toán tôi chia thành các nhóm từ 2 đến 6 học sinh: theo tổ, dãy, bàn, cặpTùy theo mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập. Ví dụ: -Tiết dạy về kiến thức mới tôi chia theo nhóm : Bàn. -Tiết dạy luyện tập tôi chia theo nhóm: 4 học sinh. -Tiết dạy thực hành tôi chia theo nhóm: Tổ. -Tiết dạy ôn tập tôi chia theo nhóm:2; 4 học sinh. Chia nhóm cũng có nhiều cách khác nhau. Trong tiết Toán tôi thường chia theo các cách: Cách 1: Các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc có chủ định( nhóm cùng trình độ, nhóm theo sở trường) Ví dụ: - Nhóm chia ngẫu nhiên, nhiều trình độ: Cho học sinh đếm từ 1 đến 6 vòng quanh lớp. Các nhóm được thành lập bởi các em có cùng số hoặc lập một bộ từ 1 đến 6. Hoặc phát cho mỗi học sinh một tấm bìa có vẽ biểu tượng, học sinh tìm bạn có cùng biểu tượng hợp thành một nhóm. - Nhóm hình thành có chủ định: Giáo viên lần lượt đọc tên học sinh vào từng nhóm. Giáo viên chia nhóm cố định và đặt tên cho mỗi nhóm. Khi có lệnh của giáo viên, các em tự giác thành lập nhóm như nhóm tổ, dãy. - Chia nhóm tình bạn: Học sinh được phép chọn bạn lập thành một nhóm với số người do giáo viên định trước. Cách 2: Các nhóm hoạt động trong

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Môn Hóa Học Lớp 8
  • Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Hóa Ở Thcs Skkn 2014 Hoa Nhung Doc
  • Đề Tài Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy Bộ Môn Hóa Học Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Học Tập Hóa Học Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Cho Học Sinh Yếu Kém Môn Hóa Học!
  • Biện Pháp Quản Lý, Chỉ Đạo Nhằm Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học
  • Chuyên Đề: Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4+5

    --- Bài mới hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Skkn Hung Doc
  • Một Số Biện Pháp Dạy Học Chủ Đề Vật Chất Năng Lượng Môn Khoa Học Lớp 5
  • 8 Biện Pháp Hay Nâng Cao Chất Lượng Môn Khoa Học Ở Tiểu Học
  • Huấn Luyện An Toàn Khi Làm Việc Trên Cao
  • Chứng Chỉ An Toàn Lao Động: Các Biện Pháp An Toàn Lao Động Khi Làm Việc Trên Cao Chính Xác Nhất !!!
  • Nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử I. Đặc điểm, tình hình

    Thuận lợi : – Hầu hết GV đã nắm được kiến thức về môn Lịch sử phục vụ cho việc dạy học của mình.

    – Đa số HS yêu thích môn Lịch sử, tích cực chủ động chiếm lĩnh tri thức.

    – Đồ dùng dạy học, trang thiết bị để dạy học môn Lịch sử khá đầy đủ.

    Khó khăn : Chất lượng dạy học môn Lịch sử còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với đặc trưng của môn Lịch sử. Dạy học còn nặng về giảng giải lí thuyết, GV nêu câu hỏi HS trả lời. HS tiếp thu bài một cách thụ động, dẫn đến chán học.

    – Khi dạy học, GV chưa phân ra từng dạng bài để có phương pháp dạy học phù hợp với từng dạng.

    II. Mục tiêu :

    – Đổi mới phương pháp dạy môn Lịch sử

    – Phương pháp dạy học môn Lịch sử theo các dạng bài.

    III. Nội dung, biện pháp

    a. Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập:

    Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được cácc yêu cầu sau:

    + Lời dẫn phải súc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

    + Phải đề cập tới cốt lỏi của bài học

    + Tạo ấn tượng, gợi trí tò mò của học sinh

    b.Tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu.

    Việc tổ chức cho học sinh tiếp cận các nguồn sử liệu (Kênh chữ, kênh hình) trong SGK, giúp các em có những hình ảnh cụ thể về sự kiện, hiện tượng lịch sử. Đây là khâu cực kỳ quan trọng của quá trình nhận thức lịch sử. Bởi nếu không dựa trên các hình ảnh của sự kiện thì học sinh không thể nhận thức được tư duy. Ở bước này có thể thực hiện bằng các biện pháp sau:

    + Giáo viên trình bày các sự kiện, sự việc, hiện tượng bằng phương pháp tường thuật, miêu tả, kể chuyện kết hợp với các phương pháp trực quan để học sinh thấy rõ được hình ảnh quá khứ.

    + Học sinh làm việc với các sự kiện được trình bày trong SGK.

    c.Tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập:

    Giáo viên tổ chức cho học sinh làm việc, tự giải quyết các nhiệm vụ học tập mà bản thân đã nêu ở đầu giờ học hoặc đầu mỗi phần bài học.

    d. Kết luận vấn đề

    Giáo viên cho học sinh nhận xét đánh giá những ý kiến cá nhân hoặc nhóm xem các bạn nói đúng hay sai, cần bổ sung thêm gì không ? Sau đó giáo viên kết luận:

    + Khẳng định những kết quả học tập của những học sinh.

    + Chốt lại những vấn đề cần nắm chắc của bài học

    Phương pháp dạy học môn Lịch sử theo các dạng bài.

    a., Dạng bài có nội dung về tình hình kinh tế – chính trị – văn hóa – xã hội…

    ( Trong chương trình lớp 5 gồm các bài: Bài 4; bài 12; bài 13; bài 16; bài 19; bài 21; bài 27 và bài 2 . Chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 1; bài 2; bài 3; bài 10; bài 13; bài 17; bài 18; bài 19; bài 21; bài 22; bài 23; bài 26; bài 27; bài 28. )

    Dạng bài này có nhiều ở phần lịch sử lớp 5, nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội ở nước ta sau mỗi thời kỳ(giai đoạn nhất định). Để dạy tốt dạng bài này giáo viên cần:

    – Phải mô tả được: Tình hình nước ta (cuối thời kỳ hay sau thời kỳ nào đó) như thế nào? ( tình cảnh đất nước, chính quyền, cuộc sống của nhân dân như thế nào?)

    – Trong tình cảnh đó chính quyền (hay nhân dân, nhân vật lịch sử) đã làm gì, làm như thế nào?

    – Kết quả của việc làm đó.

    – Vì vậy, khi dạy loại bài này giáo viên triệt để sử dụng phương tiện trực quan: tranh ảnh, kênh hình kết hợp với mô tả sinh động nhằm tái tạo hình ảnh sinh động về sự kiện, hiện tượng, rèn luyện kỹ năng mô tả, nhận xét, đánh giá, so sánh, cảm nhận và liên hệ để học sinh thấy rõ giá trị văn hoá nghệ thuật trong đời ssống tinh thần.

    b) Dạng bài có nội dung về nhân vật lịch sử: ( Trong chương trình SGK- Lịch sử lớp 5, Dạng bài này có ở các bài: bài 1; bài 2; bài 5; bài 6. Chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 7; bài 9; bài 12; bài 15; ).

    Ở dạng bài này, trong chương trình Tiểu học lớp 5 không giới thiệu Tiểu sử của các nhân vật, mà thông qua những sự kiện cơ bản trong sự nghiêp của các nhân vật để làm sáng tỏ lịch sử dân tộc. Như vậy, nhân vật lịch sử bao giờ cũng gắn liền với sự kiện lịch sử. Giáo viên phải biết khai thác tốt các sự kiện để làm nổi bật những hoạt động và công lao to lớn của nhân vật.

    Khi dạy những bài này giáo viên cần lưu ý một số điểm cơ bản sau:

    – Mỗi một bài đều có hình ảnh ( Tranh vẽ hoặc chân dung) nhân vật lịch sử để giúp học sinh biết những diện mạo cũng như hình thức bên ngoài của nhân vật. Giáo viên cần sử dụng và khai thác tốt những bức ảnh này để phục vụ nội dung bài học.

    – Khi trình bày về nhân vật, phải cho học sinh biết nhân vật lịch sử đó là người như thế nào? (Sinh ra khi nào? Ở đâu? làm gì? có đặc điểm, tính cách gì nổi bật…)

    – Phải mô tả và tường thuật (hay kể lại) những hoạt động của họ để làm cơ sở cho việc đánh giá khách quan, công lao của các nhân vật đó đối với lịch sử

    – Trên cơ sở khai thác những nội dung đó, giáo viên tiến hành giáo dục tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh về lòng biết ơn, sự khâm phục, kính trọng đối với nhân vật lịch sử.

    Thông thường đối với dạng bài này giáo viên nên sử dụng các phương pháp như kể chuyện, sắm vai …. Giáo viên có thể vừa là người dẫn chuyện, trực tiếp kể chuyện có thể là người dẫn dắt, gợi ý giúp học sinh nắm vững cốt truyện. Ngoài ra có thể cho học sinh sắm vai.

    c.Dạng bài có nội dung đề cập tới các cuộc khởi nghĩa, kháng chiến, chiến thắng, chiến dịch, phản công, tiến công …..

    Đây là loại bài có nội dung hấp dẫn, lôi cuốn sự chú ý của học sinh. Do đó, giáo viên phải tái hiện sự kiện sinh động cụ thể. Sử dụng câu hỏi về sự phát sinh của sự kiện: Nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp hay hoàn cảnh,bối cảnh lịch sử của sự kiện. Đây là một đặc điểm tư duy lịch sử cần hình thành từng bước cho học sinh.

    Mặt khác, đối với loại bài này phần quan trọng nhất là trình bày diễn biến, phát triển của sự kiện lịch sử. Vì vậy phải cho học sinh nắm vững mốc thời gian bắt đầu diễn ra sự kiện, địa danh, nhân vật lịch sử, các đường tiến công, diễn biến trận đánh …… bằng cách nêu vấn đề, câu hỏi …..

    Sau phần diễn biến là hướng dẫn học sinh tìm hiểu kết quả sự kiện đó và rút ra ý nghĩa lịch sử, bài học kinh nghiệm. Đối với loại bài này giáo viên giúp học sinh nhận thức mối quan hệ nhân quả của sự kiện, thắng lợi hay thất bại đều có ảnh hưởng nhất định đối với lịch sử.

    Với dạng bài này (trong sách giáo khoa lớp 5 là các bài: Bài 3, bài 7, bài 8, bài 9, bài 14, bài 15, bài 17, và bài 20. Trong chương trình lớp 4 gồm các bài: Bài 4; bài 5; bài 8; bài 11; bài 14; bài 16;bài 24; bài 25;) thì miêu tả, tường thuật kết hợp với trực quan là những phương pháp chủ đạo. Giáo viên có thể tổ chức cho học sinh tự tìm hiểu về tư liệu lịch sử rồi mô tả, tường thuật lại diễn biến của sự kiện, giáo viên có vai trò hổ trợ, bổ sung giúp học sinh tái hiện lại lịch sử, xây dựng lại biểu tượng lịch sử một cách hoàn chỉnh hơn.

    Tóm lại, ở dạng bài này, GV cần tìm hiểu theo 4 phần: Nguyên nhân, diễn biến, kết quả và ý nghĩa.

    d.Dạng bài ôn tập, tổng kết

    Đây là loại bài học nhằm hệ thống hoá và cũng cố lại những kiếm thức đã học cho học sinh sau mỗi một thời kỳ ( giai đoạn lịch sử), giúp các em nắm vững kiến thức cơ bản, nhận thức lịch sử một cách sâu sắc, toàn diện hơn. Đối với loại bài này giáo viên cần chuẩn bị chu đáo cho học sinh, lựa chọn phương pháp phù hợp để mạng lại hiệu quả tiết dạy cao. Đặc biệt giáo viên dựa vào câu hỏi trong SGK, thiết kế hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị trước, Trong tiến trình dạy học, giáo viên phải thu hút học sinh vào công việc, phát huy cao nhất tính tích cực của học sinh trong việc trao đổi những câu hỏi mà giáo viên đặt ra, thực hiện các công việc như vẻ sơ đồ, lập bảng niên biểu, thống kê, tìm các dẫn chứng…. Đây là yêu cầu quan trọng để phát triển tư duy, rèn luyện kỷ năng rèn luyện bộ môn.

    Thông thường đối với dạng bài ôn tập, tổng kết, giáô viên vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp (phân tích, tổng hợp, khái quát hoá) kết hợp với vấn đáp – tìm tòi, tổ chức làm việc theo nhóm. Tuỳ từng phần nội dung cụ thể mà giáo viên lựa chọn phương pháp cho phù hợp. Trong đó, hoạt động nhóm, báo cáo kết quả là những phương pháp chiếm nhiều thời gian nhất ngoài ra cỏ thể sử dụng trò chơi lịch sử.

    Người thực hiện: Trần Thị Thanh Huyên

    Trần Thị Thanh Huyền @ 23:03 23/10/2018

    Số lượt xem: 2346

    --- Bài cũ hơn ---

  • Skkn Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Lịch Sử Lớp 4 Theo Mô Hình Dạy Học Mới Vnen
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn.doc
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Giải Pháp Để Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Lớp 8 Ở Trường Thcs
  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Địa Lý Của Trường Thpt Lê Quý Đôn
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm: Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán Lớp 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Lớp 1
  • Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 2
  • Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Skkn Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Môn Toán Cho Học Sinh Lớp 2
  • Tphcm: Bàn Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Lớp 1 Theo Sgk Mới
  • c để nâng cao chất lượng môn Toán đi lên. Qua đây tôi nhấn mạnh thêm khó khăn: Còn nhiều gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con cái. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn và trình độ học vấn chưa cao nên chưa chú ý đến việc học hành của con. Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn Toán. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của thấy thành của mình. Cho nên sau khi học xong bài, các em chưa nắm bắt được lượng kiến thức thầy giảng rất nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh. II.3. Giải pháp, biện pháp a. Mục tiêu của giải pháp, biện pháp Tôi đưa ra các biện pháp nhằm các mục tiêu cụ thể như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 8 - Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thông qua việc ứng dụng công nghệ thông tin, áp dụng trò chơi học tập nhằm kích thích sự hứng thú cho học sinh. - Đầu tư nội dung và hình thức cũng như phương pháp phù hợp trong các tiết ôn luyện nhằm củng cố và nâng cao kiến thức cơ bản cho học sinh. - Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động bổ ích khác. Giúp học sinh yêu thích môn Toán hơn, luôn chủ động tiếp thu kiến thức. b. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp, giải pháp b.1. Đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Khác với cách dạy truyền thống "Thầy giảng - trò nghe", phương pháp dạy học hiện tại là "Thầy hướng dẫn - Trò tự tìm tòi khám phá để chiếm lĩnh kiến thức". Phương pháp mới này kích thích tính chủ động, khả năng tìm tòi, tư duy sáng tạo cho người học. Từ đó, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức lâu hơn. Môn Toán là môn dễ gây nhàm chán và áp lực thì phương pháp này là thích hợp nhất. Song vai trò của người giáo viên phải là người hướng dẫn, định hướng, giúp đỡ kịp thời để các học sinh đi đúng mục tiêu, nội dung trọng tâm của bài học. Để thực hiện tốt những biện pháp này tôi đã thực hiện những việc sau đây: * Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học môn Toán Đối với học sinh lớp 1, việc sử dụng công nghệ thông tin để giảng dạy mang lại sự mới lạ, khích thích sự tò mò, hứng thú và phù hợp nhất với tư duy trực quan cụ thể của học sinh. nhiên trong phạm vi 10, 20, 100,..; nhận biết các hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, hình tam giác,Đối với các nội dung trên, tôi chọn một số bài cơ bản để tiến hành dạy bằng giáo án điện tử. + Đối với các bài nhận biết các số từ 1 đến 10, tôi sẽ chọn một bài điển hình để dạy bằng giáo án điện tử giúp dễ hình dung và nắm bắt kiến thức. Ví dụ: Bài: Số 6, trang 26 Bước 1: Nghiên cứu kĩ mục tiêu, nội dung bài học để đưa ra các hình thức dạy: Phần bài cũ, phần bài mới, phần luyện tập, phần củng cố Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 9 Bước 2: Tiến hành soạn giáo án (lưu ý bài soạn không quá màu mè, nên hướng sự chú ý của học sinh vào nội dung chính trong bài, hiệu ứng đơn giản, không rườm rà, mất thời gian) Bước 3: Chuẩn bị máy chiếu, màn chiếu, loa các thiết bị phục vụ cho việc dạy. Bước 4: Tiến hành dạy theo ý tưởng bài soạn (Cần lồng ghép một trò chơi học tập ở phần củng cố hoặc phần bài cũ để tạo không khi sôi nổi cho tiết học) Bước 5: Kiểm tra việc nắm kiến thức của học sinh, tổng kết, rút kinh nghiệm cho bài sau. Thông qua bài dạy học sinh định hình được số 6 thông qua số lượng và hình ảnh trực quan ma các em được nhìn thấy rõ (có 6 bạn, 6 con bướm, 6 chùm nho, 6 bít chì,) Ví dụ: Bài Phép cộng trong phạm vi 9 Giáo viên cũng chuẩn bị theo 5 bước như trên, nhưng trong quá trình dạy giáo viên cần sử dụng các thao tác trên máy thành thạo, nhuần nhuyễn để khỏi gián đoạn quá trình tư duy của học sinh. * Áp dụng các trò chơi học tập vào các tiết học Trong quá trình dạy học môn Toán, việc sử dụng trò chơi toán học có nhiều tác dụng như : - Giúp học sinh thay đổi loại hình hoạt động trong giờ học, làm cho giờ học bớt căng thẳng, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu. Học sinh tiếp thu kiến thức nhẹ nhàng, tạo hứng thú học tập. - Kích thích sự tìm tòi, tạo cơ hội để học sinh tự thể hiện mình. - Thông qua trò chơi, học sinh vận dụng kiến thức năng nổ, hoạt bát, kích thích trí tưởng tượng, trí nhớ. Từ đó phát triển tư duy mềm dẻo, học tập cách xử lý thông minh trong những tình huống phức tạp, tăng cường khả năng vận dụng trong cuộc sống. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 10 Khi dạy học môn Toán, tôi thường áp dụng trò chơi vào phần khởi động hoặc + Trò chơi: Đoàn kết - Mục đích: Rèn kĩ năng tính nhẩm nhanh, thích hợp với những bài dạy phép cộng, trừ các số trong phạm vi 10. - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Tôi hô: "Đoàn kết- Đoàn kết", học sinh hỏi "Kết mấy ? - Kết mấy ?" Tôi hô: "Kết 2 + 4" , 1 + 7, 9 - 5 , Học sinh phải nhẩm nhanh kết quả để kết thành nhóm theo yêu cầu. Kết thúc cuộc chơi, ai nhanh thì được tuyên dương, ai chậm thì bị phạt theo yêu cầu của lớp. Trò chơi này tôi dùng vào những tháng đầu của học kì I, sau một thời gian áp dụng tôi thấy tiết học hiệu quả hơn, một số em thiếu tự tin, ít chú ý trở nên nhanh nhẹn và chủ động hơn. + Trò chơi: Truyền điện - Mục đích: Củng cố bảng cộng, trừ trong phạm vi 10, 20 (trang 90 SGK Toán 1) - Thời gian: 5 - 7 phút - Cách chơi: Lớp chia thành 2 đội để thi đua. Tôi sẽ "châm ngòi" đầu tiên, cô đọc một phép tính chẳng hạn: 9 + 6 rồi chỉ vào một em thuộc một trong 2 đội, em đó phải bật ngay ra kết quả. Nếu kết quả đúng thì em đó có quyền "xì điện" một bạn thuộc đội đối phương. Em sẽ đọc bất kì phép tính nào, ví dụ 5 + 8 và chỉ vào một bạn (ở bên kia) bạn đó lập tức phải có ngay kết quả là 13, rồi lại "xì điện" trả lại đội ban đầu. Cứ như thế cô cùng 2 thư ký ghi kết quả của mỗi đội. Hết thời gian chơi đội nào có nhiều bạn đọc kết quả đúng thì đội đó chiến thắng. Nếu một học sinh nào đó trả lời chưa chính xác sẽ bị "giật", lúc này bạn lúc đầu đặt câu hỏi sẽ "xì điện" bạn khác. Kết thúc trò chơi bạn không trả lời được sẽ bị phạt. Đây là một hình thức ôn tập rất hiệu quả, phù hợp với những bài luyện tập. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 11 + Trò chơi: Giành cờ chiến thắng - Mục đích : Củng cố khái niệm thêm và bớt một số đơn vị, luyện cách xử lý linh hoạt. Ví dụ bài: Luyện tập, trang 88 SGK Chuẩn bị chơi: Tôi chuẩn bị hai phiếu học tập có thể có nội dung như sau: -7 +2 -3 +8 Chia lớp thành hai đội chơi, mội đội cầm một lá cờ, gồm 3 em chơi tiếp sức điền kết quả vào các hình tròn, đội nào cắm được lá cờ lên trước đội đó chiến thắng. +Trò chơi: Hái hoa - Mục đích: Củng cố cách nhận biết về hình học đơn giản, áp dụng đối với bài: Hình vuông, hình tròn, hình tam giác - Thời gian: Từ 3 - 5 phút - Chuẩn bị: Giáo viên vẽ các hình tròn, hình tam giác, hình vuông lên các bông hoa có gắn nam châm, sau đó gắn lên bảng lớp. - Cách chơi: Mỗi lần gọi 2 bạn lên bảng, yêu câu hái những bông hoa chứa hình cô giáo yêu cầu, bạn nào hái được nhiều bông hoa nhất sẽ được tuyên dương. * Sử dụng có hiệu quả đồ dùng dạy học Mỗi bài học khác nhau thì yêu cầu về đồ dùng dạy học là khác nhau vì thế việc lựa chọn đồ dùng dạy học phù hợp với mục tiêu của từng tiết học là rất quan trọng. Đối với môn Toán thông thường đồ dùng dạy học cần chuẩn bị gồm: Que tính, thước kẻ, phấn màu, bảng con, thẻ chữ, phiếu bài tập, + Que tính: Đây là đồ dùng không thể thiếu đối với học sinh lớp 1, tôi thường dùng để hình thành kiến thức mới trong các bài phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10, 20, 100. Khi dạy tôi thường dùng que tính để thao tác mẫu trước lớp giúp học sinh dễ quan sát sau đó thực hành lại. Việc làm này giúp các em ghi nhớ nhanh và lâu hơn. 10 Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 12 + Thước kẻ: Được sử dụng để dạy các bài: Điểm, đoạn thẳng; Độ dài đoạn thẳng; Thực hành đo độ dài + Phấn màu: Được dùng để ghi tên bài học và những điểm cần chú ý nhằm làm nổi bật phần kiến thức chính của bài, giúp học sinh tập trung hơn. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng phấn màu vì sẽ làm phân tán sự chú ý của học sinh vào nội dung chính của bài học. + Bảng con: Được dùng để học sinh thực hành viết số, thực hiện phép tính. Bảng con là một đồ dùng cần thiết để kiểm tra việc ghi nhớ bài học của học sinh thông qua việc kiểm tra bài cũ. Tôi thường tổ chức các trò chơi học tập với bảng con như: Thi làm toán nhanh, Rung chuông vàng... vào phần củng cố sau mỗi tiết học. + Phiếu bài tập: Tùy vào yêu cầu của mỗi bài, để phát huy trí lực và khắc sâu kiến thức cơ bản cho học sinh tôi đã chọn một số bài tập ghi vào phiếu học tập cho học sinh điền để tiết kiệm thời gian và tăng sự chủ động cho học sinh. Ví dụ: Bài Các số có hai chữ số (tiếp theo) trang 138 Ở bài tập 4, để tiết kiệm thời gian tôi ghi nội dung bài tập vào phiếu và phát cho từng nhóm bàn để học sinh cùng làm, sau đó chữa bài. Đúng ghi Đ, sai ghi S a) Ba mươi sáu viết là 306 b) 54 gồm 4 chục và 4 đơn vị Ba mươi sáu viết là 36 54 gồm 5 và 4 * Sử dụng phương pháp noi gương Một trong các phương pháp giúp trẻ học tốt đó chính là phương pháp nêu gương. Học sinh lớp 1 rất thích được khen, vì vậy khi các em đạt được thành tích gì dù là nhỏ thì giáo viên cũng phải biết để động viên, khuyến khích học sinh kịp thời. Trong quá trình dạy toán, nếu thấy học sinh nào có tiến bộ, tôi thường tuyên dương các em trước lớp trong giờ học đó để các em phấn khởi và có động lực học tập tốt hơn. Ví dụ: Một em học sinh hôm nay có sự tiến bộ, tôi sẽ khen ngợi em đó trước lớp "Bạn Nam hôm nay làm toán nhanh và chính xác hơn hôm qua, bạn Nam thật Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 13 * Đổi mới về cách kiểm tra, đánh giá học sinh Đánh giá kết quả học tập của học sinh không chỉ có giáo viên là người " Cầm cân nảy mực" mà nên cho học sinh tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập của bạn cũng như của bản thân mình. Tôi thường tổ chức cho học sinh đổi chéo vở kiểm tra lẫn nhau, đối chiếu bài cô, tự chấm bài cho mình. Cô là người hướng dẫn và có nhận xét, kết luận chung. Ví dụ: + Khi học sinh hoàn thành tốt bài tập, tôi nhận xét như sau: "Hiểu và làm đúng bài tập, trình bày rõ ràng, em thật đáng khen !" + Khi học sinh hoàn thành bài tập nhưng trình bày chưa đẹp tôi có thể nhận xét: "Em làm đúng bài tập, nhưng em nên trình bày sạch sẽ và cẩn thận hơn" + Khi học sinh chưa hoàn thành bài tập, hoặc làm sai nhiều, có thể nhận xét: "Em chưa hoàn thành bài, em cần cố gắng nhiều hơn nữa" Trong quá trình dạy, tôi luôn kiểm tra, theo dõi, giám sát tiến trình hoạt động, kết quả của các hoạt động của từng học sinh để có sự động viên khuyến khích hay giúp đỡ kịp thời. b. 2. Đầu tư nội dung và phương pháp dạy học phù hợp cho tiết ôn luyện Phân hóa đối tượng học sinh, lựa chọn nội dung ôn luyện phù hợp với từng đối tượng học sinh. Tiến hành chọn bài để ôn luyện. Nội dung ôn luyện không quá cao, không có kiến thức mới chưa học, tránh việc quá tải cho học sinh. Ví dụ: Ôn luyện: Giải toán có lời văn (tiếp theo) trang 148 Bước 1: Xác định mục tiêu bài học: Củng cố kĩ năng giải toán có lời văn Bước 2: Lựa chọn nội dung bài học: Ôn luyện bài tập 1, 2, 3 Vở bài tập Bước 3: Soạn bài, chuẩn bị đồ dùng: Trong bài soạn thể hiện được với một nội dung bài tập nhưng có những yêu cầu khác nhau cho từng đối tượng học sinh khác nhau. Chẳng hạn: Bài tập 1: Dưới ao có 5 con vịt đang bơi, có thêm 5 con vịt nữa xuống ao. Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt dưới ao? + Đối với học sinh yếu và trung bình: Tôi yêu cầu các em đọc kĩ đề bài sau đó làm bài vào vở. Trước đó, tôi hướng dẫn các em bằng các câu hỏi gợi ý để các em nắm được cách giải toán. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 14 + Đối với học sinh khá: Tôi yêu cầu các em viết tóm tắt, sau đó dựa vào tóm tắt để nêu lại bài toán, rồi giải bài toán vào vở. + Đối với học sinh giỏi: Tôi yêu cầu các em nêu tóm tắt, giải bài toán và tìm lời giải khác lời giải đã làm hoặc nêu cách làm khác (nếu có). Việc dạy học phân hóa góp phần bồi dưỡng học sinh năng khiếu và giúp đỡ kịp thời những học sinh tiếp thu chậm, nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. b.3. Nâng cao chất lượng dạy học môn Toán thông qua các hoạt động khác * Tổ chức "Đôi bạn cùng tiến" Trong giờ học tôi còn tổ chức lớp học thành các " Đôi bạn cùng tiến" cụ thể: + Những học sinh tiếp thu bài nhanh, kĩ năng tính toán tốt sẽ giúp đỡ bạn tiếp thu chậm, hay làm sai (nếu ở gần nhà nhau càng tốt). + Một học sinh chăm học, chuyên cần giúp đỡ và nhắc nhở bạn lười học. Để việc thực hiện có hiệu quả, tôi chủ động xếp học sinh ngồi cùng một bàn để học sinh tự học hỏi lẫn nhau, việc tổ chức cho học sinh cùng nhau học hỏi, cùng nhau thi đua, rèn luyện đó là việc tốt nên làm. Sau từng tuần, từng tháng, tôi tổng kết, tuyên dương từng em, từng "Đôi bạn cùng giúp nhau tiến bộ" vào tiết sinh hoạt cuối tuần. Nhận xét mang tính khuyến khích, động viên các em là chính. * Tổ chức tốt các phong trào thi đua Để tạo không khí hào hứng thi đua học tập, tôi thường xuyên tổ chức các cuộc thi nhỏ như "Rung chuông vàng", "Trạng nguyên nhỏ tuổi", "Tiến sĩ nhí"vào các tiết sinh hoạt tập thể đầu tuần. Những bài toán hay, những cách tính nhanh, được nêu ra để các bạn học tập. Phát động giờ học tốt, tuần học tốt, bông hoa mừng cô để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm học được các em hưởng ứng nhiệt tình. * Phối hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn và cha mẹ học sinh Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng chất lượng môn Toán chưa cao là do học sinh thiếu sự quan tâm theo dõi sát sao của cha mẹ. Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 15 Tôi thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp và cha mẹ học sinh về tình hình học tập của các học sinh trong lớp chủ nhiệm, để nắm bắt kịp thời những sai lệch và động viên khuyến khích những tiến bộ của học sinh. c. Điều kiện để thực hiện giải pháp, biện pháp Để các biện pháp nói trên phát huy được hiệu quả thực tiễn cần đáp ứng - Trước khi lên lớp, giáo viên cần nghiên cứu kĩ nội dung, xác định rõ mục tiêu của bài học. Để từ đó có phương pháp, hình thức tổ chức dạy học mang lại hiệu quả và phù hợp với nội dung từng bài. - Trong quá trình sử dụng các biện pháp cần linh hoạt, sử dụng khéo léo, tinh tế để tạo hứng thú và tránh sự nhàm chán cho học sinh. Luôn quan tâm, theo sát học sinh để uốn nắn, nhắc nhở các em kịp thời cũng như động viên, khuyến khích các em khi các em tiến bộ. - Cần có sự chuẩn bị chu đáo các thiết bị dạy học, đồ dùng học tập, phiếu học tập... trước khi lên lớp tránh tình trạng lúng túng trước học sinh. - Bản thân mỗi giáo viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, không ngừng học hỏi trau dồi kiến thức để bổ sung những biện pháp cần thiết hay loại bỏ những biện pháp không còn phù hợp. d. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp Các biện pháp có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau. Nếu thực hiện tốt biện pháp đầu sẽ góp phần vào thành công của biện pháp tiếp theo. Nhằm mục đích cao nhất là nâng cao chất lượng dạy học môn Toán. e. Kết quả khảo nghiệm Từ kết quả khảo sát giữa học kì I, sau khi áp dụng linh hoạt các biện pháp nêu trên tôi đã thu được kết quả khảo nghiệm rất khả quan. Kết quả khảo nghiệm thực hiện vào giữa học kì II tại lớp 1D trường Tiểu học Lý Tự Trọng dưới hình thức bài kiểm tra như sau: Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 16 Thời gian KS Tổng số HS Điểm dưới 5 Điểm 5, 6 Điểm 7, 8 Điểm 9, 10 SL % SL % SL % SL % Giữa HKI 27 5 18.5 8 29.6 8 29.6 6 22.3 Giữa HKII 27 2 7.4 5 18.5 7 25.9 13 48.2 II.4. Kết quả Sau khi áp dụng các biện pháp nêu trên trong khoảng thời gian tương đối dài, tôi nhận thấy: - Chất lượng môn Toán được nâng lên rõ rệt, từ chưa đạt 50% học sinh khá giỏi giữa học kì I tăng lên 74,1 % ở giữa học kì II. - Phát huy được sự chủ động và tích cực của học sinh trong việc tiếp thu kiến thức mới. - Kĩ năng thực hiện phép tính và kĩ năng làm bài trở nên nhanh nhẹn và thành thạo hơn. Học sinh hiểu bài nhanh và nhớ bài lâu hơn. - Đặc biệt nhất là các em thích học môn Toán hơn và thấy bớt nặng nề, áp lực hơn trước khi học toán. Lớp học sôi nổi, hứng thú, học sinh chú ý vào bài học hơn. - Phù hợp với phương pháp đổi mới trong dạy học và tâm lí lứa tuổi học sinh lớp 1. III. KẾT LUẬN III. 1. Kết luận Vấn đề khắc phục khó khăn trong học toán với học sinh lớp 1 không phải là việc đơn giản, có thể đổi mới ngay trong thời gian ngắn. Đứng về phía giáo viên, muốn khắc phục khó khăn này trước hết phải đổi mới tư duy và phương pháp giảng dạy, phải có lòng yêu nghề, mến trẻ và luôn luôn tìm tòi cách giảng dạy sao cho dễ hiểu nhất đến học sinh, tích cực chủ động tổ chức các trò chơi học tập, gây hứng thú học tập cho các em hơn nữa. Phải có sự kết hợp chặt chẽ với gia đình học sinh, giúp học sinh hểu rõ tầm quan trọng của việc học. Không dừng lại ở đó, người giáo Sáng kiế kinh nghiệm: Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Toán lớp 1 Người thực hiện: Hoàng Thị Loan Trường Tiểu học Lý Tự Trọng 17 viên cần phải lựa chọn, phối hợp sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học sao cho phù hợp với nội dung từng bài, với đối tượng học sinh, tạo điều kiện cho các em chủ động tìm tòi và lĩnh hội kiến thức. Học sinh lớp 1 rất thích được khen. Lời khen kịp thời sẽ giúp các em có hứng thú học tập và mau tiến bộ. Do vậy, giáo viên phải biết động viên khuyến khích các em kịp thời, giúp các em tự tin trong học tập. dụng thực tế giảng dạy ở lớp mình và thu được kết quả tốt. Song do thời gian chưa nhiều cũng như nhận thức của bản thân còn hạn chế. Nội dung trình bày trên không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong hội đồng khoa học các cấp, cùng bạn bè đồng nghiệp góp ý xây dựng để đề tài thêm hoàn chỉnh hơn, có khả năng thực thi cao hơn. III. 2. Kiến nghị a. Đối với giáo viên - Thường xuyên tự học hỏi, rèn luyện mình trau dồi kinh nghiệm để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. - Điều quan trọng hơn nữa là người giáo viên phải kiên trì, vượt khó, tìm tòi, sáng tạo và có bản lĩnh, có tinh thần trách nhiệm cao, say mê với công việc, tận tụy với học sinh. b. Đối với học sinh Có ý thức tự giác, tích cực trong học tập. Biết lắng nghe nhận xét của cô, của bạn để tự sửa chữa, khắc phục nhược điểm của mình. Mạnh dạn góp ý, sửa sai giúp đỡ bạn trong học tập. c. Đối với nhà trường - Tổ chức các chuyên đề cấp trường để trao đổi chuyên môn, đưa ra các biện pháp dạy học hiệu quả. Tôi xin chân thành cảm ơn! Buôn Trấp, tháng 2 năm 2014 Người viết Hoàng Thị Loan

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Biện Pháp Nâng Cao Chất Lượng Dạy Học Môn Toán
  • Giáo Dục Học Sinh Bảo Vệ Môi Trường Trong Trường
  • Những Kinh Nghiệm Hay Về Giáo Dục Học Sinh Ý Thức Bảo Vệ Môi Trường
  • Lào Cai: Đẩy Mạnh Các Giải Pháp Bảo Vệ Môi Trường Nông Nghiệp, Nông Thôn
  • 7 Biện Pháp Bảo Vệ Môi Trường
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100